Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

Đề tài: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank

19 views

Published on

Download luận văn đồ án tốt nghiệp với đề tài: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Hoàng Quốc Việt, cho các bạn tham khảo

Published in: Education
  • link tai ; https://tailieumau.vn/de-tai-giai-phap-phong-ngua-va-han-che-rui-ro-tin-dung-tai-agribank/
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

Đề tài: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank

  1. 1. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.041 LỜI NÓI ĐẦU Hoạt động tín dụng là một lĩnh vực đem lại lợi nhuận cao nhưng lại luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Các con số thống kê và nhiều nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm tới 70% trong tổng rủi ro hoạt động Ngân hàng. Thực tế hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua là một minh chứng cho nhận định này. Hiệu quả hoạt động tín dụng chưa cao, chất lượng tín dụng chưa tốt. Rủi ro tín dụng không loại trừ bất kỳ nền kinh tế nào dù phát triển hay đang phát triển, không loại trừ một Ngân hàng nào dù đó là Ngân hàng Nhà nước hay Ngân hàng thương mại cổ phần. Rủi ro tín dụng là khách quan và không thể tránh khỏi. Các Ngân hàng đã xem nó là bạn đường trong kinh doanh, chỉ có thể hạn chế chứ không thể loại bỏ. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng quản trị rủi ro nhằm hạn chế rủi ro ở mức tối đa tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam đang là vấn đề bức xúc trên cả phương diện lý thuyết và thực tiễn. Cũng như nhiều Ngân hàng thương mại khác tại Chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm hoạt động cho vay là một hoạt động truyền thống, chiếm đến 80% tổng tài sản có và tạo ra phần lớn thu nhập cho Ngân hàng. Việc quản lý, dự báo rủi ro và có biện pháp phòng chống, ngăn ngừa rủi ro hiệu quả đã và đang trở thành nội dung hết sức quan trọng nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh Ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng được lành mạnh và mang lại hiệu quả bền vững, từng bước ổn định và nâng cao thu nhập của cán bộ viên chức. Với nhận thức đó em đã chọn đề tài: “Giảipháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Hoàng Quốc Việt” làm luận văn tốt nghiệp, dưới sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn Th.s Trần Cảnh Toàn và các cô chú, anh chị làm việc tại phòng giao dịch số 18 chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm.
  2. 2. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.042 Về kết cấu ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngânhàng Công Thương Hoàn Kiếm. Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm. Trong quá trình hoàn thành luận văn do thời gian nghiên cứu ngắn, kiến thức của bản thân còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, quý Ngân hàng và bạn đọc quan tâm giúp đề tài được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2011 Sinh viên thực hiện Mẫn Văn Kiệm
  3. 3. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.043 CHƯƠNG I RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động tín dụng NHTM. 1.1.1 NHTM và các hoạt động kinh doanh của NHTM. 1.1.1.1 Khái niệm. Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng. Ngân hàng thương mại là một trong các tổ chức tài chính quan trọng bậc nhất cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu cho nền kinh tế, nó là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa và tồn tại tất yếu trong đời sống kinh tế xã hội. Các NHTM đều có chung một tính chất, đó là nhận ký thác tiền gửi của các chủ thể trong nền kinh tế để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, đầu tư và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng. 1.1.1.2 Hoạt động kinh doanh của NHTM. * Hoạt động huy động vốn. Đây là một trong những nghiệp vụ cơ bản của NHTM. Thông qua nghiệp vụ này, các ngân hàng thực hiện chức năng tạo tiền. Ngân hàng huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội dưới các hình thức như: nhận tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán…Ngoài ra, Ngân hàng còn phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi, giấy tờ có giá, vay các Ngân hàng khác… * Hoạt động sử dụng vốn. Trong nền kinh tế thị trường, NHTM thực chất cũng là một doanh nghiệp, vì vậy khi kinh doanh phải coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và cuối cùng. Để tạo ra lợi nhuận và thu nhập thì các Ngân hàng phải biết sử dụng và khai thác nguồn vốn một cách triệt để và hiệu quả nhất. Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản và chủ yếu trong hoạt động sử dụng vốn, đem lại phần lớn lợi nhuận cho các NHTM. Các Ngân hàng dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay, từ đó thu lợi nhuận trên cơ sở chênh
  4. 4. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.044 lệch chi phí đầu vào và đầu ra. Thực hiện nghiệp vụ này, các Ngân hàng không những đã thực hiện được vai trò của mình thông qua việc mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩm, cải thiện đời sống nhân dân, mà còn có ý nghĩa rất lớn đến đời sống kinh tế – xã hội, thông qua các hoạt động tài trợ cho các ngành, các lĩnh vực phát triển công nghiệp, nông nghiệp… trong nền kinh tế. Ngoài hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu trong việc sử dụng vốn, các NHTM còn thực hiện hoạt động đầu tư, góp vốn liên doanh, liên kết, kinh doanh chứng khoán trên thị trường tài chính. Hoạt động này vừa mang lại lợi nhuận cho Ngân hàng, giảm chi phí huy động vốn và sử dụng vốn, vừa góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế. * Hoạt động khác. Ngân hàng làm trung gian thanh toán thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng bằng cách cung cấp các công cụ thanh toán thuận lợi như: séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Hoạt động này góp phần làm tăng lợi nhuận thông qua việc thu phí dịch vụ thanh toán, và đồng thời làm tăng nguồn vốn để mở rộng hoạt động cho vay của Ngân hàng, thể hiện trên số dư có của tài khoản tiền gửi của khách hàng. Ngoài các hoạt động trên, NHTM còn cung cấp cho khách hàng nhiều loại dịch vụ như: dịch vụ uỷ thác, quản lý tài sản, vốn của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng, dịch vụ mua bán ngoại tệ, dịch vụ tư vấn, … Nói chung, hoạt động của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Cụ thể, hoạt động huy động vốn quyết định quy mô, phạm vi hoạt động cho vay của Ngân hàng. Hoạt động sử dụng vốn ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng và nó chỉ có thể thực hiện trên cơ sở nguồn vốn được huy động... Mỗi hoạt động của Ngân hàng đều là tiền đề, điều kiện để duy trì và phát triển các hoạt động khác, và cũng dựa vào hoạt động khác để phát triển, mở rộng phạm vi cho chính mình. Tuy nhiên, trong các hoạt động của Ngân hàng, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động quan trọng quyết định kết quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại.
  5. 5. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.045 1.1.2 Tín dụng Ngân hàng. 1.1.2.1 Khái niệm. Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (Ngân hàng) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác) trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng với các tổ chức kinh tế và cá nhân, thể hiện dưới hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, cho khách hàng vay, tài trợ thuê mua, bảo lãnh hay chiết khấu… 1.1.2.2 Phân loại. Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau, tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu khác nhau. Thông thường được phân loại dựa theo một số tiêu thức sau: Phân loại theo thời gian (thời hạn tín dụng). Việc phân chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với Ngân hàng vì thời gian liên quan trực tiếp đến tính an toàn hay mức độ rủi ro và khả năng sinh lợi của các khoản tín dụng, bao gồm: - Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và thường được sử dụng để vay bổ sung thiếu hụt vốn lưu động tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân. - Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm, loại tín dụng này được dùng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh - Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, thường được sử dụng để cấp vốn cho các doanh nghiệp phục vụ cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng mới các xí nghiệp, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng,… Căn cứ vào đối tượng tín dụng. - Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được dùng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế như dự trữ hàng hoá, mua nguyên vật liệu,
  6. 6. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.046 công cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất. Tín dụng lưu động thường được sử dụng để cho vay bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. - Tín dụng vốn cố định: Loại tín dụng được dùng để hình thành vốn để mua tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng các công trình mới phục vụ sản xuất. Thời hạn cho vay đối với loại tín dụng này là trung và dài hạn. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn. - Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: loại tín dụng dành cho các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hoá. - Tín dụng tiêu dùng: Hình thức tín dụng dành cho cá nhân, hộ gia đình đáp ứng nhu cầu tiêu dùng: mua sắm nhà cửa, xe cộ, vật dụng… phục vụ quá trình sinh hoạt. Tín dụng tiêu dùng được thể hiện bằng hình thức tiền hoặc bán chịu hàng hoá. Phân loại căn cứ theo tài sản đảm bảo. - Tín dụng không có đảm bảo: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, hoạt động cấp tín dụng chỉ dựa trên uy tín của khách hàng. Đối với khách hàng tốt, trung thực, khả năng tài chính mạnh, khách hàng truyền thống ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không cần đòi hỏi nguồn thu nợ bổ sung hay tài sản khác đảm bảo. - Tín dụng có đảm bảo: là loại cho vay được Ngân hàng cung cấp cho đối tượng khách hàng cần phải có tài sản đảm bảo hoặc có sự đứng ra bảo lãnh của bên thứ ba. Đây là những khách hàng mới đến giao dịch, khách hàng kinh doanh trên những lĩnh vực có độ rủi ro cao, tài sản đảm bảo sẽ là căn cứ pháp lý ràng buộc trách nhiệm của khách hàng đối với khoản vay của mình, tăng khả năng thu hồi lại được vốn. Phân loại theo hình thức. Tín dụng ngân hàng bao gồm chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê.
  7. 7. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.047 - Chiết khấu thương phiếu: là việc Ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập mà Ngân hàng được hưởng. Phần Ngân hàng được hưởng coi như là lãi suất xác định trước mà chủ thương phiếu phải trả, Ngân hàng tuy ứng trước tiền cho khách hàng song thực chất là thay thế người mua trả tiền trước cho người bán. - Cho vay: là việc Ngân hàng cấp tiền cho khách hàng, đồng thời kèm theo một bản cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong một khoảng thời gian nhất định. - Bảo lãnh: là việc Ngân hàng cam kết hoàn thành các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của mình khi khách hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ đó. Ở đây, Ngân hàng không phải xuất tiền ra để thực hiện mà Ngân hàng cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để sinh lợi. - Cho thuê: là việc Ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản và cho khách hàng thuê lại theo những thoả thuận nhất định, sau đó khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi cho Ngân hàng. 1.1.2.3 Vai trò của tín dụng Ngân hàng. * Thúc đẩy tích tụ và cung cấp vốn cho nền kinh tế. Hoạt động tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Quốc dân, là cầu nối cung và cầu về vốn. Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại là hoạt động tín dụng, nó đem lại 70 - 80% thu nhập cho Ngân hàng. Việc tập trung và phân phối tín dụng đó góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế Quốc dân. Tín dụng Ngân hàng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực khuyến khích tiết kiệm và đầu tư. Như vậy tín dụng Ngân hàng góp phần nâng cao chất lượng và điều hoà tiền tệ, thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát tạo môi trường kinh doanh ổn định. * Đẩy mạnh quá trình tái sản xuất mở rộng cho đầu tư phát triển. Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức sản xuất kinh doanh luôn phải cạnh tranh gay gắt với nhau nếu không muốn tụt hậu và đào thải. Để có thể
  8. 8. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.048 mở rộng, phát triển sản xuất các doanh nghiệp cần có nhiều yếu tố như: nguồn nhân lực, công nghệ, đất đai, kỹ thuật, vốn... Tuy nhiên, có thể khẳng định vốn là quan trọng nhất vì nếu có vốn doanh nghiệp sẽ có được các yếu tố khác do thị trường sẵn sàng cung ứng. Để có vốn doanh nghiệp có thể tìm kiếm ở các nguồn khác nhau... nhưng những hình thức này không ổn định mà chi phí lại lớn. Vì vậy thường thì các doanh nghiệp tìm đến các Ngân hàng bởi vì Ngân hàng là một trong những nguồn vốn sẵn có rẻ nhất và linh hoạt nhất. Đặc biệt là đối với những doanh nghiệp nhỏ. Thông qua hoạt động tín dụng Ngân hàng đã đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội, có vai trò quyết định trong quá trình tái sản xuất mở rộng và đầu tư phát triển của nền kinh tế. * Góp phần tácđộng đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp. Đặc trưng cơ bản của vốn tín dụng là sự vận động trên cơ sở hoàn trả và có lợi tức, nhờ vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thích sử dụng vốn có hiệu quả. Bằng cách tác động như vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn tín dụng phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạo điều kiện nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp. * Tổ chức điều hoà lưu thông tiền tệ. Trong nền kinh tế thị trường thường xuyên xuất hiện những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, trong khi các thành phần kinh tế khác lại thiếu vốn tạm thời hoặc thiếu vốn bổ sung đầu tư tài sản cố định. Sự có mặt của tín dụng Ngân hàng được coi như một giải pháp để giải quuyết mâu thuẫn này. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng đã huy động được nguồn tiết kiệm trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, tạo điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế. Tất cả mọi quốc gia đều sử dụng tín dụng Ngân hàng như là một công cụ hữu hiệu để điều hoà vốn trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
  9. 9. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.049 * Công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém pháttriển và ngành kinh tế mũi nhọn. Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế rồi đầu tư trở lại cho các ngành kinh tế cần vốn. Tín dụng là một công cụ điều tiết vĩ mô giúp Nhà nước điều chỉnh kinh tế giữa các vùng, các nghành, các lĩnh vực khác nhau. Thông qua tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò và thế mạnh của từng thành phần kinh tế, các ngành kinh tế của các vùng khác nhau thông qua các chính sách hỗ trợ về tín dụng để từ đó đạt mục tiêu phát triển kinh tế của cả nước trong từng giai đoạn. Sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế tạo cho nước ta thế và lực mới, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. * Tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài. Trong điều kiện nền kinh tế "mở", tín dụng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền các nền kinh tế với nhau. Việc giữa các Ngân hàng mở tài khoản ở các quốc gia khác nhau giúp cho việc quan hệ kinh doanh giữa các quốc gia được diễn ra thuận lợi hơn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Nói một cách khác, tín dụng Ngân hàng đã góp phần giúp doanh nghiệp trong nước từng bước tiếp cận thị trường quốc tế, đổi mới công nghệ và mẫu mã sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng tại các thị trường quốc tế. 1.1.3 Những quy định trong hoạt động tín dụng. 1.1.3.1 Nguyên tắc cho vay.: Nguyên tắc cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng đầu đảm bảo cho Ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định. Ngân hàng chỉ cho vay khi khách hàng đảm bảo được các nguyên tắc sau: * Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: Đây là nguyên tắc cơ bản vì có sử đụng đúng mục đích thì khách hàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo lợi ích
  10. 10. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0410 dự kiến, do vậy mới có thể thu hồi được vốn để hoàn trả nợ cho Ngân hàng. Nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khản năng khách hàng dùng vốn vay để thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm. * Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng: Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của Ngân hàng là “ đi vay để cho vay” và thực hiện nguyên tắc trong hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và có lãi. 1.1.3.2 Điều kiện vay vốn: Điều kiện vay vốn là những quy định cụ thể của Ngân hàng đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn. Ngân hàng chỉ cho vay đối với khách hàng đáp ứng được yêu cầu do Ngân hàng đề ra. Điều kiện vay vốn bao gồm: * Có đủ năng lực pháp lý: Khách hàng vay vốn phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. * Có khả năng tài chính và đảm bảo trả nợ đúng hạn theo Hợp đồng tín dụng đã kí kết. * Mục đích sự dụng vốn vay hợp pháp: Khách hàng không được vay vốn để sự dụng cho các mục đích mà pháp luật cấm. * Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dich vụ khả thi, có hiệu quả * Thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của chính phủ và theo hướng dẫn của Thống đốc NHNN Việt Nam 1.2 Sự cần thiết phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng. 1.2.1 Rủi ro trong hoạt động tín dụng. 1.2.1.1 Khái niệm. Rủi ro là sự kiện xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của NHTM. 1.2.1.2 Phân loại rủi ro.
  11. 11. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0411 Do đặc điểm về đối tượng kinh doanh, về tính hệ thống nên kinh doanh trong Ngân hàng rủi ro cao hơn so với doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực kinh doanh khác. Những rủi ro mà NHTM thường gặp phải là: *Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp Ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của các khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi vay không đúng hạn. * Rủi ro lãi suất: Là rủi ro xảy ra do sự biến động của lãi suất. * Rủi ro thanh toán: Là rủi ro ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu thanh toán toàn bộ hay một phần trong hiện tại, tương lai, hay các nhu cầu thanh toán đột xuất. * Rủi ro hối đoái: Là rủi ro xảy ra do sự biến động của tỷ giá hối đoái. Nguyên nhân là do sự mất cân bằng về trạng thái ngoại tệ của Ngân hàng. * Rủi ro khác: là rủi ro mà Ngân hàng khó kiểm soát, khó đánh giá. - Rủi ro môi trường - Rủi ro công nghệ - Rủi ro hoạt động - Rủi ro quốc gia - Rủi ro pháp lý… 1.2.1.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. * Nguyên nhân từ phía Ngân hàng. - Ngân hàng đưa ra chính sách tín dụng không phù hợp với nền kinh tế và thể lệ cho vay còn sơ hở để khách hàng lợi dụng chiếm đoạt vốn. - Do thông tin tín dụng không đầy đủ. Ngân hàng có một cái nhìn không toàn diện về bản thân khách hàng cũng như tình hình tài chính của họ. Điều đó dẫn đến sự sai lệch trong việc đánh giá hiệu quả của các khoản vay, cho vay quá khả năng chi trả của khách hàng. - Trình độ chuyên môn của cán bộ Ngân hàng nói chung và của cán bộ tín dụng nói riêng còn hạn chế. Cán bộ tín dụng Ngân hàng thiếu năng lực xử lý các thông tin tín dụng để bảo vệ và giám sát khoản vay. Nên việc đánh giá
  12. 12. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0412 các dự án, hồ sơ xin vay còn chưa tốt, còn xảy ra tình trạng dự án thiếu tính khả thi mà vẫn cho vay. - Ngân hàng đôi khi quá chú trọng về lợi nhuận, đặt những khoản vay có lợi nhuân cao hơn những khoản vay lành mạnh. - Sự cạnh tranh không lành mạnh với Ngân hàng khác để đạt được tỷ trọng cho vay nhiều hơn. Cạnh tranh không lành mạnh ở đây có thể hiểu rằng Ngân hàng đó bỏ qua một số bước kiểm định các khoản cho vay, hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng...nhằm lôi kéo khách hàng. - Hoạt động kiểm tra, kiểm soát chưa được tiến hành thường xuyên. Nhân viên tín dụng không nắm bắt được tình hình tín dụng của khách hàng cũng như môi trường tín dụng của nền kinh tế. Do vậy, hoạt động sai sót, không nắm bắt kịp thời các khoản cho vay có vấn đề. - Do tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong nội bộ Ngân hàng. Cán bộ Ngân hàng còn thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm đạo đức kinh doanh như: thông đồng với khách hàng lập hồ sơ giả để vay vốn, cho vay khống, cho vay thiếu tài sản đảm bảo, đôi khi còn nể nang trong quan hệ khách hàng. * Nguyên nhân từ phía khách hàng. - Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thiếu sự linh hoạt, trình độ kinh doanh kém, năng lực quản lý yếu không cải tiến quy trình công nghệ, không thay đổi mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm...dẫn tới sản phẩm sản xuất ra thiếu sự cạnh tranh, bị ứ đọng trên thị trường khiến cho doanh nghiệp không có khả năng thu hồi vốn trả nợ cho Ngân hàng. - Khách hàng gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản. Doanh nghiệp có thể nộp báo cáo tài chính không chính xác, cố ý đưa ra số liệu sai sự thật, phản ánh không đúng thực trạng sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính của đơn vị. Lợi dụng khe hở về giấy tờ sở hữu tài sản, doanh nghiệp có thể đem thế chấp một tài sản ở nhiều Ngân hàng khác nhau. - Sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, không đúng phương án đã nêu nên không trả được nợ đúng hạn hoặc
  13. 13. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0413 không trả được nợ. Doanh nghiệp có thể vay vốn ngắn hạn nhưng lại dùng để mua sắm tài sản cố định và bất động sản. - Khách hàng có chủ ý lừa gạt, chiếm dụng vốn cố tình không trả nợ Ngân hàng hoặc lừa đảo ngân hàng rồi bỏ trốn. - Doanh nghiệp bị lừa đảo trong kinh doanh bạn hàng của doanh nghiệp gặp rủi ro thì Ngân hàng cũng gặp khó khăn trong việc thu nợ đúng hạn. * Nguyên nhân khác. - Do sự thay đổi bất thường của các chính sách, do thiên tai bão lũ, do nền kinh tế không ổn định.... khiến cho cả Ngân hàng và khách hàng không thể ứng phó kịp. - Do môi trường pháp lý lỏng lẻo, thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng. - Do sự biến động về chính trị xã hội trong và ngoài nước gây khó khăn cho doanh nghiệp dẫn tới rủi ro cho Ngân hàng. - Ngân hàng không theo kịp đà phát triển của xã hội, nhất là sự bất cập trong trình độ chuyên môn cũng như công nghệ Ngân hàng. - Do sự biến động của kinh tế như suy thoái kinh tế, biến động tỷ giá, lạm phát gia tăng ảnh hưởng tới doanh nghiệp cũng như Ngân hàng. - Sự bất bình đẳng trong đối xử của Nhà nước dành cho các NHTM khác nhau. - Chính sách Nhà nước chậm thay đổi hoặc chưa phù hợp với tình hình phát triển đất nước. 1.2.1.4 Dấu hiệu nhận biết một khoản tín dụng có rủi ro. Mất an toàn trong cho vay thường ẩn chứa trong các khoản cho vay có vấn đề. Do vậy việc nhận biết nguy cơ, tình trạng mất an toàn trong cho vay thông qua các dấu hiệu trong các khoản vay là hết sức quan trọng. Dựa trên những yếu tố cấu thành và những yếu tố có liên quan đến các chủ thể trong quan hệ vay – trả giữa Ngân hàng và người vay, cũng như những biến động
  14. 14. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0414 có thể của những yếu tố đó, có thể nhận biết được mức độ an toàn trong các khoản cho vay. Các dấu hiệu để nhận biết cũng như đánh giá một khoản tín dụng có rủi ro được chia thành các nhóm sau đây: Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với Ngân hàng: Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài khoản của khách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho Ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng: - Khó khăn trong thanh toán lương. - Sự dao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi. - Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản. - Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau. - Không có khả năng thực hiện các hoạt động cắt giảm chi phí. - Gia tăng các khoản nợ thương mại hoặc không có khả năng thanh toán nợ khi đến hạn. Các hoạt động cho vay: - Mức độ vay thường xuyên gia tăng. - Thanh toán chậm các khoản nợ cả gốc và lãi. - Thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn. - Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến. Phương thức tài chính: - Sử dụng các khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triển dài hạn. - Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất như thường xuyên sử dụng nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải trả. - Giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu.
  15. 15. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0415 - Các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu. - Có biểu hiện giảm vốn điều lệ. Nhóm 2: Nhóm dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng: - Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều hành. - Hệ thống quản trị hoặc ban điều hành luôn bất đồng về mục đích quản trị, điều hành độc đoán hoặc quá phân tán. - Cách thức hoạch định của khách hàng có biểu hiện: +) Được hoạch định bởi hội đồng quản trị hoặc giám đốc điều hành ít hay không có kinh nghiệm. Hội đồng quản trị hay giám đốc điều hành các doanh nghiệp lớn tham gia quá sâu vào vấn đề thường nhật. +) Thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông hay chủ nợ. +) Thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên. +) Lập kế hoạch xác định mục tiêu kém, hay có hành động nhất thời, không có khả năng đối phó với những thay đổi. - Việc lập kế hoạch những người kế cận không đầy đủ. - Quản lý có tính gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những người quản lý không thuộc gia đình, cho thành viên gia đình chưa được đào tạo, huấn luyện đầy đủ đảm đương những vị trí then chốt. - Có tranh chấp trong quá trình quản lý: bao gồm mối quan hệ tranh chấp giữa hội đồng quản trị và giám đốc điều hành với các cổ đông khác, với chính quyền địa phương, nhân viên, người đi vay, khách hàng chính… - Có các chi phí quản lý bất hợp lý. Nhóm 3: Nhóm liên quan đến các ưu tiên trong kinh doanh: - Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: sẵn sàng bỏ nhiều chi phí để có được hợp đồng lớn… - Dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: không đúng lúc hoặc bị ám ảnh bởi một sản phẩm mà không chú ý đến các yếu tố khác.
  16. 16. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0416 - Các hạn mức thời gian kinh doanh đưa ra không thực tế, tạo mong đợi trên thị trường không đúng lúc… Nhóm 4: Dấu hiệu liên quan đến vấn đề kỹ thuật và thương mại: - Khó khăn trong phát triển sản phẩm. - Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất; thay đổi thị hiếu, mất nhà cung ứng hay khách hàng lớn.. - Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước như chính sách thuế, điều kiện thành lập và hoạt động.. - Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao. - Có biểu hiện cắt giảm chi phí sửa chữa, thay thế. - Chất lượng sản phẩm và dịch vụ giảm sút…. Nhóm 5: Nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin về tài chính, kế toán: - Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp các báo cáo tài chính. - Những kết luận về phân tích tài chính cho thấy: +) Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên. +) Khả năng tiền mặt giảm. +) Tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có. +) Các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp. +) Những thay đổi về tỷ lệ lãi gộp và lãi ròng trên doanh số bán. +) Lượng hàng hoá tăng nhanh hơn doanh số bán. +) Số khách hàng nợ tăng nhanh và thời hạn thanh toán của các con nợ được kéo dài. +) Lập kế hoạch trả nợ mà nguồn vốn không đủ. +) Không hạch toán đúng tài sản cố định. +) Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàng. +) Làm đẹp bảng cân đối bằng cách tạo ra các tài sản vô hình. …..
  17. 17. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0417 Bên cạnh đó còn có những dấu hiệu mà bằng mắt thường các cán bộ tín dụng cũng có thể nhận biết được như: +) Những vấn đề về đạo đức, thậm chí dáng vẻ kinh doanh của khách hàng. +) Sự xuống cấp của nơi kinh doanh. +) Nơi lưu giữ hàng hoá quá nhiều, hư hỏng và lạc hậu. Có rất nhiều dấu hiệu để các nhân viên tín dụng nhận biết trong quá trình phân tích tín dụng. Mỗi dấu hiệu là một yếu tố, đóng góp vào quyết định cuối cùng cho vay hay từ chối cho vay. Nhưng trong đó chậm thanh toán khoản cho vay là dấu hiệu rõ ràng và ý nghĩa nhất. 1.2.2 Sự cần thiết phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nhiều lợi nhuận cho Ngân hàng nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Rủi ro tín dụng xảy ra không chỉ gây hậu quả nặng nề đồi với Ngân hàng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới toàn bộ nên kinh tế. * Đối với bản thân Ngân hàng. Các nhà kinh tế thường gọi Ngân hàng là “ngành kinh doanh rủi ro”. Thực tế đó chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ - tín dụng. Ngân hàng phải gánh chịu những rủi ro không những do nguyên nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro khách hàng gây ra. Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm giảm lợi nhuận kinh doanh tức là thu nhập giảm. Thu nhập giảm làm cho việc mở rộng tín dụng sẽ gặp khó khăn. Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán. Rủi ro tín dụng khiến cho việc hoàn trả tiền gửi của Ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Các khoản cho vay có thể mất hoặc khó đòi trong khi tiền gửi khách hàng vẫn phải trả lãi, làm mất đi những cơ hội kinh doanh tốt của ngân hàng. Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì ngân hàng có thể bù đắp bằng khoản dự phòng rủi ro (ghi vào chi phí) và bằng vốn tự có, tuy nhiên nó
  18. 18. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0418 sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng mở rộng kinh doanh của Ngân hàng. Nghiêm trọng hơn, nếu rủi ro xảy ra ở mức độ lớn, nguồn vốn của Ngân hàng không đủ bù đắp, vốn khả dụng bị thiếu, lòng tin của khách hàng giảm sút tất nhiên sẽ dẫn tới phá sản Ngân hàng. Vì vậy việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là một việc làm cần thiết đối với các NHTM. * Đối với người đi vay. Đối với người đi vay khi rủi ro tín dụng xảy ra thì các chủ thể kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn vốn Ngân hàng thì sẽ bị giảm hoặc mất nguồn vốn đầu tư và mở rộng qui mô, nhất là ảnh hưởng tới tính liên tục của quá trình sản xuất có thể dẫn đến phá sản doanh nghiệp. Đối với chủ thể kinh doanh gây ra rủi ro tín dụng thì mất đi nguồn vốn cho vay từ Ngân hàng đó và gần như không thể đi tìm được nguồn vốn khác trong nền kinh tế vì không còn uy tín trong khả năng trả nợ. * Đối với nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng liên quan đến rất nhiều các thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho tới các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy, kết quả kinh doanh của Ngân hàng phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế và đương nhiên nó phụ thuộc rất lớn vào tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và khách hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng không thể có kết quả tốt khi hoạt động kinh doanh của nền kinh tế chưa tốt hay nói cách khác hoạt động kinh doanh của Ngân hàng sẽ có nhiều rủi ro khi hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro. Rủi ro xảy ra dẫn tới tình trạng mất ổn định trên thị trường tiền tệ, gây khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, làm ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống xã hội. Do đó, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng không những là vấn đề sống còn với Ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế góp phần vào sự ổn định và phát triển của toàn xã hội.
  19. 19. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0419 1.3 Chỉ tiêu đánh giá, nhân tố ảnh hưởng rủi ro tín dụng. 1.3.1 Chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng.  Chỉ tiêu định tính * Tuân thủ các quy định pháp lý về cho vay. Quy định pháp lý về cho vay là các quy định điều chỉnh quan hệ phát sinh giữa các chủ thể khi tham gia hoạt động cho vay của Ngân hàng. Các quy định này có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động cho vay của ngân hàng vì nó quy định tính chất quy mô phạm vi giao dịch trong hoạt động cho vay của Ngân hàng, nó có vai trò rất lớn đối với trạng thái rủi ro và an toàn trong hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng. - Quy định về nguyên tắc vay vốn và điều kiện vay vốn - Quy định về lãi suất - Quy định về giới hạn cho vay - Quy định về hạn chế cho vay - Quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay - Quy định về phân loại nợ và trích lập quỹ dự phòng rủi ro. * Kết cấu dư nợ tín dụng. Dựa vào kết cấu dư nợ tín dụng có thể xác định mức độ rủi ro tín dụng của Ngân hàng cao hay thấp. Nếu kết cấu dư nợ quá tập trung vào một số doanh nghiệp hoặc thành phần kinh tế chuyên sản xuất kinh doanh trong một hoặc một số lĩnh vực nhất định sẽ có mức độ rủi ro lớn do tập trung vốn nhiều. Dựa vào kết cấu dư nợ tín dụng (theo thành phần, đối tượng, ngành nghề, thời hạn) kết hợp với việc phân tích các yếu tố liên quan đến khách hàng, thị trường của Ngân hàng và của khách hàng thì có thể đánh giá được mức độ rủi ro tín dụng là cao hay thấp.  Chỉ tiêu định lượng. * Tỷ lệ Nợ nhóm 2,3,4,5 / Tổng dư nợ tín dụng. Theo quy định tại Điều 6 QĐ 493/2005 và QĐ 18/2007 của NHNN: - Nợ nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
  20. 20. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0420 + Các khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày. + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trong hạn theo nợ đã cơ cấu lại. + Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2. - Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định. + Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 3. - Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; + Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4. - Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: + Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; + Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; + Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý; + Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5. Tỷ lệ nợ nhóm 2,3,4,5(%) = Nợ nhóm2,3,4,5 Tổng dư nợ tín dụng x 100
  21. 21. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0421 Tỷ lệ này phản ảnh mức độ cho vay của Ngân hàng đối với khách hàng có khả năng hoản trả thấp. Nếu tỷ lệ này quá lớn chứng tỏ chất lượng tín dụng của Ngân hàng kém, Ngân hàng phải xem xét, đánh giá lại các khoản cho vay của mình, đánh giá lại quy trình thủ tục cho vay, đặc biệt là xem xét lại khả năng thực hiện nhiệm vụ của các cán bộ tín dụng. * Tỷ lệ nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu(%) = Nợ xấu x 100 Tổng dư nợ Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 QĐ 493/2005 và QĐ 18/2007 của NHNN. Tỷ lệ này dùng để đánh giá chất lượng tín dụng. Chỉ tiêu phản ánh các khoản cho vay của Ngân hàng được đánh giá là có khả năng tổn thất một phần hoặc toàn bộ gốc và lãi. * Tỷ lệ nợ xấu ròng. Tỷ lệ nợ xấu ròng(%) = Nợ xấu - DPRR tín dụng Tổng dư nợ - DPRR tín dụng x 100 Tỷ lệ này đánh giá chất lượng tín dụng sau khi đã sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng để bù đắp cho nợ xấu của Ngân hàng. * Tỷ lệ nợ mất vốn. Đây là tỷ lệ của những khoản nợ có khả năng mất vốn vì vậy để đảm bảo an toàn cho hoạt động Ngân hàng thì cần phải trích lập quĩ dự phòng rủi ro cho những khoản vay thuộc nhóm này và phải luôn chú ý để tỷ lệ này ở mức thấp nhất có thể để tránh RRTD. Tỷ lệ nợ mất vốn = x100% 1.3.2 Nhân tố ảnh hưởng rủi ro tín dụng. Mỗi khoản tín dụng luôn chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm cả những yếu tố tích cực góp phần nâng cao chất lượng của khoản tín dụng đó và những yếu tố có tiêu cực, làm giảm chất lượng tín dụng và ảnh Dư nợ mất vốn Tổng dư nợ
  22. 22. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0422 hưởng đến hoạt động của Ngân hàng. Vì vậy, việc phân tích, tìm hiểu các yếu tố đó là hết sức cần thiết đối với mỗi Ngân hàng để từ đó phát huy những mặt tích cực đồng thời có những biện pháp làm giảm những mặt tiêu cực. Nhìn chung, có các nhân tố chính sau ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng mà chúng ta cần quan tâm bao gồm:  Các nhân tố thuộc về phía Ngân hàng thương mại. a. Chiến lược phát triển của Ngân hàng. Đây là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng Ngân hàng, một chiến lược phát triển đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội và năng lực của bản thân Ngân hàng sẽ bảo đảm cho việc chọn lựa hướng đi đúng trong quá trình cấp tín dụng của Ngân hàng. Điều này càng đặc biệt quan trọng đối với các Ngân hàng có quy mô nhỏ, vốn ít, lượng thông tin nắm bắt ở mức độ hạn chế… một chiến lược sai lầm sẽ không còn cơ hội cho Ngân hàng có thể khắc phục lại được ngay, nó ảnh hưởng lâu dài tới các hoạt động của Ngân hàng trong thời gian tiếp theo.. b. Chính sách tín dụng của Ngân hàng thương mại. Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất, nó mang tính chất sống còn đối với bất kỳ NHTM nào. Chính sách tín dụng đóng vai trò then chốt điều tiết các mặt hoạt động như: huy động vốn và cho vay, lãi suất, kỹ thuật quản lý rủi ro tín dụng…Vì vậy, chính sách tín dụng trong mỗi giai đoạn phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, có mục tiêu, định hướng cụ thể. Một chính sách tín dụng phù hợp sẽ tạo điều kiện cho Ngân hàng sử dụng tối ưu hoá các nguồn lực của mình một cách an toàn, nâng cao tối đa chất lượng của các khoản tín dụng. c. Thông tin tín dụng. Trong giai đoạn hiện nay bất kỳ một lĩnh vực kinh doanh nào thông tin luôn chiếm một vị trí quan trọng, là phần không thể thiếu được trong quá trình hoạt động của xã hội. Thông tin tín dụng cũng vậy, nó đóng góp một phần không nhỏ cho mọi thành công của bất kỳ một NHTM nào. Nhờ có thông tin
  23. 23. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0423 tín dụng mà NHTM có thể đưa ra những quyết định cần thiết liên quan đến các khoản cho vay, giảm thiểu được các rủi ro tín dụng có thể xảy ra. d. Công tác tổ chức của Ngân hàng thương mại. Một ngân hàng có cơ cấu tổ chức được bố trí, sắp xếp một cách khoa học, tận dụng một cách tối đa thế mạnh của từng cá nhân, tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận… sẽ là cơ sở để thực hiện tốt nhiệm vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, nắm bắt cơ hội kinh doanh, quản lý chặt chẽ và an toàn nguồn vốn của mình. e. Chất lượng nguồn nhân lực của Ngân hàng thương mại. Đối với Ngân hàng, con người là nhân tố không thể thay thế được cho dù các yếu tố khác dù có hoàn thiện đến đâu, con người là nhân tố chính, nhân tố cốt lõi quyết định hiệu quả mọi hoạt động. Con người là bộ mặt, hình ảnh của Ngân hàng tạo dựng lên thương hiệu cho Ngân hàng. Ngày nay, sự cạnh tranh khốc liệt giữa các Ngân hàng càng đòi hỏi chất lượng của đội ngũ cán bộ Ngân hàng cả về đạo đức lẫn nghiệp vụ chuyên môn. f. Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ. Đây là một trong những hoạt động chính của các Ngân hàng, nó được tiến hành một các thường xuyên, liên tục nhằm duy trì hoạt động của Ngân hàng diễn ra một cách an toàn và hiệu quả. Trong hoạt động cấp tín dụng, quá trình kiểm tra, thẩm định chặt chẽ các khoản tín dụng sẽ hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng có thể xảy ra, nâng cao chất lượng các khoản tín dụng của Ngân hàng và đảm bảo thu nhập cho Ngân hàng.  Các nhân tố thuộc về phía khách hàng. a. Năng lực, trình độ quản lý của các doanh nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp là yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có nguồn nhân lực với trình độ cao, nhiều kinh nghiệm trong quản lý nguồn vốn đi vay là điều kiện cần thiết để đem lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản tín dụng cho Ngân hàng.
  24. 24. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0424 b. Đạo đức của người đi vay. Khi đáp ứng mọi điều kiện đưa ra của Ngân hàng khách hàng mới được Ngân hàng cung ứng một khoản tín dụng. Tuy nhiên, sau khi đã được nhận vốn khách hàng không thực hiện đúng các yêu cầu trong hợp đồng mà sử dụng vốn sai mục đích hoặc khách hàng chây ỳ trả nợ khi đã đến hạn. Rủi ro đạo đức xảy ra làm giảm chất lượng các khoản tín dụng, ảnh hưởng tới nguồn vốn và thu nhập của Ngân hàng. Vì vậy, công tác thẩm định và quản lý chặt chẽ các khoản tín dụng là hết sức cần thiết nó đảm bảo hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra trong đó có cả rủi ro về đạo đức. c. Lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp. Đây là đặc điểm đầu tiên mà các Ngân hàng cần quan tâm trước khi tiến hành cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp hoạt động hay đầu tư vào các lĩnh vực nhạy cảm, thường xuyên có sự biến động như bất động sản, chứng khoán… thì thu nhập đạt được thường cao nhưng mức độ rủi ro lớn nên tác động mạnh tới chất lượng tín dụng của Ngân hàng.  Các nhân tố khác. a. Môi trường kinh tế vĩ mô. Một sự biến động của nền kinh tế trong và ngoài nước làm ảnh hưởng tới quá trình hoạt động cũng như thu nhập của các doanh nghiệp đi vay. Nếu đó là một tác động tích cực làm hoạt động của doanh nghiệp gặp nhiều thuận lợi và doanh nghiệp sẽ thanh toán đầy đủ, kịp thời các khoản vay Ngân hàng. Tuy nhiên, một tác động không tốt tác động làm giảm nguồn thu nhập của doanh nghiệp, sẽ ảnh hưởng tới khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Ngày nay, nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, do đó tác động của những biến động nền kinh tế thế giới vào nền kinh tế nước ta là liên tục và rất mạnh mẽ. Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ - một lĩnh vực hết sức nhạy cảm sẽ bị tác động đầu tiên, trong đó hoạt động liên quan đến tín dụng của Ngân hàng chịu ảnh hưởng lớn nhất. b. Chính sách pháp luật của nhà nước.
  25. 25. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0425 Mỗi giai đoạn khác nhau chính sách pháp luật của nhà nước luôn có sự thay đổi, các chính sách của nhà nước đặc biệt là của NHTW có liên quan tới hoạt động của các NHTM như chính sách về lãi suất, chính sách dự trữ bắt buộc, chính sách về ngoại hối…có vai trò quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế nói chung và của các NHTM hay các doanh nghiệp nói riêng. Mỗi chính sách đều có sự tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới các nghiệp vụ cung ứng tín dụng của Ngân hàng cho khách hàng của mình. c. Các yếu tố bất khả kháng. Đây là các yếu tố tác động tới Ngân hàng mà không thể dự đoán được trước khi nào có thể xảy ra như thiên tai, bão lũ, hoả hoạn,… các tác động này hầu như đều là các tác động tiêu cực. Khi xảy ra chúng làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn có thể dẫn tới phá sản, ảnh hưởng tới khả năng hoàn trả các khoản nợ làm giảm sút chất lượng của các khoản tín dụng. Đây là điều mà cả Ngân hàng và khách hàng đều không muốn.
  26. 26. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0426 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH HOÀN KIẾM 2.1. Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng Công Thương Chi nhánh Hoàn Kiếm. 2.1.1 Lịch sử hình thành. Thực hiện Nghị quyết 3 – Khoá VI của Ban chấp hành Trung Ương Đảng và Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về việc tách hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ một cấp thành hai cấp, ngày 01/07/1988 Ngân hàng Công thương Việt Nam đã ra đời và đi vào hoạt động, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp đổi mới và phát triển Hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Trước tháng 7/1988, ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm là Ngân hàng quận Hoàn Kiếm (trực thuộc Ngân hàng Hà Nội) cho đến tháng 7/1988, ngân hàng Công thương Việt Nam được thành lập và Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm đã trở thành một chi nhánh của Ngân hàng Công thương Việt Nam. Cùng với sự thay đổi đó, Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm từ một quỹ tiết kiệm chuyển từ số 10 Lê Lai về 37 Hàng Bồ, quận Hoàn Kiếm và đây cũng là trụ sở chính của Ngân hàng Công thương Hoàn Kiếm cho đến bây giờ. Hiện nay, Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương– chi nhánh Hoàn Kiếm là chi nhánh cấp một của NHTMCP Công thương Việt Nam, có quyền tự chủ kinh doanh, có con dấu riêng và được mở tài khoản giao dịch tại Ngân hàng Nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng khác trong cả nước. Nằm ở khu vực Hoàn Kiếm, một quận trung tâm của Hà nội với nhiều dãy phố kinh doanh sầm uất như Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Bồ… là nơi tập trung mua sắm với hệ thống cửa hàng và tham quan du lịch, đây cũng là nơi tập trung nhiều các hộ kinh doanh, các văn phòng đại diện các công ty là điều kiện thuận lợi cho NHTMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Hoàn Kiếm có điều kiện mở rộng quy mô kinh doanh tín dụng phục vụ kinh doanh và tiêu dùng, các dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thẻ, NH điện tử, … Tuy vậy, Ngân hàng cũng gặp không ít khó khăn khi trên địa bàn cũng có
  27. 27. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0427 nhiều các ngân hàng khác cùng hoạt động, sự cạnh tranh lớn đòi hỏi chi nhánh phải không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ bên cạnh việc mở rộng nhiều loại dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thị trường. Bên cạnh những hoạt động nâng cao hoạt động kinh doanh, sản phẩm dịch vụ hoàn thiện, ..ngân hàng cũng luôn chăm lo đến nâng cao đời sống của cán bộ nhân viên, nâng cao chất lượng đào tạo, không ngừng phát triển nguồn nhân lực chất lượng đó là nhân tố quyết định cho sự phát triển của ngân hàng. Trải qua 22 năm xây dựng, trưởng thành, cho đến nay NHTMCP Công thương - chi nhánh Hoàn Kiếm đã hoà nhập với hoạt động chung của ngành Ngân hàng trong cơ chế thị trường, không những đứng vững trong cạnh tranh mà còn không ngừng mở rộng và phát triển với hiệu quả ngày càng cao. 2.1.2 Cơ cấu tổ chức. Bộ máy điều hành là một nhân tố không thể thiếu trong quá trình hoạt động của các cơ quan nói chung và NHTMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng. Dưới đây là sơ đồ thể hiện cơ cấu tổ chức bộ máy điều hành của chi nhánh: Sơ đồ 2.1: Mô hình tổ chức chi nhánh. CÁC PHÓ GIÁM ĐỐC TRƯỞNG PHÒNG KẾ TOÁN TỔ KIỂM TRA NỘI BỘ CÁC PHÒNG CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ PHÒNG GIAO DỊCH QUỸ TIẾT KIỆM GIÁM ĐỐC
  28. 28. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0428 Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức chi nhánh BAN GIÁM ĐỐC KHỐI KINH DOANH KHỐI QL RỦI RO KHỐI TÁC NGHIỆP KHỐI HỖ TRỢ PHÒNG GIAO DỊCH PHÒNG KHDN LỚN PHÒNG KHDN V&N PHÒNG KH CÁ NHÂN PHÒNG / TỔ QL RỦI RO P/Tổ QL NỢ CÓ VẤN ĐÈ KẾ TOÁN GIAO DỊCH PHÒNG TTKQ P/TỔ THANH TOÁN XNK P/TỔ TỔNG HỢP PHÒNG TỔ CHỨC HC P/TỔ THANH TOÁN ĐT QUỸ TIẾT KIỆM
  29. 29. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0429 Trong đó, nhiệm vụ của phòng tín dụng: - Tham mưu, đề xuất cho giám đốc xây dựng chiến lược khách hàng, phân loại khách hàng tín dụng và đề xuất các chính sách ưu đãi với từng loại khách hàng. - Phân tích kinh tế theo ngành, nghề kỹ thuật, danh mục khách hàng, để lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả cao. - Thẩm định và đề xuất các dự án tín dụng phân cấp uỷ quyền. - Tiếp nhận và thực hiện các chương trình, dự án thuộc nguồn vốn trong và ngoài nước. Trực tiếp làm dịch vụ uỷ thác nguồn vốn của Chính phủ, bộ, ngành khác, và các tổ chức kinh tế, cá nhân trong và ngoài nước. - Xây dựng và thực hiện các mô hình tín dụng thí điểm, thử nghiệm trong địa bàn, theo dõi, đánh giá, tổng kết và đề xuất giám đốc cho phép nhân rộng. - Phân loại nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và hướng khắc phục. - Quản lý hồ sơ tín dụng, tổng hợp, phân tích, bảo mật thông tin và lập báo cáo về công tác tín dụng theo phạm vi được phân công. - Marketing tín dụng: thiết lập, mở rộng hệ thống khách hàng, tiếp nhận yêu cầu và ý kiến phản hồi từ khách hàng. - Phối hợp với các phòng nghiệp vụ khác theo quy trình tín dụng, tham gia ý kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến tham gia trong quy trình tín dụng, quản lý rủi ro theo chức năng, nhiệm vụ của phòng. - Giúp giám đốc chi nhánh chỉ đạo, kiểm tra hoạt động tín dụng của các chi nhánh trực thuộc trên địa bàn. 2.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh của NHCT Hoàn Kiếm. Họạt động huy động vốn. Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn tiền của Ngân hàng vì có nguồn tiền ổn định, mạnh mẽ sẽ giúp cho chi nhánh chủ động trong kinh doanh. Ý thức được tầm quan trọng đó chi nhánh Ngân
  30. 30. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0430 hàng công thương Hoàn Kiếm đã luôn chú trọng đến công tác huy động vốn từ các nguồn như các doanh nghiệp, tiền trong dân cư bằng các hình thức tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn. Tổng nguồn vốn mà NHTMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Hoàn Kiếm huy động qua các năm được thể hiện qua biểu đồ sau: Đơn vị: Tỷ đồng 5143 5035 4500 7000 0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000 8000 2007 2008 2009 2010 TổngNguồn Vốn (Nguồn:Báo cáo HĐKD của VietinbankHoàn Kiếm) Biểu đồ 2.1: Tổng nguồn vốn huy động tại Vietinbank Hoàn Kiếm 2007-2010 Với phương châm hoạt động là đi vay để cho vay, NHTMCP Công Thương Việt Nam – chi nhánh Hoàn Kiếm hết sức coi trọng công tác huy động vốn và coi đây là một trong các công tác chủ yếu nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả trong hoạt động của mình. Qua biểu đồ minh hoạ trên ta có thể thấy rõ sự thay đổi về tình hình nguồn vốn huy động của Ngân hàng theo từng năm. Năm 2007, tổng nguồn vốn huy động đạt 5.143 tỷ đồng, sang năm 2008, tổng nguồn vốn huy động giảm xuống 5.034 tỷ đồng và 4.500 tỷ đồng vào năm 2008 (giảm 643 tỷ đồng tương ứng 12,5% so với 2007). Điều này có thể giải thích được do từ năm 2007, các doanh nghiệp dần có xu hướng tham gia đầu tư mạnh vào các lĩnh vực tài chính, Ngân hàng, thị trường chứng khoán, đối với dân cư do lạm phát đã chuyển sang đầu tư mạnh vào thị trường bất
  31. 31. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0431 động sản. Năm 2010, tổng nguồn vốn huy động lên rất đáng kể 7.000 tỷ đồng. Sở dĩ vậy, phần lớn là nhờ nền kinh tế phục hồi nhanh chóng. Công tác huy động vốn nhìn chung đã đạt được những kết quả khả quan và điều này có được là do Ngân hàng có mạng lưới PGD dày đặc, công tác thông tin truyền thông về các sản phẩm và dịch vụ, công tác nghiên cứu, đưa ra các sản phẩm mới được quan tâm chú trọng.  Hoạt động cho vay. Hoạt động tín dụng là một hoạt động chủ yếu, đóng vai trò then chốt và mang lại nguồn lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng, thông thường thu nhập từ lãi chiếm trên 75%, thu nhập ngoài lãi chiếm tỷ trọng chưa đến 25% tổng lợi nhuận của ngân hàng. Hoạt động tín dụng của ngân hàng được thể hiện rõ nhất qua biểu đồ tổng dư nợ tín dụng qua các năm 2007-2010: Đơn vị: tỷ đồng 1100 1100 1900 3500 0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000 2007 2008 2009 2010 Tổngdư nợ chovay (Nguồn:Báo cáoHĐKD của VietinbankHoàn Kiếm) Biểu đồ 2.2: Tổng dư nợ cho vay tại Vietinbank Hoàn Kiếm năm 2007-2010 Nhìn vào biểu đồ chúng ta có thể thấy rõ, năm 2007, dư nợ cho vay đạt 1100 tỷ đồng, đạt 96% kế hoạch được giao do trong năm một số dự án của ngành dầu khí hoạt động rất hiệu quả, khách hàng đã trả được nợ trước hạn. Năm 2008, tổng dư nợ tín dụng vẫn là 1.100 tỷ đồng. Tuy nhiên sang năm
  32. 32. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0432 2009, tổng dư nợ tín dụng là 1900 tỷ đồng do vận dụng tốt gói kích cầu nền kinh tế của Chính Phủ. Đến năm 2010, nỗ lực phục hồi nền kinh tế làm cho dư nợ cho vay tăng vọt, đạt 3500 tỷ đồng (tăng 84%), trong đó 6 tháng đầu năm là cuộc chạy đua tranh giành thị phần tín dụng giữa các ngân hàng thương mại khiến dư nợ 6 tháng đầu năm tăng đột biến đạt 2.497 tỷ đồng. Đó là những thành tựu đáng ghi nhận của tập thể cán bộ ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – chi nhánh Hoàn Kiếm.  Hoạt động khác. a) Hoạt động dịch vụ. Hoạt động dịch vụ của NHTMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Hoàn Kiếm đã phát triển dần qua các năm. Năm 2008,2009 chi nhánh đã triển khai đồng bộ các dịch vụ ngân hàng đa dạng như: dịch vụ thẻ ATM, chuyển tiền, kiều hối, thu đổi ngoại tệ, thanh toán thẻ, séc du lịch... Nhờ vậy, dù kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng thu dịch vụ phí của chi nhánh năm 2008 đạt 5000 triệu đồng tăng 53.7% so với năm 2007, và năm 2009 đạt 13000 triệu đồng tăng 160% so với năm trước. Năm 2010, hoạt động dịch vụ của chi nhánh vẫn tiếp tục có những chuyển biến tương đối toàn diện, vững chắc; thu dịch vụ trong năm đạt 18000 triệu đồng tăng 38.5% so với năm trước và đạt 99% kế hoạch NHTMCP Công thương Việt Nam giao. b) Hoạt động thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ. Năm 2008 và 2009, tình hình kinh tế thế giới và trong nước diễn biến phức tạp, giá vàng và ngoại tệ biến động thất thường. Bên cạnh đó do đặc thù tại chi nhánh khách hàng tập trung chủ yếu là doanh nghiệp lớn như các Tập đoàn, Tổng công ty, cơ cấu cho vay trung dài hạn chiếm tỷ trọng cao, khách hàng chủ yếu là đơn vị sản xuất, rất ít đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu, đồng thời do tác động trực tiếp của chính sách tiền tệ thắt chặt đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, với sự chủ động nắm bắt kịp thời diễn biến của thị trường và tích cực trong tiếp thị, chăm sóc khách hàng nên hoạt động vẫn có kết quả tốt. Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương mại đạt năm 2008 đạt 82 triệu USD, thu phí thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương mại đạt 1,5 tỷ đồng, tăng 50% so với năm 2007, doanh số phát hành bảo lãnh đạt 111 tỷ đồng; số dư bảo lãnh đạt 195 tỷ
  33. 33. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0433 đồng, tăng 93% so với năm trước và không phát sinh nợ trả thay trong bảo lãnh cho khách hàng. Doanh số mua bán ngoại tệ đạt 119 triệu USD, lãi kinh doanh ngoại tệ đạt 1.827 triệu đồng, tăng 3,5 lần so với năm trước. Năm 2010, doanh số thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương mại đạt 98 triệu USD, thu phí từ hoạt động này là 1,8 tỷ đồng. c)Hoạt động phát hành thẻ. Đối với hoạt động này, chi nhánh thực hiện giao chỉ tiêu phát hành thẻ ngay từ đầu năm, mở rộng đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ, đơn vị trả lương qua thẻ. Công tác tiếp thị thẻ được đẩy mạnh và tập trung vào các trường đại học, các doanh nghiệp đang có quan hệ với chi nhánh để phát triển thẻ ATM, thẻ tín dụng quốc tế, dịch vụ trả lương qua thẻ... Kết quả, năm 2007 đã phát hành được 18000 thẻ ATM các loại, tăng 173% so với năm trước, mở rộng thêm 03 đơn vị chấp nhận và 02 đơn vị trả lương qua thẻ ATM. Năm 2009 phát hành được 10000 thẻ các loại, giảm 44.4% so với năm trước và đạt 80% kế hoạch được giao. Năm 2010, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn chi nhánh, số thẻ ATM đã phát hành tăng lên 40000 thẻ đạt 114% kế hoạch được giao; 42 thẻ tín dụng quốc tế được phát hành, thêm 02 đơn vị chấp nhận thẻ và 12 đơn vị trả lương qua thẻ nâng tổng số doanh nghiệp trả lương qua thẻ lên 22 đơn vị. Qua đó có thể cho thấy, chi nhánh đã và đang chú trọng hơn về hoạt động dịch vụ và coi đây là một tiềm năng lớn trong tương lai tạo ra thu nhập cho chi nhánh.  Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Trong suốt hơn 20 năm hoạt động NHCT Hoàn Kiếm đã biết phát huy những lợi thế của mình để trở thành một chi nhánh hoạt động có hiệu quả với nhiều năm liên tục đạt lợi nhuận trong nhiều lĩnh vực kinh doanh như hoạt động tín dụng, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, hoạt đông mua bán ngoại tệ,… thể hiện ở bảng sau:
  34. 34. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0434 0 20000 40000 60000 80000 100000 120000 Lợi nhuận Lợi nhuận 65000 90000 60000 110000 2007 2008 2009 2010 (Nguồn:Báo cáo HĐKD của NHCT Hoàn Kiếm) Biểu đồ 2.3: Lợi nhuận của NHCT Hoàn Kiếm từ năm 2007đến năm 2010. . Qua biểu đồ minh hoạ trên ta có thể thấy rõ sự thay đổi về tình hình lợi nhuận của Ngân hàng theo từng năm. Năm 2007 lợi nhuận chỉ đạt 65 tỷ thì đến năm 2008 đã tăng lên đạt mức lợi nhuận 90 tỷ (tương ứng tăng 38,5%). Tuy nhiên đến năm 2009 thì lợi nhuận có phần giảm sút, chỉ đạt 60 tỷ. Sở dĩ có sự sụt giảm như vậy là do hoạt động của Ngân hàng trong năm 2009 có nhiều khó khăn kể đến như nền kinh tế chưa thoát khỏi khủng hoảng, có nhiều Ngân hàng cạnh tranh hoạt động trên cùng địa bàn…nhưng năm 2010 lợi nhuận đạt 110 tỷ, tăng 83% so với năm 2009. Như vậy, nhìn chung thì hoạt động của NHCT Hoàn Kiếm đã gặt hái được nhiều thành công, điều đó không chỉ biểu hiện ở doanh thu mà còn ở uy tín mà NHCT Hoàn Kiếm tạo dựng ở trong lòng khách hàng. 2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng và nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm. 2.2.1 Khái quát về chính sách hoạt động tín dụng của chi nhánh. * Về đối tượng vay vốn. Hoạt động tín dụng luôn chiếm một vị trí quan trọng bậc nhất trong tất cả các hoạt động của bất kỳ Ngân hàng nào. Do vậy, chi nhánh đã tổ chức cung ứng dịch vụ tín dụng tới khách hàng tương đối đầy đủ bao gồm:
  35. 35. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0435 - Cho vay ngắn, trung và dài hạn tất cả các thành phần kinh tế - Cho vay vốn đồng tài trợ - Cho vay cầm cố đối với cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân, sản xuất kinh doanh dịch vụ trên các lĩnh vực khác nhau - Cho vay tiêu dùng bằng đồng Việt Nam phục vụ nhu cầu đời sống đối với cán bộ, công nhân viên và các đối tượng khác - Cho vay theo dự án, tài trợ, nhận làm dịch vụ uỷ thác đầu tư các dự án trong nước và quốc tế. * Về lãi suất cho vay: - Chi nhánh công bố biểu lãi suất cho vay và các loại phí tại cửa chi nhánh cho khách hàng tham khảo. - Là một NHTM thuộc sở hữu nhà nước nên hoạt động của chi nhánh phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội do ngân hàng cấp trên yêu cầu do đó mức lãi suất huy động và cho vay không thể như các NHTM cổ phần khác trong nền kinh tế. - Mức và cách tính lãi suất trong hạn, gia hạn, lãi suất phạt quá hạn và các khoản phí được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng với khách hàng. * Về quy trình tín dụng: bao gồm 6 bước chính. Bước 1:Lập hồ sơ vay vốn Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng. Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:  Năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng  Khả năng sử dụng vốn vay  Khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay và lãi) Bước 2: Phân tích tín dụng Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay và hoàn trả nợ vay Mục tiêu:
  36. 36. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0436  Tìm kiếm những tình huống có thể xảy ra dẫn đến rủi ro cho ngân hàng, dự đoán khả năng khắc phục những rủi ro đó, dự kiến những biện pháp giảm thiểu rủi ro và hạn chế tổn thất cho ngân hàng.  Phân tích tính chân thật của những thông tin đã thu thập được từ phía khách hàng trong bước 1, từ đó nhận xét thái độ, thiện chí của khách hàng làm cơ sở cho việc ra quyết định cho vay. Bước 3: Ra quyết đinh tín dụng. Trong khâu này ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc là từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng Bước 4: Giải ngân Ở bước này ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng Nguyên tắc giải ngân: phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận động hàng hóa dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ. Nhưng đồng thời cũng phải tạo sự thuận lợi, tránh phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh của khách hàng. Bước 5: Giám sát tín dụng Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng. Hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng…. Để đảm bảo khả năng thu nợ Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng Thu lãi và thu nợ gốc tín dụng. Về thời gian thu nợ, phương thức thu nợ… được quy định trong hợp đồng tín dụng với khách hàng. Hoạt động tín dụng luôn được chi nhánh coi trọng và giữ vai trò chủ lực đối với các hoạt động kinh doanh khác ngoài ra tín dụng còn là hoạt động khởi tạo để khách hàng tìm đến chi nhánh và sử dụng các dịch vụ khác của chi nhánh. Vì vậy, chính sách tín dụng của chi nhánh hướng tới là phục vụ tốt nhất nhu cầu hợp lý của khách hàng, đảm bảo kiểm soát rủi ro, nâng cao hiệu quả tín dụng tiến tới tăng trưởng ổn định và bền vững.
  37. 37. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0437 2.2.2 Thành lập bộ máy và quy trình quản trị rủi ro tín dụng. * Bộ máy quản trị rủi ro tín dụng. NHCT HK đã thành lập phòng quản lý rủi ro được tổ chức một cách chặt chẽ có chức năng, nhiệm vụ: tham mưu cho giám đốc chi nhánh về công tác quản lý rủi ro của chi nhánh, quản lý giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng. Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng. Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ hoạt động Ngân hàng. Thành lập tổ quản lý nợ có vấn đề: tổ quản lý nợ có vấn đề chịu trách nhiệm về quản lý, xử lý nợ xấu (nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm5 theo quy định phân loại nợ) nợ đã xử lý rủi ro, nợ được chính phủ xử lý; là đầu mối khai thác và xử lý tài sản đảm bảo tiền vay theo quy định của nhà nước nhằm thu hồi nợ xấu. Sơ đồ 2.3: Mô hình quản trị rủi ro tín dụng. * Quy trình quản lý rủi ro tín dụng. Sơ đồ 2.4: Chu trình kiểm soát tín dụng liên tục. Khối quản lý rủi ro Tổ quản lý nợ có vấn đề Phòng quản lý rủi ro Kiểm soát trước khi cho vay Kiểm soát trong khi cho vay Kiểm soát sau khi cho vay
  38. 38. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0438 Trong đó: Kiểm soát trước khi cho vay (1)Thiếtlậpmộtchínhsáchvàthủtục tíndụngbằngvănbản (2)Thẩmđịnhtrước khicho vay (3)Phêduyệtkhoảnvay Kiểm soát trong khi cho vay (1)Xác lập Hợp đồngtíndụng (2)Giámsátquátrìnhgiảingân (3)Giámsáttíndụng Kiểm soát sau khicho vay (1)Theo dõi, đônđốc thuhồinợ (2) Tái xét tín dụng và phân hạng tín dụng (3)Kiểmsoáttíndụngnộibộ độc lập (4)Đánhgiálạichínhsáchtíndụng Việc quản trị rủi ro tín dụng thực chất là một quá trình liên tục bắt đầu từ khâu thẩm định đánh giá trước phê duyệt khoản vay; giải ngân; theo dõi khoản vay (bao gồm việc đưa ra các dấu hiệu cảnh báo sớm về tình trạng của khách hàng), quản lý các khoản nợ có vấn đề, nợ xấu (bao gồm việc đưa ra các giải pháp, phương án thu hồi nợ nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại cho ngân hàng), cho đến khi thu hồi vốn.
  39. 39. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0439 2.2.3 Thực trạng hoạt động tín dụng tại Chi nhánh.  Kết cấu dư nợ tín dụng. Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010 Doanh số Tỷ trọng Doanh số Tỷ trọng Doanh số Tỷ trọng Doanh số Tỷ trọng Dư nợ TD 1100 100% 1100 100% 1900 100% 3500 100% TD ngắn hạn 402 36.5% 400 36.4% 900 47.4% 1300 37.1% TD trung và dài hạn 698 63.5% 700 63.6% 1000 52.6% 2200 62.9% (Nguồn:Báo cáo HĐKD của VietinbankHoàn Kiếm) Bảng 2.2: Dư nợ tín dụngtheo thời hạn tại VietinbankHoàn Kiếm năm 2007-2010 Qua bảng trên ta thấy, năm 2007 và 2008 dư nợ cho vay khá ổn định và biến động mạnh vào năm 2009 và năm 2010. Tỷ trọng cho vay ngắn hạn luôn thấp hơn cho vay trung và dài hạn. Tỷ trọng cho vay trung và dài hạn luôn lớn hơn 50% cho thấy NHCT Hoàn Kiếm ưu tiên tín dụng trung và dài hạn, điều này mang lại rủi ro khá cao cho Ngân hàng khi mà nền kinh tế còn nhiều biến động về lãi suất và nguồn vốn huy động lại chủ yếu là ngắn hạn. Vì vậy, giảm tỷ trọng cho vay trung và dài hạn cần được Ngân hàng xem xét.
  40. 40. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0440 Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu 2007 2008 2009 2010 Doanh số Tỷ trọng Doanh số Tỷ trọng Doanh số Tỷ trọng Doanh số Tỷ trọng Dư nợ vay 1.100 100 1.100 100 1.900 100 3.500 100 Cho vay DNNN 781 71% 935 85% 1615 85% 2940 84% Cho vay không có TSĐB 847 77% 748 68% 1235 65% 1785 51% (Nguồn:Báo cáo HĐKD của VietinbankHoàn Kiếm) Bảng 2.2: Dư nợ cho vay DNNN và cho vay không có tài sản đảm bảo tại Vietinbank Hoàn Kiếm năm 2007-2010 Qua các số liệu trên ta thấy dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp nhà nước là rất lớn, luôn lớn hơn 70% và tăng qua các năm. sở dĩ như vậy là do chính sách cho vay của NHCT – Hoàn Kiếm là cho vay chủ yếu đối với các tập đoàn lớn, cá doanh nghiệp Nhà nước, các dự án của chính phủ...nhất là năm 2010 là 2.940 tỷ đồng tương ứng chiếm 84% tổng dư nợ, gấp gần 4 lần năm 2007. Một điều cần chú ý nữa là tỷ trọng cho vay không có tài sản đảm bảo mặc dù có xu hướng giảm nhưng vẫn trên 50%. Theo Nghị định 85/2002/NĐ-CP ngày 25/10/2003 của Chính phủ về cho vay không có tài sản đảm bảo thì loại hình này chỉ cho vay đối với khách hàng uy tín, do đó mặc dù chủ yếu cho vay đối với doanh nhiệp Nhà nước thì với tỷ trọng trên 50% là tiềm ẩn nhiều rủi ro khi mà gần đây tình hình sản xuất kinh doanh của một số tập đoàn nhà nước không mấy khả quan. Vì vậy, giảm tỷ trọng cho vay không có tài sản đảm bảo cần được NHCT Hoàn kiếm chú ý.  Tỷ lệ Nợ nhóm 2,3,4,5 / Tổng dư nợ tín dụng. Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu rõ Phân loại nợ: có các nhóm nợ:
  41. 41. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0441 - Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn: các khoản nợ được đánh giá là có khả năng thu hồi được đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn. - Nhóm 2: Nợ cần chú ý: các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ. - Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn: các khoản nợ được TCTC đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. - Nhóm 4: Nợ nghi ngờ: các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao. - Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn: các khoản nợ được TCTD đánh giá là không có khả năng thu hồi, mất cả vốn và lãi. Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Tổng dư nợ 1.100 100 1.900 100 3.500 100 Nợ nhóm 1 1.048 95.35 1.821 95.94 3.356 95.98 Nợ nhóm 2 25 2.28 33 1.73 62 1.77 Nợ nhóm 3 15 1.33 26 1.34 48 1.37 Nợ nhóm 4 9 0.81 16 0.83 30 0.87 Nợ nhóm 5 3 0.23 4 0.16 4 0.1 (Nguồn:Báo cáo HĐKD của VietinbankHoàn Kiếm) Bảng 2.3: Tình hình phân loại nợ tại VietinbankHoàn Kiếm năm 2008-2010 Từ bảng trên ta thấy nợ nhóm 1 là nhóm nợ đủ tiêu chuẩn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ trên 95% ổn định qua các năm. Nhận thấy, nợ quá hạn chủ yếu nằm ở nhóm 2, nhóm nợ có khả năng thu hồi gốc và lãi nhưng tỷ lệ này luôn nhỏ hơn 3% có xu hướng giảm dần qua các năm. Năm 2010, tỷ
  42. 42. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0442 trọng của khoản nợ quá hạn dưới 90 ngày (nợ nhóm 2) chiếm 1.77 % tổng dư nợ, năm 2009 tỷ trọng này là 1.73%, năm 2008 là 2.28%. Còn tỷ lệ nợ khó đòi (nợ nhóm 5) qua các năm: năm 2008 là 0,23%; năm 2009 là 0,16 %, năm 2010 là 0,1%. Tỷ lệ này được giảm dần qua các năm. Cho thấy khản năng thu hồi được nợ quá hạn là khả quan. Đây là do nỗ lực của Ngân hàng, trong việc thu hồi các khoản nợ có khả năng mất vốn. Xét chung thì thấy tỷ lệ nợ khó đòi của Ngân hàng là khá thấp chiếm dưới 1% trong tổng dư nợ. Năm 2010 so với năm 2009 và so với năm 2008 tỷ lệ nợ nhóm 3 và nhóm 4 so với tổng dư nợ có xu hướng tăng (mức tăng hàng năm không quá 0,04%). Mặc dù, Ngân hàng đã có nhiều biện pháp đôn đốc khách hàng làm cho tỷ lệ nợ nhóm 3 luôn nhỏ hơn 1,5% và nợ nhóm 4 luôn nhỏ hơn 1% trong tổng dư nợ. Do dó, Ngân hàng vẫn cần chú trọng các biện pháp giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng. Thực tế, Ngân hàng đã rất chú trọng đến các khoản nợ, nhất là khoản nợ đến hạn và được gia hạn nợ. Nhiều năm qua, với sự điều chỉnh trong công tác tín dụng Ngân hàng kiểm soát rất khắt khe các khoản vay của khách hàng, đồng thời tạo cơ hội cho khách hàng có khả năng trả nợ tốt nhất, tránh tổn thất không đáng có.  Tỷ lệ nợ xấu. Đơn vị: tỷ đồng (Nguồn:Báo cáo HĐKD của VietinbankHoàn Kiếm) Bảng 2.4: Tình hình nợ xấu tại VietinbankHoàn Kiếm năm 2008-2010 Chỉ tiêu 2008 2009 2010 2009/2008 2010/2009 Số tiền % Số tiền % Tổng Dư nợ 1.100 1.900 3.500 800 72,73 1.600 84,21 Tổng nợ xấu 27 46 82 19 70,37 36 78,26 Tỷ lệ nợ xấu (%) 2.37 2.33 2.25 -0.04 -0.07
  43. 43. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0443 Qua bảng trên chúng ta có thể nhận thấy tỷ lệ giữa nợ xấu so với tổng dư nợ của chi nhánh giảm dần qua các năm và thấp hơn mức chuẩn 5% mà NHNN quy định. Tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh trong 2 năm 2008 và 2009 cao hơn so với năm 2009 là do đây là 2 năm nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như dịch cúm gia cầm, sự tăng giá liên tục của một số mặt hàng chủ lực như xăng dầu, sắt thép, phân bón… ảnh hưởng đến khả năng thanh toán các khoản nợ của khách hàng. Năm 2010 tổng nợ xấu là 82 tỷ đồng tăng 36 tỷ đồng so với năm 2009 với tỷ lệ tăng tương ứng là 78,26%. Năm 2009 tổng nợ xấu là 46 tỷ đồng tăng 19 tỷ đồng so với năm 2008. Qua các năm tổng nợ xấu tăng lên nhưng tốc độ tăng nhỏ hơn so với mức tăng của tổng dư nợ. Do đó tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ vẫn được duy trì ở mức khá an toàn và nằm trong tầm kiểm soát của chi nhánh. Mặt khác khi Ngân hàng mở rộng cho vay thì rủi ro tín dụng cũng tăng lên nhưng tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức chấp nhận được (< 3%) và có xu hướng giảm qua các năm đây là một kết quả đáng khích lệ trong điều kiện nền kinh tế nhiều biến động như hiện nay. Năm 2009 tỷ lệ nợ xấu của toàn chi nhánh là 2,33% giảm 0.06% so với năm 2008. Năm 2010 tỷ lệ nợ xấu giảm 0.07% so với năm 2009 giúp tỷ lệ nợ xấu chi nhánh chỉ còn 2.25%. Đạt được kết quả như trên cho thấy chất lượng tín dụng tại chi nhánh đang được cải thiện. Tuy nhiên vẫn tiềm ẩn nợ xấu khó thu hồi còn lớn cần phải được phân tích, đánh giá đúng mức từng trường hợp để có giải pháp xử lý thích hợp. Do vậy chi nhánh cần tiếp tục rà soát lại các khoản nợ xấu, thành lập tổ thu nợ, xây dựng phương án thu nợ đến từng khách hàng cụ thể kiên quyết xử lý khách hàng có nợ xấu để chất lượng tín dụng được nâng cao hơn nữa.  Phân loại nợ và trích lập quỹ dự phòng rủi ro tại NHCT Hoàn Kiếm. Việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro của NHCT Hoàn Kiếm đúng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước và Ngân hàng Công Thương Việt Nam.
  44. 44. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0444 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu rõ: Trích lập dự phòng rủi ro: - Nhóm 1: 0% - Nhóm 2: 5% - Nhóm 3: 20% - Nhóm 4: 50% - Nhóm 5: 100%. Đơn vị : tỷ đồng (Nguồn:Báo cáo HĐKD của VietinbankHoàn Kiếm) Bảng 2.4: Tình hình trích lập dự phòng tại VietinbankHoàn Kiếm năm 2008-2010 2.2.4 Thành tựu và hạn chế trong việc quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm. * Thành tựu đạt được. Trong những năm qua, hoạt động tín dụng của chi nhánh luôn được coi trọng đặc biệt là tín dụng đối với khách hàng là doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn kinh tế…. Với phương châm lấy hiệu quả các khoản tín dụng đặt lên hàng đầu, chi nhánh đã định hướng đầu tư vào những ngành, lĩnh vực có tiềm Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Nợ nhóm 1 0 0 0 Nợ nhóm 2 1,25 1,65 3,10 Nợ nhóm 3 3,00 5,20 9,60 Nợ nhóm 4 4,50 8,00 15,00 Nợ nhóm 5 3,00 4,00 4,00 Tổng số tiền trích dự phòng 11,75 18,85 31,7
  45. 45. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0445 năng, có khả năng sinh lời với độ rủi ro thấp, ưu tiên cho những dự án đầu tư theo chiều sâu tránh hiện tượng đầu tư tràn lan, kém hiệu quả. - Ban lãnh đạo chi nhánh thường xuyên có sự chỉ đạo kịp thời, bám sát với tình hình thực tế tại chi nhánh cũng như tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của các khách hàng doanh nghiệp. Nhanh chóng giải quyết các vướng mắc nảy sinh trong quá trình quan hệ tín dụng đối với doanh nghiệp. - Thu thập đầy đủ thông tin khách hàng từ hoạt động khảo sát hay từ những nguồn khác đảm bảo không gây phiền hà, cản trở đến hoạt động của doanh nghiệp. Từ những thông tin đó chi nhánh tiến hành phân loại khách hàng để từ đó có định hướng đầu tư đúng đắn, mở rộng cho vay có hiệu quả. - Các khoản cho vay luôn phải đảm bảo đúng, đủ quy trình theo quy định của quy chế cho vay của Ngân hàng Công Thương Việt Nam. - Phân định rõ ràng trách nhiệm của cán bộ tín dụng, trưởng phòng hay giám đốc đối với mỗi khoản tín dụng. Điều đó đòi hỏi mỗi cá nhân phải nâng cao vai trò trách nhiệm của mình, các khoản vay luôn được giám sát, đánh giá hiệu quả một cách thường xuyên. - Tích cực hợp tác và cung cấp đầy đủ thông tin cho các cơ quan cấp trên khi có yêu cầu. Nghiêm túc nhận và sửa chữa những sai sót mắc phải trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng. * Hạn chế tồn tại. Trong quá trình hoạt động của chi nhánh, bên cạnh những mặt đã đạt được vẫn còn những hạn chế cần được giải quyết kịp thời tránh những tác động không tốt, ảnh hưởng tới hoạt động của chi nhánh. - Cơ cấu tín dụng chưa hợp lý. Tỷ trọng cho vay trung vài dài hạn khá lớn luôn lớn hơn 55%, chủ yếu tập trung tín dụng cho các doanh nghiệp Nhà Nước (lớn hơn 70%). Vì đây, xét về tổng thể rủi ro được phân tán và khả năng xảy ra rủi ro ở quy mô lớn là cao. - Dư nợ đối với khách hàng hộ sản xuất và cá nhân chưa cao, thiếu ổn định. Cho vay dự án còn hạn chế nhất là đối với các dự án trên 5 năm, đây là
  46. 46. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0446 vấn đề của toàn bộ hệ thống NHCT Việt Nam nói chung và của chi nhánh nói riêng. - Tỷ trọng cho vay không có tài sản đảm bảo khá cao luôn lớn hơn 50%. Điều này mang lại rủi ro mất vốn cho chi nhánh khi mà dự án sản xuất kinh doanh gặp khó khăn. - Phương thức cho vay còn thiếu sự phong phú, hiện nay mới áp dụng phương thức cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư và cho vay hợp vốn. Trong đó, chủ yếu là cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức tín dụng còncho vay theo dự án đầu tư còn ít do đây là lợi thế của Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt Nam, cho vay hợp vốn cũng hạn chế vì nó liên quan tới nhiều ngân hàng khác nhau nên việc phân chia quyền lợi và nghĩa vụ rất khó khăn. - Nhận thức, tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác, năng lực làm việc của một số cán bộ còn yếu. Sự thích ứng của cán bộ tác nghiệp chưa theo kịp thay đổi môi trường kinh doanh 2.2.5 Một số nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Công Thương Hoàn Kiếm. * Nguyên nhân chủ quan. Thứ nhất, chi nhánh chưa chú trọng đúng mức xây dựng chiến lược kinh doanh dựa trên thực trạng của Ngân hàng về vốn, tài sản, công nghệ… chưa xây dựng được hệ thống mục tiêu qua từng giai đoạn. Thứ hai, năng lực của một số cán bộ tín dụng còn hạn chế. Mặc dù đa phần các cán bộ tín dụng của chi nhánh có trình độ đại học nhưng phần lớn còn trẻ, thiếu kinh nghiệm nghề nghiệp. Thứ ba, chất lượng thẩm định dự án đầu tư chưa cao, thiếu tính chắc chắn. Nguồn thông tin vẫn dựa vào khách hàng là chủ yếu do đó mức độ chính xác của thông tin còn hạn chế. Hệ thống thu thập và xử lý thông tin của chi nhánh nhìn chung còn thiếu thốn và tổ chức chưa chặt chẽ.
  47. 47. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0447 Thứ tư, công tác kiểm tra sử dụng vốn của cán bộ tín dụng chưa đảm bảo chất lượng, còn mang tính sơ sài, thiếu tính nghiệp vụ và chưa đánh giá được khả năng thu hồi nợ từ các khoản vay đã được kiểm tra. Thứ năm, Công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ chưa đạt hiệu quả còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được mức độ phức tạp của nội dung kiểm tra tín dụng. Trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác kiểm soát còn hạn chế về nghiệp vụ chuyên môn, chưa tương xứng với công việc vì vậy nhiều khi việc kiểm soát không phát hiện ra những sai phạm trong hoạt động tín dụng. * Nguyên nhân khách quan. Thứ nhất, môi trường vĩ mô chưa thông thoáng, thiếu tính ổn định. Các chính sách liên quan đến hoạt động của Ngân hàng như chính sách tiền tệ, chính sách thuế… hay thay đổi ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống Ngân hàng nói chung và của chi nhánh nói riêng. Thứ hai, môi trường cạnh tranh còn thiếu tính lành mạnh với hiện tượng móc ngoặc, tham nhũng. Thứ ba, khách hàng thiếu khả năng tài chính, thiếu kinh nghiệm quản lý và điều hành kinh doanh. Khách hàng không kê khai đúng tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh khiến chi nhánh không thể nắm bắt được khả năng thực sự của khách hàng vay vốn. Khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích trong hợp đồng vay vốn dẫn đến nguy cơ thất thoát vốn cho ngân hàng. Mặt khác, trình độ quản lý kinh doanh của doanh nghiệp yếu kém dẫn đến sử dụng vốn không hợp lý làm thất thoát vốn vào những chi phí không cần thiết. Thứ tư, trên địa bàn của chi nhánh có nhiều ngân hàng khác cùng hoạt động, mức độ cạnh tranh giữa các Ngân hàng ngày càng gay gắt ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng cụ thể là hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng đối với khách hàng.
  48. 48. Luận văn tốt nghiệp Mẫn Văn Kiệm CQ 45/15.0448 CHƯƠNG III GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG CHI NHÁNH HOÀN KIẾM 3.1 Định hướng mục tiêu phát triển của Ngân hàng Công Thương chi nhánh Hoàn Kiếm trong thời gian tới. 3.1.1. Định hướng chung của NHCT Hoàn Kiếm. Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, đồng thời quán triệt định hướng hoạt động kinh doanh của NHCT Việt Nam, căn cứ vào mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa bàn và tình hình thực tiễn của NHCT Hoàn Kiếm. Ngân hàng đề ra mục tiêu tổng quát cho năm 2011 như sau: - Lợi nhuận: đạt 15 tỷ đồng. - Thu từ dịch vụ: 28%/thu nhập. - Tài chính: Đủ lương theo hệ số tối đa được chi và có một phần tiền thưởng trong lương. - Tiếp tục tìm kiếm mở rộng khách hàng, xây dựng giải pháp phù hợp để thu hút khách hàng. - Tập trung phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, nâng cao tỷ lệ thu từ dịch vụ trong tổng thu của chi nhánh. - Phấn đấu tăng trưởng và nâng cao chất lượng tín dụng phù hợp với kế hoạch đề ra. - Công tác kế toán tài chính cần tập trung tăng cường công tác kiểm soát đảm bảo số liệu an toàn, chính xác. - Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ nhằm phát hiện chỉnh sửa kịp thời những sai sót phát sinh.

×