Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.
MỤC LỤCTóm tắt ..............................................................................................................
3. Đề xuất lộ trình thực hiện..........................................................................................57K...
TÓM TẮT      Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một trongcác nội dung cơ bản của dự án...
trong quản lý nước và lưu vực sông; thể chế tài chính cho ngành nước chưa được xem xétnghiêm túc.      Báo cáo cũng đã đề ...
CHƯƠNG I                     GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU1. Hoàn cảnh nghiên cứu       Tài nguyên nước đóng một vai trò ...
các vùng nước biển ven bờ, tức là các vùng tài nguyên nước có ít nhiều liên quan đến cácvùng ĐNN.3. Mục đích nghiên cứu   ...
Chương II     TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC1. QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC (QLTHTNN)      4 nguyên tắc...
1.1. Quan hệ tương hỗ giữa hệ thống tự nhiên và nhân tạo      Khái niệm QLTHTNN tương phản với “truyền thống”, quản lý tài...
1.4. Tổng hợp về quản lý nước mặt và nước dưới đất      Chu trình thủy văn cũng kêu gọi tổng hợp giữa quản lý nước mặt với...
- Đảm bảo chắc chắn rằng các chính sách của chính quyền, tính ưu tiên tài chính và         quy hoạch (vật chất, kinh tế, x...
- Người lập chính sách sử dụng đất phải được cung cấp các thông tin về những hậu           quả về nước ở vùng hạ lưu và ch...
1.7.7. Tổng hợp giữa quản lý nước và nước thải       Nước là tài nguyên tái tạo và có thể tái sử dụng. Ở những nơi mà khôn...
- Vai trò thể chế và các chức năng của các cấp hành chính khác nhau và những bên           có liên quan khác nhau;     - N...
- Tác động của ô nhiễm nước có liên quan chặt chẽ đến các hoạt động của con người.         Ngoài các chức năng phục vụ nhữ...
các ngành kinh tế có sự đóng góp quan trọng của việc cân bằng giữa nhu cầu khai thác, sửdụng và khả năng chịu tải, sự phân...
4. TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM      4.1. Tài nguyên nước mặt      Trên lãnh thổ Việt Nam có 2360 sông dài trên...
Bảng 2. Trữ lượng nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam (m 3/ngày) TT        Nguồn nước                1998                    ...
-   Vùng bờ từ Vũng Tàu đến Rạch Giá: thuộc châu thổ sông Cửu Long có nhiều cửa         sông lớn, bờ biển thoai thoải, hệ ...
cho 1,13 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn          1,6 triệu ha đất canh tác nông ...
Nước ở vùng ven biển cũng đã có dấu hiệu bị ô nhiễm. Hàm lượng các chất hữu cơ, kim loạinặng, hoá chất bảo vệ thực vật ở m...
những hậu quả môi trường không kiểm soát được. Các nghiên cứu về các lưu vực sông đãcho những kết quả đáng báo động. Sự ô ...
các vùng bãi biển bị ô nhiễm lên tới 60 tỷ đồng (4 triệu đô la Mỹ). Chi phí thiệt hại do thiên tainhư lũ lụt trong giai đo...
Ô nhiễm nước mặt tại đoạn sông Cầu qua thành phố Thái Nguyên         Đoạn sông Cầu qua Tp Thái Nguyên có COD trung bình ...
Hàm lượng cặn lơ lửng khá cao, có sự biến động mạnh giữa các vùng và các tầng.      Tại các điểm lấy mẫu trên sông Nhuệ, h...
Chương III    ĐÁNH GIÁ CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT1. CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHUNG      1.1. ...
Bảng 3. Sản lượng lúa cả năm                                               Sản lượng (nghìn tấn)             Năm          ...
nhiên cần được nâng cao, đặc biệt đối với các nhà hoạch định chính sách ở cấp trung ươngvà địa phương. Các phương án phòng...
Hình 2. Sự tăng trưởng về số lượng thuyền gắn máy thời kỳ 1981 – 2003.       Hằng năm, số lượng tàu thuyền tăng lên liên t...
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Quản lý nguồn nước
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Quản lý nguồn nước

7,626 views

Published on

Published in: Education
  • Be the first to comment

Quản lý nguồn nước

  1. 1. MỤC LỤCTóm tắt .................................................................................................................................. 1................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................ trang................................................................................................................................................ 1Chương I - Giới thiệu nhiệm vụ nghiên cứu.......................................................................3 1. Hoàn cảnh nghiên cứu................................................................................................3 2. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................................3 3. Mục đích nghiên cứu...................................................................................................4 4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................4 5. Tiêu chí đánh giá.........................................................................................................4Chương II - Tổng quan về quản lý tổng hợp tài nguyên nước..........................................5 1. Quản lý tổng hợp tài nguyên nước..............................................................................5 2. Các nghiên cứu về quản lý tổng hợp tài nguyên nước..............................................11 3. Việt Nam tiệm cận với quản lý tổng hợp tài nguyên nước.........................................12 4. Tổng quan về tài nguyên nước ở Việt Nam...............................................................14Chương III - Đánh giá các chủ trương, chính sách và pháp luật....................................23 1. Các chủ trương, chính sách và định hướng chung....................................................23 2. Các văn bản pháp luật ..............................................................................................30Chương IV - Đánh giá thể chế và tổ chức hoạt động.......................................................43.................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................. 43 1. Cơ cấu tổ chức.......................................................................................................... 43 2. Thể chế tài chính.......................................................................................................50 3. Cơ chế phối hợp liên ngành......................................................................................51 4. Thể chế thanh tra......................................................................................................51 5. Xây dựng thông tin, dữ liệu về tài nguyên nước........................................................52Chương V - Đề xuất kiến nghị và giải pháp......................................................................53 1. Đối với hệ thống chính sách......................................................................................53 2. Thể chế và tổ chức hoạt động...................................................................................53
  2. 2. 3. Đề xuất lộ trình thực hiện..........................................................................................57Kết luận................................................................................................................................ 59Tài liệu tham khảo............................................................................................................... 60Danh sách các chuyên gia cung cấp thông tin.................................................................62Danh sách các chuyên gia đã gửi bản câu hỏi và đã nhận được trả lời........................65Phụ lục................................................................................................................................. 69 2
  3. 3. TÓM TẮT Đánh giá liên ngành các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước là một trongcác nội dung cơ bản của dự án quốc gia bảo tồn và sử dụng hữu ích các vùng đất ngậpnước (ĐNN). Cho đến nay, hệ thống luật, nghị định hướng dẫn của Chính phủ, các quyếtđịnh của Chính phủ, quyết định của các Bộ chuyên ngành, thông tư liên Bộ liên quan đến tàinguyên nước là tương đối nhiều, tuy nhiên chưa có sự liên kết một cách “tổng hợp”. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu là lấy ý kiến của các chuyên gia thuộc lĩnh vực quảnlý, khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong các ngành kinh tế - xã hội và chỉ giới hạn ởnguồn tài nguyên nước lục địa (bao gồm cả nước mặt, nước dưới đất) và nước biển ven bờ.Tiêu chí của đánh giá liên ngành các chính sách, thể chế, cơ cấu tổ chức là tính hệ thống,tính thực tiến (hay tính khả thi) và tính hiệu quả. Chương 2 trình bày các khái niệm cơ bản về quản lý tổng hợp tài nguyên nước (8 kháiniệm), giới thiệu một số nghiên cứu về quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên thế giới và sựtiệm cận của Việt Nam, tóm lược hiện trạng tài nguyên nước ngọt và nước biển ven bờ trêntoàn quốc. Một đặc điểm nổi bật của nguồn tài nguyên nước Việt Nam là khá phong phúnhưng phân bố không đều theo không gian (giữa các vùng) và thời gian (giữa các mùa), haiphần ba tổng lưu lượng nước các sông được bắt nguồn từ ngoài lãnh thổ. Chương 3 đánh giá các chủ trương, chính sách và pháp luật thông qua các chiếnlược, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về sự phát triển kinh tế xã hội bền vững. Các chủtrương chính sách được tóm lược trong 6 vấn đề chính và được cụ thể hóa bằng các vănbản pháp luật mà trong đó Luật Tài nguyên nước là cơ sở pháp lý cho các văn bản khác.Tác động tích cực của các văn bản này là: có tính hệ thống cao, hệ thống văn bản khá hoànchỉnh mang tính kế thừa và nâng cao, các văn bản đã có đều nhằm tạo ra một hành langpháp lý cho mọi hoạt động liên quan đến tài nguyên nước; tính thực tiễn: tạo ra một sự phốihợp liên ngành, thống nhất và đã đi vào hoạt động thực tế; hiệu quả của các văn bản này đãđược thể hiện trong xây dựng cơ cấu tổ chức, và các kết quả phát triển kinh tế. Các tồn tạicủa hệ thống chính sách thông qua các văn bản pháp luật được tóm tắt trong 5 vấn đề: sựchồng chéo, sự song hành, chưa đầy đủ, sự liên quan giữa quản lý tài nguyên nước vàĐNN, sự thiếu cập nhật. Chương 4 trình bày đánh giá thể chế, tổ chức hoạt động quản lý tổng hợp tài nguyênnước hiện nay ở Việt Nam. Ngoài cơ quan quản lý nhà nước về Tài nguyên nước là Cục Tàinguyên nước (cấp trung ương), Phòng Tài nguyên nước (cấp tỉnh), cơ cấu tổ chức quản lýnước theo lưu vực đã được thành lập thí điểm cho ba lưu vực chính đã đi vào hoạt động từba năm nay. Các ưu việt của cơ cấu tổ chức này đem lại nhiều giá trị tích cực như: quản lýcấp nước, chất lượng nước, kiểm soát lũ lụt, kiểm soát bồi lắng, giao thông thủy, phát triểnthủy điện – thủy lợi…Lưu vực sông Đồng Nai – Sài Gòn, Nhuệ - Đáy được đưa ra phân tích.Tồn tại chính trong cơ cấu tổ chức là sự thiếu nhất quán trong chuyển giao trách nhiệm giữaBộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) và Bộ Tài nguyên Môi trường (TN&MT) 1
  4. 4. trong quản lý nước và lưu vực sông; thể chế tài chính cho ngành nước chưa được xem xétnghiêm túc. Báo cáo cũng đã đề xuất một số kiến nghị và giải pháp để tháo gỡ các tồn tại này theomột lộ trình nhất định. 2
  5. 5. CHƯƠNG I GIỚI THIỆU NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU1. Hoàn cảnh nghiên cứu Tài nguyên nước đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sựsống và môi trường, quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững. Trên trái đất của chúng tacó ba phần tư là nước, song lượng nước sạch phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người làrất hạn chế. Vậy mà, tình trạng sử dụng nước trên thế giới là rất lãng phí và nhiều hànhđộng gây tổn hại cho nguồn nước. Một nguyên nhân là việc quản lý nguồn tài nguyên tái tạoyếu này còn phân tán, chưa được quản lý trong một quan hệ tổng thể và chưa được coi làmột loại hàng hóa đặc biệt. Tuy rằng được đánh giá là quốc gia tương đối giàu tài nguyênnước, Việt Nam là một trong nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt trong “cuộcchiến” vì sự phát triển kinh tế và xã hội ngày càng có nhiều liên quan đến nguồn nước. Đólà: sự phân phối không đều trong năm (lượng nước trong mùa khô chỉ chiếm 20%); khôngđều theo vị trí địa lý (vùng Tuyên Quang, Móng Cái tới 80 l/s trong khi vùng Hàm Tân chỉ 10l/s); chất lượng nước ở các vùng là rất khác nhau (đồng bằng sông Cửu Long nước chua,phèn, mặn…). Thiếu nước, suy thoái chất lượng nước và sự tác động đến lương thực lànhững vấn đề cần có sự quan tâm và hành động cụ thể. Mục tiêu của việc Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (QLTHTNN) là một quá trình hỗtrợ các quốc gia đang nỗ lực giải quyết các vấn đề về nước với phương pháp có hiệu quảđồng vốn và vững bền. Đặc biệt, Việt Nam là một quốc gia có những vùng ĐNN đáng kể baogồm vùng ĐNN thuộc hệ thống sông Mê Kông, sông Hồng, đầm lầy, hồ, vùng ĐNN ven biển,bãi triều. Các vùng ĐNN này cung cấp một giá trị hàng hóa to lớn và thực phẩm cho cuộcsống. Mặt khác, Việt Nam đã tham gia vào hội nghị Ramsar năm 1989 và phổ biến một số tàiliệu hợp pháp về duy trì và bảo vệ các vùng ĐNN. Luật Tài nguyên nước được thông quanăm 1998 và sau đó là các nghị định hướng dẫn việc thực hiện luật này đã đưa ra một bướcchủ yếu hướng tới quản lý tổng hợp tài nguyên nước. Tuy nhiên, các chính sách về ĐNN vàviệc quản lý tổng hợp tài nguyên nước còn khá yếu, chồng chập, thiếu sự sắp xếp và chứcnăng rõ ràng. Do đó chúng ta cần phải có sự xem xét đa ngành về các chính sách quản lý tổng hợptài nguyên nước ở Việt Nam làm cơ sở cho việc sử dụng và quản lý một cách có hiệu quảcác vùng ĐNN. Các nghiên cứu này cũng sẽ góp phần hoàn thiện các chính sách, pháp luậtvà thể chế quản lý ĐNN và quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Việt Nam.2. Phạm vi nghiên cứu Vấn đề về chính sách, thể chế QLTHTNN rất rộng về không gian, xuyên suốt về thờigian và là một vấn đề phức tạp liên quan đến hầu hết các ngành kinh tế - xã hội. Các kết quảđánh giá trong báo cáo này nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách vềquản lý và sử dụng tài nguyên ĐNN, vì vậy nội dung đánh giá được trình bày trong báo cáonày chỉ giới hạn xem xét các vấn đề liên quan đến nước lục địa (nước mặt, nước ngầm) và 3
  6. 6. các vùng nước biển ven bờ, tức là các vùng tài nguyên nước có ít nhiều liên quan đến cácvùng ĐNN.3. Mục đích nghiên cứu - Phân tích, đánh giá các mặt mạnh và yếu của hệ thống chính sách, luật ở Việt Nam về ĐNN và QLTHTNN. - Báo cáo sẽ xem xét các ưu điểm và nhược điểm của hệ thống thể chế ở Việt Nam và sự tác động của hệ thống chính sách, luật lệ hiện hành. - Đánh giá hiệu quả của việc thực hiện các chính sách, quy tắc, luật lệ hiện hành về QLTHTNN. Từ sự tổng hợp này, báo cáo sẽ đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thốngchính sách, luật pháp và thể chế về quản lý ĐNN và QLTHTNN. Các kết quả này sẽ hỗ trợcho việc sử dụng và tạo nguồn thông tin cho các ngành, liên ngành, các địa phương mộtcách hiệu quả.4. Phương pháp nghiên cứu - Thành lập nhóm chuyên gia nghiên cứu: bao gồm các nhà nghiên cứu chuyên ngành nước, các nhà quản lý đang làm việc trong các Bộ/ngành. - Nghiên cứu, sàng lọc, tổng hợp, đánh giá các dữ liệu: các bộ luật, nghị định, quyết định, thông tư của Chính phủ, Bộ, ngành liên quan đến quản lý tài nguyên nước. - Hội thảo, lấy ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực chuyên môn5. Tiêu chí đánh giá Để có thể đánh giá được thực trạng của hệ thống quản lý tài nguyên nước, cần phảiđề ra các tiêu chí đánh giá để thấy được những mặt đã hoặc chưa làm được, khả thi haykém khả thi, hiệu lực của hệ thống luật pháp, quy định, thể chế chính sách đã được banhành trong những năm qua ở nước ta. Một tiêu chí chung nhất cho sự đánh giá liên ngành làsự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững, tức là khai thác hiệu quả tài nguyên nướcmà không hoặc ít làm tổn hại đến chất lượng, tiềm năng tài nguyên nước cũng như cácnguồn tài nguyên khác có liên quan. Các tiêu chí cụ thể được đề nghị như sau: - Tính hệ thống của các chính sách: đây là điểm quan trọng trong hệ thống quản lý của một quốc gia - Tính thực tiễn của hệ thống chính sách: biểu thị cho khả năng áp dụng vào thực tế cuộc sống của từng thành viên trong xã hội, của từng địa phương. - Tính hiệu quả của các chính sách quản lý tổng hợp tài nguyên nước: kết quả của hệ thống chính sách, luật lệ đã ban hành. Trong tiêu chí này, sự thành công hay những nội dung còn bất cập trong các luật lệ đã ban hành sẽ được bàn luận. 4
  7. 7. Chương II TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC1. QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC (QLTHTNN) 4 nguyên tắc của Dublin là: - Nước ngọt là nguồn tài nguyên có hạn và dễ bị tổn thương và cần thiết cho sự sống, phát triển và môi trường. - Phát triển và quản lý nước phải dựa trên cơ sở tiếp cận với sự tham gia của các bên có liên quan, từ người sử dụng đến người lập kế hoạch, người lập chính sách, ở mọi cấp độ. - Phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lý và đảm bảo an toàn về nước. - Nước có giá tri kinh tế ở nhu cầu cạnh tranh sử dụng và phải được xem như hàng hóa có giá trị kinh tế. Định nghĩa về QLTHTNN Thực tiễn QLTHTNN tùy thuộc vào từng tình huống. Ở mức độ vận hành thì tháchthức là chuyển nguyên tắc đã được thỏa thuận thành hành động cụ thể. Để đáp ứng yêu cầunày thường phải dựa vào QLTHTNN với “Quản lý” bao hàm cả phát triển và quản lý. Tuynhiên khái niệm của định nghĩa QLTHTNN có nghĩa rộng hơn, rõ ràng hơn. Khi đó các tổchức vùng hay quốc gia phải triển khai thực tiễn QLTHTNN và sử dụng khuôn khổ hợp táctoàn cầu và vùng. Quản lý sử dụng hiệu quả nguồn nước là hoạt động nằm trong chiến lược QLTHTNN.Khái niệm này được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng để thống nhất chung, khái niệmnày dựa theo định nghĩa của tổ chức “Cộng tác vì nước toàn cầu“ (GWP) như sau:“QLTHTNN là một quá trình đẩy mạnh phối hợp phát triển và quản lý tài nguyên nước, đấtđai và các tài nguyên khác có liên quan, sao cho tối đa hóa các lợi ích kinh tế và phúc lợi xãhội một cách công bằng mà không phương hại đến tính bền vững của các hệ sinh thái thiếtyếu”. Tổng hợp là cần thiết nhưng chưa đủ. Theo từ điển của Webster, sự cần thiết phảitổng hợp nổi lên khi có liên quan tới tình hình “quan hệ tương hỗ thường xuyên của cácnhóm phụ thuộc lẫn nhau của các hạng mục hình thành nên một tổng thể thống nhất. Tổng hợp khi đó là “ nghệ thuật và khoa học” của sự hài hòa tỷ lệ các thành phầntrong một thể thống nhất. Tuy nhiên những vấn đề này trong quản lý tài nguyên nước đượcbiết là tổng hợp, tự nó không thể đảm bảo phát triển chiến lược tối ưu, kế hoạch và sơ đồquản lý tối ưu. 5
  8. 8. 1.1. Quan hệ tương hỗ giữa hệ thống tự nhiên và nhân tạo Khái niệm QLTHTNN tương phản với “truyền thống”, quản lý tài nguyên nước theongành (fragmented) ở mức nền tảng nhất có liên quan tới quản lý yêu cầu với cấp nước(quản lý cung-cầu về nước). Như vậy tổng hợp có thể được xem dưới 2 hệ cơ bản: - Hệ thống tự nhiên với tầm quan trọng cực kỳ của nó là có tài nguyên nước và chất lượng của nó, - Hệ thống nhân tạo (Human System) và được xác định một cách cơ bản là sử dụng tài nguyên, tạo ra chất thải và gây ô nhiễm tài nguyên và hệ thống đó cũng phải tạo dựng những ưu tiên phát triển. Tổng hợp phải diễn ra ở cả hai hệ và giữa hai hệ và có tính tới sự biến động về thờigian và không gian. Về mặt lịch sử, những người quản lý nước đã hướng tới tự xem xétmình trong vai trò trung lập quản lý hệ thống tự nhiên để đảm bảo cung cấp thỏa mãn nhữngnhu cầu xác định của chính họ. Rõ ràng rằng, người tiêu thụ chỉ cụ thể “yêu cầu” sản phẩmđược cung cấp, nhưng nước có thể được cung cấp với các tính chất rất khác nhau, chẳnghạn về chất lượng và lưu lượng lại nhỏ ở những giai đoạn yêu cầu cao điểm. Giá và xácđịnh đơn giá sẽ ảnh hưởng đến tiêu thụ nước cũng như sẽ đầu tư hạ tầng để chuyển tảitiềm năng thành tiêu thụ hiệu quả. 1.2. Tổng hợp giữa quản lý nguồn nước ngọt với quản lý vùng biển ven bờ Quản lý nguồn nước ngọt với quản lý vùng biển ven bờ sẽ phải được nhất thể hóa,phản ảnh tính liên lục giữa nước ngọt và nước biển ven bờ. Hệ nước ngọt là vật thể rất quantrọng xác định những điều kiện của vùng biển ven bờ và do đó người quản lý hệ nước ngọtsẽ phải xem xét những yêu cầu của vùng biển ven bờ khi quản lý tài nguyên nước. Đây làtrường hợp đặc biệt của vấn đề quan hệ giữa thượng lưu và hạ lưu, mà vấn đề này càngngày càng được chú ý đối với tất cả các nước. Điều này có xuất xứ từ các tuyên bố của LiênHợp Quốc trên cơ sở các nguồn ô nhiễm từ lục địa, đòi hỏi phải xây dựng các chương trìnhhành động toàn cầu (GPA) và đánh giá nước quốc tế toàn cầu (GIWA). 1.3. Tổng hợp giữa quản lý đất và quản lý nước Cách tiếp cận tổng hợp giữa quản lý đất và nước là một sự khởi đầu của chu trìnhthủy văn, tuần hoàn vận chuyển nước giữa các quyển hay thành phần: không khí, đất, câytrồng và nguồn nước mặt, nước dưới đất. Kết quả phát triển sử dụng đất và lớp phủ trồngtrọt (bao gồm cả lựa chọn cây trồng) sẽ ảnh hưởng tới sự phân bố vật lý cũng như chấtlượng nước và điều này phải được xem xét cẩn thận trong quy hoạch tổng thể và quản lýcác nguồn tài nguyên nước. Một vấn đề khác, nước là yếu tố mấu chốt xác định đặc điểm vàsức khỏe của tất cả các hệ sinh thái (trên cạn cũng như dưới nước) và do đó những yêu cầuvề số lượng, chất lượng nước của các hệ sinh thái đó cần được xem xét toàn bộ trên cáckhía cạnh về tiềm năng tài nguyên nước. Việc tăng cường quản lý lưu vực nói chung và lưuvực sông cần được quan tâm và phải là các vấn đề quy hoạch khung logic để QLTHTNNtheo các hệ thống tự nhiên. Lưu vực và quản lý ở cấp lưu vực không chỉ quan trọng ở nghĩatổng hợp các vấn đề sử dụng đất và nước, mà còn rất bức thiết trong quản lý các mối quanhệ giữa lượng và chất, giữa các quyền lợi ở thượng lưu và hạ lưu. 6
  9. 9. 1.4. Tổng hợp về quản lý nước mặt và nước dưới đất Chu trình thủy văn cũng kêu gọi tổng hợp giữa quản lý nước mặt với nước dưới đất.Sự suy giảm nước được giữ lại trên bề mặt một lưu vực có thể xuất hiện nghịch đảo (xoaychiều) giữa nước mặt và nước dưới đất theo cách từ hạ lưu đến toàn lưu vực. Phần tỷ lệ lớncủa dân số thế giới phụ thuộc vào nước dưới đất để được cung cấp nước. Việc sử dụngrộng rãi hóa chất trong nông nghiệp và sự ô nhiễm từ các nguồn không điểm (theo diện) đãtạo ra một sự đe dọa lớn đối với chất lượng nước dưới đất và người quản lý phải xem xétcác mối quan hệ giữa nước mặt và nước dưới đất. Ô nhiễm nước dưới đất rất không đồngđều trên toàn lưu vực và phải tính tới các chi phí giảm thiểu ô nhiễm nước dưới đất. 1.5. Tổng hợp giữa quản lý số lượng và chất lượng tài nguyên nước Quản lý tài nguyên nước bao hàm sự phát triển số lượng nước phù hợp với chấtlượng an toàn. Như vậy quản lý chất lượng nước là hợp phần cần thiết của QLTHTNN. Sựxuống cấp, suy thoái chất lượng nước làm gỉam tính sử dụng tài nguyên đối với các bên liênquan ở vùng hạ lưu. Rõ ràng rằng, các tổ chức, thể chế có khả năng tổng hợp, nhất thể hóacác khía cạnh về số lượng và chất lượng phải được đẩy mạnh. Hệ thống nhân tạo vận hànhsẽ sản sinh ra ô nhiễm, gây nhiều tác động đối với môi trường-tài nguyên nước. Do đó phảiphấn đấu để giảm thiểu các sản phẩm phế thải. 1.6. Tổng hợp giữa các quyền lợi liên quan đến thượng lưu và hạ lưu Việc tiếp cận tổng hợp quản lý tài nguyên nước hàm ý nhận dạng các xung đột vềquyền lợi giữa các bên có liên quan ở vùng thượng lưu và hạ lưu. Những “tổn thất” về tiêuthụ (nhu cầu) ở thượng lưu sẽ làm giảm lưu lượng nước sông. Các thải lượng ô nhiễm xảra ở thượng lưu sẽ làm suy thoái chất lượng nước sông.Việc sử dụng đất làm thay đổi ởvùng thượng lưu cũng sẽ làm thay đổi việc bổ cập nước dưới đất và lưu lượng theo mùacủa nước sông. Các giải pháp kiểm soát lũ ở vùng thượng lưu có thể đe dọa về lũ đối vớicác bên liên quan ở vùng hạ lưu. Những xung đột về quyền lợi cần được xem xét trongQLTHTNN với toàn bộ sự hiểu biết về hàng loạt mối quan hệ vật lý-tự nhiên và xã hội,những quan hệ đó tồn tại trong một hệ thống tổ hợp. Sự am hiểu về tính tổn thương gây rabởi những hoạt động ở vùng thượng lưu đối với những bên có liên quan ở vùng hạ lưu là rấtcần thiết. Nhấn mạnh lại một lần nữa, quản lý sẽ tham gia vào cả hai hệ thống tự nhiên vànhân tạo. 1.7. Tổng hợp trong hệ thống nhân tạo 1.7.1. Xác định dòng chính của tài nguyên nước Khi phải phân tích các hoạt động của con người hay hệ thống dịch vụ, rõ ràng là tất cảcác vấn đề-khía cạnh của tổng hợp sẽ phải được tham gia cùng với sự hiểu biết về hệ sinhthái tự nhiên, năng lực, tính dễ bị tổn thương và những giới hạn của nó. Sự tổng hợp dó lànhiệm vụ tổng hợp, sự tổng hợp hoàn toàn là chưa rõ ràng và chưa hiện thực. Điều đó baogồm: 7
  10. 10. - Đảm bảo chắc chắn rằng các chính sách của chính quyền, tính ưu tiên tài chính và quy hoạch (vật chất, kinh tế, xã hội) sẽ phải tính tới những trong các nội dung của phát triển tài nguyên nước, nước có liên quan tới rủi ro và sử dụng nước. - Ảnh hưởng của các ngành, các lĩnh vực: Khi quyết định lựa chọn công nghệ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm phải dựa trên cơ sở các giá trị thực của nước và nhu cầu giữ cho tài nguyên thiên nhiên tồn tại mãi mãi theo thời gian. - Cung cấp, tạo dựng nền- phông, cơ chế, để đảm bảo rằng, tất cả các bên có liên quan đều có thể tham gia vào các quyết định về lĩnh vực tài nguyên nước, giải quyết các xung đột và lựa chọn giải pháp cuối cùng. Các giải pháp tổng hợp là cần thiết ở mọi cấp từ hộ gia đình đến quốc gia, rồi đến thịtrường quốc tế. 1.7.2.Tổng hợp liên ngành trong phát triển chính sách quốc gia Tiếp cận QLTHTNN ám chỉ rằng, những phát triển liên quan đến nước, với tất cả cácngành kinh tế, xã hội, sẽ phải được tính đến trong quản lý tổng thể tài nguyên nước. Nhưvậy chính sách tài nguyên nước sẽ phải tổng hợp/ nhất thể hóa với chính sách kinh tế quốcgia cũng như các chính sách của các Bộ, ngành. Ngược lại, các chính sách kinh tế xã hội(của các Bộ/ ngành) cần phải tính tới các nhiệm vụ của tài nguyên nước, chẳng hạn, cácchính sách năng lượng quốc gia, chính sách thực phẩm quốc gia cũng có thể tác động sâusắc tới tài nguyên nước và ngược lại. Khi đó các phát triển phải được đánh giá đối với cáctác động có thể có đối với tài nguyên nước và các đánh giá đó phải được xem xét khi thiếtkế và xác định các dự án phát triển ưu tiên. Sự phát triển và quản lý tài nguyên nước có tácđộng đối với kinh tế-xã hội thông qua nhiều con đường khác nhau, như di dân, gia tăng địnhcư hay những thay đổi trong thành phần cơ cấu công nghiệp. Hậu quả là, hệ thống quản lýtài nguyên nước phải bao gồm sự trao đổi thông tin liên ngành và quy trình hợp tác cũngnhư kỹ thuật để đánh giá các dự án riêng biệt với mong đợi là bao hàm nội dung đối với tàinguyên nước trong những trường hợp đặc biệt nói riêng và trong xã hội nói chung. 1.7.3. Các tác động kinh tế vĩ mô của sự phát triển nước Ở những tình huống khi mà một lượng lớn vốn được dồn cho việc đầu tư ngành nướcthì các tác động kinh tế vĩ mô thường rất lớn và rất tai hại đối với toàn bộ sự phát triển kinhtế. Yêu cầu ngày càng gia tăng đối với hàng hóa và dịch vụ ở các ngành không cần nước làdo dòng vồn đầu vào làm tăng giá hàng hóa và dịch vụ sẽ dẫn đến sự lạm phát. Như vậythường kéo theo những tác động kinh tế vĩ mô dài hạn và là những điều không mong muốn. 1.7.4. Những nguyên tắc cơ bản để xây dựng chính sách tổng hợp Việc xây dựng chính sách liên ngành và tổng hợp là rất nặng nề và khó khăn để có thểđạt được trong thực tế. Tuy nhiên có những nguyên tắc chung là: - Những nhà lập kế hoạch kinh tế phải rất thận trọng đánh giá lạm phát, sự cân bằng chi trả và tác động kinh tế vĩ mô trước khi bắt đầu một chương trình đầu tư vốn trên quy mô lớn trong ngành nước. 8
  11. 11. - Người lập chính sách sử dụng đất phải được cung cấp các thông tin về những hậu quả về nước ở vùng hạ lưu và chi phí ngoại biên những lợi ích đối với hệ thống nước tự nhiên (nghĩa là việc phá rừng hay đô thị hóa có thể làm thay đổi chế độ về dòng chảy nước và gây nguy cơ lũ lụt). Điều này không có nghĩa là những chi phí ngoại biên bị thiệt hại, mà những điều đó sẽ giúp người lập chính sách phải cân nhắc giữa những chi phí với những lợi ích thu được từ những chính sách và kế hoạch do họ lập ra. - Những chính sách gây tác động làm tăng nhu cầu tiêu thụ nước bao gồm cả việc loại bỏ các sản phẩm lãng phí sẽ được phát triển với sự hiểu biết về chi phí gia tăng tổng thể. - Những chính sách phân phối nước hiệu quả giữa các nhu cầu sử dụng khác nhau phải tính tới các giá trị tương đối trong sử dụng và được đo lường bằng các điều khoản kinh tế xã hội. - Những người hoạch định chính sách cần biết cân bằng giữa những lợi ích ngắn hạn/ trước mắt và chi phí lâu dài tại các tình huống áp dụng những nguyên tắc phòng ngừa có thể giảm chi phí trong suốt thời gian dài. - Những người hoạch định chính sách phải biết rằng bao cấp trong quản lý tài nguyên nước là tất yếu, sao cho những nhiệm vụ khác nhau được thực hiện ở mức phù hợp và thấp nhất. 1.7.5. Ảnh hưởng các quyết định của các ngành kinh tế Những quyết định của những nhà phát triển kinh tế (từ quy mô xuyên quốc gia haycác công ty sở hữu nhà nước đến những trang trại hay hộ riêng biệt) trong đa số các nướcsẽ có tác động lớn đối với nhu cầu về nước, những nguy cơ liên quan đến nước và khảnăng có nguồn nước với chất lượng nước đảm bảo. Những quyết định này sẽ không gây tổnthương đối với tài nguyên nước nếu có thông tin rõ ràng, minh bạch về tổng chi phí của cáchành động, khuyến khích lớn đối với các chi phí bên ngoài của các quyết định cần biết. 1.7.6. Tổng hợp tất cả các bên có liên quan trong quá trình lập kế hoạch và ra quyếtđịnh Việc tham gia của các bên có liên quan trong việc quản lý và lập kế hoạch về tàinguyên nước được biết là đa năng, tổng hợp như một yếu tố cốt lõi để đạt tới sự sử dụngnước một cách cân bằng và bền vững. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp các bên có liênquan thường có quyền lợi xung đột và mục tiêu của họ liên quan đến quản lý tài nguyênnước có thể tức thì tách riêng. Để giải quyết vấn đề này, QLTHTNN phải phát triển các côngcụ vận hành để quản lý xung đột và giải quyết, dung hòa những xung đột và dính líu giữanhững mục tiêu, kế hoạch và hành động. Vấn đề quan trọng ở đây là cần nhận dạng và thiếtkế các chức năng quản lý tài nguyên nước theo mức độ thực hiện phù hợp ở cấp thấp nhất;ở từng cấp độ thực hiện, những bên có liên quan cần được nhân dạng và động viên. 9
  12. 12. 1.7.7. Tổng hợp giữa quản lý nước và nước thải Nước là tài nguyên tái tạo và có thể tái sử dụng. Ở những nơi mà không có nhu cầuvà nước được quay vòng sau khi sử dụng, cần phải có cơ chế để đảm bảo rằng dòng nướcthải được xả vào nguồn nước phục vụ cấp nước thì sẽ rất có lợi. Nếu không quản lý điềuphối, thì dòng thải sẽ làm giảm hiệu quả cung cấp nước do sự suy giảm chất lượng nước vàtăng chi phí về cấp nước sau đó. Những khuyến khích để tái sử dụng có thể được tạo dựngđối với những người sử dụng riêng biệt, nhưng để có cơ hội sử dụng hiệu quả, phải thiết kếlồng ghép các hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội và hành chính. Tổng hợp liên ngành giữa các tiểu ngành sử dụng nước và vai trò của QLTHTNNtrong liên kết giữa các tiểu ngành được thể hiện như sau: Tổng hợp liên ngành Tạo môi trường Nước cho Nước cho Nước cho Nước cho Vai trò thể sinh hoạt thực phẩm thiên nhiên công nghiệp chế dân cư và những Công cụ quản nhu cầu lý khác Những tiêu chí quan trọng nhất Để tiếp tục QLTHTNN, cần phải biết một số tiêu chí quan trọng nhất cần phải tính tớitrong các điều kiện xã hội, kinh tế và tự nhiên:  Hiệu suất kinh tế trong sử dụng nước: Vì sự khan hiếm nước ngày càng trầm trọng và thiếu nguồn tài chính, bản chất xác định và dễ bị tổn thương của nước, như một tài nguyên và nhu cầu về nước ngày càng tăng. Vì vậy nước cần được sử dụng có hiệu quả cao nhất.  Bình đẳng: Quyền lợi cơ bản đối với mọi người là có nước dủ về số lượng và an toàn về chất lượng để duy trì sự sống của loài người. Điều đó cần được ghi nhớ.  Tính bền vững về môi trường và sinh thái: Việc sử dụng tài nguyên hiện tại phải được quản lý theo cách không làm suy yếu hệ thống hỗ trợ duy trì sự sống, bằng cách dung hòa sử dụng chính nguồn tài nguyên đó cho hôm nay và cho cả thế hệ mai sau. Các yếu tố quan trọng Khung QLTHTNN và tiếp cận hiểu biết rằng các yếu tố bổ sung cho hệ thống quản lýhiệu quả tài nguyên nước cần được triển khai và tăng cường cạnh tranh: - Tạo dựng môi trường: Khung tổng quát của các chính sách quốc gia, luật lệ, quy định, các thông tin đối với các bên có liên quan về quản lý tài nguyên nước; 10
  13. 13. - Vai trò thể chế và các chức năng của các cấp hành chính khác nhau và những bên có liên quan khác nhau; - Những công cụ quản lý, bao gồm công cụ vận hành đối với các quy định có hiệu quả, quan trắc và tăng cường, tạo khả năng cho những người ra quyết định được thông tin lựa chọn phương án hợp lý giữa những phương án hành động Những lựa chọn này cần phải dựa trên cơ sở các chính sách đồng thuận, các nguồn tài nguyên có thể có, các tác động môi trường và những hậu quả kinh tế, xã hội. Hình 1. Tính bền vững sinh thái2. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC Tổ chức cộng tác vì nước toàn cầu (GWP) được thành lập từ năm 1996, là một mạnglưới mở cho mọi tổ chức có liên quan đến quản lý tài nguyên nước như: các cơ quan củachính phủ ở các nước phát triển và đang phát triển, các cơ quan thuộc Liên hợp quốc, cácngân hàng phát triển song phương và đa phương, các hội nghề nghiệp, viện nghiên cứu, tổchức phi chính phủ và tổ chức cá nhân. Tổ chức này nhằm thúc đẩy quản lý tổng hợp tàinguyên nước với mục tiêu đảm bảo liên kết phát triển và quản lý nước, đất và những tàinguyên liên quan bằng cách tăng tối đa lợi ích kinh tế và phúc lợi xã hội mà không làm ảnhhưởng xấu đến tính bền vững của những hệ thống thiết yếu. Ủy ban tư vấn kỹ thuật của GWP đã đưa ra những tiền đề cho QLTHTNN như sau: - Tài nguyên nước ngọt thế giới đang chịu một sức ép ngày càng tăng, tăng trưởng dân số, tăng các hoạt động kinh tế, mức sống cải thiện dẫ tới sự cạnh tranh và mâu thuẫn về nguồn nước ngọt. Việc thiếu những biện pháp chống ô nhiễm cũng làm cho tài nguyên nước suy thoái trầm trọng hơn. - Dân số dưới sức ép về nước: trong thế kỷ 20, dân số thế giới tăng khoảng ba lần trong khi lượng nước khai thác để sử dụng tăng khoảng bảy lần. Theo tính toán hiện nay có khoảng một phần ba dân số thế giới đang chịu sức ép mức trung bình và mức cao về nước. Theo ước tính tỷ lệ này còn có thể tăng đến hai phần ba vào năm 2025. 11
  14. 14. - Tác động của ô nhiễm nước có liên quan chặt chẽ đến các hoạt động của con người. Ngoài các chức năng phục vụ những nhu cầu cơ bản của đời sống và các quy trình công nghiệp, nước còn có vai trò như một tác nhân truyền tải chất thải sinh họat, nông nghiệp và công nghiệp gây ô nhiễm. Nguồn nước suy thoái do ô nhiễm ảnh hưởng đến khả năng sử dụng nguồn nước ở hạ lưu đe dọa sức khỏe con người và chức năng của hệ sinh thái nước. - Sự khủng hoảng trong quản lý Nhà nước về tài nguyên nước: cách tiếp cận quản lý tài nguyên nước theo ngành đã và đang có vái trò lấn át. Điều này dẫn đến việc phân mảng và thiếu phối hợp trong phát triển và quản lý nguồn tài nguyên nước. Thêm vào đó, việc thực hiện công tác quản lý thường được thực hiện theo hướng từ các cơ quan cấp trên xuống, mà tính hiệu quả của phương pháp này vẫn còn là vấn đề cần phải xem xét. - Đảm bảo nước cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất lương thực: những tác động này trước hết ảnh hưởng đến những thành phần nghèo đói nhất của dân số các nước đang phát triển về nhu cầu nước sạch và vệ sinh. Theo số liệu phát triển dân số. Trong khoảng thời gian 25 năm, cần có lương thực cấp thêm cho 2-3 tỷ người. Nước được xem là một trở ngại chính đối với sản xuất lương thực (nông nghiệp sử dụng 70% lượng nước khai thác) Trên cơ sở những vấn đề được nêu ở trên, khái niệm QLTHTNN khác với khái niệmQuản lý tài nguyên nước trước kia ở điểm phải xem xét Tài nguyên nước trong mối quan hệtương quan giữa con người và nguồn tài nguyên tức là phải xem xét hai cấp độ: hệ tự nhiênđược coi là tầm quan trọng sống còn đối với khả năng và chất lượng tài nguyên; hệ conngười/ nhân tạo/ là cơ bản xác định việc sử dụng tài nguyên, phát thải và làm ô nhiễm tàinguyên, đồng thời là nguồn động lực cho những ưu tiên phát triển. Trước kia, các nhà quảnlý nước có xu hướng coi mình có vai trò trung lập đáp ứng các nhu cầu từ phía bên ngoàitức là thiếu sự tương quan qua lại. Sự phát triển mới của khái niệm đòi hỏi phải có nhữngnghiên cứu nghiêm túc về vấn đề QLTHTNN nhằm một cơ chế phát triển kinh tế - xã hội bềnvững không chỉ ở nước ta mà còn là nhiệm vụ của các tổ chức có liên quan đến lĩnh vực nàytrên toàn cầu.3. VIỆT NAM TIỆM CẬN VỚI QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC Việt Nam đã tham gia là thành viên của Mạng lưới Cộng tác vì Nước toàn cầu vàmạng lưới cộng tác vì nước khu vực Đông Nam Á (SEATAC – nay là SEARWP) từ nhữngnăm 1997-1998. Mạng lưới nước Cộng tác vì Nước của Việt Nam (VNWP) đã được thành lập từ năm2000 và từ đó đến nay đã có nhiều hội thảo quốc gia và quốc tế được tổ chức (Hội thảoQuản lý điều hành hiệu quả ngành nước-6/2002, hội thảo QLTHTNN với dịch vụ nước-12/2003, hội nghị thành viên lần thứ II mạng lưới cộng tác vì nước của Việt Nam-4/2004…)Các tham luận tại hội thảo tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chínhsách của từng ngành hoặc liên ngành cho việc QLTHTNN. Sự tăng trưởng bền vững của 12
  15. 15. các ngành kinh tế có sự đóng góp quan trọng của việc cân bằng giữa nhu cầu khai thác, sửdụng và khả năng chịu tải, sự phân bố hợp lý của nguồn tài nguyên nước dồi dào nhưngkhông phải là vô tận. Các nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách quốc gia vềQLTHTNN không chỉ cần cho một quốc gia đơn lẻ mà còn mang ý nghĩa toàn cầu, phù hợpvới những thông lệ quốc tế. Ngày 20 tháng 5 năm 1998 Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua luật TàiNguyên Nước để quy định việc quản lý, bảo vệ, khai thác sử dụng TNN, phòng chống vàkhắc phục hậu quả tai hại do nước gây ra. Khoản 2 điều 63 quy định" Hội đồng Quốc gia về tài nguyên nước gồm Chủ tịch Hộiđồng là một Phó Thủ tướng, uỷ viên thường trực là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT" Ngày 15 tháng 6 năm 2000 Thủ tướng Chíng Phủ đã quyết định thành lập Hội đồngQuốc gia tài nguyên nước và ngày 28 tháng 6 năm 2001 Thủ tướng Chính Phủ đã ban hànhquy chế hoạt động của Hội đồng Quốc gia về TNN và có văn phòng tại Bộ NNvà PTNT. HộiĐồng Quốc Gia về TNN đã họp được 3 lần bàn các vấn đề lớn về TNN theo chức năng củahội đồng. Năm 2003 Hội đồng cũng đã họp để bàn về việc xây dựng kế hoạch phát triển vàquản lý TNN. Khác với đất đai, khoáng sản, những tài nguyên được định vị trong một địa bàn nhấtđịnh, tài nguyên nước có đặc tính là vận động theo lưu vực mang tính hệ thống. Việc quản lýtài nguyên nước và công trình thủy lợi là một khối thống nhất, rất khó có thể chia sẻ trongviệc quản lý. Tính hệ thống và sự vận động của nước theo lưu vực thể hiện ở các điểm sau: - Mối quan hệ mật thiết qua lại giữa thượng nguồn và hạ nguồn tức là mọi biến động ở thượng nguồn như lấy nước, thải nước, ngăn giữ nước, cải tạo dòng chảy, biến động chất lượng nước đều liên quan đến sự thay đổi tích cực hoặc tiêu cực ở hạ lưu. - Mối quan hệ giữa bề mặt lưu vực và nguồn nước: mỗi tác động bề mặt lưu vực như việc chặt phá rừng, việc mở rộng canh tác trên sườn dốc, việc đô thị hóa, việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp… đều làm thay đổi chế độ dòng chảy và chất lượng nước trong phạm vi lưu vực. - Mối quan hệ giữa nước mặt và nước dưới đất: nước mặt và nước dưới đất trong phạm vi lưu vực quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau. Mùa lũ nước mặt cung cấp thêm trữ lượng cho nước dưới đất, còn mùa khô nước dưới đất bổ sung lại cho nguồn nước mùa nước kiệt. Vì vậy, các biện pháp trồng rừng, làm hồ chứa là biện pháp tích cực điều hòa lượng nước cho cả hai cấu thành. Tính hệ thống của nước đòi hỏi phải có những chính sách, qui định, thể chế mang tínhliên ngành trong QLTHTNN. 13
  16. 16. 4. TỔNG QUAN VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC Ở VIỆT NAM 4.1. Tài nguyên nước mặt Trên lãnh thổ Việt Nam có 2360 sông dài trên 10 km có dòng chảy thường xuyên. 9 hệthống sông có diện tích lưu vực trên 1000 km 2 đó là: Mê Kông, Hồng, cả , Mã, Đồng Nai, Ba,Bằng Giang, Kỳ Cùng và Vũ Gia-Thu Bồn. Sông ngòi Việt Nam có thể chia làm 3 nhóm. Bảng 1. Trữ lượng nước mặt ở các sông Nhóm sông Diện tích lưu vực (km2) Tổng lượng nước (km3/năm) Toàn bộ Trong Ngoài Toàn bộ Trong Ngoài nước nước nước nước Nhóm 1. Thượng nguồn nằm 45.705 43.725 1.980 38,75 37,17 1,68 trong lãnh thổ Nhóm 2. Trung và hạ lưu 1.060.400 199.230 861.170 761,90 189,62 524,28 nằm trong lãnh thổ Nhóm 3. Các sông nằm trong 55.602 55.602 66,50 66,50 lãnh thổ Tổng cộng 298.557 822,15 293,29 535,96 Cả nước 330.000 853,80 317,90 535,96 Sơ lược các nguồn tài nguyên nước các vùng 8 vùng kinh tế ở nước ta phần lớn đều nằm trong các lưu vực sông chính. Tuy nhiên,trữ lượng và chất lượng tài nguyên nước, tính đa dạng sinh học và khả năng có nước vàtính dễ bị tổn thương của mỗi vùng có khác nhau. Các vùng đồng bằng sông Hồng, đồngbằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ có hệ thống sông ngòi dày đặc và nguồn tài nguyênnước mặt dồi dào. Ở các vùng này, gia tăng dân số, đô thị hoá và công nghiệp hoá một cáchnhanh chóng, thâm canh nông nghiệp và vận tải đường thuỷ làm cho chất lượng nước xấuđi và giảm mực nước dưới đất. Trong khi các vùng ven biển với mật độ dân số ngày càngtăng, càng dễ bị tổn thương trước do sự biến đổi khí hậu toàn cầu và nạn phá rừng diễn ra ởcác vùng thượng lưu, thì ở các vùng núi cao (Tây Bắc và Tây Nguyên) hạn hán và lũ quét lạixảy ra ngày càng nghiêm trọng. Tính đa dạng sinh học trên đất liền và thuỷ sản nước ngọtgiảm ở hầu hết các vùng. Các nguồn tài nguyên biển và ven biển từng mang lại các lợi íchcho các vùng ven biển và nền kinh tế nước nhà, nhưng khai thác quá mức là một nguy cơ rõnhất. 4.2. Tài nguyên nước dưới đất Tổng hợp trữ lượng nước dưới đất đã được đánh giá và xét duyệt trên toàn lãnh thổđến cuối năm 1998 và các năm 2002, 2004 được thể hiện trong bảng 2. 14
  17. 17. Bảng 2. Trữ lượng nước trên toàn lãnh thổ Việt Nam (m 3/ngày) TT Nguồn nước 1998 2002 2004 1 Nước mặt 2,27 tỷ 2,27 tỷ 2 Nước dưới đất 14.457.446 130.017.000 130.017.000 Nguồn: Báo cáo Hiện trạng môi trường Bộ NN&PTNT Nguồn nước ngầm được phân bố theo lãnh thổ như sau: * Hà nội – Hải phòng – Quảng Ninh: 5.058.915 m3/ngày * Huế - Đà Nẵng: 944.834 m3/ngày * TP Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Vũng tầu 1.591.182 m3/ngày * Các vùng khác 6.979.515 m3/ngày 4.3. Tài nguyên nước ven bờ Việt Nam có bờ biển dài khoảng 3260 km và hơn 3500 đảo lớn và nhỏ. Vùng bờ biểnvà vùng nước ven bờ biển Việt Nam có thể chia thành 9 vùng với các đặc trưng địa mạosau: - Vùng bờ từ Móng Cái đến Đồ Sơn: đây là vùng bờ động lực sông và thủy triều chiếm ưu thế. Hình thái đường bờ khúc khuỷu và phân cách mạnh có nhiều vũng, vịnh và đảo ven bờ cùng với rừng ngập mặn. - Vùng bờ từ Nam Đồ Sơn đến Nga Sơn (Thanh hóa): đây là vùng bờ biển phát triển trên nền lục địa kế thừa vùng trũng sông Hồng bao gồm các cửa sông chính của hệ thống sông Hồng. Đặc trưng hình thái đường bờ là lồi ra biển, trước các cửa sông đều có các cồn cát. - Vùng bờ từ Nga Sơn (Thanh Hóa) đến Đèo Ngang (Quảng Bình): vùng này có cấu tạo đất đá theo nền của đới tạo núi Việt – Lào. - Vùng bờ từ Đèo Ngang (Quảng Bình) đến đèo Hải Vân (Đà Nẵng): thuộc vùng Bắc Trường Sơn bao gồm phức nếp lõm sông Cả và lồi Trường sơn. Đặc điểm bờ biển là đồng bằng hẹp tích tụ mài mòn ven biển có nhiều cồn, đụn cát nằm dọc phía ngoài, phía trong là đầm phá. - Vùng bờ từ bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) đến Sa Huỳnh (Quảng Ngãi): vùng phát triển trên nền uốn nếp Việt – Lào, dải đồng bằng ven biển và vùng bờ biển hiện đại đều tương đối rộng. Trong vùng này có Cù Lao Chàm. - Vùng ven bờ từ Cà Ná đến Vũng Tàu: vùng này thuộc đới cấu trúc Đà Lạt. Địa hình bờ biển tương đối bằng phẳng, vùng đáy sát bờ có nhiều bùn cát và đá ngầm. 15
  18. 18. - Vùng bờ từ Vũng Tàu đến Rạch Giá: thuộc châu thổ sông Cửu Long có nhiều cửa sông lớn, bờ biển thoai thoải, hệ thống kênh rạch dày đặc. Các cửa sông thường rất rộng với các bãi triều ngầm và cồn cát. Việt Nam có 28/64 tỉnh thành phố có biển. Nhìn chung, dân số thành thị của các tỉnhven biển đều tăng trong 3 năm gần đây (2,5% năm 2002 và 3,2% năm 2003). Năm 2003,các tỉnh ven biển có 308 quận, huyện với dân số khoảng 41,7 triệu người trong đó có 126quận, huyện với trên 17,7 triệu người sinh sống. Hơn hai thập niên qua, một số lượng lớn tầu, thuyền mới đóng đã tham gia khai thác.Số tàu thuyền này chủ yếu hoạt động ở vùng biển có đậu sâu trên dưới 50 m, gây áp lực lớncho việc khai thác hải sản ở vùng nước ven bờ. So sánh với kết quả nghiên cứu những năm90, trữ lượng cá biển đến nay (2004) đã giảm sút khá rõ rệt (3,1/4,1 triệu tấn). 4.4. Đặc điểm khí hậu thủy văn Hệ thống dòng chảy với một mạng lưới tiêu nước ra biển khá dày. Tổng số các consông lớn nhỏ ở Việt Nam lên tới 2.500, trong đó có 2360 con sông dài từ 10km trở lên. ViệtNam có chín hệ thống sông lớn nhất là Cửu Long, Hồng, Thái Bình, Kỳ Cùng - Bằng, Mã,Cả, Thu Bồn, Ba và Đồng Nai. Theo số liệu tính toán cho thấy hệ thống sông Cửu Long cónguồn nước chảy vào Việt Nam là lớn nhất, chiếm 61,4% tổng lượng dòng chảy sông ngòicủa cả nước. Các dòng sông chảy ra biển đã tạo thành hệ thống cửa sông là một trongnhững loại hình ĐNN quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, cả nước có trên 3.500 hồ chứanước nhỏ và 650 hồ chứa nước vừa và lớn, các hồ chứa nước lớn như hồ Thác Bà có diệntích mặt nước 23.400 ha, hồ Hòa Bình 218 km 2, hồ Dầu Tiếng 35.000 ha, hồ Trị An 27.000ha (Nguyễn Viết Phổ, Vũ Văn Tuấn, Trần Thanh Xuân, 2003). Khí hậu nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng nămkhá cao (hơn 200C/năm), độ ẩm tương đối lớn (hơn 80%/năm), lượng mưa dồi dào(1500mm/năm). Sự khác nhau về chế độ khí hậu giữa các vùng, đặc biệt là chế độ nhiệt -ẩm có ảnh hưởng đến chế độ thủy văn của từng vùng như thời gian ngập nước, độ sâungập nước, chế độ nhiệt của nước, dẫn đến sự khác nhau giữa các loại hình ĐNN. 4.5. Tình hình khai thác và sử dụng nước ở Việt Nam Dân số tăng nhanh và lượng nước sử dụng nhiều lên sẽ làm cho lượng nước bìnhquân đầu người ngày càng giảm. Theo số liệu thống kê hàng năm ở Việt Nam, tổng lượngnước được tạo ra trung bình hàng năm là khoảng 835 tỷ m3, lượng nước sản sinh trên lãnhthổ khoảng 325 tỷ m3. Lượng nước bình quân đầu người hàng năm từ 4.000 m3/năm chovùng thiếu nước đến 10.720 m3/năm cho các vùng có trữ lượng lớn. Sử dụng nước có tiêu hao - Sử dụng nước cho nông nghiệp: kết quả tính đến năm 1998 đã có 75 hệ thống thủy lợi vừa và lớn với nhiều hệ thống thủy lợi nhỏ gồm 3.500 hồ chứa vừa và lớn (dung tích trên 1 triệu m3 chiều cao đập trên 10 m); 1017 đập dâng và hàng ngàn hồ chứa nhỏ, hơn 5.000 công tưới/tiêu lớn; trên 10.000 trạm bơm điện lớn và vừa với tổng công suất 24,8 triệu m3/h và hàng vạn công trình thủy lợi vừa và nhỏ. Các hệ thống thủy lợi có tổng năng lực tưới trực tiếp 3,45 triệu ha, tạo nguồn cấp nước 16
  19. 19. cho 1,13 triệu ha, tiêu 1,4 triệu ha, ngăn mặn 0,87 triệu ha và cải tạo chua phèn 1,6 triệu ha đất canh tác nông nghiệp. Khoảng trên 8000 km bờ bao ngăn lũ vụ hè thu ở đồng bằng sông Cửu Long với hàng vạn km kênh mương và công trình trên kênh. Tổng tài sản cố định phần nhà nước đầu tư khoảng trên 60.000 tỷ đồng (giá năm 1998) chưa kể tài sản cố định cho đê điều, công trình thủy điện… Lượng nước cung cấp hàng năm cho nông nghiệp rất lớn và tăng lên hàng năm: 1985 sử dụng 40,65 tỷ m3 chiếm 89,8% tổng lượng nước tiêu thụ, 1990 là 51 tỷ m 3 chiếm 91% tổng lượng nước tiêu thụ, năm 2000 là 76,6 tỷ m 3, chiếm 84% tổng nhu cầu về nước. Từ năm 1998, diện tích được tưới tăng trung bình mỗi năm khoảng 3,4%, nhưng các hệ thống tưới chỉ có thể đáp ứng cho 7,4 triệu ha (hay 80% tổng diện tích đất trồng trọt). Chính phủ mong muốn đến năm 2010 thì nhu cầu tưới sẽ tăng đến 88,8 tỷ m3 (ứng với diện tích được tưới là 12 triệu ha). - Sử dụng nước cho công nghiệp: 1980 là 1,50 tỷ m3 (chiếm 4,0%); 1985 là 1,86 tỷ m3 (chiếm 6,3%); năm 1990 là 5,33 (chiếm 9,8%); năm 2002 là 14 tỷ (chiếm 18,5%). - Sử dụng cho sinh hoạt: tổng lượng nước cấp cho các đô thị 2,6 triệu m3/ngày (năm 1998); 2,7 triệu m3/ngày (năm 2002), khoảng 3 triệu m3/ngày (vào tháng 12- 2005) và dự kiến 3,3 triệu m3/ngày năm 2010. Hiện nay chỉ khoảng 70% dân số Việt Nam được cung cấp nước sạch dùng cho sinh hoạt. Theo chiến lược của Chính phủ, đến năm 2010 sẽ tăng tỷ lệ này 95% dân cư đô thị. Ngư nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp và các ngành dịch vụ cũng làm tăng nhu cầu sử dụng các nguồn tài nguyên nước của đất nước. - Ngoài mục đích tưới tiêu cho nông nghiệp, hệ thống thuỷ lợi còn phục vụ cấp nước cho sinh hoạt và tiêu nước cho các vùng dân cư. Một số hệ thống còn được kết hợp khai thác sử dụng nước cho giao thông, du lịch, thủy sản - Sử dụng nước cho thủy điện: Các hồ chứa thủy điện là nguồn dự trữ nước quan trọng để điều hòa, phân phối, cấp nước cho các mục đích khác. Tổng dung tích trữ nước của 11 hồ chứa nước thủy điện lớn đã và đang xây dựng (dung tích mỗi hồ trên 1 tỷ m3) và hơn 35 hồ chứa dung tích trên 100 triệu m3/hồ là trên 25 tỷ m3. Theo kế hoạch đến 2010 sẽ đưa vào hoạt động 21 hồ chứa thủy điện vừa và lớn. Đến hết năm 2020 sẽ xây dựng thêm nhiều hồ chứa với tổng công suất điện là 11.137 MW. Đánh giá chung a. Về chất lượng: Chất lượng nước ở thượng lưu các con sông còn khá tốt, nhưng ở vùng hạ lưu nướcở phần lớn các con sông đã bị ô nhiễm, có nơi ở mức nghiêm trọng. Nguyên nhân do nướcthải của các cơ sở sản xuất kinh doanh, nước thải sinh hoạt không được xử lý hoặc xử lýchưa đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép thải trực tiếp vào các dòng sông. Chất lượng nướcsuy giảm mạnh, nhiều chỉ tiêu như BOD, COD, NH 4, tổng N, tổng P và vi sinh có hàm lượngcao hơn tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, gây ảnh hưởng tới sức khoẻ và đời sống nhân dân,nhất là ở những nơi người dân sử dụng nước sông làm nguồn nước phục vụ sinh hoạt. 17
  20. 20. Nước ở vùng ven biển cũng đã có dấu hiệu bị ô nhiễm. Hàm lượng các chất hữu cơ, kim loạinặng, hoá chất bảo vệ thực vật ở một số nơi vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Hàm lượng dầutrong nước biển có xu hướng tăng nhanh do xảy ra nhiều sự cố tràn dầu. Hàng năm ướctính nước ta có khoảng trên 1 tỷ m 3 nước thải mà hầu hết chưa được xử lý hoặc xử lý chưađạt yêu cầu đổ ra môi trường đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng một số nguồn nước. Tỷlệ số người được sử dụng nước hợp vệ sinh còn thấp (khoảng 85% ở thành phố và khoảng45% ở vùng nông thôn). b. Khả năng bảo đảm về nước: Sẽ gặp khó khăn, đặc biệt là trong mùa khô. Theo báo cáo của Viện Quy hoạch thuỷlợi, trữ lượng nước ngầm ở nước ta có khoảng 50 - 60 tỷ m 3, trong đó trữ lượng khai tháckhoảng 10 - 12 tỷ m3/năm. Hàng năm chúng ta khai thác khoảng 20% trữ lượng nước ngầmphục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Nước ngầm ở một số vùng, đặc biệt làcác khu công nghiệp, đô thị có nguy cơ cạn kiệt vào mùa khô và có dấu hiệu ô nhiễm ở mộtsố nơi. Nguyên nhân do khai thác bừa bãi và không đúng quy trình kỹ thuật. c. Quan trắc môi trường nước: Nhằm phục vụ công tác đánh giá diễn biến chất lượng môi trường, định kỳ xây dựngBáo cáo hiện trạng môi trường, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường quốc gia đãđược xây dựng, từng bước bổ sung và hoàn thiện. Tính đến nay, trên phạm vi cả nước có20 trạm quan trắc và phân tích môi trường thực hiện quan trắc thường xuyên các thànhphần môi trường nước, không khí, đất, mưa axít, phóng xạ và môi trường lao động với hơn250 điểm quan trắc, phân bố trên địa bàn của 45 tỉnh, thành phố với tần suất quan trắc là 4lần trong năm. Bên cạnh đó, hệ thống quan trắc và phân tích môi trường quốc gia cũng phốihợp chặt chẽ với hệ thống quan trắc môi trường không khí của Trung tâm Khí tượng thuỷvăn quốc gia và hệ thống quan trắc nước lục địa của Cục quản lý tài nguyên nước. d. Đáp ứng các vấn đề về tài nguyên nước của Việt Nam: Chính phủ Việt Nam cũng đã đạt được những kết quả rất ấn tượng trong việc giảiquyết những vấn đề về quản lý tài nguyên nước của đất nước. Những kết quả này là dotăng đầu tư của Nhà nước cho ngành nước từ 5.682 tỷ đồng trong năm 1996 lên đến 8.621tỷ đồng trong năm 2001, mới có thể đạt được. Cùng với việc tăng đầu tư và tăng cường năng lực, Chính phủ Việt Nam cũng đã xâydựng và thực thi nhiều chính sách, chương trình đặc biệt chú trọng vào giải quyết các vấnđề liên quan đến quản lý tài nguyên nước, bao gồm tăng tỷ lệ được sử dụng nước sạch vàvệ sinh, hạn chế ô nhiễm, bảo tồn tính đa dạng sinh học và bảo vệ các hệ sinh thái, nângcao tính bền vững của ngành thuỷ sản, giải quyết tính dễ bị tổn thương trước các thiên tai cóliên quan đến nước và tăng cường quản lý các lưu vực sông. e. Các vấn đề về môi trường nước: Vấn đề ô nhiễm nguồn nước: Ô nhiễm nguồn nước là một trong các thách thức thực tế phải đối mặt trong giai đoạnphát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Đôi lúc sự tăng trưởng kinh tế phiến diện đã dẫn đến 18
  21. 21. những hậu quả môi trường không kiểm soát được. Các nghiên cứu về các lưu vực sông đãcho những kết quả đáng báo động. Sự ô nhiễm do nước thải từ các khu đô thị và các khucông nghiệp trên hầu hết các lưu vực từ bắc đến nam đều có biểu hiện rõ rệt. Đa dạng sinh học: Đa dạng sinh học biển và nước ngọt của Việt Nam tương đối cao, nhưng đang bị đedoạ bởi tình trạng ô nhiễm nước công nghiệp và sinh hoạt, các hoạt động xây dựng đườngsá và đập, nạo vét, đánh bắt quá mức và các kỹ thuật đánh bắt có tính huỷ diệt cũng nhưnuôi trồng thuỷ sản đại trà. Các vùng nước ngọt của Việt Nam giàu tính đa dạng sinh học về thực vật và động vật,bao gồm 544 loài cá, 52 loài tôm, cua, 782 loài động vật không xương sống (ốc, vẹm, độngvật lưỡng cư, côn trùng) và các loài thực vật (20 loài rong và 1402 loài tảo). Các vùng biểnViệt Nam là nơi cư trú của hơn 2000 loài cá, trong đó có 130 loài có giá trị kinh tế cao. Ngoàira, còn có hơn 1.600 loài giáp xác và 2.500 loài thân mềm. Trong số này, có 101 loài nướcngọt và 131 loài biển được xem là quý hiếm và đang bị đe doạ và đã được đưa vào sách đỏnăm 2002. Các hệ sinh thái của Việt Nam cũng rất phong phú như các vùng ĐNN, rừngngập mặn, rạn san hô và các bãi cỏ biển. Chất lượng nước: Tình trạng ô nhiễm nước mặt, ngầm và các vùng nước ven bờ ở Việt Nam ngày càngtrở nên rõ rệt hơn. Mặc dù chất lượng nước ở các vùng thượng lưu còn khá tốt, nhưng cácđoạn sông hạ lưu của các con sông chính thì chất lượng nước lại kém và hầu hết các hồ,ao, kênh mương trong các khu đô thị đang nhanh chóng trở thành các bể chứa nước thải.Nước dưới đất cũng đã có hiện tượng ô nhiễm và nhiễm mặn ở một số nơi. Đô thị hoá vàcông nghiệp hoá diễn ra nhanh chóng ở các vùng ven biển, các hoạt động xây dựng cảng vàphát triển hàng hải, phát triển du lịch ven biển và sự gia tăng các sự cố tràn dầu đã gópphần làm suy giảm chất lượng nước ven biển. Tính dễ bị tổn thương: Việt Nam rất dễ bị tổn thương trước thiên tai do các điều kiện về địa lý và địa hình củađất nước. Các vùng bị ô nhiễm nặng như Hà nội thuộc đồng bằng sông Hồng, thành phố HồChí Minh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, các vùng ven biển miền Trung là những vùng rấtdễ bị thiên tai. Hàng năm, thiên tai như bão nhiệt đới, mưa dông, lũ lụt hay hạn hán đã gâyảnh hưởng rất lớn đến người dân, sinh kế, đất nông nghiệp, chăn nuôi và cơ sở hạ tầng củahọ. Tốn kém về kinh tế: Trong các năm qua, Việt Nam đã có khoảng 6 triệu trường hợp bị nhiễm 6 loại bệnhlây lan theo đường nước và đã phải chi ít nhất là 400 tỷ đồng để trực tiếp chữa chạy cácbệnh tả, thương hàn, lỵ và sốt rét. Ngoài chi phí về y tế, các khoản chi có liên quan đến xử lýcác nguồn tài nguyên nước và các hoạt động làm sạch sau các sự cố dầu tràn cũng rất lớn.Tổng thiệt hại về mặt tài chính do một vụ dầu tràn lớn gây ra trong năm 2001 ước tínhkhoảng 250 tỷ đồng (17 triệu đô la Mỹ) trong khi đó thì chi phí cho việc làm sạch nước và 19
  22. 22. các vùng bãi biển bị ô nhiễm lên tới 60 tỷ đồng (4 triệu đô la Mỹ). Chi phí thiệt hại do thiên tainhư lũ lụt trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2002 gây ra ước tính 18.700 tỷ đồng (hay1,25 tỷ đô la Mỹ). Ô nhiễm môi trường lưu vực do nước thải sinh hoạt từ các khu đô thị Mức độ ô nhiễm từ sinh hoạt cũng không kém từ hoạt động sản xuất công nghiệp, trên LVS Sài Gòn- Đồng Nai hiện nay có đến 116 khu đô thị mỗi ngày thải vào sông khoảng gần 1 triệu m 3 nước có chứa 375 tấn TSS, 244 tấn BOD5, 456 tấn COD, 46 tấn dầu mỡ động thực vật. cùng nhiều vi khuẩn và vi trùng gây bệnh. Ngoài ra, lưu vực sông Sài Gòn- Đồng Nai có đến 75 khu bãi rác thải, hàng ngàn khu chăn nuôi. Hầu hết rác thải ở các tỉnh chưa có hệ thống xử lý và chủ yếu chôn lấp là chính, sự chôn lấp không bảo đảm kỹ thuật làm cho các chất độc hại ngấm vào nước ngầm, hay hòa lẫn cùng nước mưa chảy ra sông suối hòa cùng các chất hóa học từ thuốc trừ sâu, phân bón từ sản xuất nông nghiệp mà cây trồng hấp thu chưa hết đổ ra sông chảy về xuôi... (Nguồn: Báo cáo tổng kết nhiệm vụ "Điều tra, thống kê và lập danh sách các nguồn thải gây ô nhiễm đối với lưu vực hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai", Viện Môi trường và Tài nguyên) Ô nhiễm môi trường lưu vực do nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp Nước thải từ 44 KCN, KCX của các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai, TP.HCM và Bà Rịa- Vũng Tàu thải ra hệ thống sông Sài Gòn- Đồng Nai mỗi ngày lờn đến 111.605m 3 nước thải, trong đó có khoảng 15 tấn TSS, 76,93 tấn COD, 19,68 tấn BOD5, 1,6 tấn Nitơ và 542 kg P tổng làm cho nguồn nước vượt TCCP nhiều lần. Tuy nhiên, tính đến đầu năm 2005, mới chỉ có 16 KCN là có nhà máy xử lý nước thải tập trung. (Nguồn: Báo cáo tổng kết nhiệm vụ "Điều tra, thống kê và lập danh sách các nguồn thải gây ô nhiễm đối với lưu vực hệ thống sông Sài Gòn - Đồng Nai", Viện Môi trường và tài nguyên) 20
  23. 23. Ô nhiễm nước mặt tại đoạn sông Cầu qua thành phố Thái Nguyên Đoạn sông Cầu qua Tp Thái Nguyên có COD trung bình từ 20÷200mg/l vượt TCCP từ 2÷10 lần đối với nguồn loại A (<10mg/l) vượt đế́n gầ̀n 6 lầ̀n đối với nguồn loại B (<35mg/l). Tại khu vực này, tại nhiề̀u vị trí hàm lượng COD đạt đế́n mức độ ô nhiễm rấ́t cao từ 550÷1.576mg/l vượt TCCP đối với nguồn loại B tới 16÷45 lầ̀n. Hàm lượng BOD5 trung bình từ 6÷200mg/l, vượt TCCP từ 1,5÷ 50 lần đối với nguồn loại A (<4mg/l) và đến 8 lầ̀n khi so sánh ở mức B (25mg/l). Tại khu vực này, ô nhiễ̃m hữu cơ có thể̉ đạt đế́n mức cao với BOD 5 từ 310÷490mg/l, vượt TCCP đối với nguồn loại B tới 12÷20 lầ̀n. Tại các điểm thải của nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ; khu gang thép Thái Nguyên có mức độ ô nhiễm cao. Các hợp chất hữu cơ: COD, BOD 5, hàm lượng quỏ cao vượt quá tiêu chuẩn A trung bình từ 2-5 lần (Cam Giá, cống thải Hoàng Văn Thụ, Cầu Loàng, Hương Canh..). Hàm lượng NO2 đó bị ô nhiễm với diện khá rộng và nồng độ cao, trung bình vượt quá tiêu chuẩn A từ 20 - 40 lần, vượt quá tiêu chuẩn B từ 10 - 20 lần, rất nhiều nơi vượt quá tiêu chuẩn A từ 200 - 250 lần, thậm chớ tới 300 lần và vượt quá tiêu chuẩn B tới 50 lần. Dầu cũng là một trong những yếu tố ô nhiễm cao, hầu như không đạt tiêu chuẩn A, rất nhiều nơi không đạt tiêu chuẩn B, thậm chí ở một số nơi vượt qua tiêu chuẩn B tới vài chục lần. Ví dụ về sự ô nhiễm trên lưu vực sông Nhuệ - Đáy Hiện nay, về mùa khô sau khi tiếp nhận nước sông Tô Lịch, lưu lượng nước sôngNhuệ tăng lên, nồng độ các chất ô nhiễm nước sông tăng vọt, sau đó giảm dần do khả năngtự làm sạch của sông nhưng không đáng kể. Nồng độ các chất ô nhiễm ở khoảng cách 20km về phía hạ lưu vẫn cao hơn giá trị ban đầu trong sông Nhuệ (trước điểm nhập lưu ở ĐậpThanh Liệt) đến 1,2-1,5 lần theo BOD5, 2-2,5 lần theo NH3, NO3 và NO2. Fecal Coliform caohơn ban đầu 1,2-1,5 lần. Ô nhiễm độ đục, DO, COD và BOD5 tại các điểm đo ở hạ lưu cao hơn ở thượng lưu. Độ đục ở thượng nguồn sông Đáy nhìn chung đạt tiêu chuẩn cho phép đối với nướcmặt loại A, chỉ có một vài điểm đo có giá trị vượt quá tiêu chuẩn A từ 1,2-1,5 lần. Đoạn từPhủ Lý đến hạ lưu sông Đáy có độ đục khá cao. Tại điểm đo ở Đò Mười, độ đục đạt 178,91mg/l, vượt quá tiêu chuẩn A tới 9 lần, vượt quá tiêu chuẩn B tới 2,5 lần. Hàm lượng DO đoạn đầu từ Liên Mạc đến Cầu Diễn là trên 6,5 mg/l, từ Cầu Diễn vềhạ lưu hàm lượng DO giảm dần, về đến Tó thì lượng DO lại càng giảm mạnh, chỉ khoảng4,5 mg/l. Đặc biệt tại khu vực gần cửa xả sông Tô Lịch DO có giá trị nhỏ hơn 1 mg/l. Đoạn đầu của sông Nhuệ, hàm lượng BOD 5 và COD đều nằm trong tiêu chuẩn chophép loại A (lớn hơn và bằng 4 mg/l). Nhưng đoạn từ Cầu Diễn trở về hạ lưu, các chỉ tiêunày đều vượt quá tiêu chuẩn nguồn nước loại A. Đặc biệt là tại Cầu Tó sau điểm xả nướcthải từ sông Tô Lịch, nồng dộ BOD5 và COD vượt quá từ 5 đến 7 lần so với tiêu chuẩnnguồn nước loại A và cao hơn tiêu chuẩn nguồn nước loại B. 21
  24. 24. Hàm lượng cặn lơ lửng khá cao, có sự biến động mạnh giữa các vùng và các tầng. Tại các điểm lấy mẫu trên sông Nhuệ, hàm lượng cặn lơ lửng đều đạt từ 40-60 mg/l,vượt quá tiêu chuẩn A từ 2-3 lần mặc dù tại thời điểm khảo sát, cống Liên Mạc liên tục mởnên nồng độ các yếu tố trên sông Nhuệ đã được pha loãng. Tại các vị trí đo trên sông Đáy, hàm lượng cặn trung bình đạt từ 30-40 mg/l, vượt quátiêu chuẩn A từ 1,5-2 lần. Hàm lượng cặn lơ lửng lớn nhất tại các điểm đo ở cầu, bến đò,cửa sông đạt từ 44-70 mg/l, vượt quá tiêu chuẩn A từ 2-3,5 lần, có nơi như Đò Mười - TrựcNinh cao gấp 9 lần tiêu chuẩn cho phép. Ở các sông nội thành Hà Nội, độ cặn lơ lửng rất cao, trung bình từ 50-100 mg/l, vượtquá tiêu chuẩn A nhiều lần và vượt quá tiêu chuẩn B từ 2,5 - 5 lần. Ô nhiễm amoni (NH4+) diễn ra trên diện khá rộng trong lưu vực. Tại các vị trí lấy mẫu trên sông Nhuệ, hàm lượng NH 4+ trung bình đạt từ 1,2-1,7 mg/l,vượt tiêu chuẩn A từ 25-33 lần và vượt quá tiêu chuẩn B từ 1,2-1,7 lần. Trên sông Đáy, hàm lượng NH4+ tại các vị trí đo đạt từ 0,06-1,5 mg/l, vượt quá tiêuchuẩn A từ 1,2-30 lần, một số nơi vượt quá tiêu chuẩn B 1,5 lần. Mức độ ô nhiễm NO2 đã đến mức đáng báo động Hầu hết các điểm đo trong lưu vực có giá trị vượt tiêu chuẩn A gấp 4-5 lần thậm chí cónơi đến hàng chục, hàng trăm lần. Tại các vị trí trên sông Nhuệ, hàm lượng NO 2- đạt từ 0,05-1,5 mg/l, cao hơn tiêu chuẩncho phép nhiều lần. Tại các vị trí trên sông Đáy, hàm lượng NO 2- tuy có thấp hơn so vớisông Nhuệ song vẫn không đạt tiêu chuẩn A và rất nhiều nơi không đạt tiêu chuẩn B. 4.6. Những tồn tại và thách thức - Vấn đề đánh giá tài nguyên nước - Sự xem xét mối quan hệ đất – nước – hệ sinh thái - Chính sách và chiến lược nước - Pháp chế và tiêu chuẩn nước - Khung thể chế - Sự tham gia vào kế hoạch quản lý - Phân phối nước và giải quyết tranh chấp 22
  25. 25. Chương III ĐÁNH GIÁ CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT1. CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHUNG 1.1. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội bền vững Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/06/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác vảo vệmôi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước đã đặt việc “Bảo vệ môitrường là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân và toàn quân” lên vị trí hàng đầu, Nghị quyết số41-NQ/TW (ngày 15/11/2004) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết đánh giá tình hình môi trường, nêu lên các nguyênnhân của thành công và yếu kém, đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, 3 mục tiêu, 5 nhiệm vụ chung,2 nhiệm vụ cụ thể và 7 giải pháp bảo vệ môi trường. Một trong các nhiệm vụ được đề cậpđến trong nghị quyết này là “điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên thiên nhiên và có kếhoạch bảo vệ, khai thác hợp lý, bảo vệ đa dạng sinh học”. Các quan điểm về phương hướngchiến lược nêu trong nghị quyết này nhằm mục đích điều chỉnh các hoạt động của xã hộitrong giai đoạn quá độ tiến tới một nền sản xuất công nghiệp và xa hơn nữa là kinh tế trithức. Đây là giai đoạn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất cân bằng giữa phát triển kinh tế và duy trìbảo vệ nguồn tài nguyên nói chung, tài nguyên nước nối riêng. Cho nên, xét một cách toàndiện thì đây là một dạng văn bản định hướng, chiến lược, không phải là một văn bản hướngdẫn nên không đưa ra các hoạt động cụ thể cần thực hiện để đạt được các mục tiêu đề ra. Mục II/phần 4 của Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam đã đề ra 4 hoạt động ưu tiênđối với tài nguyên nước ở Việt Nam: hoàn thiện chính sách và pháp luật; hoạt động về kinhtế; hoạt động kỹ thuật; nâng cao nhận thức. Theo tiêu chí thực tiễn, bất cứ một chính sách nào cũng phải dựa trên sự đòi hỏikhách quan trong quá trình phát triển của xã hội, định hướng phát triển bền vững không nằmngoài quy luật đó. Sự phát triển và quản lý tài nguyên nước được gắn liền với mỗi mục tiêuvà chiến lược quốc gia trong từng thời kỳ. Thành công của chủ trương phát triển bền vữngsẽ đóng góp quan trọng vào việc nâng cao đời sống nhân dân và mỗi ngành kinh tế - xã hội.Điều này đã được khẳng định bằng các kết quả được ghi nhận qua việc cung cấp nước, tíchcực trong hoạt động thủy lợi, phòng chống lũ, lụt tạo thuận lợi để: - Đạt được những thành quả chiến lược trong tăng trưởng lương thực một cách ổn định. Khẳng định các sản phẩm lương thực không chỉ bảo đảm dự trữ quốc gia mà còn tăng nhanh giá trị xuất khẩu (5,2 triệu tấn gạo/năm 2005). Sản lượng gạo qua các năm được trình bày trên bảng 3. 23
  26. 26. Bảng 3. Sản lượng lúa cả năm Sản lượng (nghìn tấn) Năm Chia ra Tổng số Lúa Lúa Lúa mùa đông xuân hè thu 1990 19225.1 7865.6 4090.5 7269.0 1991 19621.9 6788.3 4715.8 8117.8 1992 21590.4 9156.3 4907.2 7526.9 1993 22836.5 9035.6 5633.1 8167.8 1994 23528.2 10508.5 5679.4 7340.3 1995 24963.7 10736.6 6500.8 7726.3 1996 26396.7 12209.5 6878.5 7308.7 1997 27523.9 13310.3 6637.8 7575.8 1998 29145.5 13559.5 7522.6 8063.4 1999 31393.8 14103.0 8758.3 8532.5 2000 32529.5 15571.2 8625.0 8333.3 2001 32108.4 15474.4 8328.4 8305.6 2002 34447.2 16719.6 9188.7 8538.9 2003 34568.8 16822.7 9400.8 8345.3 2004 35867.8 17078.0 10299.9 8489.9 Nguồn: Báo cáo thống kê năm 2004 Bộ NN và PTNT - Tăng vụ, phát triển gieo trồng không chính vụ, cây ăn quả, cây công nghiệp và tăng năng suất cây trồng trên mỗi hecta - Đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển giao loại hình canh tác từ các vùng. Đặc biệt đáp ứng ngày càng nhiều về nhu cầu nước cho sự phát triển đô thị và các vùng công nghiệp, dịch vụ du lịch và thủy sản, cải thiện giao thông nội địa. - Khai thác hiệu quả thủy điện: một số các công trình thủy điện vừa và nhỏ trên các sông nhánh cúng như các công trình thủy điện lớn trên các sông chính như sông Đà, sông Chảy, sông Sê san, sông Ba… đã được xây dựng và cung cấp hơn 12 tỷ kWh điện mỗi năm. 1.2. Chiến lược ngăn ngừa và giảm thiểu thảm họa tự nhiên Mục tiêu phát triển kết hợp với bảo vệ môi trường (trong đó có tài nguyên nước) theophương châm “lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đến môi trường là chính” được thểhiện rõ trong chủ trương của Đảng được đề ra trong nghị quyết 41-NQ/TW. Nhiệm vụ nàyvừa phức tạp, cấp bách và mang tính đa ngành, liên vùng rất cao. Việt Nam nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa có lượng mưa lớn và có nhiều biến cố bấtthường của thời tiết. Việc xảy ra lũ, lụt, trượt lở đất là không thể tránh khỏi. Để giảm thiểu tốiđa tác hại của các thảm họa này, cần phải nắm vững những quy luật, diễn biến, các tácđộng của thời tiết, điều kiện tự nhiên của từng vùng. Những hiểu biết về thảm họa thiên 24
  27. 27. nhiên cần được nâng cao, đặc biệt đối với các nhà hoạch định chính sách ở cấp trung ươngvà địa phương. Các phương án phòng ngừa, khắc phục hiệu quả bão, lụt, lũ quét đã đượcđề cập đến trong các bộ luật hiện hành như luật bảo vệ môi trường, luật tài nguyên nước…Hiện nay, kế hoạch phòng chống lũ, lụt tại đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Mê Kông,trung bộ và cao nguyên Tây nguyên đã từng bước được soạn thảo và hoàn chỉnh. Mạnglưới chống lụt lớn đã được xây dựng và tăng cường hàng năm như: hệ thống đê sông Hồng– Thái Bình, sông Mã, sông Cả…; hệ thống đê biển, cống ngăn mặn ở phía Bắc và bắcTrung bộ; hệ thống đê bao, kênh tiêu lụt ở đồng bằng sông Mê Kông; các hồ chứa lớn nhưhồ Hòa Bình, thác Bà, Trị An, Dầu Tiếng, Phù Ninh, Thác Mơ, Vĩnh Sơn, hồ Bình Điền – TảTrạch (đang xây dựng) … để cắt lụt bảo vệ đời sống nhân dân, hạ tầng cơ sở, và sản xuấttại những đồng bằng quan trọng của quốc gia suốt trong mùa mưa, lụt. Hiệu quả của chiếnlược phòng chống và giảm thiểu tác hại do nước gây ra được thể hiện bằng: khống chế,điều hòa được lượng nước trong lưu vực sông Hồng – Thái Bình trong mùa mưa, tránhđược lụt cho vùng đồng bằng bắc bộ; bảo đảm cuộc sống, duy trì mức độ tăng trưởng nôngnghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long theo phương châm “chung sống với lũ”, bằng biệnpháp chủ động kiểm soát lũ để hạn chế tối đa thiệt hại do lũ gây ra, đồng thời khai thác cácmặt lợi của lũ, vùng ngập lũ đã đóng góp 75% GDP nông lâm thủy sản và 80% sản lượnggạo xuất khẩu của quốc gia; cảnh báo các vùng có nguy cơ bị sụt lở, lũ quét có kế hoạch didân khỏi các vùng nguy hiểm bảo đảm tính mạng cho nhân dân. 1.3. Chính sách xã hội hóa trong quản lý tài nguyên nước Xã hội hóa công tác quản lý tài nguyên nước theo phương châm: nhà nước và nhândân cùng làm chú trọng phát huy nội lực và sức mạnh của toàn xã hội đồng thời khuyếnkhích các nhà đầu tư trong và ngoài nước cùng tham gia vào quá trình đầu tư xây dựng vàkhai thác có hiệu quả tài nguyên nước. Tiến tới dân chủ hoá và thực hiện công bằng xã hộitrong hưởng lợi từ công trình thuỷ lợi. Trong bối cảnh đó việc tăng cường công tác tuyêntruyền giáo dục cho tất cả các tầng lớp nhân dân trên mọi phương diện để họ nhận thứcđược việc xây dựng các công trình khai thác tài nguyên nước phục vụ cho các mục đíchphát triển phải đi đôi với việc quản lý sao cho tương xứng với nguồn vốn đầu tư to lớn củanhà nước, của nhân dân và giá trị của nguồn tài nguyên quí giá này là việc làm cần thiết,đồng thời phải khẳng định rõ: việc quản lý tài nguyên nước là trách nhiệm, nghĩa vụ vàquyền lợi của mỗi người dân. Nguyên tắc Dublin thứ 3 là “phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong việc cung cấp, quản lývà bảo đảm an toàn về nước” đã phần nào nói lên tính chất xã hội hóa của việc sử dụng vàquản lý nguồn nước, nhất là nước phục vụ cho sinh hoạt và nông nghiệp. Các cơ quan chứcnăng không thể kiểm soát được hoàn toàn lượng nước sử dụng và chất lượng nước củatừng vùng do sản xuất tiểu thủ công nghiệp ở nước ta tập trung theo kiểu làng nghề, nuôitrồng thủy sản theo kiểu tự phát, nông nghiệp là kinh tế hộ gia đình. Theo đánh giá củangành thủy sản, nghề khai thác cá biển và nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam được gọi là nghềcá nhân dân. Sự phát triển của nghề cá mang tính chất tự phát và trong suốt một thời giandài chúng ta đã không kiểm soát được sự phát triển này. Theo số liệu của Bộ Thủy sản, năm1981 cả nước mới chỉ có 29.584 tàu gắn máy thì đến cuối năm 2004 chúng ta đã có 85.430chiếc tàu gắn máy (Hình 2). 25
  28. 28. Hình 2. Sự tăng trưởng về số lượng thuyền gắn máy thời kỳ 1981 – 2003. Hằng năm, số lượng tàu thuyền tăng lên liên tục với tốc độ bình quân 2.929chiếc/năm. Sự phát triển này hoàn toàn không dựa trên một căn cứ khoa học về khả năngchịu tải của ngư trường đánh bắt. Về nuôi trồng thủy sản, hiện nay cả nước có 904.9 nghìnha mặt nước được dùng để nuôi trồng thủy sản, trong đó có: nuôi nước ngọt là 268,6 nghìnha (chiếm 30%) và nuôi nước lợ, nước mặn là 636,3 nghìn ha (chiếm 70%). Với định mứcsử dụng khoảng 10.000 m3/ha/năm thì lượng nước để nuôi trồng thủy sản hàng năm ướctính 9 tỷ m3 (bao gồm cả nước ngọt dùng để pha loãng trong nuôi trồng thủy sản nước mặn,nước lợ) chỉ đứng sau nhu cầu sử dụng nước trong nông nghiệp. Việc nuôi tôm nước lợ,nuôi tôm trên cát ven biển đang phát triển rất mạnh, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sôngCửu Long và các tỉnh ven biên miền Trung. Nước dưới đất bị khai thác để nuôi trồng thủysản và các dịch vụ đi kèm thường dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, gia tăng xâm nhập mặn,suy giảm nguồn nước ở vùng xung quanh gây giảm nguồn nước cấp cho sinh hoạt và mộtsố nhu cầu khác. Trong khi đó, ý thức về tính hữu hạn, tính dễ bị tổn thương của tài nguyênnước của từng người sử dụng hầu như chưa được trang bị. Công việc bảo vệ, sử dụng tiếtkiệm tài nguyên nước là một nhu cầu cần thiết trong phát triển bền vững kinh tế - xã hội ởnước ta. 1.4. Sử dụng hiệu quả năng lực và tiềm năng nước mặt và nước ngầm Nhận thức được nguyên tắc Dublin thứ nhất “nước ngọt là nguồn tài nguyên có hạn vàdễ bị tổn thương”, trong nghị quyết 41-NQ/TW đã đưa ra chủ trương “khuyến khích sử dụngtiết kiệm tài nguyên” và “khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phải bảođảm hiệu quả, bền vững và phải gắn với bảo vệ môi trường trước mắt và lâu dài”. Chươngtrình phát triển bền vững (Nghị sự 21 của Việt Nam) đã đề ra việc bảo vệ môi trường nướcvà sử dụng tiết kiệm tài nguyên nước, khai thác và bảo vệ môi trường biển, ven biển, hảiđảo là nhiệm vụ ưu tiên trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường. Như đã phân tích trong mục 2.3, tài nguyên nước ở Việt Nam tuy là tương đối phongphú nhưng không phải là vô hạn. Mặt khác lượng nước phân phối không đều theo khônggian và thời gian trong năm. Trong mùa mưa, lượng nước chiếm 70 – 80% tổng lượng nướchàng năm. Lưu lượng hàng năm chỉ tập trung vào 3-4 tháng mùa mưa, trong khi 4 thánggiữa mùa khô chỉ chiếm 5 – 8%. Bên cạnh đó, lưu lượng tài nguyên nước ngầm có tiềm 26

×