SlideShare a Scribd company logo
Luận Văn Group hỗ trợ viết luận văn thạc sĩ,chuyên đề,khóa luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập,
Assignment, Essay
Zalo/Sdt 0967 538 624/ 0886 091 915 Website:lamluanvan.net
TRƯỜNG……………………………………………
KHOA…………………..
TIỂU LUẬN
NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN
Ở VIỆT NAM
Họ và tên:
Lớp:
Mã SV;
Luận Văn Group hỗ trợ viết luận văn thạc sĩ,chuyên đề,khóa luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập,
Assignment, Essay
Zalo/Sdt 0967 538 624/ 0886 091 915 Website:lamluanvan.net
HÀ NỘI – 2024
Luận Văn Group hỗ trợ viết luận văn thạc sĩ,chuyên đề,khóa luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập,
Assignment, Essay
Zalo/Sdt 0967 538 624/ 0886 091 915 Website:lamluanvan.net
MỤC LỤC
Trang
A. Mở đầu 1
B. Nội dung 2
1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo 2
2. Một số nội dung chính của Nho giáo 3
3. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Nho giáo ở Việt Nam 6
4. Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống văn hoá người dân Việt Nam 8
5. Giá trị và hạn chế của Nho giáo đối với đời sống văn hoá Việt Nam 11
C. Kết luận 15
D. Tài liệu tham khảo 16
Luận Văn Group hỗ trợ viết luận văn thạc sĩ,chuyên đề,khóa luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập,
Assignment, Essay
Zalo/Sdt 0967 538 624/ 0886 091 915 Website:lamluanvan.net
1
A. Mở đầu
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm trên thế
giới và có thể xem là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Bên cạnh
những phát minh về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học
thuyết triết học, có ảnh hưởng lớn đến nền văn minh châu Á và thế giới Trong số các
học thuyết triết học đó phải kể đến trường phái triết học Nho giáo. Nho giáo xuất hiện
rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hoặc trí thức chuyên học văn chương và lục
nghệ góp phần trị nước. Nét đặc thù của triết học Nho giáo là đi sâu giải quyết những
vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội với nội dung bao trùm là vấn đề con
người, xây dựng con người, xã hội lý tưởng và con đường trị nước, thông qua đức trị.
Nho giáo được du nhập vào nước ta từ những năm cuối trước công nguyên chủ
yếu theo “gót giày” quân xâm lược phương Bắc. Ngay từ khi Nho giáo xâm nhập vào
Việt Nam, nó đã thích nghi và phát triển mạnh mẽ, nó có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội
Việt Nam. Là một học thuyết chính trị, đạo đức, xã hội lấy con người làm trọng tâm,
Nho giáo đã đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước phong kiến Việt Nam qua nhiều thế
kỷ (từ giữa thế kỷ XV về sau).
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã làm cho Nho giáo ở Việt Nam mất đi tư
cách là học thuyết thống trị xã hội, cùng với sự sụp đổ của chế độ phong kiến Việt
Nam, Nho giáo không còn giữ vai trò nền tảng chi phối toàn bộ đời sống tinh thần. Từ
đó, có những nơi, những lúc người ta đã phủ nhận sạch trơn vai trò của Nho giáo đối
với dân tộc ta và muốn nhanh chóng xóa bỏ nó hoàn toàn bởi những hệ quả tiêu cực
mà nó mang lại trong xã hội cũ như đầu óc gia trưởng, tư tưởng trọng nam khinh nữ,
bệnh gia đình chủ nghĩa... Tuy nhiên, trong xã hội Việt Nam hiện đại, những dư âm
của Nho giáo vẫn hiện hữu trong các quan hệ xã hội, trong ứng xử giữa người với
người, trong phong tục, tập quán, trong nghi thức thờ cúng, trong những tín ngưỡng cổ
truyền và vô vàn những lát cắt khác nhau của đời sống.
2
B. Nội dung
1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo
* Lịch sử hình thành Nho giáo
Nho giáo là một giáo lý đạo đức cơ bản xuất xứ ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5
và 6 TCN. Dựa trên những cơ cấu và sự tu tập nó đã phổ biến lâu đời trong xã hội
Trung Quốc, chẳng hạn hệ thống gia tộc và sự thờ cúng ông bà, tổ tiên của nó, Khổng
giáo đã trở thành hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất Trung Quốc, cùng tồn tại
với Lão giáo (đạo) và Phật giáo qua nhiều thế kỷ. Người sáng lập ra nó đức Khổng
Phu Tử (551-479 trước CN) một nhà cải cách chính trị cũng là một nhà giáo dục, ngài
bất mãn với sự suy đồi đạo đức trong thời đại của mình và tìm cách khôi phục lại
những giá trị mà ngài cho là những phong tục tốt đẹp của thời đại Hoàng Kim. Những
tư tưởng triết lý, đạo lý và tín ngưỡng đặt nền tảng cho một hệ thống đạo đức đã tồn tại
qua nhiều thời gian thử thách.
Trải qua hơn hai nghìn năm, tư tưởng nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc
không chỉ về chính trị, văn hóa mà còn thể hiện trong hành vi và phương thức tư duy
của mỗi con người Trung Quốc. Có học giả còn xem nho giáo là tư tưởng tôn giáo của
Trung Quốc. Trong thực tế, nho giáo là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung
Quốc, nó là tư tưởng triết học chứ không phải là tôn giáo và được coi là tư tưởng chính
thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và có ảnh hưởng tới
một số nước ở Châu Á .
* Các giai đoạn phát triển của nho giáo:
Nho giáo nguyên thủy (Nho giáo Khổng - Mạnh): Thời Xuân Thu, Khổng Tử
đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ,
Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn
năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập
hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của - Khổng Tử là
Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu
nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời
Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách
Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi
là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay “tư tưởng Khổng-Mạnh”. Từ
đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật,
3
nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo. Ở Nho
giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính
là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.
Hán Nho: Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ
Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về
tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong
kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho.
Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai
cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”.
Tống Nho: Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và
cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Tứ thư và ngũ kinh là kinh điển
nho giáo. Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy
(thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn
Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là “Trạng Trình”). Phương Tây gọi Tống
nho là "Tân Khổng giáo". Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc
bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo
giáo phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị).
2. Một số nội dung chính của Nho giáo
Tư tưởng trung tâm của Nho giáo là những vấn đề về chính trị, đạo đức của con
người và xã hội.
Thứ nhất, quan điểm về bản chất con người.
Nho giáo đặt vấn đề đi tìm một bản tính có sẵn và bất biến của con người. Đức
Khổng Tử và Mạnh Tử đều quan niệm bản tính con người ta sinh ra vốn thiện. Bản
tính “Thiện” ở đây là tập hợp các giá trị chính trị, đạo đức của con người.
Xuất phát từ quan niệm cho rằng bản tính của con người là thiện, Khổng Tử đã
xây dựng phạm trù “Nhân” với tư cách là phạm trù trung tâm trong triết học của ông.
Theo ông, một triều đại muốn thái bình thịnh trị thì người cầm quyền phải có đức
Nhân, một xã hội muốn hoà mục thì phải có nhiều người theo về điều Nhân. Chữ Nhân
được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và những quan hệ
giữa người với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội.. .
Nếu Khổng Tử cho rằng chữ Nhân là cái gốc đạo đức của con người, thì theo
ông, để trở thành một con người hoàn thiện, một điều kiện tất yếu khác là phải “hiểu
4
biết mệnh trời” để sống “thuận mệnh”. Ông viết: “Không biết mệnh trời thì không lấy
gì làm quân tử”, nhưng ông kêu gọi mọi người trước hết phải tìm sức mạnh vươn lên ở
trong chính bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷ thần: “Đạo người
chưa biết thì làm sao biết được đạo quỷ thần”. Con người phải chú trọng vào sự nỗ lực
học tập, làm việc tận tâm, tận lực, còn việc thành bại như thế nào, lúc đó mới tại ý trời.
Tuy nhiên trong triết học Nho giáo, nếu Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng con
người vốn có bản tính thiện thì Tuân Tử đưa ra lý luận bản tính con người là ác: “Tính
người là ác, thiện là do người làm ra”; nhưng trong quan điểm sai lầm đó cũng có nhân
tố hợp lý như: hành vi đạo đức của con người là do thói quen mà thành, phẩm chất con
người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội và kết quả của sự học tập, giáo dục lâu ngày
mà nên, từ đó ông cho rằng có thể giáo dục, cải hoá con người từ ác thành thiện được.
Nếu ra sức tu dưỡng đạo đức thì bất cứ người nào cũng đều có thể đạt được địa vị
“người quân tử”. Tuân Tử đề cao khả năng và vai trò của con người. Ông khẳng định
trời không thể quyết định được vận mệnh của con người. Ông cho rằng con người
không thể chờ đợi tự nhiên ban phát một cách bị động mà phải vận dụng tài trí, khả
năng của mình, dựa vào quy luật của tự nhiên mà sáng tạo ra những của cải, sản vật để
phục vụ cho đời sống con người.
Thứ hai, quan điểm về xã hội học
Nho giáo đứng trên quan điểm duy tâm để giải quyết những vấn đề xã hội bởi
vì khi giải quyết những vấn đề xã hội. Nho giáo khái quát những quan hệ chính trị -
đạo đức ấy vào ba mối quan hệ rường cột, gọi là tam cương, bao gồm: Quan hệ vua -
tôi; quan hệ cha - con và quan hệ chồng - vợ.
Quan hệ thứ nhất thuộc quan hệ quốc gia, còn hai quan hệ sau thuộc quan hệ
gia đình. Điều này nói lên rằng trong quan niệm về xã hội, Nho giáo đặc biệt quan tâm
tới những quan hệ nền tảng của xã hội là quan hệ gia đình. Quan hệ gia đình ở đây
mang tính chất tông tộc, dòng họ. Xã hội trị hay loạn trước hết thể hiện ở chỗ có giữ
vững được ba quan hệ ấy hay không.
Thứ ba, quan điểm về giáo dục
Trước hết, Nho giáo có nêu quan điểm về một xã hội lý tưởng. Lý tưởng cao
nhất của đức Khổng Tử cũng như các tác giả sau này của Nho giáo là xây dựng một xã
hội “Đại đồng”. Khái niệm xã hội đại đồng của Nho giáo không phải là một xã hội đặt
5
trên nền tảng của một nền sản xuất phát triển cao mà là một xã hội “an hoà”, trong đó
sự hoà được đặt trên nền tảng của sự công bằng xã hội.
Để thực hiện xã hội lý tưởng, xã hội đại đồng, xã hội an hoà trên, Nho giáo
không đặt vấn đề về một cuộc cách mạng, không cầu cứu ở bạo lực, mà tìm cứu cánh ở
một nền giáo dục. Đức Khổng Tử là người đầu tiên lập ra trường tư, mở giáo dục ra
toàn dân. Có giáo dục và tự giáo dục thì mỗi người mới biết phận vị của mình mà nhìn
nhận hành động trong cuộc sống cho đúng.
Nội dung của giáo dục Nho giáo, giáo dục và tự giáo dục, hướng vào việc giáo
dục những chuẩn mực chính trị – đạo đức đã hình thành từ ngàn xưa, được nêu gương
sáng trong cổ sử mà thôi nên cách dạy của Nho giáo là chỉ dạy làm người nói chung,
không hề đề cập đến khoa học, kinh tế, nghề nghiệp, tức không hướng vào phương
diện kỹ nghệ và kinh tế. Thừa thời gian mới học đến lục nghề. Đây là một nền giáo
dục thiên lệch.
Thứ tư, quan điểm về quản lý xã hội (trị quốc).
Để theo đuổi mục tiêu lý tưởng xây dựng xã hội đại đồng, Nho giáo nêu nguyên
tắc quản lý xã hội như sau:
Nguyên tắc 1: Thực hiện nguyên tắc tập quyền cao độ (Chế độ quân chủ trung
ương tập quyền cao độ). Trong phạm vi quốc gia, toàn bộ quyền lực tập trung vào một
người là Hoàng đế.
Nguyên tắc 2: Thực hiện “chính danh” trong quản lý xã hội. “Chính danh”
nghĩa là mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng cương vị, địa vị của
mình: vua phải ra đạo vua, tôi phải ra đạo tôi, cha phải ra đạo cha, con phải ra đạo con,
chồng phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ… Nếu như mọi người không chính danh
thì xã hội ắt trở nên loạn lạc. Không thể có một xã hội trị bình mà nguyên tắc chính
danh bị vi phạm. Trong Nho giáo, Khổng Tử đặc biệt đề cao giữa danh và thực. Thực
do học, tài và phận quy định.
Nguyên tắc 3: Thực hiện Văn trị - Lễ trị - Nhân trị. Đây là nguyên tắc có tính
chất đường lối căn bản của Nho giáo (Văn trị: Đề cao trị bằng hiểu biết. Tạo ra vẻ đẹp
của một nền chính trị để mọi người tự giác tuân theo. Lễ trị: Dùng tổ chức, thiết chế xã
hội để trị quốc. Đề cao nghi lễ giao tiếp trong trị quốc. Nhân trị: Trị quốc bằng lòng
nhân ái, mở rộng ân trạch của hoàng cung tới bốn phương).
6
Khổng Tử cho rằng trị quốc là việc rất khó, nhưng cũng rất dễ làm nếu đức
Minh quân biết sử dụng ba loại người: Cả quyết can đảm, Minh đản (trí thức) và Nghệ
tinh. Nhà vua muốn trị vì đất nước và muốn có đức nhân phải biết dùng người và thực
hiện ba điều: Kính sự: Chăm lo đến việc công; Như tín: Giữ lòng tin với dân; Tiết
dụng: Tiết kiệm tiêu dùng. Ngược lại, dân và bề tôi đối với vua phải như đối với cha
mẹ mình, phải tỏ lòng trung của mình đối với vua.
Tiếp tục thuyết ” Nhân trị” của Khổng Tử, Mạnh Tử đề ra tư tưởng ” Nhân
chính”. Theo Mạnh Tử, việc chăm dân, trị nước là vì nhân nghĩa, chứ không phải vì lợi
và Mạnh Tử chủ trương một chế độ “bảo dân”, trong đó người trị vì phải lo cái lo cho
dân, vui cái vui của dân, tạo cho dân có sản nghiệp riêng và cuộc sống bình yên, no đủ,
như thế dân không bao giờ bỏ vua. Đồng thời ông cũng khuyên các bậc vua chúa phải
giữ mình khiêm cung, tiết kiệm, gia huệ cho dân, thu thuế của dân có chừng mực. Đặc
biệt Mạnh Tử có quan điểm hết sức mới mẻ và sâu sắc về nhân quyền. Ông nói: “Dân
vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ vi”, vì theo ông, có dân mới có nước, có nước mới có
vua. Thậm chí ông cho rằng dân có khi còn quan trọng hơn vua. Kẻ thống trị nếu
không được dân ủng hộ thì chính quyền sớm muộn cũng sẽ phải sụp đổ, nếu vua tàn
ác, không hợp với lòng dân và ý trời thì sẽ có thể bị truất phế.
Nguyên tắc 4: Đề cao nguyên lý công bằng xã hội. Đức Khổng Tử đã nói:
“Không lo thiếu mà lo không đều, Không lo nghèo mà lo dân không yên”. Sự không
công bằng là đầu mối của loạn xã hội.
3. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Nho giáo ở Việt Nam
Hoàn cảnh du nhập của Nho học ở Việt Nam có khác với nước khác. Nếu với
Nhật Bản thì sự du nhập là gián tiếp, từ Triều Tiên truyền sang và sau đó là sự tiếp thu
trực tiếp, các lưu học sinh Nhật Bản sang Trung Quốc học Nho học và truyền bá lúc
đầu mang tính áp đặt. Người Hán xâm lược Việt Nam, đưa Nho học vào để tăng cường
sự thống trị. Vì vậy, thái độ đầu tiên của người Việt Nam là phản ứng, chống lại. Thái
độ trên có sự chuyển biến là mãi về sau, khi nền kinh tế xã hội Việt Nam có nét giống
với nền kinh tế - xã hội phong kiến Trung Quốc, khi người Việt Nam có sự quen thuộc
ít nhiều với Nho học.
Thái độ đối với Nho học của người Việt Nam có bước ngoặc là khi người Việt
Nam giành được độc lập dân tộc từ tay người Hán ở thế kỷ X, lúc này, người ta thấy ở
học thuyết này là một lý luận và một nghệ thuật của đạo trị nước, cần thiết phải nắm
7
lấy để xây dựng đất nước mình. Các triều đại phong kiến Việt Nam tự mình thấy phải
du nhập và phát triển Nho học. Các vua của triều Lý Việt Nam ở thế kỷ XI đã xây
dựng văn miếu để tế lễ Khổng Tử và các tiên hiền nhà Nho, đã mở trường Quốc Tử
Giám cho con hoàng tộc và con cái các nhà quyền quý vào học tập Nho học, đã tổ
chức ra các kỳ thi Nho học để chọn ra các nhân tài kiểu nhà Nho.
Khi nói đến vấn đề du nhập Nho học vào Việt Nam, nhiều người chỉ thấy hoạt
động đó ở giai đoạn đầu, giai đoạn đầu Bắc thuộc. Thực ra sự du nhập đó diễn ra nhiều
lần và ở nhiều thời điểm lịch sử khác nhau. Ngoài sự diễn ra ở đầu công nguyên, Nho
học còn được tiếp tục truyền vào Việt Nam ở các giai đoạn sau. Có thể nói, thời nào
cũng có hiện tượng du nhập, giai đoạn nào của Nho học Trung Quốc cũng muốn
truyền sang Việt Nam. Thời Bắc thuộc là Hán Nho, thời Đinh, Lê, Lý, Trần, là Đường
Nho, thời Lê Sơ là Tống Nho, thời Lê Mạt và Nguyễn là Thanh Nho. Việt Nam và
Trung Quốc là hai quốc gia liền nhau, việc giao lưu không gì cản trở, hơn nữa, tư
tưởng và học thuật thì không có biên giới ngăn cách.
Sau khi chấm dứt hơn một ngàn năm Bắc thuộc bằng chiến công trên sông Bạch
Đằng năm 938, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của Việt Nam. Thời điểm này
là thời kỳ hưng thịnh của Phật Giáo. Các triều đại đầu tiên của nền độc lập như Ngô,
Đinh, Lê đều theo đạo Phật. Các nhà sư có vai trò to lớn và quyết định trong việc gây
dựng triều Lý - nhà nước quân chủ tập quyền đầu tiên ở nước ta. Cũng từ đây, Nho
giáo được quan tâm, chú ý. Bên cạnh sự đóng góp của các nhà sư trong việc ổn định
và xây dựng đất nước thì xu hướng Nho giáo giữ vai trò ngày càng quan trọng và dần
dần thay thế Phật giáo ngày càng rõ. Năm 1070, Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ
Chu Công, Khổng Tử như là mốc ghi nhận sự tiếp nhận chính thức Nho giáo trên bình
diện cả nước.
Sang thời Lê Thánh Tông (1460-1497) Nho giáo được phát triển và cũng từ đó
về sau, Nho giáo thâm nhập vào xã hội Việt Nam ngày càng sâu đậm trên nhiều lĩnh
vực tư tưởng, thơ văn, phong tục, tập quán… qua hệ thống giáo dục, pháp luật, chính
quyền. Cho đến đầu thế kỷ 20 này, năm 1919 khoa cử Nho học bị bãi bỏ, nhưng giáo
dục Nho học ở làng quê xứ Bắc và Trung còn kéo dài đến đầu thập kỷ 40. Như vậy,
trong thời Lê Nguyễn liên tục gần 600 năm Nho học - Nho giáo không thể không thấm
vào các tầng lớp xã hội. Nó được thường xuyên tái lập và trở thành một trong những
yếu tố văn hóa truyền thống Việt Nam khá sâu đậm. Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn
8
hóa Việt Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, suốt hai triều đại Lê Nguyễn. Nho giáo Việt
Nam về cơ bản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Quốc, nhưng không còn giữ nguyên
trạng thái nguyên sơ của nó nữa mà có những biến đổi nhất định. Quá trình du nhập và
tiến tới xác lập vị trí Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam cũng là quá trình tiếp
biến văn hóa hết sức sáng tạo của người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng
nước và giữ nước, góp phần tạo nên tính đa dạng, nhưng thống nhất và độc đáo của
văn hóa Việt Nam.
4. Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống văn hoá người dân Việt Nam
* Ảnh hưởng của Nho giáo thời kỳ phong kiến.
Nho giáo đã du nhập vào Việt Nam khá lâu có ảnh hưởng sâu sắc đến truyền
thống giáo dục, tư tưởng nhân dân ta từ xưa đến nay. Nho giáo trong xã hội phong
kiến: Tư chỗ không được ưa thích trong nhân dân Việt Nam Nho giáo dần dần chiếm
giữ vị trí quan trọng trong hệ thống xã hội phong kiến, đề cao uy quyền nh à vua, xây
dựng hệ thống quan liêu từ trên xuống dưới, đảm bảo mối quan hệ giữa nh à nước và
nhân dân. Nho giáo vào Việt Nam được Việt Nam hóa, vì lợi ích bảo vệ và xây dựng
tổ quốc đã khai thác tích cực những quan điểm của Nho giáo để khẳng định giá trị
truyền thống của Dân tộc.
Ở Việt Nam Nho giáo đặt quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong “ngũ luân”.
Các nhà nho Việt Nam không “ngu trung”, họ đòi vua trước hết phải trung thành với tổ
quốc và hiếu với dân. Họ đã ủng hộ Lê Hoàn, Trần Thủ Độ, khi các ông này gạt bỏ
những vua quan bất lợi của triều đình cũ để lập lên triều đình mới. Đó là ảnh hưởng
quan điểm thuyết Chính danh của Khổng Tử khi vua không ra vua. Khi quân Minh
sang xâm lược nước ta thì Nguyễn Trãi gọi là “thằng nhãi con Tuyên Đức”. Các Nho
sĩ Việt Nam xưa kia “sôi kinh nấu sử” để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên Hạ, đó là
con đường của các nhà Nho tiến thân, cống hiến cho nước nhà, tận trung với vua, hết
lòng vì xã tắc. Các bậc vua chúa xưa nay vẫn lấy điều “lấy dân làm gốc”,” đưa thuyền
cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” (Tuân tử), vì dân lấy đạo nghĩa trên hết, chăm lo
cho dân, giáo hóa dân. Nhân nghĩa là phạm trù trung tâm đứng đầu trong “ ngũ
thường” mà Khổng Tư đã dạy làm gương soi mình cho các sĩ tư Việt nam thời trước.
Nhân nghĩa trong Khổng giáo là tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thiêng liêng của bề
tôi đối với vua, của con đối với cha, của vợ đối v ới chồng. Nguyễn Trãi đã viết: “Đem
đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân để thắng cường bạo” và quan điểm của ông cha
9
ta từ xưa đến nay đã lấy điều “Đức trị “ để trị nước, trong nếp sống hàng ngày, để đối
nhân xử thế của từng người: giữa thầy với trò, cha con, vợ chồng, anh em, nổi bật là
vấn đề “Hiếu đễ”. Đặc biệt ảnh hưởng đến nền giáo dục nước ta “Tiên học lễ, hậu học
văn”, “Thầy ra thầy, trò ra trò” đó là tư tưởng và chính danh của Khổng Tử. Hệ thống
giáo dục từ xưa là các nho sĩ học đi ra làm quan, giúp vua giúp nước. Nho giáo cũng
khẳng định sư giáo dục trong gia đình cũng có tác động mạnh mẽ.
Các kiến trúc đất, đền thờ, văn miếu thơ Khổng Tư cũng đều mang đậm nét tư
tưởng của Nho giáo. Có thể nói nho giáo ở Việt nam được sư dụng như hệ tư tưởng
chính thống. Nho giáo trở thành tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất đạo đức của con người.
* Ảnh hưởng của Nho giáo trong thời kỳ giải phóng dân tộc.
Hồ chí Minh, nhà tư tưởng văn hóa của Thế giới, con người vĩ đại của dân tộc
Việt Nam đã tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc thể hiện trong tư tưởng và nhiều
câu chuyện nho giáo của Người. Nhưng Người đã vượt qua những hạn chế của Nho
giáo ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc. Người đã sáng lập và giáo dục
Đảng ta với phương châm: “lấy dân làm gốc” làm tôn chỉ lãnh đạo nhân dân ta trong
cuộc dựng nước và giữ nước. Người cũng coi đạo đức là gốc chủ trương chọn lựa
người tài để đảm đương việc nước.
Năm 1949, trong cuốn sách Hồ Chí Minh truyện, xuất bản bằng tiếng Trung
Quốc (Bát Nguyệt thư xã xuất bản, người dịch Trương Niệm Thức), đã ghi một nhận
xét của Hồ Chí Minh: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá
nhân”.1
Hồ Chí Minh đã tiếp thu và thực hành triết lý sốngcủa các bậc đại Nho với các
nguyên tắc tu nhân, nhập thế, tự nhiệm, dĩ thân vi giáo, v.v.. Có thể dẫn ra một số thí
dụ. Hồ Chí Minh nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn
tuyên truyền”.2
Qua hai cuộc kháng chiến người đã nhắc nhở rất nhiều câu chữ của Nho giáo để
giáo dục cán bộ nhân dân về phẩm chất tư cách đạo đức, về lòng nhân đạo của con
người Việt Nam. Người mượn câu nói của Mạnh Tư để nêu lên khí phách của người
cách mạng: “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực
không thể khuất phục”. Đây cũng chính là câu nói của Mạnh Tử: “Phu quí bất năng
dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”.
1
Võ Nguyên Giáp (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh với con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
2
Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
10
Sau hai cuộc kháng chiến Nhân dân Việt Nam giành lại được độc lập và thống
nhất đất nước ta bước vào hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng mọi mặt của đất
nước theo định hướng XHCN, trên con đường tiến tới một tương lai tốt đẹp dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Chúng ta lại thường xuyên áp dụng nho giáo,
nó vẫn bám sát chúng ta, tiếp tục đem đến cho chúng ta nhiều bài học cả chính diện và
phản diện. Nho giáo nhiều lúc nêu lại điều hay y tốt như tạo thêm năng lượng cho cổ
xe cách mạng tiến lên, nhưng cũng có trường hợp nho giáo trở nên thọc gậy bánh xe.
* Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống văn hoá Việt Nam hiện nay
Hiện nay Việt Nam đang bước vào cơ chế thị trường xuất hiện nhiều xáo trộn
trong quan hệ xã hội, sinh hoạt gia đình và phẩm chất cá nhân. Thực tế cho thấy mâu
thuẫn không thể điều hòa được giữa phát triển vật chất và suy thoái tinh thần, giữa
kinh tế và đạo đức văn hóa xã hội. Để chống lại, khôi phục lại truyền thống văn hóa tốt
đẹp xưa nay của nhân dân ta, đảng ta chủ trương giáo dục con người, chiến lược con
ngưới, phát huy sáng tạo, độc lập tự chủ, chủ trương giáo dục “Tiên học lễ, hậu học
văn” là những điều cốt yếu của nền giáo dục.
Truyền thống quan hệ cha con và anh em đến nay trong gia đình Việt Nam vẫn
giữ được tư tưởng của nho giáo, là nét đẹp trong quan hệ văn hóa xã hội Việt nam.
Nho giáo đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ giữa các th ành viên trong một gia đình, trong một
dòng họ, nó kêu gọi sự yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, khuyến khích nhau giữ gìn
truyền thống của gia đình và dòng họ.
Những nghi thức ứng xử hàng ngày, những lời răn dạy của ông cha, những gia
huấn, gia giữ được lưu truyền đến các đời con cháu. Việc thờ cúng ông bà cha mẹ
trong nhà gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên trong họ, việc xây dựng nhà thờ, sửa sang
mồ mả, sưu tầm ghi chép gia phả, đều góp phần làm khăng khít hơn mối quan hệ trong
gia đình, gia tộc. Đã có nhiều biểu hiện tốt đẹp của tình người nảy sinh từ đó.
Sự giáo dục cùa Nho giáo lấy lễ làm biện pháp đã đạt được tới mức đo sâu sắc
ở chổ nó thành tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con người. Nho giáo đã huy động
được dư luận toàn thể xã hội, biết quí trọng người có lễ và khinh ghét người vô lễ và
điều này đã đi vào sâu lương tâm của con người. Vi phạm lễ trở thành điều đau khổ,
đáng sỉ nhục, thậm chí đến mức phải chết chứ không bỏ lễ.
Ảnh hưởng của nho giáo trong lịch sử phát triển xã hội, truyền thống văn hóa
của nước ta vẫn tiếp tục. Đây là một sự thật không phủ nhận được. Vấn đề “gạn đục
11
khơi trong” Nho giáo để phục vụ mục đích tích cực cho đất nước ta hiện nay trong sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa là vấn đề cần làm ngay và làm càng sớm càng tốt.
5. Giá trị và hạn chế của Nho giáo đối với đời sống văn hoá Việt Nam
* Giá trị của Nho giáo đối với đời sống văn hoá Việt Nam
Nho giáo góp phần xây dựng các triều đại phong kiến vững mạnh và bảo vệ chủ
quyền dân tộc. Công lao của Nho giáo là góp phần đào tạo tầng lớp nho sĩ Việt nam,
trong đó có nhiều nhân tài kiệt xuất như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô
Thì Nhậm... Những thể chế chính trị, lễ nghi đạo đức Nho giáo đã du nhập vào Việt
nam. Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, dòng văn minh dân gian làng xã được phổ biến và
phát triển, thể hiện ở các cuộc đua, vui chơi, hoa văn trang trí đền chùa... Các tư tưởng
đấng trượng phu, quân tử, quan hệ tam cương, tam tòng tứ đức, thủ tục ma chay, cưới
xin, các quy định về tôn ti trật tự,... ảnh hưởng rất đậm nét ở Việt nam, nhất là bắt đầu
từ đời nhà Lê, khi Nho giáo bắt đầu thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống của
chế độ phong kiến.
Nho giáo hướng con người vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo Nhân -
Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, ham học tập để phò Vua giúp nước. Nhiều ý nghĩa giá trị của
những chuẩn mực đạo đức Nho giáo đã được quần chúng nhân dân sử dụng trong nền
đạo đức của mình. Ví dụ như: “Tiên học lễ, hậu học văn” là khẩu hiệu trong các
trường học Việt nam từ xưa đến nay. Bác Hồ cũng từng sử dụng những thuật ngữ đạo
đức của Nho giáo và đã đưa vào đó những nội dung mới như: “Cần, kiệm, liêm, chính,
chí công, vô tư, trung, hiếu,...”
Tư tưởng “Trăm năm trồng người” và “Hữu giáo vô loại” (nghĩa là dạy học cho
mọi người không phân biệt đẳng cấp) của Khổng Tử đã được Đảng Cộng sản Việt nam
vận dụng trong công cuộc xây dựng đất nước. Ảnh hưởng chính của Nho giáo là thiết
lập được kỷ cương và trật tự xã hội.
Nho giáo với các tư tưởng chính trị - đạo đức như “Chính danh”, “Nhân trị”,
“Nhân chính” luôn luôn là bài học quý giá vàđược vận dụng trong suốt lịch sử Việt
nam. Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” đã viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”,
và “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn/Đem chí nhân để thay cường bạo”. Kế thừa quan
điểm đó Đảng ta thực hiện đường lối lấy dân làm gốc với khẩu hiệu: “Dân giàu, nước
mạnh” và “Chúng ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”.
12
Bác Hồ khi kế thừa các tư tưởng triết học Nho giáo đã tinh lọc, loại bỏ những tư
tưởng không phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của Việt nam lúc bấy giờ. Chẳng hạn
Khổng Tử cho rằng: “Thứ dân bất nghị” tức là dân thường không có quyền bàn việc
nước, còn Bác Hồ đề cao dân chủ. Khổng Tử coi thường vị trí, vai trò của người phụ
nữ trong xã hội thì Bác Hồ chủ trương nam nữ bình quyền.
Nho giáo góp phần xây dựng các triều đại phong kiến vững mạnh và bảo vệ chủ
quyền dân tộc. Công lao của Nho giáo là góp phần đào tạo tầng lớp nho sĩ Việt nam,
trong đó có nhiều nhân tài kiệt xuất như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô
Thì Nhậm... Những thể chế chính trị, lễ nghi đạo đức Nho giáo đã du nhập vào Việt
nam. Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, dòng văn minh dân gian làng xã được phổ biến và
phát triển, thể hiện ở các cuộc đua, vui chơi, hoa văn trang trí đền chùa... Các tư tưởng
đấng trượng phu, quân tử, quan hệ tam cương, tam tòng tứ đức, thủ tục ma chay, cưới
xin, các quy định về tôn ti trật tự,... ảnh hưởng rất đậm nét ở Việt nam, nhất là bắt đầu
từ đời nhà Lê, khi Nho giáo bắt đầu thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống của
chế độ phong kiến.
Nho giáo hướng con người vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo Nhân -
Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, ham học tập để phò Vua giúp nước. Nhiều ý nghĩa giá trị của
những chuẩn mực đạo đức Nho giáo đã được quần chúng nhân dân sử dụng trong nền
đạo đức của mình. Ví dụ như: “Tiên học lễ, hậu học văn” là khẩu hiệu trong các
trường học Việt nam từ xưa đến nay. Bác Hồ cũng từng sử dụng những thuật ngữ đạo
đức của Nho giáo và đã đưa vào đó những nội dung mới như: “Cần, kiệm, liêm, chính,
chí công, vô tư, trung, hiếu,...”
Tư tưởng “Trăm năm trồng người” và “Hữu giáo vô loại” (nghĩa là dạy học cho
mọi người không phân biệt đẳng cấp) của Khổng Tử đã được Đảng Cộng sản Việt nam
vận dụng trong công cuộc xây dựng đất nước. Ảnh hưởng chính của Nho giáo là thiết
lập được kỷ cương và trật tự xã hội.
Nho giáo với các tư tưởng chính trị - đạo đức như “Chính danh”, “Nhân trị”,
“Nhân chính” luôn luôn là bài học quý giá vàđược vận dụng trong suốt lịch sử Việt
nam. Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” đã viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”,
và “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn/Đem chí nhân để thay cường bạo”. Kế thừa quan
điểm đó Đảng ta thực hiện đường lối lấy dân làm gốc với khẩu hiệu: “Dân giàu, nước
mạnh” và “Chúng ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”.
13
Bác Hồ khi kế thừa các tư tưởng triết học Nho giáo đã tinh lọc, loại bỏ những tư
tưởng không phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của Việt nam lúc bấy giờ. Chẳng hạn
Khổng Tử cho rằng: “Thứ dân bất nghị” tức là dân thường không có quyền bàn việc
nước, còn Bác Hồ đề cao dân chủ. Khổng Tử coi thường vị trí, vai trò của người phụ
nữ trong xã hội thì Bác Hồ chủ trương nam nữ bình quyền.
Nho giáo cho rằng, gia đình chính là một cái nước nhỏ. Vì thế, nếu "một nhà
nhân hậu thì cả nước nhân hậu. Do đó, một xã hội muốn thanh bình thì trước hết cần
phải có những gia đình hòa thuận. Gia đình hòa thuận là gia đình mà mọi thành viên
luôn quan tâm đến nhau, chăm lo cho nhau. Kế thừa quan điểm này, Đại hội XIII của
Đảng khẳng định “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị
quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ hìn, phát triển hệ giá
trị gia đình Việt Nam thời kỳ mới”.3
Nho giáo cũng khuyên con người ta nên làm giàu, tạo ra của cải vật chất cho xã
hội “dân giàu, nước mạnh”. Nho giáo cũng khuyên can con người ta làm giàu chính
đáng, đừng vì mối lợi mà bất chấp tất cả.
* Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo ở Việt Nam
Nho giáo suy đến cùng là bảo thủ về mặt xã hội và duy tâm về mặt triết học. Nó
thường được sử dụng để bảo vệ, củng cố các xã hội phong kiến trong lịch sử. Nho giáo
góp phần không nhỏ trong việc duy trì quá lâu chế độ phong kiến ở á Đông nói chung
và ở Việt nam nói riêng.
Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống gia đình, các phẩm chất,
đạo đức của người phụ nữ, vẫn có những quan điểm coi thường phụ nữ, lấy tiêu chuẩn
tứ đức làm đầu “công, dung, ngôn, hạnh”. Người phụ nữ trở nên bị cương tỏa, dồn nén
trong vòng tứ đức không phát huy được hết năng lực của mình. Trong gia đình là
quyền quyết định của người cha, người chồng :”cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”; “phu
xướng phụ tòng” (chồng đề xướng, vợ phải theo). Ở cơ quan là quyền duy nhất là của
lãnh đạo. Ở đâu vẫn còn có cán bộ mang tư tưởng gia trưởng, bè phái thì ở đó quần
chúng nhân dân sẽ không phát huy được khả năng sáng tạo, chủ động được. Ngày nay,
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang rất cần những
con người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.
3
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc
gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.143.
14
Một số người do quá “trọng đức”, “duy tình” trong khi xử lý các công việc và
các mối quan hệ xã hội, dẫn đến buông lỏng kỷ cương phép nước và vi phạm pháp
luật. Coi trọng đạo đức là cần thiết nhưng vì tuyệt đối hóa vai trò của đạo đức mà quên
pháp luật là sai lầm. Tiếp thu truyền thống trọng đức của phương Đông, nhấn mạnh
quan hệ đạo đức “thân thân”, “thân hiền” của Nho giáo, nhiều người khi có chức
quyền đã kéo bè kéo cánh, đưa người thân, anh em họ hàng vào cơ quan mình đang
quản lý. Sắp xếp và bố trí cán bộ không theo năng lực, trình độ và đòi hỏi của công
việc mà dựa vào sự thân thuộc, gần gũi trong quan hệ tông tộc, dòng họ. Trong công
tác tổ chức cán bộ, vì đề cao quan hệ thân thích dẫn đến tư tưởng cục bộ địa phương.
Nhiều người vì quan hệ thân thuộc mà không dám đấu tranh với những sai lầm của
người khác. Do quan niệm sai lệch về đức Nhân Nghĩa với nội dung đền ơn trả nghĩa
mà trong thực tế một số cán bộ có thái độ ban ơn, cố tình lợi dụng kẽ hở của chính
sách và luật pháp để trục lợi, móc ngoặc, hối lộ, cửa quyền... Thậm chí, một số người
dùng tư tưởng gia trưởng để giải quyết các công việc chung. Một trong những phẩm
chất của người lãnh đạo là tính quyết đoán. Nhưng quyết đoán theo kiểu độc đoán,
chuyên quyền là biểu hiện của thói gia trưởng.
Việc coi trọng lễ và cách giáo dục con người theo lễ một cách cứng nhắc, bảo
thủ là cơ sở cho tư tưởng tôn ti, tư tưởng bè phái, cục bộ, đề cao địa vị, coi thường lớp
trẻ, trọng nam khinh nữ… hiện nay vẫn còn tồn tại trong suy nghĩ và hành động của
không ít người. Những tư tưởng trên phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội phong kiến
phụ quyền gia trưởng: Đứng đầu gia đình là người cha, người chồng gọi là gia trưởng,
đứng đầu dòng họ là trưởng họ, đại diện cho cả làng là ông lý, cả tổng là ông chánh, hệ
thống quan lại là cha mẹ dân và cao nhất là vua (thiên tử - gia trưởng của gia đình lớn -
quốc gia, nước). Vì vậy, mọi người có nghĩa vụ theo và lệ thuộc vào “gia trưởng”.
15
C. Kết luận
Nho giáo từ khi ra đời đến nay trên 2500 năm, dù có nhiều mặc tích cực và
cũng có không ít mặc tiêu cực, tuy nhiên cũng không thể chối cãi rằng Nho giáo đã
ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc đến xã hội Việt Nam, đã góp phần xây dựng một xã
hội thịnh vượng, ổn định, có trật tự, có pháp luật, một quốc gia thống nhất. Vì vậy,
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến phát huy mặt tích cực của Nho giáo nói riêng
và các tín ngưỡng, tôn giáo khác nói chung để xây dựng sức mạnh nội sinh của dân tộc
trong thời kỳ mới. Đảng ta khẳng định:“Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động
theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy
những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự
nghiệp phát triển đất nước”..4
Ngày nay cả nước bước vào thời kỳ xây dựng mọi mặt đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Trên con đường tiến tới: dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ văn minh, chúng ta lại thường xuyên sử dụng đến những vấn đề Nho
giáo. Nho giáo tuy không còn ảnh hưởng nhiều trong đời sống như trước nhưng nó vẫn
còn hiện diện và tiếp tục mang lại cho chúng ta nhiều bài học cả chính diện và phản
diện. Chúng ta cần phải biết chắc lọc, tiếp thu và phát triển những tư tưởng của nho
giáo để giải quyết những vấn đề về gia đình, về mối quan hệ cá nhân và xã hội, về
quản lý đất nước, về phát triển kinh tế, giáo dục...
4
. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị
quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.171.
16
D. Danh mục tài liệu tham khảo
1. Ban Tôn giáo Chính phủ, Thành tựu trong thực hiện chính sách, pháp luật về
tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, Hà Nội, 2021.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII,
tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021..
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
4. Nguyễn Hữu Vui, Giáo trình Lịch sử triết học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002.
5. Võ Nguyên Giáp (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh với con đường cách
mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.

More Related Content

Similar to NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN

Nguyễn ái quốc với nho giáo
Nguyễn ái quốc với nho giáoNguyễn ái quốc với nho giáo
Nguyễn ái quốc với nho giáo
Aya Lê
 
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂYTƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Lich su giao duc viet nam (nguyen thi thanh)
Lich su giao duc viet nam (nguyen thi thanh)Lich su giao duc viet nam (nguyen thi thanh)
Lich su giao duc viet nam (nguyen thi thanh)
Hiền Nhân
 
Triết học mác – lênin (hệ thống câu hỏi dáp an gợi mở & hướng dẫn viết ...
Triết học mác – lênin (hệ thống câu hỏi   dáp an gợi mở & hướng dẫn viết ...Triết học mác – lênin (hệ thống câu hỏi   dáp an gợi mở & hướng dẫn viết ...
Triết học mác – lênin (hệ thống câu hỏi dáp an gợi mở & hướng dẫn viết ...
nataliej4
 
7.2021._giao_trinh_triet_hoc_mac_-_lenin_(khong_chuyen)_1.9m.doc
7.2021._giao_trinh_triet_hoc_mac_-_lenin_(khong_chuyen)_1.9m.doc7.2021._giao_trinh_triet_hoc_mac_-_lenin_(khong_chuyen)_1.9m.doc
7.2021._giao_trinh_triet_hoc_mac_-_lenin_(khong_chuyen)_1.9m.doc
KhanhNguyn38918
 
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docxGiao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
NgcHuyn676269
 
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docxGiao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
NgcHuyn676269
 
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (không chuyên)
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (không chuyên)GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (không chuyên)
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (không chuyên)
vipthanhdat2409
 
GIAO TRINH THM-L.pdf
GIAO TRINH THM-L.pdfGIAO TRINH THM-L.pdf
GIAO TRINH THM-L.pdf
ngThch4
 
Hội đổng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học...
Hội đổng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học...Hội đổng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học...
Hội đổng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học...
Nam Cengroup
 
GIAO TRINH TRIET HOC M-L - 2021 (1).pdf
GIAO TRINH TRIET HOC M-L - 2021 (1).pdfGIAO TRINH TRIET HOC M-L - 2021 (1).pdf
GIAO TRINH TRIET HOC M-L - 2021 (1).pdf
NgnNK
 
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (Quoc gia).pdf
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (Quoc gia).pdfGIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (Quoc gia).pdf
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (Quoc gia).pdf
LngHu10
 
triết học và vai trò của triết học
triết học và vai trò của triết họctriết học và vai trò của triết học
triết học và vai trò của triết học
KhnhChiinh1
 
Tiểu luận triết học
Tiểu luận triết họcTiểu luận triết học
Tiểu luận triết học
Ngà Nguyễn
 
Phân Tích Quá Trình Triết Học Phật Giáo Du Nhập Việt Nam Và Sự Ảnh Hưởng Của ...
Phân Tích Quá Trình Triết Học Phật Giáo Du Nhập Việt Nam Và Sự Ảnh Hưởng Của ...Phân Tích Quá Trình Triết Học Phật Giáo Du Nhập Việt Nam Và Sự Ảnh Hưởng Của ...
Phân Tích Quá Trình Triết Học Phật Giáo Du Nhập Việt Nam Và Sự Ảnh Hưởng Của ...
DỊCH VỤ VIẾT ĐỀ TÀI TRỌN GÓI ZALO/ TEL: 0909.232.620
 
Đề tài: Vị trí, vai trò của giáo dục Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam
Đề tài: Vị trí, vai trò của giáo dục Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt NamĐề tài: Vị trí, vai trò của giáo dục Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam
Đề tài: Vị trí, vai trò của giáo dục Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam
Dịch vụ viết thuê Khóa Luận - ZALO 0932091562
 
Đề tài: Học thuyết đức trị của Khổng Tử và giá trị của nó đối với thời hiện đại
Đề tài: Học thuyết đức trị của Khổng Tử và giá trị của nó đối với thời hiện đạiĐề tài: Học thuyết đức trị của Khổng Tử và giá trị của nó đối với thời hiện đại
Đề tài: Học thuyết đức trị của Khổng Tử và giá trị của nó đối với thời hiện đại
Dịch vụ viết thuê Khóa Luận - ZALO 0932091562
 
Luận văn: Tư tưởng Nho, Phật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ
Luận văn: Tư tưởng Nho, Phật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn DữLuận văn: Tư tưởng Nho, Phật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ
Luận văn: Tư tưởng Nho, Phật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ
Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO 0917193864
 
Luận án: Tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Luận án: Tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh KhiêmLuận án: Tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Luận án: Tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Dịch vụ viết thuê Luận Văn - ZALO 0932091562
 

Similar to NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN (20)

Nguyễn ái quốc với nho giáo
Nguyễn ái quốc với nho giáoNguyễn ái quốc với nho giáo
Nguyễn ái quốc với nho giáo
 
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂYTƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
 
Lich su giao duc viet nam (nguyen thi thanh)
Lich su giao duc viet nam (nguyen thi thanh)Lich su giao duc viet nam (nguyen thi thanh)
Lich su giao duc viet nam (nguyen thi thanh)
 
Triết học mác – lênin (hệ thống câu hỏi dáp an gợi mở & hướng dẫn viết ...
Triết học mác – lênin (hệ thống câu hỏi   dáp an gợi mở & hướng dẫn viết ...Triết học mác – lênin (hệ thống câu hỏi   dáp an gợi mở & hướng dẫn viết ...
Triết học mác – lênin (hệ thống câu hỏi dáp an gợi mở & hướng dẫn viết ...
 
7.2021._giao_trinh_triet_hoc_mac_-_lenin_(khong_chuyen)_1.9m.doc
7.2021._giao_trinh_triet_hoc_mac_-_lenin_(khong_chuyen)_1.9m.doc7.2021._giao_trinh_triet_hoc_mac_-_lenin_(khong_chuyen)_1.9m.doc
7.2021._giao_trinh_triet_hoc_mac_-_lenin_(khong_chuyen)_1.9m.doc
 
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docxGiao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
 
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docxGiao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
Giao_trinh_Triet_hoc_Mac_Le_nin_6.2021_Khong_chuyen_LLCT_Nxb_CTQG.docx
 
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (không chuyên)
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (không chuyên)GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (không chuyên)
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (không chuyên)
 
GIAO TRINH THM-L.pdf
GIAO TRINH THM-L.pdfGIAO TRINH THM-L.pdf
GIAO TRINH THM-L.pdf
 
Hội đổng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học...
Hội đổng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học...Hội đổng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học...
Hội đổng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học...
 
GIAO TRINH TRIET HOC M-L - 2021 (1).pdf
GIAO TRINH TRIET HOC M-L - 2021 (1).pdfGIAO TRINH TRIET HOC M-L - 2021 (1).pdf
GIAO TRINH TRIET HOC M-L - 2021 (1).pdf
 
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (Quoc gia).pdf
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (Quoc gia).pdfGIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (Quoc gia).pdf
GIAO TRINH TRIET HOC MAC - LENIN (Quoc gia).pdf
 
Phat giao
Phat giaoPhat giao
Phat giao
 
triết học và vai trò của triết học
triết học và vai trò của triết họctriết học và vai trò của triết học
triết học và vai trò của triết học
 
Tiểu luận triết học
Tiểu luận triết họcTiểu luận triết học
Tiểu luận triết học
 
Phân Tích Quá Trình Triết Học Phật Giáo Du Nhập Việt Nam Và Sự Ảnh Hưởng Của ...
Phân Tích Quá Trình Triết Học Phật Giáo Du Nhập Việt Nam Và Sự Ảnh Hưởng Của ...Phân Tích Quá Trình Triết Học Phật Giáo Du Nhập Việt Nam Và Sự Ảnh Hưởng Của ...
Phân Tích Quá Trình Triết Học Phật Giáo Du Nhập Việt Nam Và Sự Ảnh Hưởng Của ...
 
Đề tài: Vị trí, vai trò của giáo dục Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam
Đề tài: Vị trí, vai trò của giáo dục Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt NamĐề tài: Vị trí, vai trò của giáo dục Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam
Đề tài: Vị trí, vai trò của giáo dục Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam
 
Đề tài: Học thuyết đức trị của Khổng Tử và giá trị của nó đối với thời hiện đại
Đề tài: Học thuyết đức trị của Khổng Tử và giá trị của nó đối với thời hiện đạiĐề tài: Học thuyết đức trị của Khổng Tử và giá trị của nó đối với thời hiện đại
Đề tài: Học thuyết đức trị của Khổng Tử và giá trị của nó đối với thời hiện đại
 
Luận văn: Tư tưởng Nho, Phật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ
Luận văn: Tư tưởng Nho, Phật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn DữLuận văn: Tư tưởng Nho, Phật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ
Luận văn: Tư tưởng Nho, Phật của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ
 
Luận án: Tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Luận án: Tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh KhiêmLuận án: Tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Luận án: Tư tưởng dung thông Nho, Phật, Đạo của Nguyễn Bỉnh Khiêm
 

More from lamluanvan.net Viết thuê luận văn

XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC - CỤC ...
XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC - CỤC ...XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC - CỤC ...
XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC - CỤC ...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Work Placement Portfolio Booklet for CHC33015 CIII Individual Support (Ageing)
Work Placement Portfolio Booklet for CHC33015 CIII Individual Support (Ageing)Work Placement Portfolio Booklet for CHC33015 CIII Individual Support (Ageing)
Work Placement Portfolio Booklet for CHC33015 CIII Individual Support (Ageing)
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ...
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ...VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ...
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN, NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN VÀ NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ - ...
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN, NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN VÀ NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ - ...VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN, NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN VÀ NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ - ...
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN, NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN VÀ NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ - ...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
CHỦ ĐỀ: VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
CHỦ ĐỀ: VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦCHỦ ĐỀ: VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
CHỦ ĐỀ: VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc
Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốcVai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc
Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý công với thế giới và...
Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý công với thế giới và...Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý công với thế giới và...
Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý công với thế giới và...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
ỨNG DỤNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CỦA DƯỢC SĨ
ỨNG DỤNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CỦA DƯỢC SĨỨNG DỤNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CỦA DƯỢC SĨ
ỨNG DỤNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CỦA DƯỢC SĨ
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Trường hợp khủng hoảng Ukraine dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực – Triển ...
Trường hợp khủng hoảng Ukraine dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực – Triển ...Trường hợp khủng hoảng Ukraine dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực – Triển ...
Trường hợp khủng hoảng Ukraine dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực – Triển ...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Trình bày những hiểu biết của mình về một phương pháp quản lý công và khả năn...
Trình bày những hiểu biết của mình về một phương pháp quản lý công và khả năn...Trình bày những hiểu biết của mình về một phương pháp quản lý công và khả năn...
Trình bày những hiểu biết của mình về một phương pháp quản lý công và khả năn...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Thuế thu nhập doanh nghiệp và những vấn đề bất cập hiện nay
Thuế thu nhập doanh nghiệp và những vấn đề bất cập hiện nayThuế thu nhập doanh nghiệp và những vấn đề bất cập hiện nay
Thuế thu nhập doanh nghiệp và những vấn đề bất cập hiện nay
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Vận dụng tri thức thi pháp vào phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài)
Vận dụng tri thức thi pháp vào phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài)Vận dụng tri thức thi pháp vào phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài)
Vận dụng tri thức thi pháp vào phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài)
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Từ thách thức quan niệm khuôn mẫu đến khuyến khích lòng tự tôn
Từ thách thức quan niệm khuôn mẫu đến khuyến khích lòng tự tônTừ thách thức quan niệm khuôn mẫu đến khuyến khích lòng tự tôn
Từ thách thức quan niệm khuôn mẫu đến khuyến khích lòng tự tôn
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Tuyển dụng nhân lực ngành ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá kin...
Tuyển dụng nhân lực ngành ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá kin...Tuyển dụng nhân lực ngành ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá kin...
Tuyển dụng nhân lực ngành ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá kin...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
TIỂU THUYẾT DẰNG DẶC TRIỀN SÔNG MƯA CỦA ĐỖ PHẤN
TIỂU THUYẾT DẰNG DẶC TRIỀN SÔNG MƯA CỦA ĐỖ PHẤNTIỂU THUYẾT DẰNG DẶC TRIỀN SÔNG MƯA CỦA ĐỖ PHẤN
TIỂU THUYẾT DẰNG DẶC TRIỀN SÔNG MƯA CỦA ĐỖ PHẤN
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ NGÀNH LUẬT
TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ  NGÀNH LUẬTTIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ  NGÀNH LUẬT
TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ NGÀNH LUẬT
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
TIỂU LUẬN VĂN HÓA TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
TIỂU LUẬN VĂN HÓA TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦTIỂU LUẬN VĂN HÓA TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
TIỂU LUẬN VĂN HÓA TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
Phân tích thách thức mà anh/chị cho là lớn nhất đối với công tác quản trị nhâ...
Phân tích thách thức mà anh/chị cho là lớn nhất đối với công tác quản trị nhâ...Phân tích thách thức mà anh/chị cho là lớn nhất đối với công tác quản trị nhâ...
Phân tích thách thức mà anh/chị cho là lớn nhất đối với công tác quản trị nhâ...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 

More from lamluanvan.net Viết thuê luận văn (20)

XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC - CỤC ...
XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC - CỤC ...XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC - CỤC ...
XỬ LÝ MỘT TÌNH HUỐNG KỶ LUẬT CÔNG CHỨC VI PHẠM QUY ĐỊNH TẠI PHÒNG DTPC - CỤC ...
 
Work Placement Portfolio Booklet for CHC33015 CIII Individual Support (Ageing)
Work Placement Portfolio Booklet for CHC33015 CIII Individual Support (Ageing)Work Placement Portfolio Booklet for CHC33015 CIII Individual Support (Ageing)
Work Placement Portfolio Booklet for CHC33015 CIII Individual Support (Ageing)
 
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
Vận dụng thi pháp học vào phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ...
 
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
 
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ...
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ...VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ...
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC TIẾNG ...
 
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN, NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN VÀ NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ - ...
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN, NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN VÀ NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ - ...VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN, NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN VÀ NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ - ...
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC TOÀN DIỆN, NGUYÊN TẮC PHÁT TRIỂN VÀ NGUYÊN TẮC LỊCH SỬ - ...
 
CHỦ ĐỀ: VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
CHỦ ĐỀ: VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦCHỦ ĐỀ: VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
CHỦ ĐỀ: VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
 
Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc
Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốcVai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc
Vai trò của EBM đối với người dược sĩ trong sử dụng thuốc
 
Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý công với thế giới và...
Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý công với thế giới và...Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý công với thế giới và...
Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong quản lý công với thế giới và...
 
ỨNG DỤNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CỦA DƯỢC SĨ
ỨNG DỤNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CỦA DƯỢC SĨỨNG DỤNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CỦA DƯỢC SĨ
ỨNG DỤNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP TRONG HOẠT ĐỘNG NGHỀ CỦA DƯỢC SĨ
 
Trường hợp khủng hoảng Ukraine dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực – Triển ...
Trường hợp khủng hoảng Ukraine dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực – Triển ...Trường hợp khủng hoảng Ukraine dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực – Triển ...
Trường hợp khủng hoảng Ukraine dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực – Triển ...
 
Trình bày những hiểu biết của mình về một phương pháp quản lý công và khả năn...
Trình bày những hiểu biết của mình về một phương pháp quản lý công và khả năn...Trình bày những hiểu biết của mình về một phương pháp quản lý công và khả năn...
Trình bày những hiểu biết của mình về một phương pháp quản lý công và khả năn...
 
Thuế thu nhập doanh nghiệp và những vấn đề bất cập hiện nay
Thuế thu nhập doanh nghiệp và những vấn đề bất cập hiện nayThuế thu nhập doanh nghiệp và những vấn đề bất cập hiện nay
Thuế thu nhập doanh nghiệp và những vấn đề bất cập hiện nay
 
Vận dụng tri thức thi pháp vào phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài)
Vận dụng tri thức thi pháp vào phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài)Vận dụng tri thức thi pháp vào phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài)
Vận dụng tri thức thi pháp vào phân tích truyện ngắn Vợ chồng A phủ (Tô Hoài)
 
Từ thách thức quan niệm khuôn mẫu đến khuyến khích lòng tự tôn
Từ thách thức quan niệm khuôn mẫu đến khuyến khích lòng tự tônTừ thách thức quan niệm khuôn mẫu đến khuyến khích lòng tự tôn
Từ thách thức quan niệm khuôn mẫu đến khuyến khích lòng tự tôn
 
Tuyển dụng nhân lực ngành ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá kin...
Tuyển dụng nhân lực ngành ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá kin...Tuyển dụng nhân lực ngành ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá kin...
Tuyển dụng nhân lực ngành ngân hàng nhằm đáp ứng yêu cầu của toàn cầu hoá kin...
 
TIỂU THUYẾT DẰNG DẶC TRIỀN SÔNG MƯA CỦA ĐỖ PHẤN
TIỂU THUYẾT DẰNG DẶC TRIỀN SÔNG MƯA CỦA ĐỖ PHẤNTIỂU THUYẾT DẰNG DẶC TRIỀN SÔNG MƯA CỦA ĐỖ PHẤN
TIỂU THUYẾT DẰNG DẶC TRIỀN SÔNG MƯA CỦA ĐỖ PHẤN
 
TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ NGÀNH LUẬT
TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ  NGÀNH LUẬTTIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ  NGÀNH LUẬT
TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ NGÀNH LUẬT
 
TIỂU LUẬN VĂN HÓA TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
TIỂU LUẬN VĂN HÓA TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦTIỂU LUẬN VĂN HÓA TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
TIỂU LUẬN VĂN HÓA TÌM HIỂU TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TỨ PHỦ
 
Phân tích thách thức mà anh/chị cho là lớn nhất đối với công tác quản trị nhâ...
Phân tích thách thức mà anh/chị cho là lớn nhất đối với công tác quản trị nhâ...Phân tích thách thức mà anh/chị cho là lớn nhất đối với công tác quản trị nhâ...
Phân tích thách thức mà anh/chị cho là lớn nhất đối với công tác quản trị nhâ...
 

Recently uploaded

QUANG HỌC- KHTN 9- LĂNG KÍNH- ỨNG DỤNG CỦA LK
QUANG HỌC- KHTN 9- LĂNG KÍNH- ỨNG DỤNG CỦA LKQUANG HỌC- KHTN 9- LĂNG KÍNH- ỨNG DỤNG CỦA LK
QUANG HỌC- KHTN 9- LĂNG KÍNH- ỨNG DỤNG CỦA LK
PHMCHCNG3
 
16 CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - P...
16 CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - P...16 CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - P...
16 CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - P...
Nguyen Thanh Tu Collection
 
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 9 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - PHẦN...
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 9 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - PHẦN...CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 9 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - PHẦN...
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 9 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - PHẦN...
Nguyen Thanh Tu Collection
 
06-Truyện cổ dân gian trong diễn ngôn Phật giáo.pdf
06-Truyện cổ dân gian trong diễn ngôn Phật giáo.pdf06-Truyện cổ dân gian trong diễn ngôn Phật giáo.pdf
06-Truyện cổ dân gian trong diễn ngôn Phật giáo.pdf
HngChuNguyn6
 
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
Nguyen Thanh Tu Collection
 
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
Luận Văn Uy Tín
 
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdfThông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
QucHHunhnh
 
Thanh Loan - Giải để READING trong bộ IELTS Cambridge 07-09 (Academic) (2022,...
Thanh Loan - Giải để READING trong bộ IELTS Cambridge 07-09 (Academic) (2022,...Thanh Loan - Giải để READING trong bộ IELTS Cambridge 07-09 (Academic) (2022,...
Thanh Loan - Giải để READING trong bộ IELTS Cambridge 07-09 (Academic) (2022,...
ssuserb8b74b
 
DHPY De an 394 Tuyen sinh nam 2024 cua Truong DH Phu Yen.pdf
DHPY De an 394 Tuyen sinh nam 2024 cua Truong DH Phu Yen.pdfDHPY De an 394 Tuyen sinh nam 2024 cua Truong DH Phu Yen.pdf
DHPY De an 394 Tuyen sinh nam 2024 cua Truong DH Phu Yen.pdf
thanhluan21
 
ĐỂ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CUỐI KỲ
ĐỂ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CUỐI KỲĐỂ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CUỐI KỲ
ĐỂ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CUỐI KỲ
2156160160
 
TAI LIEU CAC CHUYEN DE GUI DI DUYEN HAI VAT LI.pdf
TAI LIEU CAC CHUYEN DE GUI DI DUYEN HAI VAT LI.pdfTAI LIEU CAC CHUYEN DE GUI DI DUYEN HAI VAT LI.pdf
TAI LIEU CAC CHUYEN DE GUI DI DUYEN HAI VAT LI.pdf
NBNguynThnhLong
 
[Hebemart.vn] Phương pháp giáo dục con của người Do Thái.pdf
[Hebemart.vn] Phương pháp giáo dục con của người Do Thái.pdf[Hebemart.vn] Phương pháp giáo dục con của người Do Thái.pdf
[Hebemart.vn] Phương pháp giáo dục con của người Do Thái.pdf
Hebemart Official
 
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN TOÁN LỚP 6, 7 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2023 CÓ LỜI ...
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN TOÁN LỚP 6, 7 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2023 CÓ LỜI ...ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN TOÁN LỚP 6, 7 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2023 CÓ LỜI ...
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN TOÁN LỚP 6, 7 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2023 CÓ LỜI ...
Nguyen Thanh Tu Collection
 
Buổi 1. GIỚI THIỆU MODULE-CẤU TRÚC TKTW.ppsx
Buổi 1. GIỚI THIỆU MODULE-CẤU TRÚC TKTW.ppsxBuổi 1. GIỚI THIỆU MODULE-CẤU TRÚC TKTW.ppsx
Buổi 1. GIỚI THIỆU MODULE-CẤU TRÚC TKTW.ppsx
drdoantam
 
68 ĐỀ CHÍNH THỨC TUYỂN SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN NĂM HỌC 2024-2025 MÔN T...
68 ĐỀ CHÍNH THỨC TUYỂN SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN NĂM HỌC 2024-2025 MÔN T...68 ĐỀ CHÍNH THỨC TUYỂN SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN NĂM HỌC 2024-2025 MÔN T...
68 ĐỀ CHÍNH THỨC TUYỂN SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN NĂM HỌC 2024-2025 MÔN T...
Nguyen Thanh Tu Collection
 
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdfThông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
QucHHunhnh
 

Recently uploaded (16)

QUANG HỌC- KHTN 9- LĂNG KÍNH- ỨNG DỤNG CỦA LK
QUANG HỌC- KHTN 9- LĂNG KÍNH- ỨNG DỤNG CỦA LKQUANG HỌC- KHTN 9- LĂNG KÍNH- ỨNG DỤNG CỦA LK
QUANG HỌC- KHTN 9- LĂNG KÍNH- ỨNG DỤNG CỦA LK
 
16 CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - P...
16 CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - P...16 CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - P...
16 CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 8 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - P...
 
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 9 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - PHẦN...
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 9 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - PHẦN...CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 9 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - PHẦN...
CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI KHOA HỌC TỰ NHIÊN 9 CHƯƠNG TRÌNH MỚI - PHẦN...
 
06-Truyện cổ dân gian trong diễn ngôn Phật giáo.pdf
06-Truyện cổ dân gian trong diễn ngôn Phật giáo.pdf06-Truyện cổ dân gian trong diễn ngôn Phật giáo.pdf
06-Truyện cổ dân gian trong diễn ngôn Phật giáo.pdf
 
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
 
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
 
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdfThông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
 
Thanh Loan - Giải để READING trong bộ IELTS Cambridge 07-09 (Academic) (2022,...
Thanh Loan - Giải để READING trong bộ IELTS Cambridge 07-09 (Academic) (2022,...Thanh Loan - Giải để READING trong bộ IELTS Cambridge 07-09 (Academic) (2022,...
Thanh Loan - Giải để READING trong bộ IELTS Cambridge 07-09 (Academic) (2022,...
 
DHPY De an 394 Tuyen sinh nam 2024 cua Truong DH Phu Yen.pdf
DHPY De an 394 Tuyen sinh nam 2024 cua Truong DH Phu Yen.pdfDHPY De an 394 Tuyen sinh nam 2024 cua Truong DH Phu Yen.pdf
DHPY De an 394 Tuyen sinh nam 2024 cua Truong DH Phu Yen.pdf
 
ĐỂ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CUỐI KỲ
ĐỂ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CUỐI KỲĐỂ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CUỐI KỲ
ĐỂ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN LỊCH SỬ ĐẢNG CUỐI KỲ
 
TAI LIEU CAC CHUYEN DE GUI DI DUYEN HAI VAT LI.pdf
TAI LIEU CAC CHUYEN DE GUI DI DUYEN HAI VAT LI.pdfTAI LIEU CAC CHUYEN DE GUI DI DUYEN HAI VAT LI.pdf
TAI LIEU CAC CHUYEN DE GUI DI DUYEN HAI VAT LI.pdf
 
[Hebemart.vn] Phương pháp giáo dục con của người Do Thái.pdf
[Hebemart.vn] Phương pháp giáo dục con của người Do Thái.pdf[Hebemart.vn] Phương pháp giáo dục con của người Do Thái.pdf
[Hebemart.vn] Phương pháp giáo dục con của người Do Thái.pdf
 
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN TOÁN LỚP 6, 7 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2023 CÓ LỜI ...
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN TOÁN LỚP 6, 7 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2023 CÓ LỜI ...ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN TOÁN LỚP 6, 7 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2023 CÓ LỜI ...
ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI MÔN TOÁN LỚP 6, 7 THEO CHƯƠNG TRÌNH MỚI NĂM 2023 CÓ LỜI ...
 
Buổi 1. GIỚI THIỆU MODULE-CẤU TRÚC TKTW.ppsx
Buổi 1. GIỚI THIỆU MODULE-CẤU TRÚC TKTW.ppsxBuổi 1. GIỚI THIỆU MODULE-CẤU TRÚC TKTW.ppsx
Buổi 1. GIỚI THIỆU MODULE-CẤU TRÚC TKTW.ppsx
 
68 ĐỀ CHÍNH THỨC TUYỂN SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN NĂM HỌC 2024-2025 MÔN T...
68 ĐỀ CHÍNH THỨC TUYỂN SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN NĂM HỌC 2024-2025 MÔN T...68 ĐỀ CHÍNH THỨC TUYỂN SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN NĂM HỌC 2024-2025 MÔN T...
68 ĐỀ CHÍNH THỨC TUYỂN SINH LỚP 10 TRƯỜNG THPT CHUYÊN NĂM HỌC 2024-2025 MÔN T...
 
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdfThông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
 

NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN

  • 1. Luận Văn Group hỗ trợ viết luận văn thạc sĩ,chuyên đề,khóa luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập, Assignment, Essay Zalo/Sdt 0967 538 624/ 0886 091 915 Website:lamluanvan.net TRƯỜNG…………………………………………… KHOA………………….. TIỂU LUẬN NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN Ở VIỆT NAM Họ và tên: Lớp: Mã SV;
  • 2. Luận Văn Group hỗ trợ viết luận văn thạc sĩ,chuyên đề,khóa luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập, Assignment, Essay Zalo/Sdt 0967 538 624/ 0886 091 915 Website:lamluanvan.net HÀ NỘI – 2024
  • 3. Luận Văn Group hỗ trợ viết luận văn thạc sĩ,chuyên đề,khóa luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập, Assignment, Essay Zalo/Sdt 0967 538 624/ 0886 091 915 Website:lamluanvan.net MỤC LỤC Trang A. Mở đầu 1 B. Nội dung 2 1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo 2 2. Một số nội dung chính của Nho giáo 3 3. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Nho giáo ở Việt Nam 6 4. Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống văn hoá người dân Việt Nam 8 5. Giá trị và hạn chế của Nho giáo đối với đời sống văn hoá Việt Nam 11 C. Kết luận 15 D. Tài liệu tham khảo 16
  • 4. Luận Văn Group hỗ trợ viết luận văn thạc sĩ,chuyên đề,khóa luận tốt nghiệp, báo cáo thực tập, Assignment, Essay Zalo/Sdt 0967 538 624/ 0886 091 915 Website:lamluanvan.net
  • 5. 1 A. Mở đầu Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm trên thế giới và có thể xem là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại. Bên cạnh những phát minh về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học, có ảnh hưởng lớn đến nền văn minh châu Á và thế giới Trong số các học thuyết triết học đó phải kể đến trường phái triết học Nho giáo. Nho giáo xuất hiện rất sớm, lúc đầu nó chỉ là những tư tưởng hoặc trí thức chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị nước. Nét đặc thù của triết học Nho giáo là đi sâu giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị - đạo đức của xã hội với nội dung bao trùm là vấn đề con người, xây dựng con người, xã hội lý tưởng và con đường trị nước, thông qua đức trị. Nho giáo được du nhập vào nước ta từ những năm cuối trước công nguyên chủ yếu theo “gót giày” quân xâm lược phương Bắc. Ngay từ khi Nho giáo xâm nhập vào Việt Nam, nó đã thích nghi và phát triển mạnh mẽ, nó có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Việt Nam. Là một học thuyết chính trị, đạo đức, xã hội lấy con người làm trọng tâm, Nho giáo đã đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước phong kiến Việt Nam qua nhiều thế kỷ (từ giữa thế kỷ XV về sau). Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã làm cho Nho giáo ở Việt Nam mất đi tư cách là học thuyết thống trị xã hội, cùng với sự sụp đổ của chế độ phong kiến Việt Nam, Nho giáo không còn giữ vai trò nền tảng chi phối toàn bộ đời sống tinh thần. Từ đó, có những nơi, những lúc người ta đã phủ nhận sạch trơn vai trò của Nho giáo đối với dân tộc ta và muốn nhanh chóng xóa bỏ nó hoàn toàn bởi những hệ quả tiêu cực mà nó mang lại trong xã hội cũ như đầu óc gia trưởng, tư tưởng trọng nam khinh nữ, bệnh gia đình chủ nghĩa... Tuy nhiên, trong xã hội Việt Nam hiện đại, những dư âm của Nho giáo vẫn hiện hữu trong các quan hệ xã hội, trong ứng xử giữa người với người, trong phong tục, tập quán, trong nghi thức thờ cúng, trong những tín ngưỡng cổ truyền và vô vàn những lát cắt khác nhau của đời sống.
  • 6. 2 B. Nội dung 1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Nho giáo * Lịch sử hình thành Nho giáo Nho giáo là một giáo lý đạo đức cơ bản xuất xứ ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5 và 6 TCN. Dựa trên những cơ cấu và sự tu tập nó đã phổ biến lâu đời trong xã hội Trung Quốc, chẳng hạn hệ thống gia tộc và sự thờ cúng ông bà, tổ tiên của nó, Khổng giáo đã trở thành hệ thống tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất Trung Quốc, cùng tồn tại với Lão giáo (đạo) và Phật giáo qua nhiều thế kỷ. Người sáng lập ra nó đức Khổng Phu Tử (551-479 trước CN) một nhà cải cách chính trị cũng là một nhà giáo dục, ngài bất mãn với sự suy đồi đạo đức trong thời đại của mình và tìm cách khôi phục lại những giá trị mà ngài cho là những phong tục tốt đẹp của thời đại Hoàng Kim. Những tư tưởng triết lý, đạo lý và tín ngưỡng đặt nền tảng cho một hệ thống đạo đức đã tồn tại qua nhiều thời gian thử thách. Trải qua hơn hai nghìn năm, tư tưởng nho giáo ảnh hưởng đối với Trung Quốc không chỉ về chính trị, văn hóa mà còn thể hiện trong hành vi và phương thức tư duy của mỗi con người Trung Quốc. Có học giả còn xem nho giáo là tư tưởng tôn giáo của Trung Quốc. Trong thực tế, nho giáo là một trong rất nhiều trường phái thời cổ Trung Quốc, nó là tư tưởng triết học chứ không phải là tôn giáo và được coi là tư tưởng chính thống trong xã hội phong kiến hơn hai nghìn năm ở Trung Quốc và có ảnh hưởng tới một số nước ở Châu Á . * Các giai đoạn phát triển của nho giáo: Nho giáo nguyên thủy (Nho giáo Khổng - Mạnh): Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của - Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay “tư tưởng Khổng-Mạnh”. Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia. Nho gia mang tính học thuật,
  • 7. 3 nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo. Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. Hán Nho: Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị”. Tống Nho: Đến đời Tống, Đại Học, Trung Dung được tách ra khỏi Lễ Ký và cùng với Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Tứ thư và ngũ kinh là kinh điển nho giáo. Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hy (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở Việt Nam, thế kỷ thứ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là “Trạng Trình”). Phương Tây gọi Tống nho là "Tân Khổng giáo". Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị). 2. Một số nội dung chính của Nho giáo Tư tưởng trung tâm của Nho giáo là những vấn đề về chính trị, đạo đức của con người và xã hội. Thứ nhất, quan điểm về bản chất con người. Nho giáo đặt vấn đề đi tìm một bản tính có sẵn và bất biến của con người. Đức Khổng Tử và Mạnh Tử đều quan niệm bản tính con người ta sinh ra vốn thiện. Bản tính “Thiện” ở đây là tập hợp các giá trị chính trị, đạo đức của con người. Xuất phát từ quan niệm cho rằng bản tính của con người là thiện, Khổng Tử đã xây dựng phạm trù “Nhân” với tư cách là phạm trù trung tâm trong triết học của ông. Theo ông, một triều đại muốn thái bình thịnh trị thì người cầm quyền phải có đức Nhân, một xã hội muốn hoà mục thì phải có nhiều người theo về điều Nhân. Chữ Nhân được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản quy định bản tính con người và những quan hệ giữa người với người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội.. . Nếu Khổng Tử cho rằng chữ Nhân là cái gốc đạo đức của con người, thì theo ông, để trở thành một con người hoàn thiện, một điều kiện tất yếu khác là phải “hiểu
  • 8. 4 biết mệnh trời” để sống “thuận mệnh”. Ông viết: “Không biết mệnh trời thì không lấy gì làm quân tử”, nhưng ông kêu gọi mọi người trước hết phải tìm sức mạnh vươn lên ở trong chính bản thân mỗi người, đừng trông chờ vào trời đất quỷ thần: “Đạo người chưa biết thì làm sao biết được đạo quỷ thần”. Con người phải chú trọng vào sự nỗ lực học tập, làm việc tận tâm, tận lực, còn việc thành bại như thế nào, lúc đó mới tại ý trời. Tuy nhiên trong triết học Nho giáo, nếu Khổng Tử và Mạnh Tử cho rằng con người vốn có bản tính thiện thì Tuân Tử đưa ra lý luận bản tính con người là ác: “Tính người là ác, thiện là do người làm ra”; nhưng trong quan điểm sai lầm đó cũng có nhân tố hợp lý như: hành vi đạo đức của con người là do thói quen mà thành, phẩm chất con người là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội và kết quả của sự học tập, giáo dục lâu ngày mà nên, từ đó ông cho rằng có thể giáo dục, cải hoá con người từ ác thành thiện được. Nếu ra sức tu dưỡng đạo đức thì bất cứ người nào cũng đều có thể đạt được địa vị “người quân tử”. Tuân Tử đề cao khả năng và vai trò của con người. Ông khẳng định trời không thể quyết định được vận mệnh của con người. Ông cho rằng con người không thể chờ đợi tự nhiên ban phát một cách bị động mà phải vận dụng tài trí, khả năng của mình, dựa vào quy luật của tự nhiên mà sáng tạo ra những của cải, sản vật để phục vụ cho đời sống con người. Thứ hai, quan điểm về xã hội học Nho giáo đứng trên quan điểm duy tâm để giải quyết những vấn đề xã hội bởi vì khi giải quyết những vấn đề xã hội. Nho giáo khái quát những quan hệ chính trị - đạo đức ấy vào ba mối quan hệ rường cột, gọi là tam cương, bao gồm: Quan hệ vua - tôi; quan hệ cha - con và quan hệ chồng - vợ. Quan hệ thứ nhất thuộc quan hệ quốc gia, còn hai quan hệ sau thuộc quan hệ gia đình. Điều này nói lên rằng trong quan niệm về xã hội, Nho giáo đặc biệt quan tâm tới những quan hệ nền tảng của xã hội là quan hệ gia đình. Quan hệ gia đình ở đây mang tính chất tông tộc, dòng họ. Xã hội trị hay loạn trước hết thể hiện ở chỗ có giữ vững được ba quan hệ ấy hay không. Thứ ba, quan điểm về giáo dục Trước hết, Nho giáo có nêu quan điểm về một xã hội lý tưởng. Lý tưởng cao nhất của đức Khổng Tử cũng như các tác giả sau này của Nho giáo là xây dựng một xã hội “Đại đồng”. Khái niệm xã hội đại đồng của Nho giáo không phải là một xã hội đặt
  • 9. 5 trên nền tảng của một nền sản xuất phát triển cao mà là một xã hội “an hoà”, trong đó sự hoà được đặt trên nền tảng của sự công bằng xã hội. Để thực hiện xã hội lý tưởng, xã hội đại đồng, xã hội an hoà trên, Nho giáo không đặt vấn đề về một cuộc cách mạng, không cầu cứu ở bạo lực, mà tìm cứu cánh ở một nền giáo dục. Đức Khổng Tử là người đầu tiên lập ra trường tư, mở giáo dục ra toàn dân. Có giáo dục và tự giáo dục thì mỗi người mới biết phận vị của mình mà nhìn nhận hành động trong cuộc sống cho đúng. Nội dung của giáo dục Nho giáo, giáo dục và tự giáo dục, hướng vào việc giáo dục những chuẩn mực chính trị – đạo đức đã hình thành từ ngàn xưa, được nêu gương sáng trong cổ sử mà thôi nên cách dạy của Nho giáo là chỉ dạy làm người nói chung, không hề đề cập đến khoa học, kinh tế, nghề nghiệp, tức không hướng vào phương diện kỹ nghệ và kinh tế. Thừa thời gian mới học đến lục nghề. Đây là một nền giáo dục thiên lệch. Thứ tư, quan điểm về quản lý xã hội (trị quốc). Để theo đuổi mục tiêu lý tưởng xây dựng xã hội đại đồng, Nho giáo nêu nguyên tắc quản lý xã hội như sau: Nguyên tắc 1: Thực hiện nguyên tắc tập quyền cao độ (Chế độ quân chủ trung ương tập quyền cao độ). Trong phạm vi quốc gia, toàn bộ quyền lực tập trung vào một người là Hoàng đế. Nguyên tắc 2: Thực hiện “chính danh” trong quản lý xã hội. “Chính danh” nghĩa là mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng cương vị, địa vị của mình: vua phải ra đạo vua, tôi phải ra đạo tôi, cha phải ra đạo cha, con phải ra đạo con, chồng phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ… Nếu như mọi người không chính danh thì xã hội ắt trở nên loạn lạc. Không thể có một xã hội trị bình mà nguyên tắc chính danh bị vi phạm. Trong Nho giáo, Khổng Tử đặc biệt đề cao giữa danh và thực. Thực do học, tài và phận quy định. Nguyên tắc 3: Thực hiện Văn trị - Lễ trị - Nhân trị. Đây là nguyên tắc có tính chất đường lối căn bản của Nho giáo (Văn trị: Đề cao trị bằng hiểu biết. Tạo ra vẻ đẹp của một nền chính trị để mọi người tự giác tuân theo. Lễ trị: Dùng tổ chức, thiết chế xã hội để trị quốc. Đề cao nghi lễ giao tiếp trong trị quốc. Nhân trị: Trị quốc bằng lòng nhân ái, mở rộng ân trạch của hoàng cung tới bốn phương).
  • 10. 6 Khổng Tử cho rằng trị quốc là việc rất khó, nhưng cũng rất dễ làm nếu đức Minh quân biết sử dụng ba loại người: Cả quyết can đảm, Minh đản (trí thức) và Nghệ tinh. Nhà vua muốn trị vì đất nước và muốn có đức nhân phải biết dùng người và thực hiện ba điều: Kính sự: Chăm lo đến việc công; Như tín: Giữ lòng tin với dân; Tiết dụng: Tiết kiệm tiêu dùng. Ngược lại, dân và bề tôi đối với vua phải như đối với cha mẹ mình, phải tỏ lòng trung của mình đối với vua. Tiếp tục thuyết ” Nhân trị” của Khổng Tử, Mạnh Tử đề ra tư tưởng ” Nhân chính”. Theo Mạnh Tử, việc chăm dân, trị nước là vì nhân nghĩa, chứ không phải vì lợi và Mạnh Tử chủ trương một chế độ “bảo dân”, trong đó người trị vì phải lo cái lo cho dân, vui cái vui của dân, tạo cho dân có sản nghiệp riêng và cuộc sống bình yên, no đủ, như thế dân không bao giờ bỏ vua. Đồng thời ông cũng khuyên các bậc vua chúa phải giữ mình khiêm cung, tiết kiệm, gia huệ cho dân, thu thuế của dân có chừng mực. Đặc biệt Mạnh Tử có quan điểm hết sức mới mẻ và sâu sắc về nhân quyền. Ông nói: “Dân vi quý, quân vi khinh, xã tắc thứ vi”, vì theo ông, có dân mới có nước, có nước mới có vua. Thậm chí ông cho rằng dân có khi còn quan trọng hơn vua. Kẻ thống trị nếu không được dân ủng hộ thì chính quyền sớm muộn cũng sẽ phải sụp đổ, nếu vua tàn ác, không hợp với lòng dân và ý trời thì sẽ có thể bị truất phế. Nguyên tắc 4: Đề cao nguyên lý công bằng xã hội. Đức Khổng Tử đã nói: “Không lo thiếu mà lo không đều, Không lo nghèo mà lo dân không yên”. Sự không công bằng là đầu mối của loạn xã hội. 3. Khái quát quá trình hình thành, phát triển của Nho giáo ở Việt Nam Hoàn cảnh du nhập của Nho học ở Việt Nam có khác với nước khác. Nếu với Nhật Bản thì sự du nhập là gián tiếp, từ Triều Tiên truyền sang và sau đó là sự tiếp thu trực tiếp, các lưu học sinh Nhật Bản sang Trung Quốc học Nho học và truyền bá lúc đầu mang tính áp đặt. Người Hán xâm lược Việt Nam, đưa Nho học vào để tăng cường sự thống trị. Vì vậy, thái độ đầu tiên của người Việt Nam là phản ứng, chống lại. Thái độ trên có sự chuyển biến là mãi về sau, khi nền kinh tế xã hội Việt Nam có nét giống với nền kinh tế - xã hội phong kiến Trung Quốc, khi người Việt Nam có sự quen thuộc ít nhiều với Nho học. Thái độ đối với Nho học của người Việt Nam có bước ngoặc là khi người Việt Nam giành được độc lập dân tộc từ tay người Hán ở thế kỷ X, lúc này, người ta thấy ở học thuyết này là một lý luận và một nghệ thuật của đạo trị nước, cần thiết phải nắm
  • 11. 7 lấy để xây dựng đất nước mình. Các triều đại phong kiến Việt Nam tự mình thấy phải du nhập và phát triển Nho học. Các vua của triều Lý Việt Nam ở thế kỷ XI đã xây dựng văn miếu để tế lễ Khổng Tử và các tiên hiền nhà Nho, đã mở trường Quốc Tử Giám cho con hoàng tộc và con cái các nhà quyền quý vào học tập Nho học, đã tổ chức ra các kỳ thi Nho học để chọn ra các nhân tài kiểu nhà Nho. Khi nói đến vấn đề du nhập Nho học vào Việt Nam, nhiều người chỉ thấy hoạt động đó ở giai đoạn đầu, giai đoạn đầu Bắc thuộc. Thực ra sự du nhập đó diễn ra nhiều lần và ở nhiều thời điểm lịch sử khác nhau. Ngoài sự diễn ra ở đầu công nguyên, Nho học còn được tiếp tục truyền vào Việt Nam ở các giai đoạn sau. Có thể nói, thời nào cũng có hiện tượng du nhập, giai đoạn nào của Nho học Trung Quốc cũng muốn truyền sang Việt Nam. Thời Bắc thuộc là Hán Nho, thời Đinh, Lê, Lý, Trần, là Đường Nho, thời Lê Sơ là Tống Nho, thời Lê Mạt và Nguyễn là Thanh Nho. Việt Nam và Trung Quốc là hai quốc gia liền nhau, việc giao lưu không gì cản trở, hơn nữa, tư tưởng và học thuật thì không có biên giới ngăn cách. Sau khi chấm dứt hơn một ngàn năm Bắc thuộc bằng chiến công trên sông Bạch Đằng năm 938, mở ra một thời kỳ mới cho sự phát triển của Việt Nam. Thời điểm này là thời kỳ hưng thịnh của Phật Giáo. Các triều đại đầu tiên của nền độc lập như Ngô, Đinh, Lê đều theo đạo Phật. Các nhà sư có vai trò to lớn và quyết định trong việc gây dựng triều Lý - nhà nước quân chủ tập quyền đầu tiên ở nước ta. Cũng từ đây, Nho giáo được quan tâm, chú ý. Bên cạnh sự đóng góp của các nhà sư trong việc ổn định và xây dựng đất nước thì xu hướng Nho giáo giữ vai trò ngày càng quan trọng và dần dần thay thế Phật giáo ngày càng rõ. Năm 1070, Lý Thánh Tông cho lập Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử như là mốc ghi nhận sự tiếp nhận chính thức Nho giáo trên bình diện cả nước. Sang thời Lê Thánh Tông (1460-1497) Nho giáo được phát triển và cũng từ đó về sau, Nho giáo thâm nhập vào xã hội Việt Nam ngày càng sâu đậm trên nhiều lĩnh vực tư tưởng, thơ văn, phong tục, tập quán… qua hệ thống giáo dục, pháp luật, chính quyền. Cho đến đầu thế kỷ 20 này, năm 1919 khoa cử Nho học bị bãi bỏ, nhưng giáo dục Nho học ở làng quê xứ Bắc và Trung còn kéo dài đến đầu thập kỷ 40. Như vậy, trong thời Lê Nguyễn liên tục gần 600 năm Nho học - Nho giáo không thể không thấm vào các tầng lớp xã hội. Nó được thường xuyên tái lập và trở thành một trong những yếu tố văn hóa truyền thống Việt Nam khá sâu đậm. Nho giáo thống lĩnh tư tưởng văn
  • 12. 8 hóa Việt Nam từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, suốt hai triều đại Lê Nguyễn. Nho giáo Việt Nam về cơ bản là sự tiếp thu Nho giáo Trung Quốc, nhưng không còn giữ nguyên trạng thái nguyên sơ của nó nữa mà có những biến đổi nhất định. Quá trình du nhập và tiến tới xác lập vị trí Nho giáo trong đời sống xã hội Việt Nam cũng là quá trình tiếp biến văn hóa hết sức sáng tạo của người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, góp phần tạo nên tính đa dạng, nhưng thống nhất và độc đáo của văn hóa Việt Nam. 4. Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống văn hoá người dân Việt Nam * Ảnh hưởng của Nho giáo thời kỳ phong kiến. Nho giáo đã du nhập vào Việt Nam khá lâu có ảnh hưởng sâu sắc đến truyền thống giáo dục, tư tưởng nhân dân ta từ xưa đến nay. Nho giáo trong xã hội phong kiến: Tư chỗ không được ưa thích trong nhân dân Việt Nam Nho giáo dần dần chiếm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống xã hội phong kiến, đề cao uy quyền nh à vua, xây dựng hệ thống quan liêu từ trên xuống dưới, đảm bảo mối quan hệ giữa nh à nước và nhân dân. Nho giáo vào Việt Nam được Việt Nam hóa, vì lợi ích bảo vệ và xây dựng tổ quốc đã khai thác tích cực những quan điểm của Nho giáo để khẳng định giá trị truyền thống của Dân tộc. Ở Việt Nam Nho giáo đặt quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong “ngũ luân”. Các nhà nho Việt Nam không “ngu trung”, họ đòi vua trước hết phải trung thành với tổ quốc và hiếu với dân. Họ đã ủng hộ Lê Hoàn, Trần Thủ Độ, khi các ông này gạt bỏ những vua quan bất lợi của triều đình cũ để lập lên triều đình mới. Đó là ảnh hưởng quan điểm thuyết Chính danh của Khổng Tử khi vua không ra vua. Khi quân Minh sang xâm lược nước ta thì Nguyễn Trãi gọi là “thằng nhãi con Tuyên Đức”. Các Nho sĩ Việt Nam xưa kia “sôi kinh nấu sử” để tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên Hạ, đó là con đường của các nhà Nho tiến thân, cống hiến cho nước nhà, tận trung với vua, hết lòng vì xã tắc. Các bậc vua chúa xưa nay vẫn lấy điều “lấy dân làm gốc”,” đưa thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” (Tuân tử), vì dân lấy đạo nghĩa trên hết, chăm lo cho dân, giáo hóa dân. Nhân nghĩa là phạm trù trung tâm đứng đầu trong “ ngũ thường” mà Khổng Tư đã dạy làm gương soi mình cho các sĩ tư Việt nam thời trước. Nhân nghĩa trong Khổng giáo là tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thiêng liêng của bề tôi đối với vua, của con đối với cha, của vợ đối v ới chồng. Nguyễn Trãi đã viết: “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân để thắng cường bạo” và quan điểm của ông cha
  • 13. 9 ta từ xưa đến nay đã lấy điều “Đức trị “ để trị nước, trong nếp sống hàng ngày, để đối nhân xử thế của từng người: giữa thầy với trò, cha con, vợ chồng, anh em, nổi bật là vấn đề “Hiếu đễ”. Đặc biệt ảnh hưởng đến nền giáo dục nước ta “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Thầy ra thầy, trò ra trò” đó là tư tưởng và chính danh của Khổng Tử. Hệ thống giáo dục từ xưa là các nho sĩ học đi ra làm quan, giúp vua giúp nước. Nho giáo cũng khẳng định sư giáo dục trong gia đình cũng có tác động mạnh mẽ. Các kiến trúc đất, đền thờ, văn miếu thơ Khổng Tư cũng đều mang đậm nét tư tưởng của Nho giáo. Có thể nói nho giáo ở Việt nam được sư dụng như hệ tư tưởng chính thống. Nho giáo trở thành tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất đạo đức của con người. * Ảnh hưởng của Nho giáo trong thời kỳ giải phóng dân tộc. Hồ chí Minh, nhà tư tưởng văn hóa của Thế giới, con người vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc thể hiện trong tư tưởng và nhiều câu chuyện nho giáo của Người. Nhưng Người đã vượt qua những hạn chế của Nho giáo ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc. Người đã sáng lập và giáo dục Đảng ta với phương châm: “lấy dân làm gốc” làm tôn chỉ lãnh đạo nhân dân ta trong cuộc dựng nước và giữ nước. Người cũng coi đạo đức là gốc chủ trương chọn lựa người tài để đảm đương việc nước. Năm 1949, trong cuốn sách Hồ Chí Minh truyện, xuất bản bằng tiếng Trung Quốc (Bát Nguyệt thư xã xuất bản, người dịch Trương Niệm Thức), đã ghi một nhận xét của Hồ Chí Minh: “Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân”.1 Hồ Chí Minh đã tiếp thu và thực hành triết lý sốngcủa các bậc đại Nho với các nguyên tắc tu nhân, nhập thế, tự nhiệm, dĩ thân vi giáo, v.v.. Có thể dẫn ra một số thí dụ. Hồ Chí Minh nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”.2 Qua hai cuộc kháng chiến người đã nhắc nhở rất nhiều câu chữ của Nho giáo để giáo dục cán bộ nhân dân về phẩm chất tư cách đạo đức, về lòng nhân đạo của con người Việt Nam. Người mượn câu nói của Mạnh Tư để nêu lên khí phách của người cách mạng: “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”. Đây cũng chính là câu nói của Mạnh Tử: “Phu quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. 1 Võ Nguyên Giáp (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh với con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. 2 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
  • 14. 10 Sau hai cuộc kháng chiến Nhân dân Việt Nam giành lại được độc lập và thống nhất đất nước ta bước vào hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng mọi mặt của đất nước theo định hướng XHCN, trên con đường tiến tới một tương lai tốt đẹp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Chúng ta lại thường xuyên áp dụng nho giáo, nó vẫn bám sát chúng ta, tiếp tục đem đến cho chúng ta nhiều bài học cả chính diện và phản diện. Nho giáo nhiều lúc nêu lại điều hay y tốt như tạo thêm năng lượng cho cổ xe cách mạng tiến lên, nhưng cũng có trường hợp nho giáo trở nên thọc gậy bánh xe. * Ảnh hưởng của Nho giáo đến đời sống văn hoá Việt Nam hiện nay Hiện nay Việt Nam đang bước vào cơ chế thị trường xuất hiện nhiều xáo trộn trong quan hệ xã hội, sinh hoạt gia đình và phẩm chất cá nhân. Thực tế cho thấy mâu thuẫn không thể điều hòa được giữa phát triển vật chất và suy thoái tinh thần, giữa kinh tế và đạo đức văn hóa xã hội. Để chống lại, khôi phục lại truyền thống văn hóa tốt đẹp xưa nay của nhân dân ta, đảng ta chủ trương giáo dục con người, chiến lược con ngưới, phát huy sáng tạo, độc lập tự chủ, chủ trương giáo dục “Tiên học lễ, hậu học văn” là những điều cốt yếu của nền giáo dục. Truyền thống quan hệ cha con và anh em đến nay trong gia đình Việt Nam vẫn giữ được tư tưởng của nho giáo, là nét đẹp trong quan hệ văn hóa xã hội Việt nam. Nho giáo đòi hỏi sự gắn bó chặt chẽ giữa các th ành viên trong một gia đình, trong một dòng họ, nó kêu gọi sự yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, khuyến khích nhau giữ gìn truyền thống của gia đình và dòng họ. Những nghi thức ứng xử hàng ngày, những lời răn dạy của ông cha, những gia huấn, gia giữ được lưu truyền đến các đời con cháu. Việc thờ cúng ông bà cha mẹ trong nhà gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên trong họ, việc xây dựng nhà thờ, sửa sang mồ mả, sưu tầm ghi chép gia phả, đều góp phần làm khăng khít hơn mối quan hệ trong gia đình, gia tộc. Đã có nhiều biểu hiện tốt đẹp của tình người nảy sinh từ đó. Sự giáo dục cùa Nho giáo lấy lễ làm biện pháp đã đạt được tới mức đo sâu sắc ở chổ nó thành tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con người. Nho giáo đã huy động được dư luận toàn thể xã hội, biết quí trọng người có lễ và khinh ghét người vô lễ và điều này đã đi vào sâu lương tâm của con người. Vi phạm lễ trở thành điều đau khổ, đáng sỉ nhục, thậm chí đến mức phải chết chứ không bỏ lễ. Ảnh hưởng của nho giáo trong lịch sử phát triển xã hội, truyền thống văn hóa của nước ta vẫn tiếp tục. Đây là một sự thật không phủ nhận được. Vấn đề “gạn đục
  • 15. 11 khơi trong” Nho giáo để phục vụ mục đích tích cực cho đất nước ta hiện nay trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa là vấn đề cần làm ngay và làm càng sớm càng tốt. 5. Giá trị và hạn chế của Nho giáo đối với đời sống văn hoá Việt Nam * Giá trị của Nho giáo đối với đời sống văn hoá Việt Nam Nho giáo góp phần xây dựng các triều đại phong kiến vững mạnh và bảo vệ chủ quyền dân tộc. Công lao của Nho giáo là góp phần đào tạo tầng lớp nho sĩ Việt nam, trong đó có nhiều nhân tài kiệt xuất như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm... Những thể chế chính trị, lễ nghi đạo đức Nho giáo đã du nhập vào Việt nam. Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, dòng văn minh dân gian làng xã được phổ biến và phát triển, thể hiện ở các cuộc đua, vui chơi, hoa văn trang trí đền chùa... Các tư tưởng đấng trượng phu, quân tử, quan hệ tam cương, tam tòng tứ đức, thủ tục ma chay, cưới xin, các quy định về tôn ti trật tự,... ảnh hưởng rất đậm nét ở Việt nam, nhất là bắt đầu từ đời nhà Lê, khi Nho giáo bắt đầu thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến. Nho giáo hướng con người vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, ham học tập để phò Vua giúp nước. Nhiều ý nghĩa giá trị của những chuẩn mực đạo đức Nho giáo đã được quần chúng nhân dân sử dụng trong nền đạo đức của mình. Ví dụ như: “Tiên học lễ, hậu học văn” là khẩu hiệu trong các trường học Việt nam từ xưa đến nay. Bác Hồ cũng từng sử dụng những thuật ngữ đạo đức của Nho giáo và đã đưa vào đó những nội dung mới như: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trung, hiếu,...” Tư tưởng “Trăm năm trồng người” và “Hữu giáo vô loại” (nghĩa là dạy học cho mọi người không phân biệt đẳng cấp) của Khổng Tử đã được Đảng Cộng sản Việt nam vận dụng trong công cuộc xây dựng đất nước. Ảnh hưởng chính của Nho giáo là thiết lập được kỷ cương và trật tự xã hội. Nho giáo với các tư tưởng chính trị - đạo đức như “Chính danh”, “Nhân trị”, “Nhân chính” luôn luôn là bài học quý giá vàđược vận dụng trong suốt lịch sử Việt nam. Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” đã viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, và “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn/Đem chí nhân để thay cường bạo”. Kế thừa quan điểm đó Đảng ta thực hiện đường lối lấy dân làm gốc với khẩu hiệu: “Dân giàu, nước mạnh” và “Chúng ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”.
  • 16. 12 Bác Hồ khi kế thừa các tư tưởng triết học Nho giáo đã tinh lọc, loại bỏ những tư tưởng không phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của Việt nam lúc bấy giờ. Chẳng hạn Khổng Tử cho rằng: “Thứ dân bất nghị” tức là dân thường không có quyền bàn việc nước, còn Bác Hồ đề cao dân chủ. Khổng Tử coi thường vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội thì Bác Hồ chủ trương nam nữ bình quyền. Nho giáo góp phần xây dựng các triều đại phong kiến vững mạnh và bảo vệ chủ quyền dân tộc. Công lao của Nho giáo là góp phần đào tạo tầng lớp nho sĩ Việt nam, trong đó có nhiều nhân tài kiệt xuất như Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm... Những thể chế chính trị, lễ nghi đạo đức Nho giáo đã du nhập vào Việt nam. Chịu ảnh hưởng của Nho giáo, dòng văn minh dân gian làng xã được phổ biến và phát triển, thể hiện ở các cuộc đua, vui chơi, hoa văn trang trí đền chùa... Các tư tưởng đấng trượng phu, quân tử, quan hệ tam cương, tam tòng tứ đức, thủ tục ma chay, cưới xin, các quy định về tôn ti trật tự,... ảnh hưởng rất đậm nét ở Việt nam, nhất là bắt đầu từ đời nhà Lê, khi Nho giáo bắt đầu thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong kiến. Nho giáo hướng con người vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo Nhân - Nghĩa - Lễ - Trí - Tín, ham học tập để phò Vua giúp nước. Nhiều ý nghĩa giá trị của những chuẩn mực đạo đức Nho giáo đã được quần chúng nhân dân sử dụng trong nền đạo đức của mình. Ví dụ như: “Tiên học lễ, hậu học văn” là khẩu hiệu trong các trường học Việt nam từ xưa đến nay. Bác Hồ cũng từng sử dụng những thuật ngữ đạo đức của Nho giáo và đã đưa vào đó những nội dung mới như: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, trung, hiếu,...” Tư tưởng “Trăm năm trồng người” và “Hữu giáo vô loại” (nghĩa là dạy học cho mọi người không phân biệt đẳng cấp) của Khổng Tử đã được Đảng Cộng sản Việt nam vận dụng trong công cuộc xây dựng đất nước. Ảnh hưởng chính của Nho giáo là thiết lập được kỷ cương và trật tự xã hội. Nho giáo với các tư tưởng chính trị - đạo đức như “Chính danh”, “Nhân trị”, “Nhân chính” luôn luôn là bài học quý giá vàđược vận dụng trong suốt lịch sử Việt nam. Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” đã viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”, và “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn/Đem chí nhân để thay cường bạo”. Kế thừa quan điểm đó Đảng ta thực hiện đường lối lấy dân làm gốc với khẩu hiệu: “Dân giàu, nước mạnh” và “Chúng ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”.
  • 17. 13 Bác Hồ khi kế thừa các tư tưởng triết học Nho giáo đã tinh lọc, loại bỏ những tư tưởng không phù hợp với thời đại và hoàn cảnh của Việt nam lúc bấy giờ. Chẳng hạn Khổng Tử cho rằng: “Thứ dân bất nghị” tức là dân thường không có quyền bàn việc nước, còn Bác Hồ đề cao dân chủ. Khổng Tử coi thường vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội thì Bác Hồ chủ trương nam nữ bình quyền. Nho giáo cho rằng, gia đình chính là một cái nước nhỏ. Vì thế, nếu "một nhà nhân hậu thì cả nước nhân hậu. Do đó, một xã hội muốn thanh bình thì trước hết cần phải có những gia đình hòa thuận. Gia đình hòa thuận là gia đình mà mọi thành viên luôn quan tâm đến nhau, chăm lo cho nhau. Kế thừa quan điểm này, Đại hội XIII của Đảng khẳng định “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ hìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam thời kỳ mới”.3 Nho giáo cũng khuyên con người ta nên làm giàu, tạo ra của cải vật chất cho xã hội “dân giàu, nước mạnh”. Nho giáo cũng khuyên can con người ta làm giàu chính đáng, đừng vì mối lợi mà bất chấp tất cả. * Ảnh hưởng tiêu cực của Nho giáo ở Việt Nam Nho giáo suy đến cùng là bảo thủ về mặt xã hội và duy tâm về mặt triết học. Nó thường được sử dụng để bảo vệ, củng cố các xã hội phong kiến trong lịch sử. Nho giáo góp phần không nhỏ trong việc duy trì quá lâu chế độ phong kiến ở á Đông nói chung và ở Việt nam nói riêng. Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống gia đình, các phẩm chất, đạo đức của người phụ nữ, vẫn có những quan điểm coi thường phụ nữ, lấy tiêu chuẩn tứ đức làm đầu “công, dung, ngôn, hạnh”. Người phụ nữ trở nên bị cương tỏa, dồn nén trong vòng tứ đức không phát huy được hết năng lực của mình. Trong gia đình là quyền quyết định của người cha, người chồng :”cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”; “phu xướng phụ tòng” (chồng đề xướng, vợ phải theo). Ở cơ quan là quyền duy nhất là của lãnh đạo. Ở đâu vẫn còn có cán bộ mang tư tưởng gia trưởng, bè phái thì ở đó quần chúng nhân dân sẽ không phát huy được khả năng sáng tạo, chủ động được. Ngày nay, trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang rất cần những con người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. 3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.143.
  • 18. 14 Một số người do quá “trọng đức”, “duy tình” trong khi xử lý các công việc và các mối quan hệ xã hội, dẫn đến buông lỏng kỷ cương phép nước và vi phạm pháp luật. Coi trọng đạo đức là cần thiết nhưng vì tuyệt đối hóa vai trò của đạo đức mà quên pháp luật là sai lầm. Tiếp thu truyền thống trọng đức của phương Đông, nhấn mạnh quan hệ đạo đức “thân thân”, “thân hiền” của Nho giáo, nhiều người khi có chức quyền đã kéo bè kéo cánh, đưa người thân, anh em họ hàng vào cơ quan mình đang quản lý. Sắp xếp và bố trí cán bộ không theo năng lực, trình độ và đòi hỏi của công việc mà dựa vào sự thân thuộc, gần gũi trong quan hệ tông tộc, dòng họ. Trong công tác tổ chức cán bộ, vì đề cao quan hệ thân thích dẫn đến tư tưởng cục bộ địa phương. Nhiều người vì quan hệ thân thuộc mà không dám đấu tranh với những sai lầm của người khác. Do quan niệm sai lệch về đức Nhân Nghĩa với nội dung đền ơn trả nghĩa mà trong thực tế một số cán bộ có thái độ ban ơn, cố tình lợi dụng kẽ hở của chính sách và luật pháp để trục lợi, móc ngoặc, hối lộ, cửa quyền... Thậm chí, một số người dùng tư tưởng gia trưởng để giải quyết các công việc chung. Một trong những phẩm chất của người lãnh đạo là tính quyết đoán. Nhưng quyết đoán theo kiểu độc đoán, chuyên quyền là biểu hiện của thói gia trưởng. Việc coi trọng lễ và cách giáo dục con người theo lễ một cách cứng nhắc, bảo thủ là cơ sở cho tư tưởng tôn ti, tư tưởng bè phái, cục bộ, đề cao địa vị, coi thường lớp trẻ, trọng nam khinh nữ… hiện nay vẫn còn tồn tại trong suy nghĩ và hành động của không ít người. Những tư tưởng trên phản ánh cơ sở hạ tầng của xã hội phong kiến phụ quyền gia trưởng: Đứng đầu gia đình là người cha, người chồng gọi là gia trưởng, đứng đầu dòng họ là trưởng họ, đại diện cho cả làng là ông lý, cả tổng là ông chánh, hệ thống quan lại là cha mẹ dân và cao nhất là vua (thiên tử - gia trưởng của gia đình lớn - quốc gia, nước). Vì vậy, mọi người có nghĩa vụ theo và lệ thuộc vào “gia trưởng”.
  • 19. 15 C. Kết luận Nho giáo từ khi ra đời đến nay trên 2500 năm, dù có nhiều mặc tích cực và cũng có không ít mặc tiêu cực, tuy nhiên cũng không thể chối cãi rằng Nho giáo đã ảnh hưởng toàn diện và sâu sắc đến xã hội Việt Nam, đã góp phần xây dựng một xã hội thịnh vượng, ổn định, có trật tự, có pháp luật, một quốc gia thống nhất. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến phát huy mặt tích cực của Nho giáo nói riêng và các tín ngưỡng, tôn giáo khác nói chung để xây dựng sức mạnh nội sinh của dân tộc trong thời kỳ mới. Đảng ta khẳng định:“Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”..4 Ngày nay cả nước bước vào thời kỳ xây dựng mọi mặt đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên con đường tiến tới: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, chúng ta lại thường xuyên sử dụng đến những vấn đề Nho giáo. Nho giáo tuy không còn ảnh hưởng nhiều trong đời sống như trước nhưng nó vẫn còn hiện diện và tiếp tục mang lại cho chúng ta nhiều bài học cả chính diện và phản diện. Chúng ta cần phải biết chắc lọc, tiếp thu và phát triển những tư tưởng của nho giáo để giải quyết những vấn đề về gia đình, về mối quan hệ cá nhân và xã hội, về quản lý đất nước, về phát triển kinh tế, giáo dục... 4 . Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.171.
  • 20. 16 D. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Ban Tôn giáo Chính phủ, Thành tựu trong thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, Hà Nội, 2021. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.. 3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011. 4. Nguyễn Hữu Vui, Giáo trình Lịch sử triết học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. 5. Võ Nguyên Giáp (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh với con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.