LỜI CẢM ƠN       Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể các thầy côtrong khoa du lịch học trường đại học ...
vẹn lãnh thổ non sông của đất nước. Bởi vậy, ngày nay, khi kh¸ch du lịchđến Việt Nam      hä th­êng ngạc nhiên và tự hỏi k...
riêng. Đất nước Việt Nam, con ngư ời Việt Nam với các thành phần dân tộc,qua hang ngàn năm xây đắp đã tạo dựng nên một kho...
2. Mục đích và đối tượng nghiên cứu:2.1. Mục đích nghiên cứu:       Đề tài “ Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phá...
Chương 1: Những nhận thức về du lịch và bản sắc văn hoá truyền thống   dân tộc.   Chương 2: thực trạng vai trò của du lịch...
Theo ông Nguyễn Khắc Viện thì du lịch là sự mở rộng không gianvăn hoá của con người.       Trong từ điển tiếng Việt du lịc...
Du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắnchặt với hoạt động kinh tế. Tuy nhiên mỗi học giả lại c...
Coltman đã định nghĩa: du lịch là quan hệ tương hỗ do s ự tương táccủa bốn nhóm du khách, cơ quan cung ứng du lịch, chính ...
khoảng thời gian nhất định”. Theo định nghĩa này ta thấy, du lịch trước tiênphải là hoạt động của con người và phải là hoạ...
từ ngữ thường có nhiều nghĩa, nhiều khi trái ngược nhau. Như vậy việc giảithích bằng cách gộp các nội dùng khác nhau vào m...
các giá trị của nơi đến tham quan. Tham quan không những giúp cho ta cảmnhận trực tiếp các đối t ượng tham quan và giúp ta...
bản thân nó vẻ đẹp hùng vĩ của tạo hoá nhưng bên cạnh đó cũng ghi dấu ấnlịch sử dân tộc qua các thời kỳ, chính vì vậy nó c...
nhu cầu đa dạng của khách du lịch nhưng phải mang lại hiệu quả kinh tế, xãhội và môi trường. Qua đây chúng ta thấy nếu một...
trình nhằm đáp ứng hai khía cạnh của khách du lịch là sở thích nhu cầu củakhách và khả năng tài chính của khách . Nếu khôn...
Trong suốt gần 50 năm hình thành và phát triển ngành du lịch luônđược Đảng và nhà nướ c quan tâm. Ở mỗi thời kỳ đều xác đị...
1. Khách quốc tế         Khá quố4,500,000                                                                                 ...
Nguồn: Tổng Cục thống kêQua hai bản biểu đồ trên có thể thấy hoạt động du lịch của nước ta giai đoạn 1990 -2007 đã đạt đượ...
nhiên hoặc do con người tái tạo, giúp khách du lịch hiểu được giá trị       của sinh thái và môi trường, ảnh hưởng của sin...
việc nghỉ dưỡng như khí hậu, môi trường, bãi biển và có cơ sở vật       chất đủ đáp ứng cho nhu cầu nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. ...
các thành viên như các hoạt động nhóm, các bữa tiệc sang trọng mang       nét đặc sắc. Đây là loại hình du lịch hình thành...
hoá thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp đến cao nhất và văn hoá củahọ chiếm vị trí cao nhất. Bởi họ cho rằng văn...
- Một là, những di tích văn hoá hữu thể như: đình, đền, miếu, lăng mộ,       nhà sàn, bảo tàng… hay những di tích kiến trú...
niệm cổ truyền và truyền thống. Có thể coi khái niệm cổ truyền bao gồm cảcái không tích cực. Khái niệm truyền thống là tập...
hệ giá trị văn hoá. Về du lịch, hầu như trước đây có bao nhiêu tác giả nghiêncứu tìm hiểu du lịch thì có bấy nhiêu định ng...
vủa mỗi cộng đồng, dân tộc khi bị cô lập sẽ ở trạng thái ngưng trệ. Sự kếthừa theo trục không gian đã thúc đẩ y văn hoá nh...
Tóm lại giữa du lịch và văn hoá có mối quan hệ biện chứng. Hoạt độngcủa ngành du lịch như một ngành kinh tế dịch vụ góp ph...
nhận thấy vai trò của du lịch đối với nền kinh tế nên họ đã có chính sáchthúc đẩy ngành phát triển và trở thành một ngành ...
tốt với các nguyên thủ cũng như các đoàn đại biểu của các nước. Du lịchphát triển còn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng các ...
So với ngoại thương ngành du lịch cũng có nhiều ưu thế nổi trội. Dulịch quốc tế xuất khẩu tại chỗ được nhiều mặt hàng khôn...
các cộng đồng miền xuôi có điều kiện để tiếp xúc và hiểu được hoàn cảnh,thực tế cuộc sống , kinh tế của các cộng đồng dân ...
du lịch đóng vai trò thiết yếu và không thể thiếu được đối với nền văn hoá xãhội Việt nam2.2 Thực trạng du lịch Việt nam v...
1. §êng kh«ng                                          101.3   131.5   126                            279,733     2,475,54...
12. Th¸i Lan                                           99.9   161.7   137                             13,602         120,8...
30. C¸c thÞ trêng kh¸c                                         105.9      152.2                   124                     ...
13. §øc                32,058         39,096   46,327     44,609            56,561                                        ...
khác. Cũng có khi những giá trị văn hoá truyền thống đã bị lãng quên theothời gian nhưng du lịch lại góp phần khôi phục lạ...
để phát triển du lịch. Muốn phát triển du lịch một cách bền vững thì nhấtđịnh phải dựa trên cơ sở bảo tồn và phát huy chín...
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, Việ t Nam được biết đến là một vùngđất còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, văn hoá và cách m...
Chắc hẳn câu ca dao cổ:Dù ai đi đâu về đâuHễ trông thấy tháp Chùa Dâu thì vềDù ai buôn bán trăm nghềNhớ ngày mồng tám thì ...
tháp của Ấn Độ trong buổi đầu dựng chùa tháp Hoà Phong là một biểutượng thể hiện sự giao thoa văn hoá và tín ngưỡng bản đị...
Chùa Dâu là ngôi chùa có lịch sử cổ nhất nước ta hiện nay, một viênngọc quý vô giá minh chứng phật giáo du nhập lớn từ nhữ...
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc

872 views

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
872
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
5
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc

  1. 1. LỜI CẢM ƠN Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể các thầy côtrong khoa du lịch học trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn. §ÆcbiÖt, em xin được gửi lời cảm ơn s©u s¾c nhÊt tíi Thạc sỹ Nguyễn QuýPhương - ThÇy đã rÊt tận tình chỉ bảo và giúp đỡ, h­íng dÉn vµ cung cÊpcho em nh÷ng ph­¬ng ph¸p lµm viÖc cã hiÖu qu¶ nhÊt trong suốt qúa trìnhchuÈn bÞ, thùc hiÖn vµ hoµn thµnh khoá luận tốt nghiệp nµy. §ång thêi em xin cảm ơn tới gia ®×nh ®· lu«n lu«n bªn c¹nh ®éng viªngióp ®ì em trong suèt kho¶ng thêi gian qua. Cuối cùng t«i xin chân thành cảm ơn toµn thÓ c¸c bạn đã luôn nhiÖtt×nh tham gia gióp ®ì t«i trong qu¸ tr×nh nghiªn cøu vµ cïng t«i trao ®æi ýkiÕn ®Ó ®Ò tµi ®­îc hoµn thiÖn.Sinh viên: Trân trọng cảm ơn!ĐỀ TÀI: Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy gi¸ trÞ v¨n ho¸truyÒn thèng d©n téc.Phần mở đầu1. Lý do chọn đề tài: Trong cuéc sèng hiÖn ®¹i ngµy nay, du lịch đã trở thành một nhu cầutất yếu của xã hội, không những là ngành kinh tế mũi nhọn của các quốc giamà còn là cầu nối giao lưu giữa các dân tộc, quốc gia và các miền trong mộtđất nước. Bạn bè quốc tế trước đây biết đến Việt Nam là một quốc gia phảitrải qua nhiều thập kỷ chiến tranh với các thế lực xâm lược mạnh hơn gấpnhiều lần và họ đã anh hùng đánh bại các thế lực xâm lược đó, bảo vệ toànChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  2. 2. vẹn lãnh thổ non sông của đất nước. Bởi vậy, ngày nay, khi kh¸ch du lịchđến Việt Nam hä th­êng ngạc nhiên và tự hỏi không hiểu vì sao nhữngcon người mãnh liệt, dũng cảm, lập nhiều kỳ tích trong chiến tranh như vậylại cuốn hút kh¸ch tham quan bởi sự hiền hậu, chân tình và th©n thiÖn chứkhông phải bằng những ánh hào quang của chiến thắng. Có lẽ một phần câutrả lời đang ẩn mình trong tính cách và truyền thống của người Việt, bởi trảiqua hµng ngàn năm lịch sử, người Việt đã tạo dựng cho mình một phongcách, một nền văn hoá, thuần phong, mỹ tục riêng. Đồng thời du lịch còntạo ra một sự trải nghiệm cho chính du khách, giúp họ nhìn nhận lại nhữnggiá trị quý báu của dân tộc mà biết bao thế hệ, ng ay cả chính họ đã phải đổibằng xương máu của mình để tạo dựng nên. Đối với thế hệ trẻ thì du lịch làdịp để họ hiểu hơn về công lao của cha ông mình, đồng thời cũng hiểunhững giá trị nhân văn, giá trị truyền thống và thiên nhiên mà họ đang đượcthừa hưởng. Du lịch ngày nay đã trở thành một hoạt động không thể thiếutrong đời sống sinh hoạt xã hội, làm cho đời sống xã hội ngày một phongphú hơn, lý thú và bổ ích hơn. Về phương diện kinh tế, du lịch đã trở thànhmột ngành mũi nhọn, chiếm một tỷ trọng lớn t rong thu nhập kinh tế quốcdân, không những vậy do đặc tính hoạt động, du lịch còn góp phần khôngnhỏ trong phát triển kinh tế vùng chậm phát triển, đồng thời giúp xoá đói,giảm nghèo ở những vùng sâu vùng xa.Nhưng quan trọng hơn du lịch có vai trò to lớn trong việc bảo tồn và pháthuy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Đặc biệt Việt Nam là một quốc giađa dân tộc, có một nền văn hoá lâu đời, phong phú, thống nhất mà đa dạng.Với số dân gần 80 triệu người của 54 dân tộc an hem cùng đoàn kết chungsốn g trên một vùng lãnh thổ, trải qua nhiều đời, mỗi dân tộc đã đóng góp,dựng xây tạo nên những thành quả trên nhiều lĩnh vực: kinh tế- văn hoá- xãhội, bên cạnh đó cũng hình thành nên những vùng văn hoá với nét đặc trưngChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  3. 3. riêng. Đất nước Việt Nam, con ngư ời Việt Nam với các thành phần dân tộc,qua hang ngàn năm xây đắp đã tạo dựng nên một kho tàng văn hoá hết sứcphong phú, độc đáo và quý giá. Xuyên suốt chặng đường lịch sử hình thànhvà phát triển đất nước, các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộ c ViệtNam nói chung và 54 dân tộc anh em nói riêng là một di sản vô cùng quýbáu, một tài nguyên vô cùng quý giá trong quá trình xây dựng và phát triểnđất nước. Trải qua những năm tháng chiến tranh chống xâm lược bảo vệ tổquốc, do một phần nhận thức của người dân còn thấp đặc biệt là sự quản lý,phối hợp lỏng lẻo của các ngành các cấp nên nhiều vốn quý trong kho tangvăn hoá truyền thống các dân tộc đã bị mất mát và mai mộ. Nghị quyết 4 củaBan chấp hành trung ương Đảng khoá 8 về việc bảo tồn và phát huy giá trịvăn hoá truyền thống là định hướng quan trọng trong việc khôi phục lạinguồn vốn quý của dân tộc. Nhiều công trình văn hoá nghệ thuật trên cáclĩnh vực văn hoá phi vật thể và vật thể được kiểm kê, trùng tu, tôn tạochống xuống cấp, sưu tầm bảo quản nghiên cứu giới thiệu, giao lưu để bảotồn trong cuộc sống và cho khách tham quan. Trong đó du lịch đóng vai tròto lớn và đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoátruyền thống dân tộc. Bởi vậy nghiên cứu về du lịch sẽ góp phần quan trọngtrong việc nâng cao nhận thức và phương hướng phát triển ngành du lịchViệt Nam. Tuy nhiên do điều kiện có hạn về không gian, thời gian và tư liệunên đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu “Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn vàphát huy bản sắc văn hoá dân tộc”. Đề tài sẽ cố gắng đi sâu phân tích vai tròcủa du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của mộtsố tài nguyên du lịch chọn mẫu, so sánh nhận thức thực tế, hoạt động của cácchương trình du lị ch trong những năm 2004 – 2008 để phát huy vai trò màdu lịch đã tiếp cận, những tiềm năng mà du lịch còn chưa được khai thác đểđáp ứng nhu cầu của khách nội địa và quốc tê.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  4. 4. 2. Mục đích và đối tượng nghiên cứu:2.1. Mục đích nghiên cứu: Đề tài “ Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc vănhoá dân tộc” hướng tới giải quyết mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá, trongđó những nhân tố truyền thống dân tộc cần được phát huy như một nền tảngvững chắc giúp cho ngành du lịch đi đúng hướng và t iến tới phát triển dulịch một cách bền vững. Đồng thời thong qua phân tích, so sánh em hy vọngsẽ góp phần củng cố thong tin bổ ích về vai trò của du lịch với việc bảo tồnvà phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho những người tham gia hoạt động dulịch để h ọ có thể phát huy tác dụng của nó như một cách tối đa và có hiệuquả nhất.2.2. Đối tượng nghiên cứu Sinh viên tập trung vào nghiên cứu ngành du lịch Việt Nam để làm rõvai trò của nó đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.Đồng thời những nhận thức về bản sắc văn hoá dân tộc và những vấn đề cólien quan cũng được nghiên cứu và làm rõ để làm sáng tỏ vấn đề.3. Phương pháp nghiên cứu- Phương pháp thu thập tài liệu- Phương pháp khảo sát thực địa- Phương pháp tiếp cận hệ thống.- Phương pháp trực quan, phương tiện thông tin đại chúng4. Bố cục khoá luận Gồm ba phần: Phần mở đầuPhần nội dung gồm:Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  5. 5. Chương 1: Những nhận thức về du lịch và bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc. Chương 2: thực trạng vai trò của du lịch trong việc bảo t ồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Chương 3: Một số giải pháp kiến nghị để phát huy vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Phần kết luận. PHẦN NỘI DUNGChương 1: Những nhận thức cơ bản về du lịch và văn hoá truyền thốngcủa dân tộc.1.Những khái niệm cơ bản về du lịch: Du lịch đối với nước ta là một ngành kinh tế mới mẻ. Từ sau khi đấtnước hoàn toàn giải phóng, ngành du lịch mới thực sự được đảng và Nhànước quan tâm. Đặc biệt từ đại hội lần VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam,cùng với sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần, khu vực kinh tế, ngành dulịch lần đầu tiên được nghị quyết của Đảng khẳng định là một ngành kinh tếmũi nhọn. Muốn cho kinh tế du lịch phát triển đúng hướng mang lại nguồnlợi ch o nền kinh tế quốc dân chúng ta cần hiểu rõ khái niệm, lịch sử, xu thế,những nhân tố tạo điều kiện cho ngành này phát triển để vận dụng vào điềukiện cụ thể của nước ta.1.1.Khái niệm du lịch: Mặc dù du lịch đã trở thành hiện tượng kinh tế, xã hội phổ biến tr ên thếgiới và là thói quen trong nếp sống sinh hoạt của xã hội. Nhưng cho đến naynhận thức về nội dùng du lịch vẫn chưa được thống nhất. Trước thực tế pháttriển của ngành du lịch về mặt kinh tế cũng như trong lĩnh vực đào tạo,nghiên cứu thảo luận, để đ i đến thống nhất một số khái niệm trong đó cókhái niệm về du lịch là một đòi hỏi cần thiết.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  6. 6. Theo ông Nguyễn Khắc Viện thì du lịch là sự mở rộng không gianvăn hoá của con người. Trong từ điển tiếng Việt du lịch lại được giải thích là đi chơi cho biếtxứ người. Với Ghisman: du lịch là sự khắc phục về mặt không gian của conngười hướng tới một điểm nhất định nhưng không phải là nơi thường xuyêncủa họ. Guer Freuler: du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiệntượng của thời đại chúng ta dựa trên sự tăng trưởng về nhu cầu khôi phụcsức khỏe và sự thay đổi về môi trường xung quanh, dựa vào sự phát sinh,phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp của thiên nhiên chia sẻ quan niệm này vớiGuer Freuler, PTS Trần Nam đưa ra quan điểm của mình: du lịch là quátrình hoạt động của con người rời khỏi quê hương đến một nơi khác với mụcđích chủ yếu là được thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc,độc đáo khác lạ với quê hương, không nhằm mục đích sinh lời được tínhbằng đồng tiền. Aza nhận thấy du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạmthời tự một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang nước khácnếu không gắn với sự thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc. Quan điểm của Kaspar: du lịch là toàn bộ những quan hệ về hiệntượng xảy ra trong quá trìn di chuyển và lưu trú của con người tại nơi khôngphải là nơi ở thường xuyên hoặc nơi làm việc của họ. Quan điểm cuả Hunziker và Kraff cũng bắt nguồn từ ý tưởng này: dulịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trìnhvà lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơilàm việc thường xuyên của họ.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  7. 7. Du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắnchặt với hoạt động kinh tế. Tuy nhiên mỗi học giả lại có những nhận địnhkhác nhau về vấn đề này. Theo Kuns một yếu tố không thể thiếu được trong định nghĩa về dulịch cần được bổ sung là đến bằng các phương tiện giao thong và sử dụngcác xí nghiệp du lịch. Picira Edmod đã đưa ra định nghĩa: du lịch là việc tổng hoà, việc tổchức và chức năng của nó không chỉ về phương diện khách vãng lai màchính về phương diện giá trị do người chỉ ra và của những khách vãng laiđến với một túi tiền đầy tiêu dùng trực tiếp và gián tiếp cho các chi phí củahọ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí. Mariot coi tất cả các hoạt động, tổ chức, kỹ thuật và kinh tế phục vụcác cuộc hành trình và lưu trú của con người ngoài nơi cư trú, với nhiều mụcđích ngoài mục đích kiếm việc làm và thăm viếng người thân là du lịch. Ngoài những khái niệm thiên về tiếp cận kinh tế, tiếp cân xã hội cũngcó một số khái niệm sau: đối với Nguyễn Cao Thường và Tô Đăng Hải chorằng: “Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ có mhiệm vụ phục vụnhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi hoặc không kết hợp với các hoạt độngchữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và nhu cầu khác”. Michand – chuyên gia nghiên cứu về du lịch thuộc lĩnh vực địa lý đưara quan điểm của mình: du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêuthụ phục vụ cho việc đi lại và ngủ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thườngngày với lý do giải trí, kinh doanh, sản xuất, hội họp, thể thao hoặc tôn giáo. Ngoài tiếp cận môi trường, hoạt động du lịch phải có tiếp cận cộngđồng mới đảm bảo sự phát triển lâu dài.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  8. 8. Coltman đã định nghĩa: du lịch là quan hệ tương hỗ do s ự tương táccủa bốn nhóm du khách, cơ quan cung ứng du lịch, chính quyền và dân cưtại nơi đến du lịch tạo nên. Còn Robert W.Mcintosh, Charles R.Goelder, J.R Brent Ritchie phátbiểu về du lịch như là tổng các hiện tượng và mối quan hệ nảy sinh từ tácđộng qua lại giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủnhà trong quá trình thu hút và đón tiếp du khách. Với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị Liên Hợp Quốc vệ du lịch họptại Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch “Du lịch là tổn ghợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cáccuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thườngxuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ lưu trúkhông phải nơi làm việc của họ”. Khác với quan điểm trên các học giả biên soạn bách khoa toàn thưViệt Nam đã tách hai nội dùng cơ bản của du lịch thành hai phần:+ Nghĩa thứ nhất: du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cựccủa con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danhlam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật…+ Nghĩa thứ hai: du lịch được coi là ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quảcao về nhiều mặt, nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử vàvăn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng tình yêu đất nước, đối với ngườinước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế du lịch là lĩnhvực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩuhàng hoá và dịch vụ tại chỗ. Luật Du lịch Việt Nam chỉ rõ: “Du Lịch là họat động có liên quanđến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằmđáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong mộtChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  9. 9. khoảng thời gian nhất định”. Theo định nghĩa này ta thấy, du lịch trước tiênphải là hoạt động của con người và phải là hoạt động ngoài nơi cư trúthường xuyên của họ. Tuy vậy ở đây còn nêu lên một vấn đề rất chungchung là “nơi cư trú” bởi từ này có thể hiểu với một không gian rất rộng nhưmột đất nước, bởi một nước c ũng có thể hiểu là nơi cư trú của công dânnước đó hoặc không gian nhỏ hơn là một vùng lãnh thổ, một tỉnh, thành phốhay một huyện, một xã, hay một làng. Việc giới hạn không gian linh hoạtnhư trên đã giúp chúng ta có cái nhìn nhận linh hoạt hơn không bị quá bóhẹp về không gian du lịch mà nó được lien hệ với các yếu tố khác. Du lịchphải nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ d ưỡng của con ngườiđi du lịch, trong đó một nhu cầu rất quan trọng là tham quan, điều này chochúng ta thấy hoạt động của con người ngoài nơi cư trú nhưng không nhằmthoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng thì sẽ không được côngnhận là du lịch. Theo tinh thần đó thì những hoạt động như học tập ngoài nơicư trú, lao động ngoài nơi cư trú sẽ không phải là du lịch. Du lịch được diễnra trong một khoảng thời gian nhất định nghĩa là du lịch nhằm thoả mãn nhucầu của con người đi du lịch trong những thời gian nhất định, điều này giúpta phân biệt nhu cầu, hoạt động của con người đi du lịch với các nhu cầukhác của họ và cho ta thấy giới hạn thời gian của khách du lịch, từ đó mà cónhững sản phẩm du lịch phù hợp với giới hạn thời gian của họ. Ngày nay, Tổ chức Du lịch Thế Giới (UNWTO) đã thống nhất kháiniệm du lịch phản ánh các mối quan hệ có tính bản chất bên trong là cơ sởcho việc nghiên cứu các xu hướng và quy luật phát triển của nó. Do đó: “ Dulịch là tổng thể những hiện tượng về mối quan hệ phát sinh do sự tác độngqua lại giữa khách du lịch, người kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại vàcộng đồng dân cư địa phư ơng trong quá trình thu hút và lưu giữ khách dulịch. Trong thực tế cuộc sống, do sự phát triển của xã hội và nhận thức, cácChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  10. 10. từ ngữ thường có nhiều nghĩa, nhiều khi trái ngược nhau. Như vậy việc giảithích bằng cách gộp các nội dùng khác nhau vào một định nghĩa sẽ gây khóhiểu, không rõ ràng. Vậy có thể tách du lịch thành hai phần để định nghĩa: - Thứ nhất, du lịch có thể hiểu là sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi s ức khoẻ, nâng cao tại chỗ về nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo sự tiêu thụ một số giá trị kinh tế, văn hoá, và dịch vụ do các cơ sở cung ứng. - Thứ hai: Du lịch có thể được hiểu là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Việc nhận định rõ ràng hai nội dùng cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch. Từ những khái niệm trên giúp ta hiểu rõ về ngành du lịch từ đó có những nhìn nhận đúng đắn về ngành này cũng như vai trò của nó đối với đất nước, đặc biệt là vai trò bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.1.2. Một số khái niệm liên quan:- Cũng theo Luật Du Lịch thì “tham quan là hoạt động của khách du lịchtrong ngày tới thăm nơi có tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thưởngthức những giá trị tài nguyên du lịch”. Qua đây cho ta thấy, tham quan làhình thức quan sát trực tiếp những di tích, danh lam, phong tục, cuộc sốngsinh hoạt của cộng đồng dân cư nơi họ đến du lịch, từ đó cảm nhận, hìnhthành những kiến thức hoặc bổ sung thêm kiến thức cho bản thân mình.Tham quan không chỉ thoả mãn nhu cầu tìm hiểu thông qua tiếp xúc trựctiếp các giác quan mà nó còn thông qua việc tiếp xúc ấy để thưởng ngoạnChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  11. 11. các giá trị của nơi đến tham quan. Tham quan không những giúp cho ta cảmnhận trực tiếp các đối t ượng tham quan và giúp ta kiểm nghiệm, bổ sung trítưởng tượng phong phú của con người về các đối tượng mà ta có được thôngqua các hình thức khác như văn học, hội hoạ, truyền thong… Việc hìnhthành kiến thức, bổ sung kiến thức thông qua tham quan mang tính khác biệtvới các hình thức khác, bởi kiến thức được hình thành bổ sung một cách nhẹnhàng, thoải mái, không bắt buộc. Từ những quan sá kinh tế, trực tiếp, kiếnthức dần dần đọng lại trong khách du lịch một cách tự nguyện, bản năng, bởivậy những kiến thức đọng lại thuộc về nhu cầu và tương đối bền vững vớingười tiếp nhận nó.- Luật Du Lịch còn chỉ rõ : “ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kếthợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thunhập ở nơi đến ”. Về phương diện kinh tế, du khách là những người sử dụngdịch vụ của các doanh nghiệp du lịch như lữ hành, lưu trú, ăn uống… (theonhập môn KH du lịch - Trần Đức Thanh). Khái niệm này cho ta thấy kháchdu lịch là rất đa dạng không phân biệt tuổi tác, học thức, nghề n ghiệp, địa vịxã hội hay tôn giáo. Như vậy, sẽ có rất nhiều đối tượng nếu có nhận thức tốttham gia vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.- Tài nguyên du lịch: “ là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịchsử- văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhânvăn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơbản để hình thành các khu du lịch , điểm du lịch , tuyến du lịch, đô thị dulịch” ( Luật Du Lịch). Ngay từ khái niệm về tài ngu yên du lịch này đã cho tathấy một phần vai trò du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoádân tộc. Vì khi ngành du lịch sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên du lịch thìsẽ đi đôi với việc giữ gìn và tiếp tục kế thừa phát triển nguồn tài nguyên đóđể hướng tới phát triển du lịch bền vững. Cảnh quan thiên nhiên chứa trongChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  12. 12. bản thân nó vẻ đẹp hùng vĩ của tạo hoá nhưng bên cạnh đó cũng ghi dấu ấnlịch sử dân tộc qua các thời kỳ, chính vì vậy nó cuốn hút khơi dậy trong mỗicon người chúng ta tình yêu quê hương đất nước giống như một đại văn hàođã nói: “dòng suối chảy vào sông, sông chảy vào đại trường giang Von -ga.Còn sông Von-ga chảy ra biển. Lòng yêu nhà quê hương xứ sở trở thànhlòng yêu nước. Các di tích lịch sử không chỉ chứa đựng những thông ti n lịchsử mà còn chưa đựng cả những tư tưởng, truyền thống cách mạng của cácthế hệ cha ông chúng ta. Đương thời thăm đền Hùng, Hồ chủ tịch đã dạy: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải quyết tâm giữ nước”.Trong khung cảnh hùng vĩ của đền Hùng, lời dạy đó đi vào lòng chúng tamột cách êm ái mà sâu sắc biết nhường nào. Những di tích cách mạng vớithời gian năm tháng sẽ không chỉ đơn thuần là di tích cách mạng, mà nó sẽtrở thành di tích lịch sử - cách mạng với ý nghĩa vô cùng lớn lao chứa đự ngtrong bản thân nó và ý nghĩa thời gian nó đã trải qua. Không những chỉ chứađựng những thông tin lịch sử văn hoá mà các di tích còn ẩn chứa trong mình,những giá trị nhân văn, những giá trị ứng xử của con người Việt Nam.Thông qua các biểu tượng hoặc cá c truyền thuyết gắn liền với di tích đó, màta thấy được nét truyền thống văn hiến của dân tộc mình. Khuê Văn Cáckhông phải nghiễm nhiên được xây dựng ở trung tâm Văn Miếu bởi nó ẩnchứa trong mình những ý chí vươn lên toả sáng - những ánh sang tuyệt đẹpcủa con người Việt Nam như ánh sáng của chùm sao Khuê.- Khu du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyêndu lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầuđa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về k inh tế, xã hội và môitrường (Luật Du Lịch). Vậy khu du lịch phải là nơi có tài nguyên du lịch hấpdẫn và đồng thời phải có ưu thế nổi bật về tài nguyên du lịch tự nhiên.Không những thế, nó phải được quy hoạch, đầu tư phát triển, nhằm thoả mãnChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  13. 13. nhu cầu đa dạng của khách du lịch nhưng phải mang lại hiệu quả kinh tế, xãhội và môi trường. Qua đây chúng ta thấy nếu một khu nào đó có đầy đủđiều kiện, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhưng không mang lại hiệu quảxã hội và môi trường thì nó vẫn chưa được coi l à khu du lịch.- Điểm du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu thamquan của khách du lịch, (Luật Du Lịch). Khái niệm này giúp ta phân biệtđiểm du lịch với các điểm khác như: điểm vui chơi, giải trí, điểm thi đấu thểthao… Đồng thời nó cũng giúp ta nhận biết đâu là tài nguyên du lịch đâu làđiểm du lịch, tài nguyên du lịch là khái niệm chung trong đó bao gồm cảđiểm du lịch, nhưng điểm du lịch là những tài nguyên du lịch đã được đưavào khai thác và phát huy ý nghĩa của nó.- Tuyến du lịch: là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cungcấp các dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt,đường thuỷ, đường hàng không. (Luật Du Lịch). Khái niệm này cho ta thấyhai yếu tố cấu thành nên tuyến du lịch là các điểm, khu du lịch và tuyến giaothông. Nếu có điểm du lịch nhưng hạ tầng giao thông chưa phát triển thìcũng không xây dựng được tuyến du lịch. Tất nhiên ta phải hiểu tuyến giaothông ở đây một cách đa dạng và uyển chuyển: gồm giao thông đường xe cơgiới, giao thông đường thuỷ, và nhiều khi có cả đường giao thông cho xe thôsơ và đi bộ trong một khoảng cách chấp nhận được.- Chương trình du lịch: “là lịch trình, các dịch vụ và giá bán, chương trìnhđược định trước cho chuyến đi của khách du lịch, từ nơi xuất phát đến điểmkết thúc chuyến đi ” (Luật Du Lịch). Vậy chương trình du lịch chứa đựng bayếu tố cơ bản đó là lịch trình tham quan được định trước và có xác định thờigian thực hiện; hai là các dịch vụ kèm theo bao gồm lưu trú, vận chuyển,hướ ng dẫn, ăn uống và các dịch vụ khác tuỳ thuộc vào từng loại hình dulịch; ba là chương trình đó phải có giá bán rõ ràng. Qua đây ta thấy chươngChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  14. 14. trình nhằm đáp ứng hai khía cạnh của khách du lịch là sở thích nhu cầu củakhách và khả năng tài chính của khách . Nếu không đáp ứng được hai khíacạnh đó chương trình du lịch sẽ trở thành không hấp dẫn và khó mà bánđược.- Lữ hành: “ là việc xây dựng, bán, và tổ chức thực hiện một phần hoặc toànbộ chương trình du lịch cho khách du lịch”. Như vậy, lữ hành là việc t ổ chứccác chương trình du lịch đã được bán cho khách du lịch. Lữ hành thực chấtlà hoạt động của các công ty du lịch chuyển sản phẩm đến người tiêu dùng làkhách du lịch.- Hướng dẫn du lịch: là hoạt động của các tổ chức kinh doanh du lịch thôngqua hướng dẫn viên và những người có liên quan đến đón tiếp, phục vụ,hướng dẫn khách du lịch thực hiện các dịch vụ theo các chương trình đượcthoả thuận và giúp đỡ khách giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trìnthực hiện chuyến du lịch. Khái niệm trên đã chỉ rõ những hoạt động chủ yếucủa hướng dẫn du lịch mà vai trò quan trọng nhất là của hướng dẫn viên,những người thay mặt cho tổ chức kinh doanh du lịch thực hiện các hợpđồng giữa đơn vị mình với khách du lịch. Các hoạt động du lịch bao gồmnhiều mặt công tác và đòi hỏi về nghiệp độ tuy mức độ không giống nhau.1.3. Sơ lược về sự phát triển của du lịch Du lịch là một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống kinh tếxã hội và đã trở lên phổ biến ở nhiều quốc gia và là một thói quen trong nế psống sinh hoạt trong xã hội ngày nay. Có nước coi du lịch là nguồn thu chủyếu, điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế, có nước coi du lịch như mộtngành kinh doanh mũi nhọn có sức hút đối với những ngành khác. Ngànhdu lịch ở Việt Nam ra đời năm 1960 với việc thành lập Công Ty Du LịchViệt Nam theo nghị định số 26 CP ngày 9/7/1960 đã đánh dấu nhận thứccủa Đảng và Nhà Nước về triển vọng nền kinh tế này.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  15. 15. Trong suốt gần 50 năm hình thành và phát triển ngành du lịch luônđược Đảng và nhà nướ c quan tâm. Ở mỗi thời kỳ đều xác định vị trí của dulịch trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước phù hợp với yêucầu của xã hội. Đặc biệt thời kỳ đổi mới và hội nhập, du lịch Việt Nam đãcó những phát triển vượt bậc, nhanh chóng thu hẹp k hoảng cách về pháttriển du lịch với các nước trong khu vực. Trở thành ngành kinh tế quan trọngtrong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Sự quan tâm đặc biệtcủa Đảng và Nhà Nước với du lịch là một tiền để rất quan trọng cho nhữngđổi mới của ngành. Sự quan tâm này được thể hiện trong hiến pháp của nướccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, trong nghị quyết đại hộiĐảng toàn quốc, trong chỉ thị 46 CT/TW ngày 14/10/1994 của Ban Bí ThưTrung Ương, thông báo số 179 TB/TW ngày 11/11/1998 và dự thảo vănkiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ X (dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế5 năm 2006-2010) và hàng loạt các văn bản khác. Như vậy có thể tin tưởngrằng trong tương lai du lịch Việt Nam chắc chắn sẽ có một vị trí xứng đángtrong xã hội và nền kinh tế nước nhà.Lượng khách quốc tế vào nước ta từ năm 1990 -2007:Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  16. 16. 1. Khách quốc tế Khá quố4,500,000 4,230,0004,000,000 3,583,4583,500,0003,000,000 2,927,876 2,627,9882,500,000 2,140,1002,000,000 1,607,155 1,520,2181,500,0001,000,000 1,018,244 500,000 440,000 250,000 0 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2007 Lượng khách nội địa giai đoạn 1990 – 2007: 2. Khách nội địa Khá 25,000,000 §¬n vÞ: L­ît kh¸ch 19,500,000 20,000,000 17,500,000 14,500,000 15,000,000 13,000,000 11,200,000 9,600,000 10,000,000 7,300,000 6,200,000 5,000,000 2,000,000 1,000,000 0 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2007 * Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  17. 17. Nguồn: Tổng Cục thống kêQua hai bản biểu đồ trên có thể thấy hoạt động du lịch của nước ta giai đoạn 1990 -2007 đã đạt được những thành tựu nhất định, cả lượng khách nội địa và quốc tế đã liêntục tăng qua các năm. Điều đó khẳng định vị thế và tương lai của du lịch nước ta.1.4. Các loại hình du lịch ở Việt NamHoạt động du lịch có thể chia thành các nhóm khác nhau tuỳ thuộc vào tiêuchí đưa ra. Về phần mình các tiêu chí được đưa ra phụ thuộc vào mục đíchviệc phân loại và quan điểm chủ quan của tác giả. Do đó, cho đến nay chưacó bảng phân loại nào được co i là hoàn hảo. Phân loại theo mục đích chuyếnđi thì ở Việt Nam đang hình thành, tồn tại và phát triển các loại hình du lịchsau: - Du lịch văn hoá lịch sử: là chương trình tổ chức cho khách du lịch tham quan các điểm, khu du lịch mang ý nghĩa lịch sử, văn hoá và thắng cảnh. Du lịch văn hoá, lịch sử giúp cho khách tìm hiểu được những nét văn hoá , lịch sử truyền thống bản sắc của dân tộc, đất nước hoặc một vùng. Đây là loại hình du lịch cổ điển và truyền thống nhất trong các loại hình du lịch và loại hình này hiện nay cung đang phát triển nhất tại Việt Nam. Tham gia loại hình này khách chủ yếu tham quan những di tích lịch sử văn hoá, những viện bảo tang những làng nghề, lễ hội, những thắng cảnh thiên nhiên … Đây là loại hình du lịch khá phổ thông và thu hút quảng đại khách du lịch và nó chiếm tỷ trọng lớn trong ngành du lịch. Đồng thời loại hình du lịch này đã thể hiện rõ nét và được đánh giá cao với vai trò bảo tồn và phát huy nền văn hoá truyền thống dân tộc - Du lịch sinh thái: Là du lịch phát huy, khai thác những giá trị sinh thái môi trường. DU lịch sinh thái giúp ta tìm hiểu được các hệ sinh thái tựChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  18. 18. nhiên hoặc do con người tái tạo, giúp khách du lịch hiểu được giá trị của sinh thái và môi trường, ảnh hưởng của sinh thái đối với cuộc sống và một số ngành sản xuất; mối liên hệ tự nhiên giữa phát triển, bảo vệ môi trường và giữ cân bằng sinh thái môi trường. Tham gia loại hình du lịch này khách thường được tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên lưu trú trong những nhà nghỉ khách sạn đơn giản trong các khu bảo tồn hoặc các khu phụ cận, nhưng lại được đắm mình trong khung cảnh thiên nhiên và không khí trong lành, qua đó đem lại cho người ta một ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn môi trường, cải tạo và trả lại cho môi trường vẻ đẹp vốn có của nó. - Du lịch mạo hiểm: Là loại hình du lịch mà hoạt động của du khách mang ít nhiều tính mạo hiểm, khám phá. Từ mạo hiểm cho ta thấy là trong quá trình du lịch khách dễ gặp phải những rủi ro, nguy hiểm khó lường trước được và đôi khi nguy hiểm đến cả tính mạng. Loại hình du lịch này chỉ phù hợp với những người có sức khỏe tốt và có cá tình mạnh, thích phiêu lưu mạo hiểm. Các dạng phổ biến của loại hình này là leo núi, chinh phục các ngọn núi cao, vượt sông, thác ghềnh ở những nơi nguy hiểm tạo cho họ cảm giác mạnh và mang ý ngh ĩa chinh phục, lặn biển để khám phá vẻ đẹp dưới đáy biển, khám phá các hang động để tìm ra những điều bí ẩn. Du lịch mạo hiểm giúp cho con người rèn luyện ý chí, khả năng xử lý tình huống khi gặp những khó khăn bất ngờ. - Du lịch nghỉ dưỡng: một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch là phục hồi sức khoẻ cộng đồng. Theo một số học giả trên thế giới với chế độ du lịch hợp lý cộng đồng có thể giảm được trung bình 30% ngày điều trị bệnh trong năm. Thông thường loại hình du lịch này diễn ra ở những nơi có điều kiện thiên nhiên thuận lợi choChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  19. 19. việc nghỉ dưỡng như khí hậu, môi trường, bãi biển và có cơ sở vật chất đủ đáp ứng cho nhu cầu nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Tham quan khu vực lân cận với chương trình nhẹ nhàng, mang tính thư giãn và nghỉ dưỡng là một phần của loại hình này. Thời gian chủ yếu của khách là nghỉ ngơi kết hợp các vận động nhằm giúp ích cho sức khoẻ hoặc thư giãn đầu óc, hưởng thụ các dịch vụ tại nơi nghỉ dưỡng. Ở Việt Nam, các khu nghỉ dưỡng này mới chủ yếu hình thành dọc bờ biển miền Trung như: Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Vũng Tàu… - Du lịch tàu biển: là loại hình du lịch trên các con tàu biển với thiết bị sang trọng, hiện đại vừa làm chức năng vận chuyển khách giữa các điểm tham quan trên đất liền hoặc các đảo suốt hành trình trên biển, đồng thời là nơi lưu trú và giải trí của khách. Khi đến các điểm tham quan, tàu neo đậu để khách lên bờ tham quan nhưng tối lại quay về nghỉ ngơi trên tàu. Ngày nay, những con tàu đã được đóng và trang bị ngang bằng bởi các khách sạn năm sao với đầy đủ các dịch v ụ như phòng nghỉ, bể bơi, sân tennis, câu lạc bộ khiêu vũ… Loại hình du lịch này hiện đang thu hút được nhiều người lớn tuổi, bởi trong suốt thời gian di chuyển từ nước này sang nước khác họ không phải nó mình trên các phương tiện vận chuyển mà vẫn sinh hoạt thoải mái như ở nhà. - Du lịch MICE: đây là loại hình du lịch tương đối mới mẻ ở Việt Nam, nhằm cung cấp dịch vụ cho hội nghị, hội thảo, triển lãm và du lịch phần thưởng. Ngoài việc cung cấp dịch vụ cho các mục đích nêu trên thì các dịch vụ phụ trợ hoặc x en kẽ giữa các khoảng thời gian của hội nghị, hội thảo là rất quan trọng, như chương trình tham quan cho các thành viên đi theo hoặc chưa tham gia hội nghị. Tổ chức các hoạt động phụ trợ để hội nghị, hội thảo trở thành sự kiện khó quên đối vớiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  20. 20. các thành viên như các hoạt động nhóm, các bữa tiệc sang trọng mang nét đặc sắc. Đây là loại hình du lịch hình thành để đáp ứng nhu cầu hoạt động của các công ty đa quốc gia, các công ty siêu quốc gia, các tổ chức quốc tế. - Ngoài ra còn kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích tôn giáo, học tập, nghiên cứu hoặc mục đích thể thao, thăm người thân,…Qua các hoại hình du lịch nói trên có thể thấy du lịch văn hoá có ảnh hưởngtác động nhiều đến bản sắc văn hoá dân tộc của người Việt. Đây là loại hìnhdu lịch khá phổ biến và ngày càng phát triển. Dễ nhận thấy vai trò của nóđối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cũng được thể hiệnmột cách rõ nét nhất.2. Nhận thức cơ bản về văn hoá2.1.Khái niệm văn hoá Văn hóa là một phạm trù rộng lớn và không thống nhất theo cách nghĩcủa mỗi người. Dưới góc độ khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau mỗihọc giả đều tự đưa ra cho mình những quan niệm khác nhau về văn hoá. Văn hoá là sản phẩm do con người sáng tạo, có từ thuở bình minh củaxã hội loài người. Ở phương Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngônngữ từ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn hoá. Xem dáng vẻ conngười, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ (quan hồ nhân văn dĩ hoá thành hiện đại).Người sử dụng từ văn hoá sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (n ăm 776 trướcCông Nguyên). Tuy vậy việc xây dựng và sử dụng khái niệm văn hoá khôngđơn giản và thay đổi theo thời gian, thuật ngữ văn hoá với nghĩa “canh táctinh thần” được sử dụng vào thế kỷ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc làquản lý, canh tác nông nghiệp. Vào thế kỷ XIX thuật ngữ “văn hoá” được những nhà nhân loại họcphát triển sử dụng như một danh từ chính. Những học giả này cho rằng vănChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  21. 21. hoá thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp đến cao nhất và văn hoá củahọ chiếm vị trí cao nhất. Bởi họ cho rằng văn hoá hướng về trí lực và sựvươn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B.Taylo là đại diện của họ.Theo ông văn hoá là toàn bộ thực tế gồm: hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật,đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà conngười có được với tư cách là một thành viên của xã hội. Thế kỷ XX, khái niệm văn hoá thay đổi F.Boa ý nghĩa văn hoá đượcquy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu caosiêu như “trí lực” vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từn g dân tộc cũngkhông phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tương đối luận” của văn hoá.Văn hoá không xét ở mức độ tăng giảm mà ở góc độ khác biệt. Trong ýnghĩa rộng nhất: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêngbiệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xãhội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật vàvăn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệthống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: văn hoá đem lại chocon người khả năng suy xét về bản thân, chính văn hoá làm cho chúng ta trởthành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và sốngcó đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bảnthân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xétnhững thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻvà sáng tạo nên những công trình vượt trội nên bản thân. Như vậy, văn hoá không phải là một lĩnh vực riêng biệt, văn hoá là t ổngthể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra: vănhoá là chìa khoá của sự phát triển.2.2.Di sản văn hoá vật thể và phi vật thể Theo quan niệm của UNESCO có hai loại di dản văn hoá:Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  22. 22. - Một là, những di tích văn hoá hữu thể như: đình, đền, miếu, lăng mộ, nhà sàn, bảo tàng… hay những di tích kiến trúc nghệ thuật. - Hai là, những di sản văn hoá vô hình (phi vật thể) bao gồm các biểu hiện tượng trưng và “không sờ thấy được” của văn hoá được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số qu á trình tái tạo “trung tu” của cộng đồng. Những di sản văn hoá tạm gọi là vô hình này theo UNESCO gồm cả: âm nhạc, múa, truyền thống, văn chương truyền miệng ngôn ngữ, huyền thoại, nghi thức, phong tục tập quán, việc nấu ăn, các món ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống. Các hữu thể và các vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau như thân xác và tâm trí con người.2.3. Khái niệm truyền thống và hiện đại Có nhiều cách hiểu khác nhau trong phân loại xã hội, nhưng ngày nayngười ta thường lấy tiêu chí hoạt động của con người để chia lịch sử thành: - Xã hội thu lượm (hái lượm và đi săn) - Xã hội nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) - Xã hội công nghiệp (cơ giới) - Xã hội hậu công nghiệp (thời đại tin học) Ở Việt Nam xã hội cổ truyền là xã hội nông nghiệp, văn minh cổ truyềnlà văn minh thôn dã (xóm làng), văn hoá Việt Nam truyền thống thườngđược xem là nền văn hoá xuất hiện từ lúc hình thành quốc gia dân tộc, quanhiều bước phát triển nội sinh và ảnh hưởng ngoại sinh cho đến khi v ăn hoáphát triển (chủ yếu là văn hoá Pháp) tác động đến một số lĩnh vực. Như vậykhoảng thời gian kéo dài từ xa xôi cho đến những năm đầu thế kỷ XX tạmđược coi là giới hạn của văn hoá truyền thống. Từ thời điểm đó đến nay,được coi là văn hoá hiện đại. Đ ôi khi người ta cũng có sự lẫn lộn giữa kháiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  23. 23. niệm cổ truyền và truyền thống. Có thể coi khái niệm cổ truyền bao gồm cảcái không tích cực. Khái niệm truyền thống là tập quán đã được sàng lọc.Truyền thống được dùng ở đây là tính cho đến thời điểm trước côn g cuộcgiao thoa truyền thống văn hoá Đông – Tây, Việt – Pháp. Định nghĩa văn hoá truyền thống: trong bài viết văn hoá cổ truyền, vănhoá truyền thống và truyền thống văn hoá của một tác giả tên đăng trên tạpchí văn hoá dân gian có nêu: “văn hoá truyền thống là khái niệm dùng để chỉmột cấu trúc văn hoá, chỉ văn hoá của các xã hội nông nghiệp truyền thống”.Tuy đây là định nghĩa ngắn gọn nhưng còn gây cho người đọc sự khó hiểu,diễn đạt còn chưa thoát ý. GS.TSKH Trần Ngọc Thêm có đưa ra định nghĩa: “Văn hoá là hệ thốnghữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ quaquá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môitrường tự nhiên và xã hội”. Từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học doHoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Truyền thống là thói quen hình thành đãlâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệkhác”.2.3.Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoáĐể có thể đánh giá được đầy đủ và chính xác vai trò của ngành du lịchtrong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, ta cần phảinghiên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa du lịch và văn hoá thể hiện nhưsau: Về mặt lý luận, văn hoá là toàn bộ những hoạt động, những giao lưu,những sản phẩm vật chất và tinh th ần do con người sáng tạo trong sự ứng xửtoàn diện với thiên nhiên, với xã hội, với -chính bản thân mình, để tồn tại vàphát triển; là quá trình con người không ngừng hoàn thiện và phong phú hoácác quan hệ nhân tính của xã hội, của cộng đồng và các cá nhân khẳng địnhChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  24. 24. hệ giá trị văn hoá. Về du lịch, hầu như trước đây có bao nhiêu tác giả nghiêncứu tìm hiểu du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa. Như đã được nêu trongphần khái niệm du lịch. Vậy mối quan hệ biện chứng giữa du lịch và văn hoáthể hiện ở chỗ nào? Nếu ta nghiên cứu sự hình thành và phát triển của ngànhdu lịch, điều đó có thể khẳng định là từ cổ đại mầm mống của du lịch bắtnguồn từ nhu cầu hoạt động văn hoá (hành hương, hành trình lễ hội). Ngượclại văn hoá cũng tác động đến việc hình thành các d ịch vụ sơ khai của ngànhdu lịch hiện đại (sự xuất hiện của các cơ sở lưu trú phục vụ cho khách hànhhương). Văn hoá là sự giao lưu; thực vậy, nhờ có sự giao lưu, trao đổi màcác hoạt động văn hoá, tín ngưỡng được lan truyền từ vùng này sang vùngkhác, từ quốc gia này sang quốc gia khác. Con người với đặc trưng cơ bản làbiết lao động, tư duy và sáng tạo, hướng tới hoàn thiện và cái đẹp ở thời cổđại chính khát vọng vươn tới tự do, khát vọng được nâng đỡ cứu giúp khỏicác thảm hoạ thiên nhiên và bất công xã hội, con người đã sáng tạo ra thầnthánh và tôn giáo như một giá đỡ tinh thần. Từ đó Kitô tôn giáo, Phật giáovà hồi giáo xuất hiện và được truyền bá từ vùng này sang vùng khác. Mỗidân tộc đều có truyền thống bản sắc văn hoá riêng. Những tinh hoa văn hoácủa từng dân tộc có được là do quá trình lao động sáng tạo của cộng đồng,được cộng đồng thừa nhận và lưu truyền từ đời này qua đời khác. Truyềnthống, bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc không phải là cái bất biến, nó khôngngừng được hoàn thiện phát triển q ua các thởi đại nhờ sự hoàn thiện vànhững yếu tố du nhập từ các nền văn hoá của mình. Thông qua giao tiếp, tìmhiểu các dân tộc trao đổi cho nhau những kiến thức về văn hoá, những cáihay, cái đẹp trong cuộc sống qua đó mỗi dân tộc có sự chắt lọc, bổ sung ,nâng cao nền văn hoá của mình. Đây là đặc trưng trong tính kế thừa theotrục không gian của các nền văn hoá. Nếu không có giao lưu, nền văn hoáChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  25. 25. vủa mỗi cộng đồng, dân tộc khi bị cô lập sẽ ở trạng thái ngưng trệ. Sự kếthừa theo trục không gian đã thúc đẩ y văn hoá nhân loại phát triển. Khi nghiên cứu du lịch ta không chỉ xem xét trên góc cạnh của ngườihướng dẫn mà trên thực tế những người cung cấp dịch vụ là yếu tố thứ haitrong du lịch tạo nên một hiện tượng Kinh Tế - Văn Hoá. Họ là những ngườicung cấp thông tin, tổ chức các chuyến du lịch, người cung cấp phương tiệngiao thông, cung cấp cơ sở lưu trú, ăn uống để thoả mãn như cấu cơ bản củacon người. Ngoài ra những người làm công tác nghệ thuật, tổ chức vui chơigiải trí, cung cấp thiết bị kỹ thuật … Với tư cách là “nhà sản xuất hàng hoádịch vụ, hoạt động của người làm du lịch không thể tách rời các yếu tố vănhoá” . Trong doanh nghiệp hoạt động du lịch, yếu tố văn hoá là toàn bộ giá trịvật chất và tinh thần mà doanh nghiệp tạo ra. Sử dụng trong quá trình phụcvụ khách, vì vậy có thể nói rằng văn hoá chính là toàn bộ quá trình xây dựngbố trí cơ sở vật chất: thiết bị vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, các dịch vụphụ trợ khác … Một điểm cần lưu ý là sản phẩm của nghành du lịch mang tính chất đặcthù. Nghĩa là nó không thể đóng gói, tồn kho, bày bán như các sản phẩmthông thường. Yếu tố dịch vụ mang tỷ trọng lớn trong sản phẩm. Như vậymột sản phẩm du lịch không chỉ có mặt vật chất mà nó chứa đựng yếu tố vănhoá, tinh thần. Kết tinh vào sản phẩm có sức lao động của con người thôngqua giao tiếp, phục vụ, chăm sóc khách hàng. Nhân viên phục vụ với tínhchất là sản phẩm của một nền văn hoá vì họ mang trong mình khả năngchuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, và các yếu tố truyềnthống trong nhâ n cách. Họ đại diện cho doanh nghiệp và cả một nền văn hoáđể cảm hoá khách hàng.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  26. 26. Tóm lại giữa du lịch và văn hoá có mối quan hệ biện chứng. Hoạt độngcủa ngành du lịch như một ngành kinh tế dịch vụ góp phần cho sự tăngtrưởng và sự phát triển của nền kin h tế xã hội, tạo điều kiện nâng cao mứcsống vật chất và tinh thần cho cộng đồng, thúc đẩy phát triển văn hoá vàngược lại, sự phát triển của một xã hội văn minh trong đó trình độ văn hoá,chính trị, tư tưởng của các thành viên trong cộng đồng lại tác độ ng lại đếnphát triển kinh tế trong đó có du lịch.Chương 2: Thực trạng du lịch Việt Nam với vai trò bảo tồn và phát huy giátrị văn hoá truyền thống của người Việt.2.1. Vai trò của du lịch trong nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội .2.1.1. Vai trò của nghành du lịch đối với nền kinh tế quốc dân: Nhà Nước Việt Nam xác định: du lịch là một ngành kinh tế tổng hợpquan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng vàxã hội hoá cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham qua n, giải trí,nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dântrí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Qua đó, ta thấy:- Đối với nền kinh tế quốc dân thì du lịch có vai trò là một ngành kinh tếtổng hợp quan trọng có tính liên ngành liên vùng. Du lịch là ngành dịch vụ.Nên nó sử dụng một tỷ trọng nhân công tương đối lớn, từ đó đã tạo ra mộtkhối lượng lớn việc làm cho người lao động. Du lịch là ngành kinh tế tổnghợp nên khi nó phát triển sẽ kích thích và tạo điều kiện cho các ngành khácphát triển và ngược lại, các ngành khác phát triển cũng kích thích và tạo điềukiện cho ngành du lịch phát triển. Trong nền kinh tế quốc dân nước ta, dulịch vẫn còn là ngành non trẻ, tuy vậy ngành này đang ngày càng phát triểnvới một tốc độ mạnh và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập quốcdân. Một số nước trong khu vực có điều kiện tương tự nước ta nhưng doChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  27. 27. nhận thấy vai trò của du lịch đối với nền kinh tế nên họ đã có chính sáchthúc đẩy ngành phát triển và trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đấtnước. Như Thái Lan, trong suốt hàng chục năm qua, tỷ trọng ngành du lịchluôn đứng đầu trong nền kinh tế quốc dân, không những thế, nó còn đóngvai trò quan trọng trong việc giúp kinh tế nước này phục hồi nhanh chóngsau cuộc khủng hoảng tài chính của khu vực. Nước ta trong năm năm gầnđây du lịch đã đóng góp một phần không nhỏ vào phát triển kinh tế đấtnước.Doanh thu từ du lịch trong những năm 1990- 2006: 3. Thu nhập du lịch nhậ 60,000 50,000 51,000 40,000 30,000 26,000 23,000 20,000 17,400 14,000 10,000 8,000 9,500 0 1,350 2,830 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006Nguồn: Tổng Cục Du Lịch Nhờ nhữn g phát triển trong ngành du lịch mà đã tạo ra được đội ngũphục vụ có chuyên môn, một cơ sở vật chất về lưu trú đủ khả năng phục vụvà đã phục vụ thành công các sự kiện lớn của Nhà Nước, như phục vụSeaGame 22, phục vụ hội nghị Thượng Đỉnh Á - Âu và đã để lại ấn tượngChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  28. 28. tốt với các nguyên thủ cũng như các đoàn đại biểu của các nước. Du lịchphát triển còn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng các hàng hoá vật chất vàcác hàng hoá phi vật chất. Do đó nhu cầu về dịch vụ rất được khách quantâm. Một đặc điểm quan trọ ng và khác biệt giữa việc tiêu dùng du lịch vàtiêu dùng các hàng hoá khác là việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùngmột lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng. Do đó để thực hiện được quátrình tiêu thụ sản phẩm, người mua hàng được đưa đến nơi sản xuất và tiêudùng tại chỗ. Vì vậy sản phẩm du lịch mang tính độc quyền. Vậy, ảnh hưởngkinh tế của du lịch được thể hiện thông qua tác động qua lại của quá trìnhtiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch. Quá trình này tác động lên lĩnh vựcphân phối, lưu thông và do vậy ảnh hưởng đến những lĩnh vực khác nhaucủa quá trình tái sản xuất xã hội. Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác động biến đổi cán cânthu chi của khu vực và của đất nước. Du khách mang ngoại tệ vào đất nướcmà họ đi du lịch, làm tăng ngoại tệ cho đất nước họ đến, ngược lại phần thungoại tệ sẽ tăng lên đối với quốc gia có nhiều người đi du lịch nước ngoài.Trong phạm vi một quốc gia hoạt động du lịch làm xáo động hoạt động luânchuyển tiền tệ, hàng hoá. Cán cân thu chi được thực hiện giữa các vùng cótrình độ kinh tế - văn hoá khác nhau tuy không làm biến đổi cán cân kinh tếcủa đất nước, song có tác dụng điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế pháttriển sang vùng kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trưởng kinh tế cácvùng sâu vùng xa. Khi khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, du khách từ mọi nơi đi vềsẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá tăng lên đáng kể. Việc đòi hỏi một sốlượng lớn vật tư, hàng hoá các loại đã kích thích mạnh mẽ các ngành liênquan như nông nghiệp, công nghiệp chế biến…Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  29. 29. So với ngoại thương ngành du lịch cũng có nhiều ưu thế nổi trội. Dulịch quốc tế xuất khẩu tại chỗ được nhiều mặt hàng không phải qua nhiềukhâu nên tiết kiệm được lao động, chênh lệch giá giữa người bán và ngườimua không cao. Qua đây ta thấy du lịch có tác dụng tích cực làm thay đổi bộ mặt kinhtế của đất nước. Việt Nam với chủ trương mở cửa làm bạn với tất cả cácnước. Nhằm thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp nước ngoài vào hợp táccùng phát triển, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động vớ i thu nhậpcao, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng với nhịp độ cao, cải thiện đời sốngsinh hoạt, giá cả trong nước ổn định.2.1.2. Vai trò của du lịch đối với văn hoá – xã hội Ngày nay, du lịch không chỉ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn,ngành công nghiệp không khói của rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới mànó còn trở thành một nhu cầu không thể thiếu được của con người. Kinh tếcàng phát triển, đời sống của người dân càng tăng bởi một đặc tính cố hữucủa con người là ham hiểu biết và giao lưu. Càng tham quan nhiều, cànggiao lưu nhiều thì con người càng cảm nhận kiến thức của mình còn nhiềukhập khiễng giao lưu còn quá bó hẹp. Chưa nói đến phạm vi rộng, chỉ cầnbiết được các miền của đất nước, cuộc sống của con người Việt Nam ở mỗivùng, mỗi dân tộc là ước mơ của biết bao triệu người dân chúng ta. Với bềdày lịch sử, hàng ngàn năm văn hiến, với biết bao danh lam thắng cảnh, ditích trải dài trên suốt chiều dài của đất nước, tất cả đã trở thành nguồn tàinguyên vô tận để ngành du lịch khai thác phục vụ cho kinh tế, nâng cao đờisống tinh thần cho người dân và làm bạn bè quốc tế hiểu hơn về đất nướccũng như con người Việt Nam. Thông qua du lịch các tầng lớp dân cư trongxã hội có điều kiện để tiếp xúc với nhau và hiểu nhau hơn, từ đó hình thànhnên những nhận thức chung và quan tâm chung. Không có du lịch làm saoChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  30. 30. các cộng đồng miền xuôi có điều kiện để tiếp xúc và hiểu được hoàn cảnh,thực tế cuộc sống , kinh tế của các cộng đồng dân tộc miền ngược, vùngkinh tế kém phát triển, từ đó xây dựng cho họ nhận thức, tinh thần tươngthân giúp đỡ nhân đạo tốt hơn. Du lịch cũng giúp cộng đồng dân tộc miềnngược có điều kiện tiếp xúc, tiếp thu những kiến thức tiên tiến về văn hoá,kinh tế, nếp sống văn minh của các cộng đồng khác từ những vùng kinh tếvăn hoá phát triển. Không những chỉ có tác dụng giao lưu xã hội mà du lịchcòn tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, khảo sát thực tế tiềm năng pháttriển,cơ hội đầu tư ở những vùng kinh tế còn khó khăn, từ đó họ có những kếhoạch chiến lược đầu tư vào những khu đó giúp ph ảt triển kinh tế xã hội vàgóp phần xoá đói giảm nghèo của các khu vực khó khăn này. Dân gian cócâu “ trăm nghe không bằng một thấy” thì du lịch cũng là một trong nhữngcơ hội để các nhà đầu tư thấy trực tiếp, quan sát trực tiếp, tìm hiểu trực tiếptiềm ăng, cơ hội đầu tư cho các dự án phát triển du lịch, phát huy giá trị dulịch. Bên cạnh đó du lịch còn là ngành kinh tế tổng hợp có nội dung văn hoásâu sắc có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao nên du lịch còn có vaitrò giúp cho người đi du lịc h muốn được trải nghiệm và thẩm nhận nhữnggiá trị văn hoá của cộng đồng khác. Cũng như du lịch đáp ứng được nhu cầumong muốn được hoàn thiện mình, ai ai cũng muốn nâng cao trình độ hiểubiết của mình dể trở thành những bậc vĩ nhân như trong huyền thoại …Chính những mong muốn được mở mang trình độ hiểu biết, sự tò mò tìmhiểu và khám phá chân trời mới trong tiềm thức mỗi con người đều trỗi dậynhững ý tưởng về nền văn minh cổ đại và họ muốn khám phá ra những điềubí mật ấy. Chính những nhu cầu này mà ngà y nay xu hướng du lịch văn hoángày càng phát triển, du khách muốn đi tìm hiểu, nghiên cứu, khám phánhững nét văn hoá truyền thống của các dân tộc ngày càng nhiều. Như vậyChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  31. 31. du lịch đóng vai trò thiết yếu và không thể thiếu được đối với nền văn hoá xãhội Việt nam2.2 Thực trạng du lịch Việt nam với vai trò bảo tồn và phát huy giá trị vănhoá truyền thống của người Việt Là một ngành kinh tế mũi nhọn song mục đích của phát triển du lịchkhông chỉ vì lợi nhuận kinh tế. Điều quan trọng và căn bản hơn là du lịchtrực tiếp góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt nam đối với thế giớicũng như các nước trong khu vực. Có thể nói khách nước ngoài đến vớiViệt nam bởi nhiều lý do trong đó có sự thân thiện của con người Việt nam.Đây là một thế mạnh mag tính truyền thống cần được gìn giữ phát huy. Mặtkhác qua du lịch, khách muôn phương có dịp hiểu hơn về con người, đấtnước, kinh tế, văn hoá Việt nam. Du lịch Việt nam giống như một sứ giả hoàbình và hữu nghị thắt chặt tình thân ái với bạn bè năm châ.Vì thế Vi ệt namngày càng trở thành điểm đến hẫp dẫn của khách du lịch quốc tế. Bảng thốngkê dưới đây cho ta thấy số lượng khách du lịch trong 9 tháng của năm 2007. kh¸ch quèc tÕ ®Õn viÖt nam 9 th¸ng n¨m 2007 Th¸ng Th¸ng 9 Céng dån Th¸ng 9/2007 9 th¸ng 9/2007 so víi n¨m 9 th¸ng ®Çu so víi ®Çu n¨m 2007 cïng kú n¨m 2007 n¨m 2007 th¸ng 8 so víi cïng tríc (Lît kh¸ch) (Lît kh¸ch) n¨m 2007 (%) (%) kú n¨m tríc (%) Tæng 100.6 132.0 118 sè 358,000 3,171,763I. Chia theo ph¬ng tiÖn ®Õn:Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  32. 32. 1. §êng kh«ng 101.3 131.5 126 279,733 2,475,540 2. §êng biÓn 98.6 118.3 95 21,565 168,923 3. §êng bé 97.9 141.1 96 56,702 527,300II. Chia theo môc ®Ých chuyÕn ®i: 1. Du lÞch, nghØ ng¬i 100.9 140.4 128 221,096 1,969,208 2. §i c«ng viÖc 99.4 102.5 114 57,893 481,388 3. Th¨m th©n nh©n 103.9 156.6 104 48,961 455,697 4. C¸c môc ®Ých kh¸c 95.4 115.8 91 30,050 265,470III. Chia theo mét sè thÞ trêngchñ yÕu1. Trung quèc 98.0 123.8 100 49,080 422,9572. Hång K«ng 99.7 201.3 138 628 4,3073. §µi Loan 100.6 137.6 118 30,153 243,7414. NhËt 107.1 82.8 110 34,802 304,5995. Hµn Quèc 94.4 116.6 121 37,257 372,6816. Campuchia 93.7 170.9 91 10,900 116,6287. Indonesia 100.4 102.3 111 1,881 17,2928. Lµo 103.9 90.0 84 2,767 23,8659. Malaysia 99.0 133.4 157 12,374 109,24810. Philippin 95.4 125.8 114 2,728 23,92611. Singapore 97.4 124.3 130 11,001 95,326Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  33. 33. 12. Th¸i Lan 99.9 161.7 137 13,602 120,86713. Mü 105.1 141.4 111 32,889 323,75814. Canada 105.2 218.3 131 7,595 72,08315. Ph¸p 102.4 233.1 147 17,681 141,21916. Anh 102.5 172.7 130 9,748 79,80917. §øc 104.8 182.5 130 7,649 71,77518. Thuþ sÜ 101.3 170.7 129 1,671 15,47719. Italy 82.0 203.6 151 2,133 16,67420. Hµ Lan 102.2 188.9 147 3,934 27,54321. Thuþ ®iÓn 130.5 145.6 126 1,155 16,84222. §an M¹ch 95.4 133.0 114 1,470 15,73823. PhÇn Lan 92.2 86.1 106 220 4,44924. BØ 114.5 211.5 140 1,790 14,18525. Na uy 112.7 193.9 89 888 8,77726. Nga 103.5 131.0 157 2,879 33,05127. T©y Ban Nha 71.6 159.9 132 3,852 20,22028. óc 101.4 125.6 133 17,618 166,60129. Niudil©n 97.4 120.6 142 1,661 14,792Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  34. 34. 30. C¸c thÞ trêng kh¸c 105.9 152.2 124 34,888 262,914 Nguån: Tæng côc Thèng kªTrong đó 15 nước có lượng khách vào Việt Nam lớn nhất gồm: 15 THÞ TR¦êNG DÉN §ÇU VÒ kh¸ch quèc tÕ ®Õn viÖt nam (XÕp theo n¨m 2007) §¬n vÞ: N¨m N¨m 2000 N¨m 2001 N¨m 2002 N¨m 2004 N¨m 20 2003 Tæng sè 1,734,025 1,881,797 2,147,832 2,006,641 2,485,519 2,957,81. Trung 626,476 672,846 724,385 693,423 778,431Quèc 717,4092. Hµn Quèc 53,452 75,167 105,060 130,076 232,995 325,8823. NhËt 152,755 204,860 279,769 209,730 267,210 338,5094. Mü 208,642 230,470 259,967 218,928 272,473 330,1975. §µi Loan 212,370 200,061 211,072 207,866 256,906 274,3796. óc 68,162 84,085 96,624 93,292 128,661 148,8397. Ph¸p 86,492 99,700 111,546 86,791 104,025 133,4328. Th¸i Lan 26,366 31,789 40,999 40,123 53,682 86,8449. Malaysia 20,378 26,265 46,086 48,662 55,717 80,60210. 124,557 76,620 69,538 84,256 90,838Campuchia 198,58211. 29,100 32,110 35,261 36,870 50,942Singgapore 82,24012. Anh 56,355 64,673 69,682 63,348 71,016 82,909Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  35. 35. 13. §øc 32,058 39,096 46,327 44,609 56,561 69,37814. Canada 30,845 35,963 43,552 40,063 53,813 63,78015. Nga 6,017 8,092 7,964 8,604 12,249 24,895Nguån: Tæng côc Thèng kªĐến tháng 4/ 2008 chúng ta đã đón 1,96 triệu lượt khách nước ngoài tăng116,1% so với cùng kỳ của năm 2007.Dự kiến con số này còn cao hơn nữatrong những tháng tiếp theo của năm 2008. Điều đó chứng tỏ du lịch ViệtNam đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Cùng với sức hấp dẫn của ngôi sao đang lên, du khách nước ngoài lựachọn Việt nam vì đây còn là điểm đến thân thiện có bề dày lịch sử mấynghìn năm cùng với truyền thống văn hoá, đa dạng và phong phú. Như vậydu lịch giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đã được khẳng định mộtcách sâu sắc hơn bao giờ hết Khôi phục, lưu truyền và giữ gìn các giá trị văn hoá truyền thống củadân tộc. Đặc tính của khách du lịch là sau mỗi chuyến du lịch, khi trở về nơicư trú họ thường kể lại cho bạn bè, người thân ng he những gì họ đã thulượm được trong chuyến du lịch. Một phần không nhỏ trong câu chuyện làvề bản sắc văn hoá, truyền thống và tính cách của con người nơi mà họ đãtham quan du lịch. Cứ tính theo một cách suy diễn thông thường nếu du lịchđảm nhận tốt vai trò của mình trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoátruyền thống thì ảnh hưởng đó sẽ được nhân lên 5,6 lần và có thể là nhiềuhơn thế trong cộng đồng, trong xã hội. Nhờ có du lịch mà giá trị văn hoá,truyền thống không bị mai một hoặc mất dần đi mà ngược lại các truyềnthống đó luôn được ghi nhớ trong lòng du khách từ các thế hệ này đến thế hệChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  36. 36. khác. Cũng có khi những giá trị văn hoá truyền thống đã bị lãng quên theothời gian nhưng du lịch lại góp phần khôi phục lại những truyền thống đóbằng cách dựng lại những hình ảnh, những biểu tượng hoặc sự kiện có liênquan để phục vụ cho sự khám phá, thích tìm hiểu của du khách. Du lịch tạo ra nguồn kinh phí để tu bổ các giá trị văn hoá vật thể. Dulịch được xác định là một ngành công nghiệp không khói, một ngành kinh tếmũi nhọn của đất nước. Trong tương lai đây là ngành có nhiều tiềm năng vàtriển vọng. Nguồn thu từ du lịch tương đối lớn nó góp phần cân đối ngânsách và đóng góp hang tỷ đồng cho đất nước. Một phần ngân sách thu đượctừ du lịch đ ược trích ra để tạo nguồn kinh phí tu bổ các giá trị văn hoá vậtthể như: công trình kiến trúc, đình chùa miếu, lăng tẩm,… Sự tôn tạo nàynhằm khôi phục lại những gì đã xuống cấp của các di sản văn hoá. Điều nàythể hiện tương đối rõ vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giátrị văn hoá truyền thống của dân tộc.Phát triển du lịch đồng nghĩa với việc khẳng định, tôn vinh giá trị văn hoátruyền thống. Mỗi điểm du lịch đều ẩn chứa trong mình những giá trị vănhoá sâu sắc, những truyền thống độc đáo của dân tộc . Ngay cả phong cáchlối sống của cư dân tại điểm cũng thể hiện điều đó. Khi du khách đi du lịchsẽ được thẩm thấu các giá trị văn hoá đó qua nhiều cách khác nhau như tựkhám phá cảm nhận, hay qua sự truyền đạt giàu cảm xúc rung động lòngngười từ hướng dẫn viên du lịch. Hoặc cũng có thể từ những thông tin đãđược cung cấp tại điểm du lịch. Vậy có thể thấy du lịch có vai trò quan trọngtrong việc truyền đạt và lưu giữ giá trị văn hoá truyền thống trong lòng dukhách từ thế hệ này đ ến thế hệ khác. Nó tạo nên một sức sống trường tồncủa văn hoá truyền thống . Du lịch bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống như một tàinguyên quý giá. Vì văn hoá truyền thống còn được coi là nguồn tài nguyênChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  37. 37. để phát triển du lịch. Muốn phát triển du lịch một cách bền vững thì nhấtđịnh phải dựa trên cơ sở bảo tồn và phát huy chính nguồn tài nguyên quýgiá này. Du lịch coi văn hoá truyền thống của dân tộc như một điểm mạnh,một sự độc đáo và làm nên sự khác biệt của du lịch nước ta vớ i các nướckhác. Cho nên ngành du lịch đã nghiên cứu về giá trị văn hoá của nứơc ta.Sự nghiên cứu này tạo nên sự hiểu biết về văn hoá dân tộc hay có những tácphẩm về văn hoá du lịch hay du lịch văn hoá từ đó mà ra đời. Các tác phẩmnày giống như một kho tang quý giá giúp cho các thế hệ đời sau hiểu hơn vềvăn hoá của 54 dân tộc anh em.Du khách đi du lịch đồng nghĩa với việc kích thích tiêu thụ các sản phẩm,dịch vụ trong đó có các sản phẩm văn hoá gồm cả sản phẩm văn hoá vật thểvà phi vật thể. Ví dụ : khi du khách đến thăm làng nghề họ sẽ muốn muanhững sản phẩm do các nghệ nhân tạo ra, hay đơn giản hơn họ đi du lịch chỉđể thưởng thức một món ăn truyền thống nổi tiếng. Đây cũng là hình thức kếthừa và phát huy giá trị văn hoá dân tộc .Du lịch còn g iống như một sợi dây liên kết vô hình gắn chặt các quốc giakhu vực với nhau. Khi du khách đi du lịch tạo ra sự giao lưu giữa các vùngmiền với nhau. Đây cũng là cơ hội cho những nhà nghiên cứu, những ngườilàm du lịch hay bất cứ ai ai đổi các kinh nghiệm bảo tồn và phát triển vănhoá. Từ đó có những phương pháp tối ưu nhất để bảo tồn và phát triển giátrị văn hoá truyền thống của dân tộc ta. Để có nhận thức tổng quát về vai trò của du lịch trong việc bảo tồn vàphát huy giá trị văn hoá truyền thống chú ng ta sẽ đi sâu xem xét vai trò củadu lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể và phi vật thểqua ví dụ điển hình sau:2.1. Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thểChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  38. 38. Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, Việ t Nam được biết đến là một vùngđất còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, văn hoá và cách mạng có giá trị. Giá trịđặc biệt quan trọng bởi giúp tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử dân tộc, tập quáncác làng xã, để các thế hệ hôm nay và mai sau có thêm hiểu biết về c ộinguồn dân tộc, truyền thống quê hương.Trong đó làng quê Kinh Bắc- một vùng truyền thống, nơi quần tụ bao đời,cái nôi văn hoá của cả nước, nơi có truyền thống khoa bảng, lưu giữ nhữnghuyền thoại đẹp với bao di tích và lễ hội dân gian - một điểm du l ịch hấpdẫn, đựơc coi là một ví dụ điển hình của việc phát triển du lịch gắn liền vớibảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống. Chính vì thế trong phầnnày sinh viên đã chọn Bắc Ninh để phân tích, tìm hiểu vai trò của du lịchtrong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống trên địa bàn tỉnhvà mang những nét chung của ca đất nước. Theo ông Nguyễn Duy Nhất, PGĐ ban quản lý di tích Bắc Ninh thì toàntỉnh hiện có 1259 di tích thuộc các loại hình: di tích lịch sử - văn hoá, di tíchkiến trúc nghệ thuật, và di tích cách mạng. Trong đó nhiều nhất vẫn là đình,đền và chùa. Có thể kể đến những chùa như Chùa Dâu, Phật tích…là nhữngdi sản văn hoá tiêu biểu của quê hương Kinh Bắc và dân tộc. Đây là cácchứng tích vật chất xác thực, phản ánh sinh động về lịch sử lâu đời và truyềnthống văn hiến – cách mạng của nhân dân Bắc Ninh nói riêng cũng như cảnước nói chung.- Chùa Dâu: Chùa Dâu được bộ văn hoá thông tin đưa vào danh mục 38 ditích quốc gia đặc biệt. Cùng với việc xác định giá trị lịch sử văn hoá của ditích, lập bản đồ đất đai va khoanh vùng bảo vệ di tích, ngăn chặn xâm hại ditích, trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn di tích cũng được quy định một cách rõràng.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  39. 39. Chắc hẳn câu ca dao cổ:Dù ai đi đâu về đâuHễ trông thấy tháp Chùa Dâu thì vềDù ai buôn bán trăm nghềNhớ ngày mồng tám thì về hội DâuĐã đi sâu vào tâm trí mỗi du khách như một lời nhắc nhở, một lời mời gọi vềthăm lại chùa Dâu. Miền Dâu, liên lâu hoặc luy lâu - huyện Thuận Thànhngày nay nằm gần trung tâm châu thổ Bắc Bộ. Khi đến thăm chùa Dâu dukhách sẽ được hiểu thêm về Luy Lâu đó là một trong 3 trung tâm Phật giáolớn trong đế chế Trung Hoa là luy lâu, Lạc Dương và Bành Thành. Hơn nưamiền Dâu sớm trở thành một trung tâm thương mại sầm uất mang tầm cỡquốc tế. Nơi đây là chốn đô hội, thủ phủ của quận Giao Chỉ và Châu Giao,trung tâm giao lưu kinh tế, văn hoá, tín ngưỡng, tôn giáo của nước ta nhữngthế kỷ sau công nguyên với các nước trong vùng. Trung tâm Phật giáo Dâuđược hình thành trong bối cảnh đó.Đồng thời khách du lịch cũng được cung cấp những thông tin về chùa Dâunhư chùa xưa có tên chữ là “Cổ Châu Tự”, “Thiền Địch Tự”, và ngày nay là“Diên ứng tự”. Tên Phổ biến vẫn được gọi là chùa Pháp Vân theo tên VịPhật được thờ ở chùa, còn Chùa Dâu là theo tên địa phương. Đây là ngôichùa có lịch sử hình thành và phát triển cổ nhất trong số các chùa còn lại ởnước ta hiện nay. Được xây dựng vào thế kỷ VI sau công nguyên gắn liềnvới lịch sử du nhập đạo phật vào vùng Dâu. Chùa được coi là trung tâm phậtgiáo của vùng Dâu. Tại chùa Dâu có một cây tháp lớn có chân hình vuông. Dân gian truyềnrằng tháp này do Mạc Đĩnh Chi xây dựng lại, cao chín tầng. Mặc dù mặttháp không có trang trí hoa văn nhưng giá trị kiến trúc mỹ thuật được thểhiện ở hình khối, màu gạch và mạch vữa, có mối quan hệ với kiến trúc. ChùaChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  40. 40. tháp của Ấn Độ trong buổi đầu dựng chùa tháp Hoà Phong là một biểutượng thể hiện sự giao thoa văn hoá và tín ngưỡng bản địa giữa người ViệtNam và Ấn Độ. Du khách còn được thưởng thức những tác phẩm có giá trị nghệ thuậtthẩm mỹ cao như: nan can bậc cửa trước của tháp chạm thành khối lượngtròn, mỗi bên có một con sóc nằm phủ phục theo dáng bò từ trên xuống. Đâylà sản phẩm của thời Trần. Hay tấm bia ghi lại việc xây dựng tháp, con cừuđá dài 1,33m cao 0,88m. Tượng cừu đượ c tạo bằng đá sa thạch biến chấtnằm gọn trong khối chữ nhật, rừng cong, tai dài, có râu chải thẳng xuống,miệng ngậm, mũi bẹt, mũi ti hí. Hình tượng nghệ thuật này rất hiếm trongnghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Từ nghệ thuật điêu khắc cho đến chất liệucủa tượng đã thể hiện sự giao thoa văn hoá giữa Việt Nam, Ấn Độ và TrungHoa mang dấu ấn của lịch sử phát triển vùng Dâu và thành cổ luy lâu. Ngoài ra còn nhiều tác phẩm đẹp của các nghệ sỹ trong thời Trần cònlưu lại đến ngày nay. Cánh gà ngoài cửa giữa cột cái và cột hiên có mảngván thời nhà Trần chạm dây hoa, còn lại đều là của thời Lê thuộc nửa cuốithế kỷ XVII với hình rồng ổ mẹ con đùa giỡn nhau, đây là hình tượng nghệthuật mang đầy chất dân gian. Bên trong thượng điện là những tượng phật đadạng, phong phú và đặc sắc chỉ có ở chùa Dâu, thể hiện sự giao thoa, hộinhập văn hoá giữa tôn giáo ngoại lai là phật giáo với tín ngưỡng thờ các vịthần thiên nhiên là thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp. Tuy nhiên truyền thuyếtmang đầy màu sắc huyền thoại những vị thần này trong tín ngưỡng của cưdân trồng lúa nước vùng nhiệt đới Bắc Bộ Việt Nam đã chuyển thành PhậtTử Pháp. Đó cũng là khát vọng bao đời của người nông dân mong sao chomưa thuận gió hoà để nền nông nghiệp vốn phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiêncó thế sinh s ôi nảy nở.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  41. 41. Chùa Dâu là ngôi chùa có lịch sử cổ nhất nước ta hiện nay, một viênngọc quý vô giá minh chứng phật giáo du nhập lớn từ những đầu thế kỷcông nguyên vào nước ta. Chùa Dâu còn là nơi giao thoa, hội nhập giữa vănhoá tín ngưỡng Việt Nam với văn h oá tín ngưỡng, kiến trúc phật giáo từ ẤnĐộ. Nơi đây còn lưu giữ nhiều giá trị kiến trúc nghệ thuật cổ kính vô giá,nhiều cổ vật có giá trị là những tư liệu quý hấp dẫn du khách tham quannghiên cứu. Đến với chùa Dâu dù chỉ một lần du khách sẽ cảm nhận đư ợc bề dàyvăn hoá của vùng Dâu được ghi dấu ấn rõ nét trong từng thớ gỗ, từng chi tiếtkiến trúc ở đây. Vì vậy chùa Dâu được coi là một tài nguyên du lịch vô giá.Cũng chính nhờ du lịch mà kiến trúc độc đáo này được thẩm thấu và truyềnđạt ở mức độ cao nhất. hàng năm, chùa Dâu đón hàng ngàn lượt du kháchđến thăm. để khi trở về họ ghi đậm dấu ấn của chùa Dâu trong lòng cứ nhưvậy những giá trị này được khẳng định và không bị mai một theo thời gian.mặt khác chùa còn được trùng tu nhiều lần nhằm bảo vệ, phát huy giá trị lịchsử văn hoá theo hướng phát triển du lịch văn hoá nhằm phục vụ khách thămquan du lịch. Trong đó việc phát triển du lịch tạo ra một nguồn kinh phíđáng kể trong việc trùng tu tôn tạo di tích lịch sử văn hoá này. Nguồn thu đócó thể từ tấm long hảo tâm của du khách thập phương qua việc góp côngđức, nguồn thu đó cũng có thể thu được từ các dịch vụ tại điểm du lịch. Mặtkhác để phục vụ cho việc phát triển du lịch, ban quản lý di tích đã có nhiềuphương pháp quản lý nhằm bảo tồn khôi phục và phát triển di sản văn hoávật thể quý giá này. Điều này có ý nghĩa trong việc chống xuống cấp làmmai một di sản. Vậy với việc bảo tồn, khôi phục và phát triển di tích chùaDâu du lịch đóng vai trò quan trọng. Chùa bút tháp: chùa có tên là “Linh khúc thiên tự cách chùa Dâu 3 km.Tên chùa mới có từ nửa sau thế kỷ XIX do vua Tự Đức khi thấy cây thápChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn

×