Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

Bcvtvn q3 2014

203 views

Published on

Cung cấp cái nhìn tổng quan về Báo cáo Viễn thông VN Q3/2014

Published in: Technology
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

Bcvtvn q3 2014

  1. 1. MỤC LỤC THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG TRONG NƯỚC PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ CNTT: CẦN TẬP TRUNG NGUỒN LỰC THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG THẾ GIỚI CHƯƠNG I TÌNH HÌNH KINH TẾ VIỆT NAM 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2014 CHƯƠNG II CHƯƠNG III: CHUYÊN ĐỀ CHƯƠNG IV 3 9 38 47 Chịu trách nhiệm nội dung: BÙI QUỐC VIỆT Thư ký: VŨ THANH THỦY Những người thực hiện: TRẦN MẠNH ĐẠT NGUYỄN THÚY HẰNG LÊ THỊ HƯỜNG NGUYỄN THỊ HỒNG VÂN Thiết kế: QN Điện thoại liên hệ: 04.37741551 Email: vtthuy@vnpt.vn
  2. 2. THƯ BAN BIÊN TẬP Kính thưa Quý vị độc giả, Theo số liệu từ Bộ TT&TT tính tới cuối tháng 6 thị trường chỉ còn 119,8 triệu thuê bao di động, thấp hơn 1,3 triệu so với con số ước tính trước đó và cũng chấm dứt giai đoạn lượng thuê bao giảm dần đều từ đầu năm. Bắt đầu từ tháng 7, tổng số thuê bao tăng với biên độ mạnh (so với mặt bằng chung của những tháng trong năm 2014). Chỉ trong vòng 3 tháng, tổng số thuê bao di động phát sinh cước trên cả nước đã tăng thêm 10,7 triệu thuê bao. Trong đó có 6,6 triệu thuê bao 2G và gần 4,1 triệu thuê bao 3G. Nếu như cùng thời điểm này năm trước, thị trường 3G bị xáo trộn mạnh bởi hai đợt tăng giá cước dịch vụ của nhà mạng, nhiều khách hàng bỏ không sử dụng dịch vụ nữa thì năm nay lại hoàn toàn trái ngược. Thị trường hầu hết đều đón nhận những thông tin tích cực như: giá không tăng như dự kiến, nhà mạng liên tục đưa những chính sách mới, gói cước mới để thu hút và tăng mức độ sử dụng dịch vụ của người dùng, gián tiếp giảm giá bằng nhiều hình thức khác nhau (giảm giá nếu đăng ký sử dụng dài hạn, tăng dung lượng giữ nguyên giá…), chuẩn bị nâng cấp tốc độ dữ liệu cho người dùng trên diện rộng… Nhờ đó, số lượng thuê bao 3G trên di động tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng tốt nhất trong số các dịch vụ viễn thông hiện nay. Chiến lược phát triển CNTT thành dịch vụ mũi nhọn của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã được xác định rõ với mục tiêu là CNTT sẽ phải chiếm 40% doanh thu của Tập đoàn. Khi viễn thông đã bão hòa thì CNTT có thể nói chính là cứu cánh trong thời gian tới. Thuận lợi là nhìn chung các doanh nghiệp khác tại Việt Nam đều chưa thật mạnh trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, để hiện thực hóa con số 40% trên thì Tập đoàn còn rất nhiều việc phải làm. Chuyên đề kỳ này của BCVT sẽ cung cấp cái nhìn toàn cảnh về thực lực trong lĩnh vực CNTT của Tập đoàn cũng như những dịch vụ mũi nhọn mà Tập đoàn đang hoàn thiện và phát triển. BBT rất mong sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm đóng góp của Quý vị độc giả cũng như sự hợp tác của đông đảo cộng tác viên để chất lượng nội dung ấn phẩm ngày càng được nâng cao hơn nữa. Xin trân trọng cảm ơn! BBT Báo cáo Viễn thông
  3. 3. Tình hình kinh tế Việt Nam 9 tháng đầu năm 2014 CHƯƠNG I 9 tháng đầu năm 2014, kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định với chất lượng cao hơn. Đà phục hồi kinh tế được duy trì và tốc độ có dấu hiệu chuyển biến nhanh hơn, nhất là trong quý 3/2014, tạo điều kiện thuận lợi để đạt mục tiêu tăng trưởng 5,8% cho cả năm. Tuy nhiên, tổng cầu mặc dù cải thiện nhưng vẫn chưa đủ lực để tạo sức bật cho nền kinh tế và doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, đầu tư tư nhân ở mức thấp. Đối với khu vực ngân hàng, tiến độ xử lý nợ xấu chậm so với kỳ vọng cùng với tổng cầu thấp là nguyên nhân khiến tín dụng tăng chậm. Điều này dẫn đến chênh lệch lãi suất toàn ngành (NIM) giảm, ảnh hưởng đến năng lực tài chính cũng như khả năng trích lập dự phòng xử lý nợ xấu của hệ thống.
  4. 4. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/20144 Toàn cảnh kinh tế 9 tháng đầu năm 2014 Với nhiều giải pháp hỗ trợ thị trường, hạ lãi suất, giảm thuế, bức tranh kinh tế 9 tháng đã có dấu hiệu sáng dần. Tuy nhiên, tình hình vẫn được đánh giá còn nhiều khó khăn, đặc biệt là về ngân sách. 9 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế dần cải thiện, chấm dứt quá trình đi xuống 2 năm liên tiếp. Sản xuất công nghiệp, sức mua trong nước, thu hút FDI và cán cân thương mại cải thiện cũng góp phần làm nên những gam màu sáng hơn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng cân đối vĩ mô chưa thực sự vững chắc, lạm phát dù được kiểm soát nhưng nguy cơ tăng cao vẫn có thể quay trở lại khi sức cầu cải thiện, thu ngân sách cũng được đánh giá khó khăn nhất từ trước đến nay. GDP cả năm có thể đạt 5,4-5,5% Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tốc độ tăng trưởng GDP sau 3 quý ước đạt 5,62% so với cùng kỳ năm 2013. Mục tiêu tăng trưởng của Việt Nam năm nay là 5,8%. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2014 ước tính tăng 5,62% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó quý I tăng 5,09%; quý II tăng 5,42%; quý III tăng 6,19%. Đây là mức tăng cao so với mức tăng cùng kỳ năm 2012 và 2013 cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinh tế. Trong mức tăng 5,62% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,00%, cao hơn mức 2,39% của cùng kỳ năm 2013, đóng góp 0,54 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,42%, cao hơn mức 5,20% của 9 tháng năm 2013, đóng góp 2,46 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 5,99%, mức tăng của cùng kỳ năm 2013 là 6,25%, đóng góp 2,62 điểm phần trăm. Xét về góc độ sử dụng GDP của 9 tháng, tiêu dùng cuối cùng tăng 5,28% so với cùng kỳ năm 2013, đóng góp 4,02 điểm phần trăm vào mức tăng chung (Tiêu dùng cuối cùng của dân cư tăng 5,12%, cao hơn mức tăng 5,02% của cùng kỳ năm trước); tích lũy tài sản tăng 4,84%, đóng góp 1,46 điểm phần trăm.
  5. 5. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 5 Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 9 tháng các năm 2012, 2013 và 2014    Tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước (%) Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng 9 tháng  năm 2014  (Điểm phần trăm)   9 tháng năm 2012 9 tháng  năm 2013 9 tháng năm 2014 Tổng số 5,10 5,14 5,62 5,62 Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 2,50 2,39 3,00 0,54 Công nghiệp và xây dựng 5,76 5,20 6,42 2,46 Dịch vụ 5,66 6,25 5,99 2,62 Sản xuất công nghiệp lấy lại đà tăng trưởng Sau khi chỉ tăng 4,4% trong tháng 8 - mức tăng thấp nhất kể từ sau Tết Nguyên đán, đến tháng 9 chỉ số sản xuất công nghiệp lấy lại đà tăng. Theo đó, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng 9 ước tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, lũy kế 9 tháng tăng 5,4%. Trong mức tăng chung từ đầu năm, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò chủ đạo vẫn tăng 6,8%, song ngành khai khoáng lại giảm do ảnh hưởng của thời tiết. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến sau khi giảm liên tục trong 7 tháng đầu năm cũng đang nhích dần lên trong hai tháng qua (tại thời điểm 1/9 tăng 9,3% so với cùng thời điểm năm trước). Theo chuyên gia trong ngành thống kê, thường những tháng cuối năm sản xuất Biểuđồ1.1(NguồnTCTK)
  6. 6. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/20146 công nghiệp sẽ tăng lên để chuẩn bị cho dịp Tết, bên cạnh đó doanh nghiệp cũng có xu hướng “tích hàng” dần. Sức mua chuyển biến tích cực Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước từ đầu năm đến nay đạt 2.145,5 nghìn tỉ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng vẫn được xem là mức tăng thấp so với những năm trước đó. Theo Tổng cục Thống kê (GSO), tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng 9 ước đạt 244,5 nghìn tỉ đồng, chỉ tăng 0,7% so với tháng trước và tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 186,1 nghìn tỉ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Tương tự, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch trong tháng 9 này ước tính đạt 31.300 tỉ đồng, giảm 0,9% so tháng trước và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 28,9 nghìn tỉ đồng, lần lượt giảm 0,8% so tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 2,4 nghìn tỉ đồng, giảm 2,5% so tháng trước và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tính chung 9 tháng đầu năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước đạt 2.145,5 nghìn tỉ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm ngoái, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,2% thì chỉ cao hơn mức tăng 5,4% của cùng kỳ năm 2013. Trong khi cũng theo số liệu do GSO công bố, vào năm ngoái tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt khoảng 2.618 nghìn tỉ đồng, tăng 12,6% so với năm trước và là mức tăng thấp nhất trong vòng 4 năm trước đó. Nếu loại trừ yếu tố giá, Biểuđồ1.2(NguồnTCTK)
  7. 7. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 7 tổng mức bán lẻ của Việt Nam trong năm 2013 tăng 5,6%, thấp hơn mức tăng 6,5% của năm 2012 nhưng cao hơn mức tăng 4,4% của năm 2011. Như vậy, mức tăng bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong 9 tháng đầu năm nay vẫn còn khá thấp. Theo giới phân tích, mức bán lẻ những tháng đầu năm nay tăng nhẹ là do tình hình kinh tế vẫn còn khó khăn, mặt bằng thu nhập chung cũng bị ảnh hưởng nên người tiêu dùng có xu hướng chi tiêu tiết kiệm hơn. Người tiêu dùng vẫn tập trung mua những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho gia đình, trong khi hàng thời trang hoặc những mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu khác thì bán rất chậm. Các nhà bán lẻ hiện đại cũng cho rằng dù doanh thu từ đầu năm đến nay có tăng so với cùng kỳ năm ngoái nhưng việc tăng trưởng này do hệ thống bán hàng tăng lên, thực chất doanh số riêng từng siêu thị, hoặc từng cửa hàng thì không tăng; đồng thời yếu tố giá cả hàng hóa tăng lên cũng dẫn đến doanh số cao hơn. Giới quan sát cho rằng, từ đầu năm đến nay đã chứng kiến nhiều chương trình xúc tiến bán hàng, khuyến mãi, giảm giá liên tục từ các nhà bán lẻ hiện đại quy mô lớn đến các cửa hàng nhỏ lẻ. Dù hầu hết các siêu thị và trung tâm thương mại thực hiện chương trình khuyến mãi và giảm giá nhiều sản phẩm hàng hóa nhưng sức mua chưa được cải thiện nhiều. Chỉ số giá tiêu dùng có dấu hiệu tăng trở lại Dù sản xuất công nghiệp, sức mua trong nước có dấu hiệu hồi phục, tuy nhiên Chính phủ nhìn nhận nền kinh tế chưa hồi phục vững chắc, lạm phát được kiềm chế nhưng có nguy cơ tăng cao trở lại. Trong hai tháng vừa qua, với việc giá dịch vụ y tế, giáo dục tăng mạnh tại hai thành phố lớn, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng mạnh, gấp 3-4 lần mức tăng tháng trước đó. Biểuđồ1.3(NguồnTCTK)
  8. 8. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/20148 Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2014 tăng 0,40% so với tháng trước, mức tăng cao nhất trong các tháng kể từ tháng 6/2014 (Tháng Sáu tăng 0,30%; tháng 7 tăng 0,23%; tháng Tám tăng 0,22%). CPI tháng Chín tăng chủ yếu do nhóm giáo dục tăng cao ở mức 6,38%, tác động làm chỉ số giá chung tăng 0,39%. Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng chủ yếu do trong tháng có 43 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh học phí các loại theo lộ trình tăng học phí của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định số 49/2010/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ số giá các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có mức tăng thấp hơn: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,32%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,23%, trong đó dịch vụ y tế tăng 0,25%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,22%, trong đó lương thực tăng 0,35%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,21%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; bưu chính viễn thông không biến động nhiều. Nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng và nhóm giao thông có giá giảm so với tháng trước, tương ứng giảm 0,38% và giảm 1,85%. CPI tháng 9/2014 tăng 2,25% so với tháng 12/2013 (Bình quân mỗi tháng tăng 0,25%) và tăng 3,62% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 9 tháng năm nay tăng 4,61% so với bình quân cùng kỳ năm 2013, mức tăng thấp nhất trong 10 năm gần đây. Những yếu tố chủ yếu góp phần giữ ổn định CPI 9 tháng năm nay: (1) Nghị quyết 01/ NQ-CP ngày 02/01/2014 của Chính phủ về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 được các Bộ, ngành và địa phương triển khai tích cực và hiệu quả; (2) Vụ đông xuân và hè thu năm nay được mùa nên nguồn cung lương thực dồi dào; (3) Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới tương đối ổn định. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có những yếu tố ảnh hưởng làm tăng giá tiêu dùng: Điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế tại thành phố Hồ Chí Minh và Tiền Giang; tăng học phí các loại ở 43 tỉnh, thành phố; tăng mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở doanh nghiệp từ ngày 01/01/2014 và tăng giá xăng dầu. Biểuđồ1.4(NguồnTCTK)
  9. 9. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM CHƯƠNG II Nếu 3G được coi là tâm điểm phát triển của thị trường di động thì internet cáp quang FTTH là tâm điểm của thị trường internet cố định. Chỉ trong 8 tháng đầu năm, số lượng thuê bao FTTH đã tăng gần gấp đôi so với con số đạt được cuối năm 2013. Trung bình mỗi tháng cả nước có thêm gần 35 nghìn thuê bao internet cáp quang mới.
  10. 10. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201410 Với những thay đổi lớn về cấu trúc, thị trường viễn thông trong nước, đặc biệt là thị trường di động có những diễn biến hơi khác so với mọi năm. Kế hoạch kinh doanh 6 tháng cuối năm được đẩy nhanh hơn, thực hiện ráo riết hơn. Điều đó thể hiện rõ ràng ngay từ đầu quý 3, thời điểm thu hút đối tượng khách hàng học sinh sinh viên. Tiếp tục nhận biết được những thách thức lớn trước mắt, VinaPhone đã khởi động từ rất sớm nhiều chương trình ưu đãi dành cho học sinh sinh viên. Năm nay cũng đánh dấu một năm MobiFone dành khá nhiều nguồn lực để hút đối tượng khách hàng tiềm năng này, nhằm gia tăng thị phần thuê bao trong bối cảnh vừa tách ra ở riêng. Bên cạnh chương trình bán hàng lưu động, cả ba nhà mạng đều chọn cách tiếp cận với nhà trường để cùng hợp tác phát triển thuê bao. Tuy nhiên, dù các ưu đãi có phần vượt trội hơn, chuẩn bị từ sớm hơn song chính sách hỗ trợ nhà trường cũng như kinh phí dành cho bán hàng không mạnh như các đối thủ, VinaPhone đã bị mất nhiều lợi thế. Trước những hoạt động chạy đua sôi động của các mạng lớn, các mạng nhỏ tiếp tục một quý im hơi lặng tiếng vì có lẽ đã không đủ sức chạy theo. Gmobile gần như không có hoạt động gì, còn Vietnamobile thì đang trong giai đoạn tái cấu trúc để chuyển đổi mô hình đối với đối tác nước ngoài. Điều này khiến thị phần của các mạng nhỏ tiếp tục giảm thêm 0,6% so với quý trước. Vietnamobile cũng ra mắt gói cước dành cho HSSV hoà cùng vào không khí chung, song chỉ mang tính hình thức chứ không thể cạnh tranh nổi so với các đối thủ lớn. Phát triển dịch vụ nội dung trên di động để kích cầu mức sử dụng của thuê bao vẫn là bài toán khó chưa tìm ra lời giải của thị trường di động. Một trong những nguyên nhân chính là hiện trạng phân chia doanh thu giữa CSP và nhà mạng vẫn chưa đủ tạo động lực cho các CSP phát triển những nội dung tốt. Việc Cục Viễn thông ban hành dự thảo về tỉ lệ phân chia này với các mức phân chia cụ thể theo từng mức giá dịch vụ theo hướng có lợi hơn cho các CSP đang được kỳ vọng sẽ giải được phần nào bài toán nói trên. Tuy nhiên, cũng chưa rõ bao giờ dự thảo sẽ được hoàn thiện và chính thức có hiệu lực. Nếu như cùng thời điểm này năm trước, thị trường 3G bị xáo trộn mạnh bởi hai đợt tăng giá cước dịch vụ của nhà mạng, nhiều khách hàng bỏ không sử dụng dịch vụ nữa thì năm nay lại hoàn toàn trái ngược. Thị trường hầu hết đều đón nhận những thông tin tích cực như: giá không tăng như dự kiến, nhà mạng liên tục đưa những chính sách mới, gói cước mới để thu hút và tăng mức độ sử dụng dịch vụ của người dùng, gián tiếp giảm giá bằng nhiều hình thức khác nhau (giảm giá nếu đăng ký sử dụng dài hạn, tăng dung lượng giữ nguyên giá…), chuẩn bị nâng cấp tốc độ dữ liệu cho người dùng trên diện rộng…. Nhờ đó, số lượng thuê bao 3G trên di động tiếp tục duy trì được mức tăng trưởng tốt nhất trong số các dịch vụ viễn thông hiện nay. Cùng với sự phổ biến của 3G, dịch vụ dữ liệu đã chính thức trở thành một dịch vụ TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG
  11. 11. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 11 cơ bản như thoại, sms và được kích hoạt sẵn cho thuê bao. Chính vì vậy, nó cũng bắt đầu được quản lý chất lượng như các dịch vụ cơ bản khác theo những chỉ tiêu trong Quy chuẩn quốc gia về chất lượng dịch vụ internet trên mạng di động IMT-2000 mà Bộ TT&TT vừa ban hành. Quy chuẩn này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/3/2015. Không rõ do những nỗ lực cải thiện cơ cấu gói cước Dcom cũng như ưu đãi gia tăng của Viettel trước đó bắt đầu mang lại kết quả hay do chương trình kích cầu hoàn thành mục tiêu 6 tháng cuối năm đã khiến thị phần thuê bao 3G datacard của nhà mạng này từng bước được cải thiện, góp phần chấm dứt tình trạng sụt giảm liên tiếp thuê bao của lĩnh vực này. Tính tới cuối tháng 8, số lượng thuê bao 3G datacard đã phục hồi về mức đạt được cuối tháng 5, thị phần thuê bao của Viettel đã tăng thêm 3,2%. Nếu 3G được coi là tâm điểm phát triển của thị trường di động thì internet cáp quang FTTH là tâm điểm của thị trường internet cố định. Chỉ trong 8 tháng đầu năm, số lượng thuê bao FTTH đã tăng gần gấp đôi so với con số đạt được cuối năm 2013. Trung bình mỗi tháng cả nước có thêm gần 35 nghìn thuê bao internet cáp quang mới. Luôn được coi là nhà cung cấp đưa ra những chính sách “phá giá” dịch vụ cáp quang, lần này Viettel tiếp tục gây khó khăn cho các đối thủ khác gấp bội khi không còn giảm giá dịch vụ xuống dưới 50% mà là miễn phí hoàn toàn dịch vụ cáp quang cho các trường học trên cả nước. Dù chỉ áp dụng cho đối tượng các đơn vị của Bộ GD&ĐT song chính sách này thực sự đã khiến các ISP nhỏ gần như “bó tay”, còn các ISP lớn như VNPT cũng phải vô cùng chật vật để giữ chân khách hàng của mình. Với danh nghĩa tài trợ, hạch toán vào chi phí tài trợ nên cho tới nay, cơ quan quản lý vẫn chưa tìm ra lý do để tuýt còi chương trình này. Dù Viettel và FPT vẫn tiếp tục lỗi hẹn cung cấp dịch vụ TH cáp song thị trường THTT vẫn vô cùng sôi động, chứng kiến cuộc đua giá cước của các nhà đài khiến việc ban hành các quy định quản lý thị trường này trở nên vô cùng cấp bách. Một số nội dung về Nghị định Quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh truyền hình đã được hình thành với nhiều quy định về giá như cước tối đa, tối thiểu, khung giá cước,… đang gấp rút được hoàn thiện để trình lên Chính phủ vào cuối năm nay. Giá cước cũng chỉ là một trong số những tiêu chí quan trọng cần quản lý. Chắc chắn những nội dung này sẽ còn tiếp tục phải điều chỉnh, song đây chắc chắn sẽ là định hướng để thị trường phát triển đúng hướng. Chí ít nó cũng khiến các nhà đài quan tâm hơn tới phát triển nội dung thay vì chạy theo giảm cước như hiện nay.
  12. 12. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201412 THỊ TRƯỜNG DI ĐỘNG I. THÔNG TIN CHUNG 1. Một vài số liệu thống kê chung về thị trường Theo số liệu thống kê chính thức của Cục Viễn thông, tính tới cuối tháng 6 thị trường chỉ còn 119,8 triệu thuê bao di động, thấp hơn 1,3 triệu so với con số ước tính trước đó và cũng chấm dứt giai đoạn lượng thuê bao giảm dần đều từ đầu năm. Bắt đầu từ tháng 7, tổng số thuê bao tăng với biên độ mạnh (so với mặt bằng chung của những tháng trong năm 2014). Chỉ trong vòng 3 tháng, tổng số thuê bao di động phát sinh cước trên cả nước đã tăng thêm 10,7 triệu thuê bao. Trong đó có 6,6 triệu thuê bao 2G và gần 4,1 triệu thuê bao 3G (Biểu đồ 2.1). Biểuđồ2.1(NguồnMIC) Với những biến động lớn về cấu trúc thị trường viễn thông nên năm nay diễn biến thị trường cũng có phần khác hơn so với mọi năm. Ngay sau khi kết thúc 6 tháng đầu năm, các nhà mạng đã bắt đầu chương trình tăng tốc cho 6 tháng cuối năm với nhiều mục đích khác nhau. Mạng thì nặng về hoàn thành mục tiêu doanh thu, mạng thì thiên về quảng bá thương hiệu. Quý 3 là thời điểm bắt đầu các kỳ thi đại học, cao đẳng nên các nhà mạng đều tranh thủ triển khai các hoạt động giới thiệu sản phẩm dịch vụ hướng tới đối tượng học sinh sinh viên. Như đã đề cập trong số trước, việc tách MobiFone khỏi VNPT là một trong những yếu tố giúp số lượng và thị phần thuê bao của VinaPhone có phần được cải thiện trong quý 2. Vì vậy bước sang quý 3, khi mà việc chia tách đã hoàn thành và đi vào ổn định, các đối thủ cũng tăng tốc nên dù khá nỗ lực, thị phần thuê bao của VinaPhone vẫn bắt đầu giảm xuống (Biểu đồ 2.2).
  13. 13. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 13 Biểuđồ2.2(NguồnMIC) Trong tháng 6, thị phần thuê bao di động nói chung của VinaPhone bắt đầu giảm nhẹ xuống còn 16,6%. Đến tháng 7, thị phần của VinaPhone chỉ còn 15,8% và đến tháng 8 tiếp tục giảm thêm 0,1% còn 15,7%. Tính tới cuối tháng 9, thị phần di động của VinaPhone có sự cải thiện đôi chút song vẫn giảm 0,7% so với con số đạt được cuối tháng 6. Tiếp tục một quý hoạt động trầm lắng, các nhà mạng nhỏ gần như đã hụt hơi trong cuộc đua trên thị trường viễn thông Việt Nam, phải “tạm nghỉ”. Số liệu thống kê tháng 9 cho thấy thị phần thuê bao của hai mạng nhỏ tiếp tục bị giảm thêm 0,5% (tương đương giảm 6.9%) so với cuối tháng 6. Cùng hoà chung với cuộc đua thu hút thuê bao học sinh sinh viên của các mạng lớn, Vietnamobile cũng cho ra mắt bộ sim dành riêng cho sinh viên - SV2014. Tuy nhiên, so với những chính sách ưu đãi dành cho đối tượng này của 3 nhà mạng lớn thì SV2014 hoàn toàn không thể cạnh tranh nổi nên việc ra mắt gói cước chỉ mang tính chất “điểm danh”. Một hoạt động hiếm hoi nữa của Vietnamobile là ra mắt chương trình “Thứ 5 ngày vàng”. Chính sách hoàn lại toàn bộ số tiền thuê bao sử dụng trong ngày thứ 5 vào thứ 3 tuần sau cho thuê bao cũng không giúp nhà mạng này ngăn nổi tình trạng thị phần của nhà mạng này ngày càng giảm sút. 2. Thống nhất tỉ lệ phân chia doanh thu giữa CSP và nhà mạng – lời giải cho bài toán phát triển dịch vụ nội dung trên di động? Dù rằng không còn căng thẳng như trước nữa song tỷ lệ phân chia doanh thu dịch vụ vẫn luôn là vấn đề gây tranh cãi giữa nhà cung cấp nội dung (Content Service Provider - CSP) và nhà mạng, đây được coi là một trong những rào cản chính đối với việc phát triển các dịch vụ nội dung chất lượng cao tại Việt Nam. Giữa tháng 9 vừa qua, Cục Viễn thông đã ban hành dự thảo Thông tư quy định về vấn đề này, đưa ra các tỉ lệ phân chia
  14. 14. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201414 cố định theo giá cước dịch vụ nội dung. Nhưng liệu nó có giúp thị trường nội dung trên di động bước sang một giai đoạn phát triển mới? Vẫn còn quá sớm để trả lời. Không thoả thuận được sẽ áp cứng tỷ lệ phân chia Theo dự thảo Thông thư Quy định về kết nối giữa CSP và nhà mạng mới được ban hành, Bộ TT&TT sẽ để hai bên tự thoả thuận giá cước cũng như tỷ lệ phân chia doanh thu dịch vụ với nhau trên cơ sở đảm bảo khả thi về mặt kỹ thuật để tính cước, đối soát số liệu, phù hợp với lợi ích của hai bên. Nếu hai bên không tự thoả thuận được thì sẽ áp dụng theo đúng các mức phân chia tỷ lệ theo mức cước dịch vụ như theo bảng sau: Giá cước dịch vụ Nhà mạng CSP Dưới 1.000đ 70% 30% Từ 1.000đ đến dưới 10.000đ 50% 50% Trên 10.000đ 30% 70% Cước dịch vụ tính theo ngày/ tuần/tháng 40% 60% Theo đó, tỷ lệ hưởng doanh thu của CSP sẽ tăng dần tuỳ theo mức cước dịch vụ, hay gián tiếp là theo chất lượng dịch vụ nội dung mà họ cung cấp. Càng dịch vụ giá cao thì CSP càng được hưởng phần tỷ lệ phân chia cao hơn. Mức cao nhất mà các CSP được hưởng là 70% doanh thu dịch vụ. Nhìn chung, tỷ lệ phân chia đã tương đối hợp lý, dù chưa giống như ở các quốc gia mà dịch vụ nội dung trên di động rất phát triển như Nhật Bản (CSP có thể hưởng tới 90% tổng doanh thu dịch vụ), song nó phù hợp với hiện trạng phát triển của thị trường Việt Nam. CSP có thêm lợi thế Nếu Dự thảo này được thông qua và ban hành để thực hiện, các CSP sẽ có thêm khá nhiều lợi thế so với hiện nay. Đầu tiên phải kể tới việc doanh thu dịch vụ sẽ tăng thêm nhờ tỉ lệ phân chia với nhà mạng tăng lên. Hiện tại, CSP được hưởng từ 21% - 65% tổng doanh thu dịch vụ nội dung. Nay cả hai mức này đều được tăng lên thành 30% - 70%. Việc phân chia thành nhiều mức cũng khiến các CSP có lợi thế trong việc đàm phán với nhà mạng hơn. Thêm vào đó, các nhà mạng cũng cho biết sẵn sàng chia sẻ cho CSP mức cao hơn nữa với các dịch vụ, ứng dụng thực sự khác biệt, sáng tạo và đem lại lợi ích lớn cho cộng đồng. Ví dụ, mới đây Viettel hứa hẹn doanh thu mà CSP được hưởng có thể lên tới 90% tổng doanh thu dịch vụ. Hiện cũng đã có những dịch vụ nội dung tốt mà CSP đang hưởng mức phân chia doanh thu cao hơn các mức cứng kể trên (dù không nhiều). Một lợi thế nữa phải kể tới là nhiều khả năng chi phí thuê đầu số sẽ giảm đi so với trước. Trước đây, CSP thuê đầu số trực tiếp từ nhà mạng, các đầu số này do Bộ TT&TT cấp cho các nhà mạng để kinh doanh. Vì vậy, gần như chắc chắn giá nhà
  15. 15. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 15 mạng cho CSP thuê sẽ cao hơn mức phí sử dụng đầu số mà nhà mạng đóng cho Bộ TT&TT. Tuy nhiên, theo Dự thảo thông tư này, Bộ TT&TT sẽ trực tiếp cấp đầu số cho các CSP thay vì nhà mạng như trước. Các CSP sẽ nộp lệ phí phân bổ, phí sử dụng đầu số theo quy định nên chi phí thuê đầu số mà CSP phải bỏ ra sẽ thấp hơn so với trước đây. Rõ ràng, chi phí giảm, trong khi doanh thu dịch vụ lại tăng CSP sẽ có nguồn lực tài chính cũng như động lực để phát triển các dịch vụ nội dung chất lượng cao hơn thay vì kiểu “ăn xổi” như hiện nay. Thị trường dịch vụ nội dung di động Việt Nam sẽ bước sang trang mới? Nhìn lại hiện trạng thị trường các dịch vụ GTGT trên nền di động trong quý 3 nói riêng và trong 9 tháng đầu năm nói chung thực sự không tìm thấy điểm nhấn. Vẫn là những chương trình khuyến mại sử dụng các dịch vụ quen thuộc, các chương trình kích cầu sử dụng dịch vụ bằng bốc thăm trúng thưởng, tặng tiền cho người giới thiệu... Các dịch vụ mới ra đời cũng có, song gần như hoàn toàn là các dịch vụ ăn theo thời vụ: ví dụ như bản tin thể thao worldcup, bản tin âm nhạc… Xây dựng được một dịch vụ nội dung tốt, CSP sẽ không chỉ nhận được tỷ lệ phân chia doanh thu cao, mà còn có nhiều cơ hội tăng thêm doanh thu nhờ phát triển mở rộng thêm nhiều nội dung khác trên nền dịch vụ đó. Bankplus là một trong những ví dụ điển hình về một dịch vụ nội dung tốt cũng như tương lai tươi sáng mà CSP nhận được khi xây dựng được nội dung tốt. Vừa qua, dịch vụ này đã nhận được giải thưởng Dịch vụ tài chính tốt nhất khu vực châu Á và đang có khoảng 320.000 người dùng. Ngoài những chương trình kích cầu như thường lệ, trong quý 3 vừa qua Viettel liên tục bổ sung thêm những tính năng tiện ích mới cho dịch vụ này. Ngoài chức năng thanh toán, giờ đây thuê bao còn có thể gửi tiết kiệm, tra cứu số dư, thực hiện tất toán và mua bảo hiểm qua Bankplus. Những thuận lợi cho nhà sản xuất nội dung đã rõ, nhưng liệu nó có đủ thúc đẩy thị trường dịch vụ nội dung cho di động Việt Nam bước sang một trang mới? Vẫn còn quá sớm để trả lời câu hỏi này bởi bên cạnh những thuận lợi, thị trường nội dung cho di động vẫn còn đó những rào cản khác. Một trong số đó phải kể đến là niềm tin của người dùng đối với việc cung cấp dịch vụ và tính cước của nhà mạng. Sau lùm xùm về vụ việc một số dịch vụ được tích hợp sẵn trên sim người dùng và nhà mạng tự động thu tiền cuối năm ngoái, đầu năm nay lại đến vụ việc dịch vụ dạng flash của nhà mạng “ép” người dùng sử dụng dịch vụ. Trong đợt kiểm tra cuối quý 2 vừa qua, thanh tra Bộ TT&TT cho biết một số nhà mạng đã khắc phục được lỗi của dịch vụ Flash, sẽ không gây tình trạng người dùng “mất tiền oan” nữa thì lại đến vụ việc người dùng tố cáo Viettel tự động kích hoạt dịch vụ Anybook và âm thầm trừ cước của hàng triệu thuê bao 9.000 đ/tháng. Vì vậy, nhiều người lựa chọn cho mình cách không dùng thêm dịch vụ nội dung nào trên điện thoại cho “lành”. Giải quyết được vấn đề nội dung dịch vụ đã khó, lấy lại
  16. 16. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201416 niềm tin của người dùng lại càng khó hơn bởi nó là cả một quá trình lâu dài. Thêm vào đó, đây là những tác động tích cực khi mà Dự thảo chính thức được đưa vào áp dụng. Nhưng đến bao giờ Dự thảo sẽ được hoàn thiện và chính thức ban hành vẫn chưa được công bố. Cách đây khoảng hai năm, một dự thảo phương án phân chia doanh thu giữa CSP và nhà mạng cũng đã được đưa ra bàn thảo. Theo phương án này, cước dịch vụ nội dung áp với người dùng sẽ được bao gồm Cước kết nối (A)và phần cước nội dung (B). Nhà mạng sẽ hưởng phần cước kết nối (A) và một phần cước nội dung (x%B, x<50%) Tuy nhiên, sau một hồi bàn luận ồn ã tốn nhiều giấy mực của báo chí, dự thảo mãi không được ban hành! 3. Các mạng chạy đua thu hút học sinh sinh viên Trong hai năm trở lại đây, đối tượng học sinh sinh viên bắt đầu được nhiều nhà mạng chăm chút hơn bởi đây là những khách hàng tiềm năng trong vòng 5 năm tiếp theo. Quý 3 là thời điểm diễn ra kỳ thi đại học và sau đó đồng loạt các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trên cả nước tổ chức nhập học. Vì vậy, tất cả các nhà mạng đều tận dụng cơ hội để tranh thủ thu hút phân khúc khách hàng quan trọng này. VinaPhone : Khởi động từ sớm với gói cước nhiều ưu đãi Ngay từ tháng 6, VinaPhone đã khởi động chương trình khuyến mại dành cho HSSV hoà mạng mới, với nhiều ưu đãi về số tiền cộng định kỳ vào tài khoản hàng tháng, mức cước gọi ưu đãi, đăng ký gói cước ngày giá rẻ và được sử dụng một số dịch vụ GTGT với giá ưu đãi.
  17. 17. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 17 GóicướcdànhchoHSSVcủacácnhàmạng Tiêu chí VinaPhone MobiFone Viettel Tiền và dữ liệu cộng định kỳ hàng tháng 30.000 đ sau 24h kích hoạt. 30.000 đ vào TK định kỳ trong 47 tháng. 150 MB dữ liệu + 50 SMS nội mạng miễn phí trong 47 tháng. 150MB và  30.000đ mỗi tháng  vào ĐK2 trong 12 tháng đầu. 30MB và 25.000đ mỗi tháng kể từ tháng thứ 13 trở đi. Tặng 25.000 đ/tháng và 30 MB dữ liệu/tháng. Cước gọi 690 đ/phút trong 12 tháng đầu. Các tháng sau đó theo mức hiện hành. Theo mức cước hiện hành: Nội mạng/ngoại mạng: 1.180đ/1.380đ Giảm 50% cước gọi cho các thành viên trong nhóm. Ưu đãi khác Được đăng ký một số gói cước giá rẻ. Đăng ký gói MAX với giá 25.000 đ đến hết năm 2015. Miễn phí cước 2 tháng sử dụng toàn bộ dịch vụ âm nhạc của VinaPhone gồm: Chacha Ringtunes, funtalk, MCA… Các tháng còn lại trong suốt thời gian sử dụng gói cước dịch vụ gia tăng kể trên được giảm 50%. Được đăng ký một số gói cước giá rẻ Đăng ký gói MIU chỉ 25.000 đ trong 48 tháng. Miễn phí sử dụng dịch vụ GTGT như: funring, 2learn, uTeen, mMusic… trong 12 tháng. Được mua một số máy điện thoại với giá ưu đãi. Được đăng ký một số gói cước giá rẻ. Đăng ký gói Mimax giá 50.000 đ/tháng Tặng thẻ Bankplus Mastercard. Miễn phí 1 tháng dữ liệu khi truy cập các trang tin và một số dịch vụ như iMuzik, isign, anybook. Sinh viên nghèo được miễn phí 6 tháng. Sau đó cước dịch vụ tính bình thường. So với mọi năm, năm nay VinaPhone triển khai chương trình từ rất sớm để tranh thủ tư vấn rõ hơn cho những thuê bao tiềm năng về sản phẩm dịch vụ của mình, giúp người dùng so sánh và đưa ra quyết định lựa chọn dịch vụ chính xác hơn, thay vì chỉ dựa vào thương hiệu như nhiều năm trước đây. Công tác chuẩn bị sim đưa về các chi nhánh cũng như lên phương án bán hàng cũng được bắt đầu từ sớm nhằm nỗ lực phát triển được nhiều thuê bao hơn. Ngoài việc tổ chức các gian hàng bán hàng lưu động, giới thiệu dịch vụ tại các cổng trường, VinaPhone cũng là một trong những nhà mạng sớm nhất tới liên hệ với các trường để đặt vấn đề hợp tác phát triển thuê bao. Tuy nhiên chính sách hỗ trợ các trường không mạnh như các đối thủ khác cũng như chưa chậm chân trong việc phát triển kịp
  18. 18. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201418 một số dịch vụ đi kèm theo nhu cầu của nhà trường khiến VinaPhone mất đi nhiều lợi thế. MobiFone: Dành nhiều công sức hơn Có lẽ do sự giảm sút thuê bao nhanh chóng do tách khỏi VNPT trong những tháng của quý 2 nên năm nay MobiFone dành nhiều công sức và nguồn lực hơn hẳn mọi năm để thu hút thuê bao HSSV. Bắt đầu chậm hơn, các ưu đãi của gói cước cũng có phần kém hơn so với VinaPhone song MobiFone lại nhanh chóng giải quyết bài toán phát triển các dịch vụ GTGT mà nhà trường cần nên đã hợp tác được với khá nhiều trường để phát triển thuê bao. Trong khoảng thời gian này, MobiFone đã ký kết thoả thuận hợp tác với hàng loạt trường ĐH trên cả nước như: ĐH Sư phạm Hưng Yên, ĐH Hồng Đức, ĐH kinh tế Nghệ An, ĐH Nông nghiệp, ĐH Thành Đô…. Theo đó, MobiFone sẽ cung cấp miễn phí cho các trường ĐH giải pháp quản lý E.ONE SMS, hỗ trợ kênh thông tin trong quá trình công tác quản lý, đào tạo, nhắn tin thông báo tới CBCNV, sinh viên, phụ huynh. Đây là một trong những giải pháp mà VinaPhone đã nắm bắt được nhu cầu nhưng không phát triển giải pháp nhanh bằng MobiFone nên đã bị mất lợi thế. Ngoài ra MobiFone sẽ hỗ trợ nhà trường tiếp nhận sinh viên thực tập giữa kỳ, trao đổi nói chuyện về công nghệ cũng như đào tạo một số kỹ năng thực tế tại MobiFone. Ngược lại, nhà trường sẽ tạo điều kiện cho MobiFone tổ chức hoạt động truyền thông trong trường (mà thực tế ở đây là không cho các nhà mạng khác vào trong khu vực sân trường), hợp tác với MobiFone để phát triển thuê bao di động cho CBCVN cũng như sinh viên trong trường (tức là trở thành một đầu mối phát triển thuê bao). Cách thức này của MobiFone đã giúp nhà mạng vẫn phát triển được một lượng lớn thuê bao dù gói cước không mấy hấp dẫn. Viettel: cấp kinh phí tiếp xúc và giảm giá dịch vụ cho các trường Với thương hiệu khá tốt về gói cước dành cho HSSV đã gây dựng được trong 5 năm qua, năm nay Viettel tiếp tục triển khai chương trình như thường lệ, không có nhiều điều chỉnh sửa đổi. Gói cước nếu so với hai đối thủ còn lại thì mức ưu đãi hàng tháng kém hơn nhiều (đặc biệt là so với VinaPhone), giá dịch vụ Mobile Internet sau ưu đãi vẫn cao gấp đôi so với các mạng khác. Viettel cũng tiếp cận các trường đại học như các nhà mạng khác. Tuy không được mạnh và bài bản như MobiFone, song so với VinaPhone thì Viettel cũng đầu tư hơn. Ví dụ, Viettel hỗ trợ mỗi chi nhánh 4 triệu đồng kinh phí tiếp xúc một trường, mỗi thuê bao phát triển mới được chiết khấu ở mức tương đối cao - 13.500 đ. Ngoài ra, Viettel cũng đồng thời giảm 30% giá dịch vụ gửi SMS cho học sinh và phụ huynh học sinh cho nhà trường. Vì vậy, tại nhiều trường ĐH, Viettel cũng được quảng bá sản phẩm dịch vụ trong sân trường. Còn VinaPhone thì không được vào, phải chốt ở ngoài cổng trường, hoặc giới thiệu dịch vụ ở khu vực ký túc xá.
  19. 19. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 19 4. Khách hàng roaming được quan tâm nhiều hơn Bên cạnh các giải pháp tăng tốc phát triển thuê bao, các nhà mạng đồng thời cũng phải triển khai những biện pháp để giữ chân khách hàng, đặc biệt là những khách hàng có mức tiêu dùng cao. Trong quý này, thuê bao sử dụng dịch vụ roaming là đối tượng chăm sóc khá kỹ. Tất cả các nhà mạng đều đưa ra những chính sách, tiện ích giúp cho khách hàng thuận tiện hơn trong việc đăng ký, quản lý dịch vụ hoặc giảm bớt chi phí dịch vụ trong khi vẫn đảm bảo nhu cầu liên lạc. VinaPhone hướng tới việc mở rộng các tiện ích, tạo sự thuận tiện hơn cho thuê bao sử dụng dịch vụ này. Ngay trong tháng 7, nhà mạng này đã triển khai hệ thống cảnh báo và khoá trực tuyến dịch vụ roaming dữ liệu. Theo đó, thuê bao roaming sẽ được cảnh báo trực tuyến, theo thời gian thực khi lưu lượng dữ liệu phát sinh đạt tới các ngưỡng (80% hoặc 100% tổng lưu lượng gói đăng ký) thay vì cảnh báo được gửi sau một khoảng thời gian trễ nhất định như trước kia (gây phát sinh thêm chi phí). Ngay khi lưu lượng sử dụng đạt 100% mức đăng ký, dịch vụ sẽ tự động bị khoá. Nếu có nhu cầu sử dụng tiếp thì khách hàng phải gửi tin nhắn mở lại dịch vụ. Hệ thống mới này sẽ giúp giải quyết được tình trạng phát sinh cước ngoài ý muốn, ngoài kiểm soát của các thuê bao – nguyên nhân của hầu hết các khiếu nại liên quan tới dịch vụ này từ trước tới nay. Thủ tục đăng ký sử dụng dịch vụ cũng đang dần được VinaPhone đơn giản hoá hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng có nhu cầu. Trước đây, muốn đăng ký sử dụng dịch vụ, thuê bao phải đem CMND, hợp đồng dịch vụ tới phòng giao dịch và đặt cọc tối thiểu là 5.000.000 đ mới được sử dụng dịch vụ. Bắt đầu từ tháng 8/2014, chỉ các thuê bao trả sau mới hoà mạng (dưới 180 ngày) mới phải làm các thủ tục này. Còn tất cả thuê bao trả trước đang hoạt động hai chiều (có tối thiểu 100.000 đ trong tài khoản) và thuê bao trả sau (hoạt động trên 180 ngày) đều có thể đăng ký sử dụng dịch vụ trực tuyến hoặc qua SMS là có thể bắt đầu sử dụng dịch vụ. Viettel thì lại giữ chân khách hàng bằng cách cung cấp tiện ích gọi lại khi đang roaming (Roaming callback), giúp giảm chi phí cho thuê bao. Theo đó, thuê bao roaming khi muốn liên lạc với một thuê bao Viettel khác trong nước có thể gửi yêu cầu liên lạc kèm số thuê bao cần liên lạc lên hệ thống. Hệ thống sẽ thực hiện một cuộc gọi lại để kết nối hai thuê bao với nhau. Cước gọi lại chỉ 2.000 đ/phút + cước nhận cuộc gọi từ 2.420 đ - 12.100 đ/phút, tính ra vẫn rẻ hơn cước phải trả khi thuê bao roaming gọi trực tiếp về. Cách thức này cũng sẽ hỗ trợ các thuê bao roaming thực hiện được cuộc gọi về nhà nếu đang roaming với các mạng mà mới chỉ hỗ trợ chiều nhận cuộc gọi, chưa hỗ trợ chiều gọi về nước. Từ cuối năm 2010, Viettel đã cung cấp tính năng này ở phiên bản sơ khai. Khi đó, hệ thống sẽ gửi SMS tới thuê bao trong nước và để họ tự gọi lại. Nhà mạng này cho biết đang tiếp tục nghiên cứu để tính năng này có thể hỗ trợ để thuê bao roaming gọi về cho các thuê bao trong nước thuộc mạng khác. MobiFone cũng có động thái chăm sóc đối tượng khách hàng này, song không được sốt sắng như hai đối thủ. Trong tháng 8, nhà mạng cũng bắt đầu cung cấp công
  20. 20. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201420 cụ quản lý cước chuyển vùng quốc tế cho thuê bao sử dụng dịch vụ roaming dữ liệu (sử dụng gói không giới hạn) để tránh phát sinh cước ngoài gói. Thuê bao sẽ chỉ sử dụng được dịch vụ ở những mạng trong danh sách gói cước hỗ trợ, còn ở các mạng khác thuê bao phải tự đăng ký chuyển. Ngay trong tháng 9, VinaPhone cũng có động thái tự với gói cước tương tự song ưu điểm hơn là nhà mạng này cho phép thuê bao đăng ký sử dụng miễn phí tính năng này qua SMS. Trước sự phổ biến rầm rộ của các dịch vụ OTT (Viber, Zalo, KaKao Talk, Skype, WhatsApp… ) cho phép người dùng có thể gọi điện, nhắn tin miễn phí gọi thoại, chat video xuyên biên giới, miễn là truy nhập internet, mang đến cho người dùng nhiều lựa chọn giá rẻ hơn so với các dịch vụ roaming của nhà mạng. Cạnh tranh về giá thành là điều không thể nên các nhà mạng phải tập trung vào chất lượng và sự thuận tiện đem lại cho khách hàng. Dù chắc chắn bấy nhiêu là không đủ kéo lại những khách hàng đang sử dụng OTT song những động thái kể trên cũng đánh dấu sự nỗ lực cải thiện của các nhà mạng. 5. Viettel triển khai chương trình tri ân khách hàng hoành tráng nhất từ trước tới nay Việc hai đối thủ cạnh tranh chính đang bị phân tâm vào việc tái cơ cấu tổ chức mở ra cơ hội “vàng” để Viettel tranh thủ đẩy mạnh hoạt động truyền thông quảng bá thương hiệu cho mình. Viettel đã và đang tận dụng cơ hội này và hướng tới xây dựng những hình ảnh khác trong lòng khách hàng như DN vì cộng đồng, vì khách hàng. Tuy nhiên, điều đó không dễ dàng nếu không xuất phát từ thực chất. Ngẫu nhiên năm nay cũng là một dấu mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của Viettel – 10 năm hoạt động. Không rõ yếu tố nào có tác động mạnh hơn song chương trình tri ân khách hàng năm nay của Viettel được tổ chức hoành tráng nhất từ trước tới nay. Chương trình dự kiến có thời lượng khoảng 100 phút, có ứng dụng công nghệ 3D Mapping (công nghệ trình chiếu tạo thành các hình khối 3D có hình dạng, kích thước như thật) kết hợp trình diễn nghệ thuật với khách mời là các ca sĩ danh tiếng, được tổ chức tại Dinh Thống Nhất, tp.HCM. Trong chương trình, Viettel sẽ tặng nhiều giải thưởng khác với tổng trị giá hơn 3,5 tỷ đồng cho những khách hàng đã có ý kiến đóng góp giúp làm mới, cải thiện chất lượng dịch vụ của Viettel. Nhà mạng này cũng tuyên bố kể từ năm nay, ngày 15/10 hàng năm sẽ được Viettel lấy làm “Ngày hội Lắng nghe” để tri ân khách hàng. Việc tường thuật trực tiếp trên sóng truyền hình quốc gia một chương trình tri ân khách hàng của một DN là điều khá hiếm thấy. Thế nhưng năm nay chương trình tri ân khách hàng này của Viettel sẽ được phát sóng trực tiếp trên một trong những kênh truyền hình quảng bá phổ biến nhất hiện nay - VTV1. Ngoài nội dung chương trình hoành tráng nêu trên, điều này càng cho thấy mức độ đầu tư để quảng bá hình ảnh của Viettel năm nay lớn ra sao. Và chắc chắn, hiệu ứng lan toả của nó sẽ tương xứng với những gì mà họ bỏ ra.
  21. 21. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 21 Tiếp tục đề xuất giảm cước di động – Viettel không được chấp nhận Sau khi kiến nghị giảm cước gọi liên mạng ngang bằng với cước gọi nội mạng vào cuối quý 2 không được phê duyệt, vừa qua Viettel lại tiếp tục đề xuất phương án giảm cước này lên Bộ TT&TT một lần nữa. Như đã phân tích trong ấn phẩm kỳ trước, việc đề xuất giảm cước của Viettel dù có được phê duyệt hay không thì DN này cũng có ưu thế hơn so với hai đối thủ còn lại: - Nếu được phê duyệt: với số lượng thuê bao gấp đôi so với hai đối thủ còn lại Viettel lỗ 1 thì VinaPhone và MobiFone lỗ 2. Theo số liệu Viettel công bố, họ dự kiến sẽ mất khoảng 80 tỉ doanh thu mỗi tháng vì giảm cước gọi liên mạng, tương VinaPhone và MobiFone sẽ lỗ trên dưới 160 tỉ một tháng. - Nếu không được phê duyệt: Viettel sẽ lại được tiếng là vì quyền lợi người tiêu dùng, doanh nghiệp làm ăn hiệu quả và lần này chắc chắn hiệu quả sẽ cao hơn lần trước. Trong khi điều ngược lại sẽ đến với VinaPhone và MobiFone. Thêm vào đó, trong khi còn đang bộn bề với việc tái cơ cấu, việc rà soát lại giá thành sản xuất dịch vụ sau khi việc chia tách còn mới ở giai đoạn đầu, cũng như báo cáo, đề xuất về vấn đề này với Bộ TT&TT về mặt nào đó cũng sẽ tạo thêm khó khăn cho MobiFone và VinaPhone. DN vì cộng đồng – Một “chiêu” không thực lòng Vài năm trở lại đây, Viettel bắt đầu tham gia một số chương trình hoạt động vì cộng đồng như: Chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho người dân ở các vùng khó khăn, hỗ trợ kinh phí cho chương trình Trái tim cho em… và đã bước đầu xây dựng được hình
  22. 22. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201422 ảnh một DN có trách nhiệm với cộng đồng. Mấy ngày nay, báo chí cả nước đồng loạt phản ánh việc Viettel “kinh doanh núp bóng từ thiện” thông qua việc triển khai chương trình “Bò giống giúp người nghèo biên giới”. Những con số phân tích cho thấy, Viettel thực chất là làm ăn chứ không phải làm từ thiện như những lời quảng cáo bóng bẩy khi khởi động chương trình này. Đây là một “chiêu” không thực lòng vì cộng đồng. Chương trình “Bò giống giúp người nghèo biên giới” sẽ tặng bò cho các hộ nghèo thuộc 11 tỉnh phía Bắc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Thanh Hoá, Nghệ An và Yên Bái) để giúp người dân ở đây có phương tiện sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống. Số lượng bò sẽ được quy đổi dựa trên việc các tỉnh thành tự nguyện mua và sử dụng các dịch vụ thông tin của Viettel để tạo nguồn kinh phí. Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ như: Di động trả sau, Dcom trả sau, Internet băng thông rộng, Gói FTTH cơ quan đơn vị hoặc dịch vụ truyền hình chất lượng cao Next TV. Tùy theo từng loại dịch vụ, khách hàng đóng những khoản tiền và bắt buộc phải dùng trong một khoảng thời gian nhất định. Cũng tùy theo từng loại dịch vụ, mà Viettel quy đổi ra số lượng bò. Ví dụ: 15 thuê bao di động trả sau sử dụng gói cước 150.000 đ/tháng cam kết dùng dịch vụ trong 36 tháng sẽ tương đương với 1 con bò; 15 thuê bao Dcom trả sau gói Dmax 150 quy đổi 1 con bò. Tùy theo chỉ tiêu đặt ra về số lượng bò tặng, Viettel sẽ giao chỉ tiêu tương ứng phát triển thuê bao cho từng tỉnh. - Doanh thu tối thiểu Viettel thu được trong vòng 36 tháng (thời hạn bắt buộc đăng ký) nếu đăng ký sử dụng dịch vụ di động: 15 x 150.000 đ/tháng x 36 tháng = 81.000.000 đ. - Chi phí mua bò: 15.000.000 đ/con. Như tính toán sơ bộ ở trên, số tiền Viettel thu về cao gấp 5,4 lần so với chi phí bỏ ra. Các dịch vụ khác cũng tương tự. Dù rằng số tiền này Viettel không thu được ngay song dù trong vòng 3 năm thì lợi nhuận thu được vẫn rất lớn. Dù mới chỉ triển khai ở Quảng Ninh nhưng cách thức triển khai (Ban chỉ đạo của tỉnh áp cứng chỉ tiêu phát triển thuê bao về các đơn vị sự nghiệp, các DN lớn trên địa bàn tỉnh) đã khiến nhiều người mất niềm tin vào nhà mạng. Không thể “phủi” hết những gì mà Viettel đã làm vì cộng đồng ở những chương trình khác. Tuy nhiên, việc quá coi trọng mục tiêu kinh doanh trong chương trình lần này sẽ khiến người dùng hoài nghi hơn trong những chương trình lần sau Viettel tổ chức cũng như những cam kết, phát ngôn vì cộng đồng của nhà mạng này.
  23. 23. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 23 THỊ TRƯỜNG 3G 1. Một vài số liệu thống kê thị trường Số lượng thuê bao 3G tiếp tục đà tăng trưởng ổn định từ đầu năm tới nay. Theo số liệu thống kê của Cục Viễn thông, tính tới hêt tháng 9, Việt Nam đã có 26,5 triệu thuê bao 3G, trong đó 88% (tương ứng với 23,3 triệu thuê bao) là người dùng 3G trên di động (biểu đồ 2.3). Như vậy, sau 9 tháng thị trường đã có thêm 6,8 triệu thuê bao 3G (trong đó thuê bao 3G trên di động tăng 6,8 triệu, thuê bao 3G sử dụng datacard lại quay trở về mốc đạt được cuối năm ngoái). Biểuđồ2.3:Tăngtrưởngthuêbao3G9thángđầunăm2014(NguồnMIC) Kết quả khảo sát của một vài hãng về thị trường Việt Nam gần đây càng thêm phần khẳng định số lượng thuê bao 3G trên di động cũng như mức độ sử dụng internet trên di động của các thuê bao sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới nhờ tỉ lệ người dùng smartphone tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng. Khảo sát về hành vi trực tuyến của người dùng Việt Nam 2014 của Google cho biết tỷ lệ sử dụng smartphone tại Việt Nam hiện đạt khoảng 36%, tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm 2013. Đặc biệt tỷ lệ này ở giới trẻ (từ 16 – 24 tuổi) hiện là 58%. 76% người dùng smartphone cho biết họ truy nhập internet trên thiết bị của mình mỗi ngày. Trước đó, đầu tháng 7 công ty nghiên cứu thị trường GfK cũng cho biết tỉ lệ điện thoại phổ thông được tiêu thụ tại Việt Nam đang giảm nhanh chóng. Trong 5 tháng đầu năm 2014, số lượng điện thoại phổ thông được tiêu thụ chỉ còn chiếm chưa tới 13% tổng số điện thoại được bán ra trên thị trường. Chính Bộ TT&TT cũng cho biết, dữ liệu hiện đã trở thành một dịch vụ cơ bản trên di động, tương tự như thoại và SMS. Chính vì vậy, cho đến thời điểm này, tất cả các nhà mạng đều mở dịch vụ dữ liệu ngay khi sim được kích hoạt cho người dùng sử dụng và thuê bao có thể sử dụng dịch vụ ngay sau khi sim kích hoạt chứ không phải đăng ký như
  24. 24. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201424 trước đây. Điều này cũng giúp người dùng dễ dàng tiếp cận dịch vụ hơn, giúp số lượng thuê bao 3G gia tăng. Sau khi giảm dần đều và chạm đáy trong tháng 6, có lẽ việc nhanh chóng triển khai các chương trình tăng tốc 6 tháng cuối năm của tất cả các mạng đã giúp số lượng thuê bao 3G sử dụng datacard bắt đầu tăng trở lại và đã đạt được con số thuê bao cuối năm ngoái. Tuy nhiên về lâu dài, dịch vụ sẽ khó có sự bứt phá bởi sự phổ biến và tiện dụng của smartphone cũng như các hình thức phủ sóng wifi đang ngày càng được ưa chuộng hơn. Cùng với việc dành ưu thế trong phát triển thuê bao học sinh sinh viên (có các ưu đãi về đăng ký dịch vụ 3G), xây dựng và hoàn thiện hệ thống kênh bán hàng cấp xã trên toàn quốc, thị phần thuê bao 3G của Viettel tiếp tục tăng lên so với quý trước. Tính đến cuối tháng 9, Viettel chiếm tới 53,3% tổng số thuê bao 3G trên cả nước (Biểu đồ 2.4). Biểuđồ2.4(NguồnMIC) Với những nỗ lực quyết liệt hơn trong tháng 9, thị phần 3G của VinaPhone đã quay đầu tăng trở lại sau khi giảm liên tục kể từ tháng 5. 2. Nhà mạng đồng loạt công bố nâng tốc độ dịch vụ lên gấp 6 lần Trước hàng loạt những kiến nghị của các nhà cung cấp thiết bị về việc Việt Nam cần bắt tay vào chuẩn bị cho 4G để có thể đáp ứng được nhu cầu người dùng đang ngày càng gia tăng, các nhà mạng đã trả lời bằng việc bắt tay vào thực hiện nâng cấp hệ thống lên 3,5G, cho phép cung cấp các dịch vụ với tốc độ cao gấp 6 lần so với tốc độ trung bình mạng 3G đang hỗ trợ - 42 Mbps. Tốc độ này tương đương với chất lượng dịch vụ của một số gói cước internet cáp quang.
  25. 25. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 25 VinaPhone là nhà mạng đầu tiên công bố đã thử nghiệm triển khai thành công công nghệ DC-HSDPA (3,5G), cho phép tốc độ download dữ liệu có thể lên tới 42 Mbps. Hiện VinaPhone đã thử nghiệm thành công việc tăng tốc độ truy cập 3G tại một số trạm thu phát sóng tại 3 thành phố lớn Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh và mục tiêu tới đầu năm 2015 sẽ triển khai rộng khắp trên toàn quốc cho toàn bộ gần 13.000 trạm 3G của nhà mạng này. VinaPhone còn cho biết đang cùng làm việc với các nhà cung cấp thiết bị để thử nghiệm nâng tốc độ dịch vụ lên tới 84 Mbps để có thể thoả mãn tối đa nhu cầu của người dùng. Chỉ vài ngày sau đó, Viettel cũng cho biết mình cũng đã thử nghiệm thành công việc nâng cấp tốc độ dịch vụ 3G lên 42 Mbps dù không mô tả chi tiết về công nghệ sử dụng. Nhà mạng này cho biết hiện đang thực hiện khai báo cho 13 tỉnh/thành phố khu vực miền Tây Nam Bộ (tại các khu vực trung tâm) và theo lộ trình, nhà mạng này sẽ nâng cấp xong toàn bộ các tỉnh còn lại vào đầu năm 2015. Đồng thời với công bố này, Viettel đã cung cấp thử nghiệm dịch vụ với tốc độ nêu trên tại một cửa hàng tại Cần Thơ, cho phép người dùng trải nghiệm thử chất lượng dịch vụ khi tốc độ kết nối được nâng lên nhiều lần so với trước đây. MobiFone là nhà mạng cuối cùng công bố thông tin này và cho biết đã hoàn thành dự án nâng cấp 1.000 trạm phát sóng 3G lên tốc độ 42 Mbps ở khu vực Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai. Dự kiến đến hết tháng 09/2014, MobiFone cũng sẽ đưa vào khai thác thêm gần 1.000 trạm phát sóng nữa tại các khu vực Đà Nẵng, Cần Thơ,… nâng tổng số trạm phát sóng 3G tốc độ 42Mbps của MobiFone lên gần 2.000 trạm tại nhiều khu vực trên cả nước. Ngoài ra, nhà mạng này còn công bố thử nghiệm thành công việc triển khai mạng 3G trên băng tần 900MHz mà trước đó Bộ TT&TT đã cấp phép cho một số nhà mạng thực hiện. Nếu thực hiện triển khai mạng 3G trên băng tần này, tốc độ download/upload dữ liệu sẽ tăng khoảng 10%, dung lượng hệ thống tăng 25%, tỉ lệ rớt cuộc gọi giảm, chất lượng phủ sóng trong các toà nhà tăng… MobiFone dự định sẽ triển khai mạng ở băng tần 900 MHz vào cuối năm 2015. Càng những nhà mạng công bố sau, quy mô trạm phát sóng được thử nghiệm hoạt động với tốc độ này càng lớn, thời gian dự kiến nâng cấp để chính thức cung cấp dịch vụ tốc độ cao tới khách hàng càng gần hơn. Dù chưa biết các nhà mạng có thực hiện được theo đúng tiến độ đặt ra hay không, song nó cũng cho thấy rằng thị trường 3G Việt Nam đang đi theo đúng lộ trình phát triển. Mặc dù 4G đang được rất nhiều nhà mạng trên thế giới, trong đó không ít nhà mạng khu vực châu Á bắt tay vào triển khai. Số lượng thuê bao 3G cũng đang tăng trưởng khả quan nhưng với mức tăng trưởng ấy, 3,5G là phù hợp trong một vài năm nữa. 3. Tăng cường các gói mua thêm giá rẻ, ưu đãi cho người sử dụng dài hạn Bên cạnh các hình thức thu hút thuê bao mới, hàng loạt cách thức đã được sử dụng để kích cầu thuê bao di động nói chung đang được áp dụng cho thuê bao 3G. Trong 3 tháng vừa qua, hai hình thức điển hình được các nhà mạng áp dụng là ra mắt các gói
  26. 26. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201426 cước mua thêm dung lượng dữ liệu giá rẻ và ưu đãi cho thuê bao đăng ký sử dụng dịch vụ dài hạn. Thêm các gói giá rẻ cho các nhu cầu khác nhau Trước đây, nhà mạng cũng đã có một vài gói cước dạng này, song mới chỉ chung chung, hoặc cho một vài đối tượng khách hàng nhất định. Tuy nhiên, với những đối tượng khác nhau, nhu cầu mua thêm cũng khác nhau nên nhà mạng đang từng bước phân khúc những gói cước mua thêm dung lượng giá rẻ ấy dành cho những nhóm khách hàng nhỏ hơn. Ví dụ, trước đó VinaPhone đã ra mắt gói cước ngày giá rẻ D1 (1Gb dữ liệu, giá 5.000 đ/lần đăng ký) dành cho các thuê bao có nhu cầu sử dụng dịch vụ ở tốc độ cao đột xuất, ngắn hạn. Vừa qua, VinaPhone tiếp tục cho ra mắt thêm 2 gói cước X.19 và X.29 trị giá 19.000 đ và 29.000 tương ứng với 350 MB và 550 MB dữ liệu vào tài khoản. Gói cước này lại hướng tới các thuê bao đã đăng ký gói thuê bao mobile internet không giới hạn MAX, song đã sử dụng hết 600MB dữ liệu ở tốc độ cao trong khi vẫn còn nhu cầu sử dụng dịch vụ ở tốc độ cao trong các ngày còn lại của chu kỳ cước, nhu cầu này lại không tập trung vào một ngày để mua gói D1. Với đặc điểm là thời hạn của hai gói này bằng đúng số ngày còn lại trong chu kỳ của gói MAX thuê bao đã đăng ký, gói cước phù hợp với những đối tượng kể trên. Viettel thì lại bổ sung gói cước mua thêm dành cho các thuê bao đăng ký gói mobile internet giới hạn. Như vậy, hiện nhà mạng này đã có gói cước mua thêm giá rẻ dành cho tất cả các thuê bao 3G của mình gồm có: Thuê bao Dcom, thuê bao mobile internet có giới hạn và không giới hạn. Góicướcmuathêmdànhchothuêbao3Gsửdụnggóicướckhônggiớihạn Nhà mạng Giá tiền – dung lượng Thời hạn VinaPhone D1: 5.000 đ/ngày - 1GB (thời hạn 1 ngày) X19: 19.000 đ – 350 MB X29: 29.000 đ – 550 MB Thời hạn còn lại của gói cước không giới hạn đã đăng ký Viettel 10.000 đ – 100 MB 20.000 đ – 200 MB 30.000 đ – 500 MB Gói cước MT1 mới được bổ sung dành cho thuê bao đăng ký gói mobile internet giới hạn có giá 8.000 đ/ngày tương ứng với 150 MB dữ liệu cộng thêm vào tài khoản. Đánh giá sơ bộ thì gói cước này không rẻ lắm so với gói cước tương tự khác của các nhà mạng khác và cũng chỉ hướng tới một bộ phận thuê bao rất nhỏ bởi đa số thuê bao 3G hiện nay đăng ký các gói không giới hạn lưu lượng. MobiFone thì lại chọn cách đưa ra gói cước sử dụng dịch vụ 3G không giới hạn vào giờ rỗi cho thuê bao (từ 0h – 7h sáng mỗi ngày). Gói cước chỉ 2.000 đ/ngày, không giới hạn dung lượng sử dụng dịch vụ của thuê bao. Gói cước này dành cho cả thuê bao
  27. 27. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 27 sử dụng điện thoại lẫn dùng USB 3G, hướng tới những người dùng có nhu cầu cao vào ban đêm. Như vậy, hiện nay đã có 2 nhà mạng cung cấp gói cước 3G ban đêm. Gói N10 của Vietnamobile có giá 10.000 đ/7 ngày sử dụng, cũng có đặc tính tương tự song chỉ dành cho thuê bao di động. Dù bổ sung theo cách nào thì cũng có thể thấy các nhà mạng đang rất nỗ lực đa dạng hoá gói cước của mình để hướng tới đáp ứng tất cả các nhu cầu của người dùng 3G - từ các gói cước cơ bản đến các gói cước mua thêm. Ưu đãi cho thuê bao sử dụng dịch vụ dài hạn Hiện nay, một số nhà mạng đã áp dụng hình thức giảm cước cho các thuê bao di động trả sau đóng cước dịch vụ trước (ví dụ VinaPhone giảm tới 40% cước gói đăng ký của thuê bao trả sau nếu đóng cước trước cho cả thời gian cam kết dịch vụ, chưa tính cước thuê bao 49.000 đ/tháng). MobiFone đã vận dùng hình thức này để kích cầu thuê bao của mình sử dụng dịch vụ mobile internet dài hạn. Theo định hướng phát triển dịch vụ đặt ra trước đó, hình thức ưu đãi được MobiFone áp dụng là tăng dung lượng dữ liệu được sử dụng với cùng một mức tiền bỏ ra thay vì giảm giá cước. Thời gian đăng ký sử dụng và đóng cước trước càng dài thì thuê bao càng được sử dụng nhiều lưu lượng tốc độ cao hàng tháng hơn. Ví dụ, nếu thuê bao đăng ký và đóng cước trước gói MIU của nhà mạng này 3 tháng, mỗi tháng thuê bao sẽ được cộng thêm 180 MB dữ liệu ở tốc độ cao. Như vậy, dung lượng của gói MIU hàng tháng với đối tượng khách hàng này sẽ là 780 MB thay vì 600 MB áp dụng với thuê bao thông thường, trả cước hàng tháng. Nếu đóng cước trước 6 tháng, thuê bao sẽ được sử dụng 960 MB/tháng, đóng trước 12 tháng, thuê bao sẽ được sử dụng 1.200 MB/tháng (cao gấp đôi so với dung lượng quy định của gói cước). Như vậy, với việc đóng cước sử dụng dịch vụ trước trong các khoảng thời gian dài, thuê bao sẽ được tăng thêm từ 30% - 100% dung lượng dữ liệu tốc độ cao sử dụng hàng tháng. Chính sách ưu đãi này không chỉ dành riêng cho thuê bao sử dụng dịch vụ mobile internet mà còn áp dụng đối với cả thuê bao Fast Connect. Không chỉ thúc đẩy thuê bao sử dụng dịch vụ lâu dài, đem lại nguồn thu ổn định, chính sách ưu đãi này của MobiFone cũng có thể là một phương thức cạnh tranh, thu hút những thuê bao có nhu cầu sử dụng dịch vụ lâu dài từ các mạng khác chuyển sang. Trước đây, MobiFone chú trọng nhiều hơn tới công tác chăm sóc khách hàng có thu nhập cao, khiến dù lượng thuê bao của họ có thể không nhiều như hai mạng còn lại, song mức tiêu dùng lại khá lớn. Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, MobiFone đã bắt đầu chú trọng nhiều hơn tới các đối tượng khách hàng thu nhập thấp và trung bình với hàng loạt chính sách tốt. Điều đó cũng được thể hiện rất rõ ở mảng 3G khi MobiFone luôn là nhà mạng có nhiều chính sách đãi, đưa ra nhiều gói cước linh hoạt, giá rẻ nhất trong số các mạng lớn. Có thể các nhà mạng khác cũng đã áp dụng những chính sách tương tự cho thuê bao của mình từ lâu, nhưng không phổ biến công khai rộng rãi vì nhiều lý do, trong đó có
  28. 28. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201428 việc sợ đối thủ nhanh chóng học theo. Nhưng có lẽ cách thức này sẽ hữu hiệu hơn khi mà các nhà mạng đều đã có một lượng khách hàng tương đối lớn và mục tiêu tăng cường mức sử dụng và giữ chân thuê bao được đặt cao hơn. Còn với trường hợp của 3G, việc phát triển thuê bao mới vẫn đang là mục tiêu quan trọng nhất trước mắt thì càng quảng bá các chính sách ưu đãi bao nhiêu thiết nghĩ sẽ càng tốt bấy nhiêu. MobiFone đang làm rất tốt công việc này trên các diễn đàn về viễn thông bằng việc liên tục cập nhật các chương trình ưu đãi của mình. 4. Chất lượng 3G đang từng bước được quản chặt Theo số liệu thống kê do Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công thương) mới công bố, dịch vụ viễn thông và truyền hình là nhóm dịch vụ có tỷ lệ khiếu nại, phàn nàn nhiều nhất, chiếm tới 72% tổng số 790 vụ khiếu nại nhận được trong 8 tháng đầu năm. Thêm vào đó, xu hướng thị trường di động trong nước chuyển dịch sang 3G đã quá rõ ràng nên chất lượng dịch vụ này bắt đầu được cơ quan quản lý “để mắt”. Trước kia, Bộ TT&TT không quản lý được mảng này mà chỉ yêu cầu các nhà mạng thực hiện tốt công tác chuẩn bị để đảm bảo chất lượng dịch vụ trước những dịp lễ lớn, đặc biệt là chất lượng dịch vụ 3G tại những điểm tập trung đông người, nhu cầu chia sẻ hình ảnh, video lớn hoặc nhắc nhở nhà mạng đảm bảo chất lượng 3G trong các cuộc họp tổng kết, giao ban vì khách hàng phà nàn. Đến cuối tháng 8 vừa qua, Bộ TT&TT đã chính thức ban hành Quy chuẩn quốc gia về chất lượng dịch vụ Internet trên nền mạng di động IMT- 2000 (mạng 3G) để làm cơ sở quản lý chất lượng dịch vụ này. Theo đó, một số tiêu chuẩn chính được đưa ra là: Độ sẵn sàng của mạng vô tuyến phải đạt tối thiểu 95%, Tỷ lệ truy nhập thành công dịch vụ ≥ 90%, Tỷ lệ truyền tải dữ liệu bị rơi ≤ 10%, Tỷ lệ khiếu nại của khách hàng về chất lượng dịch vụ ≤ 0,25 khiếu nại/100 khách hàng/3 tháng, DNCCDV phải có văn bản hồi âm cho 100% khách hàng khiếu nại trong thời hạn 2 ngày làm việc kể từ thời điểm tiếp nhận khiếu nại. Thời gian cung cấp dịch vụ trợ giúp khách hàng bằng nhân công qua điện thoại là 24 giờ trong ngày, Tỷ lệ cuộc gọi tới dịch vụ trợ giúp khách hàng chiếm mạch thành công, gửi yêu cầu kết nối đến điện thoại viên và nhận được tín hiệu trả lời của điện thoại viên trong vòng 60 giây ≥ 80%... Theo các tiêu chuẩn được đưa ra, hầu hết các tiêu chuẩn liên quan tới kỹ thuật nhà mạng sẽ đáp ứng được, nhất là khi các nhà mạng đang nâng cấp hệ thống lên 3,5G, cũng như mạng 3G sẽ được triển khai thêm ở băng tần 900 MHz. Tuy nhiên, để đạt được một số chỉ tiêu về chăm sóc khách hàng như có văn bản hồi âm cho khách hàng khiếu nại, tỉ lệ khách hàng khiếu nại về chất lượng dịch vụ, các nhà mạng sẽ phải nỗ lực hơn, thay đổi nhiều so với cách thức đang làm hiện nay. Quy chuẩn này sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/3/2015 và sẽ là cơ sở để Cục Viễn thông thực hiện các đợt đo kiểm chất lượng dịch vụ internet di động. Với việc coi dịch vụ dữ liệu trở thành một dịch vụ cơ bản như thoại và sms, công bố chất lượng dịch vụ của các nhà mạng sẽ sớm bổ sung dịch vụ này.
  29. 29. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 29 THỊ TRƯỜNG INTERNET 1. FTTH “lấn lướt” ADSL Trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của băng rộng di động 3G và dịch vụ FTTH, dịch vụ ADSL đang có dấu hiệu chững lại. Theo số liệu thống kê của Cục viễn thông, tính đến hết tháng 8/2014 thị trường có tổng số 4,6 triệu thuê bao xDSL tăng thêm 90.000 thuê bao so với đầu năm. Điều này đã được cảnh báo từ trước, dịch vụ tốc độ cao như FTTH có nhiều ưu thế sẽ chiếm lĩnh thị trường, ADSL tăng chậm là điều tất yếu. Bản thân các nhà mạng cũng không muốn đầu tư phát triển mở rộng dịch vụ, trong khi chi phí đầu tư lớn và dịch vụ cáp quang ngày càng được người dùng ưa chuộng.(Biểu đồ 2.5) Trái ngược với ADSL, thị trường chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ FTTH. Tính đến hết tháng 8, thị trường có 555,4 triệu thuê bao cáp quang, tăng khoảng 255.000 thuê bao, chỉ trong 8 tháng số lượng thuê bao gần gấp đôi so với đầu năm 2014. Đặc biệt tăng mạnh vào tháng 7, 8 trung bình mỗi tháng tăng xấp xỉ 50.000 thuê bao. (Biểu đồ 2.6) Biểuđồ2.5(Nguồn:CụcViễnthông) Biểuđồ2.6(Nguồn:CụcViễnthông)
  30. 30. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201430 Về thị phần dịch vụ FTTH tiếp tục có sự bứt phá, việc tăng giảm thị phần có sự chênh lệch khá lớn giữa các nhà cung cấp dịch vụ. Nếu như dịch vụ ADSL của Viettel chiếm thị phần nhỏ thì với việc ráo riết tập trung mạnh vào cáp quang Viettel dẫn đầu thị trường chiếm 55,13% thị phần, tiếp đến VNPT với 34,6%, FPT khoảng 7%, còn lại thuộc về CMC và các nhà mạng nhỏ khác. Với chiến lược đánh nhanh, mạnh Viettel đã áp đảo thị trường trong lĩnh vực cáp quang. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp cần có kế hoạch đối phó nếu không thị phần cáp quang sẽ do Viettel chiếm lĩnh ở mảng dịch vụ này. Nếu như thời điểm trước giá cước là vấn đề để ADSL chiếm lợi thế do giá rẻ so với FTTH thì với mức cước hiện nay của cáp quang xấp xỉ 200.000 đồng đến trên 200.000 đồng/tháng, sự chênh lệch về giá không còn quá lớn, người dùng lại được trải nghiệm Biểuđồ2.7(Nguồn:CụcViễnthông) Biểuđồ2.8(Nguồn:CụcViễnthông)
  31. 31. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 31 dịch vụ tốc độ cao hơn nhiều so với ADSL. Công nghệ này phù hợp với dịch vụ băng thông lớn như truyền hình độ nét cao như (HDTV), các dịch vụ truyền hình tương tác (IPTV), xem phim theo yêu cầu (VoD)… và ADSL khó có thể đáp ứng được. Vì thế, dịch vụ internet cáp quang đang trở thành lực chọn không chỉ của các khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức mà cả những hộ gia đình, cá nhân. Như vậy đã có sự thay đổi lớn về phân khúc khách hàng và đối tượng người dùng. Với những ưu thế riêng, cáp quang đang trở thành đối thủ đối với dịch vụ ADSL. Dự báo FTTH sẽ tiếp tục tăng tốc trong những tháng cuối năm và sự “so găng” cạnh tranh nhau vẫn tiếp diễn trên thị trường giữa các nhà cung cấp dịch vụ. Trong khi đó ADSL sẽ phát triển cầm chừng hoặc duy trì thuê bao ở mức độ ổn định trước khi chuyển sang giai đoạn thoái trào. 2. Viettel đẩy mạnh dịch vụ FTTH gây “khó khăn” cho các ISP khác Với chiến lược triển khai rầm rộ, rộng khắp nhằm đẩy mạnh tăng tốc dịch vụ cáp quang cũng như khẳng định vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường so với các ISP. Viettel đã thực hiện hàng loạt các hoạt động kinh doanh ở các tỉnh/thành bằng cách đẩy mạnh kênh bán hàng, tiếp thị rộng khắp, bán hàng đến tận nhà người dân, với đội ngũ cộng tác viên lớn phân bổ khắp các thôn xóm, thị xã… Đồng thời, Viettel hạn chế lắp đặt ADSL, tập trung phát triển và hướng khách hàng sang sử dụng cáp quang nên thị phần của nhà mạng này tăng mạnh so với các nhà cung cấp khác. Trong quý 3 thị phần của Viettel tăng khoảng 9% so với cuối năm ngoái, trong khi các doanh nghiệp khác giảm như VNPT giảm 2%, FPT giảm tới 5% thị phần. Với chính sách cung cấp dịch vụ cáp quang giá rẻ, Viettel đã thu hút lượng thuê bao ADSL đáng kể của VNPT chuyển sang dùng cáp quang. Trước tình hình trên, VNPT và FPT cũng có những động thái giảm giá dịch vụ để cạnh tranh với Viettel. Tại nhiều tỉnh/thành, VNPT cung cấp các gói cước ưu đãi cho khách hàng đăng ký mới dịch vụ FTTH hay chuyển đổi từ ADSL sang FTTH. Sự sụt giảm mạnh thuê bao khiến FPT phải có những biện pháp đối phó với Viettel. Mới đây, FPT cũng đã chuyển đổi hệ thống từ ADSL sang FTTH, triển khai trước tiên tại Hà Nội. Để thay đổi mạng cho khách hàng, FPT kích hoạt hai gói cáp quang cho khách hàng lựa chọn với giá cước trọn gói 352.000 đồng/tháng (tốc độ 15Mbps) và 451.000 đồng/tháng (tốc độ 20Mbps). Trong số các ISP có lẽ FPT bị ảnh hưởng nhiều nhất từ chiến lược cáp quang giá rẻ của Viettel, cụ thể thị phần của FPT sụt giảm khá mạnh, so với cuối năm ngoái thị phần của nhà mạng này chiếm khoảng 12% nhưng đến quý 3 chỉ còn xấp xỉ 7% thị phần. Có lẽ trong số các ISP Viettel là nhà mạng luôn gây sự chú ý đặc biệt với khách hàng bằng các chương trình quảng cáo rầm rộ, đẩy mạnh pr trên các phương tiện truyền thông nhằm tạo ấn tượng mạnh với người dùng và đôi khi áp dụng cả những chiêu trò “độc nhất vô nhị” bằng biện pháp cạnh tranh không lành mạnh. Điển hình khi mới đây Cục Viễn thông đã yêu cầu Viettel dừng cung cấp dịch vụ
  32. 32. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201432 FTTH Edu cho ngành giáo dục nhưng đã lách luật một cách khéo léo, tài tình. Cụ thể, ngày 25/8/2014, Cục Viễn thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) đã ra văn bản số 1116/ CVT-CTKM yêu cầu Viettel dừng ngay chương trình triển khai chính sách FTTH Edu (kết nối Internet cáp quang) cho ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Hà Nam và tiến tới triển khai trên cả nước do vi phạm các quy định về quản lý giá cước và khuyến mại trong lĩnh vực viễn thông, theo đúng quy định chỉ được khuyến mại tối đa 50% giá trị của sản phẩm dịch vụ, nhưng thực tế Viettel lại triển khai gói cước FTTH Edu hoàn toàn miễn phí cho các cơ sở giáo dục. Phản ứng trước vụ việc bị Cục Viễn thông tuýt còi, Viettel đã phủ nhận và cho rằng theo thỏa thuận khung được ký kết giữa Viettel và Bộ GD&ĐT, Viettel sẽ phải cung cấp miễn phí truy cập đường truyền Internet cáp quang đến tất cả các cơ sở giáo dục trên cả nước, nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong toàn ngành giáo dục. Các nội dung ưu đãi này là chương trình tài trợ và đang được hạch toán theo chi phí tài trợ chứ không phải chương trình khuyến mại do đó Viettel cho rằng không vi phạm. Để hợp thức hóa hồ sơ về khoản tài trợ này, Viettel đã nhanh chóng ký kết biên bản xác nhận tài trợ cho giáo dục tại các trường học đã kéo đường dây FTTH Edu. Tuy nhiên, đến thời điểm này thông tin trên đang tạm lắng xuống và Cục Viễn thông vẫn chưa đưa ra kết luận gì về vụ việc trên. Không những thế, tại một số tỉnh thành Viettel vẫn tiếp tục đẩy mạnh FTTH Edu. Qua đây có thể thấy rằng những sở cứ Viettel đưa ra là đúng và đã được Cục Viễn thông tạm thời chấp nhận. Từ chính sách cung cấp dịch vụ cáp quang giá rẻ cho thấy nếu Cục viễn thông để Viettel lấn sân quá sâu vào tất cả các dịch vụ giáo dục mà không chú trọng đến chất lượng dịch vụ, hay lôi kéo khách hàng đang sử dụng dịch vụ của ISP khác vô hình chung sẽ gây lãng phí nguồn tài chính khi các trường đang sử dụng dịch vụ của nhà mạng này
  33. 33. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 33 lại ngừng/hủy để chuyển sang dùng của Viettel. Đây có thể coi là biến tướng theo kiểu kinh doanh“độc quyền” mới khi áp dụng bằng những quan hệ thân quen từ những người có quyền quyết định cao nhất và áp dụng phí hoa hồng “lót tay”. Trong khi giáo dục là mảng dịch vụ tiềm năng mà để Viettel “một mình một chợ” kinh doanh theo kiểu chiếm hữu thì các nhà cung cấp khác sẽ khó có cơ hội chen chân. Điều này sẽ gây khó khăn lớn cho các VNPT tỉnh, thành khi cạnh tranh với Viettel. Tuy rằng, việc ký thỏa thuận với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Viettel sẽ có lợi thế trong việc thuyết phục các sở GDĐT, các trường sử dụng dịch vụ, nhưng các trường có quyền lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ có chất lượng dịch vụ tốt nhất. Tuy nhiên chất lượng dịch vụ lại là chuyện khác khi Viettel triển khai một cách ồ ạt, nhanh chóng sẽ không đủ nhân sự và phải thuê ngoài về mặt kỹ thuật sẽ không đảm bảo chất lượng. Do vậy các VNPT tỉnh, thành phố cần tiếp tục tiếp thị đến từng trường học và đảm bảo chất lượng cho các trường. 3. Một số bất cập phủ sóng wifi tại một số tỉnh thành Trước thực tế các điểm phát wifi miễn phí mở rộng tại nhiều tỉnh thành, nhìn một cách tổng thể thì đó là nỗ lực của các tổ chức, xã hội và các tỉnh thành cung cấp dịch vụ wifi cho khách hàng tại các điểm du lịch và một phần tăng tính quảng bá cho ngành du lịch trong nước. Nhưng bên cạnh nỗi mừng cũng là lo ngại về chất lượng dịch vụ, theo phản ánh của khách hàng khi truy cập internet tại các địa điểm du lịch chất lượng chưa đảm bảo. Tình trạng chung tại các thành phố như Hạ Long, Hải Phòng, Đà Nẵng, Đà Lạt,... đó là wifi không kết nối được, không truy cập được vào trang web... Hiện Đà Nẵng là địa phương có chất lượng phủ sóng wifi công cộng tốt nhất và vừa kết thúc giai đoạn thử nghiệm, hướng đến cung cấp dịch vụ chất lượng cho người dân và khách du lịch thông qua việc thu phí vào năm 2016. Còn phần lớn các địa phương đều đang thử nghiệm với chất lượng dịch vụ kém. Thực tế việc triển khai dịch vụ có thuận tiện, hiệu quả cho người dùng như đã quảng bá hay triển khai theo kiểu “đánh trống bỏ dùi” và đôi khi chuốc thêm bực mình cho du khách khi dịch vụ có cũng như không? Vấn đề bất cập khi triển khai dự án wifi công cộng đó là kinh phí duy trì để kết nối đường truyền, công tác bảo dưỡng, chăm sóc… rất tốn kém lên đến nhiều triệu đồng mỗi tháng không phải tỉnh thành nào cũng duy trì được lâu dài. Như vậy, một vấn đề đặt ra là việc đang và sẽ tiếp tục triển khai hàng loạt dự án wifi công cộng tại các địa điểm trong thời gian tới có thực sự mang lại kết quả như kỳ vọng hay thực hiện rồi bỏ đấy sẽ gây lãng phí đầu tư tài chính là việc các ban ngành, tỉnh thành cần xem xét, tính toán đến sự hiệu quả và những lợi ích thiết thực mang lại.
  34. 34. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/201434 THỊ TRƯỜNG TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN 1.Tổng quan chung về thị trường Đến thời điểm đã bước sang quý 3 nhưng Viettel và FPT vẫn chưa ra mắt dịch vụ truyền hình trên thị trường. Việc cung cấp một dịch vụ mới là điều không dễ dàng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào đặc biệt trong bối cảnh hiện nay có quá nhiều nhà khai thác truyền hình, thị trường lại cạnh tranh gay gắt. Có lẽ vì lý do chủ quan và khách quan mà hai doanh nghiệp này vẫn “lỡ hẹn” với khách hàng. Tuy nhiên trước sự “lấn sân” sang lĩnh vực truyền hình của các doanh nghiệp viễn thông như hồi chuông cảnh báo cho các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình tại Việt Nam bắt đầu nhìn nhận lại và có những điều chỉnh hướng đến cung cấp dịch vụ tốt hơn cho khách hàng. Từ khâu chăm sóc khách hàng, đến các chương trình khuyến mại, giá cước cạnh tranh hơn nhằm ưu đãi khách hàng cũng được triển khai rầm rộ hơn so với trước đây. Mặc dù vẫn còn những bất cập song nhìn một cách tổng quan thì thị trường truyền hình đã có những chuyển biến tích cực. Điều mà trước đây khách hàng luôn kêu ca về giá cước cao, chất lượng phập phù, công tác chăm sóc khách hàng dường như bị “bỏ ngỏ”, người dùng thiệt thòi khi bị cắt xén bớt kênh, chất lượng dịch vụ không đúng như cam kết của doanh nghiệp. Bên cạnh đó thị trường truyền hình vẫn cần một cuộc “cách mạng” để sắp xếp lại bởi hiện nay có quá nhiều nhà cung cấp dịch vụ riêng lẻ, và chưa tạo những thế chân vạc để có những doanh nghiệp lớn, chuyên nghiệp, cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng, việc vi phạm bản quyền truyền hình diễn ra phổ biến và chưa có chế tài cụ thể đối với lĩnh vực này. Với sự gia nhập của doanh nghiệp viễn thông sẽ tạo ra những cú hích trên thị trường, tạo áp lực cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải nhìn nhau khi tăng giá, đồng thời đảm bảo chất lượng kênh nội dung chứ không thể cắt kênh tùy tiện như trước. Điểm qua thị trường truyền hình trả tiền Việt Nam cho thấy đang phát triển nhanh chóng với 6,5 triệu thuê bao trong tổng số hơn 90 triệu dân số thì có trên 20 triệu thuê bao tivi. Tuy nhiên tốc độ xâm nhập thị trường truyền hình tại Việt Nam mới đạt 25% dân số, trong khi ở các nước trong khu vực mức độ xâm nhập thị trường THTT vào khoảng 31,8%. Thị trường đã và đang và đóng góp lớn cho nền kinh tế, nhưng đang trong giai đoạn quá độ để thích nghi với chính sách quản lý mới của nhà nước. Vì vậy, bên cạnh việc thúc đẩy thị trường bằng việc cấp phép cho những doanh nghiệp mới có năng lực về hạ tầng và nguồn vốn đầu tư. Bộ TT&TT sẽ tiếp tục rà soát, sắp xếp lại các doanh nghiệp đã tham gia thị trường truyền hình cáp ở giai đoạn trước theo hướng hình thành các doanh nghiệp đủ mạnh, có khả năng cung cấp dịch vụ đảm bảo chất lượng. Dự báo tiềm năng của thị trường truyền hình trả tiền còn rất lớn, nhưng đây cũng
  35. 35. THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM BÁO CÁO VIỄN THÔNG VIỆT NAM QUÝ III/2014 35 là thách thức với các cơ quan quản lý nhằm tạo ra các cơ chế mới để có bước phát triển nhanh và bền vững cho thị trường truyền hình trả tiền tại Việt Nam.  2. Bản quyền truyền hình chưa đến hồi “ngã ngũ” Vấn đề vi phạm bản quyền trở nên phổ biến tại Việt Nam hơn bao giờ hết, sự xâm phạm bản quyền diễn ra trên mạng viễn thông như internet, các thiết bị di động... đã trở thành mối nguy lớn đối với sự tồn tại và phát triển của các đơn vị truyền hình hiện nay. Điều này gây bức xúc cho các nhà khai thác kinh doanh thực sự khi bỏ bao công sức nhưng bị kẻ khác hớt tay trên. Thực tế cho thấy nhiều chương trình do phía truyền hình sản xuất, phải chi phí lớn để mua bản quyền phát sóng… đang bị khai thác một cách tự do, không phải để quảng bá mà chủ yếu là để thu lợi. Các hoạt động xâm phạm bản quyền bằng nhiều hình thức như cung cấp các gói dịch vụ, quảng cáo nhờ các chương trình của đài truyền hình… đã làm lợi cho một số đơn vị. Điều này không chỉ gây thiệt hại lớn cho các đơn vị sản xuất, kinh doanh, nắm giữ bản quyền chương trình truyền hình, mà còn ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ bản quyền quốc tế. Nạn vi phạm bản quyền trở nên phổ biến ở tất cả các lĩnh vực từ các tác phẩm âm nhạc, văn học, phim ảnh, game show… Hành vi vi phạm bản quyền đang diễn ra ngày một nhiều trong khi các hình thức xử lý vi phạm không đủ sức răn đe. Việc vi phạm vẫn cứ tái diễn, trong khi đó không có đơn vị nào đứng ra bảo vệ các đài truyền hình. Bên cạnh đó thì quan điểm, thói quen của người dùng: Không ai nghĩ mình xem các chương trình trên internet, hay các bộ phim phải có nghĩa vụ trả tiền nên đây là yếu tố khiến cho việc vi phạm bản quyền ngày càng phổ biến hơn. Truyền hình trả tiền vẫn là mảnh đất tiềm năng cho các nhà khai thác song đang phải đối mặt với nhiều vấn đề như sở hữu trí tuệ, cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, chất lượng nội dung chương trình... Ngăn chặn nạn xâm phạm bản quyền truyền hình hiện trở nên cấp bách cho các đài truyền hình trong thời đại công nghệ số hiện nay, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị truyền hình, sự mạnh tay của cơ quan quản lý bảo vệ bản quyền cho doanh nghiệp. 3. Ứng dụng OTT lậu ảnh hưởng tới thị trường truyền hình Với sự phát triển nhanh chóng và bùng nổ của truyền hình OTT cũng là khơi nguồn để truyền hình “lậu” có đất sống đây được coi là sự báo động cho các nhà cung cấp nội dung truyền hình. Với sự phổ biến của các thiết bị thông minh (điện thoại, máy tính bảng) cộng với sự phát triển của hệ thống internet băng rộng, truyền hình OTT càng có cơ hội phát triển.  Số lượng dịch vụ truyền hình OTT đang ngày một tăng lên trên thị trường. Ngoài những dịch vụ OTT chính thống như MyTV Net, VTV Plus, FPT Play…, còn rất nhiều ứng

×