Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

Báo cáo thực tập phạm thị huyền trang new

938 views

Published on

  • Add đang làm dịch vụ báo cáo thực tập!
    Rất mong được sự chia sẻ giúp đỡ từ các anh chị
    Hướng dẫn viết bài miễn phí.
    Ai cần comment lại địa chỉ mail hoặc liên hệ:
    Dương Thị Hà
    Làm báo cáo thực tập kế toán chi phí bán hàng, tiền lương nguyên liệu
    Sđt; 0973.887.643
    Yahoo: Hoa_linh_lan_tim_90
    Mail: duonghakt68@gmail.com
    website: http://baocaothuctapketoan.blogspot.com
    Facebook: https://www.facebook.com/dvbaocaothuctapketoan?ref=hl.
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

Báo cáo thực tập phạm thị huyền trang new

  1. 1. Trang 1 / 58LỜI MỞ ĐẦUTừ lâu, cho thuê tài chính đã xuất hiện ở Việt Nam nhưng hầu như mức độphổ biến và sử dụng dịch vụ tại các doanh nghiệp chưa nhiều. Ở các quốc giakhác trên thế giới, cho thuê tài chính là một trong những nguồn cung cấp vốnchủ yếu cho các máy móc thiết bị tại doanh nghiệp, được xem là một yếu tố thúcđẩy công nghiệp phát triển. Paul Getty - tỷ phú dầu mỏ Mỹ đã từng nói “Cái gìsẽ tăng giá thì hãy mua, cái gì sẽ mất giá thì hãy đi thuê”. Do đó, cho thuê tàichính sẽ là giải pháp tối ưu cho doanh nghiệp nhằm tiết kiệm chi phí đầu tư,nhanh chóng thay đổi, cập nhật công nghệ mới, đặc biệt là với tốc độ phát triểncủa khoa học công nghệ ngày nay, giá cả các máy móc thiết bị có xu hướng tốtvà rẻ hơn.1. Tên đề tài: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động CTTC của Công tyTNHH một thành viên cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu nói riêng và thịtrường cho thuê tài chính Việt Nam nói chung.2. Mục đích nghiên cứu của Báo Cáo.- Hệ thống và làm rõ hơn một số vấn đề cơ bản về cho thuê tài chính.- Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính của Công tyTNHH một thành viên cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động choCông ty TNHH một thành viên cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu nói riêngvà thị trường cho thuê tài chính Việt Nam nói chung.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động tài chính và những vấn đề liênquan đến cho thuê tài chính.- Phạm vi nghiên cứu: Lấy thực tế tại Công ty TNHH một thành viên chothuê tài chính Ngân hàng Á Châu năm 2009, 2010 và 2011 làm cơ sở minhchứng.
  2. 2. Trang 2 / 58PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN TRONGHOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của cho thuê tài chính.Hình thức cho thuê tài chính đã có lịch sử khá lâu dài và diễn ra trong hầuhết mọi lãnh vực hoạt động kinh doanh.Từ khi xuất hiện hình thức cho thuê tài chính thì loại hình tài trợ này đã cónhững bước phát triển về cả quy mô và phạm vi địa lý. Ngày nay nó đã trở thànhhình thức tài trợ vốn kinh doanh khá phổ biến từ Châu Mỹ qua Châu Âu, Châu Ácho đến tận miền cực nam Châu Phi.Tuy nhiên, các giao dịch thuê tài sản thời cổ thuộc hình thức thuê mua kiểutruyền thống. Phương thức giao dịch của hình thức này cũng tương tự nhưphương thức thuê vận hành ngày nay và trong suốt lịch sử hàng ngàn năm tồn tạicủa nó, đã không có sự thay đổi lớn về tính chất giao dịch.Hoạt động cho thuê tài sản đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử văn minhnhân loại, đã xuất hiện từ 2000 năm trước công nguyên với việc cho thuê cáccông cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, quyền sử dụng nước, ruộng đất nhàcửa.Đầu thế kỷ XIX do sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế hànghoá, số lượng và chủng loại tài sản cho thuê đã có sự gia tăng đáng kể.Đến đầu thập kỷ 50 của thế kỷ này, giao dịch thuê mua đã có những bướcnhảy vọt. Nguyên nhân của sự phát triển này là do hoạt động thuê mua đã cónhững thay đổi về tính chất của giao dịch. Nhằm đáp ứng nhu cầu vốn trung vàdài hạn, nghiệp vụ tín dụng thuê mua hay còn gọi là thuê tài chính được sáng tạora trước tiên ở Mỹ vào năm 1952. Sau đó nghiệp vụ tín dụng thuê mua phát triểnsang Châu Âu và phát triển mạnh mẽ tại đó từ những năm của thập kỷ 60. Tíndụng thuê mua cũng phát triển mạnh mẽ ở châu Á và nhiều khu vực khác từ đầuthập kỷ 70. Ngành công nghiệp thuê mua có giá trị trao đổi chiếm khoảng 350 tỷUSD vào năm 1994. Chỉ tính riêng tại Hoa Kỳ tổng số vốn thiết bị cho thuê năm
  3. 3. Trang 3 / 581987 ước tính lên đến 107,8 tỷ USD và có tốc độ giá tăng 7% mỗi năm. Hiệnnay ở Mỹ, ngành thuê mua thiết bị chiếm khoảng 25-30% tổng số tiền tài trợ chocác giao dịch mua bán thiết bị hàng năm. Ở Anh theo một công bố mới đây củaHiệp Hội tín dụng thuê mua thiết bị, thuê vận hành chiếm khoảng 20% vốn tàitrợ cho các hoạt động thuê mua ở Anh và năm 1993, tổng giá trị ngành côngnghiệp thuê mua đạt 49 Tỷ Bảng.Nguyên nhân chính thúc đẩy các hoạt động cho thuê tài chính phát triểnnhanh là do nó thể hiện hình thức tài trợ có tính chất an toàn cao tiện lợi, và hiệuquả cho các bên giao dịch.1.2. Những vấn đề cơ bản của Hoạt động cho thuê tài chính.1.2.1. Khái niệm.Theo Nghị định số 16/NĐ-CP ngày 02/05/2001 của chính phủ thì khái niệmcho thuê tài chính được hiểu như sau:Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng và dài hạn, thông qua việccho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trêncơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê. Bên cho thuê cam kếtmua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêucầu của bên mua và nắm giữ quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sửdụng tài sản thuê và thanh toán thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bênthoả thuận.1.2.2. Đặc điểm của cho thuê tài chính.- CTTC là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn giữa bên cho thuê tàisản và bên đi thuê tài sản.- Trong thời hạn cho thuê, các bên không được đơn phương hủy bỏ hợpđồng.- Trong thời gian cho thuê, tài sản thuộc quyền sở hữu tài sản của công tycho thuê. Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên đi thuê có thể mua lại hoặc tiếp tụcthuê.
  4. 4. Trang 4 / 58- CTTC là hoạt động tín dụng mà bên đi thuê không cần bỏ toàn bộ số tiềncùng một lúc để thuê và cũng không cần tài sản thế chấp, không làm ảnh hưởngđến hạn mức tín dụng của doanh nghiệp ở ngân hàng.- Đối tượng CTTC chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công tychưa có đủ điều kiện vay vốn của ngân hàng.- Thuê tài chính giúp các doanh nghiệp bắt kịp với công nghệ, tiếp cậnnhiều với các công nghệ tiên tiến, với thủ tục đơn giản, yêu cầu tín dụng thấp màkhông cần bảo lãnh, thế chấp, không cần tài sản đảm bảo có trước.- Thuê tài chính là hoạt động không cần thủ tục giấy tờ phiền hà. Việc đithuê tài chính dễ dàng hơn so với việc đi vay ngân hàng.- Công ty CTTC được thành lập dưới các hình thức sau: Công ty CTTCNhà nước, Công ty CTTC cổ phần, Công ty CTTC liên doanh, Công ty CTTC100% vốn nước ngoài và Công ty CTTC trực thuộc tổ chức tín dụng.1.2.3. Những đối tượng có liên quan trong quá trình giao dịch củanghiệp vụ Cho Thuê Tài Chính.Lãnh vực hoạt động cho thuê tài chính, thường có nhiều chủ thể tam gia,thể hiện những mối quan hệ bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế với nhau.a) Bên cho thuêLà nhà tài trợ vốn cho bên thuê, là chủ thể sẽ thanh toán toàn bộ giá trị tàisản theo thỏa thuận giữa bên thuê với nhà cung cấp và là chủ sở hữu tài sản vềmặt pháp lý. Trong trường hợp cho thuê tài sản của mình, bên cho thuê cũngđồng thời là nhà cung cấp thiết bị.b) Bên thuêLà khách hàng thuê mua tài sản của người cho thuê hay là người nhận sự tàitrợ vốn của công ty cho thuê. Bên thuê có quyền sử dụng, hưởng dụng những lợiích do tài sản đem lại và có trách nhiệm trả phí thuê theo thỏa thuận.c) Nhà chế tạo hay nhà cung ứng
  5. 5. Trang 5 / 58Là nhà cung cấp tài sản, thiết bị hay phương tiện vận tải theo thỏa thuận vớingười thuê và theo các điều khoản hợp đồng mua bán ký với người cho thuê.d) Người cho vayLà một định chế tài chính, một tổ chức tín dụng cho bên thuê vay vốn đểhoạt động.e) Các cơ quan quản lý nhà nướcNhư ngân hàng nhà nước, cơ quan công chứng tòa án, cục thuế có tráchnhiệm giám sát và kiểm soát việc tuận thủ các quy định của pháp luật, đồng thờicông nhận tính hợp pháp của giao dịch thuê mua, quyền sở hữu pháp lý đối vớitài sản và xét sử, giải quyết các tranh chấp.f) Hệ thống các văn bản pháp luậtLà các văn bản luật, hoặc dưới luật, các văn bane quy phạm pháp luật “ chiphối” các hoạt động cho thuê tài chính, quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyềnlợi của tất cả các bên có liện quan đến hoạt động thuê mua. Những văn bản nàytạo nên hành lang pháp lý để hoạt động cho thuê tài chính đạt hiệu quả kinh tếcao.g) Đối tượng giao dịch trong hoạt động thuê muaTất cả các loại tài sản, thiết bị, phương tiện vận tải thường được sử dụngtrong hoạt động cho thuê tài chính, rất đa dạng và phong phú nhưng các đốitượng này thường chia thành 2 loại chính: động sản và bất động sản.Tóm lại, tùy theo mỗi phương thức thuê tài chính mà các chủ thể liên quancó sự liên đới tham gia với những mức độ nhất định hoặc không tham gia vàonhững hình thức thuê mua nào đó.Sơ đồ1.1: Mối liên hệ giữa các bên có liên quan trong một giao dịchthuê mua tài sản điển hình
  6. 6. Trang 6 / 58Người cho thuêHợp đồng muamáy móc, thiết bịHợp đồng thuê máymóc thiết bịThế chấp Khoảntiền vayQuyền sở hữuthiết bịTrả phần tiền thuê máymóc, thiết bị còn lạiTrả tiền theo giá muamáy móc thiết bịQuyền sử dụngthiết bịNgười cho vayTiền thuê được trả chokhoản tiền người chothuê vayBảo trì phụ tùng thay thếTrả tiền bảo trì và phụChuyển giao thiết bịNhà chế tạohay nhà cung cấpNgười thuêMôi trường kinh tế, pháp luậtMôi trường Luật pháp, Kinh tế
  7. 7. Trang 7 / 581.3. Các phương thức cho thuê tài chính:1.3.1. Cho thuê tài chính có sự tham gia của hai bên (hợp đồng chothuê trực tiếp).Theo phương thức này, trước khi nghiệp vụ cho thuê xuất hiện, tài sảnđược dùng để tài trợ đã thuộc quyền sở hữu của người cho thuê bằng cách muatài sản hoặc tự xây dựng.Phương thức tài trợ này thường do các công ty kinh doanh bất động sản vàcông ty sản xuất máy móc, thiết bị thực hiện, như các nhà đầu tư xây dựng caoốc văn phòng, các chung cư, sau đó ký các hợp đồng cho thuê với khách hàng.Các tổ chức tài chính rất ít áp dụng phương thức tài trợ này.Hình thức tài trợ này có những đặc điểm căn bản sau:- Hàng hoá thường là những loại tài sản có giá trị không quá lớn và thuộc cácloại máy móc thiết bị.- Chỉ có 2 bên tham gia trực tiếp vào giao dịch: Người cho thuê và người thuê.- Vốn tài trợ hoàn toàn do người cho thuê đảm nhiệm.- Người cho thuê có thể mua lại thiết bị khi chúng bị lạc hậu.Phương thức tài trợ này có sự tham gia của 2 bên được thực hiện như sau:Sơ đồ 1.2: Cho thuê tài chính có sự tham gia của hai bênGiao tài sản ( 2b )Ký hợp đồng thuê ( 1 )Thanh toán tiền thuê ( 3 )BÊN CHO THUÊ BÊN THUÊChuyển giao quyền sử dụng (2a )
  8. 8. Trang 8 / 58(1) Người cho thuê và người đi thuê ký hợp đồng thuê.(2a) Người cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho người đi thuê.(2b) Người cho thuê giao tài sản cho người đi thuê.(3) Theo định kỳ người đi thuê thanh toán tiền thuê cho người cho thuê.Ngoài những đặc điểm chung của phương thức cho thuê, loại hợp đồng nàycòn có những đặc điểm chính như sau:Người cho thuê Người thuê1. Sử dụng các loại máy móc, thiết bịcủa chính họ để cho thuê1. Thuê máy móc, thiết bị từ ngườicó tài sản đó2. Đảm nhiệm toàn bộ vốn tài trợ 2. Ký kết với nhà cung cấp 1 phụkiện hợp đồng về cung cấp3. Cung cấp các loại phụ tùng và dịchvụ bảo tín cùng với thiết bị theo mộthợp đồng phô.3. Trả tiền thuê theo định kỳ và trảtiền phụ tùng và dịch vô4. Nhận các khoảng tiền thuê nhữngkhoản tiền dịch vụ thu hợp đồng phô4. Bán lại thiết bị khu chúng bị lạchậu và nhận thuê thiết bị mới5. Nhận lại tài sản đã lỗi thời và cungcấp thiết bị thay thế.1.3.2. Cho thuê tài chính có sự tham gia của ba bên:Theo hình thức này, người thuê sẽ thoả thuận với nhà cung ứng về các điềukhoản mua tài sản mình có nhu cầu và sau đó người cho thuê sẽ tiến hành muatài sản để cho người cho thuê thuê. Rõ ràng, theo phương thức này, người chothuê chỉ thực hiện việc mua tài sản theo yêu cầu của người đi thuê và đã đượchai bên thoả thuận theo hợp đồng thuê. Quy trình tài trợ có sự tham gia của babên, bao gồm: Người cho thuê, người đi thuê và người cung cấp.
  9. 9. Trang 9 / 58Sơ đồ 1.3: Tài trợ cho thuê tài chính có sự tham gia của ba bên.1a: Người cho thuê và người đi thuê ký hợp đồng thuê tài sản.1b: Người cho thuê và người cung cấp ký hợp đồng mua tài sản.1c: Người cung cấp và người đi thuê ký hợp đồng bảo hành bảo dưỡng (cóthể người cho thuê ký với người cung cấp về việc bảo hành và bảo dưỡng chongười đi thuê).2a: Người cung cấp lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho người cho thuê.2b: Người cung cấp chuyển giao tài sản cho người đi thuê.2c: Người cho thuê thanh toán tiền mua tài sản.2d: Người cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho người đi thuê.3: Phương thức cho thuê theo định kỳ người đi thuê thanh toán tiền thuêcho người cho thuê.Phương thức tài trợ có sự tham gia của ba bên còn được gọi là phương thứcthuê mua thuần (net lease) và là phương thức cho thuê tài chính được áp dụngphổ biến nhất, vì có các ưu điểm sau:2b1c32c1a1b2a2cBÊN CHO THUÊNHÀ CUNG CẤP BÊN THUÊ
  10. 10. Trang 10 / 58- Người cho thuê không phải mua tài sản trước và như vậy sẽ làm cho vòngquay của vốn nhanh hơn vì không phải dự trữ hàng tồn kho.- Việc chuyển giao tài sản được thực hiện trực tiếp giữa người cung cấp vàngười đi thuê và giữa họ cũng chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng hoạt độngcủa tài sản, cũng như thực hiện việc bảo hành và bảo dưỡng tài sản. Như vậyngười cho thuê có thể trút bỏ gánh nặng về tình trạng hoạt động của tài sản.- Người cho thuê không trực tiếp nhận tài sản rồi sau đó chuyển giao chongười đi thuê và như vậy sẽ hạn chế được rủi ro liên quan đến việc từ chối nhậnhàng của người đi thuê, vì do có sự nhầm lẫn về mặt kỹ thuật.Xuất phát từ các ưu điểm trên đây mà các ngân hàng và các tổ chức tàichính đã áp dụng chủ yếu phương thức này để tài trợ cho các doanh nghiệp, đặcbiệt đối với cho thuê thiết bị. Trên thế giới 80% hợp đồng cho thuê tài chính ápdụng theo phương thức này.1.3.3. Tái cho thuê (lease back).Tái cho thuê hay còn gọi là bán và thuê lại (Sale and lease back) là mộtdạng đặc biệt của phương thức cho thuê có sự tham gia của hai bên. Trong hoạtđộng kinh doanh có nhiều doanh nghiệp thiếu vốn lưu động để khai thác tài sảncố định hiện có, nhưng lại không đủ uy tín để vay vốn lưu động ở các ngân hàng.Trong trường hợp đó họ buộc phải bán lại một phần tài sản cố định cho ngânhàng hoặc công ty tài chính, sau đó thuê lại tài sản đó để sử dụng và như vậy sẽcó thêm nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động.Phương thức tái cho thuê áp dụng trong hai trường hợp trên đây là sựchuyển hoá từ cho vay ngắn hạn sang tài trợ trung và dài hạn. Vì cho thuê tàichính là kỹ thuật cấp tín dụng ít rủi ro, do đó ngân hàng có thể sử dụng tài trợtrung và dài hạn để thay thế cho vay ngắn hạn khi mà không còn cách nào khácđể giúp cho xí nghiệp có thể giải quyết được khó khăn về tài chính. Nếu khônggiải quyết bằng cách này doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng phá sản và trongtrường hợp đó ngân hàng có thể bị thiệt hại lớn hơn.
  11. 11. Trang 11 / 58Sơ đồ 1.4: Hình thức tái cho thuê.1a, Người cho thuê (ngân hàng hoặc công ty tài chính) ký hợp đồng mua tàisản của doanh nghiệp).1b, Người cho thuê và người đi thuê ký hợp đồng thuê.2a, Doanh nghiệp lập thủ tục chuyển giao quyền sở hữu cho ngân hàng.2b, Ngân hàng lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho doanh nghiệpđược phép sử dụng tài sản.2c, Ngân hàng trả tiền mua tài sản cho doanh nghiệp là biện pháp giải quyếtnợ quá hạn thì khoản thanh toán này được thu hồi khoản nợ quá hạn.3, Theo định kỳ doanh nghiệp thanh toán tiền thuê cho ngân hàng.1.3.4. Hợp đồng cho thuê thực hiện liên kết (Syndicate Leases).Hợp đồng cho thuê liên kết là loại hợp đồng gồm nhiều bên tài trợ cho mộtngười thuê. Sự liên kết này có thể xảy ra theo chiều ngang hoặc theo chiều dọctuỳ theo tính chất của loại tài sản hay khả năng tài chính của các nhà tài trợ.Trong trường hợp tài sản có giá trị lớn, nhiều định chế tài chính hay các nhà chếtạo cùng nhau hợp tác để tài trợ cho người thuê tạo thành sự liên kết theo chiềungang. Còn đối với trường hợp các định chế tài chính hay các nhà chế tạo lớngiao tài sản của họ cho chi nhánh của họ thực hiện giao dịch tài trợ cho kháchhàng thì hình thành sự liên kết theo chiều dọc. Các bước và đặc điểm trong giaodịch với người thuê của loại hợp đồng này không có khác biệt lớn so với phươngthức cho thuê điển hình.2a2b1a1b3BÊN CHO THUÊ BÊN THUÊ
  12. 12. Trang 12 / 581.3.5. Hợp đồng cho thuê bắc cầu:Đây là hình thức đặc biệt của phương thức cho thuê tài chính, chỉ mới đượcphổ biến trong thời gian gần đây, xuất phát từ thực tế là các công ty Leasing cónhững hạn chế về nguồn vốn không đủ khả năng tự tài trợ cho khách hàng. Theothể thức cho thuê này, người cho thuê đi vay để mua tài sản cho thuê từ một haynhiều người cho vay nào đó.Hình thức cho thuê này thường được sử dụng trong những giao dịch chothuê đòi hỏi một lượng vốn đầu tư lớn, chẳng hạn cho thuê một máy bay thươngmại hay một tàu chở hàng hoặc 1 tổ hợp chuyên ngành lớn v.v..Trong hình thức cho thuê này, vốn vay thường chiếm tỷ trọng lớn trongtổng số tiền tài trợ, người cho thuê vẫn đóng vai trò chủ sở hữu tài sản cho thuêvà thông thường người cho thuê phải thế chấp chính tài sản mà họ đã cho thuêcho người cho vay. Hình thức thế chấp tài sản cho thuê này sẽ làm giảm nhẹ rủiro cho người cho vay.1.3.6. Cho thuê giáp lưng (Under lease):Cho thuê giáp lưng là phương thức mà trong đó, thông qua sự đồng ý củangười cho thuê, người đi thuê thứ nhất cho người đi thuê thứ hai thuê lại tài sảnđó. Trên thực tế thực chất người đi thuê thứ nhất chỉ là người trung gian giữangười cho thuê và người đi thuê thứ hai, nhưng về mặt pháp lý thì người đi thuêthứ nhất phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng với người cho thuê.Với phương thức cho thuê này, mặc dù doanh nghiệp không đủ điều kiện để trựctiếp thuê mua với người cho thuê, vẫn có thể thuê được tài sản để sử dụng chosản xuất kinh doanh.1a1b3a23bBÊN CHO THUÊBÊN THUÊ 1BÊN THUÊ 2
  13. 13. Trang 13 / 58Sơ đồ 1.5: Hình thức cho thuê giáp lưng.1a, Người cho thuê và người đi thuê thứ 1 ký hợp đồng thuê mua.1b, Người đi thuê thứ 1 và người đi thuê thứ 2 ký hợp đồng thuê mua.2, Người cho thuê chuyển giao tài sản cho người đi thuê thứ 2.3a, Người đi thuê thứ 2 trả tiền thuê cho người thuê thứ 13b, Người đi thuê thứ 1 trả tiền thuê cho người thuê.Tiền thuê mà người đi thuê thứ hai phải trả thường cao hơn tiền thuê màngười đi thuê thứ nhất trả cho người cho thuê. Phần chênh lệch giữa hai khoảntiền thuê đó người đi thuê thứ 1 được hưởng, coi như là hoa hồng trách nhiệm.Ngoài ra, thê giáp lưng cũng áp dụng trong trường hợp người đi thuê thứ 1 đãthuê tài sản và sử dụng tài sản đó, nhưng sau đó không có nhu cầu sử dụng thì tàisản đó, nhưng sau đó không có nhu cầu sử dụng thì có thể cho người khác thuêlại với sự đồng ý của người cho thuê.1.4. Lợi ích của Hoạt Động Cho Thuê Tài Chính.a) Đối với nền kinh tế quốc dân- Cho thuê tài chính có vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường, đặcbiệt trong nền kinh tế Việt Nam, khi yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòihỏi gia tăng mạnh vốn đầu tư.- Cho thuê tài chính góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tếVốn đầu tư của quốc gia được tích luỹ từ 2 nguồn: Tích luỹ nội bộ và vốnhuy động từ nước ngoài. Huy động có hiệu quả vốn đầu tư đòi hỏi rất nhiều kênhhuy động khác nhau phối hợp đồng thời; bao gồm hệ thống tín dụng; ngân sáchnhà nước và thị trường chứng khoán. Không thể phủ nhận vai trò tối quan trọngcủa hệ thống tín dụng trong việc huy động vốn nhàn rỗi và giải ngân vốn đầu tưnước ngoài. Là loại hình tín dụng trung dài hạn có nhiều ưu điểm, thể hiện ở sựgiảm thiểu rủi ro và phạm vi tài trợ rộng rãi, cho thuê tài chính góp phần khôngnhỏ vào việc huy động vốn đầu tư trong nước và tìm nguồn tài trợ từ nước ngoài.Với việc quy định của IMF không tính khoản nợ từ tài sản cho thuê tài chính
  14. 14. Trang 14 / 58quốc tế vào khoản nợ nước ngoài của 1 quốc gia, hoạt động này càng có khảnăng trở thành một kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài hấp dẫn.- Cho thuê tài chính góp phần phát triển hệ thống tài chínhMột hệ thống tài chính hoàn thiện phải tồn tại các kênh dẫn vốn hoạt độnghiệu quả. Xét riêng về số lượng, cho thuê tài chính đã đóng góp vào thị trườngtài chính một kênh dẫn vốn trung dài hạn quan trọng. Hơn nữa, trong điều kiệncác quốc gia đang phát triển, khi thị trường chứng khoán còn ở dạng sơ khai, sựthiếu hút nghiêm trọng nguồn cung cấp vốn trung dài hạn là không thể phủ nhận,vì thế, cho thuê tài chính càng có vai trò lớn đối với những nền kinh tế này. Vềmặt chất, cho thuê tài chính là một kênh dẫn vốn hấp dẫn, nguyên nhân là ởphạm vi tài trợ rộng lớn, cung ứng đến mọi khu vực, thành phần kinh tế rất có lợiđối với khách hàng, đồng thời giảm bớt rủi ro của người cho thuê, áp dụng hìnhthức cho thuê tài chính trong nền kinh tế và đặc biệt là việc hình thành các côngty cho thuê tài chính chuyên doanh, tách khỏi hoạt động của các ngân hàngthương mại càng tạo điều kiện phát triển hệ thống tài chính quốc gia. Cụ thể, cáccông ty cho thuê tài chính chuyên doanh sẽ cung cấp dịch vụ hữu hiện hơn hẳnnhững đơn vị trực thuộc, tạo sức cạnh tranh đáng kể trong thị trường tài chính,thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực tiền tệ ngân hàng.- Cho thuê tài chính góp phần nâng cao năng lực công nghệ đất nướcĐối với các quốc gia đang phát triển, việc lạc hậu về công nghệ luôn luôn làvấn đề gây đau đầu các nhà quản lý; cho thuê tài chính quốc tế sẽ tạo ra cơ hộilớn cho việc nâng cao năng lực công nghệ quốc gia ngay cả trong điều kiện kinhtế quốc gia đó gặp khó khăn. Cho thuê tài chính cho phép các doanh nghiệp tăngnăng lực kinh doanh bằng việc thay đổi, nâng cấp dây chuyền sản xuất, cải tiếnkĩ thuật, mở rộng quy mô sản xuất. Điều này đem lại cho quốc gia đó khả năngbắt kịp với trình độ công nghệ thế giới.b) Về phía người thuê:- Người thuê có thể được tài trợ toàn bộ giá trị tài sản cố định phục vụ chokinh doanhDo việc tài trợ cho thuê được bảo đảm bằng chính tài sản thuê và người chothuê có thể chiếm hữu lại tài sản đó khi người thuê vi phạm hợp đồng nên
  15. 15. Trang 15 / 58thường người thuê không cần đảm bảo khả năng thanh toán bằng việc đặt cọcmột khoản tiền. Tuy nhiên trong trường hợp mức độ rủi ro cao, khách hàng cũngbị yêu cầu đặt cọc rủi ro lớn như vậy cũng không thể đáp ứng tiêu chuẩn tíndụng của các ngân hàng. Hơn nữa, luật tín dụng không cho phép các ngân hàngtài trợ toàn bộ trong khi các công ty cho thuê tài chính tài trợ 100% nhu cầu tàisản doanh nghiệp.- Người thuê không bị ràng buộc về hạn mức tín dụng vay ngân hàngHầu hết các quốc gia đều không hạn chế các doanh nghiệp vay ngân hàngkhi họ đã thuê tài chính, điều này mở rộng cơ hội huy động vốn vào hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.- Không đòi hỏi uy tín lớnĐể đáp ứng yêu cầu tại các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp phải trìnhbáo cáo tài chính thể hiện 3 năm kinh doanh liên tục có lãi và không có nợ quáhạn. Các doanh nghiệp thường gặp khó khăn trong việc thoả mãn các yêu cầunày nhưng sẽ dễ dàng hơn trong trường hợp họ thuê tài chính. Hơn nữa, cácdoanh nghiệp nhỏ không thể có mối quan hệ gần gũi sẵn có với các ngân hàng vàcác ngân hàng không thể đáp ứng một khoản vay dài hạn đối với những kháchhàng chưa có một khoản vay dài hạn nào trong hồ sơ tín dụng. Riêng đối vớinhững công ty cho thuê tài chính, những khách hàng mới cũng có thể nhận đượcnhững khoản tài trợ ngắn hạn.- Cơ chế thanh toán tiền thuê linh hoạtKhông như các ngân hàng thương mại bị yêu cầu thanh khoản đòi hỏi sựquản lý chặt chẽ đối với việc thanh toán tiền vay, cho thuê tài chính có thể đưa ramột cơ cấu trả nợ linh hoạt đáp ứng những dòng tiền đặc thù của người thuê. Vídụ cho thuê trả tăng dần, giảm dần, niên kim cố định. Việc thanh toán diễn ratheo mùa hoặc ngắt quãng; Thời hạn thanh toán cũng linh hoạt, có thể định kỳtheo quý hoặc theo tháng.- Không cần tài sản thế chấpĐây là ưu điểm nổi bật của cho thuê tài chính - sử dụng ngay tài sản thuêlàm vật thế chấp. Nguyên tắc tài sản thế chấp trong tín dụng ngân hàng để tránhsự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Tài sản thuê trong cho thuê tài chính
  16. 16. Trang 16 / 58không đủ tính lỏng để người thuê có thể sử dụng sai mục đích. Mặt khác, tài sảnluôn thuộc quyền sở hữu của người cho thuê nên rủi ro mất vốn không lớn.- Người thuê có thể tiếp cận với công nghệ hiện đạiCác công ty cho thuê tài chính chuyên môn hoá trong lĩnh vực của họ nênthường am hiểu kĩ về thị trường tài sản và thường được phép xuất nhập khẩutrực tiếp. Nhờ đó người thuê có thể tiếp cận với nhà sản xuất và những sản phẩmtiên tiến, hiện đại; tạo ra khả năng đổi mới công nghệ nhanh chóng với chi phíthấp - đây là điều đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt hiện nay- cùng với những dịch vụ đào tạo, hướng dẫn, bảo trì… kèm theo của nhà cungcấp. Mặt khác, mối quan hệ kinh doanh cùng với những kinh nghiệm về thịtrường tài sản của công ty cho thuê tài chính cho phép người thuê có thể bán tàisản cũ, tài sản không sử dụng để đổi mới công nghệ.c) Về phía người cho thuê- Cho thuê tài chính có mức độ rủi ro thấp hơn cho vayTrong suốt thời hạn thuê, người cho thuê vẫn nắm quyền sở hữu tài sảnthuê nên họ có thể nhanh chóng chiếm hữu lại tài sản nếu người thuê không tuânthủ hợp đồng. Như vậy, có thể coi tất cả các hợp đồng cho thuê tài chính đều cótài sản thế chấp. Mặt khác, khi cơ chế xử lý tài sản đảm bảo tiền vay của nước tacòn chưa đồng bộ, hoạt động cho vay càng trở nên rủi ro hơn so với cho thuê tàichính. Tuy nhiên, việc tịch thu tài sản không phải là biện pháp đảm bảo rủi ro màcác công ty cho thuê tài chính mong muốn, hầu hết các công ty đều trông chờvào phẩm chất của người thuê. Khả năng giảm thiểu rủi ro đòi hỏi 2 yếu tố, vềpháp luật - là những văn bản quy phạm về quyền sở hữu - và về thị trường - yêucầu về sự tồn tại một thị trường thiết bị, máy móc cũ - để tài sản cho thuê có thểdễ dàng được xử lý trong điều kiện rủi ro xảy ra.- Tránh được rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịchTrong các quan hệ tín dụng, rủi ro đạo đức và sự lựa chọn đối nghịch rất dễxảy ra; người vay có thể sử dụng sai mục đích cam kết trong hợp đồng các khoảntiền vay, vì thế tạo rủi ro lớn hơn đối với khoản vay đó, mặt khác chính nhữngngười nay lại có nỗ lực lớn trong việc tìm kiếm nguồn tài trợ, điều này dẫn đếnnguy cơ mất khả năng thanh toán các khoản vay. Đây là điều nguy hiểm đối với
  17. 17. Trang 17 / 58các tổ chức tín dụng. Hoạt động cho thuê tài chính tài trợ người thuê bằng tài sảnđồng thời không chuyển quyền sở hữu nên giảm được những rủi ro trên.- Phát triển mối quan hệ với khách hàng và thúc đẩy bán hàngDo sự chủ động tham gia vào các giao dịch mua bán giữa bên thuê và nhàcung cấp, công ty cho thuê tài chính phát triển rộng hơn quan hệ của mình và vìthế có điều kiện phát triển hoạt động của mình. Là định chế tài chính, các côngty này thúc đẩy việc giao dịch hàng hoá thông qua việc giới thiệu, quảng bá…dẫn người mua đến với người bán. Là người bán, hình thức thuê tài chính đượcxem như một dạng khuyến mãi sản phẩm.1.5. Kinh nghiệm phát triển hoạt động cho thuê tài chính ở một số nước.1.5.1. Trung QuốcHoạt động CTTC ở Trung Quốc được triển khai từ đầu thập niên 80 nhờ cóchính sách mở cửa, cải cách đầu tư mà sau 10 năm ngành CTTC ở Trung Quốcphát triển nhanh chóng về số lượng cũng như loại hình công ty CTTC rất đadạng. Trong 60 công ty CTTC thì có 25 liên doanh với nước ngoài. Các công tytài chính đầu tư, công ty tài chính tư vấn vẫn được phép thực hiện hoạt độngCTTC như là một nghiệp vụ phụ bên cạnh hoạt động kinh doanh chính. Doanhthu từ hoạt động CTTC tăng đáng kể qua các năm. cụ thể chỉ sau khi thành lập 1năm thì doanh số CTTC là 13,2 triệu USD (năm 1981) thì đến năm năm 1987con số này gần 1 tỷ USD. Như vậy chỉ sau 6 năm đưa vào vận hành hoạt độngCTTC doanh số CTTC đã đạt 3 tỷ USD.Trong nghiệp vụ CTTC, các công ty CTTC ở Trung Quốc thực hiện tài trợtoàn bộ giá trị của tài sản thuê trong đó bên thuê được quyền chọn những tài sảncho thuê cho đến hết thời hạn hợp đồng và được trích khấu hao tài sản thuê.Điều đặc biệt là hoạt động CTTC chịu sự chi phối bởi kế hoạch và chínhsách của Nhà nước. Ngay cả nguồn vốn đưa ra và lịch thanh toán nợ đều dựatrên kế hoạch nhà nước. Và để tránh việc đầu tư vào những máy móc thiết bị lạchậu, lỗi thời và không phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước, Chínhphủ quy định thiết bị cho thuê phải được đưa vào danh mục quản lý của Nhànước hoặc kế hoạch của địa phương và là đối tượng phải được sự chấp thuận của
  18. 18. Trang 18 / 58Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý. Đồng thời Chính phủ quy định tất cả cáccông ty CTTC phải tìm một nhà cung cấp thích hợp, nắm được giá cả cung ứngthiết bị cũng như chất lượng, công nghệ và các đặc tính kỹ thuật khác của cácmáy móc thiết bị đó. Thậm chí, công ty CTTC còn phối hợp với bên cung ứng đểhuấn luyện cho bên thuê cách sử dụng và vận hành tài sản.Ngoài ra, Chính phủ thực hiện cải tổ, sắp xếp lại toàn diện nền kinh tế,khuyến khích đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực tài chính dưới hình thức các côngty CTTC liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài nhằm tận dụng nguồn vốn, kỹthuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.Mặt khác, bằng việc tạo dựng được môi trường pháp lý thuận lợi và banhành chính sách khuyến khích sự phát triển của loại hình dịch vụ này thích hợpnhư: Các công ty CTTC được miễn thuế thu nhập DN trong hai năm đầu và saunăm thứ ba nếu có lợi nhuận mới phải nộp thuế, quy định thuế suất thuế lợi tứcưu đãi đối với dịch vụ CTTC và một loạt các văn bản khác đã làm cho thị trườngCTTC phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng.Để thúc đẩy hoạt động CTTC, ở Trung Quốc đã nhanh chóng hình thànhhiệp hội CTTC với mục đích bảo vệ lợi ích của hoạt động CTTC, đồng thời tăngcường quan hệ hợp tác của các thành viên trong hiệp hội. Thông qua hiệp hội,các thành viên sẽ nhận được sự hỗ trợ, hợp tác phát triển, học hỏi lẫn nhau vàđưa ra những vướng mắc chung kêu gọi chính phủ quan tâm giải quyết.1.5.2. Hàn QuốcHoạt động CTTC được áp dụng ở Hàn Quốc vào những năm 1970 và đượccoi là một trong những quốc gia đầu tiên tại châu Á áp dụng hoạt động này để tàitrợ vốn cho nền kinh tế. Ở Hàn Quốc những năm 1970, tình hình kinh tế ở trạngthái nhu cầu đầu tư thiết bị vượt quá tiền vốn đòi hỏi cần bổ sung loại hình tài trợmới và hoạt động CTTC được đưa vào áp dụng dưới sự giám sát của Bộ Tàichính, ngay sau khi đưa vào áp dụng CTTC đã trở thành công cụ để thúc đẩy đầutư trong nước cho tăng trưởng kinh tế. Năm 1995, có 25 công ty CTTC hoạtđộng với quy mô thị trường là 18 tỷ USD, chiếm 30% so với toàn bộ thiết bịtrong nước và đứng thứ 4 thế giới về doanh số CTTC.
  19. 19. Trang 19 / 58Điều chỉnh hoạt động CTTC tại Hàn Quốc bởi “Luật khuyến khích ngànhcho thuê” được ban hành vào năm 1973 và được sửa đổi liên tục do thị trườngCTTC được mở rộng và đến năm 1993 được đổi tên thành “Luật kinh doanh chothuê”. Điều này thể hiện tính tự do hoá của thị trường tài chính Hàn Quốc và đến1998 cùng với sự cơ cấu lại thị trường tài chính Luật kinh doanh cho thuê đượcthay thế bằng “Luật kinh doanh tài trợ tín dụng đặc biệt”.Hỗ trợ một cách đáng kể cho các DNNVV đầu tư vào thiết bị với số tiền là4,9 tỷ USD chiếm 52,7% tổng doanh số CTTC trong năm 1993. Theo Luậtkhuyến khích cho thuê thì bên cho thuê được hướng dẫn duy trì mức tối thiểu50% tổng cho thuê dành cho DNNVV.Cũng trong Luật khuyến khích cho thuê hướng dẫn các công ty CTTC phảiduy trì mức tối thiểu 40% tổng cho thuê dành cho ngành sản xuất trong nước.Cũng trong năm 1993, tổng số cho thuê máy móc thiết bị, ngành sản xuất máymóc trong nước chiếm 59,1% với số tiền 5,4 tỷ USD. Điều này đã nói CTTC đãđóng góp vào sự phát triển của ngành sản xuất máy móc trong nước.Tiêu chuẩn xử lý kế toán trong CTTC được Chính phủ ban hành vào ngày01/01/1985 và được sửa đổi vào tháng 3/1993, trường hợp giá trị hiện tại của phícho thuê áp dụng là trên 90% giá chính thức thì có khả năng khấu hao thiết bịtrong thời gian thuê. Một trong những nhân tố giúp hoạt động CTTC tại HànQuốc thoát ra khó khăn quản lý bằng việc tăng cường tiêu chuẩn kế toán. Ngày18/03/2005, Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán- Viện nghiên cứu kế toán Hàn Quốc côngbố và thông qua bản tiêu chuẩn kế toán doanh nghiệp và tiêu chuẩn này cũng ápdụng đối với bản hợp đồng cho thuê. Như vậy, có thể khẳng định hoạt độngCTTC ở Hàn Quốc phát triển nhanh là do những nguyên nhân sau:Thứ nhất, có sự tham gia của Chính phủ trong việc có định hướng về cơ cấutài sản cho thuê, áp dụng chính sách tiền tệ chặt chẽ, hạn chế tín dụng ngân hàngđối với các tập đoàn kinh tế lớn nên những quy định thông thoáng của CTTCgiúp ngành này trở nên hấp dẫn.Thứ hai, thực hiện khuyến khích đầu tư và ưu đã thuế. Chính phủ chủ độnghỗ trợ ngành công nghiệp này phát triển bằng những chính sách thuế, hạch toánkhấu hao tài sản và quy định nhiều quyền có lợi cho bên cho thuê.
  20. 20. Trang 20 / 58Thứ ba, có hệ thống pháp lý điều chỉnh hoạt động CTTC và được cụ thểhoá thành luật. Đồng thời quy định rõ ràng việc xử lý kế toán nghiệp vụ kế toánCTTC.Thứ tư, khuyến khích phát triển các DNNVV cùng với nền kinh tế pháttriển như vũ bão kéo theo nhu cầu lớn về vốn cho việc đầu tư, đổi mới máy mócthiết bị, công nghệ sản xuất.Thứ năm, khuyến khích sự tham gia của các nhà đầu tư của người nướcngoài.1.5.3. MalaysiaỞ Malaysia, hoạt động CTTC cũng được thành lập năm 1974 và phát triểnnhanh chóng vào cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Tuynhiên, đến năm 1985-1986, với những kinh nghiệm còn yếu và sự sửa đổi cácbiện pháp hành chính của Chính phủ nhằm xóa bỏ những lổ hỗng về thuế và thắtchặt việc sử dụng thuật ngữ “Cho thuê” đã ảnh hưởng đến hoạt động CTTC. Vàđến năm 1989-1990, nền kinh tế của Malaysia phục hồi, phần lớn các khu vựckinh tế được mở rộng, đặc biệt là khu vực công nghiệp, điều đó lại thúc đẩy hoạtđộng CTTC phát triển. Ở Malaysia, công ty CTTC chủ yếu thực hiện các dịch vụcho thuê thiết bị và tiến hành cả hai hình thức CTTC và cho thuê vận hành. Chothuê vận hành có chiều hướng tăng lên: Năm 1989, CTTC chiếm 86%, cho thuêvận hành chiếm 14% trong tổng số hợp đồng cho thuê thì đến năm 1990, tỉ lệnày tương ứng là 79,3% và 20,7%. Như vậy, hoạt động CTTC ở Malaysia pháttriển là do có sự quan tâm của Chính phủ trong việc khuyến khích phát triển hoạtđộng này thông qua các chính sách thuế và các quy định liên quan đến hoạt độngCTTC. Ngoài ra, các công ty CTTC đã đẩy mạnh các hoạt động của mình thôngqua việc đa dạng hoá các sản phẩm và loại hình cho thuê.1.5.4. Nhật Bản.Vào cuối những năm 80 hầu hết các Công ty cho thuê tài chính ở Nhật Bảnđều tập trung kinh doanh bất động sản, họ cho rằng giá trị về đất đai, công xưởngsẽ không bao giờ giảm. Tuy nhiên đến năm 1990, Chính phủ Nhật đã ra một loạtcác chính sách hạn chế sự bùng nổ của thị trường bất động sản. Kết quả là một
  21. 21. Trang 21 / 58loạt các Công ty cho thuê tài chính Nhật Bản bị phá sản. Đây là một bài học lớncho các công ty cho thuê tài chính khác: phải biết chọn lùa danh mục cho thuêmột cách thận trọng. Nền kinh tế phát triển thì hoạt động CTTC cũng phát triểnvà ngược lại, do đó khi gặp thời kỳ kinh tế khủng hoảng thì nên chú ý nhiều hơnđến vấn đề rủi ro trong hoạt động để có thể thu hồi được tài sản, tránh gây nhữngthua lỗ không đáng.1.6. Rủi ro trong Hoạt Động Cho Thuê Tài Chính.1.6.1. Rủi ro tín dụng và tác hại của nó đến hoạt động cho thuê tàichínha) Rủi ro tín dụngRủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay vốn hay tổ chức phát hànhchứng khoán không thanh toán được tiền lãi hoặc vốn gốc hoặc cả hai. Tương tự,rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuê tài chính là khả năng xảy ra tổn thất (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ việc bên thuê không thực hiện nghĩa vụ trảnợ đúng như cam kết trong hợp đồng cho thuê tài chính hoặc mất khả năng thanhtoán.b) Tác hại của rủi ro tín dụng- Làm tăng chi phí, giảm lợi nhuận, ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn.- Làm tăng rủi ro thanh khoản.- Làm giảm uy tín.- Làm tăng rủi ro mất vốn.c) Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong hoạt động cho thuêtài chính.- Nguyên nhân từ phía khách hàng: Đối với khách hàng cá nhân: Khách hàng bị suy giảm năng lực hành vi dân sự. Khách hàng bị suy giảm năng lực tài chính. Do khách hàng kính doanh nhỏ lẻ. Do hoàn cảnh gia đình không thuận lợi. Đối với khách hàng doanh nghiệp:
  22. 22. Trang 22 / 58 Do năng lực tài chính của doanh nghiệp yếu kém. Do giá trị của tài sản thuê suy giảm quá nhanh. Do biến động của thị trường đầu vào và đầu ra.- Nguyên nhân từ phía Công ty cho thuê tài chính. Do Công ty CTTC định kỳ hạn nợ chưa chính xác. Do Công ty CTTC cho thuê vượt quá khả năng quản lý của khách hàng.Do Công ty CTTC thu thập thông tin không đầy đủ và chính xác về khách hàngthuê, dự án thuê và tình hình thị trường. Do Công ty CTTC thiếu kiểm tra, giám sát trước, trong và sau giải ngân.Do có những hạn chế trong quy trình nghiệp vụ của Công ty CTTC. Do sự hạn chế về năng lực và đạo đức của cán bộ.- Các rủi ro từ môi trường kinh doanh và môi trường pháp lý.1.6.2. Rủi ro lãi suấtNguồn vốn hoạt động của các Công ty CTTC thường được huy động từ cácnguồn sau:- Được nhận tiền gởi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân.- Được phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gởi và giấy tờ có giá khác có kỳhạn trên một năm để huy động vốn của tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoàinước…- Được vay vốn của các tổ chức tài chính, , tín dụng trong và ngoài nước.Rủi ro lãi suất chính là sự tổn thất về lãi của người cho vay, do lãi suất đivay tăng hoặc lãi suất cho vay giảm hoặc lãi suất cho vay và đi vay đều tănghoặc đều giảm, nhưng mức đố tăng giảm khác nhau làm ảnh hưởng đến thu nhậpròng của người cho vay.Trong cho thuê tài chính, rủi ro lãi suất thường xảy ra trong các trường hợpsau:- Đi vay và tài trợ vốn với lãi suất cố định nhưng khác nhau về thời hạn.Thường là đi vay với thời gian ngắn, còn cho thuê tài chính với thời gian dài.Trong trường hợp này với lãi suất thị trường tăng sẽ xuất hiện rủi ro lãi suất.- Đi vay và cho thuê tài chính với lãi suất thả nổi nhưng khác nhau về thờihạn hoặc định kỳ tính lãi.
  23. 23. Trang 23 / 58- Tài trợ thuê tài chính với lĩa suất cố định nhưng đi vay với lãi suất thả nổihoặc ngược lại.1.6.3. Rủi ro tỷ giá hối đoáiLoại rủi ro này được thể hiện trong mối quan hệ: vay ngoại tệ khách hàngvà nước ngoài để tài trợ các doanh nghiệp trong nước. Trong trường hợp nếu tỷgiá đồng nội tệ so với ngoại tệ tăng (do đồng nội tệ mất giá so với đồng ngoại tệ)sẽ tất nhiên xuất hiện rủi ro về tỷ giá.1.6.4. Rủi ro liên quan đến tài sảnTrong hoạt động cho thuê tài chính, các rủi ro liên quan đến tài sản thườnglà:- Sự mất mát và hư hỏng tài sản: Mặc dù hợp đồng thuê tài chính có điềukhoản quy định: Bên đi thuê có trách nhiệm bảo quản và chịu trách nhiệm vềnhững rủi ro liên quan đến mất mát và hư hỏng tài sản. Khi rủi ro này xảy ra sẽảnh hưởng đến sản xuất và tất yếu làm giảm khả năng thanh toán của người đithuê.- Tài sản thuê không có khả năng luân chuyển khi người đi thuê trả lại: Saukhi kết thúc hợp đồng cho thuê tài chính, bên đi thuê có thể trả lại tài sản vàngười cho thuê có thể bán hoặc cho thuê tiếp. Tuy nhiên, nếu thị trường khôngchấp nhận tài sản này hoặc chấp nhận với mức giá thấp hơn mức tối thiểu cầnphải thu hồi thì bên cho thuê phải gánh chịu rủi ro.
  24. 24. Trang 24 / 58PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO THUÊTÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT THÀNHVIÊN CHO THUÊ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG ÁCHÂU.2.1. Lịch sử hình thành của ACB Leasing.Công ty TNHH một thành viên cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (dưới đây được gọi là Công ty) là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng trực thuộcNgân hàng Á Châu, do Ngân hàng Á Châu làm chủ sở hữu và chịu trách nhiệmvề các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty trong phạm vi số vốnđiều lệ của Công ty.Tên đầy đủ tiếng việt: Công ty TNHH một thành viên cho thuê tàichính Ngân hàng Á Châu.Tên viết tắt bằng tiếng Việt: Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng ÁChâu.Tên đầy đủ bằng tiếng Anh: Asia Commercial Bank Leasing CompanyLimited.Tên viết tắt bằng tiếng Anh: ACBL.Co.,Ltd.Trụ sở chính: 131 Châu Văn Liêm, Phường 14, Quận 5, Thành phố HồChí Minh.Công ty có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Việt Nam.Địa bàn hoạt động của Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châulà địa bàn hoạt động của Ngân hàng Á Châu được quy định trong điều lệ Ngânhàng Á Châu.Công ty có tài khoản riêng mở tại Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàngtrong nước, ngân hàng nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước vàNgân hàng Á Châu.Thời gian hoạt động: Thời gian hoạt động của công ty là 50 năm và phảiphù hợp với thời gian hoạt động của Ngân hàng Á Châu. Công ty có thể kéo dàihoặc giải thể trước thời hạn hoạt động theo quyết định của Hội đồng quản trị
  25. 25. Trang 25 / 58Ngân hàng Á Châu sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận bằng văn bản,mỗi lần gia hạn không quá 50 năm.Địa bàn hoạt động chủ yếu : TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, BìnhDương…Vốn hoạt động của công ty gồm các nguồn sau: Vốn điều lệ, Vốn huyđộng, Vốn vay, Các quỹ theo quy định của pháp luật, Lợi nhuận chưa chia, Cácloại vốn khác.Vốn điều lệ, hình thức góp vốn, tăng giảm vốn điều lệ:Vốn điều lệ của Công ty là: 200.000.000.000 ( Hai trăm tỷ Đồng ViệtNam)Toàn bộ vốn điều lệ của Công ty là do Ngân hàng Á Châu cấp.Vốn điều lệ có thể tăng hoặc giảm do Hội đồng quản trị Ngân hàng ÁChâu quyết định tùy theo tình hình hoạt động của Công ty và chỉ thực hiện saukhi Ngân hàng Nhà nước chấp nhận và đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh.2.2. Cơ cấu tổ chức và các đơn vị trực thuộcCơ cấu tổ chức:Hội đồng quản trị và bộ máy giúp việc;Ban kiểm soát;Tổng giám đốc và các Phó tổng giám đốc;Kế toán trưởng;Cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc do Tổng giám đốc tham mưu trìnhHội đồng quản trị Công ty quyết định phù hợp với nhu cầu thực tế và quy địnhcủa pháp luật.Hội đồng quản trị Công ty gồm 3 thành viên, bao gồm Chủ tịch, Phó chủtịch và Ủy viên Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị công ty gồm 2 thành viênchuyên trách và 1 thành viên kiêm nhiệm.Ban kiểm soát là cơ quan kiểm tra hoạt động tài chính của Công ty; giámsát việc chấp hành chế độ hạch toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm soátnội bộ của Công ty. Số lượng thành viên Ban Kiểm Soát gồm 3 thành viên, baogồm 2 thành viên chuyên trách và một thành viên kiêm nhiệm.
  26. 26. Trang 26 / 58Sơ đồ 2.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức2.3. Nội dung hoạt động:a) Huy động vốn từ các nguồn sau:Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ 1 năm trở lên của tổ chức, cá nhân;Vay vốn ngắn, trung và dài hạn của các tổ chức tín dụng trong vàngoài nước;Phát hành các loại giấy tờ có giá như kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉtiền gửi trái phiếu và các loại giấy tờ khác có thời hạn trên 1 năm để huy độngHỘI ĐỒNGQUẢN TRỊBAN TỔNGGIÁM ĐỐCBAN KIỂM SOÁTKIỂM SOÁT NỘI BỘ TRỢ LÝBAN TÍN DỤNG KINH DOANH HỖ TRỢVẬN HÀNHPhòngkinhdoanh 1Phòngkinhdoanh 2Bộ phậnphân tíchtín dụngBộ phậnquan hệđối tácPhòngdịch vụkháchhàngBộ phậnphápchế vàtuânthủBộ phậnthẩmđịnh tàisảnPhòngkế toán– hànhchánhCác chi nhánh/Phòng giao dịch/Văn phòng đại diện
  27. 27. Trang 27 / 58vốn của tổ chức và cá nhân trong nước theo quy định của thống đốc Ngânhàng Nhà nước về phát hành giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng để huy độngvốn;Tiếp nhận các nguồn vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhànước.b) Thực hiện các nghiệp vụ sau đây theo quy định của Ngân hàngNhà nước:Cho thuê tài chính;Mua và cho thuê theo hình thức cho thuê tài chính;Tư vấn cho khách hàng về những vấn đề liên quan đến nghiệp vụcho thuê tài chính;Thực hiện các dịch vụ ủy thác cho thuê tài chính ( nhận ủy thácbằng máy móc, thiết bị hoặc các nguồn vốn để nhập máy móc, thiết bị chothuê tài chính đối với khách hàng) và các dịch vụ ủy thác khác liên quan đếnhoạt động cho thuê tài chính;Thực hiện các dịch vụ quản lý tài sản liên quan đến hoạt động chothuê tài chính;Thực hiện các dịch vụ bảo lãnh liên quan đến hoạt động cho thuêtài chính theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước;Cho thuê vận hànhBán các khoản phải thu từ hợp đồng cho thuê tài chính cho các tổchức cá nhân.c) Thực hiện hoạt động ngoại hối theo quy định của pháp luật.d) Thực hiện các nghiệp vụ khác khi được Ngân hàng cho phép.2.4. Thực trang thị trường cho thuê tài chính tại Việt Nam.Loại hình cho thuê tài chính (CTTC) góp phần giảm gánh nặng cho hệthống ngân hàng trong việc cung ứng vốn đối với các doanh nghiệp. Tuy nhiên,thị phần về huy động và dư nợ cho thuê của các công ty CTTC vẫn còn khákhiêm tốn.
  28. 28. Trang 28 / 582.4.1. Chủ thể tham giaHiện nay mới chỉ có 12 công ty CTTC trong đó 8 công ty thuộc hiệp hộiCTTC Việt Nam với tổng số vốn điều lệ là 2.500 tỉ đồng và 4 công ty 100% vốnnước ngoài, theo Ông Đàm Đức Long – Tổng thư ký Hiệp hội Cho thuê Tàichính Việt NamCác chủ thể có nhu cầu thuê tài chính trên thị trường cho thuê tài chính làcác doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, hộ kinh doanh,... và cá nhân hoạt độngtrong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Tuy nhiên, thực tế thì khách hàngđi thuê chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải và xâydựng.2.4.2. Hàng hóa trên thị trường cho thuê tài chínhThực trạng hàng hoá CTTC tại Việt Nam: Hiện nay, tài sản cho thuê tàichính chủ yếu tập trung vào phương tiện vận tải, máy móc thiết bị đáp ứng đượctỷ lệ 37% so với nhu cầu của nền kinh tế. Tiếp đến là máy móc thiết bị và dâychuyền công nghệ cũng chỉ đáp ứng được 34% so với nhu cầu của nền kinh tế.Máy móc, thiết bị của một ngành khác được tài trợ bằng phương thức thuê tàichính như thiết bị ngành in, máy móc công trình sử dụng cho hoạt động xâydựng cơ bản cũng chiếm một tỷ trọng thấp so với nhu cầu của nền kinh tế.Đánh giá thực trạng hàng hoá CTTC tại Việt Nam: Chiến lược khách hàngtập trung vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt ưu tiên cho các doanhnghiệp làm hàng xuất khẩu, thị trường đầu ra ổn định, có khả năng quản lý vàtiềm năng phát triển tốt. Việc đầu tư dưới hình thức CTTC ngày càng được mởrộng ở tất cả các lĩnh vực như giao thông vận tải, xây dựng, công nghiệp nhẹ,công nghiệp chế biến, bệnh viện, nông nghiệp,…Tài sản cho thuê chủ yếu tậptrung vào phương tiện vận tải, máy móc thiết bị… có chất lượng và mức độ côngnghệ có trình độ trung bình, dây chuyền công nghệ cao và máy móc thiết bị hiệnđại tiên tiến còn chiếm một tỷ trọng thấp trong hoạt động cho thuê của các côngty CTTC. Các công ty CTTC chưa áp dụng tài sản cho thuê là bất động sản.
  29. 29. Trang 29 / 582.4.3. Phương thức cho thuê tài chínhTuy có nhiều phương thức giao dịch cho thuê tài chính nhưng trên thịtrường cho thuê tài chính Việt Nam hiện nay phổ biến có 3 phương thức:- Phương thức giao dịch CTTC 3 bên.- Phương thức giao dịch CTTC 2 bên.- Phương thức giao dịch mua và cho thuê lại (bán và tái thuê).2.4.4. Giá cả cho thuê tài chínhGiá cả CTTC hiện nay thường cao hơn so với các loại hình tín dụng khác,chưa hấp dẫn được các khách hàng thuê. Lãi suất CTTC cao hơn so với lãi suấtcho vay trung dài hạn từ 20% đến 25% và cao hơn 10% nếu tài sản được muasắm trực tiếp từ nhà sản xuất.Mặc dù cho thuê tài chính là loại hình cấp tín dụng trung và dài hạn kháphổ biến trên thế giới và có nhiều lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên, sau 15 năm cómặt, thị trường cho thuê tài chính Việt Nam chỉ có 14 công ty được thành lậpdưới các hình thức sở hữu khác nhau.Vốn điều lệ trung bình của một doanh nghiệp cho thuê tài chính là 150 tỉđồng - rất nhỏ so với vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại (thường là trên1.000 tỉ đồng). Và hiện có nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả.2.4.5. Mức nợ xấuTheo Báo cáo Định dạng hệ thống tổ chức tín dụng vừa được Ủy ban Giámsát tài chính quốc gia công bố cho thấy số liệu rất đáng quan ngại về tình hìnhhoạt động của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam.Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu (nợ dưới chuẩn, nghi ngờ hoặc hiện hữu khả năng mấtvốn) của các đơn vị này tính đến giữa năm 2011 lên tới 45,38% tổng dư nợ.Trong khi đó, tỷ lệ bình quân toàn ngành ngân hàng chỉ là 3,11%, Mức nợ xấunày cao gấp 15 lần tỷ lệ nợ xấu trung bình của hệ thống các tổ chức tín dụng.(đều tính theo chuẩn kế toán của Việt Nam).
  30. 30. Trang 30 / 58Tổng tài sản của các công ty này đạt 19.242 tỷ đồng tại cùng thời điểmnhưng vốn chủ sở hữu đã âm 2.174 tỷ đồng. Trong khi đó, hệ số an toàn vốn(CAR - vốn tự có trên tổng tài sản có rủi ro) tại các tổ chức này đang ở mức -10,92%, kém xa so với mức trung bình của toàn hệ thống là 11,67% cũng nhưmức tối thiểu 9% theo quy định hiện hành.Theo phân tích của các chuyên gia, tỷ lệ nợ xấu của các doanh nghiệp nàytuy ở mức rất cao nhưng chưa trực tiếp ảnh hưởng tới an toàn toàn hệ thống bởivới tài sản đạt trên 19.200 tỷ đồng, các công ty cho thuê tài chính hiện chỉ chiếmhơn 4% tổng tài sản của các tổ chức tín dụng.2.5. Đánh giá thị trường CTTC tại Việt Nam2.5.1. Những thành tựuBBảng 2.1:
  31. 31. Trang 31 / 58Thứ nhất, góp phần hoàn thiện thị trường tài chính (TTTC). Sự ra đời củahoạt động CTTC đã trở thành kênh dẫn vốn mới bên cạnh các kênh tuyền thốngtừ các ngân hàng thương mại (NHTM), qua đó góp phần giảm sức ép gánh nặngcho hệ thống NHTM trong việc cung ứng vốn đối với các doanh nghiệp và nềnkinh tế đặc biệt là vốn trung và dài hạn.Chính sự có mặt của 12 công ty CTTC đang góp phần vào việc hoàn thiệncác thể chế tài chính và các dịch vụ tài chính theo đúng kỳ vọng của đến ánchiến lược tài chính của VN đến năm 2020 được phê duyệt ngày 18 tháng 4 năm2012.Biểu đồ 1: Tổng dư nợ CTTC ở Việt NamBảng 2.2
  32. 32. Trang 32 / 58Sự phát triển của hoạt động CTTC không chỉ thể hiện qua số lượng công tyCTTC hình thành và phát triển mà còn thể hiện qua hoạt động của nó, cụ thể làhoạt động CTTC. Điều này được minh chứng qua việc dư nợ CTTC tăng nhanhqua các năm. Nếu năm 2008 dư nợ CTTC là 9.082 triệu đồng thì đến năm 2011là 11.994 triệu đồng, tăng 32,06%.Thứ hai, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp trong việc đầu tư vào công nghệ,máy móc thiết bị. Hoạt động CTTC được áp dụng chủ yếu là cho thuê máy mócthiết bị và các động sản khác. Với đặc tính vốn có của hoạt động này là khôngcần tài sản thế chấp, các DNNVV, các doanh nghiệp mới thành lập vẫn dễ dàngtiếp cận được nguồn vốn này, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mạnh dạn đổimới công nghệ. Dư nợ cho thuê được thể hiện dưới nhiều loại tài sản. Tuy nhiên,tài sản cho thuê chủ yếu vẫn tập trung ở các phương tiện vận chuyển. Năm 2011,dư nợ cho thuê vẫn tập trung vào tàu thuyền, ô tô và chiếm tới 51,8%, còn các tàisản dây chuyền sản xuất, thiết bị y tế còn rất thấp.Thứ ba, các công ty CTTC đã xác lập được thị phần và chiến lược kinhdoanh. Sau thời gian đi vào hoạt động, các công ty CTTC đã bắt đầu khẳng địnhvị thế của mình trong hệ thống tài chính, đã góp phần tạo thêm một kênh huyđộng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là cho các DNNVV. Hiện nay, sự có mặt của12 công ty CTTC gồm 7 công ty trực thuộc NHTM, 4 công ty 100% vốn nướcngoài và 1 công ty thuộc tập đoàn công nghiệp. Theo đánh giá thì trong thời giantới các công ty CTTC sẽ phát triển nhanh về quy mô, mạng lưới và chất lượngdịch vụ.2.5.2. Những hạn chếThứ nhất, dư nợ cho thuê còn thấp so với tổng mức dư nợ tín dụng. Nếunhư các nước đang phát triển, tỷ trọng hoạt động CTTC so với thị trường tíndụng vào khoảng 15 đến 20% thì ở VN tỷ trọng này năm 2008 là 2,2%, năm2009 1,8%, năm 2009 là 1,7% và năm 2011 là 1,6%. Điều đáng lo ngại là tỷtrọng dư nợ CTTC co xu hướng giảm dần trong những năm gần đây, trong khiđó, đối tượng khách hàng phù hợp để sử dụng dịch vụ CTTC là các DNNVV làchủ yếu, chiếm trên 90% trong tổng số doanh nghiệp đang hoạt động ở VN.
  33. 33. Trang 33 / 58Thứ hai, nợ xấu có xu hướng tăng cao, điều đáng quan tâm là ngay cảnhững công ty có thời gian hoạt động lâu năm, có kinh nghiệm trong hoạt độngnày, song nợ xấu vẫn không hề giảm. Theo nguồn tin không chính thức thì nợxấu năm 2008 là 4,3% và con số này tăng rất cao trong những năm gần đây.Thứ ba, mạng lưới hoạt động còn hạn hẹp, phân bổ không đều giữa các địaphương. Nếu như mạng lưới hoạt động của các NHTM trải đều ở các tỉnh, thànhphố thì mạng lưới hoạt động của các công ty CTTC chỉ bó hẹp tại Hà Nội vàthành phố Hồ Chí Minh.Thứ tư, sản phẩm cung cấp cho thị trường chưa đa dạng, chủ yếu sử dụngsản phẩm truyền thống là cho thuê 3 bên. Trong 12 công ty CTTC hiện nay, chỉcó công ty CTTC II Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn VN làcung cấp cho thị trường sản phẩm tương đối đa dạng. Ngoài sản phẩm truyềnthống, công ty đã triển khai và áp dụng các sản phẩm như bán các khoản phảithu, cho thuê hợp vốn, cho thuê vận hành.Thứ năm, trong công tác tác nghiệp, việc xử lý nghiệp vụ vẫn còn mangdáng dấp của sản phẩm cho vay trung và dài hạn của NHTM, công tác xử lý kếtoán trong cho thuê tài chính còn nhiều lúng túng (đặc biệt khi thu hồi tài sản,Biểu đồ 2: Thể hiện nợ xấu so với tổng dự nợ qua các nămnămnăm
  34. 34. Trang 34 / 58thực hiện mua và cho thuê lại tài sản, cho thuê vận hành…). Do đó ảnh hưởngđến thủ tục xét duyệt cho vay, quy trình tài trợ còn phức tạp, chậm chạp, gây khókhăn cho khách hàng khi thanh toán nợ điều này đã làm giảm đi tính ưu việt, lợithế cạnh tranh của sản phẩm CTTC vốn là đơn giản về mặt thủ tục.Thứ sáu, nguồn vốn hoạt động chủ yếu từ vốn điều lệ của công ty và vay từNHTM mẹ, các hình thức huy động vốn khác như phát hành trái phiếu, muahàng trả chậm từ nhà sản xuất, hợp tác đồng tài trợ hầu như không có.Thứ bảy, việc bán tài sản thu hồi còn chậm ảnh hưởng đến nguồn vốn hoạtđộng của Công ty. Tài sản thu hồi không thể cho thuê tiếp, hoặc bán lại với giáthấp hơn dư nợ hoặc không bán được. Thời gian thực hiện thu hồi, bán đấu giátài sản kéo dài, mà tài sản thì xuống cấp rất nhanh nên tiềm ẩn rủi ro cao, dễ mấtvốn. Thu hồi, khởi kiện gặp khó khăn hơn nếu Bên thuê thiếu thiện chí hợp tác.Tài sản là động sản nên việc tháo ráp, vận chuyển đối với dây chuyển sản xuất làrất khó khăn.2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chếThứ nhất, vẫn còn một số bất cập, vướng mắc trong cơ chế chính sáchkhuôn khổ pháp luật như vấn đề về thuế trong trường hợp bán và thuê lại, hoặckhi thu hồi tài sản CTTC chưa được thực hiện như phát mãi tài sản thế chấp khivay từ NHTM, khấu trừ thuế GTGT khi khách hàng thanh toán tiền thuê, về việcthu hồi tài sản, về giới hạn cho thuê.Thứ hai, phần lớn các công ty CTTC ở VN trực thuộc các NHTM, do đó,hoạt động CTTC như là một mảng hoạt động của NHTM, chiến lược kinh doanhcủa công ty CTTC phụ thuộc vào chiến lược của NHTM mình trực thuộc. Nguồnvốn hoạt động của các công ty CTTC chủ yếu dựa trên cơ sở vốn điều lệ và vốnđiều chuyển từ NHTM trực thuộc. Mặc dù, các công ty có chức năng huy độngvốn nhưng so với sản phẩm huy động vốn của NHTM thì sản phẩm huy độngvốn của các công ty CTTC quá đơn điệu. Cụ thể theo Quyết định số 1160/QĐ-NHNN, công ty CTTC không được huy động vốn ngắn hạn và khách hàngkhông được rút vốn trước hạn nếu thời gian chưa gửi vốn chưa đủ 12 tháng vàviệc dùng khoản tiền gửi tại công ty CTTC để cầm cố vay vốn tại các NHTM làkhông hề đơn giản. Mặt khác, khách hàng cá nhân chưa có thói quen gửi vốn vào
  35. 35. Trang 35 / 58các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Khách hàng gửi vốn tại các công ty CTTCchủ yếu là một số bạn hàng có hợp tác trong kinh doanh như đơn vị bảo hiểm,nhà cung cấp. Tuy nhiên, nguồn vốn này không đáng kể so với nhu cầu vốn kinhdoanh. Do đó, việc huy động vốn từ nguồn tiền nhàn rỗi của nền kinh tế đối vớikhối các công ty CTTC là rất thấp.Thứ ba, do trình độ nhân viên của công ty CTTC chủ yếu được điều độngtừ NHTM sang nên hạn chế về mặt kỹ thuật. Đối với hoạt động CTTC có đặctrưng là gắn với tài sản nên tính chuyên nghiệp trong kinh doanh của các công tyCTTC được thành lập dưới hình thức này không cao. Ở các nước các công tyCTTC được hình thành từ các nhà sản xuất công nghiệp, các tập đoàn côngnghiệp - tài chính, CTTC mang tính chuyên dùng, gắn với một loại hay một sốloại tài sản cho thuê. Chẳng hạn như như công ty CTTC thuộc tập đoàn côngnghiệp tài chính Hyundai chuyên cho thuê ô tô; công ty CTTC thuộc tập đoàncông nghiệp tài chính Doosan chuyên cho thuê thiết bị thi công xây dựng côngtrình.Thứ tư, chi phí sử dụng vốn của các công ty CTTC cao vay của các NHTM.Bởi lẽ để có vốn kinh doanh các công ty CTTC phải huy động từ các NHTM vàcác chủ thể khác để có lợi nhuận đòi hỏi công ty CTTC phải xây dựng lãi suấtcho thuê cao hơn lãi suất đầu vào của công ty CTTC. Mặt khác, bên thuê cònphải nộp một khoản tiền ký quỹ cũng như phải chiụ các khoản chi phí vận hànhchạy thử vào mua bảo hiểm cho tài sản thuê. Chính điều đó làm cho lãi suất đithuê cao hơn lãi suất vay từ các NHTM. Đây là một trong điểm yếu của các côngty CTTC so với các TCTD cung cấp vốn.Thứ năm, công tác thẩm định dự án còn hạn chế. Mặc dù công tác thẩmđịnh dự án đã được quan tâm nhưng kết quả chưa đạt được như mong đợi, chấtlượng thẩm định dự án cho thuê còn bất cập như thông tin số liệu làm căn cứ tínhtoán thẩm định các dự án cho thuê (nhất là dự án mới) chưa đầy đủ và chưa cậpnhật kịp thời dẫn đến khó đánh giá về hiệu quả kinh tế xã hội và tính khả thi củadự án cho thuê, chưa đánh giá hiệu quả dự án trong mối liên hệ với dự án đầu tưtổng thể hoặc các dự án vay vốn khác của khách hàng, chưa xây dựng được hệthống chỉ tiêu “chuẩn” cho từng loại dự án cho thuê theo từng lĩnh vực đầu tư
  36. 36. Trang 36 / 58giúp cho việc so sánh, đánh giá khi tiến hành thẩm định. Qua khảo sát cho thấyviệc tuân thủ quy trình CTTC của một số công ty chưa được đảm bảo. Cụ thểnhiều tài sản thuê chưa được mua bảo hiểm hoặc chỉ mua bảo hiểm một năm mộtlần chứ không mua toàn bộ thời hạn thuê thêm vào đó là sự quản lý theo dõikhông sát sao, đến khi hết hạn bảo hiểm không mua kịp thời đến khi rủi ro xảy rakhông có nguồn để bù đắp. Ngoài ra, các công ty CTTC thiếu chuyên môn trongquá trình kiểm tra, theo dõi và hỗ trợ bên thuê tài chính trong quá trình khai tháctài sản nên rủi ro là điều khó tránh khỏi.Thứ sáu, đối tượng khách hàng là DNNVV nên ý thức chấp hành luật phápvẫn chưa nghiêm, sổ sách không minh bạch. Khách hàng thường có ba số liệu vềhoạt động SXKD phục vụ cho ba mục đích khác nhau. Để NHTM dễ dàng cấptín dụng, số liệu “đẹp hơn” thực tế, nhưng để giảm bớt nghĩa vụ thực hiện NSNNsố liệu thường thấp hơn thực tế và phải nộp ngân sách nhà Số liệu về hoạt độngsổ sách để vay vốn ngân hàng thường “đẹp” hơn để NHTM dễ dàng cấp tíndụng, sổ sách đúng đã phản ánh trung thực hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp.Thứ bảy, sự hiểu biết của công chúng đối với hoạt động cho thuê tài chínhcòn hạn chế, chưa có chiến lược tuyên truyền quảng bá rộng rãi. Công tác tiếpthị, quảng cáo tại các công ty dường như bỏ ngỏ, tự phát manh mún, chưa đưa ramột định hướng chiến lược phát triển dài hạn và hướng tiếp cận với các dự ánlớn, hiệu quả.Thứ tám, doanh nghiệp hiểu biết về kênh cấp vốn qua dịch vụ cho thuê tàichính còn hạn chế; hoạt động quảng bá, giới thiệu dịch vụ này đến doanh nghiệpcòn yếu. Theo một cuộc khảo sát ngẫu nhiên mới đây đối với 1.000 doanhnghiệp thuộc các thành phần khác nhau thì hơn 70% số doanh nghiệp được hỏitrả lời rằng họ biết rất ít và chưa bao giờ tìm hiểu, sử dụng dịch vụ cho thuê tàichính; gần 20% hoàn toàn không biết về dịch vụ này, thậm chí có doanh nghiệphiểu cho thuê tài chính như hoạt động mua trả góp, nhiều doanh nghiệp chưahiểu rõ bản chất cấp tín dụng của dịch vụ cho thuê tài chính, chưa thấy rõ đượchiệu quả, lợi ích từ dịch vụ cho thuê tài chính mang lại...
  37. 37. Trang 37 / 582.6. Tình hình hoạt động của Công ty CTTC Ngân hàng Á châu (ACBL).2.6.1. Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của Công tyBiểu đồ 3: Biểu đồ thể hiện tổng dư nợ và lợi nhuận sau thuế củaCông ty trong 3 năm 2009 - 2011Bảng 2.3: Tóm tắt các chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của Công tytrong 3 năm 2009 - 2011Đơn vị tính: 1,000 đồngSTT Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 20111 Tổng tài sản 199,680,582 177,290,985 474,485,255 921,268,0672 % tăng, giảm so với năm gốc -12.63% 167.63% 94.16%3 Doanh thu thuần 14,035,490 14,808,647 33,083,374 67,960,4804 % tăng, giảm so với năm gốc 6% 123% 105%5 Lợi nhuận từ HĐKD -2,385 100,136 273,354 112,0156 % tăng, giảm so với năm gốc 4299% 172.98% -59.02%7 Lợi nhuận khác 42 0 7 08 Lợi nhuận trước thuế 9,694,292 9,832,298 23,833,152 49,280,5509 Lợi nhuận sau thuế 6,979,890 8,392,316 17,874,039 36,959,51210 % tăng, giảm so với năm gốc 20.24% 112.98% 106.78%Năm 2009, mặc dù có nhiều diễn biến không thuận lợi đối với hoạt độngcho thuê tài chính, nhất là khi các doanh nghiệp thuê mua tài chính không được172,716,176423,256,431822,601,8328,392,31617,874,039 36,959,5120100,000,000200,000,000300,000,000400,000,000500,000,000600,000,000700,000,000800,000,000900,000,000Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011Tổng dư nợLợi nhuậnsau thuế
  38. 38. Trang 38 / 58thụ hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất từ gói kích thích kinh tế của Chính phủ,ACBL vẫn duy trì ổn định hoạt động, tổng dư nợ thuê tài chính đến 31/12/2009là 172 tỷ đồng, và lợi nhuận trước thuế đạt 9,8 tỷ đồng.Năm 2010, ACBL có nhiều đổi mới và biến chuyển tích cực. ACBL đãkhông ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, cung cấp sản phẩm dịch vụ mới nhằmđáp ứng nhiều hơn và tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Dịch vụ cho thuê tàichính bằng ngoại tệ được triển khai. Bộ máy bán hàng được tập trung phát triểnvà đào tạo. Năng suất và hiệu quả công việc được chú trọng hơn. Số lượng nhânsự tại ACBL đã tăng hơn gấp đôi, trong đó 60% nhân viên trực tiếp kinhdoanh.Thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, đa dạng hóa ngành nghề tài trợ vàtài sản cho thuê tài chính, ACBL đã đạt được kết quả hoạt động như sau:- Kết quả kinh doanh: Trong năm 2010, lợi nhuận trước thuế củaACBL là 23,8 tỷ đồng, gấp 2,4 lần so với lợi nhuận trước thuế năm 2009và vượt 64% so với kế hoạch lợi nhuận năm 2010 (14,5 tỷ đồng).- Quy mô hoạt động: Đến 31/12/2010, tổng tài sản của ACBL đạt khoảng474 tỷ đồng, tăng mạnh 297 tỷ đồng so với đầu năm do tăng vốn điều lệ 100 tỷđồng và tiền gửi của các TCTD tăng hơn 156 tỷ đồng. So với đầu năm, sốlượng khách hàng của ACBL tăng 26 khách hàng so với năm 2009, đạt 68khách hàng với 34 khách hàng mới phát triển trong năm. Ngoài ra, tỷlệ nợ quá hạn vẫn duy trì ở mức 0%. ACBL đã ứng cử và trở thành Ủy viêncủa Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam trong nhiệm kỳ II (2010- 2014).- Dư nợ cho thuê tài chính đạt 423,3 tỷ đồng, tăng trưởng 2,5 lần so vớinăm 2009.- Tỷ lệ nợ quá hạn vẫn là 0%.Trọng tâm hoạt động năm 2011 của ACBL vẫn là đẩy mạnh tiếp thị bánhàng, tập trung cạnh tranh bằng chính chất lượng dịch vụ và khả năng tư vấnchuyên nghiệp. ACBL dự kiến mở rộng mạng lưới hoạt động tại miền Bắc, giatăng phạm vi phục vụ khách hàng trên cả nước.Năm 2011, sau 4 năm hoạt động, ACBL đã ổn định bộ máy tổ chức, đạt sựtăng trưởng hiệu quả trong kinh doanh và đảm bảo chất lượng hoạt động. Năm
  39. 39. Trang 39 / 58qua cũng ghi nhận sự tăng trưởng quy mô hoạt động của ACBL, đưa dịch vụ chothuê tài chính đến rộng rãi hơn đến khách hàng trên toàn quốc thông qua việcthành lập chi nhánh tại Tp. Hà Nội.Kế ăm tài chính 2011, ACBL đạt lợi nhuận là 50,86 tỷ đồng, tănggấp 2,13 lần so với năm 2010. Tổng tài sản đạt 922,8 tỷ đồng, tăng gấp 1,95 lầnso với năm 2010 và tăng gấp 5,2 lần so với năm 2009. Tỷ lệ nợ quá hạn vẫn ởmức 0%.2.6.2. Tình hình cho thuê theo ngành nghề kinh doanhBảng 2.4: Tỷ trọng của các ngành nghề kinh doanh trên tổng dư nợSTT Ngành nghề kinh doanh Năm 2009 Năm 2010 Năm 20111 Sản xuất và gia công chế biến 78.91% 74.19% 54.74%2Kho bãi, giao thông vận tải vàthông tin liên lạc3.03% 1.42% 6.60%3 Xây dựng 3.52% 8.57% 4.26%4 Thương mại 9.02% 7.15% 24.07%5 Dịch vụ cá nhân và công cộng 3.27% 3.15% 5.30%6 Khoa học kĩ thuật 1.06% 0.31% 2.83%7 Các ngành nghề khác 1.13% 5.23% 2.20%050,000,000100,000,000150,000,000200,000,000250,000,000300,000,000350,000,000400,000,000450,000,000500,000,000Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011BIỂU ĐỒ 4: DOANH SỐ CHO THUÊ THEO NGÀNHNGHỀ KINH DOANH Sản xuất và giacông chế biếnKho bãi, giaothông vận tải vàthông tin liên lạcXây dựngThương mạiDịch vụ cá nhân vàcông cộngKhoa học kĩ thuậtCác ngành nghềkhác
  40. 40. Trang 40 / 58Qua bảng số liệu ta thấy doanh số cho thuê có xu hướng tăng trội nhiềuhơn giảm qua các năm cụ thể ở các ngành như sau:+ Sản xuất và gia công chế biến: doanh số cho thuê của ngành sản xuất vàgia công chế biến có xu hướng tăng mạnh dần qua các năm: năm 2009 chỉ thuđược 136.294 triệu đồng chiếm 78,91% trên tổng dư nợ. Nhưng đến năm 2010tăng 177,714 triệu đồng tương ứng với 130,39% so với năm 2009. Năm 2011tiếp tục tăng 136,301 triệu đồng ứng với tăng 43,41%, nhưng chiếm với tỉ trọngthấp hơn là 54,71% trên tổng dư nợ.+ Kho bãi, giao thông vận tải và thông tin liên lạc: năm 2009 cho thuêđược 5.240 triệu đồng, nhưng năm 2010 chỉ thu được 5.997 triệu đồng tăng 756triệu đồng ứng với 14,45%. Năm 2011 có nhiều hợp đồng cho thuê lên tới54.286 triệu đồng tăng 48.289 triệu đồng gấp 8 lần so với năm 2010.+ Ngành xây dựng: năm 2009 cho thuê được là 6.071 triệu đồng chiếm3,37% tổng dư nợ. Năm 2010 tăng 30.182 triệu đồng gấp 5 lần so với năm2009, nhưng đến năm 2011 lại giảm 1.179 triệu đồng ứng với giảm 3,25% sovới năm 2010.+ Ngành thương mại: Cũng đang có xu hướng tăng chậm và chiếm tỉtrong cao trong tổng dư nợ, năm 2011 là năm có doanh thu cao nhất là197.972 triệu đồng chiếm 24,07% tổng dư nợ tăng 167,7 triệu đồng tăng gấp 5lần so với năm 2010, và năm 2010 cũng tăng 14.672 triệu đồng tăng 94,14% sovới năm 2009.+ Dịch vụ cá nhân và công cộng: năm 2009 cho thuê được là 5.642 triệuđồng chiếm 3,5% tổng dư nợ. Năm 2010 tăng 7.681 triệu đồng ứng với136,14% so với năm 2009, nhưng đến năm 2011 lại tăng khá 30.271 triệu đồngso với năm 2010, chiếm 5,3% trên tổng dư nợ.+ Khoa học kĩ thuật: năm 2011 là cao nhất với 23.261 triệu đồng chiếm2,83% trên tổng dư nợ+ Khác: năm 2010 tăng khá 20.158 triệu đồng gấp 10 lần so với năm2009, nhưng đến năm 2011 giảm 4.016 triệu đồng ứng với giamr18,16% so vớinăm 2010.
  41. 41. Trang 41 / 582.6.3. Tình hình cho thuê theo thành phần kinh tế (TPKT)Thànhphầnkinh tếNăm 2009 Năm 2010 Năm 2011CHÊNH LỆCHGiữa 2010 & 2009CHÊNH LỆCHGiữa 2011 & 2010Số tiềnTỷ lệ(%)Số tiềnTỷ lệ(%)Doanhnghiệpnhà nước 15,862,666 85,447,241 79,327,156 69,584,575 438.67 -6,120,085 -7.16Công tycổ phần,Công tyTNHHvà doanhnghiệptư nhân154,893,330336,276,893740,488,586181,383,563117.10404,211,693120.20Cá nhân 1,960,180 1,532,297 1,230,917 -427,883 -21.83 -301,380 -19.67Khác 0 0 1,555,173 0 1,555,173Tổng172,716,176432,256,431822,601,832259,540,255 150.27390,345,401 90.30Đơn vị tính: 1,000 đồngBảng 2.5: Phân tích đầu tư thuần CTTC theo thành phần kinh doanhtrong 3 năm 2009 – 201101000000020000000300000004000000050000000600000007000000080000000Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011Biểu đồ 5: Cho thuê tài chính theo thành phần kinh tếDoanh nghiệp nhànướcCông ty cổphần, Công ty TNHHvà doanh nghiệp tưnhânCá nhânKhác
  42. 42. Trang 42 / 58Qua bảng số liệu ta thấy doanh số cho thuê của Công ty tập trung chủ yếuvào các đối tượng sau: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanhnghiệp tư nhân và ít chú trọng vào các loại hình như: doanh nghiệp nhà nướcvà cá nhân. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế nước ta hiệnnay, khi nhà nước đang khuyến khích phát triển các doanh nghiệp và và nhỏ.Bên cạnh đó loại hình hợp tác xã ở nước ta đang trong giai đoạn hình thành vàhiện còn nhỏ bé trong khi đó loại hình doanh nghiệp nhà nước thì lại chưa hoànthiện trong tiến trình cổ phần hoá và chưa được hiệu quả trong sản xuất kinhdoanh. Cụ thể tình hình cho thuê các loại hình này như sau:- Doanh nghiệp nhà nước: qua bảng số liệu thì ta thấy doanh số chothuê của loại hình doanh nghiệp này có xu hướng giảm, năm 2010 tăng mạnh85.447 triệu đồng tăng 69.584 triệu đồng ứng 438,7 %, nhưng năm 2011 giảm6.120 triệu đồng ứng với 7,16% so với năm 2010. Nguyên nhân là vì đây làloại hình doanh nghiệp được thành lập chủ yêu bằng nguồn vốn nhà nước, hầuhết đều được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất, các doanh nghiệp này chủ yếu làchỉ muốn bổ sung thêm những phương tiện còn thiếu phụ vụ cho hoạt động sảnxuất.- Công ty cổ phần, Công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân: năm 2009đạt 154.893 triệu đồng. Đến năm 2010 tăng lên 336.276 triệu đồng tăng181.383 triệu đồng so với năm 2009 ứng với 117%, năm 2011 tăng tiếp tuctăng mạnh 404.211 triệu đồng tương ứng 120,2% so với năm 2010. Ta thấy tuydoanh số ngày càng có xu hướng tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao nhất trongtổng doanh số cho thuê của Công ty.- Cá nhân: đây là một trong những loại hình doanh nghiệp có tỷ lệ rủi rocao, nhưng lại là khách hàng cũng không kém phần quan trọng của Công ty.Công ty luôn có chiến lược cho thuê có chừng mực đối với loại này. Năm 2009đạt 1.960 triệu đồng, năm 2010 giảm 427,8 triệu đồng tương ứng 21,83% sovới năm 2009, và năm 2011 tiếp tục giảm 301,4 triệu đồng tương ứng 19,67%so với năm 2010.
  43. 43. Trang 43 / 582.6.4. Tình hình nguồn vốn hoạt độngBảng 2.6: Nguồn vốn hoạt độngChỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011Vốn huy động 61,333,387 247,380,153 658,133,464Vốn tự có 100,000,000 200,000,000 200,000,000Nguồn vốn khác 15,957,598 27,105,102 63,134,603Tổng nguồn vốn 177,290,985 474,485,255 921,268,067Đơn vị tính: 1,000 đồngBảng phần trăm các chỉ tiêu trong nguồn vốn hoạt độngChỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011Vốn huy động 34.59% 52.14% 71.44%Vốn tự có 56.40% 42.15% 21.71%Nguồn vốn khác 9.00% 5.71% 6.85%Vốnhuyđộng35%Vốn tựcó56%Nguồnvốnkhác9%Năm 2009Vốn huyđộng52%Vốn tựcó42%Nguồnvốn khác6%Năm 2010Vốn huyđộng71%Vốn tự có22%Nguồn vốnkhác7%Năm 2011Biểu đồ 6: Nguồn vốn hoạt động qua các năm
  44. 44. Trang 44 / 58Nguồn vốn hoạt động là một yếu tố quan trọng đối với các công ty CTTC.Với số vốn tự có ban đầu khá ít (100 tỷ VNĐ), sau khoảng 2 năm hoạt động,hầu hết các công ty CTTC hiện nay đều đã sử dụng hết số vốn tự có này vàphải bắt đầu các phương án để tìm nguồn vốn cho hoạt động của mình. Nguồnvốn cơ bản nhất là huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế. Theo quy địnhcủa pháp luật, công ty CTTC được phép huy động tiết kiệm kỳ hạn trên 13tháng và phát hành các chứng từ có giá. Tuy nhiên, việc phát hành các chứng từcó giá tại ACBL cũng như các công ty CTTC khác là chưa thực hiện. Vì vậy,nguồn cung cơ bản nhất vẫn là từ huy động tiết kiệm trung – dài hạn. Tuynhiên, tính tại thời điểm 30/12/2009, số liệu huy động của ACBL đạt 61,3 tỷVNĐ - chỉ chiếm 35% nguồn vốn hoạt động. Điều này có nghĩa là mức huyđộng tiết kiệm tại ACBL còn quá ít so với nhu cầu về vốn.Một nguồn vốn khác mà các công ty CTTC đang có là nguồn vốn từ cáckhoản ký quỹ của khách hàng. Như đã trình bày, hầu hết các công ty CTTC đềuyêu cầu các khách hàng của mình có một khoản ký quỹ, thông thường là từ 5-10% trên giá trị tài sản thuê, để đảm bảo cho việc thực hiện hợp đồng CTTC.Và khoản ký quỹ này các công ty CTTC chỉ hoàn trả khi hợp đồng CTTC kếtthúc, sau khi khách hàng đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ liên quan. Đây làmột khoản chiếm dụng vốn của công ty CTTC nhằm mục đích cải thiện tỷ suấtlợi nhuận thực tế. Và ở ACBL, số vốn chiếm dụng này đang là 15,95 tỷ chiếm9% nguồn vốn hoạt động.Nhưng đến năm 2010, ACBL đã tăng vốn tự có lên 200 tỉ chiếm 42% trêntổng nguồn vốn huy động, và nguồn vốn cung cơ bản cũng vẫn là nguồn vốntrung và dài hạn. Tại thời điểm 30/12/2010 số tiền huy động được là 247,38 tỉđồng chiếm tỉ trọng khá cao là 52% cho thấy ACBL đã có nhiều giải pháp nângcao hoạt động huy động vốn, không còn phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn tự có.Và một vài nguồn huy động khác tăng 27,1 tỉ nhưng tỉ trọng đã giảm so vớinăm 2009 chỉ còn 6% trên tổng nguồn vốn hoạt động.ACBL ngày càng đưa ra được nhiều giải pháp tốt giúp tăng lượng tiền huyđộng được, năm 2011 vốn huy động được là 657,13 tỉ đồng chiếm tỉ trọng 71%đã tăng lên đáng kể so với năm 2010.Và một vài nguồn vốn khác từ lãi dự chi,
  45. 45. Trang 45 / 58các khoản phải trả và công nợ khác cũng tăng 63,13 tỉ đồng chiếm 7% trên tổngnguồn vốn hoạt động.Như vậy, những giải pháp hữu hiệu mà ACBL đã thực hiện thực sự có tácdụng giúp cho việc cho thuê trở nên linh động hơn.2.7. Đánh giá hoạt động CTTC tại ACBLeasing.2.7.1. Những dấu hiệu tích cực2.7.1.1. Dư nợ cho thuê của công ty tăng trưởng khả quanDư nợ của ACBLeasing sau 4 năm hoạt động (tính đến cuối năm 2011) đãđạt 921,27 tỉ đồng, tổng dư nợ ngày càng tăng cao so với năm 2009. Mức dư nợnhư trên đối với một công ty CTTC trên thì trường Việt Nam là một thành quả.Như vậy, thị trường CTTC đã phần nào phát triển hơn và khác hàng đã dầnquen với khái niệm CTTC nhưng điều đó chưa phải là tất cả. Một số công tyCTTC, kể cả các công ty mới ra đời sau cũng rất chật vật để tăng trưởng dư nợtrong thời điểm hiện nay. ACBL đã rất năng động, tích cực trong việc tận dụngnhững lợi thế do Ngân hàng mẹ mang lại (danh tiếng, khách hàng, mạnglưới…) cùng với việc tự tìm ra những bước đi riêng như dịch vụ CTTC xe ô tôcho khách hàng cá nhân là một ví dụ.2.7.1.2. Chưa phát sinh dư nợ quá hạnVới quy định về phân loại nợ và trích lập rủi ro theo Quyết định số493/2005/QĐ- NHNN, các công ty CTTC cũng đang thực hiện một chế độphân loại nợ khá “gay gắt” và rất gần với thông lệ quốc tế. Điều này đem lạimột cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về chất lượng dư nợ tín dụng của mộttổ chức tín dụng.Thực hiện theo quy định này, ACBL đang sở hữu một chỉ tiêu rất đẹp,100% dư nợ đang thực hiện đều ở nhóm 1 – nhóm dư nợ đủ tiêu chuẩn. Điềunày có thể là do ACBL là công ty mới thành lập do đó dư nợ trong thời gianđầu thường rất ít phát sinh vấn đề. Tuy nhiên, cũng phải đề cập đến công tácquản lý nợ của ACBL đang được thực hiện khá chặt chẽ. Các NVKD đều cótrách nhiệm lập và gửi thông báo nợ đến hạn trước 5 ngày và sau đó là nhắc nợqua điện thoại. Hết ngày đến hạn, nếu khách hàng chưa thanh toán gốc lãi,
  46. 46. Trang 46 / 58NVKD phải tìm hiểu ngay nguyên nhân và báo cáo lãnh đạo để có hướng giảiquyết. Sau 3 ngày nếu khoản nợ vẫn chưa được thanh toán thì Bộ phận Thẩmđịnh và Lãnh đạo Phòng Kinh doanh phải trực tiếp giải quyết. Chính điều nàyđã buộc các khách hàng của Công ty phải có trách nhiệm trả nợ đúng thời hạn.Một giải pháp cũng đang được Công ty thực hiện để đảm bảo tỷ lệ nợ quáhạn bằng 0 là thu gốc + lãi kỳ đến hạn bằng số tiền ký quỹ của khách hàng(thông thường số tiền ký quỹ vào khoảng 5%/tổng giá trị tài sản thuê). Điềunày giúp cho khoản nợ của khách hàng không bị chuyển nhóm nợ. Và khikhách hàng thanh toán, số tiền thanh toán sẽ được hoàn trả lại vào tài khoản kýquỹ của khách hàng. Tuy nhiên, trên thực tế việc xử lý như vậy chưa phù hợp.Khoản ký quỹ là một khoản đảm bảo thực hiện hợp đồng chứ không phải làmột khoản thanh toán và chỉ được xử lý khi nào có phát sinh tranh chấp hoặcxử lý hợp đồng thuê. Hơn nữa, nếu khách hàng biết việc này thì tình trạng nợquá hạn sẽ trở nên rất thường xuyên. Vì vậy, đây không nên được xem như mộtgiải pháp để giảm bớt số liệu nợ quá hạn.2.7.1.3. Tài sản cho thuê có mức rủi ro thấpNhư đã trình bày, với tỷ trọng tài sản thuê phần lớn là phương tiện vậnchuyển, ACBL đang có một cơ cấu tài sản thuê với mức độ rủi ro thấp. Thêmvào đó, với tỷ lệ tham gia hiện tại của khách hàng thuê tài chính trung bình từ25 – 30% và thời hạn thuê từ 03 – 04 năm, ACBL sẽ mau chóng thu hồi đủ giátrị đầu tư cũng như hạn chế được rủi ro tín dụng.2.7.1.4. Lãi suất cho thuê cao đem lại khoản lợi nhuận hoạt động caoĐây là yếu tố rất tích cực nhất góp phần mang lại lợi nhuận cao choACBL kể từ khi đi vào hoạt động. Với lãi suất cho thuê đạt trung bình 1.18%/tháng, cộng với khoản chiếm dụng vốn vào khoảng 5%/giá trị tài sản cho thuê,ACBL đã đạt được một mức lãi suất cho vay khá cao so với các NHTM cũngnhư các công ty CTTC khác trên thị trường. Công ty tiếp cận khách hàng vớiphương châm “thời gian là yếu tố cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ”, do đó,mặc dù lãi suất khá cao so với mặt bằng chung nhưng hầu hết các khách hàngđều thỏa mãn với đội ngũ nhân viên nhiệt tình và năng động. Vì vậy, ACBL

×