Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

Luận văn: Mùa thu trong thơ Xuân Diệu, Lưu trọng Lư và quách tấn

68 views

Published on

Download luận văn thạc sĩ ngành văn học Việt Nam với đề tài: Mùa thu trong thơ Xuân Diệu, Lưu trọng Lư và quách tấn, cho các bạn làm luận văn tham khảo

Published in: Education
  • link tải ; https://tailieumau.vn/luan-van-mua-thu-trong-tho-xuan-dieu-luu-trong-lu-va-quach-tan/
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

Luận văn: Mùa thu trong thơ Xuân Diệu, Lưu trọng Lư và quách tấn

  1. 1. 0 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THỊ HUYỀN MÙA THU TRONG THƠ XUÂN DIỆU, LƢU TRỌNG LƢ VÀ QUÁCH TẤN LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN Chuyên nghành: Văn học Việt Nam Mã số: 234605 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Viết Ngoạn NGHỆ AN – 2014
  2. 2. 1 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài .................................................................................. 3 2. Lịch sự nghiên cứu vấn đề .................................................................... 6 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................... 8 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu........................................................ 9 5. Phương pháp nghiên cứu...................................................................... .9 6. Đóng góp và cấu trúc luận văn................................................................10 Chƣơng1:MÙATHUNGUỒNCẢMHỨNGLỚNCỦATHƠVIỆTNAM 1.1. Mùa thu Việt Nam nguồn cảm hứng trong nghệ thuật ........................ 11 1.2. Mùa thu trong thi ca............................................................................. 17 1.3.Mùa thu của các nhà Thơ trong phong trào Thơ mới .......................... 26 Chƣơng 2: CẢM NHẬN VỀ MÙA THU TRONG THƠ XUÂN DIỆU, LƢU TRỌNG LƢ VÀ QUÁCH TẤN 2.1. Mùa thu trong thơ Xuân Diệu .............................................................. 38 2.2. Mùa thu trong thơ Lưu Trọng Lư ........................................................ 57 2.3. Mùa thu trong thơ Quách Tấn.............................................................. 66 Chƣơng 3 : NHỮNG CÁCH TÂN NGHỆ THUẬT 3.1. Cái tôi trữ tình ...................................................................................... 80 3.2. Không gian và thời gian nghệ thuật .................................................... 85 3.2.1. Ánh trăng thu và gió thu ................................................................... 85 3.2.2. Thời gian chảy trôi đem đến sự tàn phai , rơi rụng .......................... 91 3.3. Cách tân về thơ, nhạc điệu, ngôn ngữ.................................................. 93
  3. 3. 2 3.3.1. Thể thơ ............................................................................................. 93 3.3.2. Nhạc điệu thơ .................................................................................... 95 3.3.3. Ngôn ngữ thơ .................................................................................... 99 KẾT LUẬN ............................................................................................. 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ PHỤ LỤC.......................................................................................................
  4. 4. 3 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1.1. Là một trong bốn mùa của năm, giữa mùa hạ nóng bức và mùa đông lạnh lẽo, mùa thu như một nhịp cầu, một sự giao thoa tuyệt vời mà tạo hóa đã ban tặng con người. Mùa thu là một mùa đẹp nhất trong năm, cảm nhận cái đẹp ấy nhà thơ Hồ ZDếnh đã từng có câu thơ “ Trời không nắng cũng không mưa; Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung”. Cái mơ hồ mênh mông, cái se lạnh của gió thu, cái xào xạc của lá thu, cái huyền ảo của trăng thu như gieo vào lòng người biết bao nỗi buồn. Đó là nơi cảm xúc bắt đầu, là khoảng thời gian mà tất cả chúng ta muốn hòa mình vào với thiên nhiên, với đất trời. Mùa thu đã thực sự vực dậy trong tiềm thức chúng ta những kỉ niệm êm đềm của một thời tuổi trẻ. Trong thi ca, mùa thu đã đến với biết bao thi hào lỗi lạc và cũng không ít tác giả đã nổi danh, ghi đậm dấu ấn trong lòng công chúng nhờ những thi ngôn về cái mùa đầy yêu thương này. Có lẽ bởi sự quyến rũ đầy mê hoặc của mùa thu mà hình ảnh về mùa này, cảm hứng của mùa này đã xuất hiện phổ biến trong thi ca thế giới. Những thi văn tài lỗi lạc của thế giới văn chương Tây Phương thường được nhắc nhở đến nhiều nhất là Charles Beaudelaire, Paul Verlaine, Anatole France... đã sáng tác nhiều thi phẩm ca ngợi mùa thu diễm tuyệt. Chính những trường phái thi ca lãng mạn, tượng trưng vào cuối thế kỷ 19 ở Pháp đã tạo nên những ảnh hưởng sâu đậm, đối với các thi sĩ Việt Nam như trường hợp của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Huy Cận, Vũ Đình Liên... Điển hình như những mùa thu trong thi ca Pháp thế kỉ 19 với các tác phẩm Mùa thu của Lamactin, Thu ca của Baudelaire, Thu Khúc của Veclen. Hay trong Đường thi của Bạch Cư Dị, ta đã bắt gặp Tảo thu độc dạ, Thu sơ. Đồng thời trong thơ trung đại Việt Nam, mùa thu luôn là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm của thi nhân: Đó là Thôn xá thu châm, Thu dạ lữ cảm, Thu dạ khách cảm, Thu nhật ngẫu thành của
  5. 5. 4 Nguyễn Trãi. Với đại thi hào Nguyễn Du có tác phẩm Thu chi, Thu dạ, Thu nhật kí hứng, Sơ thu cảm hứng. Ngô Thì Nhậm có Thu thu tứ tuyệt, Tống thu… Nói như thế để thấy được mùa thu đẹp biết bao nhiêu, quyến luyến và khêu gợi biết bao nhiêu. Người xưa đã có một quan niệm về mùa thu thật là tinh tế và sâu sắc: “Thu là thơ của đất trời, thơ là thu của lòng người”. Quả thật, khoảnh khắc mùa thu đã mang lại những cảm nhận, những rung động thật sâu lắng và đẹp đẽ trong lòng người. Có thể còn ai đó đang hoài nghi cách nhìn kì diệu ấy về mùa thu của người xưa. Nhưng nếu một lần đọc những bài thơ về mùa thu của các nhà thơ trong phong trào Thơ mới ( 1932- 1945) thì chắc hẳn nỗi hoài nghi ấy sẽ tan biến . 1.2. Như chúng ta đã biết, sự ra đời của Thơ mới đã làm thay đổi cả bộ mặt của thi đàn Việt Nam thời ấy, đến nỗi chưa đầy mười năm sau, tổng kết lại phong trào Thơ mới thì Hoài Thanh và Hoài Chân đã nhất quyết khẳng định: “ Tôi quả quyết rằng trong lịch sự thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng nhu Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [38.32] 1.3. Đến với Thơ mới, trước hết người đọc đã cảm nhận được những âm hưởng đặc trưng rất mới mẻ vang lên từ chính tâm hồn xôn xao, rạo rực đầy thiết tha và khao khát của các thi nhân. Các nhà Thơ mới đã nhìn thiên nhiên, cảm nhận không khí của đất trời không phải bằng những công thức ước lệ như thơ ca thời trung đại. Họ đã nhìn thiên nhiên bằng chính đôi mắt của mình, rung động với cảnh sắc của đất trời bằng chính trái tim nghệ sĩ chân thành của họ. Bởi vậy mà thiên nhiên và cảnh vật đi vào trang thơ của các thi sĩ không còn những “ tùng,
  6. 6. 5 cúc, trúc, mai, long, ly, quy, phượng”, “tứ linh, tứ quý”, những đề tài đã quá sáo mòn và quen thuộc trong thơ ca cổ điển . Các nhà Thơ mới đã trực tiếp rung động trước cảnh vật và con người bằng chính trái tim mình, lắng nghe nhịp thở của thiên nhiên bằng chính tâm hồn mình. Nhờ vậy mà cái khoảnh khắc tuyệt diệu của đất trời mùa thu đã đi vào tâm hồn họ với tất cả vẻ đẹp tinh khôi, tươi tắn, rất đỗi hồn nhiên và tràn đầy sức sống. Giữa thiên nhiên mùa thu vào tâm hồn các thi sĩ thời đại mới như có một sự giao hòa rất tự nhiên, thể hiện một sự sống . Giữa thiên nhiên mùa thu và tâm hồn các thi sĩ thời đại mới như có một sự giao hòa rất tự nhiên, thể hiện một sự tương thông khoáng đạt giữa đất trời và lòng người. Họ đã khám phá ra sự sống đầy xôn xao trong linh hồn của thiên nhiên và tạo vật . Đó là những cái cựa mình của nụ hoa sắp đến thì bung nở, là tiếng thì thầm của lá, là nỗi rạo của nhung phấn, là sự lung linh của những làn ánh sáng mùa thu, là sự hổn hển của nước mây, là sự run rẩy của chồi non, lộc biếc. Trong cái nhìn mới lạ trong các nhà Thơ mới, không gian và thởi gian mùa thu như cũng có một tâm hồn dạt dào sức sống. Mùa thu Việt Nam hàng ngàn năm qua đã là nguồn thi hứng lớn của thơ ca cổ điển, giờ đây như đã trở mình vươn dậy đến với các thi sĩ thời Thơ mới với dáng vẻ và sắc màu như một thiếu nữ ở độ tuổi xuân thì, đầy sức quyến rũ. Mùa thu quả thật đã tiếp tục khơi dậy những nguồn cảm xúc mới mẻ và dồi dào cho phong trào Thơ mới. Đến lượt mình, đọc phong trào Thơ mới, những bài thơ viết về mùa thu của các thi sĩ lại tiếp tục lay động sâu sắc lòng tôi. Nó thức dậy trong tôi những khao khát được sống với cảnh sắc với cảnh sắc trời thu. Chúng tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình với mong muốn sẽ góp phần đánh giá, cảm nhận một cách đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn về cảm hứng trong thơ ca nói chung và Thơ mới nói riêng. Đây sẽ
  7. 7. 6 là một hành trang quý giá để tôi bước vào công việc nghiên cứu và giảng dạy sau này. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề. 2.1. Mùa thu luôn là một hấp lực tuyệt vời với các nhà nghiên cứu và là một đề tài bất tận của thi ca. Đặc biệt, đến với Thơ mới lãng mạn các thi sĩ đã có những xúc cảm mới mẻ, làm nên những mùa thu mới trong tiến trình phát triển của thơ ca tiếng Việt viết về mùa thu, góp phần vào quá trình hiện đại hóa thơ ca Việt Nam. Thơ mới đã đánh dấu một cái mốc trong quá trình đưa thơ ca dân tộc hòa nhập với các trào lưu văn học hiện đại trên thế giới. Những năm gần đây, với sự đổi mới trong tư duy, nhiều giá trị văn hóa, văn học trong quá khứ được nhìn nhận, đánh giá lại, trong đó có Thơ mới. Nhiều nhà nghiên cứu đã nói đến cái mới của Thơ mới về thể thơ, về giọng điệu, ngôn ngữ, cảm xúc… Ở phương một diện nào đó, có thể xem phong trào Thơ mới là một trong những đỉnh cao của nền thơ ca Việt Nam, trong đó những bài thơ viết về mùa thu có một vị trí khá đặc biệt trong lòng người đọc. Ngắm kỹ hơn bốn mươi gương mặt thi nhân trong tuyển tập Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân, dường như thi sĩ nào cũng có một đôi lần để trái tim mình rung động trước cảnh sắc mùa thu. Trong thơ ca lãng mạn Việt Nam có Gió thu, Tiễn thu, Đêm thu (Tản Đà), Tiếng thu ( Lưu Trọng Lư), Thu, Thu rừng (Huy Cận), Thu (Chế Lan Viên), Cuối thu (Bích Khê), Buồn thu (Hàn Mặc Tử), Chiều thu (Nguyễn Bính), Đêm thu nghe tiếng quạ kêu, Một đêm mưa mùa thu, Thương thu, Cảm thu của Quách Tấn và Xuân Diệu có Thu, Ý thu, Đây mùa thu tới. 2.2. Thế nhưng, nhìn lại những trang nghiên cứu, phê bình thơ ca viết về mùa thu trong phong trào Thơ mới lãng mạn Việt Nam, chúng tôi thấy chưa nhiều. Viết về phương diện này, các nhà nghiên cứu chưa có điều kiện đi sâu vào một giai đoạn cụ thể mà chỉ đề cập một cách đơn lẻ trong một số bài viết mang tính cảm nhận hoặc giới thiệu, phê bình. Chẳng hạn : Bài Thu của Lê Bảo và bài Đây
  8. 8. 7 mùa thu tới của Mã Giang Lân được in trong cuốn Thơ Xuân Diệu và những lời bình (2003), bài Đây mùa thu tới của Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Lai Thúy được in trong cuốn Xuân Diệu – một cái tôi khao khát nồng nàn (2006), bài Thơ Duyên của Nguyễn Văn Long và bài Nguyệt cầm của Lê Quang Hưng được in trong cuốn Xuân Diệu – một cái tôi khao khát nồng nàn (2006 ) . Bài Xuân Diệu nói về Đây mùa thu tới của Hà Minh Đức ( Ghi lại theo lời kể của Xuân Diệu ngày 18/10/1969) được in trong cuốn Xuân Diệu – thơ và đời (2008) Riêng một số tiểu luận nghiên cứu về thơ Lưu Trọng Lư và tập Tiếng Thu của ông : Mục từ Lưu Trọng Lư và Tiếng thu của Nguyễn Văn Long trong Từ điển văn học (1994), Lưu Trọng Lư và Tiếng thu của Ngô Văn Phú, Tiếng thu, thơ, nhạc của Lưu Trọng Lư của tác giả Đỗ Đức Hiếu . Đặc biệt là bài viết Cảm thu được in trong cuốn Quách Tấn qua cái nhìn phê bình văn học do Quách Giao sưu tầm và tuyển chọn . Tình hình nghiên cứu trên cho thấy các bài viết, các tiểu luận về mùa thu đều mở ra các cách cảm thụ khác nhau. Song các ý kiến, các bài viết đưa ra đều thống nhất khẳng định mùa thu chính là tiếng lòng thổn thức của thi nhân nặng lòng yêu dấu trước cái khoảnh khắc kì diệu của thiên nhiên, đất trời . Nguyễn Huy Quát, Chu Thị Thúy Hằng có bài Cảm nhận về mùa thu trong văn học trung đại Việt Nam, đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 3, (2008). Bài viết chỉ đề cập đến cảm nhận về mùa thu của một số tác giả trong giai đoạn văn học trung đại Việt Nam 2.3. Tất cả những bài nghiên cứu, chuyên luận đó không ít thì nhiều đều đề cập đến cách cảm nhận về mùa thu của một số tác giả trong phong trào Thơ mới (1932-1945). Tuy nhiên những bài nghiên cứu ấy chỉ mang tính chất gợi mở vấn đề mà họ chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu. Chúng tôi cho rằng vấn đề này cần phải được tập trung khai thác sâu trong một giai đoạn cụ thể, để thấy được cách cảm nhận khác nhau, sự cách tân trong nghệ thuật của từng nhà thơ trong phong
  9. 9. 8 trào Thơ mới. Luận văn sẽ tiếp tục tìm hiểu ở những khía cạnh mới, từ đó có thể xác định một vị trí trong văn học thật xứng đáng với những gì mà các nhà Thơ mới đã cống hiến cho nền thơ ca dân tộc . 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu: Với mục tiêu khoa học đã đề ra, luận văn này chỉ tập trung làm sáng rõ cách cảm nhận về mùa thu trong thơ ca đặc biệt ở ba nhà thơ trong phong trào Thơ mới giai đoạn ( 1932 – 1945 ). Đó là Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Quách Tấn và chúng tôi dừng lại ở việc tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu nhất viết về mùa thu của từng tác giả. Riêng ở Lưu Trọng Lư, cảm xúc về mùa thu trong thơ ông được thể hiện ở một số bài, nhưng tiêu biều nhất, tập trung nhất vẫn là bài Tiếng thu. Do vậy trong luận văn này, bài Tiếng thu sẽ được nói đến và trích dẫn nhiều, dễ gây cảm giác lặp. Đó cũng là cái khó khăn về đối tượng nghiên cứu của đề tài này. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Để đạt được mục tiêu khoa học đã đặt ra, người viết cần phải khảo sát toàn bộ phong trào Thơ mới đề nhìn thấy rõ hơn đối tượng nghiên cứu của mình. Đồng thời, để giải quyết tốt đề tài, người viết cũng cần phải tham khảo một khối lượng lớn những bài thơ viết về mùa thu trong thơ ca dân tộc và nhân loại. Ngòai ra luận văn cũng cần phải tham khảo nhiều công trình lí luận về thơ để phục vụ cho quá trình nghiên cứu. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. 4.1. Mục đích nghiên cứu Qua việc khảo sát những bài thơ viết về mùa thu trong thơ ca luận văn nhằm nghiên cứu về Mùa thu trong thơ Xuân Diệu, Lƣu Trọng Lƣ và Quách
  10. 10. 9 Tấn qua đó thấy được những đóng góp của các nhà thơ trong những trang viết về đề tài mùa thu. 4. 2.Nhiệm vụ nghiên cứu 4.2.1. Đưa ra một cái nhìn về chủ đề mùa thu trong Thơ mới nói chung và ba tác giả Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư và Quách Tấn nói riêng. 4.2.2. Đi sâu vào khảo sát, phân tích những bài thơ viết về mùa thu của ba nhà thơ trong phong trào Thơ mới để thấy được sự khác biệt so với thơ ca truyền thống. Cuối cùng rút ra kết luận để khẳng định lại những đóng góp của ba nhà thơ trong phong trào Thơ mới. 5.Phƣơng pháp nghiên cứu Xuất phát từ yêu cầu của đối tượng và mục tiêu của nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp khác nhau, trong đó có các phương pháp chính như: Phương pháp so sánh, đối chiếu. Được sử dụng để so sánh, đối chiếu giữa các nhà thơ trong phong trào Thơ mới, giữa phong trào Thơ mới với thơ ca truyền thống, nhằm làm nổi bật những đặc sắc của những tác phẩm viết về mùa thu ở ba nhà thơ trên Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được dùng để đi sâu phân tích những yếu tố độc đáo, mới lạ, như là những đóng góp quan trọng của các nhà Thơ mới, làm phong phú cho đề tài mùa thu của thơ ca . Phương pháp hệ thống và thống kê : Được dùng để thống kê phân loại nguồn tư liệu, phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài. 6. Cấu trúc và đóng góp của luận văn 6.1. Đóng góp mới của luận văn Luận văn là công trình tìm hiểu Mùa thu trong thơ Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư và Quách Tấn với cái nhìn tập trung và hệ thống.
  11. 11. 10 Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là tài liệu tham khảo vận dụng cho việc học tập , nghiên cứu và giảng dạy ngữ văn trong nhà trường. 6.2. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương : Chương 1: Mùa thu nguồn cảm hứng lớn của thơ ca Việt Nam Chương 2 :Cảm nhận về mùa thu trong thơ Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư và Quách Tấn Chương 3: Cách tân trong nghệ thuật
  12. 12. 11 CHƢƠNG 1 MÙA THU NGUỒN CẢM HỨNG LỚN CỦA THƠ CA VIỆT NAM 1.1. Mùa thu Việt Nam nguồn cảm hứng trong nghệ thuật Mùa thu mùa của thi ca là mùa rất dễ khơi gợi những cảm xúc, những chắc ẩn trong lòng người, là khoảng thời gian mà chúng ta muốn hít căng vào lồng ngực những hương thơm dịu mát đang luồn lách trong kẽ lá, nhành cây để thấy mình cần thổ lộ, bộc bạch những tình cảm trắc ẩn. Phải chăng đây là lúc những giai điệu đẹp đẽ của mùa thu muốn nhảy nhót lên cùng những xúc cảm của lòng người. Mùa thu người ta thấy mình trở về với chính mình, trở về với những cảm xúc thật nhất, đẹp nhất. Chính vì vậy song song với những bức tranh về mùa thu là những ca khúc , những giai điệu tuyệt vời về mùa thu. Đó là những nốt nhạc đầu tiên trầm buồn, xa vắng mênh mông như tiếng thở của gió. Những giai điệu ấy, như đưa bước chân chúng ta lặng lẽ tìm về với một niềm hoài niệm xưa. “Mùa thu chết”; “Mùa thu cho em”, “Không còn mùa thu” ; “ Tiếng thu” hay “Thu quyến rũ”; “ Suối Mơ” …đều là những tuyệt phẩm viết về mùa thu mà khi được cất lên, giai điệu của chúng có thể khiến bao thế hệ người nghe phải vỡ òa cảm xúc. Hầu hết các nhạc sĩ Việt Nam đều có ít nhiều nhạc phẩm viết về mùa thu. Cố nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác nhiều nhạc phẩm có giá trị và phổ nhạc bài thơ của thi hào Guillaume Apollinaire Mùa thu chết, do thi sĩ Bùi Giáng dịch sang Việt ngữ : “ …Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
  13. 13. 12 Ôi ngát hương thời gian mùi thạch thảo Em nhớ cho rằng ta vẫn chờ em Vẫn chờ em, vẫn chờ em, vẫn chờ Vẫn chờ…….đợi em ”. ( Mùa thu chết – Phạm Duy ) Nhạc phẩm là nỗi day dứt nói lên những thương nhớ khôn nguôi của một mùa thu tàn úa, những ai oán, tiếc thương của người tình vẫn chờ đợi sự trở lại của mùa thu yêu thương cho nhau. Hơn hai mươi năm chiến tranh Việt Nam khốc liệt, trong gió chiều ảm đạm, đìu hiu, và những chiếc khăn tang của những ngưởi thiếu phụ với nước mắt mùa thu : “ Nước mắt mùa thu khóc ai trong chiều Hàng cây trút lá, nghĩa trang đìu hiu Từng chiếc, từng chiếc lệ khô vàng héo Buồn thương từng kiếp nằm trong mộ héo tên người đời quên Nước mắt mùa thu khóc than triền miên Nước mắt mùa thu khóc than đêm dài Mùa thu chơi vơi tiếng mưa buồn rơi ” . ( Mùa thu chết – Phạm Duy ) Nước mắt đã rơi khi mùa thu về trong buổi chiều thu buồn bã, cảnh vật nơi đây dường như tan tác cõi lòng. Quả thật, bản nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy đã vang lên những nốt nhạc thấm đẫm nỗi buồn và nước mắt trong buổi chiều mùa thu đìu hiu và cô quạnh . Tình cảm dành cho mùa thu được nhạc sĩ Ngô Thụy Miên thể hiện vừa lãng mạn, lại vừa kín đáo nhưng vẫn có sự nồng nàn trong các tình khúc của mình.
  14. 14. 13 “... Anh có nghe mùa thu mưa giăng lá đổ Anh có nghe nai vàng hát khúc yêu đương Và anh có nghe khi mùa thu tới Mang ái ân, mang tình yêu tới Anh có nghe hồn thu nói mình yêu nhau nhé... (Mùa thu cho em” -nhạc sĩ Ngô Thụy Miên) Khi mùa hè với cái nắng gay gắt qua đi, mùa thu đến đem theo những cơn gió heo may dịu dàng, những con đường tràn ngập lá vàng rơi và cả khúc yêu thương của những trái tim “ vương màu xanh mới ”. Đó chính là lời nhắn nhủ mà nhạc sĩ Ngô Thụy Miên gửi gắm trong ca khúc Mùa thu cho em. Lời ca bay bổng, giai điệu ngọt ngào mang âm hưởng những năm 1970 mỗi khi vang lên như khẽ nhắc nhở người nghe rằng mùa thu đã sang rồi. Cô gái trong bài hát đã nhờ vẻ đẹp “má hồng”, “môi em thơm nồng” của mùa thu để bày tỏ tình yêu của mình một cách ý nhị. Khi thiên nhiên, đất trời thay áo mới, con người cũng khoác lên mình một tâm hồn mới, đầy ắp yêu thương và hy vọng. Nhắc tới mùa thu, hầu như ai cũng hình dung ra sắc vàng. Đó là màu của những chiếc lá rơi bên thềm, của ánh trăng khuya và cũng là màu vàng tê tái của những ký ức tươi đẹp đã qua, chìm khuất tận nơi chân trời. “... Không còn mùa thu, trăng rơi bên thềm Không còn lời ru, mơ trên môi mềm Em thơ, như mùa xuân đầu, nối dài đêm sâu Anh làm mùa thu, cho em mơ màng...” “Không còn mùa thu” (nhạc sĩ Việt Anh) Ngoài vẻ đẹp quyến rũ làm xao xuyến lòng người, mùa thu với những lời ru, ánh trăng thề, những con đường hiu quạnh còn đem lại cảm giác buồn man mác. Đó là sự hoài niệm về những gì đã qua, về mối tình cũ đã chìm trong quá
  15. 15. 14 khứ. Mùa thu đến và đi quá đột ngột, cũng giống như chuyện tình dang dở của cô gái trong ca khúc Không còn mùa thu, để lại bao nuối tiếc và thương nhớ. Những ký ức về cuộc tình cũ cứ hiện về trong tâm trí của cô gái ấy mỗi độ thu sang. Có một mùa “ Thu quyến rũ” đã được Đoàn Chuẩn- Từ Linh cảm nhận thế này “… Anh mong chờ mùa thu Dìu thế nhân vào chốn thiên thai Và cánh chim ngập ngừng không muốn bay Mùa thu quyến rũ anh rồi…” “Thu quyến rũ” (nhạc sĩ Đoàn Chuẩn - Từ Linh) Ca khúc góp mặt từ năm 1950 nhưng cho đến nay, những câu hát ngập tràn cảm xúc của Thu quyến rũ vẫn khiến bao thế hệ người yêu nhạc Việt Nam đắm chìm vào một không gian lãng mạn, ngả mình trên câu hát khi mỗi độ thu về. Vẻ đẹp của đất trời khi “ngả màu xanh lơ”, khi đàn bướm vui đùa trên những bông hồng, khi “mây bay về nơi cuối trời” đã khiến người nhạc sĩ “tức cảnh sinh tình”. Thu trở nên quyến rũ và đẹp hơn bao giờ hết qua lời kể của một chàng lãng tử si tình đã “trót yêu” tà áo xanh rực rỡ mà mùa thu tự khoác lên mình. Là người nổi tiếng với tính cách phong lưu, hào hoa và ông đã đem cái “chất” ấy vào trong các tác phẩm của mình. Đoàn Chuẩn sáng tác không nhiều nhưng mỗi bài hát của ông lại gắn với một giai thoại khác nhau và chủ yếu là về mùa thu vì “đó là mùa của tình yêu”. Mùa thu còn đưa chúng ta vào thế giới của mộng, của mơ, của thương của nhớ, làm rung động lòng người, như gợi một niềm luyến tiếc, xa xôi. Mùa thu đã đưa tên tuổi của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ( 1939 – 2001) gắn với nhạc khúc Nhìn những mùa thu đi với nỗi lòng chia tay, nuối tiếc :
  16. 16. 15 “ Nhìn những mùa thu đi Em nghe sầu lên trong nắng Và lá rụng ngoài song Nghe tiếng mình vào quên lãng Nghe tháng ngày chết trong thu vàng ” ( Nhìn những mùa thu đi – Trịnh Công Sơn) Chúng ta bắt gặp mùa thu lãng mạn bay bổng trong âm nhạc của Văn Cao. Bước vào âm nhạc Việt Nam với ca khúc Suối mơ lúc 16 tuổi, Văn Cao đã nhanh chóng đưa mùa thu gắn liền với những giấc mơ, khát vọng thuộc về tâm hồn và sự sáng tạo của con người : “ Suối mơ bên rừng thu vắng, dòng nước trôi lững lơ ngoài nắng, ngày chưa đi sao gió vương, bờ xanh ngắt bóng đồi c ây thùy dương ”. ( Suối mơ – Văn Cao ) Đó là tâm trạng cô đơn trong đêm mùa thu. Nghe mùa thu đang rơi theo lá vàng, để rồi từ đó ông dâng tặng đời những mùa thu chan chứa khát vọng tình người : “ Suối mơ ! Nghe rừng heo hút Dòng êm đưa lá khô già trút Còn như lưu hương yêu dấu Với suối xưa trời nơi đâu Từng hẹn mùa xưa càng xây nhà bên suối Nghe suối róc rách trôi hoa lừng hương gió ngát Đàn nai đùa trong khóm lá vàng tươi ” . ( Suối mơ – Văn Cao )
  17. 17. 16 Mỗi khi thưởng thức nhạc phẩm của Văn Cao, nghe hơi thở Đường thi lẩn khuất trong từng lời ca. Mùa thu của Văn Cao thật mơ màng và huyền diệu. Qua âm nhạc của Văn Cao, chúng ta thấy mùa thu luôn làm xao xuyến trái tim người nghe bởi tiếng lòng tha thiết, cùng những ca từ rất sâu lắng với những giai điệu mượt mà. Đồng thời lắng nghe tiếng thu bằng âm nhạc của Văn Cao, chúng ta có thể cảm nhận được trong những ca từ tiếng Việt được thăng hoa. Với mùa thu, âm nhạc của Văn Cao là một dòng chảy riêng trong nền âm nhạc Việt Nam, dòng chảy ấy luôn hướng về thiên nhiên và con người. Trên con đường nghệ thuật của Văn Cao, mùa thu luôn là nguồn cảm hứng kì diệu nhất, là đối tượng thẩm mĩ tuyệt vời nhất để ông sáng tác lên những giai điệu bất hủ . Đặc biệt thi phẩm Tiếng thu của Lưu Trọng Lư đã cho chúng ta thấy một hình ảnh vô cùng đẹp đẽ người cô phụ Việt Nam trông ngóng kẻ chinh phu trở về từ một chiến địa xa xôi. Đó là hình ảnh đáng khâm phục của bao người phụ nữ Việt Nam trong suốt dòng lịch sử của dân tộc. Thi phẩm Tiếng thu được nhạc sĩ Lê Thương phổ nhạc, với nhịp chậm 4/4, hợp âm Pha trưởng : “ Em không nghe mùa thu Dưới trăng mờ thổn thức Em không nghe rạo rực Hình ảnh kẻ chinh phu Trong lòng người cô phụ Em không nghe rừng thu Lá thu kêu xào xạc Con nai vàng ngơ ngác Đạp trên lá vàng khô “ . ( Tiếng thu – Lưu Trọng Lư )
  18. 18. 17 Một mùa thu thôi nhưng vô số những cách nhìn, những cảm nhận thật tươi mới, tinh tế và đặc sắc đã ghi vào lòng người những âm hưởng vô cùng đẹp đẽ của mùa thu. Với những âm thanh và nhạc điệu thật mền mại và uyển chuyển, các nhạc sĩ đã tạo nên những bản nhạc mùa thu du dương và tràn đầy xúc cảm. Những bản nhạc ấy luôn đi cùng thời gian và năm tháng. Đó là những bản tình ca bất hủ về mùa thu . 1. 2. Mùa thu trong thi ca Một chút gió heo may đã lành lạnh hắt hiu đủ cho lòng chúng ta chùng xuống với chiếc lá rơi nhẹ trên mặt hồ tĩnh lặng như gương. Dẫu không nhìn thấy đâu đây “Một chiếc lá ngô đồng vừa rơi, mọi người đã nhìn thấy mùa thu trở về” (Ngô đồng nhất diệp lục. Thiên hạ cộng tri thu). Chỉ thấy sương khói xây thành cũng đủ cho lòng nhau se sắt đón thu sang. Đã hơn hàng tỷ năm từ khi có sự hiện hữu trái đất này trong vũ trụ mênh mông, mùa thu đã ra đi và trở lại biết bao nhiêu tỉ lần theo chu kỳ tuần hoàn của tạo hóa. Mùa thu, cái thời tiết lãng mạn trữ tình của thiên nhiên đã trở thành đề tài tuyệt diệu vô tận trong kho tàng văn chương nghệ thuật của nhân loại. Nó đã tạo nên bao nhiêu thi hào, thi bá lỗi lạc Đông Tây kim cổ. Không có một nhà khảo cứu văn học thế giới nào, tổng hợp cho hết được những áng văn chương toàn bích ca ngợi mùa thu. Vì hầu như trong tất cả những thi sĩ của mỗi đất nước khi mới bắt đầu yêu thơ và chọn con đường sáng tạo thi ca như một nghiệp dĩ cao quý, đều xác quyết không thể nào từ chối hấp lực tuyệt vời đầy xúc động nghệ thuật của mùa thu. Hàng ngàn năm trước, khi địa vị của dòng thơ Đường đánh giá là tuyệt đỉnh của nền văn học Trung Hoa, dòng thơ ấy đã khai mờ từ thời sơ Đường dưới thời Vua Cao Tổ năm Vũ Đức Nguyên Niên, đến thời kỳ Văn Đường dưới thời vua Chiêu Tuyên Đế, kéo dài lịch sử Đường thi lên đến cả ngàn năm. Tuy nhiên những bài thơ ca ngợi mùa thu của Lí Bạch, Vương Duy, Thôi Hiệu, Đỗ Phủ.. cho đến bây giờ chúng ta có dịp đọc lại vẫn cảm nhận được cái thâm hậu, kỳ tuyệt biết dường
  19. 19. 18 nào. Mùa thu là mùa mà các thi nhân đi tìm những vần thơ để sáng tác lên những tuyệt phẩm bất hủ nghìn năm. Nhiều thi tài lỗi lạc của thế giới văn chương Tây phương thường được nhắc tới như : Charles Beaudelaire, Paul Verlaine, Anatole France… đã sáng tác nhiều thi phẩm ca ngợi mùa thu diễm tuyệt. Chính những trường phái thi ca lãng mạn, tượng trưng vào cuối thế kỉ 19 ở Pháp, đã tạo nên những âm hưởng sâu đậm đối với các thi sĩ Việt Nam như : Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Huy Cận….[47,1] Mùa thu thời tiết lãng mạn trữ tình của thiên nhiên đã trở thành đề tài tuyệt diệu và vô tận trong kho tàng văn chương nghệ thuật của nhân loại. Có lẽ không mùa nào trong năm lãng mạn như mùa thu. Từ lâu mùa thu đã gắn liền với thi ca, hầu như trong tất cả những thi sĩ của mỗi dân tộc , khi mới bắt đầu yêu thơ và chọn con đường sáng tạo thi ca, họ đều không thể từ chối sự hấp dẫn tuyệt vời đầy xúc động của mùa thu. Ở Việt Nam, mùa thu mang đến những cảnh thật mơ màng, quyến rũ. Trong thiên nhiên mùa thu vừa là nguồn cảm hứng, vừa là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm của thi nhân. Bước vào thiên nhiên xưa, là bước vào một thiên nhiên tĩnh lặng, yên bình và thanh vắng trở thành vẻ đẹp của thiên nhiên trong nghệ thuật cổ điển. Đêm thu, trăng lặn, quạ kêu, sương đầy trời, hàng phong bên sông, ngọn lửa thuyền chài hắt hiu, nửa khuya tiếng chuông chùa ngân nga làm rung động sóng nước, Trương Kế đã viết nên bài thơ để đời: Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên Cô Tô thành ngoại Hàn San tự Dạ bán chung thanh đáo khách thu yền (Phong Kiều Dạ Bạc)
  20. 20. 19 Nếu vị tiên thơ đã để lại cho đời những vần thơ bay bổng, lãng mạn thì vị thánh thơ lại mang duyên nợ với đời qua những trang thơ ai oán, day dứt triền miên về những cảnh đời đau khổ, bất hạnh. Đỗ Phủ thường đặt nỗi niềm vào khung cảnh thiên nhiên cao rộng. Lác đác rừng phong hạt móc sa Ngàn năm hiu hắt khí thu lòa Một cảnh rừng mùa thu lạnh lẽo, trắng xóa, bạt ngàn những tuyết và chỉ toàn là tuyết làm lòng người thêm hiu quạnh. Bao đau đớn, bi thương, bất hạnh dồn vào cuối cuộc đời của Đỗ Phủ làm tiếng thơ ông sầu thảm và bi lụy như vậy. Cảnh mùa thu ở đây có vẻ hoành tráng, dữ dội, đúng với phong cách trầm uất và bi tráng của Đỗ Phủ. Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ Cô chu nhất hệ cố viên tâm Cảnh thu trong thơ xưa có khi được miêu tả qua một số câu thơ trong bài tứ tuyệt, bát cú đường luật. Nhưng cũng có khi cả bài thơ lại hướng về tả cảnh mùa thu hoàn chỉnh. Nói về đề tài “ vịnh thu ” trong thơ trung đại Việt Nam, cũng nghĩa là tìm hiểu quá trình phát triển của nó qua nhiều thế kỉ. Ban đầu, các nhà thơ cổ điển Việt Nam “vịnh thu” đã đi theo khuôn mòn sử dụng những hình ảnh có sẵn trong nguồn thơ Trung Quốc và mang tính ước lệ, tượng trưng. Các nhà thơ trung đại thường “vịnh thu” ở trạng thái tĩnh và buồn lặng lẽ. Nhà thơ, nhà phê bình Xuân Diệu có lời khen bài Mùa thu của Ngô Chi Lan, một nữ sĩ dưới thời Lê Thánh Tông. Xuân Diệu cho rằng bài thơ của bà là “một bước tiến của thơ, lời văn ở đây trong sáng, liền, thoải mái, không gợi và không có nhạc điệu” [2.15]. Bài thơ nôm có nhan đề Mùa thu đã thể hiện rõ chủ ý của Ngô Chi Lan, nhà thơ đã dành trọn cho việc tả cảnh thu :
  21. 21. 20 “ Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa Giếng ngọc, sen tàn, bông hết thắm Rừng phong lá rụng tiếng như mưa” . ( Hồng Đức Quốc âm thi tập ) Qua thế kỉ 16 – 18, các nhà thơ trung đại Việt Nam ít sử dụng những hình ảnh mang tính công thức, ước lệ khi, không đi theo khuôn mòn khi tả cảnh thu. Nguyễn Du tả cảnh trời thu qua sự phản chiếu của cái long lanh đáy nước in trời: “ Long lanh đáy nước in trời Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng” ( Truyện Kiều ) Một bầu trời thu xanh trong và một mặt nước thu cũng trong veo đã tạo nên một bức tranh tuyệt vời đến vậy. Từ láy “long lanh” đặt lên đầu câu càng tạo nên vẻ hấp dẫn cảnh trời thu, nước thu và âm hưởng mùa thu. Với cảnh thu man mác thơ mộng, sương khói giăng khắp núi đồi đã thoáng hiện ra não nề trong Đoạn trường tân thanh của đại thi hào Nguyễn Du : “ Người lên ngựa, kẻ chia bào Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” ( Truyện Kiều ) Những câu thơ thu chia biệt trong Truyện Kiều đã xé nửa vầng trăng. “Thu” không những để thưởng ngắm, đồng thời còn ký thác tấm lòng của tác giả. Đúng là mùa thu đã gợi nhắc buồn mơ trong xa cách nhớ nhung, tạo nên những biến thái nhạy cảm của tâm hồn thi nhân bởi mùa thu. Mùa thu giữ lại bóng trăng mơ màng, giữ lá vàng cùng sương biếc. Bao trùm lên tất cả là màu
  22. 22. 21 vàng xôn xao của lá, của gió, của trăng, của thời gian đã trôi, hòa lẫn vào trong cõi lòng đơn chiếc. Mùa thu là mùa chuyển giao những động thái về tạo hóa, nó tạo nên sự mơ hồ giữa trong xanh mùa hạ chưa qua và hiu hiu cái rét của mùa đông đang chờ . Một trong hai đại biểu xuất sắc cuối cùng của nền văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Khuyến (1835–1909) được coi là bậc quán quân về thơ tả cảnh mùa thu. Bản nhạc của mùa thu đã đưa nhà thơ Yên Đổ về với tâm trạng cô đơn, buồn lắng, u uất hòa nhập với trời thu tĩnh vắng. Chùm thơ thu ba bài Thu vịnh, Thu điếu, Thu ấm của ông được đánh giá là tam tuyệt của thơ thu Việt Nam. Đằng sau cảnh thu tĩnh lặng là nỗi niềm tâm sự thầm kín của thi nhân. Với ba bài thơ thu nổi tiếng thì những ưu điểm trong bút pháp miêu tả của ông sáng rỡ lên như một dấu son tươi mới. Với tài năng của mình, Nguyễn Khuyến đã đưa thơ Việt Nam tiến lên một bước mới, đặc biệt là đến với hiện thực, cụ thể là sinh động hơn trong bút pháp miêu tả. Thiên nhiên làng quê trong thơ Yên Đổ đến với độc giả bằng tất cả vẻ đẹp giản dị, thanh sơ. Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, luôn tỏa ra thứ ánh sáng làm êm dịu trong trẻo và say đắm lòng người. Thiên nhiên bao la của những ngày thu muộn, có ao nước trong veo lóng lánh bóng trăng, có đom đóm lập lòe ngõ tối, đã tạo nên ba bức tranh đặc sắc về cảnh thu Việt Nam ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỉ 18 đến hết thế kỉ 19, Nguyễn Lộc nhận định : “ Nói về thiên nhiên trong văn học cổ có rất nhiều, tả cái đẹp của thiên nhiên mùa thu trong văn học cổ có rất nhiều, tả cái đẹp của thiên nhiên mùa thu trong văn học cổ rất hay. Nhưng trước Nguyễn Khuyến, chưa bao giờ có một thiên nhiên nào đậm đà phong vị của đất nước, quê hương đến thế” [29.57] .
  23. 23. 22 Xuân Diệu cũng đã từng nhận xét : “Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm, mà trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu : Thu ẩm, Thu điếu, Thu vịnh” [2.34] . Đến với Tam Nguyên Yên Đổ, mùa thu là mùa của gió heo may, của trời xanh trăng sáng, là mùa lá rụng, là mùa côn trùng sinh sản, đêm tối đóm lập lòe đầy vườn. Quả thật, phải là người đã sống và hòa mình thật sự với cảnh vật đồng quê Việt Nam như Nguyễn Khuyến, mới có thể rung động tất cả các nét đặc thù của mùa thu, để dồn vào ba bài thơ tiêu biểu cho mùa thu Việt Nam là bài thơ Thu điếu được viết bằng chữ Nôm, làm theo thể thất ngôn bát cú đường luật. Cảnh thu được miêu tả hầu hết tám câu thơ, hình ảnh con người chỉ xuất hiện trực tiếp ở hai câu cuối bài. Đọc bài thơ, chúng ta có thể tưởng tượng ra trước mắt một bức tranh thủy mặc, khung cảnh thu được gói vào trong một không gian hẹp, đó là “chiếc ao thu” nhỏ bé, xinh xắn, chiếc thuyền câu cũng bé tẻo teo. Nguyễn Khuyến dường như hóa thân thành một nhà quay phim tài ba bậc nhất. Tầm nhìn của ông bao quát cả không gian mùa thu : “ Ao thu lạnh lẽo, nước trong veo Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợi tí Lá vàng trước ngõ khẽ đưa vèo” ( Thu điếu ) Tác giả khắc họa thành công bức tranh mùa thu mang nét đặc trưng của mùa thu vùng đồng bằng chiêm trũng Bắc Bộ. Cảnh thu đẹp hài hòa, vừa trong vừa tĩnh, vừa gần gũi vừa quen thuộc, mộc mạc, dân dã hồn hậu, dễ đi vào lòng người, vừa sinh động lại đượm buồn. Cả khung cảnh ấy làm phông duy nhất cho một chiếc lá thu vàng rơi trước gió. Chữ “vèo” tả dáng thanh mảnh của chiếc lá mùa thu bay. Tuy nhỏ bé nhưng dường như nó có sức thu cả đất trời vào mình.
  24. 24. 23 Bức tranh thu điếu xuất hiện nhiều gam màu lạnh: độ xanh trong của nước, độ xanh biếc của sóng, độ xanh ngắt của trời. Cái lạnh của cảnh, của ao thu, trời thu thấm vào tâm hồn nhà thơ hay chính cái lạnh từ tâm hồn nhà thơ lan toả ra cảnh vật? có người cho rằng câu thơ Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo có phần không hợp lý: lá vàng khẽ đưa trước gió không thể có độ “ vèo” khi bay. thực ra điều đó có vẻ không hợp lý ấy lại rất lô gíc, rất thống nhất tâm trạng. Từ “vèo” chính là sự thể hiện tâm sự thời thế của nhà thơ, một tâm sự đau buồn trước hiện tình đất nước đầy đau thương. Thời thế thay đổi quá nhanh, non sông mất vào tay giặc mà mình không làm được gì để giúp đời, cứu nước. Hình ảnh ao thu như đưa ta về với mùa thu đích thực của đồng bằng Bắc Bộ, một ao thu “trong veo”, “lạnh lẽo”, một mặt nước sóng “gợn tí” tưởng chừng như phẳng lặng, mang đến cho con người một cảm giác tĩnh tại, bình yên vô cùng. Giữa mặt ao thu phẳng lặng là một chiếc thuyền câu bé nhỏ gợi lên một cảm giác lạc lõng, vô định của con người. Khi nhắc đến mùa thu ở đồng bằng Bắc Bộ, người ta có thể liên tưởng ngay đến ao thu. Dường như chất thu thấm đượm trong hình ảnh ao thu. Ngước mắt lên nhìn là bầu trời xanh ngắt, rộng lớn, cao vời vợi : “ Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” ( Thu Điếu) “ Ngõ trúc” là hình ảnh rất đặc trưng cho cảnh làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đọc câu thơ, ta như lạc vào một không gian vắng lặng, bình yên của mùa thu Bắc Bộ với một ngõ trúc vắng vẻ, quanh co. Nhà thơ không những cảm nhận được vẻ quạnh quẽ của đêm thu mà còn như đo được độ sâu của đêm. Quả thật không thể có được hình ảnh thơ thuần việt tuyệt đối ấy nếu không có một tình yêu quê hương đằm thắm đến vô cùng. Trước thời cuộc đảo điên, vận nước đen tối, một ông quan thanh liêm đã về vườn, liệu có thể làm được gì cho dân cho nước? Nhà thơ muốn gửi gắm tâm sự của mình vào cảnh thu để bớt đi nỗi
  25. 25. 24 buồn vì bất lực. Song thiên nhiên làng quê mộc mạc, thân thiết ấy lại càng làm cho ông cảm thấy day dứt về trách nhiệm của bản thân. Khát vọng phục vụ quê hương không thành, cũng giống như việc câu cá không được, ông chưa đủ kiên nhẫn để ngồi chờ vì không còn cách nào khác giải tỏa niềm u uất của mình. Nỗi trống vắng khôn cùng khiến nhà thơ nghe được tiếng cá đớp mồi thật nhỏ, đó là âm thanh duy nhất trong khung cảnh thu tĩnh lặng : “ Tựa gối ôm cần lâu chẳng được Cá đâu đớp động dưới chân bèo” ( Thu Điếu- Nguyễn Khuyến) Một tư thế “ tựa gối ôm cần”, một sự đợi chờ “ lâu chẳng được”, một cái chợt tỉnh khi mơ hồ nghe “cá đớp” . Người câu cá như đang ru hồn mình trong giấc mộng mùa thu, đó là một cuộc đời thanh bạch, một tâm hồn thanh cao. Cũng như mạch cảm xúc ấy, Nguyễn Khuyến đã đưa cái thần của cảnh thu Việt Nam vào bài Thu vịnh : “ Trời thu xanh nắt mấy tầng cao Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc bóng trăng vào” ( Thu vịnh) Cái thanh thoát nhẹ nhõm, cái cao vời vợi của không gian được gói gọn trong bầu trời thu xanh ngắt. Điểm nhấn trên bầu trời ấy là “ cần trúc”. “ Cần trúc” còn non trông yếu ớt, khi có làn gió hiu hiu thổi nhẹ, giống như chiếc cần câu nghiêng bóng xuống mặt ao, đu đưa trước gió. Không gian mùa thu như chìm lẫn trong màn sương mờ ảo của buổi chiều. Hình ảnh mùa thu pha thêm màu “ nước biếc” với khói phủ nhạt nhòa. Cảnh vật ở đây thật tĩnh lặng:
  26. 26. 25 “ Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không ngỗng nước nào Nhân hứng cũng vừa toan cất bút Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào” ( Thu vịnh ) Chùm hoa xuất hiện trong Thu vịnh, đưa hương thơm ngạt ngào từ quá khứ bay đến hiện tại bằng trí tưởng tượng của chính nhà thơ. Tiếng ngỗng vọng tưởng kêu vang trong bầu trời như bứt tâm hồn nhà thơ về với thực tại. Âm thanh ấy vang xa sao mà xa lạ thế, bởi đó đâu phải là ngỗng quê hương. Nỗi đau của người dân mất nước, càng thấm thía hơn trong đêm thu vắng vẻ. Nguyễn Khuyến bộc lộ lòng mình, ông thấy thẹn thùng với Đào Tiềm, thi sĩ nổi tiếng ở Trung Quốc đã sớm từ quan về ở ẩn trước cuộc đời ô trọc. Cái thẹn trong lời kết ở Thu vịnh càng khiến nhân cách của Nguyễn Khuyến thêm sang đẹp. Đứng trước thiên nhiên kì diệu ấy, tâm hồn con người như được soi bằng thứ ánh sáng tinh khiết để nhân cách được bộc lộ dễ dàng hơn. Đến với Thu ẩm, chúng ta cũng không thấy những hình ảnh ước lệ, sang trọng mà thay vào đó là sự thanh sơ và giản dị với : “Năm gian nhà có thấp le te Ngõ tối đêm sâu đóm lập lèo Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt Làn ao lóng lánh bóng trăng loe ” ( Thu ẩm ) Hình ảnh “ gian nhà ” vừa là tả thực, vừa khái quát tầm vóc của một làng quê ở vùng đồng chiêm trũng. Từ láy “le te” đã khắc họa hình dáng của ngôi nhà cỏ trong không gian, nó là nơi thu hút, hội tụ sự ấm áp của đời sống nông thôn
  27. 27. 26 đất Việt. Không gian mùa thu với bầu trời cao rộng, những gian nhà cỏ thấp như những chiếc nấm. “Thấp le te”, gợi lên cảm giác đơn sơ, nhỏ bé, “ngõ tối” và “đêm sâu” là cảnh bình thường nhưng lại có ánh lửa đom đóm, “lập lòe” làm cho “ngõ tối” và “đêm sâu” lúc tối, lúc sáng. Chữ “lập lòe” vừa gợi độ sinh động của ánh lửa đóm chớp nháy trong đêm vắng. Không gian mùa thu như chìm vào trong làn khói nhẹ chập chờn. Bắt gặp hình ảnh con đom đóm nhỏ bé trong thơ Nguyễn Khuyến, chúng ta lại thấy tràn ngập tâm hồn thứ ánh sáng của đồng nội. Tuy yếu ớt, nhưng có thể làm sáng tâm hồn con người : “Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe” Qua chùm thơ thu của mình, Nguyễn Khuyến đã tài tình thâu tóm đươc cái hồn thu của làng quê Việt Nam trong các bài thơ thu. Cách cảm nhận mùa thu của Nguyễn Khuyến là cái thu của đất trời, của không gian, của làng quê đất nước. Nó mang nỗi buồn chung của vũ trụ, của thời đại, của cả một lớp ngưởi như ông. Nó mang nỗi buồn nhưng là cái buồn ẩn chứa trong thiên nhiên, trong vũ trụ, không phải la cái buồn được bộc lộ trực tiếp của cá nhân. Ta yêu biết bao cái thanh cao trong trẻo, dịu êm và không khí tĩnh lặng, thanh bình của mùa thu Việt Nam trong thơ Nguyễn Khuyến. Cảm hứng về mùa thu đã đi vào trong thơ ca Việt Nam thật bình dị, thanh sơ và thấm đẫm tâm trạng . 1.3. Các nhà thơ trong phong trào Thơ mới Tiếp nối mùa thu của thơ ca dân tộc, các nhà Thơ mới đã có những đóng góp quan trọng trên đề tài này. Cũng giống với mùa thu xưa, với bầu trời xanh thắm, nắng vàng, trăng thanh, sương khói phủ… Đến với Thơ mới, mùa thu không chỉ là thi liệu mà còn được nhìn dưới góc độ phân tích tâm lí tinh vi, được cảm nhận như sự hòa nhập vào thiên nhiên tràn trề thanh khí. Các nhà Thơ mới đã miêu tả thiên nhiên với cảm hứng hiện đại. Không chỉ là hình ảnh và cảm xúc, các nhà Thơ mới đặc biệt chú ý đến sự cảm nhận trực tiếp của các giác quan. Quan sát lắng nghe rất cụ thể và tinh vi, cùng với những liên tưởng, mộng
  28. 28. 27 tưởng đã góp phần tạo cho những bài thơ viết về thiên nhiên vừa chân thực, vừa thơ mộng, vừa lãng mạn. Mùa thu đã trở thành nguồn cảm hứng của các nhà Thơ mới, trong tâm tư riêng của mỗi người, đều mang nỗi niềm riêng của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử… Xuân Diệu có những khám phá tinh vi về thị giác trong Đây mùa thu tới. Lưu Trọng Lư lắng nghe tinh tế từ cá xào xạc của lá thu đến tiếng lòng thổn thức của tình thu ở người thiếu phụ qua bài Tiếng thu. Huy Cận với chất thu man mác trong nhiều bài và lặng buồn với Thu rừng. Chế Lan Viên buồn đến nao lòng mỗi độ thu về . Chùm thơ về mùa thu trong phong trào Thơ mới như Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, Thu của Chế Lan Viên là những bài hay vào loại bậc nhất trong Thơ mới. Mùa thu thường được gắn liển với thơ ca, Xuân Diệu đã nhiều lần rung động với mùa thu Đây mùa thu tới, Ý thơ, Thơ duyên… Trước tiên ở giai đoạn tiếp giáp với Thơ mới, chúng ta có thi sĩ Tản Đà, nhà phê bình nghiên cứu văn học Hoài Thanh đã nhận định : “Tiên sinh đã cùng chúng tôi chia sẻ một nỗi khát vọng thiết tha, nỗi khát vọng thoát ly ra ngoài cái tù túng, cái khô khan của khuôn sáo” [38,11]. Thi sĩ Tản Đà (1888 – 1939 ) miên man “giấc mộng con” và cảm thu với nỗi ngạm ngùi, thơ thẩn Tản Đà chịu ảnh hưởng của Nho giáo, có những lúc ông đi tìm cái đẹp trong thầm lặng quý phái : “ Trận gió mùa thu phong rụng lá vàng Lá rơi hàng xóm lá bay sang Vàng bay mấy lá năm già nữa Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng Trận gió thu phong rụng hồng Lá bay tường bắc lá sang đông
  29. 29. 28 Hồng bay mấy lá năm hồng kết Thơ thẩn kìa ai vẫn đứng không” ( Gió thu ) Tản Đà diễn tả tài tình từ “lá vàng bay” đến “vàng bay mấy lá”, tạo nên mùa thu trong nỗi buồn xa vắng với cảnh biệt ly lá rơi lác đác. Tình yêu của Tản Đà tuy nhẹ nhàng nhưng không kém phần đậm đà tha thiết : “ Lá thu rơi rụng đầu ghềnh Sóng thu đưa lá bao nghành biệt ly” (Cảm thu, tiễn thu) Mỗi độ thu sang, thi sĩ Tản Đà mang tâm trạng man mác buồn, trước những rơi rụng biến đổi, mai một của thiên nhiên và cuộc đời : “Từ vào thu đến nay Sương thu lạnh Trăng thu bạch Khói thu xây thành Lá thu rơi rụng đầu ghềnh Sương thu đưa lá bao nghành biệt ly” ( Cảm thu, tiễn thu ) Tương Phố thì khóc thu : “ Trời thu ảm đạm một màu Gió thu hiu hắt thêm rầu lòng em” ( Giọt lệ thu ) Sầu thu nặng, lệ thu đầy, Vi lau san sát, hơi may lạnh lùng, Ngổn ngang trăm mối bên lòng, Ai đem thu cảnh họa cùng thu tâm… ( Giọt lệ thu)
  30. 30. 29 Giọt lệ thu mở đầu cho lối thơ thê lương, ảo não. Người buồn nên nhìn cảnh vật đâu cũng buồn, cũng nhuốm màu tê tái, trời thu ảm đạm, gió thu hiu hắt, sầu thu nặng, lệ thu đầy. Lòng người ngổn ngang trăm mối. Chàng đi, đi chẳng trở về, Thu về, thiếp những tê mê dạ sầu! ( Khóc thu hận) Người nhớ người, người nhớ cảnh, lòng sầu ảm đạm day dứt không nguôi...Đến với Hàn Mặc Tử (1912 – 1940 ), định mệnh tàn khốc đã làm ông đau khổ vì căn bệnh nan y không thể chữa lành. Nên thơ của ông như những tiếng cười đau xót thì thầm : “ Ấp ứng không ra được nửa lời Tình thu bi thiết lắm thi ơi! “Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt Hiu hắt heo may thoáng lại rồi Nằm gắng đã không thành mộng được Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt Cảnh sắp về đây mắt lệ rơi” . ( Buồn thu ) Thật là những lời thơ sầu não và đầy tình tứ, ai có thể tưởng tượng rằng Hàn Mặc Tử chính là một nhà Tây học. Câu thơ thứ hai vang lên thật thảm thiết, tê tái cõi lòng. Mùa thu đến với thi nhân trong âm thầm kín đáo, mang một chút buồn man mác. Ngồi ở bến đò vào một chiều thu nhạt nắng, trông theo ngọn gió thổi qua rừng, làm rơi rụng những chiếc lá mùa thu, lá mùa thu, gợi cho viễn khách một nỗi buồn bâng quơ. Bỗng đâu đây văng vẳng lời ca réo rắt nghe rụng rời cõi lòng ai, nhất là cõi lòng của viễn khách lỡ chuyến đò ngang vào một buổi chiều thu :
  31. 31. 30 “ Mùa thu đến chậm như chưa đến Lá vội rơi theo lá vội vàng Sương đã dâng lên chiều lắng xuống Bến đò đã tắt chuyến sang ngang” . ( Chiều thu ) Mùa thu đã đến, nhưng dưới con mắt của thi sĩ làng quê Nguyễn Bính, mùa thu đến thật chậm như chưa hề đến. Trong buổi chiều thu ấy, với những làn gió heo may, với ánh nắng đã mờ nhạt, đứng trước bến đò thu, nhà thơ không khỏi nao lòng . Chiếc lá rơi vội để kịp hòa mình vào với mùa thu, sương dâng lên như một làn khói mỏng bao trùm cả không gian, lắng chiều lặng lẽ ra đi nhường chỗ cho sương dần xâm chiếm…Chỉ bao nhiêu đó thôi cũng đủ làm cho lòng người sầu lên chơi vơi. Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ, Mùi hoa thiên lý thỏang chiều thu. Con cò bay lả trong câu hát, Giấc trẻ say dài nhịp võng ru. Lá thấp cành cao gió đuổi nhau, Góc vườn rụng vội chiếc mo cau. Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác Đàn kiến trường chinh tự thủa nào. Lúa trổ đòng tơ, ngậm cốm non, Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con. Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín, Điểm hạt da trời những chấm son. (Chiềuthu)
  32. 32. 31 Lòng người thật hào phóng, chỉ mới một vài khoảnh khắc, vài tín hiệu báo thu về đã thả cả hồn mình chìm đắm trong cảnh sắc mùa thu. Không yêu mến bằng cả trái tim nồng cháy thì làm sao nhà thơ lại rung cảm được sâu sắc đến thế? Mùa thu ấy là mùi hoa thiên lý lan tỏa đâu đây, hương hoa phả trong không gian, gió mùa thu đuổi giỡn nhau trong vườn ,chiếc mo cau rụng xuống phụ họa thêm cho buổi chiều thu huyền diệu. Trái na mở mắt nhìn ngơ ngác, sao mùa thu đẹp quá! Huyền diệu quá! Ngoài đồng lúa đang trổ đòng ngậm cốm non. Ai đã từng thưởng thức thứ cốm của làng quê Bắc Bộ hẳn không thể nào quên món quà của cốm non mà đất trời đã ban tặng. Thu mênh mông khắp không gian là thế, thu lảng bảng khắp núi rừng là thế. Với nhà thơ Huy Cận, chỉ cần một cơn gió thoáng, chỉ cần một đám mây trôi, một buổi chiều lá rụng, với nắng vàng hiu hắt cũng đủ gieo vào lòng thi nhân nỗi buồn tỉ tê, não nề: Mây bay lũng thấy giăng màn âm u Nai cao gót lẫn trong mù Xuống rừng néo thuộc nhìn thu mới về Sắc trời trôi dạt dưới khe Chim bay, lá rụng cành nghe lạnh lùng Sầu thu lên vút, song song Với cây hiu quạnh, với lòng quạnh hiu Non xanh ngây cả buổi chiều Nhân gian em cũng tiêu điều dưới kia” . ( Thu rừng ) Ở tác phẩm Thu của Chế Lan Viên, nhà thơ đã bày tỏ sự tiếc nuối với sự sống bị lụi tàn khi thu sang. Nhà thơ không nén được sự buồn giận trước cánh hoa tàn, lá rụng. Chế Lan Viên vẽ lên những cảnh điêu tàn, niềm luyến tiếc đến một thửa vàng son, oanh liệt ngày xưa. Nhà thơ có trí tưởng tượng phong phú,
  33. 33. 32 tuy nhiên những chi tiết nhà thơ diễn tả thật giản dị, đơn sơ nhưng không đánh mất nét thơ mộng. Nhà thơ vừa miêu tả, vừa bộc lộ cảm xúc trước cảnh thu : “ Chao ôi ! thu đã đến rồi sao ? Thu trước vừa qua mới độ nào Mới độ nào đây hoa rạn vỡ Nắng hồng choáng ấp dãy bàng cao” ( Thu ) Trong một năm, nhà thơ ưa nhất là mùa thu, mùa thu qua được một ngày Chế Lan Viên đã nhớ : “ Ô hay, tôi lại nhớ thu rồi Mùa thu rớm máu rơi từng chút Trong lá bang thu đỏ ngập trời Đường về thu trước xa lắm lắm Mà kẻ đi về chỉ một tôi” . ( Thu ) Nỗi mong nhớ ở đây đã thành thực, nỗi mong nhớ ấy còn to lớn lạ lùng. Nhà thơ ưa mùa thu, ghét mùa xuân. Trong khi thu đến, Chế Lan Viên lại muốn: “ Ai đâu trở lại mùa thu trước Nhặt lấy cho tôi những lá vàng ? Với cả hoa tươi muôn cánh rã Về đây đem chắn nẻo xuân sang” . ( Xuân ) Nhận xét về khổ thơ này, trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh và Hoài Chân viết : “ ý muốn ngông cuồng, ngộ nghĩnh ? Đã đành. Trong cái ngộ nghĩnh , cái ngông cuồng ấy tôi còn thấy một sức mạnh phi thường. Chắn một luồng gió, chắn một dòng sông, chắn những đợt sóng hung hăng ngòai biển cả, nhưng mà
  34. 34. 33 chắn nẻo xuân sang ! Sao người lại có thể nghĩ được như thế ?” [38.225] . Chế Lan Viên có lúc thích làm thông để "chống chọi với trời đông nghiêm khắc", với "triệu tấn mây buồn áp bức"...Có lúc phải làm thông gồng mình lên "nhọn hoắt", "vững vàng xanh", nhưng rồi có lúc được làm lau "buông thả phó mình cho gió thu vàng xạc xào xao xác", được buông "vũ khí" mà cất "tiếng hát mông mênh", làm người mà được thế tưởng không tệ.. Có lúc anh thích làm cây thông chống chọi với trời đông nghiêm khắc Triệu tấn mây buồn áp bức trên đầu thông nhọn hoắt Vững vàng xanh. Có lúc anh thích làm cây lau buông thả phó mình Cho gió thu vàng xạc xào xao xác Cây lau không vũ khí, mà chỉ có mơ hồ tiếng hát Mông mênh. ( Có lúc) Tại sao Chế Lan Viên lại ghét mùa xuân mà mãi mong nhớ mùa thu? Khác với nhiều nhà Thơ mới, mùa xuân hay mùa thu trong thơ Chế Lan Viên không phải là chuyện cảnh thiên nhiên, không chỉ là sự vận động của thời tiết làm vui hay cho buồn lòng người. Mà hình tượng mùa thu trong thơ Chế Lan Viên mang ý nghĩa triết lý về thời gian, về một thái độ sống. Đó là câu chuyện về hiện tại và quá khứ, về hướng vọng và niềm tin đắm đuối của một tâm hồn : “Đường về thu trước xa lăm lắm Mà kẻ đi về chi một tôi” ( Thu ) Trong Điêu tàn, mùa thu là biểu tượng của dĩ vãng xa xăm. Thật lạ khi Chế Lan Viên một mình trở về trên con đường thời gian xa mờ tít tắp. Và càng lạ hơn khi quá khứ mà nhà thơ không nguôi tìm về, đâu chỉ có vàng son mà phần
  35. 35. 34 lớn là hoang tàn, đổ nát. Nếu các nhà thơ lãng mạn cùng thời tìm ở mùa thu những gam màu dịu nhẹ, những nỗi buồn hắt hiu, sâu lắng thì Chế Lan Viên tìm thấy ở mùa thu sự tàn tạ, chán nản não nề. Mặc dù là như thế, nhưng Chế Lan Viên vẫn thích mùa thu, bởi chính sự tàn lụi ấy mang dấu tích một thời xưa oai linh hùng vĩ. Lúc này thi sĩ Chế Lan Viên trở thành một con người cô độc, luôn tìm kiếm hình bóng rực rỡ trong những gì đang rụng, đang “tan tác đổ”. Chế Lan Viên đã bày tỏ tiếc nuối với sự sống bị lụi tàn khi thu sang. Nhà thơ không nén được sự buồn giận trước cảnh hoa tàn, lá rụng : “ Thu đến đây! Chừ, mới nói rằng Chừ đây buồn giận biết sao ngăn? Tìm cho những cánh hoa đang rụng Tôi kiếm trong hoa chút sắc tàn ! Tìm cho những nét thơ xanh cũ Trong những tờ thơ lá võ vàng…” ( Thu ) Luôn sống trong hoài niệm nên gặp mùa thu này mà nhà thơ cứ nhớ về mùa thu trước, giữa hiện tại mà nhà thơ cứ đắm mình vào quá khứ . Với tâm trạng bâng khuâng, xao xuyến, nhớ nhung và hoài niệm, khi mùa thu qua đi, Tế Hanh đã bộc lộ cảm xúc của mình qua hình ảnh tượng trưng của gió, của mây, của nắng : “Mùa thu đã đi qua còn gửi lại Một ít vàng trong nắng, trong cây Một ít buồn trong gió trong gió, trong mây Một ít vui trên môi người thiếu nữ”. ( bài thơ tình ở Hàng Châu )
  36. 36. 35 Tế Hanh đã tinh tế rút lấy cái thần, cái hồn của thiên nhiên để bộc lộ cảm xúc đa dạng, bộc lộ sự phong phú của trái tim mình. Đồng thời nhà thơ gửi lại vào thiên nhiên cả cuộc sống, tâm hồn mình, khiến cho cảnh vật không chỉ có hình sắc mà còn chất chứa bao tiếng nói. Vốn là người yêu cái đẹp, suốt cuộc đời Tế Hanh luôn đi tìm và chắt chiu cái đẹp, từ vẻ đẹp thanh cao đến vẻ đẹp bình dị của cuộc đời, của thiên nhiên. Sức sống bền bỉ của tâm hồn thơ ông ẩn đằng sau những vần thơ miêu tả thiên nhiên. Tế Hanh thật tinh tế khi ông chớp lấy những khoảnh khắc gặp gỡ giữa tâm tình của mình với cái đẹp trong sự luân chuyển của thiên nhiên, tạo vật và để thiên nhiên “nói” giúp tâm tình người . Khi mùa thu chia xa, nhà thơ cảm nhận được cái buồn vắng, nhớ thương bởi sự ly cách : “Em đi trăng sắp độ ròn Mùa thu quá nửa, lá giòn khua cây Tiễn em trong cảnh thu này Lòng ta muôn tiếng, sao đầy lặng im” . ( Mùa thu tiễn em ) Không gian ở đây là không gian tĩnh, vũ trụ như ngưng lại trong phút giây chia ly của đôi lứa. Nỗi lòng của nhà thơ hòa quyện vào với vẻ đẹp quyến rũ của mùa thu . Mùa thu dường như có mặt trong thơ của Lưu Trọng Lư ở những thời điểm có ý nghĩa cho tình yêu đôi lứa. Những hỉnh ảnh đẹp như vầng trăng thu trong Tình điên đã chứng kiến biết bao vui buồn của chàng trai và cô gái : “Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu Em cười em nói suốt canh thâu Yêu nhau những tưởng yêu nhau mãi Tình đến muôn năm chửa bạc đầu”. ( Tình điên )
  37. 37. 36 Thơ Lưu Trọng Lư là những bản nhạc mờ ảo trên nền những bức tranh cũng mờ ảo. Những bản nhạc chìm sâu trong sương mờ, Tiếng thu vẫn ngâm, vẫn ca hát trong trái tim người người. Tiếng thu cũng là tiếng thầm thì, kín đáo, đi vào thế giới bên trong và lắng sâu trong tâm trạng. Lưu Trọng Lư đã nhạy cảm và đồng cảm khi lắng nghe âm thanh của mùa thu. Khi những ngày nắng hạ vừa tắt lửa, những cơn gió heo may thổi về, thiên nhiên đã ở vào buổi giao mùa. Các nhà thơ mới đều tinh tế và sớm cảm nhận những âm thanh thầm thì : “ Thu đến, nơi động tiếng huyền” ( Thơ duyên ) Như có sự giao cảm trong không gian và thời gian, trong không khí của mùa thu và cao hơn cả, thiết tha hơn cả là trong Tiếng thu : Tiếng thu chính là cái hồn của rừng quê, của trời đất và cái hồn hậu chất phác của chú nai vàng. Đó là tấm lòng của nhà thơ đang chờ đợi một bạn đường, rủ mình theo những lối cỏ, dẫn đến miền đất hứa, với bao điều tốt đẹp mà mình hằng ước mơ, khao khát. Dưới con mắt đa tình của nhà thơ, gió cũng biết “đau”, một nỗi đau thương quằn quại trong tâm hồn. Đọc những câu thơ trên tôi tưởng như bất lực, không biết viết sao trước ý thơ của thi nhân. Bằng những cảm hứng lãng mạn, các nhà Thơ mới đã họa lên trong thơ mình những bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc và đường nét độc đáo. Mùa thu trở thànnh nguồn cảm hứng của các nhà Thơ mới trong tâm tư riêng cuả mỗi người, nhưng nó đều mang nỗi niềm riêng của nhiều thế hệ. Với những tác phẩm viết về mùa thu của các nhà Thơ mới, chúng ta thấy rõ một cái tôi trữ tình thành thật với những cảm xúc, trạng thái của mình. Ở đó, con người sống cho mình, cho tình cảm của riêng mình, chứ không còn là tiếng nói của thời đại hay giai cấp. Sự thành thật trong trạng thái cảm xúc của các nhà Thơ mới đã đem đến cho thơ một cách thức biểu hiện mới, tự do hơn, thoáng đãng hơn và tinh tế hơn.
  38. 38. 37 CHƢƠNG 2 CẢM NHẬN VỀ MÙA THU TRONG THƠ XUÂN DIỆU, LƢU TRỌNG LƢ VÀ QUÁCH TẤN 2.1 Mùa thu trong thơ Xuân Diệu Xuân Diệu ( 1916 – 1985 ) là một tài năng lớn, ông là kết tinh của hai miền quê, hai dòng máu. Đó là dòng máu của người xứ Nghệ miệt mài siêng năng và dòng máu của người mẹ, xứ dừa Bình Định thơ mộng . Trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã nhận xét về Xuân Diệu : “Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống dào dạt chưa từng có ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết” [38.117]. Một năm sau, trong nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan cũng nhận xét : “Người ta thấy thơ Xuân Diệu đằm thắm, nồng nàn nhất trong các nhà thơ mới”. Đúng vậy, Xuân Diệu xuất hiện trong Thơ mới với tất cả lòng say mê yêu cuộc sống, khát khao giao cảm với đời. Ở nhà thơ là sự nhạy cảm trước những bước đi của thời gian, một tâm hồn cảm nhận hết sức tinh tế. Đồng thời là cách bộc lộ cảm xúc mới mẻ chưa từng có trong thơ ca đương thời . Xuân Diệu cũng hay viết về mùa xuân, mạch thơ tuy đã bộc lộ được tình cảm trẻ trung sôi nổi của nhà thơ nhưng kém phần cô đọng và tài hoa như những thi phẩm viết về mùa thu. Điều đó phải chăng khi Xuân Diệu trở về mạch trữ tình truyền thống thì hồn thơ Xuân Diệu cũng đằm thắm hơn và phải chăng ông cũng muốn đa dạng hóa thơ mình bằng cách sáng tạo thêm một mạch trầm cảm xúc. Hơn nữa, một tài năng thơ dù hiện đại và mới mẻ đến đâu cũng không hề cắt đứt hoặc đối lập hoàn toàn với quá khứ thơ ca dân tộc, cùng những đặc điểm chung trong tư duy nghệ thuật của thời đại mà nhà thơ đang sống. Với nhửng
  39. 39. 38 nốt nhạc trẩm bổng của giai điệu trữ tình về mùa thu, với những phát triển sáng tạo trong cách dùng từ ngữ, hình ảnh thơ, cách bộc lộ cảm xúc rất mới mẻ. Mùa thu trong thơ Xuân Diệu có một vẻ đẹp rất riêng, một vẻ đẹp trong sự sầu muộn, vẻ đẹp ẩn chứa sâu kín nhưng rất nên thơ. Đây mùa thu tới cũng vẫn sử dụng những thi liệu cổ truyền của dòng thơ ca cổ điển, vẫn những “liễu, lệ, vàng, hoa, sương, gió, mây, chim…” đã xây dựng lên dòng thơ Đường thi. Theo nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy thì Đây mùa thu tới, đã được hoán cái trong một chùm quan hệ mới. Không phải là “xi măng sắt thép” để tạo nên khung chịu lực của ngôi nhà thơ hiện đại, mà chúng tồn tại trong toàn kiến trúc như những kỉ niệm, một thứ “trí nhớ thể loại” theo cách mới của M.Ba-khơ-tin, chiếc dây nối cánh diều thơ với mạch trong thơ Đường, thơ Tống. Mở đầu bài thơ, Xuân Diệu miêu tả hình ảnh của một rặng liễu buồn đang đứng chịu tang : “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn” ( Đây mùa thu tới ) Từ láy “đìu hiu” gợi lên dáng liễu hơi hao gầy đi, dáng đứng buồn lặng lẽ, có một một cái gì đó như mơ màng, phảng phất. “Liễu” ở đây được gợi tả như một người thiếu nữ có tâm hồn. Khi thu sang không gian bao trùm lên là làn gió mùa thu, làn gió mang lạnh về khiến lòng người xao xuyến, bâng khuâng… Câu thơ gợi hình ảnh mái tóc của người thiếu nữ, một mái tóc dài thướt tha. Mùa thu hóa thành một thục nữ mĩ miều, thướt tha và u buồn, đẹp một vẻ đẹp lãng mạn, cao sang. Nàng thu của Xuân Diệu đang nhón gót hài trên đường biên của phút giao mùa từ hạ sang thu bằng rặng liễu ven hồ. Những câu thơ buồn của Đây mùa thu tới gợi lên một tâm trạng buồn đến tang tóc. Buồn vì cái lạnh len lỏi đâu đây gợi nỗi cô đơn, buồn vì cảnh sắc mùa thu hợp với tâm trạng buồn của tác giả. Đúng như thơ đã từng nói “Xuân người ta vì ấm mà cần tình. Thu người ta vì lạnh sắp
  40. 40. 39 đến mà rất cần đôi, cho nên không gian đầy những nỗi nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau và lòng tôi nghe tất cả du dương của thứ vô tuyến điện ấy” [10,23]. Xuân Diệu, một nhà thơ của tình yêu, ông đã đi trọn con đường “lạ hóa”[38,40] thơ theo cách của ông. Mỗi sự vật hiện tượng thiên nhiên trong thơ ông đều toát lên một chất người mạnh mẽ. Chúng ta ngỡ rằng, với một con người khao khát sống, khao khát yêu mãnh liệt và cuồng nhiệt như thế sẽ không hợp với đề tài mùa thu, một đề tài thường chỉ thích hợp với hồn thơ cổ điển với những vần thơ lắng đọng suy tư. Vậy mà khi bước vào thế giới của Đây mùa thu tới thì chúng ta mới chợt nhận ra rằng, Xuân Diệu là người có cái nhìn tinh tế và gợi cảm nhất trước những bước đi của thời gian mùa thu, ông đã khoác lên mùa thu những sắc màu, những cảm xúc mới, âm hưởng thơ xưa nhưng hơi thở hôm nay. “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang” ( Đây mùa thu tới ) Tín hiệu mùa thu trong thơ xưa thường là lá ngô đồng : “Ngô đồng nhất diệp lục Thiên hạ cộng tri thu” Đó là một tín hiệu đẹp và sang trọng nhưng đã trở nên cũ mòn, sáo rỗng. Với tư cách “là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ mới” dùng rặng liễu để báo thu sang. “Liễu” cũng là một thi liệu trong thi ca cổ điển nhưng có vốn tượng trưng cho vẻ đẹp duyên dáng mền mại của người thiếu nữ . Buổi chiều thu trong thơ Xuân Diệu không còn cái buồn hiu hắt quạnh quẽ, đậm chất cổ điển nữa mà nó ẩn chứ đầy chất lãng mạn của những tâm hồn đang yêu. Buổi chiều mùa thu mà đầy xôn xao, mùa thu trong thơ Xuân Diệu mà ta tưởng như mùa xuân, cái gì cũng có đôi, có cặp. Với nhà thơ, thu là tiếng
  41. 41. 40 “hoa rơi”, là tiếng “gió vỡ”, là bóng tối trên cành cây, là nhịp mùa đi, là gió thầm, mây lặng trong sự mơ hồ của tiếng chim : “Những chút hồn buồn trong lá rụng Bị ai nhàu tưởng dưới ánh trăng Bông hoa dứt cánh rơi không tiếng Chắc rằng gió cũng đau thương chứ Gió vỡ ngoài kia, ai có nghe…?” ( Ý thu ) Tâm trạng buồn của Xuân Diệu là nỗi buồn thế hệ, không tìm được lối ra trong cuộc đời cũ, tác giả tìm đến những hình ảnh thiên nhiên có tính tương đồng để biểu hiện cảm xúc. Thật ra nỗi buồn man mác là cảm hứng truyền thống trong thơ ca trung đại Việt Nam, nhưng cảnh thu trong thơ Xuân Diệu có cái mới, cái riêng của nó. Đó là chất trẻ trung tươi mới được phát hiện qua con mắt vẻ đẹp “xanh non” của tác giả, là sức sống của tuổi trẻ và tình yêu . Mùa thu có nhiều vẻ đẹp, màu sắc khác nhau và Xuân Diệu đã mở rộng sự tiếp nhận và cảm xúc của mình trước vẻ đẹp, màu sắc của mùa thu : “Đây mùa thu tới, mùa thu tới Với áo mơ phai dệt lá vàng”. ( Đây mùa thu tới ) Một tiếng kêu thầm như reo vui khi cảm nhận mùa thu đang đến. Câu thơ có hai tiết tấu “mùa thu tới” trùng điệp và gây ấn tượng mạnh. Trong thơ ca cổ, chúng ta đã bắt gặp hình ảnh chiếc lá vàng trong thơ Nguyến Khuyến : “Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo” ( Thu điếu )
  42. 42. 41 Chúng ta lại một lần bắt gặp hình ảnh “gió vàng” trong thơ Nguyễn Gia Thiều: “Trải vách quế gió vàng hiu hắt” Bích Khê với màu vàng chan chứa sắc thu : “Ô hay ! buồn vương cây ngô đồng Vàng rơi, vàng rơi thu mênh mông” ( Tỳ bà ) Cùng viết về mùa thu, nhưng Đây mùa thu tới là một thế giới hiu hắt, lạnh lẽo, trong đó có sự phân lìa, tàn rụng thì Thơ duyên lại mở ra một thế giới thiên nhiên trong sáng, ấm áp, thế giới của vạn vật giao duyên, thế giới của cặp đôi. Trong Thơ duyên chúng ta một lần nữa bắt gặp một buổi chiều thu thật đẹp và thơ mộng : “Chiều mộng hòa thơ trên nhành duyên Cây me ríu rít cặp chim chuyền Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá Thu đến, nơi nơi động tiếng huyền”. ( Thơ duyên ) Cái đặc biệt trong bức tranh chiều thu này chính là ở sự nhịp nhàng, hòa điệu của cảnh vật thiên nhiên. Khi ta ngắm nhìn bầu trời thu qua vòm lá của cây, màu xanh của da trời chuyển sang màu xanh ngọc, vừa dịu mát, vừa nên thơ. Mùa thu ở đây không có lá vàng, lá úa, không thấy sự tàn phai mà ta thấy không gian của mùa xanh, không gian của sự sống . Trong bức tranh thu, xuất hiện tiếng “nhạc huyền”, là nhạc của dòng cảm xúc, nốt nhạc của tâm hồn khi đắm mình trong cảm xúc để lắng nghe tận trong thẳm sâu của lòng mình, tiếng của những âm thanh đan xen vào nhau cũng như
  43. 43. 42 tiếng lòng của thi nhân. Qủa thật đó là một không gian tràn đầy sức sống, một không gian níu kéo lòng người. “Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu Lả lả cành hoang nắng trở chiều” ( Thơ duyên ) Toàn bộ cái “thần” của câu thơ là ở những cặp từ láy “nhỏ nhỏ”, “xiêu xiêu”, “lả lả”. Những từ láy miêu tả đường nét, dáng điệu mền mại của cảnh vật, tạo nên nhạc điệu êm dịu. Hình ảnh “con đường”, làn gió và hàng cây tạo nên vẻ đẹp thấm thía của bức tranh thu khi lắng nghe những giao lưu bí ẩn trong trời đất. Không gian “con đường” với làn gió nhẹ “xiêu xiêu” vuốt ve, chỉ đủ sức làm cho hàng cây “ xiêu xiêu”, lướt nhẹ mềm mại theo chiều gió, mất vẻ an bằng xiêu xiêu theo chiều gió. Đó là không gian thơ mộng và trữ tình, ở Xuân Diệu mùa thu hòa mùa thu bừng lên sức sống tươi xanh của m ùa xuân. Có thể nói đây là những câu thơ hay vào loại bậc nhất của thơ ca hiện đại Việt Nam. Thơ Xuân Diệu đã chứng tỏ khả năng kì diệu của tiếng Việt trong việc tạo nên những hình tượng ngôn ngữ tuyệt đẹp và diễn tả những sắc thái thật tinh tế của cảm xúc . Nhà phê bình văn học Hoài Thanh đã từng nhận xét về Xuân Diệu: “ cái lối làm duyên rất có duyên …Cái vẻ đài các rất hiền lành” [38.119]. Đúng vậy, Thu chính là sợi tơ lòng của Xuân Diệu, sợi tơ ấy luôn nhạy bén trước sự biến động của thiên nhiên, của đất trời, nó còn rung lên những nhịp điệu khác thường không thấy ở bất kỳ đâu trước đó. Đó là một bức tranh thu vào lúc ngày đang tàn và đêm đang dần đến. Ta bắt gặp ở cái lạnh đầy duyên cớ của thiên nhiên cùng với cái lạnh bâng khuâng man mác của lòng người. Một khung cửi, một khuê phòng đang hiện dần ra với giọt sương, cây cỏ :
  44. 44. 43 “ Nõn nà sương mọc quanh thềm đậu Nắng nhỏ bâng khuâng chiều lỡ thì” ( Thu ) Câu thơ khiến ta liên tưởng đến những gì yếu điệu, ngọc ngà, trắng trong tinh khiết như một cánh hoa đang gặp cơn gió làn thoáng qua. Đồng thời là một khoảng thời gian mơ hồ “nắng nhỏ”, đó là sắc nắng nhạt nhòa thật côi cút. Cảm giác hụt hững ấy là do buổi “chiều lỡ thì”. Với biện pháp nhên hóa “chiều lỡ thì”, đã khơi dậy một nỗi niềm trắc ẩn xót. Câu thơ gợi lên một không gian chiều lơ lửng, một không gian chiều tràn đầy tâm trạng. Phải chăng, qua vẻ đẹp của thiên nhiên, Xuân Diệu muốn tưởng đến một cô gái đã qua cái độ trăng tròn, đang dần phai hương sắc . Xuân Diệu đã nhân hóa thiên nhiên bởi nhà thơ nghe được màu sắc, nhìn được âm thanh, nhất là những gì rơi rụng, héo tàn: “Hư vô bóng khói trên đầu lạnh Cành biếc run run chân ý nhi Hây hây thục nữ mắt như thuyền Gió thu, hoa cúc vàng lưng giậu” . ( Thu ) Hình ảnh “ý nhi”, “bức gấm”, “thục nữ”, “cúc vàng lưng giậu”, sắc áo trạng nguyên” đều hết sức tiêu biểu cho phong vị mùa thu trong thơ cổ. Ở Xuân Diệu là sự hòa điệu giữa nỗi buồn man mác của mùa thu với tâm trạng buồn của một nhà thơ lãng mạn. Xuân Diệu đã hóa thân vào thiên nhiên để cùng với cỏ cây hoa lá cảm nhận sự thay đổi của tiết trời vào mùa giao chuyển Dường như ở cô “thục nữ mắt như thuyền” đang chìm đắm vào một giấc mơ hoa. Nếu coi thiên nhiên là một đối tượng khai thác không thể thiếu cho quá trình tìm kiếm nguồn tư tưởng, so sánh và ấn tượng của tư duy thơ thì có thể nói rằng, Xuân Diệu đặc biệt tài tình về mặt này. Ông đã ban phát cho thiên nhiên sự
  45. 45. 44 rung động, cảm giác của mình và ngược lại từ thiên nhiên, ông đã tạo nên vô vàn những liên tưởng độc đáo và thú vị. Từ những cái rất mơ hồ của “gió thầm”, “mây lặng”, “mưa trưa”, “chiều tà”… trong bài Chiều, chỉ bằng những đường dây tơ nhân tạo trong không gian, nhà thơ giúp chúng ta mường tượng ra được cảnh yên tĩnh vô cùng của một buổi chiều thu : “Không gian như có dây tơ Bước đi sẽ dứt động hờ sẽ tiêu Êm êm chiều ngấn ngơ chiều Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn”. ( Chiều ) Không gian như có sự tương giao. Với Xuân Diệu, hình ảnh mùa thu hiện lên không chỉ ở những gì có thể nhìn thấy, nghe thấy, còn ở những liên tưởng gián tiếp chỉ có thể cảm nhận được mà thôi. Ở Xuân Diệu, cái buồn đã liên kết thành những luồng xao động trong tâm hồn nhà thơ. Đúng là “ vạn vật nức xuân tâm” bỗng dưng muốn phát tiếng[41,17] “Lá hồng rơi lặng ngõ thôn Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương”. ( Chiều ) Chính vì vậy, lòng ông luôn thấp thỏm lo âu trước cuộc đời xuân sắc đang vào độ tàn phai. Bằng tình cảm say xưa và sự chấp nhận thẩm mĩ tinh tế. Xuân Diệu đã phát hiện thêm nhiều vẻ đẹp khác nhau của mùa thu mà trước đó chưa ai nhìn thấy được : “Nghe chừng gió nhớ qua sông Em bên lau lách, thuyền không vắng bờ”. ( Chiều )
  46. 46. 45 Hay : “Bông hoa dứt cánh không lên tiếng Dưới gốc nào đâu thấy xác ve Thế mà ve đã tắt theo hè”. ( Ý thu ) Nỗi buồn ấy đã tràn ngập trong tâm tưởng nhà thơ, bởi chính nhà thơ cũng có nỗi niềm”buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn”. Xuân Diệu đã dưa chúng ta vào một thế giới của buồn chán, mênh mông và tuyệt vọng: « Tôi là con nai bị chiều giăng lưới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối”. ( Khi chiều giăng lưới ) Nhà thơ đã thực sự cô đơn như con nai bị “chiều giăng lưới”, biết đi đâu về đâu ? Đứng sầu tư cho đến khi bóng tối chìm ngập cả không gian. Khi thời gian trôi qua, Xuân Diệu mới ngỡ ngàng, ngơ ngẩn nhìn trạng thái của sự vệt đang ngả dần sang thu : “Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh”. ( Đây mùa thu tới ) Quả thật, có ai quan sát được như nhà thơ ? Chỉ có tâm hồn yêu thương mới dạt dào xúc cảm và quan tâm đến sự sống, mới có thể viết lên những vần thơ như vậy. Cảnh sắc đầu tiên mà mùa thu xâm chiếm là rặng liễu. Dường như cảnh sắc lan dần ra những khu vườn, những rặng núi, những dòng sông, những tầng trời và cuối cùng nó xâm chiếm vài lòng người. Mùa thu tới, sắc lá phai nhạt đi, hoa rơi rụng, cành lá gầy guộc đi, dáng núi nhạt nhòa hơn, sông vắng vẻ,
  47. 47. 46 không gian u uất và lạnh lẽo. Tuy nhiên dù cho có là buồn đi chăng nữa thì đây cũng là nỗi buồn thi sĩ : Hôm nay trời nhẹ lên cao Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn. Không gian bao trùm câu thơ là hoa mùa thu. Sắc thu ở đây là sắc vàng, sắc đỏ, sắc của sự tàn phai. Khi thu tới, không gian bao trùm là cái lạnh của mùa thu, nó làm cho cây hao gầy đi một chút và màu xanh của nó bị sắc vàng, sắc đỏ, nó “rũa” dần đi. Tác giả chọn từ “rũa” thật hay, cái đặc sắc của câu thơ là màu đỏ không diễn ra một cách nhanh chóng mà nó mất dần, ta chỉ cảm thấy chứ không nhìn thấy được. Qua câu thơ, chúng ta cảm nhận được bước chân mùa thu đang dần tới. Không phải chỉ cảm thấy bằng thị giác mà còn bằng xúc giác. Cuộc chuyển mùa nhập vào trong gió lạnh, lan tỏa trong sương giá. Cuộc chuyển mùa bỗng trở lên hữu ý, hữu tình, hoa, lá, liễu bỗng trở nên ngoa ngoắt, đỏng đảnh...một cách..rất thu. “Những luồng run rẩy rung rinh lá” ( Đây mùa thu tới ) Xuân Diệu là người đem đến cho thơ ca Việt Nam nhiều cái mới nhất“. Những cái mới đáng chú ý ở Xuân Diệu là “Những nguồn hứng và ý tưởng rất mới“. Và ông cho rằng còn phải chú ý nhữngchữ, những câu, những điệu trong những bài thơ ấy để hiểu lấy “cái nhạc điệu mới nữa“ (18, tr.715, 716). Ở Xuân Diệu, sự chú ý đặc biệt đến nhạc tính của câu thơ là ảnh hưởng quan niệm của trường phía thơ tượng trưng Pháp, nhưng cũng có nguồn gốc từ trong những cách sáng tạo và thưởng thức thơ cổ điển phương Đông nữa. Chính vì vậy, cảm xúc của nhà thơ vẫn hướng vào khung cảnh chiều thu .
  48. 48. 47 Không gian ở đây là gió và cái lạnh, cái lạnh ấy đã thấm đượm vào thân cây rồi chạy khắp thân cây, từ ngọn, búp, lá, đến từng tế bào của cây mà mắt thường không nhìn thấy. Nhà thơ đã gợi trong ta cái rùng mình thấm lạnh và cả nỗi sợ hãi của những chiếc lá dáng yếu ớt, cái rùng mình thấm lạnh và cả nỗi sợ hãi của những chiếc lá sắp phải lìa cành trước những cơn gió cuối thu. Với hình ảnh này, Xuân Diệu đã mang lại cho nền thơ ca một cách diễn đạt hay và mới mẻ . Mùa thu đến, những cơn gió lạnh đầu mùa làm cho cỏ cây run rẩy. Cách sử dụng những điệp từ và láy âm góp phần tạo hiệu quả cho câu thơ với người đọc. Trong thơ ca cổ cũng có những câu thơ có nghệ thuật láy ý, láy âm : “Dưới trăng quyên đã gọi hè Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” ( Truyện Kiều ) Theo Xuân Diệu điều quan trọng không chỉ là sự láy âm mà còn ở luồng cảm xúc mới của thi nhân, nó khác với nguồn cảm xúc của các nhà thơ cổ điển. Ở giữa vườn cây còn xum xuê lá, ta bắt gặp: “Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh” ( Đây mùa thu tới ) Mới chớm thu nên chỉ thấy “đôi nhánh khô gầy, gió lạnh về đã làm run rẩy, rung rinh” những chiếc lá. Không gian mùa thu ở đây đã truyền rung động sang người đọc một chút lạnh khi gió thu về. Câu thơ có kết cấu độc đáo, dường như chữ nào trong câu thơ cũng gợi vẻ khô gầy và héo tàn của cành cây : “nhánh gầy, khô xương, mỏng manh”. Với hình ảnh so sánh, nhân hóa đã gợi lên dáng lẻ loi, cô đơn giữa đất trời, từng nhánh khô gầy khẳng khiu như chạm khắc lên bầu trời cô đơn dưới mắt buồn của thi nhân. Tác giả mở rộng tẩm quan sát đến những cảnh vệt ở nơi xa :
  49. 49. 48 “ Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ Non xa khởi sự nhạt sương mờ”. ( Đây mùa thu tới ) Không gian thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu cũng là ánh sáng, nhưng trăng là “nàng trăng”, chúng ta thấy nó gần gũi và ấm áp hơn. “Trăng” trong thơ Xuân Diệu là hình ảnh của con người thiếu nữ trẻ trung, xinh tươi, dịu dàng, thơ mộng. Xuân Diệu không tả trăng thu vành vạch giữa trời, cũng không tả trăng thu đã tàn, mà là trăng thu “mới khởi sự” vừa mới nhô lên khỏi đỉnh núi. Xuân Diệu gọi đó là “nàng trăng”, là trăng thượng tuần của mùa thu. Với cách gọi đó, Xuân Diệu đã bộc lộ trực tiếp cảm xúc, mà nhà thơ trung đại chưa từng có “Trăng” qua cách gọi không phải là vô tri nữa mà là người thiếu nữ, trăng cũng có “hồn người”. Văn học trung đại chưa bao giờ có cách gọi như vậy. Nếu “trăng” ở trên được nhân hóa thành người thiếu nữ, thì “ngẩn ngơ” là từ chỉ tâm trạng, “trăng ngẩn ngơ”ngạc nhiên trước vẻ đẹp của trời thu, “ngẩn ngơ” còn gợi hình ảnh người thiều nữ đang lẻ loi. Không gian thiên nhiên trong mùa thu thật đẹp, không biết từ bao giờ nó đã đi vào lòng người qua hình ảnh “liễu”, đặc biệt là hình tượng ánh trăng, là chuẩn mực của vẻ đẹp. Mùa thu được cảm nhận bằng tất cả thính giác và thị giác : “Đã nghe rét mướt luồn trong gió” ( Đây mùa thu tới ) Xuân Diệu, nhà thơ của tình yêu, từng viết rất hay về cái lạnh của mùa thu “Trời muốn lạnh nên người ta cần nhau hơn, và người nào có một thân, thì cần một người khác. Xuân, người ta cần ấm mà cần tình. Thu, người ta vì lạnh sắp đến mà cẩn đôi. Cho nên không gian đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cô đơn thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau” (Trường ca) [10.23]. Nhà thơ cô đơn nên thấy đất trời quạnh quẽ và xa mờ.
  50. 50. 49 Mùa thu mới tới mà đất trời như quạnh quẽ và xa mờ hơn. “đã nghe rét mướt”, chúng ta không chỉ thấy sự nhạy cảm đi trước thời gian của Xuân Diệu mà còn thấy buồn và một chút bâng khuâng. Thơ Xuân Diệu bao giờ cũng thổi vào cảnh vật một linh hồn và hóa thân cho nó để mang một tâm trạng của con người. Câu thơ thật giản dị, tự nhiên cách miêu tả rất nghệ thuật. Chưa bước vào hẳn mùa đông mà ở đây thỉnh thoảng những cơn gió mang theo cái rét trở về như luồn đi trong không gian. Xuân Diệu sử dụng động từ “luồn” thật gợi hình gợi cảm, nghệ thuật nhân hóa biến cái rét thành một con người tinh nghịch, tách gió rét ra làm hai, biến nó thành một nhân vật biết hành động, điều đó khiến cho câu thơ trở nên sinh động. Cái rét chưa hẳn đã lộ mặt, mà nó luồn vào, nó cho ẩn thân ở trong gió. Xuân Diệu đã mang lại cho Thơ mới cách diễn đạt hết sức mới mẻ. Cái rét sau khi tác động đến hoa lá, cành, trăng, sương, gió, nó đã tác động đến con người: “Đã vắng người sang những chuyến đò” ( Đây mùa thu tới ) Trong bài thơ của Nguyễn Trãi viết về mưa rét ở một chuyến đò : “Dã kính hoang lương, hành khách thiểu Cô chu trấn nhật các sa miên” ( Đường ngoài nội hoang vắng ít người qua lại Chiếc thuyền lẻ loi gác mình trên bãi cát ngủ suốt ngày) (Trại đầu xuân độ ) Đó là không gian thật hiu hắt và vắng vẻ, không gian ấy gợi một cảm giác quạnh vắng, đìu hiu sông nước. Cảnh thu đã tàn rồi, mùa thu đã dần nhường bước cho tiết trời mùa đông len qua làm tê lạnh lòng người. Nhưng phải chăng thơ thiên nhiên nào mà chẳng mở rộng tâm hồn mình ra ngoại giới và lắng nghe những âm vang của thế giới ngoại cảnh vào chính lòng mình. Tâm hồn nhạy cảm của
  51. 51. 50 thi nhân đã đón nhận được trong cái không gian, thời gian của buổi chiều thu thơ mộng, những nỗi niềm giao cảm, những tình ý vấn vương, hòa nhịp với những rung động của lòng người : “Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn Lần đầu rung động nỗi thương yêu” ( Thơ duyên ) “Lòng ta nghe ý bạn” là một tình cảm được diễn đạt ngầm, là sự cảm thông giữa hai tâm hồn. Đây là cái rung động của thủa ban đầu, có một vẻ êm dịu và mơ màng, trong sáng.Trong không gian, thời gian thơ mộng như thế, sự hợp duyên giữa từng cặp hình ảnh của thiên nhiên đã xui khiến lòng người tìm đến với lòng người. Bản nhạc của thiên nhiên cũng chìm lắng đi, để bước chân của anh và của em trở thành đối tượng quan sát chính : “Em bước điềm nhiên không vướng chân Anh đi lững đững chẳng theo gần Vô tâm nhưng giữa bài thơ dịu Anh với em như một cặp vần”. ( Thơ duyên ) Khổ thơ mở ra một khoảng không gian bằng lặng và rộng rãi. Giữa “bài thơ dịu” của cảnh chiều thu, trên con đường chiều thu thơ mộng, hai người đang dạo những bước chân điềm nhiên kia, vẫn có một mối tương giao thầm kín, tạo bên sự hòa nhịp sóng đôi “như một cặp vần” của bài thơ đẹp . Với bước chân lãng đãng, phiêu du thi nhân đã đưa chúng ta trở về với buổi chiều thu êm ru như “một bài thơ dịu”, mà “anh với em như một cặp vần”. Chiều xuống dần, mọi vật càng chuyển động gấp gáp, thi nhân thì lắng nghe những rung động của lòng mình :
  52. 52. 51 “Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con cò trên ruộng cảnh phân vân Chim nghe trời rộng giang thêm cánh Hoa lạnh, chiều thưa sương xuống dần”. ( Thơ duyên ) Cảnh chiều thu chuyển dần theo thời gian, đó là thời khắc của hoàng hôn. Một làn mây biếc, một cánh cò trên ruộng lúa đều thấm lạnh những bông hoa trong cái nắng nhạt của lúc chiều muộn. Đó là những hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ điển phương Đông. Bốn câu thơ gợi lên âm hưởng của đường thi. Trạng thái “phân vân” của cánh cò cũng như cái “gấp gáp” của làn mây biếc là một nét tâm trạng rất riêng biệt, điển hình của Thơ mới mà chúng ta chưa gặp trong thơ cổ. Trong thơ cổ, dù buồn vui hay đau đớn thì con người trữ tình vẫn giữ cách biểu hiện trẩm tĩnh, ung dung và thường lặng lẽ, những tâm trạng mang tính “phi thời gian” của con người đã hòa nhập với cái vô tận của vũ trụ và vĩnh hằng của thời gian. Nhưng phải đến Thơ mới, mới có tâm trạng bâng khuâng như thơ Huy Cận, hay cái rùng mình, run rẩy trong thơ Xuân Diệu. Cái “phân vân” của cánh cò, cái “gấp gấp” vội vã của làn mây là biểu hiện của cái “tôi” ý thức rõ rệt về thời gain va sự hữu hạn của con ngườ, của đời người. Đó là sự tương giao của cảnh vật trong khung cảnh hoàng hôn, cái gấp gấp của làn mây với dáng phân vân, lưỡng lự của cánh cò trên ruộng, cái rộng dài của không gian qua những cánh chim dang rộng và chiều sâu của buổi chiền qua cái lạnh của sương thu thấm vào những cánh hoa. Thơ duyên bài thơ duy nhất không buồn trong bài thơ về mùa thu của Xuân Diệu. Đó là những rung động xôn xao, những xúc cảm tinh tế đón nhận những biến thái tinh vi, mơ hồ của sự sống trong thiên nhiên tạo vật và lòng người trong lúc giao mùa vào thu. “Thơ duyên” thể hiện sự cảm nhận độc đáo,

×