SlideShare a Scribd company logo
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN MINH LỘC
HÀNH VI TÌNH DỤC KHÔNG AN TOÀN
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG NHÓM
NAM QUAN HỆ TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI
TẠI HÀ NỘI NĂM 2009 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN MINH LỘC
HÀNH VI TÌNH DỤC KHÔNG AN TOÀN
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG NHÓM
NAM QUAN HỆ TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI
TẠI HÀ NỘI NĂM 2009 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
Hướng dẫn khoa học
TS. Nguyễn Cường Quốc
HÀ NỘI, 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu “Hành vi tình dục không an
toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm
2009 - 2010”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể Ban
Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, giảng viên, cán bộ các phòng, ban chức
năng trường Đại học Y tế Công cộng. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự
giúp đỡ đó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Cường Quốc - người thầy
giáo đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Tôi
cũng xin chân thành cảm ơn Tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế - FHI 360 đã tạo
điều kiện cho phép tôi được sử dụng bộ số liệu điều tra IBBS vòng II năm 2009 –
2010 như là một nguồn số liệu thứ cấp để hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã
động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và
hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Học viên Nguyễn Minh Lộc
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
ĐẶT VẤN ĐỀ .............................................................................................................1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ......................................................................................3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình lây nhiễm HIV trong nhóm MSM ....................................................4
1.1.1 Tình hình trên thế giới..........................................................................4
1.1.2 Tình hình tại Việt Nam.........................................................................4
1.2 Hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn trong nhóm MSM .........6
1.2.1 Tình hình trên thế giới..........................................................................6
1.2.2 Tình hình tại Việt Nam.........................................................................8
1.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu
môn trong nhóm MSM......................................................................................9
1.3.1 Sử dụng các loại thuốc kích thích/an thần...........................................9
1.3.2 Sử dụng rượu, bia...............................................................................11
1.3.3 Tính cách cá nhân ..............................................................................12
1.3.4 Sức khỏe tâm thần ..............................................................................14
1.3.5 Mối quan hệ với bạn tình ...................................................................15
1.3.6 Yếu tố gia đình ...................................................................................16
1.3.7 Địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình...................................................16
1.3.8 Kết nối với cộng đồng đồng MSM......................................................17
1.3.9 Sử dụng Internet.................................................................................18
1.3.10 Mại dâm .............................................................................................20
1.3.11 Áp lực cá biệt (miniority stress).........................................................21
1.3.12 Các chương trình dự phòng HIV .......................................................23
1.4 Khung lý thuyết hành vi tình dục không an toàn và một số yếu tố liên quan
trong nhóm MSM............................................................................................24
1.5 Giới thiệu phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS)..............27
1.6 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu........................................................31
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu......................................................................................35
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu...................................................................35
2.3 Thiết kế nghiên cứu.........................................................................................35
2.4 Cỡ mẫu của nghiên cứu...................................................................................35
2.5 Phương pháp chọn mẫu...................................................................................37
2.6 Phương pháp thu thập số liệu..........................................................................38
2.7 Biến số nghiên cứu..........................................................................................38
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá ................................................39
2.9 Phương pháp phân tích số liệu ........................................................................40
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu ......................................................................49
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục ................................50
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC...............................................................51
3.2 Hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam của
ĐTNC..............................................................................................................54
3.2.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học và hành vi UAI với bạn tình nam...55
3.2.2 Sử dụng rượu, bia, các chất kích thích/an thần và hành vi UAI với
bạn tình nam.......................................................................................57
3.2.3 Một số đặc điểm liên quan đến tình dục, bạn tình và hành vi UAI với
bạn tình nam.......................................................................................58
3.2.4 Tiếp cận với BCS, chương trình can thiệp dự phòng HIV/AIDS và
hành vi UAI với bạn tình nam............................................................60
3.2.5 Kiến thức về HIV, STIs và hành vi UAI với bạn tình nam .................62
3.2.6 Nhiễm HIV, STIs và hành vi UAI với bạn tình nam...........................63
3.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu
môn với bạn tình nam của ĐTNC ...................................................................64
3.3.1 Yếu tố nhân khẩu học.........................................................................64
3.3.2 Sử dụng rượu, bia và các loại thuốc kích thích/an thần ....................67
3.3.3 Một số đặc điểm liên quan đến tình dục, bạn tình.............................69
3.3.4 Địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình...................................................71
3.3.5 Khả năng tiếp cận với BCS ................................................................72
3.3.6 Các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục ...............................73
3.3.7 Kiến thức về HIV và cách phòng tránh..............................................75
3.3.8 Các chương trình can thiệp phòng chống HIV/STIs..........................76
3.3.9 Nhiễm HIV/STIs .................................................................................78
3.3.10 Mô hình đa biến các yếu tố liên quan đến hành vi UAI với bạn tình
nam của ĐTNC...................................................................................80
Chương 4. BÀN LUẬN
4.1 Hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam của
ĐTNC..............................................................................................................85
4.2 Một số yếu tố liên quan đến các hành vi tình dục không an toàn qua đường
hậu môn với bạn tình nam của ĐTNC ............................................................87
4.3 Hạn chế của nghiên cứu ..................................................................................94
KẾT LUẬN...............................................................................................................97
KHUYẾN NGHỊ.......................................................................................................99
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................101
PHỤ LỤC................................................................................................................112
Phụ lục 1. Danh sách biến số trong nghiên cứu.......................................................112
Phụ lục 2. Bộ câu hỏi Điều tra IBBS vòng II năm 2009 – 2010 cho nhóm MSM tại
Hà Nội ...........................................................................................................116
Phụ lục 3. Bảng phụ lục kết quả chính thức Điều tra IBBS vòng II năm 2009 – 2010
trong nhóm MSM tại Hà Nội ........................................................................139
Phụ lục 4. Bản sao Thư đồng ý cho phép sử dụng số liệu thứ cấp ..........................147
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired Immuno
Deficiency Syndrome)
BCS Bao cao su
CDC Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (Centers for
Disease Control and Prevention)
CI Khoảng tin cậy
FHI 360 Tổ chức Sức khỏe gia đình quốc tế (Family Health International)
GF Quỹ toàn cầu (Global Fund to Fight AIDS, Tuberculosis and Malaria)
HIV Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency
Virus)
IBBS Chương trình giám sát lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học
HIV/STI (HIV/STI Integrated Biological and Behavioral
Surveillance)
IH Hội chứng sợ đồng tính của chính mình (Internalized homophobia)
LGBT Nhóm có thiên hướng tình dục cá biệt (Lesbians, Gays, Bisexuals and
Transgender)
MSM Nam có quan hệ tình dục đồng giới (Men who have sex with men)
MSMH Nam nhiễm HIV có quan hệ tình dục đồng giới (HIV-infected men
who have sex with men)
MSMO Nam chỉ có quan hệ tình dục với bạn tình nam (Men who have sex
with men only)
MSMW Nam có quan hệ tình dục với bạn tình nam và nữ (Men who have sex
with men and women)
MSWs Nam bán dâm có quan hệ tình dục đồng giới (Men sex worker who
have sex with men)
PNBD Phụ nữ bán dâm
QHTD Quan hệ tình dục
RDS Phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (Respondent Driven
Sampling)
SBS Phương pháp chọn mẫu hòn tuyết lăn (Snow Ball Sampling)
STIs Các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (Sexually transmitted
infections)
TCMT Tiêm chích ma túy
TLS Phương pháp chọn mẫu địa điểm - thời gian (Time - Location
Sampling)
TP. HCM Thành phố Hồ Chí Minh
UAI Quan hệ tình dục không an toàn qua đường hậu môn (Unprotected
anal intercourse)
UNAIDS Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về phòng chống
HIV/AIDS (The Joint United Nations Programme on HIV/AIDS)
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Danh mục hình và biểu đồ
Hình 1 Mô hình lý thuyết nhận thức xã hội 25
Hình 2 Mô hình mạng lưới nhóm nam có QHTD đồng giới tham gia
một nghiên cứu tại Buenos Aires, Argentina
29
Biểu đồ 2.1 Số lượng MSM được tuyển chọn theo làn sóng tuyển chọn 37
Biểu đồ 2.2 Số lượng MSM được tuyển chọn theo nhánh hạt giống 41
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ MSM có hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12
tháng qua phân theo nghề nghiệp
56
Danh mục bảng
Bảng 2.1 Những điểm khác biệt giữa kết quả luận văn và kết quả điều
tra IBBS vòng II năm 2009
33
Bảng 2.2 Kết quả tính toán cỡ mẫu trên quần thể MSM, điều tra IBBS
vòng II, năm 2009 – 2010
36
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC 51
Bảng 3.2 Đặc điểm tình dục, hôn nhân và gia đình của ĐTNC 53
Bảng 3.3 Lịch sử QHTD và sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình nam
trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
54
Bảng 3.4 Một số đặc điểm nhân khẩu học và hành vi UAI với bạn tình
nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
55
Bảng 3.5 Sử dụng rượu, bia, thuốc kích thích/an thần và hành vi UAI
với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
57
Bảng 3.6 Một số yếu tố liên quan đến bạn tình và hành vi UAI với bạn
tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
58
Bảng 3.7 Địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình và hành vi UAI với bạn
tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
60
Bảng 3.8 Tiếp cận với các chương trình dự phòng HIV/AIDS và hành
vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
61
Bảng 3.9 Tiếp cận với BCS và hành vi UAI với bạn tình nam trong
vòng 12 tháng qua của ĐTNC
62
Bảng 3.10 Kiến thức về HIV, STIs và hành vi UAI với bạn tình nam
trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
63
Bảng 3.11 Nhiễm HIV, STIs và hành vi UAI với bạn tình nam trong
vòng 12 tháng qua của ĐTNC
63
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tuổi, trình độ học vấn, thu nhập và hành vi
UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
64
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và hành vi UAI với bạn tình
nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
65
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân, tự nhận bản thân và
hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của
ĐTNC
66
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa sử dụng ma túy và hành vi UAI với bạn
tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
67
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa sử dụng rượu, bia và hành vi UAI với bạn
tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
68
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa một số yếu tố liên quan đến bạn tình và
hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của
ĐTNC
69
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình và
hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của
ĐTNC
71
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa khả năng tiếp cận với BCS và hành vi UAI
với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
72
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs)
và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của
ĐTNC
73
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa kiến thức về HIV/AIDS và hành vi UAI
với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
75
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa tiếp cận với các chương trình dự phòng
HIV/AIDS và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12
tháng qua của ĐTNC
77
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa nhiễm HIV/STIs và hành vi UAI với bạn
tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC
79
Bảng 3.24 Danh sách biến số độc lập có mối liên quan đơn biến với hành
vi UAI cùng bạn tình nam trong vòng 12 tháng trước cuộc
điều tra của ĐTNC
80
Bảng 3.25 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập có liên quan
đến hành vi UAI với hành vi UAI cùng bạn tình nam trong
vòng 12 tháng trước cuộc điều tra của ĐTNC
81
Bảng 3.26 Các yếu tố liên quan đến hành vi UAI với bạn tình nam trong
vòng 12 tháng qua của ĐTNC (N = 299)
82
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Quan hệ tình dục đồng giới không an toàn qua đường hậu môn (UAI) ở nam
là đường lây truyền HIV quan trọng. Hiểu rõ về thực trạng và các yếu tố liên quan
đến hành vi UAI sẽ góp phần vào việc xây dựng các chương trình dự phòng HIV
một cách có hiệu quả. Nghiên cứu “Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố
liên quan trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010” phân
tích bộ số liệu thứ cấp từ Điều tra IBBS vòng II năm 2009 – 2010 nhằm mô tả hành
vi UAI với bạn tình nam và xác định một số yếu tố liên quan đến các hành vi UAI
trong nhóm nam có quan hệ tình dục đồng giới (MSM) ở Hà Nội năm 2009 - 2010.
Có 399 MSM tại Hà Nội đã tham gia nghiên cứu thông qua phương pháp
chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS). Các chỉ số ở mức độ quần thể và tính
toán giá trị gia trọng (weights) cho mẫu nghiên cứu được ước tính bằng phần mềm
RDS Analyst 0.4. Mô hình hồi quy logistic được sử dụng kiểm soát nhiễu và đo
lường các mối liên quan.
Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi UAI với bạn tình nam khá phổ biến
trong nhóm MSM tại Hà Nội với tỷ lệ MSM báo cáo mình có hành vi UAI với bạn
tình nam lần lượt 51% trong nhóm MSM có QHTD đường hậu môn với bạn tình
nam trong 12 tháng qua; 56% trong nhóm MSM bán dâm; 56,7% trong nhóm MSM
nhiễm HIV và 49,2% trong nhóm MSM nhiễm STIs. Các yếu tố liên quan có ý
nghĩa thống kê với hành vi UAI của đối tượng nghiên cứu bao gồm: Là nhân viên
dịch vụ giải trí; “Thường là người NHẬN”; Thường tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình trên
phố, công viên hay bờ hồ; Thường tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình qua Internet; Tự đánh
giá nguy cơ nhiễm HIV của bản thân; Được nhận thông tin dành cho MSM về
QHTD và tiêm chích an toàn trong vòng 12 tháng qua.
Nghiên cứu khuyến nghị cần thiết phải tăng cường hơn nữa nhận thức đúng
đắn về QHTD có nguy cơ và tầm quan trọng của sử dụng BCS khi QHTD cũng như
tập trung can thiệp cho nhóm MSM nguy cơ cao như MSM bán dâm hoặc MSM đã
nhiễm HIV; tăng cường tiếp cận với MSM và bạn tình của họ tại những tụ điểm trên
phố, bờ hồ hoặc công viên nhằm mục đích cung cấp thông tin đúng và đưa họ đến
với dịch vụ xét nghiệm cũng như chăm sóc và điều trị nếu cần.
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quan hệ tình dục (QHTD) đồng giới không an toàn ở nam đã là một đường
lây truyền HIV quan trọng kể từ khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện
cách đây hơn 30 năm tại Hoa Kỳ. Trong những năm vừa qua, tỷ lệ nhiễm HIV có xu
hướng gia tăng trở lại trong nhóm nam có QHTD đồng giới (MSM) trên phạm vi
toàn cầu [121]. Trong bối cảnh tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm người trưởng thành nói
chung có xu hướng giảm ở hầu hết các quốc gia thì nhóm MSM vẫn đang phải chịu
những ảnh hưởng nặng nề của đại dịch HIV. Tại Châu Á, nhóm MSM có nguy cơ
nhiễm HIV cao gấp 18,7 lần so với quần thể người trưởng thành nói chung [10].
Tại Việt Nam, tỷ lệ hiện nhiễm HIV được dự báo sẽ tăng mạnh từ 11,2% vào
năm 2011 lên 16,6% vào năm 2015 trong nhóm MSM nguy cơ cao và tăng đều từ
1,4% lên 2.1% ở nhóm MSM nguy cơ thấp cũng trong cùng giai đoạn. Thành phố
Hồ Chí Minh (Tp. HCM), Hải Phòng và Hà Nội 1 là các khu vực được dự báo có tỷ
lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM, đặc biệt là nhóm MSM nguy cơ cao, cao nhất
vào năm 2015 (38% tại tp. HCM, 30% tại Hải Phòng và 20% tại Hà Nội) [2].
Trong những năm gần đây cùng với sự tăng trưởng kinh tế và tốc độ đô thị
hoá nhanh, những vấn đề xã hội phức tạp (như ma tuý, mại dâm) có liên quan đến
tình hình dịch HIV/AIDS trên địa bàn thành phố Hà Nội có chiều hướng gia tăng.
Theo số liệu báo cáo của Trung tâm phòng, chống AIDS Hà Nội, tính đến hết năm
2011, ước tính trên địa bàn Hà Nội có khoảng 8.164 phụ nữ bán dâm (PNBD),
khoảng 30.873 người tiêm chích ma túy (TCMT) và đứng thứ hai cả nước về số
người thuộc nhóm MSM (18.851 người). Hà Nội cũng là địa phương đứng thứ hai
cả nước về số người nhiễm HIV hiện đang còn sống.
Thực hiện các chương trình dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm MSM có ý
nghĩa hết sức quan trọng trong việc ngăn chặn lây truyền HIV. Tuy nhiên trong thực
tế, nhóm này lại thường không được chú ý tới, cộng đồng MSM vẫn còn chưa lộ
diện, bị kỳ thị, thiếu hiểu biết hoặc không có đầy đủ thông tin về lây truyền HIV.
Ngoài ra, việc thiếu các nghiên cứu sâu về MSM, đặc biệt là những nghiên cứu về
hành vi nguy cơ của nhóm này đang là những rào cản đáng kể cho việc tiến hành
các chương trình dự phòng HIV một cách có hiệu quả.
2
Trong quá trình tìm hiểu các nghiên cứu, điều tra liên quan đến HIV và
nhóm MSM tại Hà Nội giai đoạn 2007 - 2012, chúng tôi thấy rằng hầu hết các
nghiên cứu liên quan đến hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn (là
nguy cơ chính dẫn đến lây nhiễm HIV của nhóm MSM) mới chỉ dừng ở mức mô tả,
chưa phân tích sâu nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nguy cơ này.
Một số điều tra lớn như Điều tra IBBS vòng II năm 2009 – 2010 có bộ số liệu chất
lượng và tương đối đầy đủ, tuy nhiên do sử dụng phương pháp phân tích số liệu
không hiệu chỉnh theo phương pháp chọn mẫu nên kết quả báo cáo chính thức chưa
phản ánh tính đại diện và đặc trưng cho quần thể MSM nói chung tại Hà Nội. Xuất
phát từ bối cảnh trên, chúng tôi thấy cần thiết phải có một nghiên cứu nhằm tìm
hiểu sâu hơn và phương pháp phân tích số liệu phù hợp nhằm đưa ra kết quả có tính
đại diện về hành vi nguy cơ của nhóm MSM tại Hà Nội, do đó chúng tôi quyết định
tiến hành đề tài nghiên cứu “Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên
quan trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010”. Nghiên
cứu thứ cấp sử dụng một phần bộ số liệu của Điều tra IBBS tiến hành năm 2009 –
2010. Kết quả của nghiên cứu đóng góp những thông tin quan trọng giúp xây dựng
chiến lược và các giải pháp can thiệp cụ thể và hiệu quả hơn, đồng thời cung cấp số
liệu về theo dõi và đánh giá tình hình HIV/AIDS tại Hà Nội nói riêng và cả nước
nói chung.
3
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu “Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm
nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010” phân tích số liệu thứ cấp từ
Điều tra giám sát lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI vòng II năm
2009 – 2010 nhằm đạt được hai mục tiêu sau:
1. Mô tả hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam
trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2010.
2. Xác định một số yếu tố liên quan đến các hành vi tình dục không an toàn qua
đường hậu môn với bạn tình nam trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà
Nội năm 2010.
4
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình lây nhiễm HIV trong nhóm MSM
1.1.1 Tình hình trên thế giới
Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về phòng chống HIV/AIDS
(UNAIDS) ước tính đến hết năm 2012, thế giới có khoảng 35,3 triệu (ước tính từ
32,2 triệu đến 38,8 triệu) người đang sống chung với HIV, khoảng 0,8% người
trưởng thành trong độ tuổi 15 đến 49 trên toàn thế giới đang sống chung với HIV
[120]. Cũng theo UNAIDS, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM, tính trung bình đã
vượt quá 1% tại tất cả các khu vực trên thế giới và cao hơn so với tỷ lệ nhiễm HIV
quần thể nam giới nói chung. Trong năm 2012, theo báo cáo quốc gia GARPR,
trung bình tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất trong số MSM đã được báo cáo ở Tây Phi và
Trung Phi (19%) và Đông Phi và Nam Phi (15%), tỷ lệ nhiễm HIV thấp hơn một
chút nhưng mức độ vẫn còn cao được báo cáo trong nhóm MSM ở Mỹ Latinh
(12%), Châu Á và Thái Bình Dương (11%), Tây và Trung Âu và Bắc Mỹ (8%) và
vùng Caribê (7%) [120].
Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM tại khu vực Trung Á dao động trong
khoảng từ dưới 1% đến hơn 20%. Báo cáo Quốc gia ước tính tỷ lệ nhiễm HIV trong
nhóm MSM từ khoảng 1 - 2% tại Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan,
Xinjiang; đến 10% tại Mongolia. Nghiên cứu chỉ số sinh học ước tính 0,4% MSM
tại Afghanistan và 20.2% MSM tại Kazakhstan đã bị nhiễm HIV [128].
1.1.2 Tình hình tại Việt Nam
Theo ước tính của Cục Phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), tại Việt Nam
năm 2011 có khoảng 250 nghìn người đang sống chung với HIV và con số này sẽ
đạt đến 263 nghìn người và năm 2015 [2]. Cũng theo báo cáo của Cục Phòng,
Chống HIV/AIDS, tính đến hết 31/5/2013, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện
được đang còn sống trên toàn quốc là 213.413 trường hợp, trong đó số bệnh nhân
AIDS hiện còn sống là 63.373 và đã có 65.133 trường hợp tử vong do AIDS [3].
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV được dự báo sẽ tăng mạnh từ 11,2% vào năm 2011 lên
16,6% vào năm 2015 trong nhóm MSM nguy cơ cao và tăng đều từ 1,4% lên 2,1%
5
ở nhóm MSM nguy cơ thấp cũng trong cùng giai đoạn. Tp. HCM, Hải Phòng và Hà
Nội 1 là các khu vực được dự báo có tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM, đặc
biệt là nhóm MSM nguy cơ cao, cao nhất (38% tại tp. HCM, 30% tại Hải Phòng và
20% tại Hà Nội) vào năm 2015 [2].
Trước năm 2011, nhóm MSM không nằm trong chương trình giám sát trọng
điểm của Bộ Y tế, các kết quả về chỉ số sinh học và hành vi liên quan đến HIV/STIs
được thu thập chủ yếu từ chương trình giám sát lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh
học HIV/STI (IBBS) và một số tổ chức cũng như cá nhân khác. Kết quả điều tra
IBBS vòng I năm 2006 ước tính tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM tại Hà Nội và
TP.HCM lần lượt là 9,4% và 5,3% [6]. Điều tra IBBS vòng II năm 2009 cho thấy
nhiễm HIV trong nhóm MSM vẫn ở mức cao, các nguy cơ vẫn đa dạng. Tỷ lệ
nhiễm HIV trong nhóm MSM ở trên mức 10% ở ba trong bốn tỉnh được khảo sát
(Cần Thơ, Tp. HCM và Hải Phòng), và lên tới mức 20% (MSM không bán dâm -
Hà Nội). Ở Hà Nội và TP. HCM, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong cả hai nhóm MSM có
bán dâm và không bán dâm trong năm 2009 cao hơn đáng kể so với 2006 [1]. Tại
An Giang, Phạm Quang Duy và cộng sự (2009) đã tiến hành một nghiên cứu cắt
ngang dựa vào cộng đồng trên một mẫu nghiên cứu gồm 381 MSM nhằm thu thập
thông tin nhân khẩu xã hội, hành vi nguy cơ, tiếp cận với các chương trình can thiệp
HIV và tỷ lệ nhiễm HIV/STIs. Kết quả nghiên cứu cho biết tỷ lệ nhiễm HIV trong
nhóm MSM là 6,3% [102].
Năm 2011, nhóm MSM chính thức được đưa vào chương trình giám sát
trọng điểm HIV hàng năm và được triển khai tại 9 tỉnh/thành phố tập trung nhiều
MSM đang cư trú trên địa bàn bao gồm: Hà Nội, Hải Dương, Đà Nẵng, Khánh Hòa,
TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng và Kiên Giang. Kết quả giám sát
trọng điểm năm 2012 cho thấy, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM là 2,3%. Tỷ
lệ này cao nhất ở TP. Hồ Chí Minh (7,3%), tiếp đến là Hà Nội (6,5%), Sóc Trăng
(2%). So sánh với kết quả giám sát trọng điểm năm 2011, tỷ lệ hiện nhiễm HIV
trong nhóm này có giảm xuống. Tuy nhiên, để đánh giá chiều hướng nhiễm HIV
trong nhóm này cần được tiếp tục theo dõi qua các năm tiếp theo [4].
6
1.2 Hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn trong nhóm MSM
Tình dục an toàn (safe sex) là hành vi tình dục được thực hiện bởi những
người có những biện pháp tránh bệnh lây truyền đường tình dục như AIDS hoặc
STIs. Hành vi này cũng được gọi là tình dục an toàn hơn (safer sex) hoặc tình dục
có bảo vệ trong khi tình dục không an toàn hoặc tình dục không bảo vệ là hành vi
tình dục mà không có biện pháp đề phòng lây nhiễm. Quan hệ hậu môn là hành vi
tình dục mạo hiểm và QHTD hậu môn không dùng các biện pháp bảo vệ là nguy
hiểm nhất trong các dạng QHTD [69] [30]. Nguyên nhân là bên trong hậu môn có
niêm mạc dễ bị tổn thương, quan hệ có thể làm các mô mềm rách, chảy máu và có
thể làm giản cơ thắt hậu môn, gây mất điều khiển hậu môn và sa hậu môn [122].
1.2.1 Tình hình trên thế giới
Tỷ lệ MSM có QHTD không an toàn qua đường hậu môn (UAI), không
thường xuyên sử dụng bao cao su (BCS) khi QHTD dao động từ 3,5% đến hơn 90%
tùy vào đối tượng nghiên cứu, loại bạn tình, đường QHTD và thời gian đo lường
hành vi nguy cơ (lần gần đây nhất, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hay 12 tháng trước
cuộc điều tra) của từng nghiên cứu.
Nghiên cứu của Mason và cộng sự (2013) tại Gambia báo cáo hơn 90%
MSM không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn với bạn tình
nam trong vòng 12 tháng trước cuộc điều tra [77]. M. Sheehy và cộng sự (Nigeria,
2013) cho biết có đến 60,9% MSM báo cáo có hành vi UAI với bạn tình nam trong
vòng 2 tháng trước cuộc điều tra. Tỷ lệ này trong nhóm MSM chỉ QHTD với bạn
tình nam (MSMO) là 59,2% so với 62,7% trong nhóm MSM có QHTD với cả nam
và nữ (MSMW) [114].
D. Song (2012) và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trong
nhóm MSMW tại hai tỉnh Chengdu và Guangzhou, Trung Quốc. Kết quả cho thấy,
trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra, chỉ có 44,2% đối tượng nghiên cứu thường
xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn với bạn tình nam. Tỷ lệ MSMW sử
dụng BCS trong 3 lần gần đây nhất QHTD đường hậu môn là 52,3% và chỉ có 63%
7
MSMW tham gia nghiên cứu báo cáo có dùng BCS trong lần gần đây nhất QHTD
đường hậu môn [131]. Một nghiên cứu cắt ngang khác trong nhóm MSM người
Trung Quốc tại Hong Kong của J. Lau và cộng sự (2013) báo cáo chỉ có 39% MSM
có UAI trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra [73].
S. Ramanathan và cộng sự (Tamil Nadu, Ấn Độ, 2013) đã tiến hành phân
tích các yếu tố liên quan đến hành vi thường xuyên sử dụng BCS với các loại bạn
tình của MSM, bao gồm bạn tình thường xuyên, bạn tình bất chợt và bạn tình trả
tiền. Kết quả cho thấy tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình nam
thường xuyên hoặc phải trả tiền hoặc bạn tình bất chợt lần lượt là 45,3%, 50,8% và
57,9%. Tỷ lệ MSM thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình nam nói
chung là 52,6% [104].
Tại khu vực Đông Nam Á, kết quả từ nghiên cứu của A. Li và cộng sự (Thái
Lan, 2009) cho biết tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn
với bạn tình nam trong nhóm MSMW cao hơn so với nhóm MSMO (77,6% so với
62,9%) [75] còn nghiên cứu của G. Morineau và cộng sự (2011) tại 6 thành phố của
Indonesia báo cáo 27% MSM đã từng UAI với nhiều bạn tình nam. Tỷ lệ thường
xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn với bạn tình nam dao động từ 30 –
40% tùy loại bạn tình [85].
Một vài nghiên cứu báo cáo tỷ lệ MSM nhiễm HIV không thường xuyên sử
dụng BCS khi QHTD với bạn tình dao động từ 3,5% đến dưới 60%, tùy thuộc theo
thời gian đánh giá và loại bạn tình. H. He và cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên
cứu trong nhóm nam nhiễm HIV có quan hệ tình dục đồng giới (MSMH) tại
Shanghai, Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, trong vòng 6 tháng trước cuộc
điều tra, chỉ có 16% MSMH không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường
hậu môn với bạn tình nam và 3,5% MSMH không thường xuyên sử dụng BCS khi
QHTD đường âm đạo với bạn tình nữ [130]. Theo kết quả nghiên cứu của D. Song
(2012) và cộng sự, chỉ có khoảng gần 50% MSMW nhiễm HIV thường xuyên sử
dụng BCS khi QHTD đường hậu môn với bạn tình nam trong vòng 6 tháng trước
cuộc điều tra [131]. Tương tự, nghiên cứu của M. Durham và cộng sự (2013) tại
8
Hoa Kỳ cho biết 54% MSMH có QHTD không an toàn với bạn tình nam trong vòng
6 tháng trước cuộc điều tra [37].
1.2.2 Tình hình tại Việt Nam
Giang L. và Clatts (2009) đã tiến hành một nghiên cứu hành vi trong nhóm
MSM bán dâm (MSWs) tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho biết, 65% MSWs báo
cáo có thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn. Trong số MSWs
báo cáo có tiêm chích ma túy, 42% có QHTD đường hậu môn với vai trò “cho”
trong đó 47% không sử dụng BCS [138]. Trong một báo cáo nghiên cứu thuần tập
chưa công bố kết quả chính thức của Colby và Mimiaga (2011), 36% MSM báo cáo
có UAI và tỷ lệ này giảm xuống còn 22% vào năm 2010 trên cùng một quần thể
MSM. Gần một phần tư MSM tham gia nghiên cứu này báo cáo có UAI với khách
hàng [133]. Cũng theo Colby và cộng sự (2010), 42,5% MSW báo cáo có QHTD
không an toàn trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra. Tỷ lệ MSW có hành vi UAI
là 36%; UAI đối với khách hàng nam là 22% và với khách hàng nữ là 3,5% [134].
Kết quả một nghiên cứu hành vi tình dục của MSM thông qua Internet cho biết,
40% MSM báo cáo có UAI trong lần QHTD gần đây nhất (Quoc và cộng sự, 2010)
[146]. Theo Do và cộng sự (2009), 34% MSM có UAI với bạn tình bất chợt trong
vòng 6 tháng trước cuộc điều tra [135].
Theo kết quả điều tra IBBS vòng II, tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên trong
12 tháng qua có sự khác biệt trong nhóm MSM, với MSM bán dâm, tỷ lệ này ở mức
thấp – dưới 50% với bất kỳ loại bạn tình nào được ghi nhận ở tất cả các tỉnh ngoại
trừ Hà Nội, ở Hà Nội có 64% báo cáo sử dụng BCS thường xuyên với PNMD. So
sánh với số liệu IBBS vòng I, số liệu vòng II cho thấy sự trái ngược giữa Hà Nội và
TP. HCM. Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với bất kỳ loại bạn tình nào trong
nhóm MSM bán dâm ở Hà Nội trong năm 2009 cao hơn so với năm 2006. Ngược
lại, tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với khách hàng nam và bạn tình tự nguyện là
nam ở TP. HCM giảm mạnh. Trong nhóm MSM không bán dâm ở Hà Nội, tỷ lệ sử
dụng BCS thường xuyên với bạn tình tự nguyện là nam tăng mạnh (hơn hai lần) [1].
Kết quả Giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi năm 2012 cho biết, tỷ lệ
MSM dùng BCS với bạn tình nam trong lần QHTD gần đây nhất qua đường hậu
9
môn tương đối thấp, chỉ có 64,3% MSM cho biết có sử dụng BCS trong lần QHTD
gần đây nhất. Tỷ lệ này có sự khác nhau ở các tỉnh, cao nhất ở Đà Nẵng (85%). Sóc
Trăng là tỉnh có tỷ lệ MSM sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất thấp nhất
(chỉ chiếm 30%). So sánh với năm 2011, tỷ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần
nhất qua đường hậu môn với bạn tình nam trong điều tra năm 2012 thấp hơn 9% (tỷ
lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất năm 2011 là 73,3%) [4].
Cũng theo Giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi năm 2012, tỷ lệ MSM sử
dụng BCS thường xuyên khi QHTD với tất cả bạn tình nam trong 1 tháng qua rất
thấp (41,1%). Đặc biệt, trong số MSM bán dâm trong 12 tháng qua chỉ có 31,3%
MSM thường xuyên sử dụng BCS với khách hàng nam giới. Sóc Trăng là tỉnh có tỷ
lệ MSM bán dâm thường xuyên sử dụng BCS với khách hàng nam thấp nhất (10%),
An Giang (18,2%), Kiên Giang (31%), Cần Thơ (33,3%). So sánh với năm 2011, tỷ
lệ MSM bán dâm thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD qua đường hậu môn với
khách hàng giảm từ 57,1% năm 2011 xuống còn 31,3% năm 2012 [4].
1.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn qua đường
hậu môn trong nhóm MSM
1.3.1 Sử dụng các loại thuốc kích thích/an thần
Một vài nghiên cứu đã phát hiện mối liên quan giữa việc “sử dụng bất kỳ loại
ma túy nào” và hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM (M. J. Rotheram-
Borus và cộng sự, 1995 ; R. B. Hays và cộng sự, 1997) [111] [56]. Kết quả nghiên
cứu của Rosatio và cộng sự (2006) trong nhóm MSM trẻ tại thành phố New York,
Hoa Kỳ cho biết lạm dụng ma túy có thể làm tăng nguy cơ UAI lên 29 lần (OR =
29,46) [108].
Tác động của việc sử dụng ma túy tổng hợp (các chất kích thích và chất gây
ảo giác, bao gồm cả thuốc lắc hoặc MDMA, amphetamines (bao gồm
methamphetamine), ketamine, GHB, và cocaine) tới hành vi QHTD không an toàn
được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Một vài nghiên cứu từ thập niên 90 phát
hiện sự kết hợp mạnh giữa việc sử dụng cocain và hành vi QHTD không an toàn so
với việc sử dụng các loại ma túy khác (McNall và Remafedi, 1999; Molitor và cộng
10
sự, 1999; Weber và cộng sự, 2001) [81] [84] [127]. Tuy nhiên, những nghiên cứu
gần đây lại nhấn mạnh tới mức độ ảnh hưởng rất mạnh giữa sử dụng amphetamine
(bao gồm cả methamphetamine) và UAI. Nguy cơ UAI trong vòng 6 tháng trước
cuộc điều tra gấp 1,5 lần (95% CI: 1,1 - 2) ở người “nhận” và 1,9 lần (95% CI: 1,4 -
2,6) ở người “cho” nếu sử dụng amphetamine khi QHTD (Celentano và cộng sự,
2006) [20]. Drumright và các cộng sự (2006) phát hiện hành vi UAI có liên quan
chặt chẽ tới việc sử dụng methamphetarmine (OR = 4,9) [35].
Ngoài ra, rất nhiều nghiên cứu cũng đã đề cập đến tác động của các loại ma
túy khác đến hành vi QHTD không an toàn. Cần sa cũng được chứng minh là có
mối liên quan quan tiềm tàng đến hành vi QHTD không an toàn ở MSM. Những
MSM sử dụng cần sa khoảng 2 giờ trước khi QHTD có nguy cơ UAI cao gấp 4,5
lần (95% CI: 1,87 - 10,94) so với những người không sử dụng (Clutterbuck và cộng
sự, 2001) [27]. Nguy cơ UAI với 03 bạn tình gần đây nhất cao gấp 2,2 lần nếu
MSM có sử dụng cần sa (Drumright và cộng sự, 2006) [35].
Một vài bằng chứng chỉ ra mối liên quan giữa sử dụng ma túy và hành vi
QHTD không an toàn khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố tình huống liên quan đến
cuộc QHTD ([35] [118]. Một trong những biến số đó là kiểu bạn tình trong cuộc
QHTD (ví dụ như bạn tình chính so sánh với bạn tình bất chợt). Nhìn chung, y văn
chỉ ra mối quan hệ mạnh mẽ giữa sử dụng ma túy và QHTD không an toàn với bạn
tình bất chợt, đặc biệt là với đối tác dị nhiễm (serodiscordant) hoặc không rõ tình
trạng nhiễm HIV của đối tác. Stueve và cộng sự (2002) phát hiện với những MSM
sử dụng ma túy trong lần QHTD gần đây nhất, nguy cơ không sử dụng biện pháp
bảo vệ trong lần QHTD này sẽ gia tăng nếu đối tác của họ là bạn tình bất chợt chứ
không phải là bạn tình chính [118].
Một vài nghiên cứu khác chỉ ra mối liên quan giữa QHTD không an toàn và
sử dụng ma túy khác nhau phụ thuộc vào vai trò của cá nhân trong cuộc QHTD (ví
dụ người “cho” hoặc người “nhận”). Một nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu lớn (N =
3.492) trong nhóm MSM từ 15 đến 22 tuổi tại Hoa Kỳ đã phát hiện một số loại ma
túy có liên quan đến tăng nguy cơ UAI đối với người “nhận”, trong khi vài loại ma
túy khác lại liên quan đến tăng nguy cơ UAI đối với người “cho” (Celentano và
11
cộng sự, 2006) [20]. Trong nghiên cứu này, sử dụng cần sa khi QHTD chỉ làm tăng
nguy cơ UAI đối với người “nhận”. Sử dụng amphetamine hoặc cocain có thể làm
tăng nguy cơ UAI đối với người “cho” hoặc người “nhận”.
Nhìn chung, các nghiên cứu về hành vi QHTD không an toàn trong nhóm
MSM chỉ ra mối liên quan thuận giữa sử dụng ma túy và UAI, đặc biệt là ma túy
tổng hợp. Mối liên quan này mạnh hơn khi MSM QHTD với bạn tình bất chợt so
với bạn tình chính. Ngoài ra, một số ít bằng chứng cho thấy một vài loại ma túy có
mối liên quan mạnh hơn với UAI ở người “nhận” so với người “cho”, hoặc ngược
lại. Có rất nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy mối liên quan mạnh mẽ giữa sử dụng
methamphetamine và UAI trong nhóm MSM.
1.3.2 Sử dụng rượu, bia
Sử dụng rượu, bia là một trong những yếu tố thường được chú ý khi nghiên
cứu về các yếu tố liên quan đến QHTD không an toàn trong quần thể nói chung và
trong quần thể MSM nói riêng. Nhìn chung, mối liên quan giữa sử dụng rượu, bia
và hành vi tình dục có nguy cơ không thống nhất, thay đổi tùy theo phương pháp
tiếp cận của từng nghiên cứu. Nghiên cứu của Hirshfield và cộng sự (2004) tìm thấy
mối liên quan thuận giữa sử dụng rượu bia và hành vi tình dục có nguy cơ. Những
người uống rượu, bia trước hoặc trong quá trình QHTD có nguy cơ UAI cao gấp 1,9
lần so với những người không dùng (95% CI từ1,7 đến 2,3) [59]. Stueve và cộng sự
(2002) phát hiện nguy cơ UAI ở những MSM báo cáo sử dụng “nhiều” rượu, bia
cao hơn so với nhóm khác [118]. Những MSM sử dụng từ 6 cốc rượu trở lên trước
hoặc trong khi QHTD tình dục có nguy cơ UAI hơn những người uống ít hơn
(Colfax và cộng sự, 2004) [28]. Mustanski (2008) sử dụng cách tiếp cận nhật ký
hàng ngày để xem xét ảnh hưởng của yếu tố tuổi như là một yếu tố điều tiết mối liên
quan giữa uống rượu và hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM từ 18 tuổi
trở lên. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy yếu tố tuổi ảnh hưởng rõ ràng đến mối quan
hệ giữa uống rượu và hành vi tình dục không an toàn, chẳng hạn như rượu có tác
động đáng kể đến hành vi tình dục không an toàn ở nhóm MSM già hơn (37 tuổi trở
lên) [89].
12
Bên cạnh đó các nghiên cứu của Choi và cộng sự (2005), McNall và
Remafedi (1999) hay Waldo và cộng sự (2000) lại cho biết không có mối liên quan
giữa việc sử dụng rượu, bia và UAI [23] [81] [124]. Sử dụng rượu, bia không liên
quan đến hành vi sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất (Cooper, 2002; Leigh,
2002) [29] [74]; số lượng rượu, bia đã uống không ảnh hưởng đến hành vi tình dục
của MSM (Weatherburn, 1993) [126].
Kỳ vọng tăng cường tình dục (ví dụ, niềm tin cho rằng rượu, bia và ma túy sẽ
giúp tăng cường những trải nghiệm tình dục) cũng là một cách giải thích lý do tại
sao một số cá nhân (không phải là tất cả) thể hiện mối liên quan thuận giữa sử dụng
rượu, bia và hành vi tình dục có nguy cơ. Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên
quan giữa khía cạnh nhận thức này và hành vi tình dục không an toàn trong nhóm
MSM. Những nghiên cứu này cho thấy rằng kỳ vọng vào rượu, bia có thể gần như
là yếu tố hàng đầu trong những MSM tham gia vào những hành vi tình dục nguy cơ
dưới ảnh hưởng của rượu, bia (Bimbi và cộng sự, 2006; Kalichman và cộng sự,
1998) [12] [144].
1.3.3 Tính cách cá nhân
Tính cách cá nhân cũng có thể ảnh hưởng đến hành vi tình dục không an toàn
trong nhóm MSM (Dudley và cộng sự, 2004) [36]. Các nhà nghiên cứu trước đây đã
sử dụng những mô hình Tâm lý học (như mô hình PEN của Eysenck,1990 [39]) và
mô hình phân loại (như mô hình Five-Factor của Goldberg, 1993 [49]) để lựa chọn
những biến số về tính cách cá nhân nhằm kiểm tra tương quan của chúng với hành
vi tình dục không an toàn [64]. Một số biến số tính cách cá nhân được xem xét bao
gồm tìm kiếm khoái cảm (Sensation-Seeking), bốc đồng (Impulsivity), cởi mở
(Openness), tận tậm (Conscientiousness), hợp tác (Agreeableness), tâm thần bất ổn
(Psychoticism), hướng ngoại (Extraversion) và nhạy cảm (neuroticism)…
Tìm kiếm khoái cảm là biến số tính cách nhận được nhiều sự chú ý hơn bất
kỳ biến số tính cách khác trong các tài liệu liên quan đến hành vi tình dục không an
toàn. Hoyle và cộng sự (2000) phát hiện 64% các nghiên cứu khảo sát về tính cách
cá nhân và hành vi tình dục không an toàn coi biến số tìm kiếm khoái cảm là một
13
biến độc lập [64]. Tuy nhiên, các phát hiện về mối liên quan giữa tìm kiếm khoái
cảm và hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM lại không hoàn toàn nhất
quán. Trong một nghiên cứu về nhóm MSM trẻ, Newcomb và đồng nghiệp (2011)
phát hiện tác động của tìm kiếm khoái cảm lên tỷ lệ UAI là không đáng kể. Tuy
nhiên, tìm kiếm khoái cảm lại điều phối quan hệ giữa sử dụng chất gây nghiện và tỷ
lệ UAI, chẳng hạn như tính cách tìm kiếm khoái cảm ở mức độ cao sẽ làm tăng mối
liên quan thuận giữa tần suất UAI và sử dụng chất gây nghiện trước khi QHTD
[94]. Trong một nghiên cứu khác cũng trên nhóm MSM trẻ, tìm kiếm khoái cảm có
mối tương quan thuận với hành vi tình dục không an toàn. Tuy nhiên, khi đưa vào
mô hình hồi quy đa tầng (hierarchichal regression model) sau các biến số khác như
đặc điểm nhân khẩu học, sử dụng chất gây nghiện và tình trạng hẹn hò thì tìm kiếm
khoái cảm không còn tác động đáng kể đến UAI [36]. Tương tự, trong nhóm MSM
trưởng thành, mối quan hệ giữa tìm kiếm khoái cảm và hành vi tình dục không an
toàn cũng không nhất quán. Bancroft và cộng sự (1996) [9], Kalichman và cộng sự
(1996) [68] báo cáo về một mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong khi McCoul và
Haslam (2001) lại không tìm thấy mối liên quan giữa hai yếu tố trên [145]. Sự
không thống nhất này có thể do tìm kiếm khoái cảm chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi
tình dục không an toàn bằng cách tăng tác động của các yếu tố khác (ví dụ như sử
dụng rượu) tới hành vi tình dục không an toàn. Trong trường này, quan hệ giữa tìm
kiếm khoái cảm và hành vi tình dục không an toàn phụ thuộc nhiều và đặc điểm của
mẫu nghiên cứu.
Mối liên hệ giữa hành vi tình dục không an toàn và một bộ các yếu tố liên
quan đến nhau bao gồm bốc đồng, bốc đồng trong tình dục, bốc đồng trong việc ra
quyết định đã được tiến hành nghiên cứu. Bốc đồng được định nghĩa theo nhiều
cách, hầu hết các định nghĩa đề cập đến hành động mà không suy nghĩ hoặc xem xét
những hậu quả của hành động. Một nghiên cứu trong nhóm MSM trẻ phát hiện bốc
đồng trong việc ra quyết định có mối liên quan đáng kể đến tần suất UAI vượt xa
các yếu tố khác, bao gồm số lượng bạn tình quan hệ qua đường hậu môn và tình
trạng nhiễm HIV của bạn tình (Dudley và cộng sự, 2004) [36]. Một nghiên cứu
khác của Hays và cộng sự (1997) trong nhóm MSM trẻ đã biết tình trạng HIV của
14
mình (âm tính hoặc dương tính) cho thấy bốc đồng trong tình dục có mối liên quan
với UAI [56].
1.3.4 Sức khỏe tâm thần
Mối liên quan giữa sức khỏe tâm thần và hành vi tình dục không an toàn
được nghiên cứu rộng rãi trong nhóm MSM cho thấy về mặt lý thuyết, trầm cảm, lo
âu và các cấu trúc có liên quan đến sức khỏe tâm thần có thể có liên quan đến hành
vi tình dục không an toàn.
Liên quan đến mối quan hệ giữa trầm cảm và hành vi tình dục không an toàn,
Perdue và cộng sự (2001) đã phát hiện ra rằng những MSM có điểm đánh giá triệu
chứng trầm cảm cao hơn sẽ có nhiều bạn tình hơn so với nhóm có điểm số thấp hơn
[101]. Mustanski và cộng sự (2007) phát hiện mối liên quan giữa căng thẳng tâm lý
và UAI ở những MSM trẻ tại thành phố [90] và trong một mẫu MSM từ 18 đến 30
tuổi, Strathdee và cộng sự (1998) cho biết những người QHTD không an toàn có
điểm số trầm cảm cao hơn những người QHTD an toàn [117].
Mối liên quan giữa lo âu và hành vi tình dục không an toàn không nhất quán
giữa nhóm MSM trưởng thành, MSM trẻ tuổi và các quần thể khác. Rosario và
cộng sự (2006) phát hiện trong số MSM trẻ tuổi, những triệu chứng lo âu có liên
quan trực tiếp đến sự gia tăng số lượng bạn tình và có liên quan gián tiếp đến UAI
thông qua hành vi sử dụng chất gây nghiện [108]. Một số nghiên cứu trên quần thể
MSM nói chung lại chỉ ra ít lo âu có liên quan đến sự gia tăng hành vi tình dục
không an toàn (Bancroft và cộng sự, 2003 [9]; Parsons và cộng sự, 2003 [99]).
Trong nghiên cứu của mình trên nhóm MSM, Mustanski (2007) cho rằng trạng thái
lo âu dường như tác động tới MSM theo những cách khác nhau. Đối với những
MSM thường hay lo âu, trạng thái lo âu đóng vai trò bảo vệ chống lại hành vi tình
dục không an toàn. Ngược lại, với những MSM thường không lo âu, trạng thái lo âu
lại đóng vai trò là yếu tố khiến MSM dễ bị tổn thương với nguy cơ [88]. Những kết
quả này phản ánh sự phức tạp của mối quan hệ giữa lo âu và hành vi tình dục không
15
an toàn cũng như sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu về những chủ đề này trong
nhóm MSM ở mọi lứa tuổi.
Nghiên cứu của Biello và cộng sự (2013) tại TP. HCM, Việt Nam đã phát
hiện mối liên quan giữa vấn đề sức khỏe tâm thần và hành vi UAI trong nhóm
MSW. Cụ thể, cứ tăng một vấn đề sức khỏe tâm thần MSW phải đối mặt thì nguy
cơ UAI cũng tăng từ 25 – 30% [11].
1.3.5 Mối quan hệ với bạn tình
Những nghiên cứu về trạng thái của những mối quan hệ đều chỉ ra xu hướng:
hành vi UAI thường xảy ra ở những mối quan hệ vững chắc hơn so với những mối
quan hệ bất chợt. Một số hành vi liên quan đến UAI ở nhóm MSM trong một mối
quan hệ bền vững bao gồm cùng xét nghiệm HIV và sống chung với một bạn tình
(Folch và cộng sự, 2006) [42].
Các yếu tố cảm xúc thúc đẩy hành vi UAI bao gồm mong muốn thể hiện sự
gần gũi, sự tin tưởng và tình yêu (Adam và cộng sự, 2000 [132]; Suarez & Miller,
2001 [119]); sự gần gũi với bạn tình (Zea và cộng sự, 2009 [129]); cho rằng sử
dụng BCS sẽ ảnh hưởng tới khoái cảm và sự thân mật (MacLean và cộng sự, 1994
[80]). Các yếu tố về nhận thức bao gồm nhận thức không chính xác hoặc sai lệch về
HIV (ví dụ, cảm thấy bạn tình là người không có nguy cơ, không quan tâm đến tình
trạng HIV của bạn tình, MacLean và cộng sự, 1994 [80]), giảm lo ngại về HIV và
AIDS do sự ra đời và thành công của các loại thuốc chống virus (Folch và cộng sự,
2006 [42]). Giao tiếp tình dục kém, bao gồm việc tránh đề cập đến các chủ đề về
tình dục an toàn cũng có thể góp phần thúc đẩy UAI trong những mối quan hệ của
MSM (MacLean và cộng sự, 1994 [80]). Nghiên cứu định tính của Kubicek và cộng
sự (2008) cũng chỉ ra trong nhóm MSM, những yếu tố liên quan đến hành vi UAI
với bạn tình chính bao gồm tin tưởng vào bạn tình, tìm kiếm sự thân mật và gần gũi
hơn trong mối quan hệ, bản năng cảm thấy bạn tình an toàn, đã cùng xét nghiệm
HIV để củng cố tình trạng đồng huyết thanh (seroconcordance) và biết rõ về bạn
tình (ví dụ, bạn tình là bạn hoặc bạn trai cũ) [72]. Một yếu tố khác cũng có thể làm
gia tăng hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM là có bạn tình nhiều tuổi
hơn. Nghiên cứu của Bingham và cộng sự (2003) [13], Morris và cộng sự (1995)
16
[86] về mối liên quan giữa tuổi của bạn tình và hành vi tình dục đã chỉ ra mối liên
quan thuận giữa có bạn tình nhiều tuổi hơn và sự gia tăng hành vi tình dục không an
toàn.
Tại Việt Nam, Ngo và cộng sự (2009) phát hiện lý do cản trở việc sử dụng
BCS khi QHTD thường do cảm giác tin tưởng bạn tình chính. Yêu cầu sử dụng
BCS được đưa ra sẽ bị đánh giá dưới góc độ khác như không tin tưởng, không
chung thủy, do đó có thể bất lợi cho mối quan hệ của họ. Vì lý do này, BCS thường
được sử dụng khi mua bán dâm nhưng hiếm khi được sử dụng khi QHTD với bạn
tình chính [96]. Ngoài ra, việc cảm thấy bạn tình an toàn cũng góp phần thúc đẩy
hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM (Vu và cộng sự, 2008) [123].
1.3.6 Yếu tố gia đình
Trong nhóm MSM trẻ, những hậu quả về sức khỏe tâm thần của sự kỳ thị có
thể dẫn đến tâm trạng căng thẳng, đau buồn hay ý định tự tử (Hershberger và
D’Augelli, 1995 [17]), sử dụng ma túy và hành vi tình dục không an toàn (CDC,
2009 [48]). Những kết quả tiêu cực này thường được thúc đẩy một phần bởi sự chối
bỏ của gia đình (bằng chứng là sự hỗ trợ nghèo nàn từ phía gia đình), bị quấy rối
vởi các thành viên gia đình hoặc bị đuổi khỏi nhà (Ryan và cộng sự, 2009 [113]).
Trong một nghiên cứu trên 224 người Mỹ da trắng và Latino tuổi từ 21 đến 25 tự
nhận mình là đồng tính nữ, đồng tính nam và lưỡng tính, Ryan và cộng sự (2009)
nhận thấy với những người bị gia đình chối bỏ ở mức cao trong thời kỳ vị thành
niên có liên quan đến việc tỷ lệ có ý định tự tử cao gấp 8,4 lần, tỷ lệ bị trầm cảm cao
gấp 5,9 lần, tỷ lệ sử dụng ma túy bất hợp pháp cao gấp 3,4 lần và tỷ lệ có QHTD
không an toàn cao gấp 3,4 lần so với nhóm báo cáo không bị hoặc bị gia đình chối
bỏ ở mức thấp trong thời kỳ vị thành niên [113].
1.3.7 Địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình
Thiếu vắng những khu vực, địa điểm công cộng chấp nhận và hỗ trợ MSM
cùng với những chuẩn mực nhóm chấp nhận những hành vi như sử dụng chất gây
nghiện và tình dục một đêm đã đẩy MSM phải đối mặt với những môi trường đầy
17
rủi ro (Garofalo và cộng sự, 2010 [47]; Harper, 2007[54]). Ví dụ, quán bar và câu
lạc bộ là những nơi MSM gặp gỡ, giao lưu và tìm kiếm bạn tình. Do đó, MSM phải
tiếp xúc với việc sử dụng rượu, bia, chất gây nghiện, vốn rất phổ biến tại đây, và họ
có thể học được cách kết hợp giữa ma túy và tình dục (McKirnan và cộng sự, 1996
[79]; Stall và cộng sự, 2001 [116]). Trong một nghiên cứu trên 428 MSM,
Greenwood và cộng sự (2001) phát hiện những người đến quán bar đồng tính có
mối liên quan chặt chẽ với cả hai hành vi là sử dụng rượu, bia và sử dụng kết hợp
nhiều loại ma túy, cũng như với hành vi tình dục không an toàn [116].
Ngoài quán bar hay các câu lạc bộ, MSM thường bị đẩy vào những bối cảnh
giao tiếp tình dục khác như môi trường công cộng nơi MSM có thể tìm thấy bạn
tình tiềm năng (công viên, vườn hoa) hay môi trường phải trả tiền để vào cửa (nhà
tắm công cộng, câu lạc bộ khiêu dâm) hay qua Internet. Điều này có thể khiến họ dễ
bị tổn thương bởi HIV hơn và có khả năng trở thành nạn nhân của bạo lực (Garofalo
và Harper, 2003 [45]; Garofalo và cộng sự, 2007 [46] ; Greenwood và cộng sự.,
2001 [116]). Một nghiên cứu khác của Garofalo và cộng sự (2007) trong nhóm
MSM từ 16 đến 24 tuổi cho thấy 25% đã từng tham gia vào hoạt động mại dâm và
26% đã từng QHTD tại nhà tắm công cộng hoặc câu lạc bộ khiêu dâm [47].
Elford và cộng sự (2001) phát hiện hành vi tìm kiếm tình dục qua Internet có
mối liên quan hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM ở London. Cụ thể,
nguy cơ MSMH tìm kiếm tình dục qua Internet có UAI với những MSMH khác cao
gấp 7,9 lần so với MSMH không tìm kiếm tình dục qua Internet (95% CI từ 1,8 đến
34,6) [38].
1.3.8 Kết nối với cộng đồng đồng MSM
Khi một người kết nối và hoạt động trong cộng đồng MSM, họ sẽ có cơ hội
tương tác với những MSM trong đó, được trải nghiệm với các chuẩn mực xã hội và
phong tục bên trong cộng đồng đồng tính đó. Liên quan đến nguy cơ lây nhiễm
HIV, việc kết nối với cộng đồng MSM làm tăng cơ hội tiếp xúc với chương trình dự
phòng HIV, giáo dục và xét nghiệm, những dịch vụ thường xuất hiện trong nhà tắm
công cộng, quán bar và câu lạc bộ đồng tính, biểu ngữ và quảng cáo trên những
18
trang web đồng tính, các sự kiện… (Daskalakis và cộng sự, 2009 [31]; Grov và
cộng sự, 2007 [51]; Mullens và cộng sự, 2009 [87]).
Ngược lại, việc kết nối với cộng đồng MSM cũng làm tăng khả năng phơi
nhiễm với các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV, chẳng hạn như có
quan điểm thoải mái hơn xung quanh việc sử dụng ma túy. Điều này đã được ghi
nhận trong những bữa tiệc đồng tính (circuit party) rất phổ biến tại Hoa Kỳ vào thập
niên 90 (Fernandez và cộng sự, 2005 [41]; Ross và cộng sự, 2003 [109]) và gần đây
là methamphetamine dạng đá (Halkitis và cộng sự, 2005 [52]; Nanin và cộng sự,
2006 [12]). Ngoài ra, MSM có nguy cơ tiếp xúc với những sự kiện kết hợp sử dụng
ma túy với hành vi tình dục (thường gọi là PnP hay “Party n Play”, Grov và cộng
sự, 2009 [50]; Halkitis và cộng sự, 2005 [53]), văn hóa “không BCS” (Carballo-
Dieguez và Bauermeister, 2004 [19]; Parsons và Bimbi, 2007 [98]) và nhiều quan
điểm thoải mái hơn về hoạt động tình dục (như những bữa tiệc sex ngầm, những
quán bar đồng tính với phòng kín cho phép QHTD tại chỗ và những khu vực công
cộng nơi có thể tìm thấy bạn tình… Frankis và Flowers, 2009 [43]; Grov và cộng
sự, 2007 [51]). Một điều rất đơn giản nhưng rất quan trọng, đó là tham gia vào cộng
đồng MSM làm tăng khả năng tiếp cận với những MSM khác, do đó cũng tăng khả
năng tiếp cận được với nhiều bạn tình tiềm năng.
1.3.9 Sử dụng Internet
MSM ngày này thường sử dụng Internet phục vụ cho các mục đích liên quan
đến sức khỏe tình dục, bao gồm cả việc kết nối với cộng đồng MSM, tìm kiếm
thông tin sức khỏe tình dục và gặp gỡ đối tác để hẹn hò hoặc QHTD [46] [91]. Có
sự không nhất quán trong kết quả các nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa
việc sử dụng Internet để tìm kiếm bạn tình và UAI hoặc hành vi tình dục không an
toàn trên nhóm MSM. Một số nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ
giữa tiền sử tình dục không an toàn và gặp gỡ bạn tình online (Garofalo và cộng sự,
2007 [46]; Horvath và cộng sự, 2006 [60]; Elford và cộng sự, 2001 [38]) trong khi
các nghiên cứu khác lại không tìm thấy mối quan hệ giữa các yếu tố này (Bolding
và cộng sự, 2005 [14]; Chiasson và cộng sự, 2007 [22]; Mustanski và cộng sự, 2011
19
[91]) và cuối cùng, một vài nghiên cứu phát hiện rất “ít” nguy cơ khi gặp gỡ bạn
tình online (Bull và cộng sự, 2001 [16]; Horvath và cộng sự, 2008 [63]; Mustanski
và cộng sự, 2007 [93]).
Nghiên cứu của Garofalo và cộng sự (2007) phát hiện 48% MSM báo cáo sử
dụng Internet để gặp gỡ bạn tình và chỉ có 53% trong số những người này báo cáo
thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD trong những lần hẹn hò này. Ngoài ra, 47%
MSM đã từng gặp gỡ bạn tình online báo cáo rằng bạn tình của họ nhiều tuổi hơn
mình (hơn 4 tuổi). Chỉ yếu tố “có tiền sử UAI” có liên quan đến hành vi QHTD
không an toàn với bạn tình online và điều này gợi ý rằng MSM có tiền sử UAI có
thể sử dụng Internet như một cách hiệu quả để tìm kiếm bạn tình có UAI khác [46].
Tương tự, trong một nghiên cứu nhằm tìm hiểu địa điểm nhóm MSM ở khu vực
nông thôn gặp bạn tình của họ và mối liên quan đến thực hành tình dục an toàn,
Horvath và cộng sự (2006) phát hiện Internet và quán bar là những địa điểm MSM
thường gặp gỡ bạn tình nhất. Nguy cơ tình dục không an toàn có mối liên quan đến
hẹn hò qua Internet [60]. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu gần đây trên nhóm MSM
từ 18 đến 24 tuổi cũng của Horvath và cộng sự (2006), kết quả lại cho thấy gặp gỡ
bạn tình online có thể không liên quan đến hành vi tình dục không an toàn. Đối
tượng nghiên cứu được chia thành ba nhóm theo địa điểm gặp gỡ bạn tình (chỉ gặp
bạn tình offline, chỉ gặp bạn tình online và gặp cả bạn tình online và offline) nhằm
xác định nơi MSM thường gặp bạn tình và xem sự khác nhau của mối liên quan
giữa các địa điểm này và tình dục nguy cơ. Trong ba nhóm, những MSM gặp gỡ cả
bạn tình online và offline có tỷ lệ UAI cao nhất (43% so với 29% ở nhóm chỉ gặp
bạn tình online và 34% ở nhóm chỉ gặp bạn tình offline). MSM chỉ gặp bạn tình
offline báo cáo có ít bạn tình nhất nhưng tỷ lệ bạn tình của họ liên quan đến UAI lại
cao nhất [63]. Trong một nghiên cứu trên nhóm MSM tại Hà Lan, 45% đối tượng
nghiên cứu báo cáo UAI với bạn tình cùng giới đầu tiên và không có sự khác biệt
giữa các loại bạn tình (gặp gỡ online hay offline - Franssens và cộng sự, 2010) [44].
Một số nghiên cứu xem xét mối liên quan giữa gặp gỡ bạn tình online và
hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM đã chỉ ra rằng có thể không có
mối liên quan trực tiếp hai chiều giữa các bên biến số này, nhưng có bên thứ ba nào
20
đó có thể giúp giải thích tại sao gặp gỡ bạn tình online và hành vi tình dục không an
toàn lại có mối tương quan thuận trong một số hoàn cảnh nhất định. Ví dụ, thông tin
cho bạn tình về tình trạng HIV và thỏa thuận trước nhằm tránh UAI có liên quan
đến việc hành vi tình dục không an toàn với bạn tình online xuất hiện với tần suất
thấp (Horvath, Nygaard và Rosser, 2009 [61]; Horvath, Oakes và Rosser, 2008
[62]). McKirnan và cộng sự (2007) tìm thấy bằng chứng về tương quan thuận giữa
gặp gỡ bạn tình online và hành vi tình dục không an toàn chịu sự tác động của các
yếu tố trung gian như đã từng có bạn tình giấu tên, gặp gỡ bạn tình tại những “bãi
đáp” công cộng, sử dụng ma túy, và cảm thấy “mệt mỏi” đối với vấn đề tình dục an
toàn [78].
1.3.10 Mại dâm
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận mối liên hệ giữa hoạt động mại dâm, đặc biệt
là mại dâm đường phố và lây nhiễm HIV và hành vi tình dục không an toàn. Nghiên
cứu của Bacon và cộng sự (2006) phát hiện, trong nhóm MSM tiêm chích ma túy tại
San Francisco, hành vi bán dâm cho nam giới có mối liên quan mạnh mẽ đến lây
nhiễm HIV và tỷ lệ sử dụng BCS tương đối thấp [8]. Tất nhiên là tự thân việc mua
bán dâm vốn không phải là nguy cơ trong việc lây truyền HIV vì HIV không lây
truyền qua giao dịch tài chính nhưng bối cảnh xung quanh giao dịch đó có thể thúc
đẩy hành vi tình dục không an toàn (Parsons và cộng sự, 2007 [100]). Bởi vì MSW
có thể thiếu kỹ năng cần thiết để thương lượng việc sử dụng BCS và truyền thông
về HIV và STIs cho khách hàng. Một số MSM có thể không biết nơi cung cấp BCS
miễn phí và mua BCS không phải là ưu tiên hàng đầu (có thể nhu cầu ăn, mặc, ở
còn cao hơn). Kết quả là MSM tham gia vào hoạt động mại dâm có thể phải dựa
vào nguồn cung BCS từ phía khách hàng. Ngay cả khi có sẵn BCS miễn phí, MSW
trên đường phố cũng ít có khả năng mang theo chúng vì sợ bị công an kiểm tra,
khám xét và bắt giữ. Hơn nữa, khách hàng có thể đề nghị thưởng thêm cho MSM
bán dâm nếu họ chấp nhận QHTD không dùng BCS, những đề nghị rất khó từ chối
nếu MSM đang thiếu tiền. Tương tự, một số khách hàng có thể từ chối mua dâm
hoặc sử dụng bạo lực nếu MSM bán dâm cứ khăng khăng đòi sử dụng BCS.
21
Điều kiện kinh tế, xã hội xung quanh MSW có thể quyết định họ sẽ bán dâm
bằng hình thức nào (đường phố, nhà hàng, nhà chứa hay qua Internet), quyền tự chủ
của họ (khả năng từ chối khách hàng hoặc hành vi tình dục nào đó) và kỹ năng để
giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV (Padilla, 2008 [147]; Smith và Grov, 2011
[149]). Nghiên cứu của Kong (2008) tại Thượng Hải và Bắc Kinh, Trung Quốc
trong nhóm MSW cho thấy bốn yếu tố ảnh hưởng đến định hướng tình dục và hoạt
động mại dâm, đẩy họ đến với nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs là: có kiến thức sai về
AIDS, kinh tế khó khăn, có định hướng QHTD đồng tính và quá tin tưởng vào các
mối QHTD (Kong, 2008) [71]. Nghiên cứu Colby và cộng sự (2010) tiến hành
trong nhóm MSW tại Việt Nam đã phát hiện lý do chính khiến MSM tham gia bán
dâm là do cần tiền và không kiếm được việc làm [134]. Chemnasiri và cộng sự
(2010) tại Thái Lan báo cáo hành vi không thường xuyên sử dụng BCS trong nhóm
MSW có mối liên quan chặt chẽ tới các yếu tố như sống một mình, có tiền sử bị
cưỡng bức tình dục, trình độ học vấn thấp [21].
1.3.11 Áp lực cá biệt (miniority stress)
Meyer (1995) lần đầu tiên giới thiệu về khái niệm “Áp lực nhóm có thiên
hướng tình dục cá biệt” (LGBT miniority stress) bằng cách mở rộng lý thuyết về
mối liên quan giữa các yếu tố dân tộc gây áp lực cá biệt, tình trạng kinh tế xã hội và
các yếu tố đầu ra của sức khỏe [82]. Ông chủ yếu tập trung vào nhóm MSM và ông
cho rằng những người này phải đối mặt với một tập hợp các yếu tố gây áp lực có thể
hoạt động độc lập hoặc kết hợp với những ảnh hưởng tiêu cực về sức khỏe tâm thần
và thể chất. Đặc biệt, ông nhấn mạnh rằng hội chứng sợ đồng tính của chính mình
(Internalized Homophobia) (IH), nhận thấy sự kỳ thị và đã từng bị phân biệt đối xử
và bạo hành là ba yếu tố gây nên áp lực cá biệt trong nhóm MSM.
Trong khi một nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về mối liên quan thuận
giữa hội chứng sợ đồng tính của chính mình và hành vi tình dục không an toàn
(Meyer và Dean, 1995 [83]) thì những nghiên cứu khác lại không lặp lại kết quả này
(Dudley và cộng sự, 2004 [36]; Rosario và cộng sự, 2001 [107]). Một số nhà nghiên
cứu cho rằng, tuy IH có thể không có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi tình dục
22
không an toàn nhưng nó có thể có tác động gián tiếp đến hành vi này (Ross và cộng
sự, 2010 [110]). Rosario và cộng sự (2001) phát hiện bằng chứng về tác động gián
tiếp của IH tới UAI trong nhóm MSM thông qua một mối liên quan thuận giữa IH
và các triệu chứng lo âu. Một vài hạn chế quan trọng của các nghiên cứu trước đây
về mối liên quan giữa HI và hành vi tình dục không an toàn có thể giúp giải thích sự
không nhất quán này. Một trong những hạn chế đáng chú ý là IH đã được nghiên
cứu rất nhiều trong nhóm MSM “già”, những người có thể bị ảnh hưởng bởi sự kỳ
thị AIDS (Meyer, 1995) [82]. Điều này có thể giải thích cho mối liên quan mạnh mẽ
giữa IH và hành vi tình dục không an toàn trong những nghiên cứu đầu tiên
(Newcomb và Mustanski, 2013) [95]. Ngoài ra, theo David và Knight (2008) có
bằng chứng cho thấy IH có thể đã thay đổi trong những thập kỷ gần đây, như vậy
những MSM “trẻ” hơn có thể đã đối mặt với một hình thức IH khác so với những
MSM trong thời kỳ tiền ARV (trước năm 1996) [32]. Cũng có thể trải nghiệm IH
một cách vô thức hoặc tiềm ẩn có thể tác động mạnh mẽ đến hành vi sức khỏe hơn
là tự báo cáo IH một cách rõ ràng. Hatzenbuehler và cộng sự (2009) đã tiến hành
một phân tích theo chiều dọc trong nhóm MSM có một người thân yêu đã chết gần
đây vì HIV/AIDS. Họ phát hiện IH tiềm ẩn là thước đo duy nhất nhằm đánh giá áp
lực cá biệt, theo thời gian, đã có sự liên quan đáng kể đến cả số lượng bạn tình và
UAI [55].
Trong một nghiên cứu trên nhóm MSM trên 18 tuổi ở khu vực nông thôn,
Preson và cộng sự (2007) đã phát hiện bằng chứng về sự liên quan gián tiếp giữa
nhận thấy sự kỳ thị từ cộng đồng và hành vi tình dục không an toàn. Những MSM
nhận thấy sự kỳ thị cao từ cộng đồng có xu hướng tìm kiếm khoái cảm tình dục cao
hơn [103]. Sử dụng một mẫu gồm 207 MSM da đen tại thành phố New York,
Finlayson (2007) phát hiện nhận thấy sự kỳ thị có liên quan đến UAI sau khi đã
kiểm soát các biến số nhâu khẩu học [137].
Bạo hành có lẽ là hình thức thể hiện rõ ràng nhất của áp lực cá biệt và đáng
nói là MSM thường hay phải đối mặt với cả quấy rối và ngược đãi. Đặc biệt, những
MSM trẻ có nguy cơ trở thành nạn nhân của sự ngược đãi cao hơn so với những
MSM trưởng thành và phụ nữ (Herek, 2009 [57]; Herek và cộng sự, 1999 [58];
23
Herek và Sims, 2008 [143]). Điều này có thể làm cho những căng thẳng tâm lý của
MSM trầm trọng hơn (Huebner và cộng sự, 2004 [65]; Koblin và cộng sự, 2006
[70]; Mustanski và cộng sự, 2010 [92]; Stall và cộng sự, 2008 [150]).
Koblin và cộng sự (2006) phát hiện phần lớn MSM (68%) tham gia nghiên
cứu của họ báo cáo về tiền sử bị đe dọa và bạo hành bởi các thành viên gia đình,
bạn tình thân thiết hoặc cả hai. Một điều đáng báo động là tiền sử bị đe dọa và bạo
hành bởi cả bạn tình thân thiết và các thành viên trong gia đình làm cho nguy cơ
MSM tham gia vào UAI tăng gần gấp đôi [70]. Marsiglia và cộng sự (2009) cũng
phát hiện mối tương quan thuận giữa tiền sử bị bạo hành và nguy cơ nhiễm HIV
trong nhóm MSM tại khu vực thành thị [76], và dường như có một mối liên hệ giữa
bạo hành cá nhân với bạn tình và UAI trong nhóm MSM trưởng thành (Feldman và
cộng sự, 2008 [40]; Relf và cộng sự, 2004 [105]). Bằng cách sử dụng số liệu từ
Điều tra Hành vi nguy cơ ở thanh thiếu niên, một cuộc điều tra quy mô lớn trong
nhóm thanh thiếu niên đang học lớp 9 đến 12, Bontempo và D’Augelli (2002) đã
phát hiện sự kết hợp giữa xu hướng tình dục đồng giới và thường bị ngược đãi ở
trường học có liên quan đến sự gia tăng các vấn đề về sức khỏe tâm thần, sử dụng
ma túy, tự tử và hành vi tình dục không an toàn [15].
1.3.12 Các chương trình dự phòng HIV
Nhìn chung, những tổng hợp gần đây cho thấy can thiệp hành vi dự phòng
HIV trong nhóm MSM có những hiệu quả nhất định. Can thiệp dự phòng ba cấp độ
(cá nhân, nhóm và cộng đồng) dường như có hiệu quả trong việc giảm hành vi tình
dục không an toàn liên quan đến lây truyền HIV/STIs. Johnson và cộng sự (2008)
phát hiện trong 40 chương trình can thiệp, so với nhóm nhận được can thiệp dự
phòng tối thiểu hoặc không nhận được can thiệp, nhóm nhận được can thiệp đầy đủ
có mức giảm hành vi UAI trung bình là 27% [66].
Dự phòng thứ phát đề cập đến những nỗ lực dự phòng cho những cá nhân đã
nhiễm HIV với mục tiêu cuối cùng là giảm lây truyền HIV từ những người này cho
người khác. Crepaz và cộng sự (2009) đã cung cấp bằng chứng cho thấy tỷ lệ UAI
trong nhóm MSMH cao hơn so với nhóm MSM có HIV âm tính hoặc MSM không
24
biết tình trạng HIV [30]. Điều này cho thấy nhu cầu cụ thể đối với vấn đề dự phòng
thứ phát trong nhóm MSM.
Rotheram-Borus và cộng sự (2004) đã tiến hành một can thiệp dự phòng thứ
phát trên một mẫu nghiên cứu gồm phần lớn (69%) là những MSM từ 16 đến 29
tuổi. Họ nhận thấy rằng so với những người nhận được dự phòng muộn, những
người nhận được dự phòng sớm có xu hướng tăng tần suất QHTD an toàn [112].
Ngược lại, Rosser và cộng sự (2010) đã tiến hành một thử nghiệm ngẫu nghiên có
đối chứng nhằm kiểm tra hiệu quả của can thiệp thứ cấp cho MSM. Kết quả cho
thấy tỷ lệ giảm UAI trong nhóm dị tính là như nhau giữa MSMH và MSM có HIV
âm tính. Trong trường hợp này, can thiệp dự phòng cho nhóm MSMH không đem
lại lợi ích hơn so với can thiệp nói chung [112].
Có thể hiệu quả của can thiệp dự phòng thứ phát không nhất quán vì chúng ta
chưa hiểu rõ cơ chế bên dưới sự thành công của phương pháp này. Một vài nghiên
cứu đã điều tra các cấu phần hiệu quả của các can thiệp dự phòng tích cực. Sikkema
và cộng sự (2010) cho rằng việc giảm căng thẳng tâm lý là cơ chế nền tảng của
thành công trong dự phòng thứ phát. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng tăng
cường sức khỏe tâm thần sẽ ảnh hưởng tích cực đến hành vi tình dục [115]. Do đó,
các biện pháp dự phòng thứ phát nên lấy trọng tâm là các biện pháp tăng cường sức
khỏe tâm thần.
1.4 Khung lý thuyết hành vi tình dục không an toàn và một số yếu tố liên
quan trong nhóm MSM
Các yếu tố có tính chất tác động và dự báo hành vi tình dục không an toàn
trong nhóm MSM có thể cung cấp những bằng chứng hiệu quả nhằm xác định cá
nhân có nguy cơ lây nhiễm HIV và xây dựng mục tiêu cho các chương trình can
thiệp. Rất nhiều mô hình lý thuyết đã được các tác giả sử dụng để tìm hiểu và đánh
giá tác động của các yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn trong
nhóm MSM như Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action), mô
hình Xuyên lý thuyết (Các bước thay đổi hành vi Transtheoretical Model), hoặc mô
hình Niềm tin sức khỏe (Health Belief Model)… Theo Choi và cộng sự (1998), mặc
25
dù một số mô hình rất hữu ích trong việc thiết kế các chương trình can thiệp giảm
nguy cơ nhưng các số liệu thực tế gần đây cho thấy các mô hình này chưa giúp giải
thích đầy đủ về tác động giữa môi trường xung quanh và cấp độ cá thể trong nhóm
MSM. Do đó, tác giả đề xuất sử dụng một mô hình sinh thái sức khỏe có tiềm năng
gợi ý các chiến lược dự phòng nhằm vào cá nhân, gia đình và cộng đồng xung
quanh nhằm làm giảm nguy cơ lây nhiễm trong nhóm MSM [24].
Theo Mô hình lý thuyết nhận thức xã hội của Pajares (2002) thì ba yếu tố:
môi trường, con người và hành vi liên tục ảnh hưởng qua lại với nhau [97]. Hành vi
không chỉ đơn thuần là kết quả của sự tác động giữa con người và môi trường, cũng
giống như môi trường không chỉ đơn thuần là kết quả của sự tương tác giữa con
người và hành vi. Yếu tố môi trường được đề cập ở đây bao gồm môi trường xã hội
và môi trường thể chất.
Hình 1. Mô hình lý thuyết nhận thức xã hội (Pajares, 2002 [97])
Trong quá trình tìm hiểu y văn nhằm làm rõ những vấn đề có liên quan đến
hành vi tình dục không an toàn, chúng tôi nhận thấy rằng phần lớn các tài liệu trong
lĩnh vực này tập trung vào nghiên cứu các yếu tố nguy cơ ở cấp độ cá nhân. Yếu tố
sử dụng ma túy là một yếu tố trong các yếu tố ở cấp độ cá nhân có mối liên quan
mạnh mẽ và nhất quán nhất với hành vi tình dục không an toàn trên nhóm MSM.
Các yếu tố ở cấp độ cá nhân khác như tìm kiếm khoái cảm, cưỡng bức tình dục,
niềm tin bản thân đối với các hành vi dự phòng HIV và bị lạm dụng tình dục từ bé
cũng có mối liên hệ mạnh mẽ tới hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM.
Các yếu tố khác cho kết quả không nhất quán về ảnh hưởng của chúng tới hành vi
HÀNH VI
YẾU TỐ CÁ NHÂN
(Nhận thức, tác động và các
yếu tố sinh học)
YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
26
tình dục không an toàn bao gồm: kết nối với cộng đồng MSM, sử dụng rượu, bia,
trầm cảm, lo âu và sự tự kỳ thị đồng tính của chính mình.
Ở cấp độ môi trường, có bằng chứng mạnh mẽ hỗ trợ cho vai trò của hỗ trợ
từ xã hội đối trong hành vi giảm nguy cơ lây nhiễm HIV và vai trò của đồng đẳng
như là tác nhân thay đổi hành vi. Bên cạnh đó, việc xác định một đối tác là bạn tình
quan trọng hoặc là bạn tình chính có mối liên quan nhất quán đến tỷ lệ UAI cao.
Vẫn còn thiếu hoặc không nhất quán trong kết quả của những nghiên cứu tìm hiểu
về mối liên quan giữa những đặc điểm của bạn tình như tuổi, dân tộc và hình thức
gặp gỡ (online hay offline). Một vài nghiên cứ phát hiện yếu tố “gia đình hỗ trợ và
chấp nhận” có liên quan đến hành vi tình dục không an toàn nhưng kết quả vẫn còn
tương đối hạn chế. Đã có những lý thuyết quan trọng về tầm ảnh hưởng của các yếu
tố xã hội nhưng những nghiên cứu thực tế trong nhóm MSM còn rất hạn chế.
MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI TÌNH DỤC
KHÔNG AN TOÀN QUA ĐƯỜNG HẬU MÔN TRONG NHÓM MSM
Nghiên cứu sử dụng bộ số liệu điều tra IBBS vòng II năm 2009 như một
nguồn số liệu thứ cấp nhằm tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục
không an toàn trong nhóm MSM tại Hà Nội năm 2010. Do hạn chế về thông tin thu
thập từ bộ số liệu IBBS vòng II năm 2009, những phân tích trong nghiên cứu không
thể đề cập đến mối liên quan giữa hành vi tình dục không an toàn và tất cả các yếu
Yếu tố cá nhân
Nhân khẩu học
Sử dụng rượu, bia, chất kích
thích/an thần
Kiến thức về HIV/STIs
Nhiễm HIV/STIs
Yếu tố môi trường
Yếu tố bạn tình
Khả năng tiếp cận với BCS
Địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn
tình
Các chương trình dự phòng HIV
Hành vi nguy cơ
Không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD
27
tố đã được liệt kê trong phần tổng quan tài liệu mà chỉ tập trung giải thích mối liên
quan giữa hành vi tình dục không an toàn và một số yếu tố như đặc điểm nhân khẩu
học của đối tượng nghiên cứu, yếu tố bạn tình, tiếp cận với các chương trình can
thiệp, kiến thức về HIV và STIs….
1.5 Giới thiệu phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS)
Đặc trưng của các nhóm quần thể ẩn được biểu hiện ở một số đặc điểm nhất
định gây khó khăn cho quá trình nghiên cứu và dự đoán các đặc điểm nhân khẩu
học của các thành viên trong các nhóm này. Những đặc điểm này có thể bao gồm
việc thiếu khung mẫu, kích thước quần thể nhỏ, sự trải nghiệm hoặc dự đoán về kỳ
thị của các thành viên trong nhóm, hay sự ngần ngại khi chia sẻ thông tin ra bên
ngoài nhóm [33]. Những đặc điểm này thường xuất phát từ những hành động bất
hợp pháp và khả năng không được xã hội đồng thuận khi bị phát hiện. Việc lấy mẫu
xác suất trong quần thể ẩn thường bất khả thi trong thực tế và là không thể về mặt
kỹ thuật, không cho phép áp dụng tiêu chuẩn vàng trong việc chọn mẫu khách quan
[34] [141]. Nhiều nghiên cứu đã dựa vào phương pháp lấy mẫu không ngẫu nhiên
như lấy mẫu thuận tiện và lấy mẫu “hòn tuyết lăn” (người tham gia giới thiệu những
người họ biết và những người này tiếp tục giới thiệu những người khác cho đến khi
đáp ứng đầy đủ cỡ mẫu) nhằm lấy được các mẫu lớn nhưng lại không đảm bảo tính
đại diện của những kết quả, phát hiện từ các nghiên cứu đó. Lấy mẫu mục tiêu
(trong chọn mẫu theo cụm-thời gianhoặc theo địa điểm) là các biến thể thường được
sử dụng khi các quần thể ẩn tập trung ở một khu vực địa lý nhất định [141].
Mặc dù đã có những sự thích ứng, thay đổi nhất định nhưng các phương
pháp chọn mẫu không ngẫu nhiên vẫn bị chỉ trích là có những thiên vị nhất định
trong quá trình tuyển chọn [140]. Các hình thức phổ biến của sự thiên vị khi tuyển
chọn có thể là sự giống nhau về mặt nhân khẩu học, sự tình nguyện, sự ngụy trang
(bảo vệ cho người cùng nhóm bằng cách từ chối giới thiệu họ) và sự tuyển chọn
quá khác biệt (một nhóm có tính đại diện quá mức hoặc ít có tính đại diện) [141].
28
Để giải quyết vấn đề thiên vị khi chọn mẫu, Heckathorn D.D. [140] đã phát
triển phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát như là một phương pháp giới
thiệu dây chuyền dựa trên “mô hình liên hệ” thường xuyên giữa các mạng lưới xã
hội trong một quần thể ẩn [67]. Nếu mô hình giới thiệu đối tượng nghiên cứu được
theo dõi một các chặt chẽ và chuẩn mực, “có thể rút ra được các chỉ số thống kê tin
cậy và xác định được độ chính xác của những thống kê đó” [141]. Để có những suy
luận về một quần thể ẩn tiệm cận đến mức không thiên vị, RDS dựa vào các thủ tục
cụ thể và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn lấy mẫu [148].
Quy trình tiến hành chọn mẫu theo phương pháp RDS gồm 2 bước:
Bước 1 - Chọn “hạt giống”:
Một số hạt giống sẽ được được chọn dựa trên các tiêu chuẩn:
 Có những đặc điểm khác nhau;
 Thường gặp gỡ và giao du với các mạng lưới khác nhau và ở những địa
điểm khác nhau;
 Hiểu rõ về mạng lưới của quần thể
 Có nhiều mạng lưới rộng và kết nối tốt
 Sẵn sàng tuyển chọn người tham gia khác vào nghiên cứu
Bước 2 - Tuyển chọn người tham gia:
Làn sóng tuyển chọn đầu tiên được thực hiện bởi các hạt giống (bây giờ trở
thành người tuyển chọn). Sau khi hoàn thành phỏng vấn, những hạt giống trở thành
những người tuyển chọn và mỗi người sẽ nhận được một số phiếu mời nhất định, họ
được hướng dẫn cách để phát những phiếu mời này.
Tất cả những người tham gia về sau, sau khi hoàn thành thu thập thông tin,
cũng được cung cấp một số phiếu mời tương ứng với số lượng phiếu mời mà “hạt
giống” nhận được và hướng dẫn để mời những người đồng đẳng khác của họ tham
gia vào nghiên cứu, và quá trình này tiếp tục cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu cần thiết.
Nếu thành công, sau một số làn sóng tuyển chọn nhất định, mẫu sẽ đạt đến “điểm
cân bằng”, khi đó các đặc điểm của mẫu chọn được sẽ có các thông số xấp xỉ với
các thông số của quần thể.
29
Hệ thống phiếu mời có tính chất rất quan trọng, cho phép theo dõi chính xác
xem ai tuyển dụng ai và độ lớn mạng lưới xã hội của họ. Một mô hình toán học của
toàn bộ quá trình chọn mẫu được sử dụng để gia trọng (weight) cho mẫu và bù đắp
cho những mẫu được tuyển chọn không ngẫu nhiên. Qua đó, những ước tính khách
quan cho quần thể được tạo ra và được đo đạc chính xác hơn. Hơn nữa, RDS còn
cho phép các nhà nghiên cứu đánh giá “mức độ kết nối giữa các thành viên của các
nhóm khác nhau, có thể được sử dụng để phân tích cấu trúc xã hội của quần thể ẩn
trong nghiên cứu” [125].
Kể từ lần đầu tiên được sử dụng bởi chính Heckathorn để nghiên cứu về
hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm TCMT tại Hoa Kỳ [140], RDS đã được
sử dụng trong rất nhiều loại nghiên cứu trên các quần thể có nguy cơ và khó tiếp
cận như người TCMT, người bán dâm, MSM và các nhóm khác có nguy cơ cao lây
nhiễm HIV [125] [34] [26] [7] [106].
Hình 2. Mô hình mạng lưới nhóm nam có QHTD đồng giới tham gia một nghiên
cứu tại Buenos Aires, Argentina [18].
Một nghiên cứu do A. Carballo-Dieguez (2011) tiến hành tại Buenos Aires,
Argentina nhằm tìm hiểu tính ưu việt của phương pháp chọn mẫu RDS trong việc
phát hiện những người được coi là MSM “ẩn” trong quần thể. Chỉ có 24,5% những
người tham gia nghiên cứu được xác định là đồng tính, 36,2% được xác định là
30
lưỡng tính, 21,9% có QHTD khác giới và 17,4% thuộc nhóm “khác”. Nghiên cứu
cũng chỉ ra tiềm năng của việc áp dụng RDS để tiếp cận với nhóm quần thể ẩn này
[18].
Một nghiên cứu tiến hành tại Việt Nam nhằm so sánh hành vi nguy cơ và
một số yếu tố liên quan giữa nhóm phụ nữ mại dâm “ẩn” và “không ẩn” tại Hải
Phòng và Hồ Chí Minh do L. G. Johnston và các cộng sự (2006) tiến hành cho biết
phương pháp RDS đã rất thành công trong việc tiếp cận được với quần thể phụ nữ
mại dâm “ẩn” – điều rất khó thực hiện khi tiến hành phương pháp chọn mẫu cụm –
thời gian (TLS) [67].
Cũng tại Việt Nam, phương pháp RDS cũng đã được áp dụng trong hai vòng
của điều tra IBBS được tiến hành vào các năm 2006 và 2009 tại một số tỉnh, thành
phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hải Phòng [6] [1].
Một số giả định khi tiến hành chọn mẫu theo phương pháp RDS
Một số giả định phải được đáp ứng khi tiến hành chọn mẫu theo phương
pháp RDS trên một nhóm quần thể xác định [148] [142].
Một trong những giả định này là thành viên trong quần thể được tuyển chọn
phải biết một ít nhất một đối tượng khác trong quần thể đích (Ví dụ: MSM phải biết
một người khác cũng là MSM). Nếu thành viên trong quần thể này không thể xác
định được một người khác thì họ sẽ không đáp ứng đầy đủ các điều kiện tuyển chọn
hợp lệ và quy trình chọn mẫu sẽ không thành công.
Toàn bộ quần thể được tuyển chọn cũng phải được kết nối với nhau để đảm
bảo đáp ứng được dây chuyền giới thiệu; trong điều kiện lý tưởng, mạng lưới này
nên tạo thành một thành phần duy nhất (mạng lưới trong mạng lưới) hơn là nhiều
mạng lưới đơn lẻ, nhờ đó mà dây chuyền giới thiệu có thể tiếp cận đến tất cả các tập
con của quần thể đích tại một khu vực xác định. Quy trình tuyển chọn sẽ không thể
tiếp cận đến những tập con của quần thể đích bị mất kết nối hoàn toàn với mạng
lưới chính và do đó, kết quả từ RDS sẽ không thể đại diện cho những nhóm này.
Giả định thứ ba là cỡ mẫu được tuyển chọn bằng RDS phải tương đối nhỏ so
với kích cỡ quần thể đích. Giả định này nhằm đảm bảo xác suất được tuyển chọn
của từng đối tượng không thay đổi theo thời gian [148] vì tập hợp những người có
31
khả năng được chọn sẽ không giảm đi đáng kể. Do mỗi đối tượng chỉ có thể tham
gia một lần duy nhất vào quy trình chọn mẫu nên giả định này rất quan trọng nhằm
đảm bảo rằng tập hợp những người có khả năng được chọnsẽ không bị thu hẹp như
trong chọn mẫu tiến triển.
Hai giả định khác của RDS bao gồm: Người tham gia có thể báo cáo chính
xác độ lớn của mạng lưới cá nhân (network size); và việc tuyển chọn người tham
gia từ mạng lưới của người tuyển chọn là hoàn toàn ngẫu nhiên; cũng có thể được
áp dụng khi phân tích RDS.
1.6 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu
Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, tập trung nhiều
đầu mối giao thông đi qua, là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp; khu đô thị mới
đang xây dựng, mở rộng; trường Đại học, Cao đẳng… Theo báo cáo Niên giám
thống kê của Tổng cục thống kê, tính đến hết năm 2012, dân số trung bình của Hà
Nội đạt 6.844.100 người, trong đó nam giới chiếm 49,6%. Tổng số người đang
trong độ tuổi lao động từ 15 trở lên của Hà Nội vào khoảng 3.719.000 người, thu
nhập bình quân đầu người của Hà Nội ước tính vào khoảng 2.257 USD, tăng 1,3 lần
so với năm 2008 [5]. Cũng theo báo cáo này, tỷ suất chết thô của Hà Nội ước tính
khoảng 0,72%, cao hơn so với tỷ suất chung của cả nước (0,7%) [5]. Trong những
năm gần đây cùng với sự tăng trưởng kinh tế và tốc độ đô thị hoá nhanh, những vấn
đề xã hội phức tạp (như ma tuý, mại dâm) có liên quan đến tình hình dịch
HIV/AIDS trên địa bàn thành phố có chiều hướng gia tăng. Theo số liệu báo cáo
của Trung tâm phòng, chống AIDS Hà Nội, tính đến hết năm 2011, ước tính trên
địa bàn Hà Nội có khoảng 8.164 phụ nữ bán dâm (PNBD), khoảng 30.873 người
tiêm chích ma túy (TCMT) và đứng thứ hai cả nước về số người thuộc nhóm MSM
(18.851 người). Hà Nội cũng là địa phương đứng thứ hai cả nước về số người
nhiễm HIV hiện đang còn sống. Tính đến hết ngày 30/06/2012, có 19.701 trường
hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống và số trường hợp tử vong do HIV/AIDS được
báo cáo vào khoảng 3.700 ca [3].
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf
Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf

More Related Content

Similar to Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf

Luận án: Phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, HAY
Luận án: Phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, HAYLuận án: Phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, HAY
Luận án: Phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, HAY
Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864
 
Đề tài: Nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủ...
Đề tài: Nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủ...Đề tài: Nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủ...
Đề tài: Nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủ...
Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO: 0936 885 877
 
Luận văn: Đánh giá năng lực của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa...
Luận văn: Đánh giá năng lực của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa...Luận văn: Đánh giá năng lực của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa...
Luận văn: Đánh giá năng lực của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa...
Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Zalo/Telegram 0917193864
 
Luận văn: Nâng cao chất lượng giám định viên bảo hiểm y tế tại bảo hiểm xã hộ...
Luận văn: Nâng cao chất lượng giám định viên bảo hiểm y tế tại bảo hiểm xã hộ...Luận văn: Nâng cao chất lượng giám định viên bảo hiểm y tế tại bảo hiểm xã hộ...
Luận văn: Nâng cao chất lượng giám định viên bảo hiểm y tế tại bảo hiểm xã hộ...
Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Zalo/Telegram 0917193864
 
Luận văn thạc sĩ Chính sách An Sinh Xã Hội đối với người cao tuổi tại Việt Nam
Luận văn thạc sĩ Chính sách An Sinh Xã Hội đối với người cao tuổi tại Việt NamLuận văn thạc sĩ Chính sách An Sinh Xã Hội đối với người cao tuổi tại Việt Nam
Luận văn thạc sĩ Chính sách An Sinh Xã Hội đối với người cao tuổi tại Việt Nam
Dịch vụ Làm Luận Văn 0936885877
 
Luận văn: Biện pháp quản lý quy trình đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn n...
Luận văn: Biện pháp quản lý quy trình đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn n...Luận văn: Biện pháp quản lý quy trình đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn n...
Luận văn: Biện pháp quản lý quy trình đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn n...
Dịch vụ viết thuê Khóa Luận - ZALO 0932091562
 
Đề tài: Đánh giá công chức tại cơ quan UBND huyện Tây Hoà, HAY
Đề tài: Đánh giá công chức tại cơ quan UBND huyện Tây Hoà, HAYĐề tài: Đánh giá công chức tại cơ quan UBND huyện Tây Hoà, HAY
Đề tài: Đánh giá công chức tại cơ quan UBND huyện Tây Hoà, HAY
Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO 0917193864
 
Luận văn: Đánh giá công chức cơ quan chuyên môn tỉnh Phú Yên
Luận văn: Đánh giá công chức cơ quan chuyên môn tỉnh Phú YênLuận văn: Đánh giá công chức cơ quan chuyên môn tỉnh Phú Yên
Luận văn: Đánh giá công chức cơ quan chuyên môn tỉnh Phú Yên
Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864
 
Luận văn: Đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
Luận văn: Đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDLuận văn: Đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
Luận văn: Đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO 0917193864
 
Luận văn: Kiến thức, thực hành về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ của giáo viên tạ...
Luận văn: Kiến thức, thực hành về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ của giáo viên tạ...Luận văn: Kiến thức, thực hành về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ của giáo viên tạ...
Luận văn: Kiến thức, thực hành về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ của giáo viên tạ...
Dịch vụ viết thuê Khóa Luận - ZALO 0932091562
 
Đề tài: Bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Đề tài: Bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanhĐề tài: Bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Đề tài: Bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Dịch vụ viết bài trọn gói ZALO: 0909232620
 
Tạo động lực lao động tại khối cơ quan Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Tạo động lực lao động tại khối cơ quan Tập đoàn Viễn thông Quân đội Tạo động lực lao động tại khối cơ quan Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Tạo động lực lao động tại khối cơ quan Tập đoàn Viễn thông Quân đội
hieu anh
 
Luận án: Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng chốn...
Luận án: Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng chốn...Luận án: Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng chốn...
Luận án: Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng chốn...
Viết thuê trọn gói ZALO 0934573149
 
Đánh giá viên chức ở các bệnh viện công lập thuộc Sở Y tế Hà Nội
Đánh giá viên chức ở các bệnh viện công lập thuộc Sở Y tế Hà NộiĐánh giá viên chức ở các bệnh viện công lập thuộc Sở Y tế Hà Nội
Đánh giá viên chức ở các bệnh viện công lập thuộc Sở Y tế Hà Nội
luanvantrust
 
Luận án: Nghiên cứu tật khúc xạ ở học viên một số trường sĩ quan quân đội và ...
Luận án: Nghiên cứu tật khúc xạ ở học viên một số trường sĩ quan quân đội và ...Luận án: Nghiên cứu tật khúc xạ ở học viên một số trường sĩ quan quân đội và ...
Luận án: Nghiên cứu tật khúc xạ ở học viên một số trường sĩ quan quân đội và ...
Dịch vụ viết thuê Khóa Luận - ZALO 0932091562
 
Luận án: Giáo dục hành vi văn hóa cho sinh viên ĐH sư phạm
Luận án: Giáo dục hành vi văn hóa cho sinh viên ĐH sư phạmLuận án: Giáo dục hành vi văn hóa cho sinh viên ĐH sư phạm
Luận án: Giáo dục hành vi văn hóa cho sinh viên ĐH sư phạm
Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864
 
Sử dụng giống cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt, HAY
Sử dụng giống cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt, HAYSử dụng giống cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt, HAY
Sử dụng giống cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt, HAY
Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864
 
CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƢỜNG XUYÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐÔNG LĨNH.pdf
CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƢỜNG XUYÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐÔNG LĨNH.pdfCHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƢỜNG XUYÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐÔNG LĨNH.pdf
CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƢỜNG XUYÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐÔNG LĨNH.pdf
NuioKila
 
Luận án: Hiệu quả điều trị sai khớp cắn loại II do lùi xương hàm dưới
Luận án: Hiệu quả điều trị sai khớp cắn loại II do lùi xương hàm dướiLuận án: Hiệu quả điều trị sai khớp cắn loại II do lùi xương hàm dưới
Luận án: Hiệu quả điều trị sai khớp cắn loại II do lùi xương hàm dưới
Dịch Vụ Viết Bài Trọn Gói ZALO 0917193864
 
Chính sách an sinh xã hội dành cho người cao tuổi tại Việt Nam
Chính sách an sinh xã hội dành cho người cao tuổi tại Việt NamChính sách an sinh xã hội dành cho người cao tuổi tại Việt Nam
Chính sách an sinh xã hội dành cho người cao tuổi tại Việt Nam
luanvantrust
 

Similar to Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf (20)

Luận án: Phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, HAY
Luận án: Phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, HAYLuận án: Phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, HAY
Luận án: Phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân, HAY
 
Đề tài: Nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủ...
Đề tài: Nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủ...Đề tài: Nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủ...
Đề tài: Nghiên cứu hiệu quả của ghép tế bào gốc tự thân điều trị bệnh đa u tủ...
 
Luận văn: Đánh giá năng lực của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa...
Luận văn: Đánh giá năng lực của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa...Luận văn: Đánh giá năng lực của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa...
Luận văn: Đánh giá năng lực của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa...
 
Luận văn: Nâng cao chất lượng giám định viên bảo hiểm y tế tại bảo hiểm xã hộ...
Luận văn: Nâng cao chất lượng giám định viên bảo hiểm y tế tại bảo hiểm xã hộ...Luận văn: Nâng cao chất lượng giám định viên bảo hiểm y tế tại bảo hiểm xã hộ...
Luận văn: Nâng cao chất lượng giám định viên bảo hiểm y tế tại bảo hiểm xã hộ...
 
Luận văn thạc sĩ Chính sách An Sinh Xã Hội đối với người cao tuổi tại Việt Nam
Luận văn thạc sĩ Chính sách An Sinh Xã Hội đối với người cao tuổi tại Việt NamLuận văn thạc sĩ Chính sách An Sinh Xã Hội đối với người cao tuổi tại Việt Nam
Luận văn thạc sĩ Chính sách An Sinh Xã Hội đối với người cao tuổi tại Việt Nam
 
Luận văn: Biện pháp quản lý quy trình đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn n...
Luận văn: Biện pháp quản lý quy trình đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn n...Luận văn: Biện pháp quản lý quy trình đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn n...
Luận văn: Biện pháp quản lý quy trình đánh giá giáo viên mầm non theo chuẩn n...
 
Đề tài: Đánh giá công chức tại cơ quan UBND huyện Tây Hoà, HAY
Đề tài: Đánh giá công chức tại cơ quan UBND huyện Tây Hoà, HAYĐề tài: Đánh giá công chức tại cơ quan UBND huyện Tây Hoà, HAY
Đề tài: Đánh giá công chức tại cơ quan UBND huyện Tây Hoà, HAY
 
Luận văn: Đánh giá công chức cơ quan chuyên môn tỉnh Phú Yên
Luận văn: Đánh giá công chức cơ quan chuyên môn tỉnh Phú YênLuận văn: Đánh giá công chức cơ quan chuyên môn tỉnh Phú Yên
Luận văn: Đánh giá công chức cơ quan chuyên môn tỉnh Phú Yên
 
Luận văn: Đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
Luận văn: Đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBNDLuận văn: Đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
Luận văn: Đánh giá công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
 
Luận văn: Kiến thức, thực hành về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ của giáo viên tạ...
Luận văn: Kiến thức, thực hành về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ của giáo viên tạ...Luận văn: Kiến thức, thực hành về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ của giáo viên tạ...
Luận văn: Kiến thức, thực hành về nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ của giáo viên tạ...
 
Đề tài: Bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Đề tài: Bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanhĐề tài: Bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Đề tài: Bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
 
Tạo động lực lao động tại khối cơ quan Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Tạo động lực lao động tại khối cơ quan Tập đoàn Viễn thông Quân đội Tạo động lực lao động tại khối cơ quan Tập đoàn Viễn thông Quân đội
Tạo động lực lao động tại khối cơ quan Tập đoàn Viễn thông Quân đội
 
Luận án: Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng chốn...
Luận án: Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng chốn...Luận án: Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng chốn...
Luận án: Hiệu quả can thiệp thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành phòng chốn...
 
Đánh giá viên chức ở các bệnh viện công lập thuộc Sở Y tế Hà Nội
Đánh giá viên chức ở các bệnh viện công lập thuộc Sở Y tế Hà NộiĐánh giá viên chức ở các bệnh viện công lập thuộc Sở Y tế Hà Nội
Đánh giá viên chức ở các bệnh viện công lập thuộc Sở Y tế Hà Nội
 
Luận án: Nghiên cứu tật khúc xạ ở học viên một số trường sĩ quan quân đội và ...
Luận án: Nghiên cứu tật khúc xạ ở học viên một số trường sĩ quan quân đội và ...Luận án: Nghiên cứu tật khúc xạ ở học viên một số trường sĩ quan quân đội và ...
Luận án: Nghiên cứu tật khúc xạ ở học viên một số trường sĩ quan quân đội và ...
 
Luận án: Giáo dục hành vi văn hóa cho sinh viên ĐH sư phạm
Luận án: Giáo dục hành vi văn hóa cho sinh viên ĐH sư phạmLuận án: Giáo dục hành vi văn hóa cho sinh viên ĐH sư phạm
Luận án: Giáo dục hành vi văn hóa cho sinh viên ĐH sư phạm
 
Sử dụng giống cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt, HAY
Sử dụng giống cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt, HAYSử dụng giống cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt, HAY
Sử dụng giống cỏ hòa thảo nhập nội trong chăn nuôi bò thịt, HAY
 
CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƢỜNG XUYÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐÔNG LĨNH.pdf
CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƢỜNG XUYÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐÔNG LĨNH.pdfCHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƢỜNG XUYÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐÔNG LĨNH.pdf
CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƢỜNG XUYÊN QUA KHẢO SÁT TẠI XÃ ĐÔNG LĨNH.pdf
 
Luận án: Hiệu quả điều trị sai khớp cắn loại II do lùi xương hàm dưới
Luận án: Hiệu quả điều trị sai khớp cắn loại II do lùi xương hàm dướiLuận án: Hiệu quả điều trị sai khớp cắn loại II do lùi xương hàm dưới
Luận án: Hiệu quả điều trị sai khớp cắn loại II do lùi xương hàm dưới
 
Chính sách an sinh xã hội dành cho người cao tuổi tại Việt Nam
Chính sách an sinh xã hội dành cho người cao tuổi tại Việt NamChính sách an sinh xã hội dành cho người cao tuổi tại Việt Nam
Chính sách an sinh xã hội dành cho người cao tuổi tại Việt Nam
 

More from Man_Ebook

Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015...
Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015...Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015...
Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015...
Man_Ebook
 
Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục...
Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục...Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục...
Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục...
Man_Ebook
 
Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo - Trường Đại học Luật Hà...
Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo - Trường Đại học Luật Hà...Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo - Trường Đại học Luật Hà...
Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo - Trường Đại học Luật Hà...
Man_Ebook
 
Giáo trình Đại số sơ cấp, Nguyễn Tiến Mạnh
Giáo trình Đại số sơ cấp, Nguyễn Tiến MạnhGiáo trình Đại số sơ cấp, Nguyễn Tiến Mạnh
Giáo trình Đại số sơ cấp, Nguyễn Tiến Mạnh
Man_Ebook
 
Xây dựng và thiết kế Web bán đặc sản Tây Bắc.pdf
Xây dựng và thiết kế Web bán đặc sản Tây Bắc.pdfXây dựng và thiết kế Web bán đặc sản Tây Bắc.pdf
Xây dựng và thiết kế Web bán đặc sản Tây Bắc.pdf
Man_Ebook
 
Xây dựng mô hình học sâu để phát hiện biển số xe tại Trường Đại học Phenikaa.pdf
Xây dựng mô hình học sâu để phát hiện biển số xe tại Trường Đại học Phenikaa.pdfXây dựng mô hình học sâu để phát hiện biển số xe tại Trường Đại học Phenikaa.pdf
Xây dựng mô hình học sâu để phát hiện biển số xe tại Trường Đại học Phenikaa.pdf
Man_Ebook
 
Xây dựng phần mềm quản lý sinh viên cho mạng nội bộ.pdf
Xây dựng phần mềm quản lý sinh viên cho mạng nội bộ.pdfXây dựng phần mềm quản lý sinh viên cho mạng nội bộ.pdf
Xây dựng phần mềm quản lý sinh viên cho mạng nội bộ.pdf
Man_Ebook
 
Triển khai ứng dụng Open Educat cho hệ thống quản lý thư viện.pdf
Triển khai ứng dụng Open Educat cho hệ thống quản lý thư viện.pdfTriển khai ứng dụng Open Educat cho hệ thống quản lý thư viện.pdf
Triển khai ứng dụng Open Educat cho hệ thống quản lý thư viện.pdf
Man_Ebook
 
Triển khai dịch vụ Firewall-as-a-service (FWAAS) trên nền tảng openstack.pdf
Triển khai dịch vụ Firewall-as-a-service (FWAAS) trên nền tảng openstack.pdfTriển khai dịch vụ Firewall-as-a-service (FWAAS) trên nền tảng openstack.pdf
Triển khai dịch vụ Firewall-as-a-service (FWAAS) trên nền tảng openstack.pdf
Man_Ebook
 
Thiết kế, xây dựng và quản lý website bán hàng.pdf
Thiết kế, xây dựng và quản lý website bán hàng.pdfThiết kế, xây dựng và quản lý website bán hàng.pdf
Thiết kế, xây dựng và quản lý website bán hàng.pdf
Man_Ebook
 
Thiết kế website bán máy tính cho công ty laptop Bách Phương.pdf
Thiết kế website bán máy tính cho công ty laptop Bách Phương.pdfThiết kế website bán máy tính cho công ty laptop Bách Phương.pdf
Thiết kế website bán máy tính cho công ty laptop Bách Phương.pdf
Man_Ebook
 
Thiết kế và xây dựng website bán đồ chơi.pdf
Thiết kế và xây dựng website bán đồ chơi.pdfThiết kế và xây dựng website bán đồ chơi.pdf
Thiết kế và xây dựng website bán đồ chơi.pdf
Man_Ebook
 
Thiết kế và xây dựng website bán điện thoại.pdf
Thiết kế và xây dựng website bán điện thoại.pdfThiết kế và xây dựng website bán điện thoại.pdf
Thiết kế và xây dựng website bán điện thoại.pdf
Man_Ebook
 
BÁO CÁO MARKETING CUỐI KÌ CÔNG TY ORIJEN DOG AND CAT FOOD
BÁO CÁO MARKETING CUỐI KÌ CÔNG TY ORIJEN DOG AND CAT FOODBÁO CÁO MARKETING CUỐI KÌ CÔNG TY ORIJEN DOG AND CAT FOOD
BÁO CÁO MARKETING CUỐI KÌ CÔNG TY ORIJEN DOG AND CAT FOOD
Man_Ebook
 
TL NỘI SAN KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC 2023 - UTE
TL NỘI SAN KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC 2023 - UTETL NỘI SAN KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC 2023 - UTE
TL NỘI SAN KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC 2023 - UTE
Man_Ebook
 
Từ ngữ về con người và chiến tranh trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm.pdf
Từ ngữ về con người và chiến tranh trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm.pdfTừ ngữ về con người và chiến tranh trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm.pdf
Từ ngữ về con người và chiến tranh trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm.pdf
Man_Ebook
 
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ.pdf
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ.pdfTRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ.pdf
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ.pdf
Man_Ebook
 
Addressing Transport Issues in Non-Aqueous Li–air Batteries to Achieving High...
Addressing Transport Issues in Non-Aqueous Li–air Batteries to Achieving High...Addressing Transport Issues in Non-Aqueous Li–air Batteries to Achieving High...
Addressing Transport Issues in Non-Aqueous Li–air Batteries to Achieving High...
Man_Ebook
 
An Analysis of International Tourist Motivations Towards Phuket Food Attracti...
An Analysis of International Tourist Motivations Towards Phuket Food Attracti...An Analysis of International Tourist Motivations Towards Phuket Food Attracti...
An Analysis of International Tourist Motivations Towards Phuket Food Attracti...
Man_Ebook
 
BÀI GIẢNG MÔN HỌC CƠ SỞ NGÔN NGỮ, Dùng cho hệ Cao đẳng chuyên nghiệp.pdf
BÀI GIẢNG MÔN HỌC CƠ SỞ NGÔN NGỮ, Dùng cho hệ Cao đẳng chuyên nghiệp.pdfBÀI GIẢNG MÔN HỌC CƠ SỞ NGÔN NGỮ, Dùng cho hệ Cao đẳng chuyên nghiệp.pdf
BÀI GIẢNG MÔN HỌC CƠ SỞ NGÔN NGỮ, Dùng cho hệ Cao đẳng chuyên nghiệp.pdf
Man_Ebook
 

More from Man_Ebook (20)

Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015...
Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015...Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015...
Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015...
 
Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục...
Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục...Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục...
Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục...
 
Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo - Trường Đại học Luật Hà...
Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo - Trường Đại học Luật Hà...Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo - Trường Đại học Luật Hà...
Giáo trình Thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo - Trường Đại học Luật Hà...
 
Giáo trình Đại số sơ cấp, Nguyễn Tiến Mạnh
Giáo trình Đại số sơ cấp, Nguyễn Tiến MạnhGiáo trình Đại số sơ cấp, Nguyễn Tiến Mạnh
Giáo trình Đại số sơ cấp, Nguyễn Tiến Mạnh
 
Xây dựng và thiết kế Web bán đặc sản Tây Bắc.pdf
Xây dựng và thiết kế Web bán đặc sản Tây Bắc.pdfXây dựng và thiết kế Web bán đặc sản Tây Bắc.pdf
Xây dựng và thiết kế Web bán đặc sản Tây Bắc.pdf
 
Xây dựng mô hình học sâu để phát hiện biển số xe tại Trường Đại học Phenikaa.pdf
Xây dựng mô hình học sâu để phát hiện biển số xe tại Trường Đại học Phenikaa.pdfXây dựng mô hình học sâu để phát hiện biển số xe tại Trường Đại học Phenikaa.pdf
Xây dựng mô hình học sâu để phát hiện biển số xe tại Trường Đại học Phenikaa.pdf
 
Xây dựng phần mềm quản lý sinh viên cho mạng nội bộ.pdf
Xây dựng phần mềm quản lý sinh viên cho mạng nội bộ.pdfXây dựng phần mềm quản lý sinh viên cho mạng nội bộ.pdf
Xây dựng phần mềm quản lý sinh viên cho mạng nội bộ.pdf
 
Triển khai ứng dụng Open Educat cho hệ thống quản lý thư viện.pdf
Triển khai ứng dụng Open Educat cho hệ thống quản lý thư viện.pdfTriển khai ứng dụng Open Educat cho hệ thống quản lý thư viện.pdf
Triển khai ứng dụng Open Educat cho hệ thống quản lý thư viện.pdf
 
Triển khai dịch vụ Firewall-as-a-service (FWAAS) trên nền tảng openstack.pdf
Triển khai dịch vụ Firewall-as-a-service (FWAAS) trên nền tảng openstack.pdfTriển khai dịch vụ Firewall-as-a-service (FWAAS) trên nền tảng openstack.pdf
Triển khai dịch vụ Firewall-as-a-service (FWAAS) trên nền tảng openstack.pdf
 
Thiết kế, xây dựng và quản lý website bán hàng.pdf
Thiết kế, xây dựng và quản lý website bán hàng.pdfThiết kế, xây dựng và quản lý website bán hàng.pdf
Thiết kế, xây dựng và quản lý website bán hàng.pdf
 
Thiết kế website bán máy tính cho công ty laptop Bách Phương.pdf
Thiết kế website bán máy tính cho công ty laptop Bách Phương.pdfThiết kế website bán máy tính cho công ty laptop Bách Phương.pdf
Thiết kế website bán máy tính cho công ty laptop Bách Phương.pdf
 
Thiết kế và xây dựng website bán đồ chơi.pdf
Thiết kế và xây dựng website bán đồ chơi.pdfThiết kế và xây dựng website bán đồ chơi.pdf
Thiết kế và xây dựng website bán đồ chơi.pdf
 
Thiết kế và xây dựng website bán điện thoại.pdf
Thiết kế và xây dựng website bán điện thoại.pdfThiết kế và xây dựng website bán điện thoại.pdf
Thiết kế và xây dựng website bán điện thoại.pdf
 
BÁO CÁO MARKETING CUỐI KÌ CÔNG TY ORIJEN DOG AND CAT FOOD
BÁO CÁO MARKETING CUỐI KÌ CÔNG TY ORIJEN DOG AND CAT FOODBÁO CÁO MARKETING CUỐI KÌ CÔNG TY ORIJEN DOG AND CAT FOOD
BÁO CÁO MARKETING CUỐI KÌ CÔNG TY ORIJEN DOG AND CAT FOOD
 
TL NỘI SAN KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC 2023 - UTE
TL NỘI SAN KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC 2023 - UTETL NỘI SAN KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC 2023 - UTE
TL NỘI SAN KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC 2023 - UTE
 
Từ ngữ về con người và chiến tranh trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm.pdf
Từ ngữ về con người và chiến tranh trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm.pdfTừ ngữ về con người và chiến tranh trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm.pdf
Từ ngữ về con người và chiến tranh trong Nhật ký Đặng Thùy Trâm.pdf
 
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ.pdf
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ.pdfTRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ.pdf
TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ.pdf
 
Addressing Transport Issues in Non-Aqueous Li–air Batteries to Achieving High...
Addressing Transport Issues in Non-Aqueous Li–air Batteries to Achieving High...Addressing Transport Issues in Non-Aqueous Li–air Batteries to Achieving High...
Addressing Transport Issues in Non-Aqueous Li–air Batteries to Achieving High...
 
An Analysis of International Tourist Motivations Towards Phuket Food Attracti...
An Analysis of International Tourist Motivations Towards Phuket Food Attracti...An Analysis of International Tourist Motivations Towards Phuket Food Attracti...
An Analysis of International Tourist Motivations Towards Phuket Food Attracti...
 
BÀI GIẢNG MÔN HỌC CƠ SỞ NGÔN NGỮ, Dùng cho hệ Cao đẳng chuyên nghiệp.pdf
BÀI GIẢNG MÔN HỌC CƠ SỞ NGÔN NGỮ, Dùng cho hệ Cao đẳng chuyên nghiệp.pdfBÀI GIẢNG MÔN HỌC CƠ SỞ NGÔN NGỮ, Dùng cho hệ Cao đẳng chuyên nghiệp.pdf
BÀI GIẢNG MÔN HỌC CƠ SỞ NGÔN NGỮ, Dùng cho hệ Cao đẳng chuyên nghiệp.pdf
 

Recently uploaded

DIEM NANG KHIEU MAM NON nam 2024 truong đại học phú yên
DIEM NANG KHIEU MAM NON nam 2024 truong đại học phú yênDIEM NANG KHIEU MAM NON nam 2024 truong đại học phú yên
DIEM NANG KHIEU MAM NON nam 2024 truong đại học phú yên
thanhluan21
 
Chương 4 Kinh tế chính trị-đã gộp (1).pdf
Chương 4 Kinh tế chính trị-đã gộp (1).pdfChương 4 Kinh tế chính trị-đã gộp (1).pdf
Chương 4 Kinh tế chính trị-đã gộp (1).pdf
TuytNguyn954624
 
Chuyen de Toan 9 Bien doi don gian bieu thuc chua can
Chuyen de Toan 9 Bien doi don gian bieu thuc chua canChuyen de Toan 9 Bien doi don gian bieu thuc chua can
Chuyen de Toan 9 Bien doi don gian bieu thuc chua can
htk290674
 
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
Luận Văn Uy Tín
 
HÁN NGỮ 1 (BÀI 10) giáo trình hán ngữ hsk2
HÁN NGỮ 1 (BÀI 10) giáo trình hán ngữ hsk2HÁN NGỮ 1 (BÀI 10) giáo trình hán ngữ hsk2
HÁN NGỮ 1 (BÀI 10) giáo trình hán ngữ hsk2
loncaocao
 
BỘ ĐỀ THI CHÍNH THỨC VÀO CHUYÊN 10 MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2024 - 2025 (CÓ GIẢI...
BỘ ĐỀ THI CHÍNH THỨC VÀO CHUYÊN 10 MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2024 - 2025 (CÓ GIẢI...BỘ ĐỀ THI CHÍNH THỨC VÀO CHUYÊN 10 MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2024 - 2025 (CÓ GIẢI...
BỘ ĐỀ THI CHÍNH THỨC VÀO CHUYÊN 10 MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2024 - 2025 (CÓ GIẢI...
Nguyen Thanh Tu Collection
 
Phòng chống bắt cóc trẻ em bản quyề.pptx
Phòng chống bắt cóc trẻ em bản quyề.pptxPhòng chống bắt cóc trẻ em bản quyề.pptx
Phòng chống bắt cóc trẻ em bản quyề.pptx
liunisau24
 
QTNHUEHNHAAANNHNYAHNAYANHANANAYAYHAUAJJJJ
QTNHUEHNHAAANNHNYAHNAYANHANANAYAYHAUAJJJJQTNHUEHNHAAANNHNYAHNAYANHANANAYAYHAUAJJJJ
QTNHUEHNHAAANNHNYAHNAYANHANANAYAYHAUAJJJJ
nguyenthanhnhatp0102
 
Chuyên đề Toán lớp 9 Bất đẳng thức Cauchy
Chuyên đề Toán lớp 9 Bất đẳng thức CauchyChuyên đề Toán lớp 9 Bất đẳng thức Cauchy
Chuyên đề Toán lớp 9 Bất đẳng thức Cauchy
htk290674
 
Bai giang DAI LY TAU BIEN GIAO NHAN HANG HOA-PHAN 2-CHUONG 4 GIAO NHAN HANG ...
Bai giang DAI LY TAU BIEN  GIAO NHAN HANG HOA-PHAN 2-CHUONG 4 GIAO NHAN HANG ...Bai giang DAI LY TAU BIEN  GIAO NHAN HANG HOA-PHAN 2-CHUONG 4 GIAO NHAN HANG ...
Bai giang DAI LY TAU BIEN GIAO NHAN HANG HOA-PHAN 2-CHUONG 4 GIAO NHAN HANG ...
QuangTrn963971
 
Chuyên đề Toán lớp 9: Căn bậc ba - Căn bậc n
Chuyên đề Toán lớp 9: Căn bậc ba - Căn bậc nChuyên đề Toán lớp 9: Căn bậc ba - Căn bậc n
Chuyên đề Toán lớp 9: Căn bậc ba - Căn bậc n
htk290674
 
chủ nghĩa xã hội khoa học trắc nghiệm chương 6
chủ nghĩa xã hội khoa học trắc nghiệm chương 6chủ nghĩa xã hội khoa học trắc nghiệm chương 6
chủ nghĩa xã hội khoa học trắc nghiệm chương 6
2356110101
 
Ôn thi tiếng Anh lớp 5 Family and Friend Special Edition - Tài liệu, giáo án ...
Ôn thi tiếng Anh lớp 5 Family and Friend Special Edition - Tài liệu, giáo án ...Ôn thi tiếng Anh lớp 5 Family and Friend Special Edition - Tài liệu, giáo án ...
Ôn thi tiếng Anh lớp 5 Family and Friend Special Edition - Tài liệu, giáo án ...
huynhthingocthao2309
 
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdfThông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
QucHHunhnh
 
NHỮNG BỨC TRANH MANG THÔNG ĐIỆP SỐNG Ý NGHĨA.docx
NHỮNG BỨC TRANH MANG THÔNG ĐIỆP SỐNG Ý NGHĨA.docxNHỮNG BỨC TRANH MANG THÔNG ĐIỆP SỐNG Ý NGHĨA.docx
NHỮNG BỨC TRANH MANG THÔNG ĐIỆP SỐNG Ý NGHĨA.docx
PhngThLmHnh
 
Thông báo nhập học lớp 1- 10 24-25.docx
Thông báo nhập học lớp 1-  10 24-25.docxThông báo nhập học lớp 1-  10 24-25.docx
Thông báo nhập học lớp 1- 10 24-25.docx
QucHHunhnh
 
[Hebemart.vn] Dạy Con Kiểu Nhật-Giai đoạn 1 tuổi.pdf
[Hebemart.vn] Dạy Con Kiểu Nhật-Giai đoạn 1 tuổi.pdf[Hebemart.vn] Dạy Con Kiểu Nhật-Giai đoạn 1 tuổi.pdf
[Hebemart.vn] Dạy Con Kiểu Nhật-Giai đoạn 1 tuổi.pdf
Hebemart Official
 
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 - SÁCH MỚI (BẢN HS) (FORM BÀI TẬP 2025 CHUNG 3 B...
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 - SÁCH MỚI (BẢN HS) (FORM BÀI TẬP 2025 CHUNG 3 B...TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 - SÁCH MỚI (BẢN HS) (FORM BÀI TẬP 2025 CHUNG 3 B...
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 - SÁCH MỚI (BẢN HS) (FORM BÀI TẬP 2025 CHUNG 3 B...
Nguyen Thanh Tu Collection
 
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
lamluanvan.net Viết thuê luận văn
 
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
Nguyen Thanh Tu Collection
 

Recently uploaded (20)

DIEM NANG KHIEU MAM NON nam 2024 truong đại học phú yên
DIEM NANG KHIEU MAM NON nam 2024 truong đại học phú yênDIEM NANG KHIEU MAM NON nam 2024 truong đại học phú yên
DIEM NANG KHIEU MAM NON nam 2024 truong đại học phú yên
 
Chương 4 Kinh tế chính trị-đã gộp (1).pdf
Chương 4 Kinh tế chính trị-đã gộp (1).pdfChương 4 Kinh tế chính trị-đã gộp (1).pdf
Chương 4 Kinh tế chính trị-đã gộp (1).pdf
 
Chuyen de Toan 9 Bien doi don gian bieu thuc chua can
Chuyen de Toan 9 Bien doi don gian bieu thuc chua canChuyen de Toan 9 Bien doi don gian bieu thuc chua can
Chuyen de Toan 9 Bien doi don gian bieu thuc chua can
 
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
KL_Phân Tích Mức Độ Hài Lòng Của Khách Hàng Cá Nhân Đối Với Dịch Vụ Thẻ Thanh...
 
HÁN NGỮ 1 (BÀI 10) giáo trình hán ngữ hsk2
HÁN NGỮ 1 (BÀI 10) giáo trình hán ngữ hsk2HÁN NGỮ 1 (BÀI 10) giáo trình hán ngữ hsk2
HÁN NGỮ 1 (BÀI 10) giáo trình hán ngữ hsk2
 
BỘ ĐỀ THI CHÍNH THỨC VÀO CHUYÊN 10 MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2024 - 2025 (CÓ GIẢI...
BỘ ĐỀ THI CHÍNH THỨC VÀO CHUYÊN 10 MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2024 - 2025 (CÓ GIẢI...BỘ ĐỀ THI CHÍNH THỨC VÀO CHUYÊN 10 MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2024 - 2025 (CÓ GIẢI...
BỘ ĐỀ THI CHÍNH THỨC VÀO CHUYÊN 10 MÔN TIẾNG ANH NĂM HỌC 2024 - 2025 (CÓ GIẢI...
 
Phòng chống bắt cóc trẻ em bản quyề.pptx
Phòng chống bắt cóc trẻ em bản quyề.pptxPhòng chống bắt cóc trẻ em bản quyề.pptx
Phòng chống bắt cóc trẻ em bản quyề.pptx
 
QTNHUEHNHAAANNHNYAHNAYANHANANAYAYHAUAJJJJ
QTNHUEHNHAAANNHNYAHNAYANHANANAYAYHAUAJJJJQTNHUEHNHAAANNHNYAHNAYANHANANAYAYHAUAJJJJ
QTNHUEHNHAAANNHNYAHNAYANHANANAYAYHAUAJJJJ
 
Chuyên đề Toán lớp 9 Bất đẳng thức Cauchy
Chuyên đề Toán lớp 9 Bất đẳng thức CauchyChuyên đề Toán lớp 9 Bất đẳng thức Cauchy
Chuyên đề Toán lớp 9 Bất đẳng thức Cauchy
 
Bai giang DAI LY TAU BIEN GIAO NHAN HANG HOA-PHAN 2-CHUONG 4 GIAO NHAN HANG ...
Bai giang DAI LY TAU BIEN  GIAO NHAN HANG HOA-PHAN 2-CHUONG 4 GIAO NHAN HANG ...Bai giang DAI LY TAU BIEN  GIAO NHAN HANG HOA-PHAN 2-CHUONG 4 GIAO NHAN HANG ...
Bai giang DAI LY TAU BIEN GIAO NHAN HANG HOA-PHAN 2-CHUONG 4 GIAO NHAN HANG ...
 
Chuyên đề Toán lớp 9: Căn bậc ba - Căn bậc n
Chuyên đề Toán lớp 9: Căn bậc ba - Căn bậc nChuyên đề Toán lớp 9: Căn bậc ba - Căn bậc n
Chuyên đề Toán lớp 9: Căn bậc ba - Căn bậc n
 
chủ nghĩa xã hội khoa học trắc nghiệm chương 6
chủ nghĩa xã hội khoa học trắc nghiệm chương 6chủ nghĩa xã hội khoa học trắc nghiệm chương 6
chủ nghĩa xã hội khoa học trắc nghiệm chương 6
 
Ôn thi tiếng Anh lớp 5 Family and Friend Special Edition - Tài liệu, giáo án ...
Ôn thi tiếng Anh lớp 5 Family and Friend Special Edition - Tài liệu, giáo án ...Ôn thi tiếng Anh lớp 5 Family and Friend Special Edition - Tài liệu, giáo án ...
Ôn thi tiếng Anh lớp 5 Family and Friend Special Edition - Tài liệu, giáo án ...
 
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdfThông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
Thông báo cung cấp đồng phục năm học 2024 - 2025.pdf
 
NHỮNG BỨC TRANH MANG THÔNG ĐIỆP SỐNG Ý NGHĨA.docx
NHỮNG BỨC TRANH MANG THÔNG ĐIỆP SỐNG Ý NGHĨA.docxNHỮNG BỨC TRANH MANG THÔNG ĐIỆP SỐNG Ý NGHĨA.docx
NHỮNG BỨC TRANH MANG THÔNG ĐIỆP SỐNG Ý NGHĨA.docx
 
Thông báo nhập học lớp 1- 10 24-25.docx
Thông báo nhập học lớp 1-  10 24-25.docxThông báo nhập học lớp 1-  10 24-25.docx
Thông báo nhập học lớp 1- 10 24-25.docx
 
[Hebemart.vn] Dạy Con Kiểu Nhật-Giai đoạn 1 tuổi.pdf
[Hebemart.vn] Dạy Con Kiểu Nhật-Giai đoạn 1 tuổi.pdf[Hebemart.vn] Dạy Con Kiểu Nhật-Giai đoạn 1 tuổi.pdf
[Hebemart.vn] Dạy Con Kiểu Nhật-Giai đoạn 1 tuổi.pdf
 
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 - SÁCH MỚI (BẢN HS) (FORM BÀI TẬP 2025 CHUNG 3 B...
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 - SÁCH MỚI (BẢN HS) (FORM BÀI TẬP 2025 CHUNG 3 B...TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 - SÁCH MỚI (BẢN HS) (FORM BÀI TẬP 2025 CHUNG 3 B...
TÀI LIỆU DẠY THÊM HÓA HỌC 12 - SÁCH MỚI (BẢN HS) (FORM BÀI TẬP 2025 CHUNG 3 B...
 
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
Vận dụng quan điểm giáo dục kỷ luật tích cực trong công tác giáo dục trẻ mầm ...
 
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
CHUYÊN ĐỀ DẠY THÊM VẬT LÝ LỚP 12 THEO FORM THI MỚI BGD 2025 DÙNG CHUNG 3 SÁCH...
 

Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Hà Nội năm 2009-2010.pdf

  • 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN MINH LỘC HÀNH VI TÌNH DỤC KHÔNG AN TOÀN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG NHÓM NAM QUAN HỆ TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI TẠI HÀ NỘI NĂM 2009 - 2010 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01 HÀ NỘI, 2014
  • 2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN MINH LỘC HÀNH VI TÌNH DỤC KHÔNG AN TOÀN VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRONG NHÓM NAM QUAN HỆ TÌNH DỤC ĐỒNG GIỚI TẠI HÀ NỘI NĂM 2009 - 2010 LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01 Hướng dẫn khoa học TS. Nguyễn Cường Quốc HÀ NỘI, 2014
  • 3. LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu “Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010”, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của tập thể Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, giảng viên, cán bộ các phòng, ban chức năng trường Đại học Y tế Công cộng. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về sự giúp đỡ đó. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Cường Quốc - người thầy giáo đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Tổ chức Sức khoẻ Gia đình Quốc tế - FHI 360 đã tạo điều kiện cho phép tôi được sử dụng bộ số liệu điều tra IBBS vòng II năm 2009 – 2010 như là một nguồn số liệu thứ cấp để hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này. Học viên Nguyễn Minh Lộc
  • 4. MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ĐẶT VẤN ĐỀ .............................................................................................................1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ......................................................................................3 Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình lây nhiễm HIV trong nhóm MSM ....................................................4 1.1.1 Tình hình trên thế giới..........................................................................4 1.1.2 Tình hình tại Việt Nam.........................................................................4 1.2 Hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn trong nhóm MSM .........6 1.2.1 Tình hình trên thế giới..........................................................................6 1.2.2 Tình hình tại Việt Nam.........................................................................8 1.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn trong nhóm MSM......................................................................................9 1.3.1 Sử dụng các loại thuốc kích thích/an thần...........................................9 1.3.2 Sử dụng rượu, bia...............................................................................11 1.3.3 Tính cách cá nhân ..............................................................................12 1.3.4 Sức khỏe tâm thần ..............................................................................14 1.3.5 Mối quan hệ với bạn tình ...................................................................15 1.3.6 Yếu tố gia đình ...................................................................................16 1.3.7 Địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình...................................................16 1.3.8 Kết nối với cộng đồng đồng MSM......................................................17 1.3.9 Sử dụng Internet.................................................................................18 1.3.10 Mại dâm .............................................................................................20 1.3.11 Áp lực cá biệt (miniority stress).........................................................21 1.3.12 Các chương trình dự phòng HIV .......................................................23 1.4 Khung lý thuyết hành vi tình dục không an toàn và một số yếu tố liên quan trong nhóm MSM............................................................................................24 1.5 Giới thiệu phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS)..............27 1.6 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu........................................................31 Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu......................................................................................35 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu...................................................................35 2.3 Thiết kế nghiên cứu.........................................................................................35 2.4 Cỡ mẫu của nghiên cứu...................................................................................35 2.5 Phương pháp chọn mẫu...................................................................................37 2.6 Phương pháp thu thập số liệu..........................................................................38
  • 5. 2.7 Biến số nghiên cứu..........................................................................................38 2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá ................................................39 2.9 Phương pháp phân tích số liệu ........................................................................40 2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu ......................................................................49 2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục ................................50 Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC...............................................................51 3.2 Hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam của ĐTNC..............................................................................................................54 3.2.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học và hành vi UAI với bạn tình nam...55 3.2.2 Sử dụng rượu, bia, các chất kích thích/an thần và hành vi UAI với bạn tình nam.......................................................................................57 3.2.3 Một số đặc điểm liên quan đến tình dục, bạn tình và hành vi UAI với bạn tình nam.......................................................................................58 3.2.4 Tiếp cận với BCS, chương trình can thiệp dự phòng HIV/AIDS và hành vi UAI với bạn tình nam............................................................60 3.2.5 Kiến thức về HIV, STIs và hành vi UAI với bạn tình nam .................62 3.2.6 Nhiễm HIV, STIs và hành vi UAI với bạn tình nam...........................63 3.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam của ĐTNC ...................................................................64 3.3.1 Yếu tố nhân khẩu học.........................................................................64 3.3.2 Sử dụng rượu, bia và các loại thuốc kích thích/an thần ....................67 3.3.3 Một số đặc điểm liên quan đến tình dục, bạn tình.............................69 3.3.4 Địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình...................................................71 3.3.5 Khả năng tiếp cận với BCS ................................................................72 3.3.6 Các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục ...............................73 3.3.7 Kiến thức về HIV và cách phòng tránh..............................................75 3.3.8 Các chương trình can thiệp phòng chống HIV/STIs..........................76 3.3.9 Nhiễm HIV/STIs .................................................................................78 3.3.10 Mô hình đa biến các yếu tố liên quan đến hành vi UAI với bạn tình nam của ĐTNC...................................................................................80 Chương 4. BÀN LUẬN 4.1 Hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam của ĐTNC..............................................................................................................85 4.2 Một số yếu tố liên quan đến các hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam của ĐTNC ............................................................87 4.3 Hạn chế của nghiên cứu ..................................................................................94 KẾT LUẬN...............................................................................................................97
  • 6. KHUYẾN NGHỊ.......................................................................................................99 TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................101 PHỤ LỤC................................................................................................................112 Phụ lục 1. Danh sách biến số trong nghiên cứu.......................................................112 Phụ lục 2. Bộ câu hỏi Điều tra IBBS vòng II năm 2009 – 2010 cho nhóm MSM tại Hà Nội ...........................................................................................................116 Phụ lục 3. Bảng phụ lục kết quả chính thức Điều tra IBBS vòng II năm 2009 – 2010 trong nhóm MSM tại Hà Nội ........................................................................139 Phụ lục 4. Bản sao Thư đồng ý cho phép sử dụng số liệu thứ cấp ..........................147
  • 7. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired Immuno Deficiency Syndrome) BCS Bao cao su CDC Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention) CI Khoảng tin cậy FHI 360 Tổ chức Sức khỏe gia đình quốc tế (Family Health International) GF Quỹ toàn cầu (Global Fund to Fight AIDS, Tuberculosis and Malaria) HIV Vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency Virus) IBBS Chương trình giám sát lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (HIV/STI Integrated Biological and Behavioral Surveillance) IH Hội chứng sợ đồng tính của chính mình (Internalized homophobia) LGBT Nhóm có thiên hướng tình dục cá biệt (Lesbians, Gays, Bisexuals and Transgender) MSM Nam có quan hệ tình dục đồng giới (Men who have sex with men) MSMH Nam nhiễm HIV có quan hệ tình dục đồng giới (HIV-infected men who have sex with men) MSMO Nam chỉ có quan hệ tình dục với bạn tình nam (Men who have sex with men only) MSMW Nam có quan hệ tình dục với bạn tình nam và nữ (Men who have sex with men and women) MSWs Nam bán dâm có quan hệ tình dục đồng giới (Men sex worker who have sex with men) PNBD Phụ nữ bán dâm QHTD Quan hệ tình dục RDS Phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (Respondent Driven Sampling) SBS Phương pháp chọn mẫu hòn tuyết lăn (Snow Ball Sampling)
  • 8. STIs Các nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (Sexually transmitted infections) TCMT Tiêm chích ma túy TLS Phương pháp chọn mẫu địa điểm - thời gian (Time - Location Sampling) TP. HCM Thành phố Hồ Chí Minh UAI Quan hệ tình dục không an toàn qua đường hậu môn (Unprotected anal intercourse) UNAIDS Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về phòng chống HIV/AIDS (The Joint United Nations Programme on HIV/AIDS) WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
  • 9. DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ Danh mục hình và biểu đồ Hình 1 Mô hình lý thuyết nhận thức xã hội 25 Hình 2 Mô hình mạng lưới nhóm nam có QHTD đồng giới tham gia một nghiên cứu tại Buenos Aires, Argentina 29 Biểu đồ 2.1 Số lượng MSM được tuyển chọn theo làn sóng tuyển chọn 37 Biểu đồ 2.2 Số lượng MSM được tuyển chọn theo nhánh hạt giống 41 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ MSM có hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua phân theo nghề nghiệp 56 Danh mục bảng Bảng 2.1 Những điểm khác biệt giữa kết quả luận văn và kết quả điều tra IBBS vòng II năm 2009 33 Bảng 2.2 Kết quả tính toán cỡ mẫu trên quần thể MSM, điều tra IBBS vòng II, năm 2009 – 2010 36 Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC 51 Bảng 3.2 Đặc điểm tình dục, hôn nhân và gia đình của ĐTNC 53 Bảng 3.3 Lịch sử QHTD và sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 54 Bảng 3.4 Một số đặc điểm nhân khẩu học và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 55 Bảng 3.5 Sử dụng rượu, bia, thuốc kích thích/an thần và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 57 Bảng 3.6 Một số yếu tố liên quan đến bạn tình và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 58 Bảng 3.7 Địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 60 Bảng 3.8 Tiếp cận với các chương trình dự phòng HIV/AIDS và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 61 Bảng 3.9 Tiếp cận với BCS và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 62 Bảng 3.10 Kiến thức về HIV, STIs và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 63 Bảng 3.11 Nhiễm HIV, STIs và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 63
  • 10. Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tuổi, trình độ học vấn, thu nhập và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 64 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 65 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân, tự nhận bản thân và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 66 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa sử dụng ma túy và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 67 Bảng 3.16 Mối liên quan giữa sử dụng rượu, bia và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 68 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa một số yếu tố liên quan đến bạn tình và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 69 Bảng 3.18 Mối liên quan giữa địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 71 Bảng 3.19 Mối liên quan giữa khả năng tiếp cận với BCS và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 72 Bảng 3.20 Mối liên quan giữa bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 73 Bảng 3.21 Mối liên quan giữa kiến thức về HIV/AIDS và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 75 Bảng 3.22 Mối liên quan giữa tiếp cận với các chương trình dự phòng HIV/AIDS và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 77 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa nhiễm HIV/STIs và hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC 79 Bảng 3.24 Danh sách biến số độc lập có mối liên quan đơn biến với hành vi UAI cùng bạn tình nam trong vòng 12 tháng trước cuộc điều tra của ĐTNC 80 Bảng 3.25 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập có liên quan đến hành vi UAI với hành vi UAI cùng bạn tình nam trong vòng 12 tháng trước cuộc điều tra của ĐTNC 81 Bảng 3.26 Các yếu tố liên quan đến hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 12 tháng qua của ĐTNC (N = 299) 82
  • 11. TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Quan hệ tình dục đồng giới không an toàn qua đường hậu môn (UAI) ở nam là đường lây truyền HIV quan trọng. Hiểu rõ về thực trạng và các yếu tố liên quan đến hành vi UAI sẽ góp phần vào việc xây dựng các chương trình dự phòng HIV một cách có hiệu quả. Nghiên cứu “Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010” phân tích bộ số liệu thứ cấp từ Điều tra IBBS vòng II năm 2009 – 2010 nhằm mô tả hành vi UAI với bạn tình nam và xác định một số yếu tố liên quan đến các hành vi UAI trong nhóm nam có quan hệ tình dục đồng giới (MSM) ở Hà Nội năm 2009 - 2010. Có 399 MSM tại Hà Nội đã tham gia nghiên cứu thông qua phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS). Các chỉ số ở mức độ quần thể và tính toán giá trị gia trọng (weights) cho mẫu nghiên cứu được ước tính bằng phần mềm RDS Analyst 0.4. Mô hình hồi quy logistic được sử dụng kiểm soát nhiễu và đo lường các mối liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy hành vi UAI với bạn tình nam khá phổ biến trong nhóm MSM tại Hà Nội với tỷ lệ MSM báo cáo mình có hành vi UAI với bạn tình nam lần lượt 51% trong nhóm MSM có QHTD đường hậu môn với bạn tình nam trong 12 tháng qua; 56% trong nhóm MSM bán dâm; 56,7% trong nhóm MSM nhiễm HIV và 49,2% trong nhóm MSM nhiễm STIs. Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với hành vi UAI của đối tượng nghiên cứu bao gồm: Là nhân viên dịch vụ giải trí; “Thường là người NHẬN”; Thường tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình trên phố, công viên hay bờ hồ; Thường tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình qua Internet; Tự đánh giá nguy cơ nhiễm HIV của bản thân; Được nhận thông tin dành cho MSM về QHTD và tiêm chích an toàn trong vòng 12 tháng qua. Nghiên cứu khuyến nghị cần thiết phải tăng cường hơn nữa nhận thức đúng đắn về QHTD có nguy cơ và tầm quan trọng của sử dụng BCS khi QHTD cũng như tập trung can thiệp cho nhóm MSM nguy cơ cao như MSM bán dâm hoặc MSM đã nhiễm HIV; tăng cường tiếp cận với MSM và bạn tình của họ tại những tụ điểm trên phố, bờ hồ hoặc công viên nhằm mục đích cung cấp thông tin đúng và đưa họ đến với dịch vụ xét nghiệm cũng như chăm sóc và điều trị nếu cần.
  • 12. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Quan hệ tình dục (QHTD) đồng giới không an toàn ở nam đã là một đường lây truyền HIV quan trọng kể từ khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện cách đây hơn 30 năm tại Hoa Kỳ. Trong những năm vừa qua, tỷ lệ nhiễm HIV có xu hướng gia tăng trở lại trong nhóm nam có QHTD đồng giới (MSM) trên phạm vi toàn cầu [121]. Trong bối cảnh tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm người trưởng thành nói chung có xu hướng giảm ở hầu hết các quốc gia thì nhóm MSM vẫn đang phải chịu những ảnh hưởng nặng nề của đại dịch HIV. Tại Châu Á, nhóm MSM có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 18,7 lần so với quần thể người trưởng thành nói chung [10]. Tại Việt Nam, tỷ lệ hiện nhiễm HIV được dự báo sẽ tăng mạnh từ 11,2% vào năm 2011 lên 16,6% vào năm 2015 trong nhóm MSM nguy cơ cao và tăng đều từ 1,4% lên 2.1% ở nhóm MSM nguy cơ thấp cũng trong cùng giai đoạn. Thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM), Hải Phòng và Hà Nội 1 là các khu vực được dự báo có tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM, đặc biệt là nhóm MSM nguy cơ cao, cao nhất vào năm 2015 (38% tại tp. HCM, 30% tại Hải Phòng và 20% tại Hà Nội) [2]. Trong những năm gần đây cùng với sự tăng trưởng kinh tế và tốc độ đô thị hoá nhanh, những vấn đề xã hội phức tạp (như ma tuý, mại dâm) có liên quan đến tình hình dịch HIV/AIDS trên địa bàn thành phố Hà Nội có chiều hướng gia tăng. Theo số liệu báo cáo của Trung tâm phòng, chống AIDS Hà Nội, tính đến hết năm 2011, ước tính trên địa bàn Hà Nội có khoảng 8.164 phụ nữ bán dâm (PNBD), khoảng 30.873 người tiêm chích ma túy (TCMT) và đứng thứ hai cả nước về số người thuộc nhóm MSM (18.851 người). Hà Nội cũng là địa phương đứng thứ hai cả nước về số người nhiễm HIV hiện đang còn sống. Thực hiện các chương trình dự phòng lây nhiễm HIV cho nhóm MSM có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc ngăn chặn lây truyền HIV. Tuy nhiên trong thực tế, nhóm này lại thường không được chú ý tới, cộng đồng MSM vẫn còn chưa lộ diện, bị kỳ thị, thiếu hiểu biết hoặc không có đầy đủ thông tin về lây truyền HIV. Ngoài ra, việc thiếu các nghiên cứu sâu về MSM, đặc biệt là những nghiên cứu về hành vi nguy cơ của nhóm này đang là những rào cản đáng kể cho việc tiến hành các chương trình dự phòng HIV một cách có hiệu quả.
  • 13. 2 Trong quá trình tìm hiểu các nghiên cứu, điều tra liên quan đến HIV và nhóm MSM tại Hà Nội giai đoạn 2007 - 2012, chúng tôi thấy rằng hầu hết các nghiên cứu liên quan đến hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn (là nguy cơ chính dẫn đến lây nhiễm HIV của nhóm MSM) mới chỉ dừng ở mức mô tả, chưa phân tích sâu nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nguy cơ này. Một số điều tra lớn như Điều tra IBBS vòng II năm 2009 – 2010 có bộ số liệu chất lượng và tương đối đầy đủ, tuy nhiên do sử dụng phương pháp phân tích số liệu không hiệu chỉnh theo phương pháp chọn mẫu nên kết quả báo cáo chính thức chưa phản ánh tính đại diện và đặc trưng cho quần thể MSM nói chung tại Hà Nội. Xuất phát từ bối cảnh trên, chúng tôi thấy cần thiết phải có một nghiên cứu nhằm tìm hiểu sâu hơn và phương pháp phân tích số liệu phù hợp nhằm đưa ra kết quả có tính đại diện về hành vi nguy cơ của nhóm MSM tại Hà Nội, do đó chúng tôi quyết định tiến hành đề tài nghiên cứu “Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010”. Nghiên cứu thứ cấp sử dụng một phần bộ số liệu của Điều tra IBBS tiến hành năm 2009 – 2010. Kết quả của nghiên cứu đóng góp những thông tin quan trọng giúp xây dựng chiến lược và các giải pháp can thiệp cụ thể và hiệu quả hơn, đồng thời cung cấp số liệu về theo dõi và đánh giá tình hình HIV/AIDS tại Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung.
  • 14. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Nghiên cứu “Hành vi tình dục không an toàn và các yếu tố liên quan trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2009 - 2010” phân tích số liệu thứ cấp từ Điều tra giám sát lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI vòng II năm 2009 – 2010 nhằm đạt được hai mục tiêu sau: 1. Mô tả hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2010. 2. Xác định một số yếu tố liên quan đến các hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn với bạn tình nam trong nhóm nam QHTD đồng giới tại Hà Nội năm 2010.
  • 15. 4 Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình lây nhiễm HIV trong nhóm MSM 1.1.1 Tình hình trên thế giới Chương trình phối hợp của Liên Hợp Quốc về phòng chống HIV/AIDS (UNAIDS) ước tính đến hết năm 2012, thế giới có khoảng 35,3 triệu (ước tính từ 32,2 triệu đến 38,8 triệu) người đang sống chung với HIV, khoảng 0,8% người trưởng thành trong độ tuổi 15 đến 49 trên toàn thế giới đang sống chung với HIV [120]. Cũng theo UNAIDS, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM, tính trung bình đã vượt quá 1% tại tất cả các khu vực trên thế giới và cao hơn so với tỷ lệ nhiễm HIV quần thể nam giới nói chung. Trong năm 2012, theo báo cáo quốc gia GARPR, trung bình tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất trong số MSM đã được báo cáo ở Tây Phi và Trung Phi (19%) và Đông Phi và Nam Phi (15%), tỷ lệ nhiễm HIV thấp hơn một chút nhưng mức độ vẫn còn cao được báo cáo trong nhóm MSM ở Mỹ Latinh (12%), Châu Á và Thái Bình Dương (11%), Tây và Trung Âu và Bắc Mỹ (8%) và vùng Caribê (7%) [120]. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM tại khu vực Trung Á dao động trong khoảng từ dưới 1% đến hơn 20%. Báo cáo Quốc gia ước tính tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM từ khoảng 1 - 2% tại Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan, Xinjiang; đến 10% tại Mongolia. Nghiên cứu chỉ số sinh học ước tính 0,4% MSM tại Afghanistan và 20.2% MSM tại Kazakhstan đã bị nhiễm HIV [128]. 1.1.2 Tình hình tại Việt Nam Theo ước tính của Cục Phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế), tại Việt Nam năm 2011 có khoảng 250 nghìn người đang sống chung với HIV và con số này sẽ đạt đến 263 nghìn người và năm 2015 [2]. Cũng theo báo cáo của Cục Phòng, Chống HIV/AIDS, tính đến hết 31/5/2013, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện được đang còn sống trên toàn quốc là 213.413 trường hợp, trong đó số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 63.373 và đã có 65.133 trường hợp tử vong do AIDS [3]. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV được dự báo sẽ tăng mạnh từ 11,2% vào năm 2011 lên 16,6% vào năm 2015 trong nhóm MSM nguy cơ cao và tăng đều từ 1,4% lên 2,1%
  • 16. 5 ở nhóm MSM nguy cơ thấp cũng trong cùng giai đoạn. Tp. HCM, Hải Phòng và Hà Nội 1 là các khu vực được dự báo có tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM, đặc biệt là nhóm MSM nguy cơ cao, cao nhất (38% tại tp. HCM, 30% tại Hải Phòng và 20% tại Hà Nội) vào năm 2015 [2]. Trước năm 2011, nhóm MSM không nằm trong chương trình giám sát trọng điểm của Bộ Y tế, các kết quả về chỉ số sinh học và hành vi liên quan đến HIV/STIs được thu thập chủ yếu từ chương trình giám sát lồng ghép hành vi và các chỉ số sinh học HIV/STI (IBBS) và một số tổ chức cũng như cá nhân khác. Kết quả điều tra IBBS vòng I năm 2006 ước tính tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM tại Hà Nội và TP.HCM lần lượt là 9,4% và 5,3% [6]. Điều tra IBBS vòng II năm 2009 cho thấy nhiễm HIV trong nhóm MSM vẫn ở mức cao, các nguy cơ vẫn đa dạng. Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM ở trên mức 10% ở ba trong bốn tỉnh được khảo sát (Cần Thơ, Tp. HCM và Hải Phòng), và lên tới mức 20% (MSM không bán dâm - Hà Nội). Ở Hà Nội và TP. HCM, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong cả hai nhóm MSM có bán dâm và không bán dâm trong năm 2009 cao hơn đáng kể so với 2006 [1]. Tại An Giang, Phạm Quang Duy và cộng sự (2009) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang dựa vào cộng đồng trên một mẫu nghiên cứu gồm 381 MSM nhằm thu thập thông tin nhân khẩu xã hội, hành vi nguy cơ, tiếp cận với các chương trình can thiệp HIV và tỷ lệ nhiễm HIV/STIs. Kết quả nghiên cứu cho biết tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM là 6,3% [102]. Năm 2011, nhóm MSM chính thức được đưa vào chương trình giám sát trọng điểm HIV hàng năm và được triển khai tại 9 tỉnh/thành phố tập trung nhiều MSM đang cư trú trên địa bàn bao gồm: Hà Nội, Hải Dương, Đà Nẵng, Khánh Hòa, TP. Hồ Chí Minh, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng và Kiên Giang. Kết quả giám sát trọng điểm năm 2012 cho thấy, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM là 2,3%. Tỷ lệ này cao nhất ở TP. Hồ Chí Minh (7,3%), tiếp đến là Hà Nội (6,5%), Sóc Trăng (2%). So sánh với kết quả giám sát trọng điểm năm 2011, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm này có giảm xuống. Tuy nhiên, để đánh giá chiều hướng nhiễm HIV trong nhóm này cần được tiếp tục theo dõi qua các năm tiếp theo [4].
  • 17. 6 1.2 Hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn trong nhóm MSM Tình dục an toàn (safe sex) là hành vi tình dục được thực hiện bởi những người có những biện pháp tránh bệnh lây truyền đường tình dục như AIDS hoặc STIs. Hành vi này cũng được gọi là tình dục an toàn hơn (safer sex) hoặc tình dục có bảo vệ trong khi tình dục không an toàn hoặc tình dục không bảo vệ là hành vi tình dục mà không có biện pháp đề phòng lây nhiễm. Quan hệ hậu môn là hành vi tình dục mạo hiểm và QHTD hậu môn không dùng các biện pháp bảo vệ là nguy hiểm nhất trong các dạng QHTD [69] [30]. Nguyên nhân là bên trong hậu môn có niêm mạc dễ bị tổn thương, quan hệ có thể làm các mô mềm rách, chảy máu và có thể làm giản cơ thắt hậu môn, gây mất điều khiển hậu môn và sa hậu môn [122]. 1.2.1 Tình hình trên thế giới Tỷ lệ MSM có QHTD không an toàn qua đường hậu môn (UAI), không thường xuyên sử dụng bao cao su (BCS) khi QHTD dao động từ 3,5% đến hơn 90% tùy vào đối tượng nghiên cứu, loại bạn tình, đường QHTD và thời gian đo lường hành vi nguy cơ (lần gần đây nhất, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hay 12 tháng trước cuộc điều tra) của từng nghiên cứu. Nghiên cứu của Mason và cộng sự (2013) tại Gambia báo cáo hơn 90% MSM không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn với bạn tình nam trong vòng 12 tháng trước cuộc điều tra [77]. M. Sheehy và cộng sự (Nigeria, 2013) cho biết có đến 60,9% MSM báo cáo có hành vi UAI với bạn tình nam trong vòng 2 tháng trước cuộc điều tra. Tỷ lệ này trong nhóm MSM chỉ QHTD với bạn tình nam (MSMO) là 59,2% so với 62,7% trong nhóm MSM có QHTD với cả nam và nữ (MSMW) [114]. D. Song (2012) và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trong nhóm MSMW tại hai tỉnh Chengdu và Guangzhou, Trung Quốc. Kết quả cho thấy, trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra, chỉ có 44,2% đối tượng nghiên cứu thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn với bạn tình nam. Tỷ lệ MSMW sử dụng BCS trong 3 lần gần đây nhất QHTD đường hậu môn là 52,3% và chỉ có 63%
  • 18. 7 MSMW tham gia nghiên cứu báo cáo có dùng BCS trong lần gần đây nhất QHTD đường hậu môn [131]. Một nghiên cứu cắt ngang khác trong nhóm MSM người Trung Quốc tại Hong Kong của J. Lau và cộng sự (2013) báo cáo chỉ có 39% MSM có UAI trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra [73]. S. Ramanathan và cộng sự (Tamil Nadu, Ấn Độ, 2013) đã tiến hành phân tích các yếu tố liên quan đến hành vi thường xuyên sử dụng BCS với các loại bạn tình của MSM, bao gồm bạn tình thường xuyên, bạn tình bất chợt và bạn tình trả tiền. Kết quả cho thấy tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình nam thường xuyên hoặc phải trả tiền hoặc bạn tình bất chợt lần lượt là 45,3%, 50,8% và 57,9%. Tỷ lệ MSM thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình nam nói chung là 52,6% [104]. Tại khu vực Đông Nam Á, kết quả từ nghiên cứu của A. Li và cộng sự (Thái Lan, 2009) cho biết tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn với bạn tình nam trong nhóm MSMW cao hơn so với nhóm MSMO (77,6% so với 62,9%) [75] còn nghiên cứu của G. Morineau và cộng sự (2011) tại 6 thành phố của Indonesia báo cáo 27% MSM đã từng UAI với nhiều bạn tình nam. Tỷ lệ thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn với bạn tình nam dao động từ 30 – 40% tùy loại bạn tình [85]. Một vài nghiên cứu báo cáo tỷ lệ MSM nhiễm HIV không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD với bạn tình dao động từ 3,5% đến dưới 60%, tùy thuộc theo thời gian đánh giá và loại bạn tình. H. He và cộng sự (2012) đã tiến hành nghiên cứu trong nhóm nam nhiễm HIV có quan hệ tình dục đồng giới (MSMH) tại Shanghai, Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra, chỉ có 16% MSMH không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn với bạn tình nam và 3,5% MSMH không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường âm đạo với bạn tình nữ [130]. Theo kết quả nghiên cứu của D. Song (2012) và cộng sự, chỉ có khoảng gần 50% MSMW nhiễm HIV thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn với bạn tình nam trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra [131]. Tương tự, nghiên cứu của M. Durham và cộng sự (2013) tại
  • 19. 8 Hoa Kỳ cho biết 54% MSMH có QHTD không an toàn với bạn tình nam trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra [37]. 1.2.2 Tình hình tại Việt Nam Giang L. và Clatts (2009) đã tiến hành một nghiên cứu hành vi trong nhóm MSM bán dâm (MSWs) tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho biết, 65% MSWs báo cáo có thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD đường hậu môn. Trong số MSWs báo cáo có tiêm chích ma túy, 42% có QHTD đường hậu môn với vai trò “cho” trong đó 47% không sử dụng BCS [138]. Trong một báo cáo nghiên cứu thuần tập chưa công bố kết quả chính thức của Colby và Mimiaga (2011), 36% MSM báo cáo có UAI và tỷ lệ này giảm xuống còn 22% vào năm 2010 trên cùng một quần thể MSM. Gần một phần tư MSM tham gia nghiên cứu này báo cáo có UAI với khách hàng [133]. Cũng theo Colby và cộng sự (2010), 42,5% MSW báo cáo có QHTD không an toàn trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra. Tỷ lệ MSW có hành vi UAI là 36%; UAI đối với khách hàng nam là 22% và với khách hàng nữ là 3,5% [134]. Kết quả một nghiên cứu hành vi tình dục của MSM thông qua Internet cho biết, 40% MSM báo cáo có UAI trong lần QHTD gần đây nhất (Quoc và cộng sự, 2010) [146]. Theo Do và cộng sự (2009), 34% MSM có UAI với bạn tình bất chợt trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra [135]. Theo kết quả điều tra IBBS vòng II, tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên trong 12 tháng qua có sự khác biệt trong nhóm MSM, với MSM bán dâm, tỷ lệ này ở mức thấp – dưới 50% với bất kỳ loại bạn tình nào được ghi nhận ở tất cả các tỉnh ngoại trừ Hà Nội, ở Hà Nội có 64% báo cáo sử dụng BCS thường xuyên với PNMD. So sánh với số liệu IBBS vòng I, số liệu vòng II cho thấy sự trái ngược giữa Hà Nội và TP. HCM. Tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với bất kỳ loại bạn tình nào trong nhóm MSM bán dâm ở Hà Nội trong năm 2009 cao hơn so với năm 2006. Ngược lại, tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với khách hàng nam và bạn tình tự nguyện là nam ở TP. HCM giảm mạnh. Trong nhóm MSM không bán dâm ở Hà Nội, tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với bạn tình tự nguyện là nam tăng mạnh (hơn hai lần) [1]. Kết quả Giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi năm 2012 cho biết, tỷ lệ MSM dùng BCS với bạn tình nam trong lần QHTD gần đây nhất qua đường hậu
  • 20. 9 môn tương đối thấp, chỉ có 64,3% MSM cho biết có sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất. Tỷ lệ này có sự khác nhau ở các tỉnh, cao nhất ở Đà Nẵng (85%). Sóc Trăng là tỉnh có tỷ lệ MSM sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất thấp nhất (chỉ chiếm 30%). So sánh với năm 2011, tỷ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất qua đường hậu môn với bạn tình nam trong điều tra năm 2012 thấp hơn 9% (tỷ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất năm 2011 là 73,3%) [4]. Cũng theo Giám sát trọng điểm lồng ghép hành vi năm 2012, tỷ lệ MSM sử dụng BCS thường xuyên khi QHTD với tất cả bạn tình nam trong 1 tháng qua rất thấp (41,1%). Đặc biệt, trong số MSM bán dâm trong 12 tháng qua chỉ có 31,3% MSM thường xuyên sử dụng BCS với khách hàng nam giới. Sóc Trăng là tỉnh có tỷ lệ MSM bán dâm thường xuyên sử dụng BCS với khách hàng nam thấp nhất (10%), An Giang (18,2%), Kiên Giang (31%), Cần Thơ (33,3%). So sánh với năm 2011, tỷ lệ MSM bán dâm thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD qua đường hậu môn với khách hàng giảm từ 57,1% năm 2011 xuống còn 31,3% năm 2012 [4]. 1.3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn qua đường hậu môn trong nhóm MSM 1.3.1 Sử dụng các loại thuốc kích thích/an thần Một vài nghiên cứu đã phát hiện mối liên quan giữa việc “sử dụng bất kỳ loại ma túy nào” và hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM (M. J. Rotheram- Borus và cộng sự, 1995 ; R. B. Hays và cộng sự, 1997) [111] [56]. Kết quả nghiên cứu của Rosatio và cộng sự (2006) trong nhóm MSM trẻ tại thành phố New York, Hoa Kỳ cho biết lạm dụng ma túy có thể làm tăng nguy cơ UAI lên 29 lần (OR = 29,46) [108]. Tác động của việc sử dụng ma túy tổng hợp (các chất kích thích và chất gây ảo giác, bao gồm cả thuốc lắc hoặc MDMA, amphetamines (bao gồm methamphetamine), ketamine, GHB, và cocaine) tới hành vi QHTD không an toàn được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Một vài nghiên cứu từ thập niên 90 phát hiện sự kết hợp mạnh giữa việc sử dụng cocain và hành vi QHTD không an toàn so với việc sử dụng các loại ma túy khác (McNall và Remafedi, 1999; Molitor và cộng
  • 21. 10 sự, 1999; Weber và cộng sự, 2001) [81] [84] [127]. Tuy nhiên, những nghiên cứu gần đây lại nhấn mạnh tới mức độ ảnh hưởng rất mạnh giữa sử dụng amphetamine (bao gồm cả methamphetamine) và UAI. Nguy cơ UAI trong vòng 6 tháng trước cuộc điều tra gấp 1,5 lần (95% CI: 1,1 - 2) ở người “nhận” và 1,9 lần (95% CI: 1,4 - 2,6) ở người “cho” nếu sử dụng amphetamine khi QHTD (Celentano và cộng sự, 2006) [20]. Drumright và các cộng sự (2006) phát hiện hành vi UAI có liên quan chặt chẽ tới việc sử dụng methamphetarmine (OR = 4,9) [35]. Ngoài ra, rất nhiều nghiên cứu cũng đã đề cập đến tác động của các loại ma túy khác đến hành vi QHTD không an toàn. Cần sa cũng được chứng minh là có mối liên quan quan tiềm tàng đến hành vi QHTD không an toàn ở MSM. Những MSM sử dụng cần sa khoảng 2 giờ trước khi QHTD có nguy cơ UAI cao gấp 4,5 lần (95% CI: 1,87 - 10,94) so với những người không sử dụng (Clutterbuck và cộng sự, 2001) [27]. Nguy cơ UAI với 03 bạn tình gần đây nhất cao gấp 2,2 lần nếu MSM có sử dụng cần sa (Drumright và cộng sự, 2006) [35]. Một vài bằng chứng chỉ ra mối liên quan giữa sử dụng ma túy và hành vi QHTD không an toàn khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố tình huống liên quan đến cuộc QHTD ([35] [118]. Một trong những biến số đó là kiểu bạn tình trong cuộc QHTD (ví dụ như bạn tình chính so sánh với bạn tình bất chợt). Nhìn chung, y văn chỉ ra mối quan hệ mạnh mẽ giữa sử dụng ma túy và QHTD không an toàn với bạn tình bất chợt, đặc biệt là với đối tác dị nhiễm (serodiscordant) hoặc không rõ tình trạng nhiễm HIV của đối tác. Stueve và cộng sự (2002) phát hiện với những MSM sử dụng ma túy trong lần QHTD gần đây nhất, nguy cơ không sử dụng biện pháp bảo vệ trong lần QHTD này sẽ gia tăng nếu đối tác của họ là bạn tình bất chợt chứ không phải là bạn tình chính [118]. Một vài nghiên cứu khác chỉ ra mối liên quan giữa QHTD không an toàn và sử dụng ma túy khác nhau phụ thuộc vào vai trò của cá nhân trong cuộc QHTD (ví dụ người “cho” hoặc người “nhận”). Một nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu lớn (N = 3.492) trong nhóm MSM từ 15 đến 22 tuổi tại Hoa Kỳ đã phát hiện một số loại ma túy có liên quan đến tăng nguy cơ UAI đối với người “nhận”, trong khi vài loại ma túy khác lại liên quan đến tăng nguy cơ UAI đối với người “cho” (Celentano và
  • 22. 11 cộng sự, 2006) [20]. Trong nghiên cứu này, sử dụng cần sa khi QHTD chỉ làm tăng nguy cơ UAI đối với người “nhận”. Sử dụng amphetamine hoặc cocain có thể làm tăng nguy cơ UAI đối với người “cho” hoặc người “nhận”. Nhìn chung, các nghiên cứu về hành vi QHTD không an toàn trong nhóm MSM chỉ ra mối liên quan thuận giữa sử dụng ma túy và UAI, đặc biệt là ma túy tổng hợp. Mối liên quan này mạnh hơn khi MSM QHTD với bạn tình bất chợt so với bạn tình chính. Ngoài ra, một số ít bằng chứng cho thấy một vài loại ma túy có mối liên quan mạnh hơn với UAI ở người “nhận” so với người “cho”, hoặc ngược lại. Có rất nhiều bằng chứng rõ ràng cho thấy mối liên quan mạnh mẽ giữa sử dụng methamphetamine và UAI trong nhóm MSM. 1.3.2 Sử dụng rượu, bia Sử dụng rượu, bia là một trong những yếu tố thường được chú ý khi nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến QHTD không an toàn trong quần thể nói chung và trong quần thể MSM nói riêng. Nhìn chung, mối liên quan giữa sử dụng rượu, bia và hành vi tình dục có nguy cơ không thống nhất, thay đổi tùy theo phương pháp tiếp cận của từng nghiên cứu. Nghiên cứu của Hirshfield và cộng sự (2004) tìm thấy mối liên quan thuận giữa sử dụng rượu bia và hành vi tình dục có nguy cơ. Những người uống rượu, bia trước hoặc trong quá trình QHTD có nguy cơ UAI cao gấp 1,9 lần so với những người không dùng (95% CI từ1,7 đến 2,3) [59]. Stueve và cộng sự (2002) phát hiện nguy cơ UAI ở những MSM báo cáo sử dụng “nhiều” rượu, bia cao hơn so với nhóm khác [118]. Những MSM sử dụng từ 6 cốc rượu trở lên trước hoặc trong khi QHTD tình dục có nguy cơ UAI hơn những người uống ít hơn (Colfax và cộng sự, 2004) [28]. Mustanski (2008) sử dụng cách tiếp cận nhật ký hàng ngày để xem xét ảnh hưởng của yếu tố tuổi như là một yếu tố điều tiết mối liên quan giữa uống rượu và hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM từ 18 tuổi trở lên. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy yếu tố tuổi ảnh hưởng rõ ràng đến mối quan hệ giữa uống rượu và hành vi tình dục không an toàn, chẳng hạn như rượu có tác động đáng kể đến hành vi tình dục không an toàn ở nhóm MSM già hơn (37 tuổi trở lên) [89].
  • 23. 12 Bên cạnh đó các nghiên cứu của Choi và cộng sự (2005), McNall và Remafedi (1999) hay Waldo và cộng sự (2000) lại cho biết không có mối liên quan giữa việc sử dụng rượu, bia và UAI [23] [81] [124]. Sử dụng rượu, bia không liên quan đến hành vi sử dụng BCS trong lần QHTD gần đây nhất (Cooper, 2002; Leigh, 2002) [29] [74]; số lượng rượu, bia đã uống không ảnh hưởng đến hành vi tình dục của MSM (Weatherburn, 1993) [126]. Kỳ vọng tăng cường tình dục (ví dụ, niềm tin cho rằng rượu, bia và ma túy sẽ giúp tăng cường những trải nghiệm tình dục) cũng là một cách giải thích lý do tại sao một số cá nhân (không phải là tất cả) thể hiện mối liên quan thuận giữa sử dụng rượu, bia và hành vi tình dục có nguy cơ. Một số nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan giữa khía cạnh nhận thức này và hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM. Những nghiên cứu này cho thấy rằng kỳ vọng vào rượu, bia có thể gần như là yếu tố hàng đầu trong những MSM tham gia vào những hành vi tình dục nguy cơ dưới ảnh hưởng của rượu, bia (Bimbi và cộng sự, 2006; Kalichman và cộng sự, 1998) [12] [144]. 1.3.3 Tính cách cá nhân Tính cách cá nhân cũng có thể ảnh hưởng đến hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM (Dudley và cộng sự, 2004) [36]. Các nhà nghiên cứu trước đây đã sử dụng những mô hình Tâm lý học (như mô hình PEN của Eysenck,1990 [39]) và mô hình phân loại (như mô hình Five-Factor của Goldberg, 1993 [49]) để lựa chọn những biến số về tính cách cá nhân nhằm kiểm tra tương quan của chúng với hành vi tình dục không an toàn [64]. Một số biến số tính cách cá nhân được xem xét bao gồm tìm kiếm khoái cảm (Sensation-Seeking), bốc đồng (Impulsivity), cởi mở (Openness), tận tậm (Conscientiousness), hợp tác (Agreeableness), tâm thần bất ổn (Psychoticism), hướng ngoại (Extraversion) và nhạy cảm (neuroticism)… Tìm kiếm khoái cảm là biến số tính cách nhận được nhiều sự chú ý hơn bất kỳ biến số tính cách khác trong các tài liệu liên quan đến hành vi tình dục không an toàn. Hoyle và cộng sự (2000) phát hiện 64% các nghiên cứu khảo sát về tính cách cá nhân và hành vi tình dục không an toàn coi biến số tìm kiếm khoái cảm là một
  • 24. 13 biến độc lập [64]. Tuy nhiên, các phát hiện về mối liên quan giữa tìm kiếm khoái cảm và hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM lại không hoàn toàn nhất quán. Trong một nghiên cứu về nhóm MSM trẻ, Newcomb và đồng nghiệp (2011) phát hiện tác động của tìm kiếm khoái cảm lên tỷ lệ UAI là không đáng kể. Tuy nhiên, tìm kiếm khoái cảm lại điều phối quan hệ giữa sử dụng chất gây nghiện và tỷ lệ UAI, chẳng hạn như tính cách tìm kiếm khoái cảm ở mức độ cao sẽ làm tăng mối liên quan thuận giữa tần suất UAI và sử dụng chất gây nghiện trước khi QHTD [94]. Trong một nghiên cứu khác cũng trên nhóm MSM trẻ, tìm kiếm khoái cảm có mối tương quan thuận với hành vi tình dục không an toàn. Tuy nhiên, khi đưa vào mô hình hồi quy đa tầng (hierarchichal regression model) sau các biến số khác như đặc điểm nhân khẩu học, sử dụng chất gây nghiện và tình trạng hẹn hò thì tìm kiếm khoái cảm không còn tác động đáng kể đến UAI [36]. Tương tự, trong nhóm MSM trưởng thành, mối quan hệ giữa tìm kiếm khoái cảm và hành vi tình dục không an toàn cũng không nhất quán. Bancroft và cộng sự (1996) [9], Kalichman và cộng sự (1996) [68] báo cáo về một mối liên quan có ý nghĩa thống kê trong khi McCoul và Haslam (2001) lại không tìm thấy mối liên quan giữa hai yếu tố trên [145]. Sự không thống nhất này có thể do tìm kiếm khoái cảm chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi tình dục không an toàn bằng cách tăng tác động của các yếu tố khác (ví dụ như sử dụng rượu) tới hành vi tình dục không an toàn. Trong trường này, quan hệ giữa tìm kiếm khoái cảm và hành vi tình dục không an toàn phụ thuộc nhiều và đặc điểm của mẫu nghiên cứu. Mối liên hệ giữa hành vi tình dục không an toàn và một bộ các yếu tố liên quan đến nhau bao gồm bốc đồng, bốc đồng trong tình dục, bốc đồng trong việc ra quyết định đã được tiến hành nghiên cứu. Bốc đồng được định nghĩa theo nhiều cách, hầu hết các định nghĩa đề cập đến hành động mà không suy nghĩ hoặc xem xét những hậu quả của hành động. Một nghiên cứu trong nhóm MSM trẻ phát hiện bốc đồng trong việc ra quyết định có mối liên quan đáng kể đến tần suất UAI vượt xa các yếu tố khác, bao gồm số lượng bạn tình quan hệ qua đường hậu môn và tình trạng nhiễm HIV của bạn tình (Dudley và cộng sự, 2004) [36]. Một nghiên cứu khác của Hays và cộng sự (1997) trong nhóm MSM trẻ đã biết tình trạng HIV của
  • 25. 14 mình (âm tính hoặc dương tính) cho thấy bốc đồng trong tình dục có mối liên quan với UAI [56]. 1.3.4 Sức khỏe tâm thần Mối liên quan giữa sức khỏe tâm thần và hành vi tình dục không an toàn được nghiên cứu rộng rãi trong nhóm MSM cho thấy về mặt lý thuyết, trầm cảm, lo âu và các cấu trúc có liên quan đến sức khỏe tâm thần có thể có liên quan đến hành vi tình dục không an toàn. Liên quan đến mối quan hệ giữa trầm cảm và hành vi tình dục không an toàn, Perdue và cộng sự (2001) đã phát hiện ra rằng những MSM có điểm đánh giá triệu chứng trầm cảm cao hơn sẽ có nhiều bạn tình hơn so với nhóm có điểm số thấp hơn [101]. Mustanski và cộng sự (2007) phát hiện mối liên quan giữa căng thẳng tâm lý và UAI ở những MSM trẻ tại thành phố [90] và trong một mẫu MSM từ 18 đến 30 tuổi, Strathdee và cộng sự (1998) cho biết những người QHTD không an toàn có điểm số trầm cảm cao hơn những người QHTD an toàn [117]. Mối liên quan giữa lo âu và hành vi tình dục không an toàn không nhất quán giữa nhóm MSM trưởng thành, MSM trẻ tuổi và các quần thể khác. Rosario và cộng sự (2006) phát hiện trong số MSM trẻ tuổi, những triệu chứng lo âu có liên quan trực tiếp đến sự gia tăng số lượng bạn tình và có liên quan gián tiếp đến UAI thông qua hành vi sử dụng chất gây nghiện [108]. Một số nghiên cứu trên quần thể MSM nói chung lại chỉ ra ít lo âu có liên quan đến sự gia tăng hành vi tình dục không an toàn (Bancroft và cộng sự, 2003 [9]; Parsons và cộng sự, 2003 [99]). Trong nghiên cứu của mình trên nhóm MSM, Mustanski (2007) cho rằng trạng thái lo âu dường như tác động tới MSM theo những cách khác nhau. Đối với những MSM thường hay lo âu, trạng thái lo âu đóng vai trò bảo vệ chống lại hành vi tình dục không an toàn. Ngược lại, với những MSM thường không lo âu, trạng thái lo âu lại đóng vai trò là yếu tố khiến MSM dễ bị tổn thương với nguy cơ [88]. Những kết quả này phản ánh sự phức tạp của mối quan hệ giữa lo âu và hành vi tình dục không
  • 26. 15 an toàn cũng như sự cần thiết phải tiếp tục nghiên cứu về những chủ đề này trong nhóm MSM ở mọi lứa tuổi. Nghiên cứu của Biello và cộng sự (2013) tại TP. HCM, Việt Nam đã phát hiện mối liên quan giữa vấn đề sức khỏe tâm thần và hành vi UAI trong nhóm MSW. Cụ thể, cứ tăng một vấn đề sức khỏe tâm thần MSW phải đối mặt thì nguy cơ UAI cũng tăng từ 25 – 30% [11]. 1.3.5 Mối quan hệ với bạn tình Những nghiên cứu về trạng thái của những mối quan hệ đều chỉ ra xu hướng: hành vi UAI thường xảy ra ở những mối quan hệ vững chắc hơn so với những mối quan hệ bất chợt. Một số hành vi liên quan đến UAI ở nhóm MSM trong một mối quan hệ bền vững bao gồm cùng xét nghiệm HIV và sống chung với một bạn tình (Folch và cộng sự, 2006) [42]. Các yếu tố cảm xúc thúc đẩy hành vi UAI bao gồm mong muốn thể hiện sự gần gũi, sự tin tưởng và tình yêu (Adam và cộng sự, 2000 [132]; Suarez & Miller, 2001 [119]); sự gần gũi với bạn tình (Zea và cộng sự, 2009 [129]); cho rằng sử dụng BCS sẽ ảnh hưởng tới khoái cảm và sự thân mật (MacLean và cộng sự, 1994 [80]). Các yếu tố về nhận thức bao gồm nhận thức không chính xác hoặc sai lệch về HIV (ví dụ, cảm thấy bạn tình là người không có nguy cơ, không quan tâm đến tình trạng HIV của bạn tình, MacLean và cộng sự, 1994 [80]), giảm lo ngại về HIV và AIDS do sự ra đời và thành công của các loại thuốc chống virus (Folch và cộng sự, 2006 [42]). Giao tiếp tình dục kém, bao gồm việc tránh đề cập đến các chủ đề về tình dục an toàn cũng có thể góp phần thúc đẩy UAI trong những mối quan hệ của MSM (MacLean và cộng sự, 1994 [80]). Nghiên cứu định tính của Kubicek và cộng sự (2008) cũng chỉ ra trong nhóm MSM, những yếu tố liên quan đến hành vi UAI với bạn tình chính bao gồm tin tưởng vào bạn tình, tìm kiếm sự thân mật và gần gũi hơn trong mối quan hệ, bản năng cảm thấy bạn tình an toàn, đã cùng xét nghiệm HIV để củng cố tình trạng đồng huyết thanh (seroconcordance) và biết rõ về bạn tình (ví dụ, bạn tình là bạn hoặc bạn trai cũ) [72]. Một yếu tố khác cũng có thể làm gia tăng hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM là có bạn tình nhiều tuổi hơn. Nghiên cứu của Bingham và cộng sự (2003) [13], Morris và cộng sự (1995)
  • 27. 16 [86] về mối liên quan giữa tuổi của bạn tình và hành vi tình dục đã chỉ ra mối liên quan thuận giữa có bạn tình nhiều tuổi hơn và sự gia tăng hành vi tình dục không an toàn. Tại Việt Nam, Ngo và cộng sự (2009) phát hiện lý do cản trở việc sử dụng BCS khi QHTD thường do cảm giác tin tưởng bạn tình chính. Yêu cầu sử dụng BCS được đưa ra sẽ bị đánh giá dưới góc độ khác như không tin tưởng, không chung thủy, do đó có thể bất lợi cho mối quan hệ của họ. Vì lý do này, BCS thường được sử dụng khi mua bán dâm nhưng hiếm khi được sử dụng khi QHTD với bạn tình chính [96]. Ngoài ra, việc cảm thấy bạn tình an toàn cũng góp phần thúc đẩy hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM (Vu và cộng sự, 2008) [123]. 1.3.6 Yếu tố gia đình Trong nhóm MSM trẻ, những hậu quả về sức khỏe tâm thần của sự kỳ thị có thể dẫn đến tâm trạng căng thẳng, đau buồn hay ý định tự tử (Hershberger và D’Augelli, 1995 [17]), sử dụng ma túy và hành vi tình dục không an toàn (CDC, 2009 [48]). Những kết quả tiêu cực này thường được thúc đẩy một phần bởi sự chối bỏ của gia đình (bằng chứng là sự hỗ trợ nghèo nàn từ phía gia đình), bị quấy rối vởi các thành viên gia đình hoặc bị đuổi khỏi nhà (Ryan và cộng sự, 2009 [113]). Trong một nghiên cứu trên 224 người Mỹ da trắng và Latino tuổi từ 21 đến 25 tự nhận mình là đồng tính nữ, đồng tính nam và lưỡng tính, Ryan và cộng sự (2009) nhận thấy với những người bị gia đình chối bỏ ở mức cao trong thời kỳ vị thành niên có liên quan đến việc tỷ lệ có ý định tự tử cao gấp 8,4 lần, tỷ lệ bị trầm cảm cao gấp 5,9 lần, tỷ lệ sử dụng ma túy bất hợp pháp cao gấp 3,4 lần và tỷ lệ có QHTD không an toàn cao gấp 3,4 lần so với nhóm báo cáo không bị hoặc bị gia đình chối bỏ ở mức thấp trong thời kỳ vị thành niên [113]. 1.3.7 Địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình Thiếu vắng những khu vực, địa điểm công cộng chấp nhận và hỗ trợ MSM cùng với những chuẩn mực nhóm chấp nhận những hành vi như sử dụng chất gây nghiện và tình dục một đêm đã đẩy MSM phải đối mặt với những môi trường đầy
  • 28. 17 rủi ro (Garofalo và cộng sự, 2010 [47]; Harper, 2007[54]). Ví dụ, quán bar và câu lạc bộ là những nơi MSM gặp gỡ, giao lưu và tìm kiếm bạn tình. Do đó, MSM phải tiếp xúc với việc sử dụng rượu, bia, chất gây nghiện, vốn rất phổ biến tại đây, và họ có thể học được cách kết hợp giữa ma túy và tình dục (McKirnan và cộng sự, 1996 [79]; Stall và cộng sự, 2001 [116]). Trong một nghiên cứu trên 428 MSM, Greenwood và cộng sự (2001) phát hiện những người đến quán bar đồng tính có mối liên quan chặt chẽ với cả hai hành vi là sử dụng rượu, bia và sử dụng kết hợp nhiều loại ma túy, cũng như với hành vi tình dục không an toàn [116]. Ngoài quán bar hay các câu lạc bộ, MSM thường bị đẩy vào những bối cảnh giao tiếp tình dục khác như môi trường công cộng nơi MSM có thể tìm thấy bạn tình tiềm năng (công viên, vườn hoa) hay môi trường phải trả tiền để vào cửa (nhà tắm công cộng, câu lạc bộ khiêu dâm) hay qua Internet. Điều này có thể khiến họ dễ bị tổn thương bởi HIV hơn và có khả năng trở thành nạn nhân của bạo lực (Garofalo và Harper, 2003 [45]; Garofalo và cộng sự, 2007 [46] ; Greenwood và cộng sự., 2001 [116]). Một nghiên cứu khác của Garofalo và cộng sự (2007) trong nhóm MSM từ 16 đến 24 tuổi cho thấy 25% đã từng tham gia vào hoạt động mại dâm và 26% đã từng QHTD tại nhà tắm công cộng hoặc câu lạc bộ khiêu dâm [47]. Elford và cộng sự (2001) phát hiện hành vi tìm kiếm tình dục qua Internet có mối liên quan hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM ở London. Cụ thể, nguy cơ MSMH tìm kiếm tình dục qua Internet có UAI với những MSMH khác cao gấp 7,9 lần so với MSMH không tìm kiếm tình dục qua Internet (95% CI từ 1,8 đến 34,6) [38]. 1.3.8 Kết nối với cộng đồng đồng MSM Khi một người kết nối và hoạt động trong cộng đồng MSM, họ sẽ có cơ hội tương tác với những MSM trong đó, được trải nghiệm với các chuẩn mực xã hội và phong tục bên trong cộng đồng đồng tính đó. Liên quan đến nguy cơ lây nhiễm HIV, việc kết nối với cộng đồng MSM làm tăng cơ hội tiếp xúc với chương trình dự phòng HIV, giáo dục và xét nghiệm, những dịch vụ thường xuất hiện trong nhà tắm công cộng, quán bar và câu lạc bộ đồng tính, biểu ngữ và quảng cáo trên những
  • 29. 18 trang web đồng tính, các sự kiện… (Daskalakis và cộng sự, 2009 [31]; Grov và cộng sự, 2007 [51]; Mullens và cộng sự, 2009 [87]). Ngược lại, việc kết nối với cộng đồng MSM cũng làm tăng khả năng phơi nhiễm với các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV, chẳng hạn như có quan điểm thoải mái hơn xung quanh việc sử dụng ma túy. Điều này đã được ghi nhận trong những bữa tiệc đồng tính (circuit party) rất phổ biến tại Hoa Kỳ vào thập niên 90 (Fernandez và cộng sự, 2005 [41]; Ross và cộng sự, 2003 [109]) và gần đây là methamphetamine dạng đá (Halkitis và cộng sự, 2005 [52]; Nanin và cộng sự, 2006 [12]). Ngoài ra, MSM có nguy cơ tiếp xúc với những sự kiện kết hợp sử dụng ma túy với hành vi tình dục (thường gọi là PnP hay “Party n Play”, Grov và cộng sự, 2009 [50]; Halkitis và cộng sự, 2005 [53]), văn hóa “không BCS” (Carballo- Dieguez và Bauermeister, 2004 [19]; Parsons và Bimbi, 2007 [98]) và nhiều quan điểm thoải mái hơn về hoạt động tình dục (như những bữa tiệc sex ngầm, những quán bar đồng tính với phòng kín cho phép QHTD tại chỗ và những khu vực công cộng nơi có thể tìm thấy bạn tình… Frankis và Flowers, 2009 [43]; Grov và cộng sự, 2007 [51]). Một điều rất đơn giản nhưng rất quan trọng, đó là tham gia vào cộng đồng MSM làm tăng khả năng tiếp cận với những MSM khác, do đó cũng tăng khả năng tiếp cận được với nhiều bạn tình tiềm năng. 1.3.9 Sử dụng Internet MSM ngày này thường sử dụng Internet phục vụ cho các mục đích liên quan đến sức khỏe tình dục, bao gồm cả việc kết nối với cộng đồng MSM, tìm kiếm thông tin sức khỏe tình dục và gặp gỡ đối tác để hẹn hò hoặc QHTD [46] [91]. Có sự không nhất quán trong kết quả các nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa việc sử dụng Internet để tìm kiếm bạn tình và UAI hoặc hành vi tình dục không an toàn trên nhóm MSM. Một số nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về mối liên hệ giữa tiền sử tình dục không an toàn và gặp gỡ bạn tình online (Garofalo và cộng sự, 2007 [46]; Horvath và cộng sự, 2006 [60]; Elford và cộng sự, 2001 [38]) trong khi các nghiên cứu khác lại không tìm thấy mối quan hệ giữa các yếu tố này (Bolding và cộng sự, 2005 [14]; Chiasson và cộng sự, 2007 [22]; Mustanski và cộng sự, 2011
  • 30. 19 [91]) và cuối cùng, một vài nghiên cứu phát hiện rất “ít” nguy cơ khi gặp gỡ bạn tình online (Bull và cộng sự, 2001 [16]; Horvath và cộng sự, 2008 [63]; Mustanski và cộng sự, 2007 [93]). Nghiên cứu của Garofalo và cộng sự (2007) phát hiện 48% MSM báo cáo sử dụng Internet để gặp gỡ bạn tình và chỉ có 53% trong số những người này báo cáo thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD trong những lần hẹn hò này. Ngoài ra, 47% MSM đã từng gặp gỡ bạn tình online báo cáo rằng bạn tình của họ nhiều tuổi hơn mình (hơn 4 tuổi). Chỉ yếu tố “có tiền sử UAI” có liên quan đến hành vi QHTD không an toàn với bạn tình online và điều này gợi ý rằng MSM có tiền sử UAI có thể sử dụng Internet như một cách hiệu quả để tìm kiếm bạn tình có UAI khác [46]. Tương tự, trong một nghiên cứu nhằm tìm hiểu địa điểm nhóm MSM ở khu vực nông thôn gặp bạn tình của họ và mối liên quan đến thực hành tình dục an toàn, Horvath và cộng sự (2006) phát hiện Internet và quán bar là những địa điểm MSM thường gặp gỡ bạn tình nhất. Nguy cơ tình dục không an toàn có mối liên quan đến hẹn hò qua Internet [60]. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu gần đây trên nhóm MSM từ 18 đến 24 tuổi cũng của Horvath và cộng sự (2006), kết quả lại cho thấy gặp gỡ bạn tình online có thể không liên quan đến hành vi tình dục không an toàn. Đối tượng nghiên cứu được chia thành ba nhóm theo địa điểm gặp gỡ bạn tình (chỉ gặp bạn tình offline, chỉ gặp bạn tình online và gặp cả bạn tình online và offline) nhằm xác định nơi MSM thường gặp bạn tình và xem sự khác nhau của mối liên quan giữa các địa điểm này và tình dục nguy cơ. Trong ba nhóm, những MSM gặp gỡ cả bạn tình online và offline có tỷ lệ UAI cao nhất (43% so với 29% ở nhóm chỉ gặp bạn tình online và 34% ở nhóm chỉ gặp bạn tình offline). MSM chỉ gặp bạn tình offline báo cáo có ít bạn tình nhất nhưng tỷ lệ bạn tình của họ liên quan đến UAI lại cao nhất [63]. Trong một nghiên cứu trên nhóm MSM tại Hà Lan, 45% đối tượng nghiên cứu báo cáo UAI với bạn tình cùng giới đầu tiên và không có sự khác biệt giữa các loại bạn tình (gặp gỡ online hay offline - Franssens và cộng sự, 2010) [44]. Một số nghiên cứu xem xét mối liên quan giữa gặp gỡ bạn tình online và hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM đã chỉ ra rằng có thể không có mối liên quan trực tiếp hai chiều giữa các bên biến số này, nhưng có bên thứ ba nào
  • 31. 20 đó có thể giúp giải thích tại sao gặp gỡ bạn tình online và hành vi tình dục không an toàn lại có mối tương quan thuận trong một số hoàn cảnh nhất định. Ví dụ, thông tin cho bạn tình về tình trạng HIV và thỏa thuận trước nhằm tránh UAI có liên quan đến việc hành vi tình dục không an toàn với bạn tình online xuất hiện với tần suất thấp (Horvath, Nygaard và Rosser, 2009 [61]; Horvath, Oakes và Rosser, 2008 [62]). McKirnan và cộng sự (2007) tìm thấy bằng chứng về tương quan thuận giữa gặp gỡ bạn tình online và hành vi tình dục không an toàn chịu sự tác động của các yếu tố trung gian như đã từng có bạn tình giấu tên, gặp gỡ bạn tình tại những “bãi đáp” công cộng, sử dụng ma túy, và cảm thấy “mệt mỏi” đối với vấn đề tình dục an toàn [78]. 1.3.10 Mại dâm Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận mối liên hệ giữa hoạt động mại dâm, đặc biệt là mại dâm đường phố và lây nhiễm HIV và hành vi tình dục không an toàn. Nghiên cứu của Bacon và cộng sự (2006) phát hiện, trong nhóm MSM tiêm chích ma túy tại San Francisco, hành vi bán dâm cho nam giới có mối liên quan mạnh mẽ đến lây nhiễm HIV và tỷ lệ sử dụng BCS tương đối thấp [8]. Tất nhiên là tự thân việc mua bán dâm vốn không phải là nguy cơ trong việc lây truyền HIV vì HIV không lây truyền qua giao dịch tài chính nhưng bối cảnh xung quanh giao dịch đó có thể thúc đẩy hành vi tình dục không an toàn (Parsons và cộng sự, 2007 [100]). Bởi vì MSW có thể thiếu kỹ năng cần thiết để thương lượng việc sử dụng BCS và truyền thông về HIV và STIs cho khách hàng. Một số MSM có thể không biết nơi cung cấp BCS miễn phí và mua BCS không phải là ưu tiên hàng đầu (có thể nhu cầu ăn, mặc, ở còn cao hơn). Kết quả là MSM tham gia vào hoạt động mại dâm có thể phải dựa vào nguồn cung BCS từ phía khách hàng. Ngay cả khi có sẵn BCS miễn phí, MSW trên đường phố cũng ít có khả năng mang theo chúng vì sợ bị công an kiểm tra, khám xét và bắt giữ. Hơn nữa, khách hàng có thể đề nghị thưởng thêm cho MSM bán dâm nếu họ chấp nhận QHTD không dùng BCS, những đề nghị rất khó từ chối nếu MSM đang thiếu tiền. Tương tự, một số khách hàng có thể từ chối mua dâm hoặc sử dụng bạo lực nếu MSM bán dâm cứ khăng khăng đòi sử dụng BCS.
  • 32. 21 Điều kiện kinh tế, xã hội xung quanh MSW có thể quyết định họ sẽ bán dâm bằng hình thức nào (đường phố, nhà hàng, nhà chứa hay qua Internet), quyền tự chủ của họ (khả năng từ chối khách hàng hoặc hành vi tình dục nào đó) và kỹ năng để giảm thiểu nguy cơ lây truyền HIV (Padilla, 2008 [147]; Smith và Grov, 2011 [149]). Nghiên cứu của Kong (2008) tại Thượng Hải và Bắc Kinh, Trung Quốc trong nhóm MSW cho thấy bốn yếu tố ảnh hưởng đến định hướng tình dục và hoạt động mại dâm, đẩy họ đến với nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs là: có kiến thức sai về AIDS, kinh tế khó khăn, có định hướng QHTD đồng tính và quá tin tưởng vào các mối QHTD (Kong, 2008) [71]. Nghiên cứu Colby và cộng sự (2010) tiến hành trong nhóm MSW tại Việt Nam đã phát hiện lý do chính khiến MSM tham gia bán dâm là do cần tiền và không kiếm được việc làm [134]. Chemnasiri và cộng sự (2010) tại Thái Lan báo cáo hành vi không thường xuyên sử dụng BCS trong nhóm MSW có mối liên quan chặt chẽ tới các yếu tố như sống một mình, có tiền sử bị cưỡng bức tình dục, trình độ học vấn thấp [21]. 1.3.11 Áp lực cá biệt (miniority stress) Meyer (1995) lần đầu tiên giới thiệu về khái niệm “Áp lực nhóm có thiên hướng tình dục cá biệt” (LGBT miniority stress) bằng cách mở rộng lý thuyết về mối liên quan giữa các yếu tố dân tộc gây áp lực cá biệt, tình trạng kinh tế xã hội và các yếu tố đầu ra của sức khỏe [82]. Ông chủ yếu tập trung vào nhóm MSM và ông cho rằng những người này phải đối mặt với một tập hợp các yếu tố gây áp lực có thể hoạt động độc lập hoặc kết hợp với những ảnh hưởng tiêu cực về sức khỏe tâm thần và thể chất. Đặc biệt, ông nhấn mạnh rằng hội chứng sợ đồng tính của chính mình (Internalized Homophobia) (IH), nhận thấy sự kỳ thị và đã từng bị phân biệt đối xử và bạo hành là ba yếu tố gây nên áp lực cá biệt trong nhóm MSM. Trong khi một nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng về mối liên quan thuận giữa hội chứng sợ đồng tính của chính mình và hành vi tình dục không an toàn (Meyer và Dean, 1995 [83]) thì những nghiên cứu khác lại không lặp lại kết quả này (Dudley và cộng sự, 2004 [36]; Rosario và cộng sự, 2001 [107]). Một số nhà nghiên cứu cho rằng, tuy IH có thể không có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi tình dục
  • 33. 22 không an toàn nhưng nó có thể có tác động gián tiếp đến hành vi này (Ross và cộng sự, 2010 [110]). Rosario và cộng sự (2001) phát hiện bằng chứng về tác động gián tiếp của IH tới UAI trong nhóm MSM thông qua một mối liên quan thuận giữa IH và các triệu chứng lo âu. Một vài hạn chế quan trọng của các nghiên cứu trước đây về mối liên quan giữa HI và hành vi tình dục không an toàn có thể giúp giải thích sự không nhất quán này. Một trong những hạn chế đáng chú ý là IH đã được nghiên cứu rất nhiều trong nhóm MSM “già”, những người có thể bị ảnh hưởng bởi sự kỳ thị AIDS (Meyer, 1995) [82]. Điều này có thể giải thích cho mối liên quan mạnh mẽ giữa IH và hành vi tình dục không an toàn trong những nghiên cứu đầu tiên (Newcomb và Mustanski, 2013) [95]. Ngoài ra, theo David và Knight (2008) có bằng chứng cho thấy IH có thể đã thay đổi trong những thập kỷ gần đây, như vậy những MSM “trẻ” hơn có thể đã đối mặt với một hình thức IH khác so với những MSM trong thời kỳ tiền ARV (trước năm 1996) [32]. Cũng có thể trải nghiệm IH một cách vô thức hoặc tiềm ẩn có thể tác động mạnh mẽ đến hành vi sức khỏe hơn là tự báo cáo IH một cách rõ ràng. Hatzenbuehler và cộng sự (2009) đã tiến hành một phân tích theo chiều dọc trong nhóm MSM có một người thân yêu đã chết gần đây vì HIV/AIDS. Họ phát hiện IH tiềm ẩn là thước đo duy nhất nhằm đánh giá áp lực cá biệt, theo thời gian, đã có sự liên quan đáng kể đến cả số lượng bạn tình và UAI [55]. Trong một nghiên cứu trên nhóm MSM trên 18 tuổi ở khu vực nông thôn, Preson và cộng sự (2007) đã phát hiện bằng chứng về sự liên quan gián tiếp giữa nhận thấy sự kỳ thị từ cộng đồng và hành vi tình dục không an toàn. Những MSM nhận thấy sự kỳ thị cao từ cộng đồng có xu hướng tìm kiếm khoái cảm tình dục cao hơn [103]. Sử dụng một mẫu gồm 207 MSM da đen tại thành phố New York, Finlayson (2007) phát hiện nhận thấy sự kỳ thị có liên quan đến UAI sau khi đã kiểm soát các biến số nhâu khẩu học [137]. Bạo hành có lẽ là hình thức thể hiện rõ ràng nhất của áp lực cá biệt và đáng nói là MSM thường hay phải đối mặt với cả quấy rối và ngược đãi. Đặc biệt, những MSM trẻ có nguy cơ trở thành nạn nhân của sự ngược đãi cao hơn so với những MSM trưởng thành và phụ nữ (Herek, 2009 [57]; Herek và cộng sự, 1999 [58];
  • 34. 23 Herek và Sims, 2008 [143]). Điều này có thể làm cho những căng thẳng tâm lý của MSM trầm trọng hơn (Huebner và cộng sự, 2004 [65]; Koblin và cộng sự, 2006 [70]; Mustanski và cộng sự, 2010 [92]; Stall và cộng sự, 2008 [150]). Koblin và cộng sự (2006) phát hiện phần lớn MSM (68%) tham gia nghiên cứu của họ báo cáo về tiền sử bị đe dọa và bạo hành bởi các thành viên gia đình, bạn tình thân thiết hoặc cả hai. Một điều đáng báo động là tiền sử bị đe dọa và bạo hành bởi cả bạn tình thân thiết và các thành viên trong gia đình làm cho nguy cơ MSM tham gia vào UAI tăng gần gấp đôi [70]. Marsiglia và cộng sự (2009) cũng phát hiện mối tương quan thuận giữa tiền sử bị bạo hành và nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm MSM tại khu vực thành thị [76], và dường như có một mối liên hệ giữa bạo hành cá nhân với bạn tình và UAI trong nhóm MSM trưởng thành (Feldman và cộng sự, 2008 [40]; Relf và cộng sự, 2004 [105]). Bằng cách sử dụng số liệu từ Điều tra Hành vi nguy cơ ở thanh thiếu niên, một cuộc điều tra quy mô lớn trong nhóm thanh thiếu niên đang học lớp 9 đến 12, Bontempo và D’Augelli (2002) đã phát hiện sự kết hợp giữa xu hướng tình dục đồng giới và thường bị ngược đãi ở trường học có liên quan đến sự gia tăng các vấn đề về sức khỏe tâm thần, sử dụng ma túy, tự tử và hành vi tình dục không an toàn [15]. 1.3.12 Các chương trình dự phòng HIV Nhìn chung, những tổng hợp gần đây cho thấy can thiệp hành vi dự phòng HIV trong nhóm MSM có những hiệu quả nhất định. Can thiệp dự phòng ba cấp độ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) dường như có hiệu quả trong việc giảm hành vi tình dục không an toàn liên quan đến lây truyền HIV/STIs. Johnson và cộng sự (2008) phát hiện trong 40 chương trình can thiệp, so với nhóm nhận được can thiệp dự phòng tối thiểu hoặc không nhận được can thiệp, nhóm nhận được can thiệp đầy đủ có mức giảm hành vi UAI trung bình là 27% [66]. Dự phòng thứ phát đề cập đến những nỗ lực dự phòng cho những cá nhân đã nhiễm HIV với mục tiêu cuối cùng là giảm lây truyền HIV từ những người này cho người khác. Crepaz và cộng sự (2009) đã cung cấp bằng chứng cho thấy tỷ lệ UAI trong nhóm MSMH cao hơn so với nhóm MSM có HIV âm tính hoặc MSM không
  • 35. 24 biết tình trạng HIV [30]. Điều này cho thấy nhu cầu cụ thể đối với vấn đề dự phòng thứ phát trong nhóm MSM. Rotheram-Borus và cộng sự (2004) đã tiến hành một can thiệp dự phòng thứ phát trên một mẫu nghiên cứu gồm phần lớn (69%) là những MSM từ 16 đến 29 tuổi. Họ nhận thấy rằng so với những người nhận được dự phòng muộn, những người nhận được dự phòng sớm có xu hướng tăng tần suất QHTD an toàn [112]. Ngược lại, Rosser và cộng sự (2010) đã tiến hành một thử nghiệm ngẫu nghiên có đối chứng nhằm kiểm tra hiệu quả của can thiệp thứ cấp cho MSM. Kết quả cho thấy tỷ lệ giảm UAI trong nhóm dị tính là như nhau giữa MSMH và MSM có HIV âm tính. Trong trường hợp này, can thiệp dự phòng cho nhóm MSMH không đem lại lợi ích hơn so với can thiệp nói chung [112]. Có thể hiệu quả của can thiệp dự phòng thứ phát không nhất quán vì chúng ta chưa hiểu rõ cơ chế bên dưới sự thành công của phương pháp này. Một vài nghiên cứu đã điều tra các cấu phần hiệu quả của các can thiệp dự phòng tích cực. Sikkema và cộng sự (2010) cho rằng việc giảm căng thẳng tâm lý là cơ chế nền tảng của thành công trong dự phòng thứ phát. Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng tăng cường sức khỏe tâm thần sẽ ảnh hưởng tích cực đến hành vi tình dục [115]. Do đó, các biện pháp dự phòng thứ phát nên lấy trọng tâm là các biện pháp tăng cường sức khỏe tâm thần. 1.4 Khung lý thuyết hành vi tình dục không an toàn và một số yếu tố liên quan trong nhóm MSM Các yếu tố có tính chất tác động và dự báo hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM có thể cung cấp những bằng chứng hiệu quả nhằm xác định cá nhân có nguy cơ lây nhiễm HIV và xây dựng mục tiêu cho các chương trình can thiệp. Rất nhiều mô hình lý thuyết đã được các tác giả sử dụng để tìm hiểu và đánh giá tác động của các yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM như Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action), mô hình Xuyên lý thuyết (Các bước thay đổi hành vi Transtheoretical Model), hoặc mô hình Niềm tin sức khỏe (Health Belief Model)… Theo Choi và cộng sự (1998), mặc
  • 36. 25 dù một số mô hình rất hữu ích trong việc thiết kế các chương trình can thiệp giảm nguy cơ nhưng các số liệu thực tế gần đây cho thấy các mô hình này chưa giúp giải thích đầy đủ về tác động giữa môi trường xung quanh và cấp độ cá thể trong nhóm MSM. Do đó, tác giả đề xuất sử dụng một mô hình sinh thái sức khỏe có tiềm năng gợi ý các chiến lược dự phòng nhằm vào cá nhân, gia đình và cộng đồng xung quanh nhằm làm giảm nguy cơ lây nhiễm trong nhóm MSM [24]. Theo Mô hình lý thuyết nhận thức xã hội của Pajares (2002) thì ba yếu tố: môi trường, con người và hành vi liên tục ảnh hưởng qua lại với nhau [97]. Hành vi không chỉ đơn thuần là kết quả của sự tác động giữa con người và môi trường, cũng giống như môi trường không chỉ đơn thuần là kết quả của sự tương tác giữa con người và hành vi. Yếu tố môi trường được đề cập ở đây bao gồm môi trường xã hội và môi trường thể chất. Hình 1. Mô hình lý thuyết nhận thức xã hội (Pajares, 2002 [97]) Trong quá trình tìm hiểu y văn nhằm làm rõ những vấn đề có liên quan đến hành vi tình dục không an toàn, chúng tôi nhận thấy rằng phần lớn các tài liệu trong lĩnh vực này tập trung vào nghiên cứu các yếu tố nguy cơ ở cấp độ cá nhân. Yếu tố sử dụng ma túy là một yếu tố trong các yếu tố ở cấp độ cá nhân có mối liên quan mạnh mẽ và nhất quán nhất với hành vi tình dục không an toàn trên nhóm MSM. Các yếu tố ở cấp độ cá nhân khác như tìm kiếm khoái cảm, cưỡng bức tình dục, niềm tin bản thân đối với các hành vi dự phòng HIV và bị lạm dụng tình dục từ bé cũng có mối liên hệ mạnh mẽ tới hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM. Các yếu tố khác cho kết quả không nhất quán về ảnh hưởng của chúng tới hành vi HÀNH VI YẾU TỐ CÁ NHÂN (Nhận thức, tác động và các yếu tố sinh học) YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
  • 37. 26 tình dục không an toàn bao gồm: kết nối với cộng đồng MSM, sử dụng rượu, bia, trầm cảm, lo âu và sự tự kỳ thị đồng tính của chính mình. Ở cấp độ môi trường, có bằng chứng mạnh mẽ hỗ trợ cho vai trò của hỗ trợ từ xã hội đối trong hành vi giảm nguy cơ lây nhiễm HIV và vai trò của đồng đẳng như là tác nhân thay đổi hành vi. Bên cạnh đó, việc xác định một đối tác là bạn tình quan trọng hoặc là bạn tình chính có mối liên quan nhất quán đến tỷ lệ UAI cao. Vẫn còn thiếu hoặc không nhất quán trong kết quả của những nghiên cứu tìm hiểu về mối liên quan giữa những đặc điểm của bạn tình như tuổi, dân tộc và hình thức gặp gỡ (online hay offline). Một vài nghiên cứ phát hiện yếu tố “gia đình hỗ trợ và chấp nhận” có liên quan đến hành vi tình dục không an toàn nhưng kết quả vẫn còn tương đối hạn chế. Đã có những lý thuyết quan trọng về tầm ảnh hưởng của các yếu tố xã hội nhưng những nghiên cứu thực tế trong nhóm MSM còn rất hạn chế. MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN HÀNH VI TÌNH DỤC KHÔNG AN TOÀN QUA ĐƯỜNG HẬU MÔN TRONG NHÓM MSM Nghiên cứu sử dụng bộ số liệu điều tra IBBS vòng II năm 2009 như một nguồn số liệu thứ cấp nhằm tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến hành vi tình dục không an toàn trong nhóm MSM tại Hà Nội năm 2010. Do hạn chế về thông tin thu thập từ bộ số liệu IBBS vòng II năm 2009, những phân tích trong nghiên cứu không thể đề cập đến mối liên quan giữa hành vi tình dục không an toàn và tất cả các yếu Yếu tố cá nhân Nhân khẩu học Sử dụng rượu, bia, chất kích thích/an thần Kiến thức về HIV/STIs Nhiễm HIV/STIs Yếu tố môi trường Yếu tố bạn tình Khả năng tiếp cận với BCS Địa điểm tìm kiếm, gặp gỡ bạn tình Các chương trình dự phòng HIV Hành vi nguy cơ Không thường xuyên sử dụng BCS khi QHTD
  • 38. 27 tố đã được liệt kê trong phần tổng quan tài liệu mà chỉ tập trung giải thích mối liên quan giữa hành vi tình dục không an toàn và một số yếu tố như đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu, yếu tố bạn tình, tiếp cận với các chương trình can thiệp, kiến thức về HIV và STIs…. 1.5 Giới thiệu phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát (RDS) Đặc trưng của các nhóm quần thể ẩn được biểu hiện ở một số đặc điểm nhất định gây khó khăn cho quá trình nghiên cứu và dự đoán các đặc điểm nhân khẩu học của các thành viên trong các nhóm này. Những đặc điểm này có thể bao gồm việc thiếu khung mẫu, kích thước quần thể nhỏ, sự trải nghiệm hoặc dự đoán về kỳ thị của các thành viên trong nhóm, hay sự ngần ngại khi chia sẻ thông tin ra bên ngoài nhóm [33]. Những đặc điểm này thường xuất phát từ những hành động bất hợp pháp và khả năng không được xã hội đồng thuận khi bị phát hiện. Việc lấy mẫu xác suất trong quần thể ẩn thường bất khả thi trong thực tế và là không thể về mặt kỹ thuật, không cho phép áp dụng tiêu chuẩn vàng trong việc chọn mẫu khách quan [34] [141]. Nhiều nghiên cứu đã dựa vào phương pháp lấy mẫu không ngẫu nhiên như lấy mẫu thuận tiện và lấy mẫu “hòn tuyết lăn” (người tham gia giới thiệu những người họ biết và những người này tiếp tục giới thiệu những người khác cho đến khi đáp ứng đầy đủ cỡ mẫu) nhằm lấy được các mẫu lớn nhưng lại không đảm bảo tính đại diện của những kết quả, phát hiện từ các nghiên cứu đó. Lấy mẫu mục tiêu (trong chọn mẫu theo cụm-thời gianhoặc theo địa điểm) là các biến thể thường được sử dụng khi các quần thể ẩn tập trung ở một khu vực địa lý nhất định [141]. Mặc dù đã có những sự thích ứng, thay đổi nhất định nhưng các phương pháp chọn mẫu không ngẫu nhiên vẫn bị chỉ trích là có những thiên vị nhất định trong quá trình tuyển chọn [140]. Các hình thức phổ biến của sự thiên vị khi tuyển chọn có thể là sự giống nhau về mặt nhân khẩu học, sự tình nguyện, sự ngụy trang (bảo vệ cho người cùng nhóm bằng cách từ chối giới thiệu họ) và sự tuyển chọn quá khác biệt (một nhóm có tính đại diện quá mức hoặc ít có tính đại diện) [141].
  • 39. 28 Để giải quyết vấn đề thiên vị khi chọn mẫu, Heckathorn D.D. [140] đã phát triển phương pháp chọn mẫu dây chuyền có kiểm soát như là một phương pháp giới thiệu dây chuyền dựa trên “mô hình liên hệ” thường xuyên giữa các mạng lưới xã hội trong một quần thể ẩn [67]. Nếu mô hình giới thiệu đối tượng nghiên cứu được theo dõi một các chặt chẽ và chuẩn mực, “có thể rút ra được các chỉ số thống kê tin cậy và xác định được độ chính xác của những thống kê đó” [141]. Để có những suy luận về một quần thể ẩn tiệm cận đến mức không thiên vị, RDS dựa vào các thủ tục cụ thể và tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn lấy mẫu [148]. Quy trình tiến hành chọn mẫu theo phương pháp RDS gồm 2 bước: Bước 1 - Chọn “hạt giống”: Một số hạt giống sẽ được được chọn dựa trên các tiêu chuẩn:  Có những đặc điểm khác nhau;  Thường gặp gỡ và giao du với các mạng lưới khác nhau và ở những địa điểm khác nhau;  Hiểu rõ về mạng lưới của quần thể  Có nhiều mạng lưới rộng và kết nối tốt  Sẵn sàng tuyển chọn người tham gia khác vào nghiên cứu Bước 2 - Tuyển chọn người tham gia: Làn sóng tuyển chọn đầu tiên được thực hiện bởi các hạt giống (bây giờ trở thành người tuyển chọn). Sau khi hoàn thành phỏng vấn, những hạt giống trở thành những người tuyển chọn và mỗi người sẽ nhận được một số phiếu mời nhất định, họ được hướng dẫn cách để phát những phiếu mời này. Tất cả những người tham gia về sau, sau khi hoàn thành thu thập thông tin, cũng được cung cấp một số phiếu mời tương ứng với số lượng phiếu mời mà “hạt giống” nhận được và hướng dẫn để mời những người đồng đẳng khác của họ tham gia vào nghiên cứu, và quá trình này tiếp tục cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu cần thiết. Nếu thành công, sau một số làn sóng tuyển chọn nhất định, mẫu sẽ đạt đến “điểm cân bằng”, khi đó các đặc điểm của mẫu chọn được sẽ có các thông số xấp xỉ với các thông số của quần thể.
  • 40. 29 Hệ thống phiếu mời có tính chất rất quan trọng, cho phép theo dõi chính xác xem ai tuyển dụng ai và độ lớn mạng lưới xã hội của họ. Một mô hình toán học của toàn bộ quá trình chọn mẫu được sử dụng để gia trọng (weight) cho mẫu và bù đắp cho những mẫu được tuyển chọn không ngẫu nhiên. Qua đó, những ước tính khách quan cho quần thể được tạo ra và được đo đạc chính xác hơn. Hơn nữa, RDS còn cho phép các nhà nghiên cứu đánh giá “mức độ kết nối giữa các thành viên của các nhóm khác nhau, có thể được sử dụng để phân tích cấu trúc xã hội của quần thể ẩn trong nghiên cứu” [125]. Kể từ lần đầu tiên được sử dụng bởi chính Heckathorn để nghiên cứu về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm TCMT tại Hoa Kỳ [140], RDS đã được sử dụng trong rất nhiều loại nghiên cứu trên các quần thể có nguy cơ và khó tiếp cận như người TCMT, người bán dâm, MSM và các nhóm khác có nguy cơ cao lây nhiễm HIV [125] [34] [26] [7] [106]. Hình 2. Mô hình mạng lưới nhóm nam có QHTD đồng giới tham gia một nghiên cứu tại Buenos Aires, Argentina [18]. Một nghiên cứu do A. Carballo-Dieguez (2011) tiến hành tại Buenos Aires, Argentina nhằm tìm hiểu tính ưu việt của phương pháp chọn mẫu RDS trong việc phát hiện những người được coi là MSM “ẩn” trong quần thể. Chỉ có 24,5% những người tham gia nghiên cứu được xác định là đồng tính, 36,2% được xác định là
  • 41. 30 lưỡng tính, 21,9% có QHTD khác giới và 17,4% thuộc nhóm “khác”. Nghiên cứu cũng chỉ ra tiềm năng của việc áp dụng RDS để tiếp cận với nhóm quần thể ẩn này [18]. Một nghiên cứu tiến hành tại Việt Nam nhằm so sánh hành vi nguy cơ và một số yếu tố liên quan giữa nhóm phụ nữ mại dâm “ẩn” và “không ẩn” tại Hải Phòng và Hồ Chí Minh do L. G. Johnston và các cộng sự (2006) tiến hành cho biết phương pháp RDS đã rất thành công trong việc tiếp cận được với quần thể phụ nữ mại dâm “ẩn” – điều rất khó thực hiện khi tiến hành phương pháp chọn mẫu cụm – thời gian (TLS) [67]. Cũng tại Việt Nam, phương pháp RDS cũng đã được áp dụng trong hai vòng của điều tra IBBS được tiến hành vào các năm 2006 và 2009 tại một số tỉnh, thành phố như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Hải Phòng [6] [1]. Một số giả định khi tiến hành chọn mẫu theo phương pháp RDS Một số giả định phải được đáp ứng khi tiến hành chọn mẫu theo phương pháp RDS trên một nhóm quần thể xác định [148] [142]. Một trong những giả định này là thành viên trong quần thể được tuyển chọn phải biết một ít nhất một đối tượng khác trong quần thể đích (Ví dụ: MSM phải biết một người khác cũng là MSM). Nếu thành viên trong quần thể này không thể xác định được một người khác thì họ sẽ không đáp ứng đầy đủ các điều kiện tuyển chọn hợp lệ và quy trình chọn mẫu sẽ không thành công. Toàn bộ quần thể được tuyển chọn cũng phải được kết nối với nhau để đảm bảo đáp ứng được dây chuyền giới thiệu; trong điều kiện lý tưởng, mạng lưới này nên tạo thành một thành phần duy nhất (mạng lưới trong mạng lưới) hơn là nhiều mạng lưới đơn lẻ, nhờ đó mà dây chuyền giới thiệu có thể tiếp cận đến tất cả các tập con của quần thể đích tại một khu vực xác định. Quy trình tuyển chọn sẽ không thể tiếp cận đến những tập con của quần thể đích bị mất kết nối hoàn toàn với mạng lưới chính và do đó, kết quả từ RDS sẽ không thể đại diện cho những nhóm này. Giả định thứ ba là cỡ mẫu được tuyển chọn bằng RDS phải tương đối nhỏ so với kích cỡ quần thể đích. Giả định này nhằm đảm bảo xác suất được tuyển chọn của từng đối tượng không thay đổi theo thời gian [148] vì tập hợp những người có
  • 42. 31 khả năng được chọn sẽ không giảm đi đáng kể. Do mỗi đối tượng chỉ có thể tham gia một lần duy nhất vào quy trình chọn mẫu nên giả định này rất quan trọng nhằm đảm bảo rằng tập hợp những người có khả năng được chọnsẽ không bị thu hẹp như trong chọn mẫu tiến triển. Hai giả định khác của RDS bao gồm: Người tham gia có thể báo cáo chính xác độ lớn của mạng lưới cá nhân (network size); và việc tuyển chọn người tham gia từ mạng lưới của người tuyển chọn là hoàn toàn ngẫu nhiên; cũng có thể được áp dụng khi phân tích RDS. 1.6 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, tập trung nhiều đầu mối giao thông đi qua, là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp; khu đô thị mới đang xây dựng, mở rộng; trường Đại học, Cao đẳng… Theo báo cáo Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê, tính đến hết năm 2012, dân số trung bình của Hà Nội đạt 6.844.100 người, trong đó nam giới chiếm 49,6%. Tổng số người đang trong độ tuổi lao động từ 15 trở lên của Hà Nội vào khoảng 3.719.000 người, thu nhập bình quân đầu người của Hà Nội ước tính vào khoảng 2.257 USD, tăng 1,3 lần so với năm 2008 [5]. Cũng theo báo cáo này, tỷ suất chết thô của Hà Nội ước tính khoảng 0,72%, cao hơn so với tỷ suất chung của cả nước (0,7%) [5]. Trong những năm gần đây cùng với sự tăng trưởng kinh tế và tốc độ đô thị hoá nhanh, những vấn đề xã hội phức tạp (như ma tuý, mại dâm) có liên quan đến tình hình dịch HIV/AIDS trên địa bàn thành phố có chiều hướng gia tăng. Theo số liệu báo cáo của Trung tâm phòng, chống AIDS Hà Nội, tính đến hết năm 2011, ước tính trên địa bàn Hà Nội có khoảng 8.164 phụ nữ bán dâm (PNBD), khoảng 30.873 người tiêm chích ma túy (TCMT) và đứng thứ hai cả nước về số người thuộc nhóm MSM (18.851 người). Hà Nội cũng là địa phương đứng thứ hai cả nước về số người nhiễm HIV hiện đang còn sống. Tính đến hết ngày 30/06/2012, có 19.701 trường hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống và số trường hợp tử vong do HIV/AIDS được báo cáo vào khoảng 3.700 ca [3].