Anh hùng nguyễn phan vinh a vu

1,107 views

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
1,107
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
3
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Anh hùng nguyễn phan vinh a vu

  1. 1. ANH HÙNG NGUYỄN PHAN VINH NIỀM TIN VÀ LÝ TƯỞNG SỐNG MÃI BÙI THỊ HƯƠNG 21 tuổi nhập ngũ, 35 tuổi hy sinh, đó là toàn bộ thời gian trong quân ngũ củatrung úy, thuyền trưởng tảu hải quan Nguyễn Phan Vinh (1933 – 1968). Sống ngẵnngủi như sao băng nhưng cho tới tận hôm nay, Nguyễn Phan Vinh vẫn là niềm tựhào của những người lính biển. Năm 1970, Anh đã được Nhà nước truy tặng danhhiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đã có khá nhiều tác phẩm văn họcnghệ thuật viết về anh, cả thơ, văn xuôi lẫn ca khúc… Một hòn đảo thuộc quần đảoTrường Sa đã được mang tên anh, đảo Phan Vinh. GIA ĐÌNH NGƯỜI ANH HÙNG Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã có một con đườngxuyên dọc Trường Sơn mà hễ nhắc đến là lại liên tưởng tới những sự tích thần kỳ.Song ngoài con đường ấy, còn có một con đường khác nữa, đó là con đường vậnchuyển vũ khí từ Bắc vào Nam trên biển Đông với một nét độc đáo, đặc sắc, sangtạo như thể thần thoại, với biết bao kỳ tích, biết bao câu chuyện cảm động về longdũng cảm, sự hy sinh quên mình của những người chiến sỹ “Đoàn tàu không số” vàtình cảm gắn bó keo sơn với quân dân các bến. Bởi những lẽ đó, con đường ấy luônlà con đường của huyền thoại. Phan Vinh - Người con ưu tú của mảnh đất Điện Nam - Điện Bàn - QuảngNam (cũ) sinh ra trong một gia đình có tới bốn liệt sỹ. Tháng 3 năm 1968, anh hysinh ở Hòn Hèo thì cuối năm ấy, cha của anh – du kích Nguyễn Đức Mẫn cũng hysinh trong một trận chống càn tại quê nhà. Năm 1963, mẹ anh bị địch bắt vị nhữnghoạt động cách mạng, bị chúng tra khảo dã man đến kiệt sức rồi mất. Năm bà ngãxuống trên chiến trường Quảng Nam. Người duy nhất còn lại trong gia đình anh làanh Nguyễn Đức Xử. Một người bạn của tôi trong đợt đi làm phim về “Tàu khôngsố” kể chuyện khi được nghe anh Xử nói về người em trai của mình: Phan Vinh tuylà con út trong gia đình, nhưng ngay từ nhỏ đã là người cứng cỏi, quyết đoán và đặcbiệt là giàu lý tưởng. Có lẽ chính từ cái cứng cỏi, quyết đoàn và giàu lý tưởng cách mạng đó đãlàm nên một Phan Vinh với bản anh hùng ca trên vùng biển Hòn Hèo. TÀU 235 - BẢN ANH HÙNG CA BẤT TỬ TRÊN VÙNG BIỂN HÒN HÈO
  2. 2. Hòn Hèo là tên chung chỉ vùng biển và dãy núi chạy qua xã Ninh Phước,Ninh vân thuộc tỉnh Khánh Hòa. Hòn Hèo cách Nha Trang khoảng hơn chục cây sốđường biển. Nơi đây, thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và đồng đội đã hy sinhcùng con tàu 235 cách đây gần 40 năm. Thời kỳ sau đó nhiều chuyến đi chót lọt, kẻ địch đã tìm mọi cách ngăn chặncon đường vận chuyển trên biển mà chúng gọi là “cực kỳ nguy hiểm” này. Khôngquân, hải quân Mỹ - ngụy tung lực lượng khá mạnh để chăng lưới bủa vây trên mặtbiển đón bắt những con tàu cảm tử chở vũ khí chi viện cho chiến trường MiềnNam. Trên biển chúng chia từng ô ngăn chặn và sử dụng rada quét sóng đêm ngày;hàng nghìn tàu thuyền tuần tra trên biển. Trên trời và trong đất liền cả đêm lẫn ngàylúc nào cũng có lính địch và máy bay trinh sát, tuần tra, canh phòng. Về chuyến đi của tàu 235 lần ấy, anh Long An, một trong năm người đã sốngsót kể lại. 11 giời 30 ngày 27 tháng 2 năm 1968, tàu 235 xuất phát, chở hơn 14 tấn vũkhí vào bến Hòn Hèo. Đây là bến hết sức khó vào, luồng hẹp, nhiều đá ngầm, cónúi cao bao bọc phía ngoài. Một tài liệu của Pháp nói rằng muốn ra vào Hòn Hèophải là những tay thuyền trưởng lão luyện, có trên dưới 20 năm tuổi nghề. Trungúy Nguyễn Phan Vinh được tin cậy và giao nhiệm vụ chỉ huy con tàu này. Tàu có21 cán bộ, chiến sĩ: Chính trị viên: Nguyễn Tương, thuyền phó 1: Đoàn Văn Nhi;thuyền phó 2: Võ Tá Tu; máy trưởng: Trương Văn Mùi; thợ máy: Ngô Văn Thứ,Nguyễn Minh Hải, Trần Lộc; thợi điện: Lê Duy Mai; báo vụ: Phạm Trường Nam,Doãn Quang Ruyện; rađa: Trần Thọ Thuyết; thủy thủ: Ngô Văn Dầu, Nguyễn VănPhong, Hà Minh Thật, Đào Quang Ty; hang hải: Mai Văn Khung, Lâm QuangTuyến; y tá: Hoàng Văn Hòa; cơ yếu: Nguyễn Văn Dũng và tôi – Vũ Long An - thợmáy. Trước giờ nhổ neo, Ngô Văn Dầu bị viêm phổi phải vào viện nên đội hìnhcòn lại 20 người. Chúng tôi đi hai ngày đêm trên vùng biển quốc tế, tối ngày 29tháng 2, tàu đến ngang vùng biển Nha Trang và chuyển hướng vào bờ. Phát hiện ratàu ta, địch lập tức huy động 3 tàu chiến: Ngọc Hồi, HQ12, HQ617 và 4 tàu kháccủa duyên đoàn 25 đến vùng biển Nha Trang với ý định bắt sống tàu ta. Biết đã bịlộ, thuyền trưởng Phan Vinh khôn khéo điều khiển tàu 235 luồn lách qua đội hìnhtàu địch và đến được bến Ninh Phước lúc 0 giờ 30 ngày 1 tháng 3. Anh quyết địnhthực hiện phương án hai, cho thả hàng xuống nước để bến mò vớt sau. Các kiệnhang được bao gói đặc biệt lần lượt lăn xuống biển. Lúc đó chừng 1 giờ 30 phút.Phía sau 3 tàu loại lớn và 4 tàu loại nhỏ đang khép chặt vòng vây, phía trước là núi.Phan Vinh đã cho tàu chạy ven bờ xuôi xuống bến Ninh Vân chừng độ mươi hải lýnhằm mục đích khồng để lộ vị trí thả vũ khí. Tàu địch lập tức đuổi theo nã đạnkhông ngớt. Bọn địch lệnh cho tất cả các tàu của chúng bật đèn là tàu “Việt cộng”,đồng thời chúng gọi máy bay đến thả pháo sang và bắn rốckét. Các loại súng lớnbắn liên tiếp lên bờ đề phòng “Việt cộng trên tàu tẩu thoát”. Trong ánh đạn,Nguyễn Phan Vinh bình tĩnh chỉ huy anh em chiến đấu, vừa điều khiển tàu chạy sátbờ. Các thủy thủ Thật, Phong lien tiếp dùng ĐKZ và 14,5 ly bắn về phía tàu địch,một chiếc bốc cháy khiến chúng không dám vào gần, cuộc chiến đấu mỗi lúc một
  3. 3. ác liệt. Hỏa lực của địch nhiều liên tục bắn vào tàu ta. Lúc nay 5 người đã hy sinh,2 người bị thương khá nặng, 7 người bị thương nhẹ. Thuyền trưởng Phan Vinhcũng bị mảnh đạn xượt qua đầu, anh tự băng bó và vẫn đứng trong buồng lái độngviên mọi người chiến đấu. Anh có ý định phá vòng vây bởi ngoài khơi dễ cơ động,nếu cần thì áp sát tàu địch và cho nổ tàu tiêu diệt bọn chúng, nhưng rất không maylúc đó máy tàu hỏng nặng. Tôi chạy lên báo cáo cho anh Vinh biết. Ý định phávòng vây không thành. Anh cố cho tàu di chuyển vào sát bờ. Lúc đó chừng 2 giờ20 phút. Khi tàu cách bờ hơn 100m, Phan Vinh quyềt định cho nổ tàu. Anh tổ chứcđưa thương binh, liệt sỹ vào bờ và cho lệnh điểm hỏa. Anh Vinh, Thứ và tôi càikípa nổ ở khoang máy, các vị trí khác do Khung, Thật, Mai đảm nhiệm. Kiểm tralại lần cuối, chúng tôi nhảy xuống nước bơi vào bờ. Tôi được giao nhiệm vụ nếutàu không nổ phải quay lại kiểm tra các kíp nổ. 20 phút sau, lúc 2 giờ 40 phút, ngày 1 tháng 3, một cột lửa bùng lên, kế đó làtiếng nổ dữ dội, chấn động tới Nha Trang. Sức công phá của khối thuốc nổ khiếntày 235 đứt đôi, một nửa chìm xuống biển, một nửa còn lại văng lên lưng chừng núiBà Nam, xã Ninh Vân. Sau những phút giây bàng hoàng, địch gọi máy bay đến bắnphá ven biển, nhằm dọn đường cho bộ binh bao vây, bắt sống các thủy thủ tàu 235.Số thủy thủ rút lên bờ còn lại 9 người. Địch lập tức đổ quân lùng sục. Thuyềntrưởng Vinh và thợ máy Thứ chốt ở đó, kiên cường chống trả đánh lui nhiều đợt tấncông của địch và cuối cùng, lực kiệt, vết thương ngày một nặng, súng không cònđạn, các anh đã hy sinh. Số thủy thủ của tàu 235 còn lại 7 người, đó là thuyền phóNhi và 6 thủy: Mai, Thật, Phong, Khung, Tuyến và tôi. Tất cả đều thương tích đầymình, anh em cố gắng dìu nhau chạy vòng vo khắp vùng núi đá Hòn Hèo. Mườingày phơi dưới nắng, không lương thực, không nước uống, chúng tôi kệt quệ. Ngàythứ 11, Khung đi tìm nước uống, rồi không trở về, tìm mãi không thấy. Sau nàymới hay Khung bị địch bắt. Ngày thứ 12, chúng tôi liên lạc được với du kích ở bến.Mọi người quay lại đón anh Nhi đang nằm trong rừng. Nhưng anh không còn ở đónữa, chỉ thấy mảnh áo rách và cuốn băng cá nhân, máu đã nỏ khô… Với sự kiện này, tạp chí “Lướt sóng: của hải quan ngụy viết: “Mười haichiến hạm và hang chục hải thuyền của Hoa kỳ cùng quân lực Việt Nam cộng hòacó phi cơ yểm trợ, đụng độ ác liệt với một tiểu đoàn Việt cộng (thực chất chỉ có 20thủy thủ) gan góc và thiện chiến trên con tàu trở vũ khí từ Bắc Việt thâm nhập vàtiếp tế cho mặt trận giải phóng. Họ đã nổ sung đến viên đạn cuối cùng, đến ngườicuối cùng và hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng tấn bộc phá do chính tay họtự hủy, không để lại một dấu vết”. Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh cùng 14 đồng đội thân yêu đã anh dũng hysinh trên vùng biển Hòn Hèo. Khi ấy Nguyễn Phan Vinh mới ở tuổi 35. Cái chết trẻtrung của anh đã trở thành bất tử trong long những người lính biển và quân dân cảnước. Kể đến đây anh Long An chợt lặng đi, đôi mắt đỏ hoe. Đưa tay gạt nhữnggiọt nước mắt, anh nói tiếp.
  4. 4. “Phan Vinh là một thuyền trưởng giỏi, anh đã có mười một chuyến thànhcông dũng cảm, quyết đoán, sống chân thành, được anh em quý mến, gương mẫutrong mọi hoàn cảnh, nhất là những lúc hiểm nguy, và đặc biệt ở anh là lý tưởng vànhiệt huyết cách mạng. Tôi chỉ tiếc chẳng giữ được chút kỷ vật nào của ngườithuyền trưởng anh hùng ấy. NHỮNG DÒNG THƯ ĐẦY ẮP NIỀM TIN VÀ LÝ TƯỞNG CÁCH MẠNG Điều mà anh Long An day dứt phần nào đã được giải tỏa bởi tại Bảo tàng Hảiquân hiện còn lưu giữ những bức thư của Phan Vinh gửi cho một người bạn thân làanh Trần Phong (đồng chí Trần Phong – nguyên quyền Đoàn trưởng Đoàn 125 Hảiquân). Họ cùng quê, cùng tập kết ra Bắc, cùng học ở Trung Quốc và cùng về hảiquân làm thuyền trưởng. Những lá thư anh viết khi đang tập trung tại căn cứ trênnước bạn, chuẩn bị cho những chuyến đi. Lá thư nhận ngày 26 tháng 10 năm 1967 có đoạn viết: “lão Trần và Hồ! (Trần Phong và Hồ Đắc Thạnh, hai người bạn thân, đều làthuyền trưởng tàu hải quân – TG). … Hôm nay trên một phần mảnh đất Trung Hoa, Nguyễn ngồi biên thư chohai lão trước giờ liên hoan kết nghĩa giữa hai tàu. Vội vàng góp nhặt một số chữgởi cho 2 lão gọi là chút tình thân…” … Từ dạo Nguyễn xa đất nước, Nguyễn cứ tưởng như thế là điều may choNguyễn lắm, nhưng mấy chục ngày sống ở đây, Nguyễn mới thấy nhớ đến dòngsông, bến nước, con đò… Điều này chắc Trần rõ nhiều, cũng như hồi chúng ta xuấtdương ấy mà và còn hơn thế nữa, mảnh đất đến để được tung hoành còn nhỏ hơnCồn Cỏ nhiều. Sóng biển, trưa hè, đá và đồi trọc… Nếu chúng mình không đượcmang dòng máu ông cha thì còn nhiều điều phải suy nghĩ…” Những dòng tâm sự rất thật của anh về tình yêu quê hương đất nước, nhữngkhó khăn, gian khổ, nỗi nhớ nhà, nhớ quê. Nhưng anh luôn tự hào được mang dòngmáu của cha ông, đó là truyền thống anh hùng bất khuất của bao thế hệ, đó là lòngbiết ơn các bậc tiền nhân, biết ơn Tổ quốc và dân tộc đã cho mình một cuộc sốngvà niềm tự hào: Danh dự làm người – con người đất nước Việt Nam, mà mình cóhạnh phúc được đem tất cả “tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải” để gìngiữ. “… Nguyễn muốn trích ra đây một lời mà Nguyễn cảm thấy sâu sắc trongcuộc Đại cách mạng văn hóa vô sản trên đất nước Trung Quốc (có dịp nào Nguyễnsẽ nói với Trần và Hồ về phong trào này): “Chúng ta phải là những con lạc đàtrên bãi sa mạc, mỗi bước đi, mỗi vết chân của chúng ta vì sự nghiệp của Đảng,chúng ta phải là những chiếc cầu chì, vui vẻ và lạc quan mà nhận thấy công tác ởnhững nơi nguy hiểm nhất. Và khi cần thiết ta hy sinh sinh mạng mình cho Đảng,cho nhân dân”. Thời gian, thời gian sẽ ủng hộ chúng ta…”
  5. 5. Lý tưởng cách mạng coa đẹp của anh và của thế hệ thanh niên thời đó là sẵnsang chấp nhận hiểm nguy, sẵn sang hy sinh cho cách mạng. Các anh đã dấn thânvào chiến trận với một tâm hồn sôi nổi, giàu nhiệt huyết. Không phải một tấmgương mà hang ngàn, hàng vạn tấm gương “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” trênmặt biển, nơi mà kẻ thù có sức mạnh áp đảo về tuần tra, ngăn chặn, thậm chí hủydiệt, chưa nói đến thách thức hiểm nguy không lường được của thiên nhiên… Ls thư gửi tháng 1 năm 1968, trước khi anh hy sinh một tháng: “Phong thân! Mình không ngờ đến nơi đây. Mùa hè đã qua mà nóng ghê, nhưng đâu cónóng bằng cõi lòng người chiến sỹ. Mọi việc ở đây diễn ra bình thường, rất mongngày “thượng lộ”, ấy thế mà cứ ăn chực nằm chờ mãi, kể cũng ê. Còn những gìtiếp theo nữa thì để lịch sử trả lời. Hẹn gặp Phong vào một ngày vinh quang, điềuđó khẳng định. … Phong hãy giúp mình biên thư cho anh Xử. Khi nào có dịp mình sẽ biênthư sau, hoặc có dịp gặp. Mình không muốn biên thư vì mình nghĩ rằng mọi riêngtư lúc này sẽ làm con người ta khó bước tới. Tình cảm đó có lẽ để dành cho sauchiến tranh. Bây giờ mình chỉ có một tình cảm duy nhất là hãy bước tới và xôngvào cuộc cách mạng vĩ đại, con người hoàn toàn không sợ ràng buộc bởi nhữngmối dây nào khác. Thằng Thạnh sắp cưới vợ mình không có gì làm quà. Phong mở trong gói đồmình để lại, lấy chiếc khăn tay, lọ nước hoa nói rằng mình gửi tặng mối tình đó.Phong chuyển lời hỏi thăm và chúc mừng đôi bạn xinh đẹp ấy…”. Tạm gác lại những tình cảm riêng tư để dồn cho một cái duy nhất đó là bướctới và xông vào cuộc cách mạng vĩ đại, với niềm tin vững chắc vào thắng lợi: Hẹngặp Phong vào một ngày vinh quang, điều đó khẳng định. Cách đây 40 năm, Phan Vinh và thế hệ thanh niên của chúng ta đã đi vàochiến trận với tinh thần lạc quan và ung dung như thế, bởi trong tiềm thức của họnung nấu một lý tưởng cao đẹp, một niềm tin chắc chắn rằng sự hy sinh vì nghĩacủa mình sẽ được nối tiếp, được mở rộng và sẽ thành công nếu không ở thế hệ củamình thì nhất định sẽ ở những thế hệ tương lai. Các anh không còn nữa, nhưngniềm tin và lý tưởng còn sống mãi.

×