Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

Ephata 619

Trân trọng giới thiệu Tuần báo điện tử EPHATA của Trung Tâm Mục Vụ Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam

  • Login to see the comments

Ephata 619

  1. 1. ( Phi Tuyết ) E-mail: gxmehangcuugiup@gmail.com Website: www.trungtammucvudcct.com MẸ TÌNH YÊU Sáng nay, trong cuộc trò chuyện với phóng viên một tờ báo Công Giáo nước ngoài, người phóng viên đặt muốn trao đổi với tôi về lòng sùng kính Mẹ Maria của người tín hữu Việt Nam, câu hỏi được đặt ra là: “Văn hóa Việt Nam có vai trò nào trong lòng sùng kính Đức Mẹ ?” Một câu hỏi thú vị và gợi mở nhiều vấn đề. Ai trong chúng ta cũng biết, xã hội Việt Nam nặng về tình mẫu tử, vết tích chế độ mẫu hệ vẫn còn in đậm nét trong nhiều sinh hoạt của xã hội, ngay trong ngôn ngữ, những gì là cao quý, những gì là thương mến, ngôn ngữ Việt Nam đều dành cho người làm mẹ, như: Mẹ đất nước, Mẹ Việt Nam, Mẹ tổ quốc, quê Mẹ, tiếng Mẹ đẻ… Ngay trong Giáo Hội thì vẫn đề cao chữ mẹ: Nhà Mẹ, Tỉnh Dòng Mẹ, Mẹ Nhà Dòng, Nhà Thờ Chính Tòa của một Giáo Phận được coi là Nhà Thờ Mẹ của các Nhà Thờ khác… Thật ra một số ngôn ngữ trên thế giới cũng có, nhưng ngôn ngữ Việt vẫn có những nét hết sức tình cảm sâu đậm và thân thương dành cho Mẹ. Trong Giáo Hội Việt Nam, người tín hữu sùng kính Đức Mẹ một cách đặc biệt, Nhà Thờ nào cũng dành một vị trí trang trọng xây dựng đài Đức Mẹ hoặc hang đá Đức Mẹ, lòng Nhà Thờ nào cũng có “bàn thờ kính Đức Mẹ”, ngay trong các gia đình thì bàn thờ nhiều khi vẫn chỉ đặt có mỗi tượng hoặc ảnh Đức Mẹ ! Giáo Phận nào cũng có ít là một Trung Tâm Hành Hương kính Đức Mẹ, hầu hết các trung tâm này đều hình thành từ phía những anh chị em giáo dân sùng mộ Đức Mẹ trước khi được giáo quyền chuẩn nhận và đứng ra chính thức tổ chức và phát triển. Các cuộc hành hương hiện tại trong nước đều là các cuộc hành hương đến với các Trung Tâm sùng kính Đức Maria, trong khi các cuộc hành hương đến với các Trung Tâm dâng kính Chúa Giêsu hoặc các Trung Tâm có Thánh Tích Tử Đạo xem ra còn rất khiêm tốn. Trung Tâm Hành Hương kính Đức Mẹ hiện tại trên quê hương Việt Nam chúng ta nhiều như vậy, các hoạt động bày tỏ lòng sùng kính Mẹ Maria diễn ra sầm uất và đều đặn hằng năm và khắp nơi, thế nhưng những trung tâm đó và những sinh hoạt ấy lại vẫn chịu ảnh hưởng rất đậm từ các hình tượng và ngôn ngữ truyền thống của văn hóa Phương Tây. Tháng hoa ( tháng 5 ) rất phổ biến trong sinh hoạt tôn giáo Việt Nam, nhưng những đoạn ca vãn mang âm nhạc và tiết tấu dân ca Bắc Bộ, nơi sản sinh ra loại hình dâng hoa này lại gần như mai một. Hình thức dâng hoa kính Đức Mẹ vẫn còn, nhưng thay vào đó là những bài tân nhạc quen thuộc của Nhà Thờ. Hầu hết các bạn trẻ không còn ngâm nga các bài "ca vãn" của các "con hoa" thuở xưa nữa, các nghệ nhân thì già yếu và mất dần, cô đơn và lặng lẽ vài nhà nghiên cứu ghi lại các bài ca vãn rồi cất vào tủ sâu ít ai ngó tới. Thôi thì không còn thích hợp nữa thì phải thay đổi, nhưng thay thế làm sao để văn hóa dân tộc còn tồn tại và phát triển, để người Việt còn tìm gặp được “ngôn ngữ mẹ đẻ" của mình trong việc thờ phượng. 1 NĂM THỨ 14 – SỐ 619 – CHÚA NHẬT 20.7.2014
  2. 2. Khi phát hiện ra tượng Đức Mẹ bị gãy tay ở Măng Đen, có hai khuynh hướng ngược hẳn nhau tranh luận về bức tượng này, nhóm muốn giữ nguyên hình ảnh Đức Mẹ bị gãy tay để tôn kính, họ nói họ tìm được chính họ trong hình tượng khổ đau này. Nhóm đối nghịch cho rằng cần phải sửa chữa và tôn tạo, họ lý luận mẹ tôi bị tai nạn gãy tay, tôi phải đưa vào bệnh viện băng bó, nếu mất tay thì phải làm tay giả chứ không thể để cụt mãi như vậy. Một cuộc thăm dò ngấm ngầm được thực hiện, ban tổ chức in hai loại lịch vào đầu năm 2013, hai loại lịch in hai hình Đức Mẹ theo hai khuynh hướng nêu trên, kết quả loại lịch hình Đức Mẹ gãy tay bán hết, loại lịch hình Đức Mẹ được lắp tay và sửa chữa sơn phết tội đẹp lại bị ế hoàn toàn. Tìm thấy chính mình trong hình ảnh của Mẹ là một nhu cầu và một khuynh hướng tất yếu, con người cảm thấy trọn vẹn khi được thờ phượng bằng chính “ngôn ngữ” của mình. Ngôn ngữ hình thể, âm thanh, không gian, màu sắc… Mấy năm gần đây, người ta đã xây dựng một số nhà sàn trên Tây Nguyên bằng bêtông, nhưng người dân tộc lại không thích và không muốn bước vào những ngôi nhà này, họ bảo không phải nhà của họ, họ không tìm thấy không gian của họ được tái tạo lại bằng vật liệu xa lạ. Cần nhớ là kiến trúc chính là nghệ thuật tái tạo không gian sống. Vấn đề này được đặt ra một cách nghiêm túc cho các Trung Tâm Hành Hương kính Đức Mẹ tại Việt Nam, nếu không chúng ta chỉ lập lại một cách vụng về các Trung Tâm kính Đức Mẹ nào khác trên thế giới, và người Việt không có cơ hội được diễn tả niềm tin của mình bằng chính ngôn ngữ của mình. Trung Tâm Hành Hương La Vang tại Quảng Trị là Trung Tâm của cả nước, năm 1961 ( Huế ngày 13.4.1961 ) và 1980 ( Hà Nội ngày 1.5.1980 ), hai lần hai thời điểm Hội Đồng Giám Mục Việt Nam xác quyết như vậy. Làm sao để Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang thực sự là Trung Tâm Hành Hương của người Việt. Đến đó, người Việt cảm nhận như vào nhà mình, chan hòa giữa không gian Việt, ngôn ngữ Việt, màu sắc Việt, tương quan Việt, tâm linh Việt, hồn Việt... Bài toán khó nhưng không thể không có lời giải đáp. Cần một sự chung sức, tôn trọng, thoát khỏi thành kiến, thoát khỏi thói quen nếp nghĩ, cần phải đột phá, chấp nhận thử thách, chấp nhận sự tìm kiếm. Ngày 15 tháng 8 năm 2014, ngày Đại Hội lần thứ 30, con cái của Mẹ đổ về từ muôn hướng, cùng với lời kinh là lời nguyện cầu cho công việc được tốt đẹp theo thánh ý Chúa. Công trình của Mẹ, Mẹ sẽ giữ gìn và hướng dẫn theo ý Mẹ vậy. Lm. VĨNH SANG, DCCT, 18.7.2014 MỤC LỤC TÌM BÀI: MẸ TÌNH YÊU ( Lm. Vĩnh Sang ) .......................................................................................................... 01 TẤ CẢ LÀ HỒNG ÂN ( Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt ) ........................................................................... 02 CUỘC CHIẾN CỎ DẠI TRƯỜNG KỲ ( AM. Trần Bình An ) .................................................................. 03 CỨ ĐỂ CẢ HAI MỌC LÊN ( Lm. Giuse Nguyễn Hữu An ) ..................................................................... 05 HÃY CỨ ĐỂ CẢ HAI MỌC LÊN CHO ĐẾN MÙA GẶT ( Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ ) .......................... 07 TỐT VÀ XẤU ( Trầm Thiên Thu ) .......................................................................................................... 08 PHONG CÁCH PHANXICÔ – BÀI 14: THẬP GIÁ ĐỨC KITÔ NƠI PHAOLÔ ( Nguyễn Trung ) ............ 12 NHẬN BIẾT Ý CHÚA ( Bản dịch của Trầm Thiên Thu ) ......................................................................... 14 CUỘC SỐNG LUÔN CÓ HAI ĐÁP ÁN… ( Khuyết Danh, bản dịch của Như Nguyện ) ......................... 17 TỪ THỜI CÒN TRẺ… ĐẾN LÚC VỀ GIÀ ( Nguyễn Ngọc Chính ) ............................................................. 18 CẢM NGHĨ KHI ĐỌC "MỘT ĐÔLA MỘT NGÀY" CỦA LÝ LAN ( Nguyễn Trung ) ................................. 20 MỘT ĐÔLA MỘT NGÀY ( Lý Lan ) ........................................................................................................ 21 ISRAEL, MỘT ĐẤT NƯỚC THẦN KỲ ( Phi Tuyết ) ............................................................................. 22 NHỊP CẦU BÁC ÁI PHANXICÔ VÀ VÀ QUỸ MẸ HẰNG CỨU GIÚP ( TTMV DCCT ) ........................... 28 TẤT CẢ LÀ HỒNG ÂN Dụ ngôn cỏ lùng là một trong những dụ ngôn hiếm hoi được chính Chúa giải thích rõ ràng. Giải thích của Chúa giúp ta có những hiểu biết hữu ích cho đời sống đạo. Dụ ngôn nhắc nhớ ta về sư hiện diện của ma quỷ. Ma quỷ hiện hữu, chúng luôn có mặt để gieo rắc sự xấu. Chúa đã chuẩn bị những thửa ruộng tốt. Những thửa ruộng đó là thế giới, là Giáo Hội, là tâm hồn mỗi người. Chúa đã gieo những hạt giống tốt. Hạt giống đó là Lời Chúa, là ơn Chúa, là những thiện chí, những ý hướng cao đẹp trong tâm hồn con người. Nhưng ma quỷ lén gieo vào những hạt cỏ xấu. 2 CÙNG SUY NIỆM
  3. 3. Chúa gieo vào thế giới hạt giống khát vọng hoà bình. Đẹp biết bao nếu mọi dân tộc nắm tay nhau xây dựng một thế giới huynh đệ tươi thắm tình người. Nhưng buồn thay, cánh đồng hoà bình tươi xanh đã bị những ngọn cỏ tham vọng, ích kỷ, ác độc làm hoen ố. Lịch sự thế giới được ghi bằng những trang buồn vì không ngày nào không có chiến tranh. Thế giới sẽ đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần xây dựng. Nhưng buồn thay, rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc huỷ hoại, tha hoá, nô lệ hoá con người. Ngay trong bản thân mỗi người, không thiếu những sáng kiến, những hoạt động ban đầu xem ra tốt đẹp, nhưng dần dà bị vẩn đục vì những biến tướng nặng mùi trần tục như khoe khoang, tìm hư danh, tìm lợi lộc. Đó là những hạt cỏ xấu ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt. Tuy nhiên, dụ ngôn cho thấy sự kiên nhẫn và lòng bao dung của Chúa. Chúa đợi cho đến ngày tận thế mới thu lúa cùng với cỏ lùng. Chúa kiên nhẫn đợi chờ vì hy vọng những người tội lỗi ăn năn sám hối. Chúa bao dung tha thứ không nỡ phạt người tội lỗi tức khắc. Chúa yêu thương, tin tưởng người xấu sẽ có ngày nên tốt. Nếu phạt ngay những người tội lỗi thì ta đâu còn cơ may được chiêm ngưỡng ông thánh "trộm lành". Nếu Chúa thẳng tay thì ta đâu có Thánh nữ Maria thành Magdala – Tông Đồ của các Tông Đồ, Thánh Augustinô – Tiến Sĩ lừng danh, Thánh Phaolô – vị Tông Đồ dân ngoại. Nếu Chúa chấp tội thì bản thân ta sẽ là người bị phạt đầu tiên, vì trong ta cũng đầy những tội lỗi, những sự xấu. Trong tâm hồn ta cỏ lùng vẫn mọc xen với lúa tốt. Sau cùng, dụ ngôn cho ta hiểu tất cả là hồng ân của Chúa. Có sự lành để ta hiểu biết và yêu mến sự tốt lành của Thiên Chúa. Có sự dữ để ta gớm ghét tránh xa và càng thêm gắn bó với sự lành. Có sự lành để ta được hưởng niềm an ủi ngọt ngào của Chúa. Có sự dữ để ta phấn đấu vượt qua, chứng minh lòng trung tín của ta với Chúa. Có thuận lợi tiến bước trên đường thánh thiện. Có khó khăn để ta rèn luyện thêm đức. Mọi sự đều nên tốt cho kẻ lành. Thật vậy, việc cấm đạo là sự dữ. Nhưng nhờ đó mà Giáo Hội có được những chứng nhân anh hùng. Đau khổ và bệnh tật là những khiếm khuyết trong cuộc sống, nhưng lại giúp con người được thông phần đau khổ với Chúa. Thánh Nữ Têrêsa đã nhìn thấy tất cả là hồng ân của Chúa. Sự lành cũng như sự dữ. Hạnh phúc cũng như đau khổ. Thành công cũng như thất bại. Tất cả đều góp phần rèn luyện, vun đắp và thăng tiến người lành. Tgm. Giuse NGÔ QUANG KIỆT CUỘC CHIẾN CỎ DẠI TRƯỜNG KỲ Lance Edward Armstrong, là một cựu vận động viên đua xe đạp chuyên nghiệp nổi tiếng người Mỹ. Ông từng được biết đến như một vận động viên xe đạp đã phá kỷ lục giải Tour de France, khi giành chiến thắng bảy lần liên tục, sau khi vượt qua bệnh ung thư tinh hoàn, là nhà sáng lập và chủ tịch của Tổ Chức Lance Armstrong, một tổ chức nghiên cứu và hỗ trợ cho bệnh nhân ung thư. Tháng 10 năm 2012, Lance Armstrong bị phát hiện liên quan đến vụ bê bối doping và bị tước hết mọi danh hiệu vô địch và bị cấm thi đấu môn xe đạp suốt đời. Tên khai sinh của ông là Lance Edward Gunderson, sinh ngày 18.9.1971. Khởi nghiệp đua xe đạp vào năm 1990, Armstrong đã chuyển lên thi đấu chuyên nghiệp chỉ một năm sau đó. Tháng 10 năm 1996, ông được chẩn đoán là mắc ung thư tinh hoàn với một khối u đã di căn tới não và phổi, tiên lượng bệnh ban đầu xấu. Quá trình điều trị ung thư của ông bao gồm giải phẫu não và tinh hoàn, hóa trị kéo dài. Mặc dù vậy, Armstrong vẫn tiếp tục thi đấu, và đến năm 1999, đã giành được chiếc áo vàng danh giá Tour de France lần đầu tiên và giữ được ngôi vị này trong 7 lần liên tục, được ghi nhận trong lịch sử bộ môn đua xe đạp đường trường, là người duy nhất chiến thắng 7 lần liên tiếp, phá vỡ kỷ lục trước đó là giành chiến thắng 5 lần từng đạt bởi Miguel Indurain, Bernard Hinault, Eddy Meckx, và Jacques Aquetil. Tuy nhiên, sự nghiệp một đời của Armstrong bị xóa bỏ sau một bản cáo buộc của Ủy Ban Phòng Chống Doping Hoa Kỳ ( U.S. Anti-Doping Agency – USADA ), kết tội Armstrong và các tay đua đội Bưu Điện 3
  4. 4. Mỹ đã thi đấu gian lận bằng cách sử dụng chất kích thích và tìm cách qua mặt các cuộc kiểm tra doping. Sau khi xem xét và đồng ý với các cáo buộc này, ngày 22.10.2012, Liên Đoàn Xe Đạp Quốc Tế đã ra phán quyết tước 7 danh hiệu vô địch Tour de France và cấm thi đấu suốt đời đối với Armstrong, đặt dấu chấm hết của cựu vận động viên đua xe đạp từng là tấm gương về nỗ lực tập luyện và thi đấu. ( Wikipedia ). Lance Armstrong đã hoàn toàn mất tất cả vì trò gian lận. Hạt giống nghị lực ganh đua xen với cỏ dại doping đã ra gây thảm họa. Trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, Đức Giêsu kể dụ ngôn cây lúa và cỏ dại tranh sống cho đến ngày chung thẩm. Cỏ dại trong lòng Chủ ruộng chính là Thiên Chúa, đã gieo hạt giống lương tâm trong sáng vào lòng từng người, để cây lúa đơm bông, kết hạt. Nhưng Satan lại lén lút gieo cỏ dại vào ruộng lúa, khiến cho lương tâm mờ tối, lầm lạc. Khi chịu phép rửa tội, tín hữu Kitô lại được tái gieo vào lòng mình hạt giống Tin Mừng, nhưng ác thần cũng ráo riết gieo tiếp cỏ dại, hòng lấn át, bóp nghẹt Lời Chúa. Vì tôn trọng tự do con người, Thiên Chúa không hủy diệt ngay cỏ dại. Trong từng lúc, từng hoàn cảnh, con người đều phải đứng trước sự chọn lựa dứt khoát. Sống trong sáng, tốt lành theo hạt giống Lời Chúa, hay tham, sân si, hưởng lạc theo cỏ dại xác thịt. “Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế" ( Mc 7, 15, 21 – 23 ). Một sự chiến đấu dai dẳng, khốc liệt diễn ra giữa tinh thần và xác thịt, giữa cây lúa và cỏ dại. Chính Thánh Phaolô đã cảm nghiệm: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm; sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” ( Rm 7, 19 ). May mắn thay, Đức Giêsu đã kịp thời đến cứu vãn khỏi tình thế nguy nan: “Khốn thay cho tôi ! Ai có thể cứu tôi khỏi thân xác hư đốn này ? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” ( Rm 7, 24 – 25 ). Nhờ đó, Thánh Phaolô sau cùng đã chiến thắng bản thân, nhổ được cỏ dại trong lòng: "Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” ( 2Tm 4, 7 ). Cỏ dại trong đời Trong xã hội thực dụng hôm nay, cỏ dại mọc nhan nhản, tươi tốt, xum xuê, xanh mướt, át cả cây lúa gieo trồng. Bất cứ môi trường nào hầu như cỏ dại cũng giành phần thắng lợi, lấn lướt, phát triển hơn cây lúa èo uột, lép vế. Trước đám cỏ dại vô đạo, phi nhân, buông tuồng mất nết, Đức Giêsu không ngần ngại cảnh báo: “Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn” ( Mc 9, 42 ). Với cỏ dại, con người vẫn thản nhiên chấp nhận sống chung. Mackeno, vẫn giữ đạo, đi Lễ đọc kinh, mặc cho cỏ dại tha hồ tác oai, tác quái. Nhưng Đức Giêsu lại đòi hỏi một thái độ tích cực khó tránh né. "Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã được món lợi là người anh em mình. Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế" ( Mt 18, 15 – 17 ). Chủ ruộng khoan dung Làm ruộng thì nông dân nào cũng đều tích cực nhổ bỏ, phòng trừ cỏ dại, để chăm sóc cây lúa tươi tốt, mới mong bội thu. Làm người cũng thế, ai cũng mong muốn xã hội lành mạnh, ổn định, không còn kẻ ác ức hiếp người lành, không còn cảnh bất nhân, man trá, bất công, phi lý. Người ta dùng luật lệ và hình phạt để răn đe và phòng chống tội ác. Thế nhưng, đường lối Thiên Chúa lại khác. Bởi vì “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên” ( Tv 145, 8 – 9 ). Dù không chấp nhận điều ác, Thiên Chúa vẫn không dùng bạo lực để tiêu diệt sự dữ, mà nhân từ, khoan dung chờ đợi sự cải hóa, sám hối trở về chánh đạo. "Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi nó thay đổi đường lối để được sống” ( Ed 33, 11 ). Do vậy, Ngài chờ đến ngày chung thẩm mới xét đoán luận phạt và ban thưởng. “Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: Hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi” ( Mt 13, 30 ). 4
  5. 5. Thiên Chúa giàu lòng thương xót, đã ban cho Kitô hữu nhiều vũ khí chống lại sự dữ, chống lại cỏ dại trong đời. Đó chính là Lời Chúa, Thánh Thể và nhất là Đức Chúa Thánh Thần, ban sức sống, sức mạnh, can đảm chống lại ba thù, chống lại cỏ dại đương thời. “Xác thịt là đặc công nằm sẵn trong con, sách báo, phim ảnh, bè bạn xấu là những khí giới ngày càng tối tân hơn. Nếu con không hiện đại hóa khí giới của con: Cầu nguyện, Bí Tích, hy sinh,… Nếu con không tỉnh thức canh phòng, nếu con không dẹp ngay mầm mống nổi loạn, nếu con nuôi dưỡng đặc công, nếu con bỏ các đồng minh là các thánh, là bạn tốt, con sẽ bị tấn công vũ bão và thảm hại” ( Đường Hy Vọng, số 439 ). Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ân ban Đức Chúa Thánh Thần đến giúp chúng con can đảm, mạnh mẽ, khôn ngoan, bền vững chiến đấu và chiến thắng cỏ dại, sự dữ, ba thù, đang bao vây tấn công chúng con hàng ngày, hàng giờ. Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã đạp nát đầu con rắn đầu mối tội, xin Mẹ cầu bầu che chở chúng con khỏi những thách đố, cạm bẫy thế gian, để chúng con sống mãi trong ân nghĩa với Thiên Chúa. Amen. AM. TRẦN BÌNH AN CỨ ĐỂ CẢ HAI MỌC LÊN Nước Trời là một mầu nhiệm, Chúa Giêsu đã mạc khải và thiết lập trong lịch sử nhân loại. Qua những hình ảnh đơn sơ, bình dị, gần gũi với cuộc sống, Chúa Giêsu đã dùng nhiều dụ ngôn để giảng dạy về Nước Trời. Chúa Nhật trước với dụ ngôn “người gieo giống”, Chúa Giêsu cho thấy Nước Trời đã khai mạc. Cũng như người gieo giống đi gieo hạt trên khắp cánh đồng, Chúa Giêsu cũng gieo hạt giống Lời Chúa. Hạt giống ấy tăng trưởng trổ sinh hoa trái nơi mỗi người ra sao là tùy thái độ đón nhận của từng người ấy. Chúa Nhật hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục giảng dạy về Nước Trời bằng dụ ngôn “lúa và cỏ lùng”. Như vậy, sau khi nói đến việc khai mạc Nước Trời, Người nói đến sự phát triển của Nước Trời trong lịch sử trần thế. Chúa Giêsu đã khởi đầu công trình của Người với một nhóm nhỏ Mười Hai Tông Đồ. Sự khiêm tốn của “hạt cải bé nhỏ được gieo vào lòng đất bao la”. Sự khiêm tốn của “một nắm men bị vùi sâu vào ba đấu bột”. Điều kỳ diệu là “hạt bé hơn mọi thứ hạt giống” lại “trở thành cây cao bóng cả đến nỗi chim trời có thể đến nương náu nơi ngành nó”. Nắm men ít ỏi kia lại có khả năng làm dậy lên cả ba đấu bột chôn vùi nó. Cũng như vậy, Nước Trời sẽ vươn xa vươn rộng cho muôn dân nước đến nương nhờ. Hạt giống Nước Trời đã làm dậy lên cả thế giới bằng một tinh thần mới của Tin Mừng, biến đổi lịch sử trong tình thương và hòa bình. Một vấn nạn luôn được đặt ra: nếu Nước Trời đã được Chúa Giêsu thiết lập cách đây hơn 20 thế kỷ và nếu Thiên Chúa là Đấng nhân hậu giàu lòng xót thương thì tại sao cho đến nay cuộc sống con người vẫn đầy dẫy bất công, bạo lực, khổ đau, chiến tranh tương tàn, và xem ra sự dữ còn có chiều hướng gia tăng ? Đôi khi những người xấu xa tội lỗi gian manh lại giàu có sung túc trong đời sống vật chất hơn những người lành ? Vấn nạn này vẫn luôn là trăn trở khôn nguôi người Kitô hữu ở mọi thời đại ! Dụ ngôn “lúa và cỏ lùng” giải thích vấn nạn ấy. Cánh đồng được gieo toàn hạt giống tốt. Thiên Chúa đã gieo vào trần thế những con cái Nước Trời. Ban đêm kẻ thù xuất hiện. Satan tới gieo cỏ lùng. Thế là có cảnh lẫn lộn trên trần gian. Người lành kẻ dữ cùng chung nhau một mảnh đất. Đang khi hạt giống được gieo giữa ban ngày thì Satan lại lợi dụng đêm tối khi mọi người đã mất cảnh giác để gieo rắc tội lỗi. Hành động thấp hèn. “Xấu” chưa chắc đã “hèn”, nhưng “hèn” thì chắc chắn là “xấu”, bởi lẽ nhiều tay “giang hồ”, bặm trợn, vẫn rất ghét thói “ném đá dấu tay”, trong khi động cơ, phương tiện và mục đích của những hành động lén lút thì luôn luôn bỉ ổi, xấu xa và hại người. Thế giới này giống như cánh đồng lúa đầy cỏ lùng xen vào. Những "ông thánh sống" lẫn lộn với những thằng quỷ, tốt xen lẫn với xấu. Tốt như những tổ chức nhân đạo, nhân quyền, hoà bình thế giới: UNESCO, UNICEP, FAO, OLYMPIC… là những tổ chức xây dựng văn hoá, giáo dục tình thương bảo vệ sức khoẻ trẻ em, phát triển lương thực thế giới, thăng tiến những tài năng, chăm lo y tế. Nhưng lại có rất 5
  6. 6. nhiều những tổ chức xấu xen vào như Mafia, buôn lậu, ma tuý, vũ khí, khủng bố, trộm cướp, du đãng, buôn bán trẻ em, phim ảnh sách báo đồi truỵ… Đồ thật, hàng tốt bị xen lẫn hàng xấu, đồ giả. Người lương thiện, chân chính bị lẫn lộn với kẻ tham ô, móc ngoặc, bất lương. Những thứ cỏ lùng gai góc đó không bao giờ hết, chỉ đến mùa gặt tận thế chúng mới bị quét sạch, đốt sạch. Tận thế sẽ thiêu đốt tất cả những thứ cỏ lùng đó. Còn lúa thì được gánh về, chở vào kho. Những thánh nhân, những người lương thiện, công chính sẽ sáng chói trong ngày vinh quang đó, họ được rước vào Nước hạnh phúc đời đời. Thấy cỏ lùng xuất hiện với lúa, các đầy tớ đến hỏi ông chủ: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu ra vậy ?” Thấy sự dữ tràn lan trên thế giới, bao nhiêu người thắc mắc: sự dữ, sự ác bởi đâu ra ? Chúng ta nhiều lần thấy gian tà thắng ngay lành, bất công thắng công chính, kẻ ác thắng kẻ thiện, cũng thất vọng kêu trách: Sao Chúa để kẻ dữ sống lâu, mạnh khoẻ, giàu sang, may mắn, còn kẻ lành phải khổ cực trăm chiều ? Trước những thắc mắc đó, Chúa đáp: “Kẻ thù đã làm đó !” Kẻ thù là ai ? Thánh Kinh cho biết có hai thứ kẻ thù: kẻ thù ở trong ta và kẻ thù ở ngoài ta. Kẻ thù ở ngoài ta có những tên khác nhau: con rắn cám dỗ phỉnh gạt ( St 3, 2.13 ), con rồng, rắn xưa, quỷ, satan ( Kh 12, 9 ), con thuồng luồng Leviathan ( Is 27, 1 ), kẻ thù, kẻ chống đối ( Mt 13, 25; Lc 10, 19; 2Cr 6, 15 ). Những kẻ thù này ở ngoài con người, nhưng chúng xâm nhập vào con người sâu hiểm tới độ đồng hoá với bản tính nhân loại. Nhưng chúng sẽ bị “Thiên Thần Chúa từ Trời xuống, tay cầm chìa khoá vực thẳm và một dây xích lớn, bắt lấy con rồng, tức là con rắn xưa cũng là ma quỷ satan xích nó… quăng vào vực thẳm, rồi đóng cửa niêm phong lại” ( Kh 20, 2 – 3 ). Thế nhưng một mình quỷ thôi, chúng sẽ bất lực như bất lực đối với Thánh Gióp. Chỉ khi có sự tiếp tay của ta như Eva tiếp nó, nó mới thành kẻ thù trong ta: nó trở nên kẻ nội thù ghê gớm. Nó mọc lên những cỏ lùng, bụi gai, đá sỏi, quỷ dữ ( Mt 13, 18 – 22 ). “Vì tự lòng phát xuất ra những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cướp, chứng gian, vu khống” ( Mt 15, 19 ). Khi chủ cho biết kẻ thù làm đó, thì đầy tớ xin nhổ đi, chủ sợ hại đến lúa, nên ông đáp: “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt”. Thái độ của chủ thật khôn ngoan, ông kiên nhẫn chờ đợi đến mùa gặt, mới nhặt cỏ lùng đốt đi. Có thể trong tâm tưởng nhiều người lại quy gán cho Thiên Chúa trách nhiệm về tình trạng khổ đau đó chẳng khác gì câu hỏi ngày xưa: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Vậy cỏ lùng ở đâu mà ra ?” Một câu hỏi không lên án nhưng chứa đựng sự nghi ngờ. Để trả lời cho vấn nạn đó, Chúa Giêsu đã lấy lại giáo huấn của sách Sáng Thế: Sự ác không đến từ Thiên Chúa. Ngài chỉ gieo hạt giống tốt lành vào mảnh đất người đời. Sự ác cũng không chỉ đến từ tâm trí con người nhưng nó đã có trước đó. Sự dữ cũng là một mầu nhiệm. Đối với Chúa Giêsu, con người là nạn nhân của sức mạnh mà Người gọi là "Kẻ thù”, là "Quỷ dữ” như cách diễn tả trong dụ ngôn: “Khi mọi người đang ngũ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng rồi đi mất”. Ở cội nguồn tội lỗi của con người, còn có một sức mạnh luôn tìm cách phá hoại công trình của Thiên Chúa, và hành tung của nó rất bí mật. Đó là quỷ dữ lợi dụng đêm tối để gieo rắc tội lỗi rồi trốn đi. Thánh Phaolô đã nói về sự dữ trong thư Rôma: Công cuộc tạo dựng của Thiên Chúa tốt lành. Satan đã cám dỗ Ađam, Eva, Nguyên Tổ sa ngã, tội lỗi sinh ra đau khổ và sự chết rồi nó như con bạch tuộc vươn vòi vào trần thế, con người nô lệ cho tội lỗi và nhận lấy án phạt là sự chết ( x. Rm 1, 20 – 31; 15, 12 ). Ma quỷ luôn có mặt để gieo rắc sự xấu. Thiên Chúa gieo vào thế giới hạt giống khát vọng hòa bình. Đẹp biết bao khi mọi dân tộc nắm tay nhau xây dựng một thế giới huynh đệ tươi thắm tình người. Nhưng thực tế lại đáng buồn thay ! Cánh đồng hòa bình tươi xanh đã bị những cỏ dại của tham vọng, ích kỷ, ác độc làm hoen ố. Lịch sử thế giới được ghi bằng những trang buồn đau vì không lúc nào mà không có chiến tranh. Thế giới này sẽ tươi đẹp biết bao nếu tất cả trí thông minh, tất cả tài nguyên, tất cả năng lực đều góp phần chung tay xây dựng ! Nhưng thật đáng tiếc, rất nhiều trí thông minh, rất nhiều tài nguyên, rất nhiều năng lực đã tiêu tốn trong việc hủy hoại, tha hóa, nô lệ hóa con người. Đó là những hạt cỏ xấu ma quỷ lén lút gieo vào ruộng lúa tốt. Lúa tốt và cỏ lùng lẫn lộn trên cùng ruộng lúa. Cái tốt, cái xấu đan xen trong cuộc sống hàng ngày, nhất là trong tâm hồn mỗi người. Ở đó, hạt mầm sự sống và nọc độc sự chết cùng sống chung. 6
  7. 7. Mỗi con người chắc chắn đều có kinh nghiệm bản thân như Thánh Phaolô đã từng kinh nghiệm “Điều lành tôi muốn làm tôi lại không làm, còn điều dữ tôi không muốn làm nhưng tôi lại cứ làm" ( Rm 7, 19 ). Con người có tự do để chọn lựa cái đúng cái sai, chọn cái tốt cái xấu. Nước Trời cũng gồm những con người có tự do, thì cũng có những người xấu do chọn lựa sai lầm. Cảm nhận được sự thật ấy trong tâm hồn mình để chúng ta biết khoan dung trong cách nhìn về người khác. Sự khoan dung không đồng nghĩa với đầu hàng cái ác nhưng phát xuất từ niềm tin vững chắc vào sự tất thắng của Nước Trời: “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi”. Cho dù cỏ lùng có bóp nghẹt lúa tốt trong một thời gian dài, nhưng mùa gặt đến, cỏ lùng sẽ bị gom lại và đốt đi, còn lúa tốt được cất vào kho lẫm. Cỏ lùng chẳng bao giờ thành lúa tốt được, nhưng người xấu có thể hoán cải để nên người tốt. Thiên Chúa ghét tội lỗi nhưng lại yêu mến tội nhân vì Người chờ nơi họ lòng thống hối để được thứ tha ( x. Rm 2, 4 ). Chính vì thế mà Thiên Chúa kiên tâm chờ đợi. Chờ đợi vì Thiên Chúa tin vào sự hoán cải của con người. Chờ đợi vì Thiên Chúa tôn trọng tự do lựa chọn của con người. Chờ đợi vì Thiên Chúa nuôi một niềm hy vọng lớn lao. Thiên Chúa vẫn luôn nhẫn nại đợi chờ cho đến ngày tận thế “cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt”. Cỏ lùng và lúa tốt nằm ở trong tim con người. Mỗi người đong đưa giữa cỏ lùng và lúa tốt, giữa cái thiện và cái ác, giữa Thiên Thần và Satan. Tự do chọn lựa là quyền mỗi người. Thiên Chúa vẫn chấp nhận cỏ lùng trong con người. Thiên Chúa nhẫn nại đợi chờ con người thanh luyện dần dần và hy vọng mọi sự trong họ sẽ thành lúa tốt. Lạy Chúa, xin cho con nhẫn nại và can đảm cùng đi với Chúa và với tha nhân trên những nẻo đường ghập ghềnh cuộc đời, trong thác dốc tâm hồn với tất cả niềm tin và hy vọng. Amen. Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN HÃY CỨ ĐỂ CẢ HAI MỌC LÊN CHO ĐẾN MÙA GẶT Hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục dùng các dụ ngôn để giúp các môn đệ cũng như dân chúng hiểu về "Nước Trời". Người so sánh "Nước Trời như một người đã gieo giống tốt trong ruộng mình; Nước Trời giống như hạt cải; Nước Trời giống như nắm men" ( x. Mt 13, 24 – 43 ), nước ấy ở ngay "trên mặt đất" chứ không phải nơi xa lạ. Thật vậy, chỉ trên mặt đất mới có chỗ cho lúa và cỏ lùng mọc lên, chỉ trong cuộc sống nhân trần mới có bột cần chất men, nên ở trên Thiên Đàng, chỉ có Thiên Chúa là tất cả mọi sự trong mọi người. Chúa Giêsu lấy dụ ngôn hạt cải, mô tả nó "bé nhỏ hơn mọi thứ hạt giống, nhưng khi mọc lên, thì lớn hơn mọi thứ rau cỏ, rồi thành cây" ( Mt 13, 32 )… "cũng như men người đàn bà kia lấy đem trộn vào ba đấu bột, cho đến khi bột dậy men" ( Mt 13, 33 ), ngoài ám chỉ sự lớn lên âm thầm nhưng hùng mạnh của Nước Chúa trong lịch sử, Chúa Giêsu muốn nói đến sự nhập thể làm người của chính mình và sức thánh hóa của Chúa Thánh Thần. Nếu ai đó không lấy men trộn vào bột làm cho bột dậy men, thì bột đó không thể sử dụng làm thực phẩm được. Nhưng nếu trộn bột vào men, bột sẽ dậy men, đó là cách Chúa Giêsu áp dụng cho Nước Trời... Cũng như thịt: để giữ gìn thịt khỏi hư, chúng ta phải tra muối vào để bảo quản... nếu không thịt sẽ hư và trở nên không phù hợp cho tiêu dùng. Một cách tương tự, nhân loại đại diện cho thịt hoặc bột, Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần là muối và men. Nếu men Thánh Thần và muối Giêsu không xuống thế gian, không mặc lấy bản tính con người, nghĩa là nhào trộn với con người, con người sẽ không bao giờ mất đi mùi hôi thối của tội lỗi, không "tẩy trừ men cũ, để nên bột mới, là bánh không men" ( 1Cr 5, 7 ) thì không thể được cứu độ. Nếu con người chỉ dựa vào sức riêng mình, không cần Thánh Thần trợ giúp, thì thật sai lầm; bởi con người không được tạo dựng để ở trên Trời... Nếu người tội lỗi không gặp gỡ Thiên Chúa, không từ bỏ tội lỗi, không được thấm nhuần sức sống thần linh của Thiên Chúa, người ấy sẽ không bao giờ được nếm hưởng cuộc sống đích thực... Trái lại, nếu đón nhận được ân sủng của Chúa Thánh Thần, không " gây phiền muộn cho Thánh Thần" ( Ep 4, 30 ), người ấy sẽ hạnh phúc và được sống đời đời. 7
  8. 8. Dụ ngôn hạt cải và nắm men có lẽ dễ hiểu nên các môn đệ không cần phải giải thích, các ông chỉ xin Chúa Giêsu: "giải thích dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng" ( Mt 13, 36 ) sau khi đã về nhà. Và Người đã giải thích: "Người là kẻ gieo giống. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái gian ác. Kẻ thù gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần" ( Mt 13, 37 – 39 ). Thánh Augustinô quan niệm: "Chính Giáo Hội là một cánh đồng có lúa và cỏ lùng, có kẻ xấu và người tốt đều chung sống với nhau, là nơi để chúng ta bắt chước gương nhẫn nại của Chúa. Những kẻ dữ hiện hữu trong thế gian này hoặc là để được cải hóa hay là nhờ họ mà những kẻ lành có thể luyện tập đức nhẫn nại". Vì thế chúng ta có thể rút ra những bài học sau: 1. Cần phải có hành động khôn ngoan, thận trọng, nhẹ nhàng và đúng đắn của người gieo giống tốt, để đề phòng "kẻ thù của ông đến gieo cỏ lùng vào ngay giữa lúa, rồi đi mất" ( Mt 13, 25 ). Thậm chí người gieo giống tốt có thể bị cám dỗ phản ứng với bạo lực khi áp dụng lời van xin của đầy tớ, "nếu ông bằng lòng, chúng tôi xin đi nhổ cỏ" ( Mt 13, 27 ). Ông chủ thật tuyệt vời, bởi ông thận trọng thẳng thừng nói: "Không được, kẻo khi nhổ cỏ lùng, các anh lại nhổ luôn cả lúa chăng. Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt. Và đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt: "Các anh hãy nhổ cỏ lùng trước, rồi bó lại từng bó mà đốt đi, sau mới thu lúa lại chất vào lẫm cho ta" ( Mt 13, 29 – 30 ). 2. Chúa Giêsu, lúc sinh thời, Người đã phải đối mặt với sự hiện diện của sự dữ, các môn đệ Người cũng thế. Theo Mátthêu thì cuộc đối đầu của Chúa Giêsu với sự dữ đã bắt đầu với câu chuyện thời thơ ấu lúc Thánh Giuse đưa Đức Maria cùng Người trốn sang Ai Cập để tránh cuộc thảm sát của Hêrôđê ( Mt 2, 1 – 14 ). Người sẽ tiếp tục đối đầu khi bị cám dỗ trong hoang địa ( Mt 4, 1 – 11 ), cũng như trong suốt cuộc đời sứ vụ công khai, và sẽ phải chiến đấu chống lại cái ác cho đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời ( Mt 26; 27 ). Tuy nhiên, Người sẽ chiến thắng khi sống lại bởi Đức Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần ( Mt 28 ). Cũng giống như Thầy mình, các môn đệ Chúa Kitô cũng phải đối mặt với sự hiện diện của cái ác. Sau đó họ phải bắt chước Thầy mình nhẫn nại cho đến thời gian thu hoạch. 3. Trước sự hiện hữu của cái ác, thái độ của các môn đệ Chúa Kitô là gì nếu không phải là chấp nhận. Chúa Giêsu dùng dụ ngôn cỏ lùng để mời gọi chúng ta áp dụng một số thái độ cần phải có đối với sự hiện hữu của cái ác trên thế giới. Trước hết cần phải gieo trong chúng ta và xung quanh chúng ta thật nhiều hạt tốt và đặc biệt là thực hiện từng bước để gìn giữ các hạt giống tốt cho đến mùa thu hoạch như là ( cầu nguyện, tĩnh tâm, làm việc lành phúc đức, giúp đỡ tha nhân... ) Tiếp đến là phải hành động với sự khôn ngoan, thận trọng khi đối đầu với sự ác, đồng thời cầu xin Chúa Thánh Thần giúp sức cho, vì: "Thánh Thần nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta" ( Rm 8, 26 ). Cần phải đứng vững trong đức tin, hy vọng và bác ái; nghĩa là chinh phục cái ác bằng việc làm tốt, theo lời khuyên của Thánh Tông Đồ Phaolô: "Chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ" ( Rm 12, 21 ). Chúng ta hãy hướng tới Mẹ Maria với lòng tin tưởng, để Mẹ giúp chúng ta trung thành theo Chúa Giêsu, và sống như con cái của Thiên Chúa. Lm. Antôn NGUYỄN VĂN ĐỘ TỐT VÀ XẤU Cuộc đời có nhiều các thái cực khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau. Một trong các “cặp đôi” đó là Tốt và Xấu, hoặc Thiện và Ác. Nói theo tâm linh, đó là Thiên Thần và Quỷ Sứ. Có thể coi Tổng Lãnh Thiên Thần Micae ( * ) đại diện phe Thiện, đối nghịch với Quỷ Vương Luxiphe – vốn dĩ cũng là thiên thần – đại diện phe Ác. Tốt và xấu cũng có nghĩa đen và nghĩa bóng. Cái gì tốt thì luôn luôn đẹp, nhưng cái gì đẹp thì chưa chắc là tốt. “Cái tốt” và “cái xấu” là thứ đến trong mỗi hành động, lằn ranh rất mong manh. Và vì thế, chúng ta không bao giờ được ngừng cẩn trọng trong mỗi suy xét hay phán đoán về người khác, cũng như không bao giờ ngừng chú ý và nghiêm khắc với từng hành động của mình. Nếu cuộc chiến giữa “cái tốt” và “cái xấu” không bao giờ kết thúc, ở bất kỳ nơi nào hoặc trong bất kỳ ai, việc của chúng ta không 8
  9. 9. phải là đứng ngó và dùng niềm tin của mình để phân định ai là “người tốt”, ai là “kẻ xấu”, rồi ngỡ ngàng khi niềm tin mơ hồ ấy tan biến theo sự thay đổi của con người. Nhân chi sơ tính bổn thiện. Ai sinh ra cũng đều là người tốt, tốt đúng nghĩa, vì được chính Thiên Chúa tác tạo nên giống hình ảnh Ngài theo Thánh Ý Ngài ( St 1, 26 – 27 ), nhưng con người bất tuân vì nghe lời ma quỷ “xúi dại”, muốn “đấu tranh” với Thiên Chúa, và tội kiêu ngạo đó đã làm chúng ta xấu đi, không còn “tính bổn thiện” như trước. Tuy vậy, Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương nhân loại, trước sau như một, không suy giảm. Sách Khôn Ngoan xác định: “Thiên Chúa chăm sóc mọi loài. Ngoài Ngài ra, chẳng còn thần nào khác để Ngài phải chứng tỏ rằng các phán quyết của Ngài không bất công” ( Kn 12, 13 ). Kinh Thánh giải thích thêm về Thiên Chúa: “Chính do sức mạnh của Chúa mà Chúa hành động công minh, và vì Chúa làm bá chủ vạn vật, nên Chúa nương tay với muôn loài. Khi không có ai tin rằng Chúa nắm trọn quyền năng thì Ngài tỏ sức mạnh; còn ai đã biết mà vẫn to gan thì Ngài trị tội” ( Kn 12, 16 – 17 ). Ông bà Nguyên Tổ đã to gan và đã bị trị tội. Chúng ta cũng “di truyền” cái loại “gen nổi loạn” đó nên lúc nào cũng chỉ muốn “vùng lên”. Tội ở chỗ là biết mà vẫn phạm, cố phạm chứ không phải là ngu phạm, khôn phạm chứ không phải là dại phạm. Thế mới đáng tội. Chúng ta to gan lắm, xấu mà cứ tưởng mình tốt, dốt mà vẫn chảnh. Ghê gớm thật đấy ! Thế nhưng Chúa vẫn “xử khoan hồng vì Ngài làm chủ được sức mạnh” và “lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản”, chúng ta đừng thấy vậy mà tưởng bở và khinh suất, vì “Ngài có thể sử dụng quyền năng bất cứ khi nào Ngài muốn” ( Kn 12, 18 ). Đó bài học Chúa dạy cho Ítraen, và cũng là bài học dạy cho mỗi chúng ta hôm nay, những kẻ to gan, lớn mật, cũng “chẳng vừa”, vẫn dám coi Trời chỉ bằng… nắp bia ! Nói theo ngôn ngữ ngày nay thì chúng ta có “máu giang hồ”, ánh mắt mang hình “viên đạn nguyên tử”, chẳng khác “dân anh chị” thứ thiệt. Thiên Chúa làm vậy không phải là Ngài “trả đũa” hoặc “hẹp hòi”, mà để dạy chúng ta bài học này: “Người công chính phải có lòng nhân ái” ( Kn 12, 19a ). Sự công chính rất quan trọng, như tấm vé vào Nước Trời, vì Chúa Giêsu nói: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisêu, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” ( Mt 5, 20 ). Và Lòng Chúa Thương Xót vẫn chan chứa trải qua bao thế hệ: “Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề là người có tội được Ngài ban ơn sám hối” ( Kn 12, 19b ). Chắc chắn Thánh Phaolô đã cảm nghiệm sâu sắc về Lòng Chúa Thương Xót nên mới xác định: “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” ( Rm 5, 20 ). Chắc chắn nhất là chính Chúa Giêsu đã nói với Thánh nữ Faustina: “Lòng Thương Xót của Ta lớn hơn cả tội lỗi của con và toàn thế giới” ( Nhật Ký số 1485 ). Là phàm nhân, ai cũng có “gen tội lỗi” ngay khi trong lòng mẹ rồi ( x. Tv 51, 7 ). Thật vậy, “không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa” ( Mc 10, 18 ), và Kinh Thánh nói rõ: “Chính nhân có ngã bảy lần cũng đứng lên được, còn kẻ ác cứ lảo đảo hoài trong cảnh tai ương” ( Cn 24, 16 ). Như vậy nghĩa là “người công chính mà còn mỗi ngày phạm tội tới bảy lần”, huống chi người chưa công chính, còn đang là tội nhân, tức là vẫn “dính líu” tới “cái xấu”. Vì còn “máu xấu”, chúng ta phải biết khiêm nhường thật lòng “đấm ngực” và cầu xin: “Lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng, giàu tình thương với mọi kẻ kêu xin; lạy Chúa, xin lắng nghe lời con cầu khẩn, tiếng con van nài, xin để ý lưu tâm” ( Tv 86, 5 – 6 ). Không có Chúa, chúng ta vô cùng vô duyên và khốn nạn, chẳng là gì cả. Vì thế mà chúng ta luôn phải cần có Ngài, vì mỗi nhịp thở của chúng ta chính là sự sống do Thiên Chúa trao ban. Tác giả Thánh Vịnh xác định rạch ròi: “Lạy Chúa, muôn dân chính tay Ngài tạo dựng sẽ về phủ phục trước Thánh Nhan, và tôn vinh danh Ngài. Vì Ngài thật cao cả, và làm nên những việc lạ lùng; chỉ một mình Ngài là Thiên Chúa” ( Tv 86, 9 – 10 ). Cứ nhìn thiên nhiên cũng đủ xác minh. Thiên Chúa tốt lành nên chỉ tạo điều TỐT, nếu có điều XẤU là tại chúng ta, không thể “nói trại” đi là “thiên tai”, thật ra hoàn toàn là “nhân tai”. Thiên Chúa im lặng và chưa ra tay vì Ngài vô cùng thương xót chúng ta, kiên nhẫn chờ đợi chúng ta trở về với Ngài để chính chúng ta được hưởng mọi phúc lợi, chứ chúng ta chẳng thêm gì cho Ngài. Thời gian là sự nhẫn nại Ngài dành cho chúng ta, Ngài chỉ mong chúng ta sớm biết chân thành thân thưa: “Phần Ngài, muôn lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhân hậu từ bi, Ngài chậm giận, lại giàu tình thương và lòng thành tín. Xin đoái nhìn và xót thương con, ban sức mạnh của Ngài và xuống ơn cứu độ cho tôi tớ Ngài đây, con của nữ tỳ Ngài” ( Tv 86, 15 – 16 ). 9
  10. 10. Thiên Chúa nhẫn nại nhưng chúng ta lại “nóng tính”, cầu nguyện một thời gian chưa thấy “động tĩnh” gì thì vội nản chí sờn lòng, đôi khi còn trách Chúa. Thánh Phaolô nói: “Nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy, đó là chúng ta bền chí đợi chờ” ( Rm 8, 25 ). Đó là sống tích cực về cả ba nhân đức đối thần ( Tin-Cậy-Mến ), và đó cũng là cách chúng ta tín thác vào Lòng Chúa Thương Xót bằng cả con người mình chứ không chỉ đọc như vẹt. Thánh Phaolô giải thích: “Hơn nữa, lại có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa ( Rm 8, 26 – 27 ). Rõ ràng Thiên Chúa luôn rất quan tâm chăm sóc chúng ta, sự quan phòng của Ngài ngoài sức tưởng tượng của phàm nhân. Tác giả Thánh Vịnh khuyên nhủ: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay” ( Tv 37, 5 ). Chắc chắn rằng dù chúng ta có xấu tới cỡ nào mà tín thác cuộc đời cho Chúa hướng dẫn thì chúng ta sẽ sớm nên tốt. Tin Mừng hôm nay gồm ba dụ ngôn về Nước Trời: 1. Dụ ngôn Cỏ Lùng ( Mt 13, 24 – 30, 36 – 43 ), 2. Dụ ngôn Hạt Cải ( Mt 13, 31 – 32; Mc 4, 30 – 32; Lc 13, 18 – 19 ), 3. Dụ ngôn Men Trong Bột ( Mt 13, 33; Lc 13, 20 – 21 ). Dụ ngôn Cỏ Lùng không chỉ nói về Nước Trời mà còn là một trong các dụ ngôn cho thấy Lòng Thương Xót của Thiên Chúa rất bao la vô cùng. Hôm đó, Đức Giêsu ví Nước Trời như một người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, cỏ lùng cũng xuất hiện. Thấy vậy, đầy tớ nói với chủ: “Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ?” Ông đáp: “Kẻ thù đã làm đó!”. Đầy tớ nói: “Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không ?” Ông đáp: “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi”. Đây là một trong số ít các dụ ngôn “khó hiểu” mà chính các môn đệ đã xin Sư Phụ Giêsu giải thích. Ngài đáp: “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là ma quỷ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên thần. Vậy, như người ta nhặt cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, rồi quăng chúng vào lò lửa; ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng. Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe”. Lời giải thích của Chúa Giêsu rất rõ ràng, mạch lạc, không ai lại không hiểu, nhưng vẫn có những người không muốn hiểu. Vì thế mà Chúa Giêsu thường nói: “Ai có tai thì nghe”. Thiên Chúa thương xót mọi người, không chỉ người tốt, mà cả người xấu. Còn chúng ta lại xì xầm với nhau: “Sao Chúa không cho lũ ác ôn bị nạn cho nó trắng mắt ra nhỉ ?” Chúng ta không thể hiểu thấu tình yêu Thiên Chúa, đến nỗi sai Con Một xuống trần gian rồi “hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người” ( Mt 20, 28 ). Trong số “muôn người” đó có cả người xấu và người tốt – là người này, là người kia, là bạn, là tôi, là chúng ta. Chẳng vậy mà Chúa Giêsu đã từng dạy chúng ta: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” ( Mt 5, 44 ), và “Hãy chúc làn h cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” ( Lc 6, 28 ). “Ai có tai thì nghe” [ai có tai nghe thì ( hãy ) nghe] là câu mà khi nghe, chúng ta cảm thấy có vẻ bình thường, nhưng thật ra lại rất thâm thúy, khiến chúng ta phải giật mình, thấm thía và đau điếng. Đó cũng là điều mà Chúa nhấn mạnh nên đã được nhắc tới vài lần ( Mt 11, 15; Mt 13, 9; Mt 13, 43; Mc 4, 9; Mc 4, 23; Mc 7, 16; Lc 8, 8; Lc 14, 35; và Kh 13, 9 ). Một câu rất đáng để chúng ta phải suy nghĩ nhiều ! Có ( lắng ) NGHE thì mới HIỂU, hiểu thì phải LÀM ( thực hành ), chứ không thể nghe suông, nói mà không làm, hoặc dạy người khác làm mà mình không làm. Cây nào trái nấy, chắc chắn là vậy. Chúa Giêsu nói: “Anh em hãy coi chừng các ngôn sứ giả, họ đội lốt chiên mà đến với anh em; nhưng bên trong, họ là sói dữ tham mồi. Cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái ? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ ? Nên hễ 10
  11. 11. cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt. Cây nào không sinh quả tốt, thì bị chặt đi và quăng vào lửa. Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào thì biết họ là ai” ( Mt 7, 15 – 20; Lc 6, 43 – 45 ). Người ta không thích “chạm vào” những câu như thế này ! Hai dụ ngôn tiếp theo cũng nói về Nước Trời, Chúa Giêsu ví như Hạt Cải và Nắm Men, nhưng cả hai dụ ngôn này đều ngắn gọn. Dụ ngôn Hạt Cải: “Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được”. Dụ ngôn Men Trong Bột: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men”. Cả hai dụ ngôn này đều không khó hiểu, thế nên các môn đệ không phiền Thầy Giêsu giải thích. Và chúng ta cũng thấy càng ngày càng nhiều số người tin vào Đức Giêsu Kitô là Con Một Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Độ. Mức độ không rầm rộ hoặc đột biến, chỉ tiệm tiến, nhưng chậm mà chắc. Hạt Cải đã biến thành Cây Cải, và Nắm Men đã làm dậy men những Thúng Bột. Tại sao Đức Giêsu dùng dụ ngôn mà nói với đám đông và nói gì với họ cũng dùng dụ ngôn ? Thánh sử Mátthêu nói là “để ứng nghiệm lời sấm của Ngôn Sứ: Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa” ( Mt 13, 35 ). Ngôn sứ Êdêkien đã nói: “Hãy dùng dụ ngôn mà nói với nòi phản loạn” ( Ed 24, 3 ). Vì thế mà chúng ta có thể thấy chí lý khi Chúa Giêsu bảo: “Ai có tai thì nghe”. Ai cũng có tai và có thể nghe, người điếc ( thể lý ) cũng có cách “nghe” của họ mà chúng ta thường nói là “nghe ngóng”. Người điếc tâm hồn thì không nghe được điều tốt, đó là chứng nan y bất trị. Nếu nghe thì nghe thế nào, nghe làm gì ? Đó là vấn đề quan trọng cần phải lưu tâm ! Có một điều thường thấy ở đời: “Xấu nói tốt, dốt nói chữ”. Người có tâm địa xấu thì thường nói về điều tốt để che lấp mưu mô của mình, muốn cho người khác thấy rằng họ tốt lành; người dốt thì thường nói những câu văn hoa bóng bẩy hoặc lý sự “cùn” để che đậy cái sự trống rỗng của mình, muốn cho người khác thấy rằng họ là người có cả “một bụng chữ”. Thùng rỗng nào cũng kêu to, và vải thưa không thể che mắt thánh! Sự khôn ngoan của Thiên Chúa không ai dò thấu, sự tốt lành và lòng thương xót của Ngài cũng chẳng ai hiểu nổi. Đúng như Kinh Thánh đã nói về ơn khôn ngoan mà Thánh Vương Salômôn được chính Thiên Chúa trao ban: “Sự hiểu biết của ngài bao trùm mặt đất, dụ ngôn và ẩn ngữ của ngài lan truyền khắp mọi nơi. Các bài ca, châm ngôn và dụ ngôn cũng như các lời giải thích của ngài khiến mọi xứ phải trầm trồ khen ngợi” ( Hc 47, 15 – 17 ). Quả thật, Thiên Chúa là vô cùng. Thánh Phaolô đã cho chúng ta biết: “Cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” ( 1Cr 1, 25 ). Vâng, Thiên Chúa cực Tốt cực Lành, còn chúng ta vô cùng Xấu Xa, vậy mà vẫn “chảnh” lắm ! Lạy Thiên Chúa, xin giúp chúng con biết sống tốt thực sự, tốt theo đúng tiêu chuẩn của Chúa. Xin ban cho chúng con lòng nhân hậu để chúng con không chỉ yêu người chung chung, mà thể hiện tình yêu đó bằng cả tấm lòng, cả khối óc và đôi tay, yêu cả người thân và kẻ thù, yêu cả người tốt lẫn người xấu, nhất là những con người nghèo khó, đau khổ, nhỏ bé, hèn mọn, thấp cổ bé miệng. Xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ ( Tv 51, 12 ). Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen. TRẦM THIÊN THU Chú thích: Tên Micae nghĩa là “Người giống Thiên Chúa” hoặc “Giống như Thiên Chúa”. Micae là Thiên Thần đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng, đứng đầu các Tổng Lãnh Thiên Thần, có nhiệm vụ bảo vệ, khuyến khích, về sức mạnh, sự thật và chính trực. Tổng Lãnh Thiên Thần Micae bảo vệ chúng ta về thể lý, tâm lý và tình cảm. Ngài cũng giám sát mục đích sống của chúng ta. Chức năng chính của ngài là loại bỏ những điều xấu. Ngài cầm gươm lửa để bảo vệ chúng ta khỏi Satan và những điều tiêu cực. Khi có ngài ở bên, bạn có thể thấy lấp lánh ánh sáng xanh hoặc đỏ. Hãy cầu xin Ngài nếu bạn thấy mình bị tấn công về tâm lý hoặc thiếu can đảm giữ lời hứa, thiếu động lực, thiếu lòng tin, thiếu can đảm, mất phương hướng, thiếu nghị lực, thiếu sức sống, thiếu tự tin, và cảm thấy bất xứng. Micae giúp chúng ta nhận biết mục đích sống và giúp bảo vệ. Micae đã chiến thắng Satan ( thiên thần sa ngã ) ở trong Vườn Địa Đàng, dạy cho Ađam cách gieo trồng và chăm sóc gia đình, nói với Môsê trên Núi Sinai. 11
  12. 12. PHONG CÁCH PHANXICÔ Bài 14. Thập giá Đức Kitô nơi Phaolô Papa Phanxicô hiện nay đang giới thiệu khuôn mặt Đức Kitô mang đậm nét hiền lành và khiêm nhường cho nhân loại ( x. Mt 11,29 ). Khi chọn Tông Hiệu Phanxicô, ngài đã chọn Thánh Phanxicô thành Assisi làm nguồn cảm hứng nhưng cũng đồng thời là một thách đố lớn lao. Phanxicô Assisi là vị thánh Công Giáo được mọi người không phân biệt tôn giáo mến mộ nhất, được nhìn nhận như đã phản ánh khuôn mặt Đức Kitô một cách trung thực nhất. Nếu Phanxicô Assisi chỉ là một người nghèo khó lang thang, sống thong dong thanh thoát, yêu quí thiên nhiên, nhất định không chịu chức linh mục dù lúc sinh thời đã luôn được mọi người gọi là “Cha Phanxicô”, về sau trước sự nài ép thiết tha của các anh em trong Dòng, ngài mới miễn cưỡng nhận chức Phó Tế để có thể giảng trong Nhà Thờ, thì trong vai trò thủ lãnh của Hội Thánh toàn cầu, Papa Phanxicô vẫn phải trình bày cho thế giới một khuôn mặt rất gần gũi và rất “người” của Chúa Cứu Thế. Lệnh truyền rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu dành cho các Tông Đồ vẫn chỉ trong phạm vi Israel. Đức Giêsu sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng: Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israen. Dọc đường hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần ( Mt 10, 5 – 6 ). Nhưng ngay sau khi Chúa Giêsu về cùng Chúa Cha, Phaolô đã làm cuộc “cách mạng” để cho Tin Mừng vượt ra khỏi biên cương Do Thái. Nhưng không nên vì thành quả tông đồ sáng ngời của Phaolô mà cho rằng ông là một người siêu việt. Ông đã nhận thức về bản thân mình: "Tôi thật là một người khốn nạn ! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này ?" ( Rm 7, 24 ) Bấy giờ ông Phêrô lên tiếng nói: "Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không hề coi ai trọng hơn ai" ( Cv 10, 34 ). Phêrô môn đệ thân tín nhất của Đức Kitô, đã từng sống thiết thân nhất với Người trong ba năm, do đó phải hiểu về Người rất sâu đậm, đã không nói: “tôi tin rằng” mà lại nói “tôi biết rõ” một điều mà chỉ có bản thân Thiên Chúa mới biết rõ về chính mình. Thiên Chúa không coi ai trọng hơn ai vì mỗi người sinh ra trong cuộc đời này đều được trở thành con cái Thiên Chúa nhờ Ơn Cứu Chuộc của Đức Kitô. Dù không tin vào Đức Kitô hay chỉ là tín hữu bình thường cũng đều được Thiên Chúa coi ngang hàng như Tu Sĩ Linh Mục, thậm chí ngay cả Giám Mục hay Giáo Hoàng. Những kẻ bé nhỏ nhất còn được Thiên Chúa ưu ái cách đặc biệt. "Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy" ( Mt 18, 10 ). Do đó, sự trọng vọng quá đáng hàng Giáo Sĩ ở nơi Giáo Dân Việt Nam chỉ mang đậm nét văn hóa dân tộc chứ không phải là yêu cầu của Tin Mừng. Phaolô vẫn phải lắng nghe Lời Chúa từ lời rao giảng của người khác, về điểm này ông cũng giống chúng ta. Sau khi tỏ mình ra với Phaolô trên đường Đamát, Chúa Phục Sinh không trực tiếp dạy bảo ông điều gì nhưng lại đòi hỏi ông phải lắng nghe người khác. “Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì.” ( Cv 9, 6 ). Đức Tin có được là nhờ nghe rao giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô ( Rm 10, 17 ). Phaolô vẫn phải thống hối những tội lỗi của mình. Đức Kitô Giêsu đã đến thế gian, để cứu những người tội lỗi, mà kẻ khốn nạn nhất là tôi ( 1Tm 1, 15 ). Bây giờ Thiên Chúa truyền cho người ta rằng mọi người ở mọi nơi phải sám hối, vì Người đã ấn định một ngày để xét xử thiên hạ theo công lý ( Cv 17, 30 ). Sau khi chịu Phép Rửa, cũng như mọi tín hữu khác Phaolô vẫn phải nỗ lực phấn đấu mới kiên trì sứ vụ của mình được. Anh em hãy kiên tâm bền chí, và càng ngày càng tích cực tham gia vào công việc của Chúa, vì biết rằng: trong Chúa, sự khó nhọc của anh em sẽ không trở nên vô ích ( 1Cr 15, 58 ). Sự độc đáo nơi tư tưởng Phaolô chính là thoát khỏi não trạng Do Thái chỉ biết đặt nền tảng công chính trên việc chu toàn lề luật. Đối với Phaolô, tin vào Đức Kitô là điều duy nhất cần thiết. Nhưng ngày nay, sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện mà không cần đến Luật Môsê. Quả thế, người ta được Thiên Chúa làm cho nên công chính nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô. Tất cả những ai tin đều được như thế, bất luận là ai ( Rm 3, 21 – 22 ). 12 CÙNG NHẬN ĐỊNH
  13. 13. Các nhóm Cải Cách ( Reform Church ) luôn nhấn mạnh tư tưởng này của Phaolô để đơn giản hóa và giảm thiểu vai trò của các Bí Tích. Nhóm Luther chỉ công nhận Thanh Tẩy, Thánh Thể và Sám Hối, trong đó Sám Hối chỉ là nghi thức xét mình tập thể của cộng đoàn trước khi đón nhận Thánh Thể. Họ chủ trương tuyên xưng niềm tin vào Đức Kitô và đón nhận Người làm Cứu Chúa của đời mình là được hưởng Ơn Cứu Độ. Điều này không sai nhưng chưa đủ. Đỉnh cao của tư tưởng Phaolô chính là thập giá Đức Kitô. Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá ( 1Cr 2, 2 ). Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ ( 1Cr 22, 23 ). Vấn đề là được biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết ( Pl 10 – 11 ). Tất cả cuộc đời Đức Kitô và mọi việc Người làm chỉ là một cuộc chuẩn bị cho hy lễ thập giá. “Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến” ( Ga 12, 27 ). Thiên Chúa đã định cho Ðức Kitô Giêsu phải đổ máu mình ra, làm hy lễ đem lại ơn tha tội cho những ai tin ( Rm 3, 25 ). Tất cả những bí tích mà Người lập ra chỉ có mục đích làm cho người tin được nên một với Người trong thập giá của Người. “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” ( Mt 10, 38 – 39 ). Quả thế, nhờ Đức Kitô, anh em đã được phúc chẳng những là tin vào Người, mà còn được chịu đau khổ vì Người ( Pl 1, 29 ). Chỉ có thập giá mới làm cho Bánh và Rượu trở thành Thịt và Máu của Người. Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.” Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” ( Lc 22,19 – 20 ). Lòng Tin vào Đức Kitô mà không dẫn đến cùng đón chịu thập giá với Người là Lòng Tin không đi kèm với hành động cụ thể. Đó là Lòng Tin chết ( x. Gc 2,17 ). Vậy, dù ăn, dù uống, hay làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa ( 1Cr 10, 31 ). Con người đâu chỉ ăn và uống là đủ. Con người còn cần đến tình yêu nam nữ trong đó quan hệ tình dục là một nhu cầu chính đáng để có hạnh phúc và lưu truyền sự sống. Một hoạt động cực kỳ quan trọng như vậy mà có thể ở ngoài Tin Mừng cứu độ được sao ? "Ôi hạnh phúc đâu chỉ có cơm ngon và áo đẹp Mùa xuân đâu chỉ có hoa thơm và nắng hồng Cuộc đời còn có cả ... những nụ hôn !" ( Mùa xuân bên cửa sổ – Xuân Hồng ) Thân xác con người không phải để gian dâm, mà để phụng sự Chúa, vì Chúa làm chủ thân xác. Nào anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là phần thân thể của Đức Kitô sao ? Tôi lại lấy phần thân thể của Đức Kitô mà làm phần thân thể của gái điếm sao ? Không đời nào ! Anh em chẳng biết rằng ăn ở với gái điếm là nên một thân xác với người ấy sao ? Thật thế, có lời chép rằng cả hai sẽ thành một xương một thịt. Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người. Anh em hãy tránh xa tội gian dâm. Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác mình, còn kẻ gian dâm thì phạm đến chính thân xác mình. Hay anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao ? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế, anh em đâu còn thuộc về mình nữa, vì Thiên Chúa đã trả giá đắt mà chuộc lấy anh em. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em ( x. 1Cr 6, 13 – 20 ). Tất cả các nhóm Tin Lành đều phủ nhận tính cách bí tích của hôn nhân tức là sự kết hợp giữa hai người nam nữ là do bởi ý muốn của Thiên Chúa và làm cho đôi bạn được cùng tháp nhập vào thập 13
  14. 14. giá Đức Kitô. Họ chủ chương rằng kết hôn, ly dị, tái hôn nhiều lần là tự do lựa chọn của mỗi cá nhân, như thế họ mặc nhiên công nhận gian dâm và ngoại tình ( quan hệ tình dục với nhiều người ) là chính đáng. Từ đó dẫn tới việc họ cũng cho rằng tàn sát thai nhi, núp bóng dưới mỹ từ kế hoạch gia đình hay tự cho lựa chọn, cũng là chính đáng. Phaolô phải bật khóc vì lẽ đó. "Vì, như tôi đã nói với anh em nhiều lần, và bây giờ tôi phải khóc mà nói lại, có nhiều người sống đối nghịch với thập giá Đức Kitô: chung cục là họ sẽ phải hư vong. Chúa họ thờ là cái bụng, và cái họ lấy làm vinh quang lại là cái đáng hổ thẹn. Họ là những người chỉ nghĩ đến những sự thế gian ( Pl 3, 18 – 19 ). Trong khi Hội Thánh Công Giáo vẫn trung thành cử hành tất cả các Bí Tích do chính Đức Kitô lập nên là Rửa Tội, Thêm Sức, Thánh Thể, Giao Hoà, Xức Dầu, Truyền Chức Thánh để cho trọn cuộc đời mọi tín hữu có thể nên một với thập giá Đức Kitô, Hội Thánh cũng thường gặp phải nguy cơ chú trọng quá đáng vào các nghi thức bên ngoài mà lại thiếu đi sát với tinh thần và tấm lòng của Đức Kitô dành cho nhân loại. Chỉnh đốn lại điều đáng tiếc này chính là thành quả sáng ngời nhất của Thánh Phanxicô Assisi. NGUYỄN TRUNG ( còn tiếp ) NHẬN BIẾT Ý CHÚA Nhận biết Ý Chúa là điều không dễ. Mà nhận biết rồi có vui vẻ chấp nhận hay không là việc khó, vì chúng ta thường không bằng lòng với những gì không hợp ý mình. Lời “xin vâng” của Đức Maria xem chừng dễ dàng quá, nhưng thực ra không phải vậy. Đức Mẹ mau mắn “xin vâng” vì Đức Mẹ yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Vậy Thiên Chúa có cách chọn lựa đúng trong điều tôi quyết định ? Khi chúng ta xin ơn khôn ngoan để nhận biết Ý Chúa để chọn người bạn đời, nghề nghiệp, công việc, trường học, bạn bè... hoặc bất kỳ điều gì, dù lớn hay nhỏ, khi đó có hai con đường khác nhau trước mắt chúng ta và chúng ta phải chọn lựa, Thiên Chúa có luôn là một con đường cho chúng ta ? Nếu vậy, làm sao nhận biết ? Nhiều Kitô hữu “vật lộn” với vấn đề này vì không biết rằng các Kitô hữu ngày xưa có thể giúp chúng ta bằng kinh nghiệm của họ. Sự khôn ngoan Kitô giáo thể hiện qua đời sống và giáo huấn của các thánh cho chúng ta biết hai điều thích hợp với vấn đề này. Thứ nhất, họ cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa không chỉ biết và yêu thương chúng ta mà còn quan tâm từng chi tiết trong cuộc đời chúng ta, và chúng ta tìm theo Ý Chúa trong mọi sự, dù lớn hay nhỏ. Thứ hai, họ cho chúng ta biết rằng Ngài ban cho chúng ta sự tự do và lý luận vì Ngài muốn chúng ta dùng để quyết định. Truyền thống này được minh họa qua câu châm ngôn nổi tiếng của Thánh Augustinô: “Hãy yêu mến Chúa, rồi cứ làm những gì bạn muốn”. Nói cách khác, nếu bạn thực sự yêu mến Ngài và theo ý Ngài, bạn có thể làm bất cứ điều gì, vì đó là làm theo Ý Chúa. Làm theo hai lời khuyên này sẽ đưa mình vào hai hướng trái chiều hoặc chỉ có vẻ như thế ? Có sự thật trong cả hai, điều mà chúng ta nhấn mạnh để giải quyết vấn đề xem Chúa có muốn cho chúng ta hay không ? Tôi nghĩ về cách thứ nhất và câu trả lời rõ ràng cho vấn đề này là còn tùy vào người yêu cầu. Chúng ta có xu hướng nhấn mạnh một nửa sự thật, và chúng ta có thể làm điều đó trong hai cách. Mọi tà thuyết trong lịch sử thần học đều hợp với kiểu này. Chẳng hạn, nhấn mạnh thần tính của Đức Kitô hơn nhân tính hoặc ngược lại; hoặc nhấn mạnh quyền tối cao của Chúa hơn ý muốn tự do hoặc ngược lại. Đây là 5 nguyên tắc chung để nhận biết Ý Chúa về mọi vấn đề: 1. Luôn bắt đầu với các dữ liệu, những gì chúng ta biết chắc. Nhờ cái đã biết mà đoán cái chưa biết, nhờ cái chắc chắn mà đoán cái không chắc. Ađam và Eva đã coi thường nguyên tắc này ở Vườn Địa Đàng, làm ngơ lệnh truyền của Thiên Chúa và lời cảnh báo về lời hứa hảo huyền của ma quỷ. 2. Hãy để con tim điều khiển cái đầu. Hãy để lòng yêu mến Thiên Chúa hướng dẫn lý lẽ trong việc tim Ý Ngài. Chúa Giêsu đã dạy người Pharisêu về nguyên tắc này: Họ hỏi Chúa Giêsu về cách hiểu 14 CÙNG TÌM HIỂU
  15. 15. lời Ngài, và Ngài đưa ra nguyên tắc đầu tiên về khoa chú giải ( hermeneutics ): “Đạo lý tôi dạy không phải là của tôi, nhưng là của Đấng đã sai tôi. Ai muốn làm theo ý của Người thì sẽ biết rằng đạo lý ấy là bởi Thiên Chúa hay do tôi tự mình giảng dạy. Ai tự mình giảng dạy thì tìm vinh quang cho chính mình. Còn ai tìm vinh quang cho Đấng đã sai mình, thì là người chân thật, và nơi người ấy không có gì là bất chính” ( Ga 7, 16 – 18 ). Các Thánh hiểu Kinh Thánh hơn các thần học gia, vì họ biết tác giả Kinh Thánh là chính Thiên Chúa, bằng cách yêu mến Ngài bằng cả linh hồn và trí khôn. 3. Hãy mềm lòng chứ đừng cứng lòng. Chúng ta nên “khôn ngoan như con rắn và hiền lành như bồ câu”, tinh thông như con cáo về tư tưởng trung thành như con chó trong ý muốn và hành động. Mềm lòng không có nghĩa là nhẹ dạ, và cứng đầu không có nghĩa là cứng lòng. Lòng chúng ta nên sẵn sàng “rỉ máu” và đầu chúng ta nên “giữ vững lập trường”. 4. Các dấu chỉ của Chúa theo dạng lượng giác học ( trigonometry ). Có ít là bảy dấu chỉ: - Kinh Thánh, - Giáo huấn của Giáo hội, - Lý lẽ của con người ( do Thiên Chúa tạo nên ), - Tình huống thích hợp ( mà Ngài kiểm soát bằng sự quan phòng ), - Lương tâm, biết đúng hay sai, - Ước muốn, bản năng hoặc xu hướng cá nhân, - Cầu nguyện. Hãy trắc nghiệm sự chọn lựa bằng cách đặt mình trước mặt Chúa. Nếu một trong bảy điều nói KHÔNG thì đừng làm, nếu không điều nào nói KHÔNG thì cứ làm theo. 5. Hãy tìm kiếm hoa trái của tinh thần, nhất là ba điều này: Yêu thích, vui mừng, và bình an. Nếu chúng ta bực tức và lo lắng, không thích, không vui và không bình an, chúng ta không có quyền nói rằng chúng ta chắc chắn an toàn theo Ý Chúa. Sự nhận thức không nên cứng ngắc, nông nổi, nóng vội, nhưng phải cảm thấy yêu thích, vui mừng và bình an – vì đó là một phần Ý Chúa đối với chúng ta, giống như trò chơi hơn là cuộc chiến, giống như viết thư tình hơn là thi tốt nghiệp. Bây giờ đối với vấn đề của chúng ta. Thiên Chúa có chọn lựa đúng cho tôi ? Nếu đúng, tôi phải tìm kiếm. Nếu không, tôi nên thoải mái hơn và chịu thiệt một chút. Đây là 5 gợi ý trả lời: Câu trả lời tùy theo bạn là loại người nào. Tôi cho rằng nhiều dạng: - Công Giáo, - những người chính thống và trung tín với các giáo huấn của Giáo Hội, - những người bảo thủ, - những người bị lôi cuốn. Tôi có nhiều người bạn – bạn tình cờ, bạn thân, và bạn rất thân – về dạng này trong nhiều năm. Thật vậy, tôi hợp với cách của tôi. Vì thế tôi nói theo kinh nghiệm khi tôi cho rằng những người thuộc dạng này có xu hướng mạnh về dạng tính cách nào đó – không tốt cũng không xấu – cần được nuôi dưỡng bằng một cách nhấn mạnh hơn cách khác. Dạng tính cách đối lập cần sự nhấn mạnh đối lập. Dựa vào việc quan sát riêng về loại người này, gợi ý đầu tiên của tôi là chúng ta thường có xu hướng định hình theo ước muốn tốt để tìm Ý Chúa dành cho chúng ta. Chúng ta đưa ra chứng cớ khủng khiếp đối với người không là Kitô hữu; chúng ta có vẻ không thoải mái để dừng lại ngửi những bông hồng của Chúa, để tận hưởng cuộc sống theo như Chúa đã ban cho chúng ta. Chúng ta thường sợ hãi, bực bội, quan trọng hóa, thiếu khôi hài, và dễ tức giận. Tóm lại, đó là dạng “tiếp thị” không tốt cho Đức Tin của chúng ta. Tôi không đề nghị chúng ta thỏa hiệp một chút đức tin để hấp dẫn những người không có đức tin. Tôi chỉ đề nghị chúng ta làm người. Cứ đi xem bóng đá. Cứ nhậu một chút, nếu biết uống. Đôi khi cũng cứ ngớ ngẩn một chút. Cứ thọc lét con cái và cùng vui vẻ. Hãy kể chuyện cười. Nói chung là cứ sống bình thường. Đây là gợi ý thứ hai. Đa số các Kitô hữu, kể cả những người đạo đức, không biết những gì cần biết, đó là biết Ý Chúa qua từng cách chọn lựa của chúng ta. Hiếm lắm. Có thể điều gì đó quan trọng hơn là hiếm chăng ? Có thể Thiên Chúa đã bỏ mặc chúng ta mà không gợi ý chăng ? Gợi ý thứ ba là Kinh Thánh. Trong đó có mọi tấm gương – đa số kỳ diệu, nhiều gương ngoạn mục – về việc Thiên Chúa mặc khải Thánh Ý Ngài. Nhưng các điều này được kể là mầu nhiệm: điều gì đó phi thường, chứ không chung chung. Bóng tối và sự không chắc chắn thường xảy ra trong cuộc đời các Thánh, kể cả đau khổ và nghèo nàn. Điều duy nhất phổ biến đối với nhân loại là Phúc Âm bảo đảm giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi ( hậu quả của tội lỗi là chết chóc, sai lầm, sợ hãi ), khỏi đau khổ và khỏi sự bất trắc. Nếu Thiên Chúa muốn chúng ta biết rõ ràng và không sai lầm, chắc chắn Ngài sẽ nói với chúng ta một cách rõ ràng và dứt khoát. 15
  16. 16. Gợi ý thứ tư là điều Thiên Chúa ban cho chúng ta: Sự tự do. Tại sao ? Có một số lý do chính đáng. Chẳng hạn, để tình yêu của chúng ta có thể có giá trị hơn so với tình yêu theo bản năng, cảm xúc động vật không tự do. Nhưng tôi nghĩ có lý do khác. Là một giáo viên, tôi biết thi thoảng tôi cũng nên từ chối trả lời học sinh để chúng cố gắng tự tìm đáp án, như vậy chúng mới có thể ghi nhớ và tự đánh giá tốt hơn, đồng thời chúng cũng biết cách tập phán đoán khi tìm câu trả lời. Cho ai con cá thì rồi bạn phải nuôi họ suốt đời, cho ai cần câu và dạy họ câu cá là bạn nuôi họ cả đời rồi. Thiên Chúa ban cho chúng ta một số cá lớn, nhưng Ngài cũng ban cho chúng ta quyền tự do bắt cá nhiều hoặc ít. Lý lẽ và tự do luôn đi đôi với nhau. Thiên Chúa tạo dựng cả hai giống như Ngài. Ngài mặc khải cho cả hai: dự đoán đối với lý lẽ và mệnh lệnh đối với ý chí. Nhưng khi Ngài không cho chúng ta câu trả lời, dù chỉ là lý thuyết, khi áp dụng cách dự đoán hoặc suy luận, như vậy Ngài cũng không cho chúng ta câu trả lời về luân lý hoặc hướng dẫn cụ thể, khi áp dụng mệnh lệnh hoặc kết luận. Ngài ban cho chúng ta lý trí và luân lý để thực hiện, và chắc chắn Ngài không vui khi chúng ta chôn giấu “nén tài năng” mà không “đầu tư” để Ngài thấy chúng ta sinh lời khi Ngài trở lại. Về giáo dục, tôi biết luôn có hai thái cực. Bạn có thể quá tân thời, quá thực nghiệm, quá triết lý, quá nguyên tắc hoặc quá dễ dãi. Nhưng bạn cũng có thể quá cổ hoặc quá cứng rắn. Học sinh cũng cần sáng kiến, sáng tạo và nền bản. Luật Chúa rất ngắn gọn. Ngài ban cho chúng ta Mười Điều Răn, chứ không trăm hoặc ngàn điều răn. Tại sao ? Vì Ngài muốn sự tự do và sự biến đổi. Tại sao bạn nghĩ Ngài tạo dựng quá nhiều người ? Tại sao không dựng một vài người ? Vì Ngài thích các tính cách khác nhau. Ngài muốn ca đoàn của Ngài hợp xướng nhiều bè chứ không đồng ca một giọng ( but not in unison ). Tôi biết các Kitô hữu muốn tự biết mình nhiều để có thể quyết định xem cái nào chính xác là Ý Chúa muốn đối với họ. Tôi nghĩ như vậy tốt hơn là nghĩ về Thiên Chúa và người lân cận nhiều, còn chỉ ít nghĩ hoặc không nghĩ về mình, theo bản năng mà không muốn biết gì thêm. Nếu bạn yêu mến Chúa và hành động theo Luật Chúa, tôi nghĩ Ngài muốn chúng ta thư giãn một chút đấy. Tôi rất ấn tượng với hình ảnh hàng rào quanh sân chơi của Chesterton ở trên núi, trẻ em trong đó có thể chơi đùa mà không sợ rơi xuống vực thẳm. Đó là lý do Thiên Chúa ban Lề Luật cho chúng ta: Không làm chúng ta âu lo nhưng giữ an toàn cho chúng ta để chúng ta có thể thoải mái với những trò- chơi-cuộc-đời, vui vẻ và yêu thương. Mỗi chúng ta đều có những năng khiếu và ước muốn khác nhau, nhưng đã bị nhiễm tội – nhiễm cả vào lý luận và cơ thể của chúng ta. Chúng ta thường theo bản năng thể lý ( như sự đói khát và phản xạ tự vệ ) và bản năng trí tuệ ( như tính tò mò và lý luận ). Tôi nghĩ Ngài muốn chúng ta theo con tim. Chắc chắn là vậy, nếu Thành yêu Tâm hơn yêu Mai, anh ta có lý để nghĩ rằng Thiên Chúa đang muốn anh ta kết hôn với Tâm hơn là với Mai. Tại sao chúng ta không xử lý các chọn lựa khác theo quy luật tương tự ? Dĩ nhiên tôi không nói rằng chúng ta hoàn toàn không sai lầm. Tôi cũng không nói rằng chúng ta chỉ có thể theo lý lẽ của con tim. Trên đây tôi đã đưa ra 7 hướng dẫn. Nhưng chắc rằng chính Thiên Chúa đã “thiết kế” trái tim chúng ta – trái tim tinh thần với ước muốn và ý hướng nhiều hơn trái tim thể lý với động mạch chủ và các van bơm. Cha mẹ chúng ta phạm tội và hướng dẫn sai lầm, nhưng Thiên Chúa ban họ cho chúng ta để chúng ta theo. Như vậy, trái tim cũng đáng theo mặc dù nó cũng đầy tội lỗi và sai lầm. Nếu trái tim chúng ta yêu mến Chúa thì đáng theo lắm. Nếu nó không yêu mến Chúa thì bạn đừng quan tâm vấn đề nhận biết Ý Chúa. Đây là gợi ý thứ năm. Khi chúng ta theo lời khuyên của Thánh Tiến Sĩ Augustinô là “cứ yêu mến Chúa đi, rồi cứ làm những gì bạn muốn”, chúng ta thường có kinh nghiệm về nỗi buồn và sự bình an. Bình an là dấu ấn của Chúa Thánh Thần. Tôi biết có vài người rời bỏ Kitô Giáo vì họ thiếu sự bình an. Họ cố gắng trở thành “siêu Kitô hữu” về mọi thứ, và họ phải chịu áp lực. Họ nên đọc thư của Thánh Phaolô gởi Giáo Đoàn Galát. Đây là gợi ý thứ sáu. Nếu Thiên Chúa có cách chọn đúng trong mọi điều bạn làm, bạn có thể rút kinh nghiệm. Nghĩa là Thiên Chúa muốn bạn biết căn phòng nào sạch nhất, phòng bếp hay phòng ngủ, và nên lấy cái dĩa nào trước, dĩa thịt hay dĩa nước chấm. Bạn thấy đó, nếu bạn thực hiện ẩn ý hợp lý của nguyên tắc này, điều đó sẽ buồn cười, không ổn, và không biết Chúa muốn chúng ta sống cách nào – cách được diễn tả trong Kinh Thánh và cuộc đời của các thánh. Gợi ý thứ sáu là nguyên tắc có nhiều điều tốt. Nhưng đối với người nào đó, vẫn thường có vài cách chọn lựa đều tốt. Cái tốt là kính vạn hoa ( kaleidoscopic ), đa sắc biến đổi. Có nhiều con đường 16
  17. 17. đúng. Con đường dẫn tới biển là đúng và con đường dẫn tới núi cũng đúng, vì Thiên Chúa vẫn đang chờ đợi chúng ta ở cả hai nơi. Sự thiện có nhiều màu sắc. Chỉ có điều ác mới thiếu màu sác và biến ảo. Trong Hỏa Ngục không có màu sắc, không có tính cách cá nhân. Các linh hồn tan chảy như chì, hoặc bị nhai nghiến trong miệng của Quỷ Vương. Hai nơi giống nhau trên thế gian là nhà tù và nơi thù hận, không như Nhà Thờ. Có những cách chọn lựa đều tốt như nhau. Ví dụ, tình dục trong hôn nhân. Khi bạn sống trong Luật Chúa – không ngoại tình, không độc ác, không ích kỷ, không hành động bất thường ( kế hoạch, dùng biện pháp ngừa thai ) – thì mọi thứ đều “suôn sẻ”. Bạn thử tưởng tượng đi. Có phải Chúa muốn bạn ân ái với người bạn đời không ? Đúng là một câu hỏi ngớ ngẩn ! Thế nhưng ân ái với người bạn đời là điều tuyệt vời, là Ý Chúa đấy. Ngài muốn bạn làm những gì bạn muốn để người bạn đời biết đó là bạn chứ không phải ai khác. Gợi ý thứ bảy là chính kinh nghiệm của tôi. Lần đầu tiên tôi viết tiểu thuyết, tôi biết cách viết. Đầu tiên, tôi trao phó cho Chúa, tôi nói với Ngài rằng tôi muốn viết về Nước Trời, và tôi tin Ngài hướng dẫn tôi. Sau đó, tôi theo sự hứng thú của tôi, cả bản năng và tiềm thức. Tôi cứ để mạch truyện chảy đi và các nhân vật cứ là chính họ. Thiên Chúa không khởi đầu hoặc kết thúc cho tôi. Ngài không làm gì cho tôi. Nhưng Ngài vẫn ở đó, giống như người cha hoặc người mẹ tốt. Tôi nghĩ rằng cuộc đời chúng ta như một cuốn truyện. Chúng ta viết truyện về chính cuộc đời mình và chính mình ( vì chúng ta tự định hình bằng cách chọn lựa, giống như bức tượng là chủ của điêu khắc gia vậy ). Dĩ nhiên, Thiên Chúa là tác giả thứ nhất, là điêu khắc gia thứ nhất. Nhưng Ngài dùng những con người khác nhau để có những tác phẩm khác nhau. Ngài là tác giả từng cuốn trong bộ Kinh Thánh, nhưng tính cách của mỗi tác giả phàm nhân diễn tả theo văn chương phàm tục. Thiên Chúa là người kể chuyện hoàn vũ. Ngài muốn các câu chuyện khác nhau. Ngài muốn bạn biết ơn Ngài về câu chuyện duy nhất từ ý muốn tự do và sự quyết định của bạn. Vì ý muốn tự do của bạn và kế hoạch đời đời của Ngài không là hai điều cạnh tranh, mà là hai phương diện của một vấn đề. Chúng ta không thể hiểu hết mầu nhiệm này trong cuộc đời mình, vì chúng ta chỉ thấy mặt dưới của tấm thảm. Nhưng tôi nghĩ rằng, một trong những điều ở trên Trời là chúng ta sẽ chúc tụng và cảm tạ Chúa vì Ngài đã không để chúng ta nắm vô-lăng cuộc đời ủa mình – giống như cha mẹ dạy con cái lái xe vậy. Nếu không thì… ! Thì sao ? Bạn thấy Ý Chúa tuyệt vời không nào ? Khi cho chúng ta tự do, Thiên Chúa nói: “Mong ý con được trọn vẹn”. Một số người trong chúng ta quay lại và nói với Ngài: “Con muốn ý con sẽ được trọn vẹn”. Đó là vâng lời lệnh truyền thứ nhất và là lệnh truyền quan trọng. Rồi khi chúng ta làm vậy, Ngài nói với chúng ta: “Bây giờ, ý con được trọn vẹn”. Rồi Ngài viết câu chuyện về cuộc đời chúng ta bằng những nét tự do của chúng ta. TRẦM THIÊN THU, chuyển ngữ từ IntegratedCatholicLife.org CUỘC SỐNG LUÔN CÓ HAI ĐÁP ÁN… Hãy quay về hướng mặt trời, và bạn sẽ không thấy bóng tối ( Helen Keller ). Thầy tôi là một người rất đặc biệt, trước mỗi vấn đề của cuộc sống thầy luôn đưa ra hai đáp án khác nhau. Ví dụ: đối với những học sinh xuất sắc, thầy nói rằng: “Học kỳ này em thi đạt thành tích nhất lớp cũng không có gì tự hào lắm, vì học kỳ sau em chưa hẳn đạt được như vậy. Nhưng nếu học kỳ sau em lại đứng nhất nữa cũng không có gì hãnh diện, vì thi vào đại học em chưa chắc đỗ thủ khoa. Nhưng nếu đạt thủ khoa cũng không có gì xuất sắc lắm, bởi vì sau này ra làm việc ngoài xã hội không nhất định em phải luôn đứng hàng đầu”. Và đối với những học sinh yếu kém khác thì thầy có cách nói ngược lại: “Nếu học kỳ này em thi không đạt kết quả tốt cũng không có gì quá lo ngại vì còn có học kỳ sau. Nhưng nếu học kỳ sau đã cố 17 CÙNG NGHIỆM SINH
  18. 18. gắng nhưng vẫn không tốt thì cũng đừng quá buồn lo, vì thi vào đại học em không hẳn lại như thế. Và nếu có thi hỏng đại học cũng chẳng có gì đáng xấu hổ bởi còn có các trường đời mở rộng cửa đón em. Thành tài và thành người không chỉ có ở con đường thi cử…” Thầy còn kể cho chúng tôi nghe câu chuyện ngụ ngôn về kiến và dế: “Mùa thu đến đàn kiến vất vả từ sáng đến tối lo kiếm thức ăn chuẩn bị cho mùa đông sắp tới, mà dế thì ngược lại ẩn trong đám cỏ xanh tươi cất tiếng hát vang. Mùa đông đến gần, kiến có thể ở trong hang ấm áp từ từ thưởng thức những món ăn ngon do mình kiếm được, còn dế thì nằm chết dần ngoài hang và mạng sống của chúng chỉ được vỏn vẹn 3 tháng…" Kể ngụ ngôn ấy rồi, thỉnh thoảng hễ có dịp thầy lại hỏi đám học sinh chúng tôi: “Các em nên học theo cách sống của kiến hay của dế ?" Chúng tôi đồng thanh trả lời: “Thưa thầy, học theo kiến ạ”. Thầy vui vẻ gật đầu nói: “Đúng ! Chúng ta nên học tập từ kiến, cần cù làm việc, tự mình tạo hạnh phúc cho mình bằng chính đôi tay của mình, bất luận thế nào cũng không nên học theo cách sống của dế, chỉ biết vui chơi mà không lo cho cuộc sống tương lai”. Nhưng không lâu sau đó trong lớp chúng tôi có một học sinh nữ bị bệnh ung thư, các bác sĩ coi như bó tay nan y, lúc đó thầy dẫn chúng tôi cùng đến bệnh viện thăm cô bé. Và một lần nữa, thầy kể lại câu chuyện ngụ ngôn lúc trước, khi kể gần xong, như biết ý thầy thế nào cũng hỏi, cô bé liền nói: “Thưa thầy, em cũng nghĩ sẽ làm như kiến vậy”. Không ngờ thầy nói: “Không em ạ, em nên làm như dế, tuy rằng cuộc sống của chúng có ngắn ngủi, nhưng nó biết đem lời ca hay, tiếng hát đẹp để lại cho đời, biết cống hiến và góp niềm vui cho muôn loài muôn vật. Còn kiến tuy cả ngày vất vả với công việc nhưng xét cho cùng chúng chỉ lo cho cái ăn của chính chúng mà thôi”. Nghe xong, cô bạn đáng thương của chúng tôi đã hiểu ra ý thầy muốn nhắn nhủ, cô bé mỉm cười thật rạng rỡ. Từ đó, theo lời kể của gia đình và bạn bè, cô bé đã cố gắng làm nhiều việc tốt trong những ngày đời còn lại, và cô bé đã đi đến điểm cuối cùng của cuộc sống mà không âu sầu bi thương… Tác giả khuyết danh, bản dịch của Như Nguyện Ephata biên tập thêm 7.2014 TỪ THỜI CÒN TRẺ… ĐẾN LÚC VỀ GIÀ Đời người thường được gói gọn trong một câu thật đơn giản: “Từ thời còn trẻ… đến lúc về già”. Nói như vậy nhưng không đơn giản chút nào vì những suy nghĩ phức tạp của từng thời kỳ, qua đó thể hiện quan niệm sống khác hẳn nhau, nhiều lúc đến độ mâu thuẫn, xung đột gay gắt. Thời còn trẻ bao gồm các giai đoạn từ thơ ấu, tiến dần đến tuổi vị thành niên và rồi trở thành thanh niên vào lứa tuổi từ 19 đến 24. Đây là khái niệm của Tổ chức Y tế Thế giới ( WHO ) nhưng chưa được thống nhất vì còn tùy thuộc vào từng khuôn khổ xã hội của từng quốc gia. Chẳng hạn như ở Trung Quốc, tuổi thanh niên là 29, trong khi tại Bangladesh là 34 và ở Malyasia thậm chí đến 40 tuổi ! Những người được gọi là “cao tuổi”, “cao niên” hay “người già” thường có độ tuổi từ 60 trở lên như tại Việt Nam. Tại một số nước quy định tuổi của người già được căn cứ vào những gì họ cống hiến cho gia đình và xã hội. Thuật ngữ “senior citizen” dùng tại Anh và Mỹ ám chỉ những người đã hưu trí ( retiree ), thường là những người từ 65 tuổi trở lên. Tại Mỹ, ngày 21 tháng 8 là ngày toàn quốc tôn vinh những công dân lớn tuổi, ngày đó được gọi là“National Senior Citizens Day”. Bài viết này không có ý tôn vinh tuổi già và cũng chẳng đề cao tuổi trẻ. Tôi chỉ có tham vọng đặt vấn đề về những cảm xúc của con người thay đổi theo tuổi tác. Những điều được nêu ra dưới đây có thể mang phần nào ý nghĩa chủ quan vì người viết thuộc về lứa tuổi “gần đất xa trời”, nhưng thiết nghĩ, người trẻ cũng như già nên đọc để chiêm nghiệm những cái đúng và cả những cái sai. Đề tài từ cổ chí kim được nói đến nhiều nhất là “Tình yêu trai gái”. Một triết gia nào đó đã phân tích: Cảm xúc về Tâm hồn tạo ra Tình Bạn; Cảm xúc về Tri thức tạo ra lòng Kính Trọng và Cảm xúc về Thể xác 18 CÙNG TÌM HIỂU

×