Bài tập kinh tế đầu tư

8,032 views

Published on

giải pháp thu hút vốn FDI vào VN

  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here

Bài tập kinh tế đầu tư

  1. 1. Câu hỏi thảo luận “Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”Các thành viên: 1. Trịnh Xuân Vinh 2. Nguyễn Việt Cường 3. Lều Trọng Quỳnh 4. Phan Trọng Tài 5. Chu Ngọc Tuấn 6. Lữ Thị Hồng Nhung 1
  2. 2. Mục LụcMở đầu: .................................................................................................................................. 3I.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ........................................ 3 1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài ......................... 3 1.2 Các phương thức và hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài............................................. 6 1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến FDI ....................................................................................... 9II. THỰC TRẠNG VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆTNAM ........................................................................................................................................ 14 2.1 Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam ...................................................................................................................................... 14 2.2 Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn hiện nay .................. 16 2.3 Đánh giá tình hình đầu tư ở Việt Nam ........................................................................... 31III. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG C ƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰCTIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY........................ 35 3. 1 Các chính sách kinh tế xã hội........................................................................................ 35 3.2 Chính sách luật pháp ...................................................................................................... 37 3. 3. Cải cách thủ tục hành chính ......................................................................................... 39 3.4. Đổi mới đẩy mạnh công tác vận động xúc tiến đầu tư................................................. 40 3.5 Xây dựng kết cấu hạ tầng............................................................................................... 41 3.6.Đối với các sở ban ngành địa phương............................................................................ 41IV. Kinh nghiệm thu hút FDI của các cường quốc Châu Á..................................................... 43 2
  3. 3. Mở đầu: Nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp ( FDI) có vai trò then chốt để thực hiệncông nghiệp hóa, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia cónền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.I.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài và vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài1.1.1 Vốn đầu tư trực tư trực tiếp nước ngoài FDI foreign direct investment Vốn đầu tư ( VĐT) được coi là một phạm trù kinh tế trong lĩnh vực tài chính, nó gắn liềnvới quá trình sản xuất kinh doanh hàng hoá và trong đầu tư xây dựng các công trình dự án vàđây là yếu tố không thể thiếu trong tất cả mọi hoạt động trên, vốn đầu tư thể hiện dưới nhiềuhình thức, có thể bằng tiền ( tiền mặt tiền gửi ngân hàng…) hoặc có thể bằng hiện vật tài sảnmáy móc trang thiết bị, dây truyền công nghệ, nhà xưởng, bến bãi. Nói chung VĐT là tất cảnhững gì phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh và xây dựng có liên quan tới tài chính. VĐT trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn có nguồn gốc từ nước ngoài được đưa vàonước sở tại có thể bằng tiền hay thiết bị dây truyền công nghệ và bên nước ngoài này sẽ tựquản lý nguồn vốn trong thời gian hoạt động của dự án Dự án đầu tư là tập hợp những ý kiến, đề xuất về việc bỏ vốn đầu tư vào một đốitượng nhất định và gỉai trình kết qủa thu được từ hoạt động đầu tư. Việc các nhà đầu tư ởquốc gia này bỏ vốn vào các quốc gia khác theo một chương trình đã được hoạch định trongmột khoảng thời gian dài nhằm đáp ứng các nhu cầu của thị trường và mang lại lợi ích hơncho các chủ đầu tư và cho xã hội được gọi là đầu tư quốc tế hay đầu tư nước ngoài. Đầu tưtrực tiếp nước ngoài là một trong hai loại hình đầu tư quốc tế cơ bản, hai loại hình này có thểkhông giống nhau song trong một điều kiện nào đó có thể chuyển hoá cho nhau. Dự án đầu tư nước ngoài là những dự án đầu tư có sự khác nhau về quốc tịch của cácnhà đầu tư với nước sở tại tiếp nhận đầu tư và các nhà đầu tư hoàn toàn có quyền trực tiếpquản lý dự án của mình trong thời gian dự án hoạt động và khai thác. Nói một cách khác thì dự án đầu tư trực tiếp là những dự án đầu tư do các tổ chức kinhtế và cá nhân ở nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức hoặc cá nhân tiếp nhận đầu tưbỏ vốn đầu tư cùng kinh doanh và phân chia lợi nhuận thu được. 1.1.2 Vai trò của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài VĐT có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội đặc biệt tronggiai đoạn chúng ta đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới và càng cần thiếthơn khi chúng ta đang cần một lượng vốn lớn và công nghệ tiên tiến của các nước phát triển 3
  4. 4. trên thế giới để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước, vươn lên cùngcác nước trong khu vực cũng như thế giới. Vốn đầu tư không chỉ quan trọng với chúng ta mà còn hết sức quan trọng với các nướccó vốn đầu tư và các tổ chức doanh nghiệp có vốn đầu tư. Nó giúp các chủ đầu tư nước ngoàichiếm lĩnh thị trường tiêu thụ do đặt dự án đầu tư tại nơi đó và tận dụng được nguồn nguyênliệu tại chỗ. Cũng chính nhờ vào đầu tư nước ngoài mà các nhà đầu tư được tự điều chỉnh côngviệc kinh doanh của mình cho phù hợp với điều kiện kinh tế phong tục tập quán điạ phươngđể từ đó bằng kinh nghiệm và khả năng của mình mà có cách tiếp cận tốt nhất, đồng thời giúpcác chủ đầu tư có thể tiết kiệm chi phí nhân công do thuê lao động với giá rẻ ngoài ra còngiúp tránh khỏi hàng rào thuế quan. Đối với chúng ta nước tiếp nhận đầu tư thì các dự án đầu tư trực tiếp có ý nghĩa hếtsức quan trọng bởi nó giúp chúng ta có nhiều cơ hội hơn trong việc hội nhập vào nền kinh tếthế giới. 1.1.3 Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Đầu tư trực tiếp nước ngoài giúp chúng ta giải quyết những khó khăn về vốn cũng nhưcông nghệ và trình độ quản lý, nhờ vào những yếu tố này sẽ giúp cho nền kinh tế tăng trưởngmột cách nhanh chóng, giúp chúng ta khắc phục được những điểm yếu của mình trong quátrình phát triển và hội nhập. Đóng góp vào ngân sách Thu hút lao động Nâng cao thu nhập Tăng khoản thu cho ngân sách ......... Xem xét tình hình tăng trưởng kinh tế của những nước đang phát triển trên thế giới cóthể rút rằng tất cả các nước đang tìm mọi cách để thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài,một điều nữa là khối lượng vốn đầu tư nước ngoài tỷ lệ thuận với mức độ tăng trưởng củanền kinh tế quốc gia đó. Mặt khác FDI cũng tạo cơ hội cho các nước sở tại khai thác tốt nhất những lợi thế củamình về tài nguyên thiên nhiên cũng như vị trí địa lý ....nó góp phần làm tăng sự phong phúchủng loại sản phẩm trong nước cũng như làm tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm trong nướcvới sản phẩm của các quốc gia trên thế giới vì thế tăng khả năng xuất khẩu của nước ta 4
  5. 5. FDI còn làm tăng các khoản thu về ngoại tệ do xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm dịchvụ và nguyên liệu vật lịêu cho các dự án đầu tư trực tiếp, nói chung FDI là nguồn vốn có ýnghĩa quan trong qúa trình hội nhập và phát triển nền kinh tế FDI còn giúp chúng ta tiến nhanh trên con đường công nghiệp hóa hiện đại hoá đấtnước trong giai đoạn hiện nay, đây chính là một nguồn vốn lớn trong đó có cả tiềm lực vềmặt tài chính và tiềm lực về mặt khoa học công nghệ cũng như những kinh nghiệm quản lýhết sức cần thiết cho chúng ta trong giai đoạn hiện nay. 1.1.4. Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chúng ta đang trong qua trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp công nghiệpdịch vụ sang công nghiệp nông nghiệp dịch vụ, công việc này đòi hỏi rất nhiều vốn cũng nhưcần tới rất nhiều sự hỗ trợ về công nghệ. Hơn nữa yêu cầu dịch chuyển cơ cấu kinh tế không chỉ là đòi hỏi của bản thân sự pháttriển nội tại nền kinh tế mà nó còn là đòi hỏi của xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế. Đầutư trực tiếp nước ngoài là một phần quan trọng trong kinh tế đối ngoại, thông qua đó cácquốc gia sẽ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình phân công lao động quốc tế. Để hội nhậpvào nền kinh tế thế giới và tham gia tích cực vào quá trình liên kết kinh tế giữa các nước trênthế giới đòi hỏi từng quốc gia phải thay đổi cơ cấu kinh tế trong nước cho phù hợp với sựphân công lao động quốc tế và sự vận động chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia phùhợp với trình độ phát triển chung của thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầutư trực tiếp nước ngoài và chính đầu tư nước ngoài sẽ góp phần làm chuyển dịch dần cơ cấukinh tế. 1.1.5. Đầu tư trực tiếp tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội hiên nay Nguồn vốn cho đầu tư phát triển chủ yếu là từ ngân sách nhưng đầu tư trực tiếp cũnggóp một phần quan trọng trong đó. Đối với một nước còn chậm phát triển như nước ta nguồnvốn tích luỹ được là rất ít vì thế vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối vớiquá trình phát triển kinh tế.Nước ta có tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên cũng như nguồnlao động dồi dào nhưng do thiếu nguồn vốn và chưa có đủ trang thiết bị khoa học tiên tiếnnên chưa có điều kiện khai thác và sử dụng. Với các nước đang phát triển vốn đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ đáng kể trongtổng vốn đầu tư của toàn bộ nền kinh tế trong đó có một số nước hoàn toàn dựa vào vốn đầutư nước đặc biệt là ở giai đoạn đầu của sự phát triển. Nhưng tiếp nhận đầu tư trực tiếp chúng ta cũng phải chấp nhận một số những điềukịên hạn chế: đó là phải có những điều kiện ưu đãi với các chủ đầu tư. Nhưng xét t rên tổng 5
  6. 6. thể nền kinh tế và xu thế phát triển của thế giới hiện nay thì đầu tư trực tiếp là không thể thiếubởi nó là nguần vốn hết sức quan trọng cho chúng ta đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triểnkinh tế để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giới. Chính vì thế mà vốn FDI có ýnghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn thiện nay, chúng ta cần có một cơ chế chính sáchphù hợp hơn nữa nhằm thu hút nguồn vốn này trong tương lai1.2 Các phương thức và hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.2.1Các hình thức đầu tư trực tiếp 1.2.1.1 Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh Đây là hình thức đầu tư được nhà nước ta cho phép theo đó bên nước ngoài và bênViệt Nam cùng nhau thực hiện hợp đồng được ký kết giữa hai bên Trong thời gian thực hiệnhợp đồng các bên phải xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của mỗi bênmà không tạo ra một pháp nhân mới và mỗi bên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân củamình. Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức rất phổ biến và có nhiều ưu thếđối với việc phối hợp sản xuất các sản phẩm có tính chất phức tạp và yêu cầu kỹ thật cao đòihỏi sự kết hợp thế mạnh của nhiều quốc gia . Đối với nước ta có lợi thế về mặt lao động và nguyên liệu đầu vào chúng ta phải cóchính sách hợp lý trong chiến lược phát triển của mình nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quảnguồn vốn này. 1.2.1.2Doanh nghiệp liên doanh Trong luật đầu tư nước ngoài quy định rõ doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp dohai hoặc nhiều bên hợp tac ký kết với nhau trong đó có một bên là nước sở tại trên cơ sở hợpđồng liên doanh và hợp tác ký kết giữa chính phủ của nước sở tại với bên nước ngoài haydoanh nghiệp của nước sở tại với doanh nghiệp nước ngoài. Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là hình thức tổ chức kinh doanh quốc tế củacác bên tham gia không có cùng quốc tịch. Bằng cách thực hiện ký kết các hợp đồng cùngtham gia góp vốn, cùng nhau quản lý và đều có trách nhiệm cũng như nghĩa vụ thực hiệnphân chia lơi nhuận và phân bổ rủi ro như nhau. Theo hình thưc kinh doanh này hai hay nhiều bên tham gia góp vốn vì thế quyền hạncủa các bên là khác nhau tuỳ thuộc vào số vốn mà mình đã tham gia vào hợp đồng liêndoanh. Bên nào nhiều vồn bên đó có quyền lớn hơn trong các vấn đề của doanh nghiệp cũngnhư được hưởng % ăn chia trong các dự án. Trong luật đầu tư nước ngoài quy đinh bên đối tác liên doanh phải đóng số vốn khôngdưới 30%vôn pháp định của doanh nghiệp liên doanh hoặc có thể nhiều hơn tuỳ theo các bên 6
  7. 7. thoả thuận và bên Việt Nam có thể sử dụng mặt bằng và tài nguyên thiên nhiên để tham giagốp vốn. Vốn pháp định có thể được góp trọng một lần khi thành lập doanh nghiệp liên doanhhoặc từng phần trong thời gian hợp lý. Phương thức và tiến độ góp vốn phải được quy địnhtrong hợp đồng liên doanh và phải phù hợp với giải trình kinh tế kỹ thuật. trường hợp cácbên thực hiện không đúng theo thời gian mà không trình bày được lý do chính đáng thì cơquan cấp giấy phép đầu tư có quyền thu hồi giấy phép đầu tư của doanh nghiệp đó.Trong quátrình kinh doanh các bên không có quyền giảm vốn p háp định. 1.2.1.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài làdoanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của cá nhân hay tổ chức nước ngoài và tổ chức thành lậptheo quy định pháp luật nước ta cho phép trên cơ sở tự quản lý. Doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài được thành lập theo hình thức công ty tráchnhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước ta đã ban hành. Doanh nghiệp 100%vốn đầu tư nước ngoài được thành lập sau khi cơ quan có thẩmquyền về hợp tác đầu tư nước sở tại cấp giấy phép và chứng nhận doanh nghiệp đã tiến hànhđăng ký kinh doanh hợp pháp. Người đại diện cho doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là Tổng giám đốcdoanh nghiệp. Nếu Giám đốc doanh nghiệp không thường trú tại nước sở tại thì phải uỷquyền cho người thường trú tại nươc sở tại đảm nhiệm Trong thực tế các nhà đầu tư thường rất thích đầu tư theo hình thức này nếu có điềukiện vì rất nhiều lý do khác nhau trong đó quan trọng nhất là quyền tự quyết trong mọi vấn đề,ít chịu sự chi phối của các bên có liên quan ngoại trừ việc tuân thủ các quy định do luật đầutư của nước sở tại đưa ra. 1.2.2.Các phương thức đầu tư trực tiế p nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài có rất nhiều phương thức để tiến hành đầu tư vào các nước,thông thường thì các dự án phần lớn được tiến hành trên cơ sở ký kết giữa Chính Phủ nước sởtại và các tổ chức nước ngoài để xây dựng các công trình phúc lợi như hình thức xây dựngchuyển giao kinh doanh hoặc có thể xây dựng các công trình giao thông cầu cống ..thông quahình thức xây dựng kinh doanh chuyển giao hoặc có thể đầu tư thông qua khu chế xuất .... 7
  8. 8. 1.2.2.1Hình thức hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao (BOT buildoperation-transfer) Hợp đồng xây dựng kinh doanh chuyển giao là văn bản ký kết giữa nhà đầu tư với cơquan nhà nước có thẩm quyền để xây dựng các công trình hạ tầng như cầu đường, bến cảng,nhà maý. Hợp đồng BOT được thực hiện thông qua các dự án với 100%vốn nước ngoài cũng cóthể do nhà đầu tư cộng tác với Chính P hủ nước sở tại và được thực hiện đầu tư trên cơ sởpháp lệnh của nhà nước đó .Với hình thức đầu tư này nhà đầu tư sau khi xây dựng hoàn thànhdự án thì được được quyền thực hiện kinh doanh khai thác dự án để thu hồi vốn và có đượclợi nhuận hợp lý sau đó phải có trách nhiệm chuyển giao công trình lại cho phía chủ nhà màkhông kèm theo điều kiện nào. Khi thực hiện dự án BOT các nhà đầu tư được hưởng những lợi thế đặc biệt như: Về thuế lợi tức thấp hơn bình thường Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Thuế doanh thu Thuế nhập khẩu Được quyền ưu tiên trong sử dụng đất đai đường xá. Dựa vào những chỉ tiêu này ta điều chỉnh cho phù hợp nhằm thu hút số lượng nhiềunhất số dự án có thể. 1.2.2.2 Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh (BTO build- transfer-operation) Sau khi đã xây dựng hoàn thành dự án phải thực hiện chuyển giao ngay cho bên chủđầu tư nhưng vẫn được quyền kinh doanh trên công trình đã xây dựng để thu hồi vốn đầu tưvà kiếm lợị nhuận trong một thơì gian nhất định. 1.2.2.3Hợp đồng xây dựng chuyển giao(BT build-transfer) Cũng giống như những hình thức trên nhưng sau khi xây dưng song thì thực hiênchuyển giao sau đó thì các nhà đầu tư được phía chủ đầu tư tạo điều kiện cho nhà đầu tư t hựchiên một dự án khác với nhiều ưu đãi hơn nhằm giúp các nhà đàu tư thu hồi lại phần vốn đãbỏ ra và có lãi nhất định. Hình thức đầu tư này cũng được các nhà đầu tư rất quan tâm bởi nó được ưu đãi vềnhiều mặt. Ngoài những lợi thế và thuế đã nêu ở trên thì trong việc thực hiện đầu tư dự ánthường ưu tiên những dự án khả thi và có lãi suất cao. 1.2.2.4 Khu chế xuất công nghiệp 8
  9. 9. Luật pháp Việt Nam quy định khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hànghoá xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, córanh giới địa lý xác định do chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập bao gồm một hoặcnhiều doanh nghiệp. Như vậy theo nghĩa rộng khu chế xuất bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ sởtại cho phép chuyên môn hoá sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động sản xuất, nó là khu biệtlập có chế độ mậu dịch và thuế quan riêng cố định ranh giới và ấn định nguồn hàng ra vàokhu vực. Ngoài những mục đích chung của việc thu hút đầu tư nước ngoài như giả i quyết khókhăn về vốn việc làm, tiếp thu công nghệ hiện đại, học tập tiếp thu công nghệ , học tập kinhnghiệm quản lý tiên tiến, khai thác lợi thế so sánh của quốc gia, tận dụng nguồn nguyênnhiên vật liệu .... Việc xây dựng khu chế xuất còn nhằm mục đ ích tăng xuất khẩu, tăng các khoản thungoại tệ cho đất nước, từng bước thay đổi cơ cấu hàng hoá xuất khẩu theo hướng tăng tỷ lệhàng công nghiệp chế biến, mở ra khả năng phát triển công nhhiệp theo hướng hiện đại hoá,góp phần thực hiện chính sách mở cửa nền kinh tế ,hội nhập với nền kinh tế khu vực và thếgiới. Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụcho sản xuất công nghiệp do chính phủ thành lập hoặc cho phép đầu tư. Khu công nghiệp do Chính Phủ thành lập có ranh giới riêng xác định chuyên sản xuấtcông nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp không có dân cư sinh sống Trong khu công nghiệp có các loại doanh nghiệp như doanh nghiệp Việt Nam thuộcmọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,khu chế xuất, doanh nghiệpliên doanh.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến FDI Trong chiến lược đầu tư của mình các nhà đầu tư thường có xu hướng tìm tới nhữngnước có điều kiện tốt nhất đối với công việc kinh doanh của mình như điều k iện kinh tế,chính trị và hệ thống pháp luật ra làm sao. Hàng loạt câu hỏi đó đặt ra của các nhà đầu tư đòihỏi các nước muốn tiếp nhận và thu hút nguồn vốn này phải đưa ra những điều kiện ưu đãicho các nhà đầu tư, cho họ thấy ra được những lợi ích khi q uyết định tham gia đầu tư ở nướcmình. Ngoài ra môi trường cũng có tác động không nhỏ tới công việc kinh doanh của các nhàđầu tư vì cũng như hầu hết các hoạt động đầu tư khác nó mang tính chất đặc điểm của cácnghiệp vụ kinh tế nói chung, do vậy nó chịu tác động của các quy luật kinh tế nói chung và 9
  10. 10. những ảnh hưởng của môi trường kinh tế xã hội, các chính sách có liên quan, hệ thống cơ sởhạ tầng … 1.3.1. Môi trường kinh tế Với điều kiện của từng nước mà các nhà đầu tư quyết định tham gia vào từng khu vựcvới từng dự án cho phù hợp với điều kiện của nước đó như về điều kiện kinhtế:GDP,GDP/đầu người,tốc độ tăng trưởng kinh tế,cơ cấu các ngành… Nói chung để quyết định đầu tư và một quốc gia nào đó các nhà đầu tư phải cân nhắcxem điều kiện kinh tế tại nước sở tạị có đáp ứng được yêu cầu về mặt kinh tế cho dự án củamình phát triển và tồn tại hay không. Chẳng hạn như thu nhập bình quân đầu người nếu quáthấp thì sẽ ảnh hưởng tới đầu ra của sản phẩm vì người dân sẽ không có tiền để mua sảnphẩm đó, cơ cấu các ngành trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt đông đầu tưcủa các nhà đầu tư vì với cơ cấu của nền kinh tế thiên về những ngành công nghiệp chế tạohay công nghiệp cơ khí. Cơ chế kinh tế của nước sở tại, điều này ảnh hưởng rất lớn tới xu hướng đầu tư, cơ chếkhông phù hợp sẽ là rào cản đối với họ, nếu giờ chúng ta vẫn còn giữ cơ chế tập chung thìthành phần kinh tế quốc doanh vẫn là chủ yếu thì sẽ không thể chấp nhận một dự án đầu tưtrực tiếp từ nước ngoài được hơn nữa các nhà đầu tư không dạ i gì mà đầu tư vào một quốc gianhư thế bởi họ không được hoan nghênh và còn phải cạnh tranh với doanh nghiệp quốcdoanh. 1.3.2 Về tình hình chính trị Các nhà đầu tư thường tìm đến những quốc gia mà họ cảm thấy yên tâm không cónhững biến động về chính trị vì chính trị không ổn định sẽ ảnh hưởng tới dự án của mình vànhất là xác suất về rủi ro là rất cao, có thể dự án sẽ không tiếp tục được thực hiện và không cócơ hội sinh lời, thậm chí còn có thể sẽ mất khả năng thu hồi vốn. Các biến động về chính trịcó thể làm thiệt hại cho các nhà đầu tư do có những quy định đưa ra sẽ khác nhau khi cónhững biến động chính trị vì khí thể chế thay đổi thì các quy định và các luật có liên quancũng hoàn toàn thay đổi và những hiệp định ký kết giữa hai bên sẽ không còn do đó các nhàđầu tư phải gánh chịu hoàn toàn những bất lợi khi xẩy ra biến động chính trị. Khi có chiếntranh xẩy ra sẽ khiến cho các hoạt động kinh doanh ngừng trệ và có thể gây ra thiệt hại về cơsở vật chất. Đây là yếu tố thường được các nhà đầu tư nước ngoài phải thường xuyên quan tâmtheo dõi trước khi có nên quyết định đầu tư vào quốc gia này hay không. Những bất ổn vềchính trị không chỉ làm cho nguồn vốn đầu tư bị kẹt mà còn có thể không thu lại được hoặc bịchảy ngựơc ra ngoài . 10
  11. 11. Nhân tố tác động này không chỉ bao gồm các yêu cầu như bảo đảm an toàn về mặtchính trị xã hội mà còn phải tạo ra được tâm lý dư luận tốt cho các nhà đầu tư nước ngoài.Bất kể sự không ổn định chính trị nào .Các xung đột khu vực, nội chiến hay sự hoài nghi,thiếu thiện cảm từ phía các nhà đầu tư đối với chính quyền các nước sở tại đều là những yếutố nhậy cảm tác động tiêu cực tới tâm lý các nhà đầu tư có ý định tham gia đầu tư Trong giai đoạn hiện nay nước ta được coi là một nước có tình hình chính trị ổn địnhnhất, đây là lợi thế rất lớn cho chúng ta và chúng ta phải luôn tạo ra được sự tin tưởng từ phíacác đối tác 1.3.3 Môi trường văn hoá Môi trường văn hoá cũng ảnh hưởng ít nhiều đến đầu tư nước ngoài, ví dụ sau sựkiện ngày 11/9/2001 tất cả các nhà đầu tư từ Mỹ và cả thế giới khi tìm tới đầu tư tại một nướccó dân số là đạo hồi đều rất dè dặt . Đây là yếu tố rất nhạy cảm mà các nhà đầu tư đặc biệtquan tâm , theo đó các nhà đầu tư xem xét xem có nên đầu tư vào quốc gia này hay không . 1.3.4. yếu tố Luật pháp Luật pháp là những quy định đã được quốc hội thông qua, bắt buộc mọi người phảituân theo và kể cả các đối tác tham gia đầu tư vào nước đó cũng phải tuân theo điều này. Đểquyết định tham gia đầu tư vào một nước nào đó các nhà đầu tư phải xem xét rất kỹ về yếu tốnày vì nó liên quan trực tiếp tới cách thức thực hiện đầu tư dự án của mình mà còn ảnhhưởng tới phương án kinh doanh của mình trong tương lai. Các quốc gia muốn thu hút đượccác nhà đầu tư tham gia đầu tư vào nước mình thì phải bằng cách nào đó từng bước hoànthiện hệ thống pháp luật của mình đặc biệt là hoàn thiện hệ thông luật đầu tư nước ngoài . Ngoài sự kín kẽ không sơ xuất của hệ thống luật đầu tư không có khe hở thì các nhàlàm luật Việt Nam cũng còn phải chú ý tới các quy định để không quá khắt khe đối với nhàđầu tư Hệ thống pháp luật là thành phần quan trọng trong môi trường đầu tư bao gồm các vănbản luật các văn bản quản lý hoạt động đầu tư nhằm tạo nên hành lang pháp lý đồng bộ vàthuận lợi nhất cho hoạt động đầu tư nước ngoài. Các yếu tố quy định trong pháp luật đầu tư của nước sở tại phải đảm bảo sự an toàn vềvốn cho các nhà đầu tư, bảo đảm pháp lý đối với tài sản tư nhân và môi trường cạnh tranhlành mạnh, đảm bảo việc di chuyển lợi nhuận về nước cho các nhà đầu tư được dễ dàng . Nộidung của hệ thống luật ngày càng đồng bộ , chặt chẽ , không chồng chéo , phù hợp với luậtpháp và thông lệ quốc tế thì khả năng hấp dẫn các nhà đầu tư sẽ cao hơn hiện nay rất nhiều 11
  12. 12. 1.3.5 Mức độ hoàn thiện của chính sách Qua thời gian thực hiện và điều chỉnh sẽ làm cho các chính sách dần hoàn thiện và phùhợp, với những quốc gia có kinh nghiệm trong thu FDI thì họ đã phải trải qua nhiều thời gianthực hiện chính sách chính vì thế mà họ đã có được những kinh nghiệm trong lĩnh vực này,không chỉ thu hút được nhiều dự án đầu tư mà còn khiến cho các dự án đầu tư phát huy hếtnhững ưu điểm của mình, đóng góp nhiều hơn vào thu nhập ngân sách , góp phần giải quyếtcác vấn đề kinh tế xã hội ,thu được những kết quả hết sức to lớn trong lĩnh vực này. Với cácnước mới thực hiện Chính sách đầu tư do kinh nghiệm còn ít trong lĩnh vực này và chưa hoànthiện chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thì đóng góp của nó không phảinhiều song những gì mà đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại không phải là nhỏ, nếu đưa rađược chính sách đầu tư hợp lý không những sẽ thu hút được nhiều vốn mà còn làm cho cácdự án phát huy hết hiệu quả của mình, góp phần vào phát triển kinh tế xã hội trong tương laivà từng bước tạo nền tảng kinh tế vững trắc phục vụ c ho nền kinh tế có đà phát triển tốt hơn . Không chỉ chính sách đầu tư mà sự kết hợp chính sách này với những chính sáchkhác một cách hợp lý và nhịp nhàng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác thu hút vốn đầutư . Chính sách thương mại thông thoáng theo hướng tự do hoá để bảo đảm khả năngxuất nhập khẩu về vốn cũng như về máy móc thiết bị, nguyên liệu sản xuất được tiến hànhmột cách rễ ràng hơn, giúp các nhà đầu tư thực hiện các công đoạn đầu tư được một cách liêntục và không bị gián đoạn, điều này sẽ tạo ra được sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Các chính sách tiền tệ phải giải quyết được các vấn đề chống lạm phát và ổn định tiềntệ để nhà đầu tư nhìn vào nền kinh tế với một cách nhìn khả quan hơn . Chính sách lãi suất và tỷ giá tác động trực tiếp đến dòng chảy của FDI với tư cách lànhững yếu tố quyết định giá trị đầu tư và mức lợi nhuận ở một thị trường nhất định. 1.3.6 Các ưu đãi của nhà nước Thuế thu nhập doanh nghiệp: Mức thuế đánh vào thu nhập của các doanh nghiệp cũngảnh hưởng không nhỏ tới dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào trong nước bởi nó liênquan tới việc ăn chia lợi nhuận của nhà đầu tư với các bên đối tác, sự hấp dẫn của chính sáchlà làm sao cho các dự án có vốn đầu tư trực tiếp đóng góp nhiều nhất có thể vào ngân sáchnhưng phải đảm bảo vẫn phải hấp dẫn được các nhà đầu tư. Thuế thu nhập doanh nghiệp ápdụng với các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cao thấp sẽ ảnh hưởng tới dòng chảycủa FDI vào trong nước . Thuế nhập khẩu vốn, máy móc trang thiết bị, nguyên liệ u vật liệu: Đây là những yếutố liên quan tới đầu vào của doanh nghiệp thực hiện đầu tư, nếu có sự khuyến khích giảm 12
  13. 13. mức thuế đối với các yếu tố kể trên thì sẽ làm cho đầu vào của các dự án giam xuống do đólàm tăng lợi thế của các dự án đầu tư vì thế mà số lượng các dự án sẽ tăng và trang thiết bịcũng như vốn sẽ được đưa vào nhiều hơn . Thuế đánh vào các khoản lợi nhuận luân chuyển ra nước ngoài Ưu đãi về thuế chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong số các ưu đãi tài chính giànhcho đầu tư nước ngoài, mức ưu đãi thuế cao hơn là động lực lớn khuyến khích các nhà đầu tưtìm tới, vì thế cần áp dụng sự ưu đãi này với những mức khác nhau cho từng loại dự án và ápdụng với mức thấp nhất có thể, đặc biệt đối với các dự án đầu tư có tỷ lệ vốn nước ngoài cao,quy mô lớn dài hạn, sử dụng nhiều nguyên liệu vật liệu và lao động trong nước . Chính sách đầu tư phải đảm bảo cho các nhà đầu tư nhận thấy khi tham gia đầu tư, họsẽ thu được lợi nhuận cao nhất trong điều kiên kinh doanh chung của khu vực để khuyếnkhích các nhà đầu tư tìm tới như một điểm tin cậy và có nhiều cơ hội để phát triển nguồn vốncủa mình . 1.3.7 Các yếu tố thuộc nền hành chính Mỗi quốc gia có con đường chính trị riêng của mình và kèm theo đó là đường lối pháttriển kinh tế đặc thù của quốc gia đó. Do đó thể chế nền hành chính cũng khác nhau. Đầu tưtrực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư xuyên quốc gia do đó nhà đầu tư khi tham gia đầu tưvào quốc gia thì phải tuân thủ theo những quy định của quốc gia đó. Một thể chế hành chínhphù hợp sẽ đem lại những thuận lợi hết sức lớn cho quá trình hội nhập cũng như tiếp nhậnFDI, thủ tục hành chính quá rắc rối như thủ tục cấp giấy phép có liên quan trong thực hiệnđầu tư dự án, thời gian cấp giấy phép quá lâu gây lãng phí thời gian vô lý và thậm chí còn gâ ythiệt hại về kinh tế, làm mất cơ hội của các nhà đầu tư. Điều này sẽ gây tâm lý không tốt từphía các nhà đầu tư và có cái nhìn không tốt đối với điều kiện đầu tư ở nước đó. 1.3.8 Các yếu tố thuộc thể chế luật pháp Luật pháp kín kẽ đầy đủ sẽ giúp cho các nhà quản lý quản lý chặt chẽ được các hoạtđộng kinh tế và sẽ giảm bớt những rủi ro trong các hoạt động kinh tế của các nhà đầu tư, hơnnữa còn giúp cho các nhà quản lý giải quyết một cách thoả đáng đối với những tiêu cực,tranh chấp phát sinh. Hệ thông luật pháp rõ ràng và kín kẽ sẽ tạo được tâm lý yên tâm của bênđầu tư đối với bên đối tác . 1.3.9 Hệ thống giao thông thông tin liên lạc Các nước phát triển trên thế giới rất quan tâm đầu tư phát triển hệ thống giao thôngđường bộ hệ thống sân bay, bến cảng, cầu cống bởi đây chính là vấn đề quan trọng hàng đầutrong chiến lược phát triển một nền kinh tế vững mạnh. Hệ thống giao thông có phát triển thìmới làm cho các dự án các công trình được triển khai và đi vào thực hiện vì đây được coi là 13
  14. 14. huyết mạch lưu thông của nền kinh tế, nếu hệ thôngnày hoạt động kém có nghĩa là các hoạtđộng kinh tế cũng bị ảnh hưởng và không thể tiến nhanh được, các dự án đầu tư không nằmngoài quy luật đó nên cũng chịu ảnh hưởng của sự phát triển hệ thông giao thông và hệ thốngthông tin liên lạc. Các nhà đầu tư quan tâm tới điều này bởi vì nó có ảnh hưởng tới tính khảthi của dự án và liên quan tới tương lai của dự án mà họ sẽ quyết định kinh doanh. Các nướctrên thế giới đa phần là tận dụng nguôn vốn đầu tư phát triển và hỗ trợ để đầu tư xây dựngphát triển và hoàn thiện, nâng cao hệ thống cơ sở hạ tầng này 1.3.10 Hệ thống cung cấp điện nước Đây cũng là một yếu tố quan trong trong chiến lược cải thiện môi trường nhằm thu hútFDI, nếu không có các yếu tố nầy thì sẽ không thể thực hiện được dự án, hệ thống lưới điệncần phải được đưa tới tất cả các vùng và được bố chí đầy đủ hợp lý ,thuận tiên cho các dự ánphát triển và đi vào thực hiện. Các yếu tố về hệ thống lưới điện hoàn thiện và nguồn nướcđược cung cấp tận nơi sẽ khuến khích các dự án tìm tới vì ở nơi đó cũng có điều kiện tươngtự như các vùng khác và còn có thể tốt hơn . 1.3.11 Các khu chế xuất , khu công nghiệp Với nhiều dự án để có thể triển khai được, nó đòi hỏi những điều kiện hết sức khắt khevà không thể nơi nào cũng có thể đáp ứng được, các nước sở tại phải tiến hành đầu tư xâydựng các khu chế xuất và các khu công nghiệp đặc biệt và trong đó có đầy đủ các điều kiệncó thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà dự án đặt ra. Với những khu công nghiệp hiện đạinày có thể tập chung rất nhiều dự án và có nhiều vốn, các dự án khác nhau này có thể hỗ trợvà cung cấp các đầu vào và tiêu thụ đầu ra cho nhau chính vì thế các khu chế xuất là nơi rấttốt để thu hút vốn đầu tư. Quốc gia nào có nhiêu khu công nghiệp khu chế xuất hiện đại thì sẽthu hút được nhiều dự án đầu tư. II. THỰC TRẠNG VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM2.1 Đóng góp của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sự phát triển kinh tế xã hội của ViệtNam 2.1.1 Kinh tế Như chúng ta đã biết mục đích của các nhà đầu tư không phải gì khác mà chính là tìmtới nơi mà họ tin tưởng là có thể bỏ đồng vốn của mình vào kinh doanh sao cho đồng tiền củamình được an toàn là trước hết sau đó là có thể sinh sôi lợi nhuận cao hơn những nơi khác,đồng thời làm cho nền kinh tế của nước sở tại phát triển . Nước ta hiện nay đang là nước có điều kiện ổn đinh cả về chính trị và kinh tế đồngthời hội đủ cấc yều tố về mọi mặt giúp cho dự án có thể thực hiện một cách dễ dàng như cơsở hạ tầng trình độ phát triển kinh tế, trình độ phát triển khoa học công nghệ, trình độ tay 14
  15. 15. nghề của người lao động, có đủ điều kiện để dự án có thể triển khai như kế hoạch của các nhàđầu tư, phát huy tốt nhất những đóng góp của mình vào phát triển kinh tế xã hội của chúngta. Kết quả chúng ta đã đạt được số lượng dự án không ngừng tăng lên. Năm 1996 là 325dự án với tổng số vốn đăng ký là 8.497,3 triệu $. Đến năm 1997 số lượng dự án đã tănglên là345 dự án nhưng vốn đầu tư lạị giảm so với năm 1996 và chỉ còn vào khoảng 57,8 % tươngđương với 4.691,1 triệu $. Tình trạng này tiếp tục diễn ra vào những năm tiếp theo, đến năm2000 thì số lượng dự án đạt vào khoảng 371 dự án và số vốn đầu tư chỉ còn 2.012,4 triệu $đến năm 2002 gần đây nhất, số lượng dự án đã đật được mức kỷ lục tới 697 dự án nhưng sốvốn chỉ đạt 16,1% so với năm 1996 là 1.376 triệu $. Mặc dù lượng vốn không ngừng giảmxuống vào các năm gần đây nhưng những đóng góp của hoạt động đầu tư trực tiếp lại khôngngừng tăng lên năm 1996 các dự án đầu tư trực tiếp đóng góp vào ngân sách 263 triệu$ vàvào GDP là 1.750 triệu $, năm 1997 là 315 triệu $ và 2.250 triệu $ tới năm 2000 mức đónggóp này đã đạt được mức rất lớn, đóng góp vào ngân sách đã đạt được 280 triệu$ và vàoGDP là 4.105 triệu $ và sang năm2001 là 373 triệu$ và vào GDP là 4.199 triệu $ và đonggóp vào ngân sách nhà nước năm 2001 của các dự án đâu tư trực tiếp nước ngoài là 373triệu $ đến năm 2002 hoạt động này đóng góp 25% tổng thu nhân sách nhà nước. Mặc dù tổng vốn đầu tư đưa vào Việt Nam trong những năm gần đây có xu hướnggiảm song hiệu quả của các dự án thì không ngừng tăng lên thể hiện ở đóng góp của hoạtđộng này vào tổng thu ngân sách nhà nước trong những năm qua không ngừng tăng lên vàlượng hàng xuất nhập khẩu thông qua hoạt động này năm 1996 tổng giá trị xuất khẩu củahoạt động này là 920 triệu $ và nhập khẩu là 2.042 triệu $ thì tới năm 2002 giá trị xuất khẩucủa hoạt động này đã đạt mức 3.600 triệu $ và nhập khẩu là 4.700 triệu $.Không những đónggóp rất lớn vào ngân sách nhà nước mà đẩy mạnh các hoạt động xuất nhập khẩu của cả nướcđồng thời thu hút thêm người lao động vào làm việc trong các công trình các dự án có vốnđầu tư trực tiếp nước ngoài. Bảng 2.1 Hoạt động FDI tại Việt NamĐơn vị :Triệu $ 1996 1997 1998 1999 2000 2001Lượng vốn mới đưa vào 8.640 4.659 3.897 1.568 2.014 25.21Lượng vốn tăng thêm 788 1.173 884 629 431 579Đóng góp vào xuất khẩu 920 1.790 1.982 2.590 3.230 3.600Lượng nhập khẩu 2.042 2.890 2.668 3.382 4.350 4.700Đóng góp vào GDP 1.750 2.205 2.582 3.343 4.105 4.199Đóng góp vào ngân sách 263 315 317 271 280 373 15
  16. 16. Thu hút lao động (1000 người ) 220 250 270 296 349 439 ( Thời báo kinh tế Việt Nam 04/2002) Cùng với những điều kiện đã đáp ứng được đòi hỏi của các nhà đầu tư, chúng ta còn có những chính sách và điều kiện ưu đãi vì thế số lượng chất lượng dự án đã tăng lên góp phần làm tăng trình độ phát triển nền kinh tế của chúng ta. Về trình độ phát triển kinh tế: mặc giù tốc độ phát triển kinh tế của chúng ta ở mức cao trên 6% nhưng về trình độ chúng ta vẫn chỉ là một nước còn kém so với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới bởi chúng ta đi lên từ điểm suất phát thấp và mới chỉ với gần 20 năm thực hiện chính sách kinh tế mới và tham gia vao nền kinh tế khu vực và thế giới nên nhìn chung nền tăng kinh tế còn thấp hơn các nước khác .Nhờ có hoạt động đầu tư trực tiếp giúp cho chúng ta từng bước tiếp cận được với trình độ phát triển của các nước phát triển trên thế giới thông qua tiếp nhận vốn để đầu tư phát triển và tiếp thu công nghệ hiện đại cũng như học hỏi kinh nghiệm 2.1.2 Về mặt xã hội Các dự án đầu tư trực tiếp còn giúp cho chúng ta thu hút được đội ngũ người lao động tham gia đông đảo vào làm việc góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập. Nhìn chung chúng ta có một đội ngũ lao động tương đối lớn về số lượng còn về chất lượng tuy chưa so kịp với các nước có trình độ phát triển kinh tế cao nhưng trình độ cũng tương cao có nhiều khẳ năng tiếp thu những kiến thức và tiếp cận với trình độ khoa học hiên đại. Số lượng công nhân viên được thu hút vào làm việc tại các dự án có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng đông năm 1996 thì số người tham gia lao động tại các dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là 220.000 người thì tới năm 2001 là 439.000 người . Đội ngũ lao động này được hoàn thiện từng ngày và ngày một nâng cao do được tham gia lao động trong các doanh nghiệp có dự đầu tư từ nước ngoài . 2.2 Thực trạng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong giai đoạn hiện nay 2.2.1 Số lượng và quy mô dự án Số lượng dự án đầu tư trong nhưng năm gần đây có sự tăng lên rất lớn kể từ năm 1988 tới nay tốc độ tăng trưỏng đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng năm đạt mức 109% một năm. Năm 1988 số lượng dự án tham gia đầu tư vào Việt Nam chỉ có 37 dự án với tổng số vốn đăng ký 371.8 triệu USD thì đến năm 1995 đã là 370 dự án và năm 1995 số lượng dự án là 370 dự án và lượng vốn đã tăng lên 57,6 % so với năm 1994 với số vốn tương đươnglà vào khoảng 6.530 triệu $, tới năm1996 số lượng dự án đã đạt là 325 dự án và lượng vốn là 8.497 triệu $, đây là năm thu hút được số lượng dự án lớn nhất từ trước tới nay. Đến năm 1997 mặc 16
  17. 17. giù số lượng dự án vẫn có xu hướng tăng lên song lượng vốn đầu tư lại có phần giảm xuốngso vớinăm 1996 và chỉ còn khoảng 54,7 % với số vốn tương đương là 4649,1 triệu$. Nguyênnhân là do cuộc khủng hoảng kinh tế Châu á đã ảnh hưởng tới nền kinh tế của các nước trongkhu vực cũng như các nước trên thế giới, cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm cho các nền k inhtế của các nước bị suy sụp khiến cho các nhà đầu tư không thể tiếp tục thực hiện được cácdự án đầu tư của mình và đem vốn mới vào thực để thực hiện các dự án đầu tư mới, hơn nữacác nhà đầu tư thế giới lại nhìn nhận nền kinh tế khu vực với một cách không lấy gì làm khảquan lắm vì thế không tiếp tục đầu tư vào khu vực cũng như Việt Nam. Những năm tiếp theosố lượng dự án tiếp tục giảm xuống đến năm 1999 số lượng dự án là 311 dự án và tổng sốvốn chỉ còn vào khoảng 1.568 triệu $. Đến năm 2000 số lượng dự án và số lượng vốn tiếp tụctăng lên, trong đó số lượng dự án đã là 371 dự án và số lượng vốn đã là 2.012,4 triệu $. Đâylà năm số lượng cũng như quy mô dự án có xu hướng tăng lên kể từ khi cuộc khủng hoảngkinh tế Châu Á nổ ra vào năm 1997, đến năm 2001 khối lượng vốn đã đạt được 2.194,5triệu$. Dấu hiệu khả quan chưa được là bao thì vào tháng 11/2001 vụ khủng bố ngày 11/09đã làm cho tình hình chính trị thế giới khu vực cũng như thế giới rơi vào tình trạng báo độngkhiến cho các hoạt động kinh tế bị ngừng trệ kể cả các hoạt động đầu tư vì thế năm 2002 sốlượng dự án mặc dù không giảm xong lượng vốn đầu tư lại bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi sựkiện này, năm 2002 số lượng dự án đạt mức kỷ lục lên tới 697 dự án tăng 51,1% nhưng khốilượng vốn đầu tư đưa vào trong năm này chỉ bằng 62,7 % so với năm 2001 và bằng 16,1 % sovới năm 1996 năm có số vốn đầu tư lớn nhất trong thới gian qua. Bảng 2.2. Đầu tư trực tiếpnước ngoài vào Việt Nam từ 1988 đến 2002 ( Đơn vị Triệu USD) 17
  18. 18. STT N¨m Sè dù ¸n Vèn ®¨ng ký Vèn ph¸p ®Þnh 1 1988 37 371.8 288.4 2 1989 68 582.5 311.5 3 1990 108 839 407.5 4 1991 151 1322 663.6 5 1992 197 2165 1418 6 1993 269 2900 1468.5 7 1994 343 3765.6 1729 8 1995 370 6530 2988.6 9 1996 325 8497.3 2l940.8 10 1997 345 4649.1 2334.4 11 1998 275 3897 1805.6 12 1999 311 1568 593.3 13 2000 371 2012.4 1525.8 14 2001 461 2.194 2426.5 15 2002 697 1.376 14398 (Báo ngoại thương 11-20 /12/2001 và Thời báo kinh tế Việt nam 4/2003) Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong một vài năm gần đây có xu hướng giatăng cả về số dự án cũng như về vốn đầu tư và các ngành đầu tư cũng có những biến đổi.Như đã nói ở trên năm 2002 tổng số dự án đầu tư vào Việt Nam nên tới 697 dự án được cấpgiấy phép đây là năm thu hút được nhiều dự án nhất từ trước tới nay, với tổng số vốn đăng kýlà 1376 triệu $. Số dự án trong năm 2002 đã tăng lên so với năm 2001 là 51,1 %, nhưng vềlượng vốn tham gia đầu tư lại giảm rất lớn chỉ bằng 62,7 % của năm 2001. Qua đây ta thấytình hình đầu tư tại Việt Nam có nhiều khả quan về số lượng các nhà đầu tư tham gia song cómột điều đáng quan tâm là tuy số lượng dự án tăng lên nhưng về quy mô lạ i giảm rất lớn.Chứng tỏ số lượng các nhà đầu tư tham gia tăng lên rõ rệt nhưng các dự án tham gia lại rấtnhỏ, các dự án có quy mô lớn và trung bình lại chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Các nhà đầu tư, tậpđoàn đầu tư lớn vẫn chưa coi Việt Nam là một địa chỉ tin cậy để thực hiện các dự án củamình. Qua phân tích số liệu ta thấy Việt Nam chưa đủ điều kiện để thu hút các nhà đầu tưlớn, đòi hỏi các nhà xây dựng chiến lược đầu tư ở Việt Nam phải có một chiến lược hợp lý đểthu hút hơn nữa số dự án đầu tư mặt khác phải tạo được uy tín đối với các tập đoàn đầu tư lớntrên thế giới, một mặt thu hút được thêm số dự án mặt khác có thể tăng lượng vốn đầu tư củadự án và tăng số lượng dự án lớn cũng như tăng về tổng vốn đầu tư đưa vào Việt Nam. 2.2.2 Về lĩnh vực ngành đầu tư Cơ cấu các ngành đầu tư vào Việt Nam có sự thay đổi khá lớn vào những năm đầuthực hiện đầu tư chủ yếu tập chung vào những ngành khai thác và chế biến là chủ yếu, những 18
  19. 19. ngành sử dụng nhiều nguyên liệu vật liệu và sử dụng số lượng lao động lớn. Vào những nămgần đây cơ cấu đầu tư có sự thay đổi theo ngành, do sự điều chỉnh từ phía các bộ ngành và sựưu đãi của chính sách đầu tư nên các dự án chủ yếu đi vào đầu tư ở những lĩnh vực côngnghiệp và xây dựng là chủ yếu.Trong giai đoạn phát triển hiện nay chúng ta đang cần hỗ trợ về vốn trong phát triển cơ sở hạtầng thì nhờ vào những dự án đầu tư trực tiếp này mà Việt Nam có thể từng bước nâng cao vềtrình độ phát triển kinh tế xã hội của chúng ta. Nhất là đối với các ngành công nghiệp nhưcông nghiệp chế tạo, công nghiệp cơ khí công nghiệp xây dựng ..... đây là những ngành cókhả năng tác động tới nền kinh tế trong nước dưới góc độ là tạo ra cơ sở nền tảng cơ sở vậtchất nhằm nâng cao trình độ phát triển kinh tế của tất cả các nghành.Trong giai đoạn này cácnghành công nghiệp chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng số các dự án cũng như khối lượng vốnthực hiện,nghành công nghiệp chiếp tỷ trọng 61,1% về số lượng dự án(1.978 dự án) và54,7% về số lượng vốn đầu tư (20.564 triệu &), nghành này là nghành chiếm tỷ trọng lớnnhất trong các nghành tham gia,trong đó chủ yếu tập trung vào hai nghành công nghiệp nặngvà công nghiệp nhẹ.Công nghiệp nhẹ chiếm 787 dự án với 4.361 triệu $ và nghành côngnghiệp nặng chiếm 785 dự án với tổng số vốn đầu tư là 7.525 triệu $.Nghành nông nghiệpchiếm một tỷ trọng khiêm tốn trong tổng số các dự án đầu tư chỉ với 12,6% về số lượng dựán(386) dự án và chiếm 5,7% về khối lượng vốn đầu tư(2.150 triệu $).Nghành này chiếm tỷtrọng thấp nhất trong ba nghành vì đây là nghành không được các đối tác lớn quan tâm vìnghành này đòi hỏi thời gian dài mặc giù khối lượng vốn không lớn lắm nhưng mức độ rủiro cao. Bảng 2.3 Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành giai đoạn 1998-2001 (Đơn vị nghìn USD)STT Ngành đầu tư Số dự án Vốn đầu tư Vốn pháp định Vốn thực hiệnI Công nghiệp 1.978 20.564.888 9.44.224 11.724.780 Công nghiệp nặng 785 7.525.219 3.107.192 3.801.849 Dầu khí 28 3.176.126 2.159.489 2.839.016 Công nghiệp nhẹ 787 4.361.952 1.963.145 2.043.294 Xây dựng 213 3.168.226 1.217.441 1.766.989 Công nghiệp TP 165 2.333.363 998.454 1.273.631II Nông ,lâm nghiệp 386 2.150.358 1.038.520 1.132.552 Nông,lâm nghiệp 331 1.977.094 953.982 1.033.755 Thuỷ sản 55 173.264 84.537 98.796 19
  20. 20. III Dịch vụ 679 1.488.8507 6.757.348 5.774.679 TC Ngân Hàng 48 553.200 521.750 403.439 Khách Sạn và DL 121 3.311.362 1.090.609 1.908.463 VP cho thuê 112 3.693.677 1.301.696 1.628.716 GTVTvàBưu điện 94 2.785.411 2.247.342 916.387 VH-GD-YTế 105 560.509 247.938 159.486 XD- KCX-KCN 15 795.100 276.236 471.851 Dịch vụ khác 181 722.572 396.593 185.899 XD khu ĐT mới 3 2.466.674 675.183 394.618 Tổng 3043 37.603.753 172.420.l92 18.631.971 Nguồn :thời báo kinh tế Việt Nam 06/2002 Ngành dịch vụ chiếm khoảng 23,3 % về số lượng dự án đầu tư(679 dự án) và 39,6 %về vốn (14.888 triệu $) ngành này mặc dù khối lượng dự án không lớn lắm xong do nhữngdự án đầu tư thường lớn lên khối lượng vốn đem đầu tư vào các dự án này nhiều, điều nàyphù hợp với xu thế phát triển của xã hội trong giai đoạn hiện nay. Sự chuyển dịch về cơ cấu các ngành đầu tư này là có lợi cho chúng ta đang trong quátrình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hóa hịên nay bởi những dự án này thamgia đầu tư vào các lĩnh vực mà Việt Nam cần đầu tư để phát triển khu vực nay, tạo nền tảngcho phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Năm 2002 số lượng dự án tăng lên, điều này mở ra một tương lai rất tốt cho sự pháttriển kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay. Các dự án này đi vào các ngành công nghiệp làchủ yếu với 536 dự án, đặc biệt về công nghiệp nặng, số dự án trong các ngành công nghiệptăng nên rất nhanh, công nghiệp nhẹ tăng lên tới 264 dự án, công nghiệp nặng là 168 dự án,xây dựng là 25 dự án. Trong giai đoạn chúng ta đang thực hiên công nghiệp hoá, hiện đại hoánày thì những dự án này có ý nghĩa hết sức quan trọng nó giúp chúng ta rất lớn vào việc pháttriển cơ sở hạ tầng từng bước nâng cao trình độ khoa học công nghệ và giúp cho đội ngũngười lao đông từng bước tiếp cận với nền kinh tế hiện đại . Với tổng cộng 697 dự án tương đương với tổng số vốn đăng ký nên tới 1.376 triệu $,tăng 51,1 % về số lượng dự án nhưng lại giảm 37,3 % về vốn trong đó : Ngành công nghiệp chiếm tới 536 dự án tương đương với số vốn đầu tư là 1.046 triệu$ chiếm 76% Ngành nông lâm nghiệp chiêm 51 dự án tương với tổng số vốn đầu tư 95 triệu $ chiếm6,9% 20
  21. 21. Ngành dịch vụ chiếm 95 dự án với tổng số vốn đầu tư là 208 triệu $ chiếm 15,1 % Trong năm 2002 khối lượng dự án đầu tư vào ngành công nghiệp tăng lên rõ rệt sovới giai đoạn trước chứng tỏ đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu các ngành đầu tư các dự ángiảm xuống chủ yếu ở các ngành dịch vụ là nhiều nhất. Trong tháng đầu năm năm 2003 tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở nước ta cũngmang nhiều khả quan mở ra một năm rất tốt cho chiến lược thu hút FDI trong năm nay. Trong 3 tháng năm 2003 đã có 86 dự án tham gia đầu tư vào Việt Nam với tổng sốvốn đầu tư là 190 triệu $ tập chung chủ yếu vào ngành công nghiệp.Bảng 2.4 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam từ 01/01 tới 20/12 2002 (Đơn vị triệu $ ) Ngành Số dự án Vốn CN và XD 536 1.046 Dầu khí 2 29 Xây dựng 36 84 Nông Lâm nghiệp 51 95 Thuỷ sản 15 27 Dịch vụ 95 208 Tài Chính-Ngân Hàng 1 5 Y tế – GD 14 20 Văn phòng dịch vụ 3 6 XD Khu đô thị mới 0 0 Xây dựng KCN- CX 1 5 GTVT- Bưu điện 14 16 Du lịch và khách sạn 20 140 Ngành khác 42 16 Tổng 697 1.376 Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 01/2003công nghiệp nặng chiếm 68/86dự án và 135/190 về vốn đầu tư, đây vẫn là ngành chiếm nhiềuvốn đầu tư nhất trong giai đoạn hiên nay.Tình hình này đang diễn ra theo đúng chủ chươngphát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiên đại hoá đất nước trong thời gian hiện naycủa đảng và nhà nước ta đã đề ra bởi ngày nay kinh tế xã hội thế giới đang diên ra theo chiềuhướng tơi một nên văn minh chí tuệ thì xu hướng của chúng ta cũng phải tận dụng những ưuthế của nguồn vốn này vào phục vụ cho phát triên kinh tế của mình một cách hợp lý đặc biệt 21
  22. 22. ngay nay cần chú trọng phát triển các ngành công nghiệp chế tạo, công nghiệp điền tử để tiếp cậnvới nển kinh tế của thế giới. Bảng 2.5 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam theo ngành từ 01/10 tới 01/02/2003 (Đơn vị triệu $) 01/01-18/03/2003 Tiến tới 18/03/2003 Ngành Số dự án Vốn Dự án Vốn CN và XD 68 135 2.555 21.475 Dỗu khí 1 16 30 1.939 Xây dựng 7 35 251 3.383 Nông Lâm nghiệp 3 4 404 2.199 Thuỷ sản 2 6 82 234 Dịch vụ 13 45 777 14.564 Tài Chính-Ngân Hàng 0 0 47 602 Y tế – GD 4 21 133 633 Văn phòng dịch vụ 0 0 104 3.424 XD Khu đô thị mới 0 0 3 2.467 Xây dựng KCN- CX 0 0 17 878 GTVT- Bưu điện 1 3 109 2.575 Du lịch và khách sạn 4 15 136 3.250 Ngành khác 4 15 136 3.250 Tổng 86 190 3.818 38.472 Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 04/2003 2.2.3Về vùng đầu tư Các dự án đầu tư chủ yếu nằm ở các tỉnh phía nam, theo số liệu thống kê thì các tỉnhphía Nam có tới 502 dự án tương đương chiêm khoảng 72% số dự án trong cả nước, vớitổng số vốn 935,6 triệu USD tương đương 68% tổng số vốn. Đây là vùng có số lượng dự áncũng như số vốn đưa vào rất lớn, hầu nhưcác dự án đều có mặt tại khu vực này đặcbiệt là khucông nghiệp tỉnh Bình Dương. Sở dĩ vùng này thu hút đượcnhiều dự án đầu tư nhất bởi nớiđây từ trước tới nay đã là vùng có truyền thống trong hoạt động thu hút vốn đầu tư nướcngoài, hơn nữa nơi đây có một lợi thế hết sức quan trọng về điều kiện kinh tế phát triển hơnhẳn các vùng khác trong cả nước, chính vì thế nên các nhà đầu tư luôn tìm tới vùng này nhưmột địa chỉ rất tin cậy để thực hiện các dự án đầu tư của mình. Hơn nữa nơi đây có cơ chếđược coi là thoáng hơn các vùng khác trong cả nước và hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho 22
  23. 23. các dự án thực hiện là rất tốt, đặc biệt là hệ thống các khu công nghiệp các khu chế xuất đượcxây dựng rất nhiều đáp ứng đủ nhu cầu của các nhà đầu tư đặt ra chính vì thế vùng này đượccoi là vùng có nhiều điều kiện nhất trong việc thu hút nguồn vốn này. Các dự án chủ yếu tậpchung vào các tỉnh thành phố như: Thành phố Hồ Chí Minh là địa bàn chiếm nhiều dự án nhất vì nơi đây có đủ các điềukiện để cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án của mình, về hệ thống cơ sở hạ tầng rất pháttriển có đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất cũng như về các điều kiện khác. Chính những lợithế này giúp cho địa điểm nàythu hút được số lượng đâu tư lớn nhất, số lượng dự án đâu tưvào khu vực này riêng trong năm 2002 là 206 dự án chiếm với tổng số vốn đăng kí là 252triệu $. Đây là địa bàn thu hút nhiều nhất vốn đầu tư nước ngoài nhất chỉ sau tỉnh BìnhDương và tỉnh Đồng Nai, thành phố này có truyền thống trong hoạt động thu hút vốn đầu tưtính đến ngày 18/3 /2003 số lượngdự án tham gia đầu tư vào khu vực này là 1.246 dự án vàtổng số vốn đăng ký đạt mức lớn nhất trong các tỉnh thành phố thực hiện thu hút vốn đầu tư,với tổng số vốn thực hiện là 10.394 triệu $, tính ra trong hơn 3 tháng đầu năm năm 2003thành phố đã thu hút được 17 dự án vơi tổng số vốn đầu tư là 10 triệu $. Địa bàn tỉnh Đông Nai: Đây là địa bàn trong giai đoạn hiện nay được coi là địa bàn cóđiều kiện tốt để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và được các nhà đầu tư đặc biệt quantâm và thực hiên rất nhiều dự án đầu tư tại khu vực này riêng trong năm 2002 tỉnh này làtỉnh thu hút được nhiều vốn đầu tư nhất trong cả nước lớn hơncả thành phố Hồ Chí Minh vớitổng dự án tham gia vào khu vực này là 135 dự án đứng sau thành phố Hồ Chí minh nhưnglại đứng đầu về số lượng vốn đem đầu tư vào, với tổng vốn đầu tư năm 2002 là 255 triệu $,với số vốn đầu tư khá lớn này Đồng Nai sẽ trở thành khu vực có số vốn đầu tư lớn trong mộtvài năm tiếp theo với nhiều khu công nghiệp khu chế xuất sẽ được xây dựng ở đây. Hơn nữaĐồng Nai là khu vực trong nhưng năm qua đã thu hút được khối lượng vốn khá lớn tính đếnngày 18/3/2003 tỉnh đã thu hút được409 dự án tham gia và tổng số vốn đăng ký tính cho tớithời điểm này là 5.488 triệu $ chỉ đứng sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Cũng như các tỉnh khác tỉnh Bình Dương cũng có một số lượng lớn các dự án đầu tưvào đây.Trong năm 2002 tỉnh đã có 135 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tham gia đầu tưvào trong tỉnh , với tổng số vốn lên tới 253 triệu USD, với số lượng vốn đầu tư khá lớn trongkhi số dự án chỉ có 135 dự án chứng tỏ các dự án tham gia đầu tư vao tỉnh là những dự ánlớn, các dự án có quy mô lớn và số vốn của các dự án là tương đối lớn bình quân mỗi dự ánlà 1,87 triệu $ một dự án, số lượng vốn bình quân của mỗi dự án được coi là rất lớn tronggiai đoạn hiện nay. Tính tới ngày 18 /3 /2003 tỉnh đã thu hút được 618 dự án và tổng số vốnđăng ký là 2.952 triệu $.Số lượng dự án tham gia vào các tỉnh phía bắc trong năm 2002 cũng 23
  24. 24. tăng lên khá lớn, số lượng dự án là 173 dự án với tổng số vốn đăng ký là 356.3 triệu $, chiếmtương đương 25,1% về số dự án và 25,9% về tổng số vốn trong cả nước.Vùng này là vùngcũng có truyền thống trong lĩnh vực thu hút FDI,nhưng do điều kiện k inh tế của các tỉnhmiền bắc này chưa bằng các tỉnh miền Nam nên có phần kém hơn trong lĩnh vực thu hút vốnđầu tư này.hơn nữa đièu kiện về cơ sở vật chất ở các tỉnh phía Bắc này cũng còn kém pháttriển hơn các tỉnh phía Nam nên kết quả không bằng .Nhưng đ ây cũng là kết quả hết sức tolớn mà chúng ta đã đạt được. Các dự án tập trung vào các tỉnh như Hà Nội ,quảng Ninh,HảiPhòng,Vĩnh Phúc,Lạng Sơn... Bảng 2.6: Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam theo vùng lãnh thổ (Đơn vị triệu USD) Tổng Tổng Vốn phápSTT Tỉnh, TP Dự án Dự án vốn vốn định 1 TP Hồ Chí Minh 206 252 1.224 10.394 5.374 2 Hà Nội 54 115 437 7.551 3.013 3 Đồng Nai 96 255 409 5.488 2.452 4 Bình Dương 135 253 618 2.952 1.450 5 Bà Rịa-Vũng Tàu 14 23 79 1.865 545 6 Quảng Ngãi 1 0,3 6 1.326 546 7 Hải Phòng 25 43 118 1.321 1.014 8 Lâm Đồng 5 5 59 859 116 9 Hà Tây 9 10 36 415 211 10 Hải Dương 6 9 36 486 132 11 Thanh Hoá 2 0.3 9 444 410 12 Kiên Giang 1 0.6 6 393 394 13 Đà Nẵng 3 36 43 235,5 132 14 Quảng Ninh 10 39 43 266 165 15 Khánh Hoà 11 13 50 384 273 16 Long An 12 85 59 430 209 17 Vĩnh phúc 9 34 33 374 242 18 Ngệ An 0 0 9 231 40 19 Tây Ninh 8 6 46 217 160 20 Bắc Ninh 5 12 14 165 181 21 Thừa Thiên Huế 3 4 15 138,5 111 22 Phú Thọ 3 0,6 10 136 121 23 Cần Thơ 5 18 26 98 52 24 Quảng Nam 6 38,5 23 134 36 24
  25. 25. 25 Hưng Yên 13 20 21 95 99 26 Tiền Giang 2 3 8 96 71 27 Bình Thuận 8 10 27 99 30 28 Các tỉnh khác 45 91 205 2.512 3.160 30 Tổng 697 1.376 3.669 39.150 20.739 Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam 01/2003 Hà Nội là địa bàn chiếm nhiều dự án nhất với tổng dự án tham gia là 54 dự án, tổng sốvốn đầu tư là 437 triệu $. Đây là địa bàn đứng đầu trong các tỉnh miền Bắc cả về số lượng dựán cũng như về khối lượng vốn tham gia đầu tư, Hà Nội tuy không có điều kiện địa lý và tựnhiên tốt như các địa bàn khác nhưng nới đây lại có điều kiện kinh tế và cơ sở hạ tầng pháttriển hơn hẳn các địa bàn khác chính vì thế mà các nhà đầu tư tìm tới Hà Nội với số lượngcác dự án là khá lớn và quy mô các dự án cung khá lớn. Tính tới ngày 18/ 03/ 2003 Hà Nội đãthu hút được 437 dự án với tổng số vốn đăng ký là 7.551 triệu $ chỉ đứng sau thành phố HồChí minh về tổng số vốn. Với truyền thống sẵn có cộng với những lợi thế về điều kiện kinh tếcơ sở vật chất trong thời gian tới Hà Nội sẽ trở thành khu vực có điều kiện tốt để thu hútnguồn vốn này. Ngoài ra các tỉnh như quảng ninh cũng có số lượng dự án tham gia khá lớn với 10 dựán và tổng số vốn là 39 triệu $ Hải Phòng có 25 dự án với tổng vốn đầu tư là 43 triệu $,Vĩnh Phúc, Lạng Sơn .....cũng có một số lượng vốn khá lớn đầu tư vào khu vực này. 2.2.4 Đầu tư trực tiếp của các nước trên thế giới vào Việt Nam Mãi tới những năm giữa của thập kỷ niên 80 thì quan hệ kinh tế giữa Việt Nam vớimốt số nước Asean mới được thiết lập trở lại .Tuy vậy theo qui luật hoạt động của chuỗi biếnđộng cơ cấu liên tục kiểu làn sóng ở khu vực Châu á Thái Bình Dương từ Mỹ và Nhật Bảnsau đó là các nước NIC, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với hầu hết các nước trong khu vựccũng như trên toàn thế giới . Tình hình đầu tư trực tiềp nước ngoài ở Việt Nam cũng ngày một tăng lên theo cácmối quan hệ đầu tiên là các nước trong khu vực Đông Nam á sau đó là tất cả các nước trênthế giới đều có dự án đầu tư ở nước ta , qua thời gian thì nước ta đã vươn lên trở thành nướctiếp nhận đầu tư trực tiếp lớn trong khu vực .Bảng 2.7 Đầu tư trực tiếp của thế giới vào Việt Nam trọng giai đoạn 1988 tới tháng 6/2001 (Đơn vị triêu USD) 25
  26. 26. Quốc gia thực hiệnStt Số dự án Số vốn đăng ký Số vốn pháp định đầu tư1 Anh 44 1.773,5 1.428,12 áo 7 57,3 51,93 Ân Độ 9 544,1 519,84 Bahama 3 270,4 266,25 Ba Lan 4 23,7 13,86 Bắc Ailen 2 5,1 4,67 Bỉ 14 45,7 16,78 Bêlarút 3 61,3 28,69 Canada 38 222,7 196,410 Cu Ba 2 15,2 7,811 CHLB Đức 39 226,1 88,912 Đan mạch 8 53,8 40,813 Đài Loan 605 4.884,6 2.153.414 Hà Lan 42 586,1 469,715 Hàn Quốc 309 3.224.7 1.249,516 Hồng Kông 319 3.634,3 1.512,917 Hungari 7 10,1 9,418 Irắc 1 15,1 15,119 Ixaraen 3 5,4 4,920 Libê ria 1 47 18,821 Lúc xăm bua 8 22,9 11,622 Ma cao 3 3,9 3,923 Liên Bang Nga 66 1.577,5 959,224 Na Uy 7 36 18,425 Nam Tư 1 1,6 126 Niuduylân 11 60,5 21,127 Oxtrâylia 98 1.170,5 485,728 Pakitan 1 39,8 1229 Pháp 158 2.175,5 1.24330 Công Hòa Séc 6 42,8 1731 CH slôvia 1 39 3932 Thuỵ Điển 10 376,5 357,333 Thuỵ Sỹ 32 624,5 247,734 Trung Quốc 105 151 91,135 CHdcnd triều tiên 3 23,7 17,536 Ucraina 9 30,7 22,5 26
  27. 27. 37 Italia 16 73,1 26,4 38 Tổng 1995 22.157,5 11.671,7 Nguồn tạp chí ngoại thương 12/2001 Trong giai đoạn từ năm 1988 tới nay số lượng dự án đầu tư vào Việt Nam là 1995 dựán với tổng số vốn đăng kí là 22.157,5 triệu USD . Trong đó có sự tham gia của tất cả cácnước, từ các nước trong khu vực tới tất cả các nước trong khu vực, chủ yếu vẫn là các nướcthuộc khu vực Châu á là chính sau đó là các nước thuộc khu vực Châu Âu, Châu Mỹ. Trong năm 2002 nước có số dự án đầu tư lớn nhất vào Việt Nam là Đài Loan, nướcnày có tổng số dự án đầu tư vào Việt Nam là 185 dự án với tổng số vốn đầu tư là 260 triệu $,đây là nước đạt số lượng dự án đầu tư trực tiếp lớn nhất vào Việt Nam trong thời gian gầnđây, tới ngày 18/03/2003 thì Đài Loan đã có 927 dự án tham gia vào đầu tư với tổng số vốnđăng ký là 5.136 triệu $. Đây là nhưng nước có nhiều vốn tham gia đầu tư vào nước ta. Theosố liệu mới nhất thì Đài Loan hiện nay là nước có số vốn đầu tư lớn thứ hai sau Singapo vớitổng số vốn đăng ký là tính hết ngày 18/03/2003 thì nước này có số vốn tham gia vào đầu tưtại Việt Nam đã là 5.136 triệu $. Nước có số vốn đầu tư lớn thứ hai vào Việt Nam trong nămqua lại là Hàn Quốc với tổng số vốn đăng ký là 261triệu USD và số dự án đăng ký là 142 dựán tính tới ngày 18/03/2003 thì Hàn Quốc là nước lớn thứ tư trên thế giới có số vốn đầu tưtrực tiếp vào Việt Nam có số vốn nhiều nhất chỉ sau một số nước là Singapo, Đài Loan, NhậtBản tiếp theo là một số nước có số dự án tương đối lớn đầu tư vào Việt Nam trong thời giannăm vừa qua như TrungQuốc cũng có 62 dự án với tổng số vốn 74 triệu $, đặc biệt là Mỹtrong năm vừa qua có 29 dự án tham gia đầu tư vào nước ta với tổng số vốn đầu tư nên tới137 triệu $, qua đây ta thấy số lượng dự án tham gia đầu t ư vào Việt Nam đều là những dựán lớn bình quân 4,72 triệu $ một dự án theo tỷ lệ bình quân này thì đây là nước có nhiều sốdự án lớn nhất vào nước ta. Ngoài ra còn một số nước khác cũng có số lượng dự án đầu tư tương đối lớn vào ViệtNam như nước có truyền thống đầu tư vào nước ta như Singapo năm vừa qua tuy không cónhiều dự án tham gia vào chỉ có 24 dự án tương đương với số vốn tham gia là 34 triệu $nhưng trong thời gian trước đây là nước có số vốn tham gia đầu tư lớn nhất vào nước ta vơitổng số dự án tham gia tính hết ngày 18/03 /2003 là 263 dự án và số vốn tham gia là 7.242triệu $, Pháp cũng có 126 dự án, Anh có 44 dự án , Liên bang Nga là 40 dự án. Số lượng các dự án không ngừng tăng lên theo thời gian , năm1988 số dự án tham giavào Việt Nam mới chỉ đạt là 37 dự án và các năm tiếp theo số lượng dự án không ngừng tănglên năm 1990 đã là 108 dự án và tiếp tục tăng tới năm 2000 thì số lượng dự án đã đạt là 371 27
  28. 28. dự án và tăng mạnh vào năm 2001 , riêng trong năm này số lượng dự án đã tăng lên là 461dự án với tổng số vốn đăng ký là 2.194 triệu $ và năm 2002 số dự án đã tăng lên là 697 dựán Qua phân tích số liệu trên ta thấy số lượng dự án đã tăng lên gần 20 lần từ năm 1988,điều này cho thấy Việt Nam hoàn toàn có khẳ năng trong việc thu hút các nhà đầù tư tham giađầu tư vào trong thời gian tới nhất là về số lượng các nhà đầu tư. Theo số lượng các dự ánđầu tư tăng lên chứng tỏ điều kiện cho các dự án phát triển cũng tăng lên. Điều này mở ramột tương lai hoàn toàn rất tốt cho chúng ta thực hiện chiến lược thu hút vốn đầu tư trongtương lai.Qua phân tích số liệu ta thấy các nước có số vốn đầu tư lớn phần lớn là các nướcnằm trong khu vực Châu á như:Đài Loan,Hồng Kông, Singapo vv..Đặc biệt là Mỹ,quốc giatuy ký hiệp định thương mại với chúng ta nhưng trong năm qua đã có một số lượng dự án rấtlớn tham gia đầu tư. 2. 2.5 Đầu tư trực tiếp của các nước ASEAN vào Việt Nam Số dự án và vốn đầu tư từ các nước vào Việt Nam cao nhât là Xingapo với 273 dự ánchiếm 7,15 % tổng số dự án và có số vốn đăng ký cao nhất là 7.313 triêu $ chiếm 19% vềvốn, tiếp theo là Malai xia ,Thái Lan …. Trong số các nước ASEAN đầu tư vào thì riêngBrulây không có một dự án nào được thực hiện ở nước ta. Bảng 2.8 Đầu tư trực tiếp của các nước ASEAN vào Việt Nam tới 18/03/2003 (Đơn vị triệu USD) Cam pu chia 2 4 4Lao 4 11 3Philippin 19 184 80In?ônêxia 7 108 121Thai Lan 113 1,178 548Malaixia 92 11 5Xingapo 273 7,313 2,686T?ng 510 8,809 3,447 Nguồn :Báo ngoại thương 12/2001 Đầu tư FDI chủ yếu tập chung vào các ngành như ngành công nghiệp chế tạo, dầu khí, xây dựng , khách sạn , văn phòng và nhà cho thuê , phát triển cơ sở hạ tâng , Lĩnh vực thuhút nhiều nhất số dự án FDI là công nghiệp và xây dựng với 373 dự án được cấp giấy phép và2,006 tỷ USD tổng số vốn đăng ký 28
  29. 29. So với năm 2000 thì số dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp tăng tới 30% lĩnh vựclâm nghiệp và thuỷ sản tăng 20 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng kí 25,26 triệu USD lĩnhvực dịch vụ có 37 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng kí 345 triệu USD Qua bảng ta thấy không chỉ các nước trên thế giới mới có dự án đầu tư vào Việt Nammà các nước Asean cũng có một số lượng dự án khá lớn vào nước ta chiếm tỷ lệ 23% tổng sốdự án toàn thế giới đầu tư vào Viết Nam. Do vậy chúng ta có thể thấy rằng với sự tham giakhu vực đầu tư Asean có tầm ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển kinh tế Viết Nam ,đồngthời nó cũng đem lại sự kích thích và thúc đẩy hơn nữa các nước trong khu vực tham gia đầutư vào nước ta. thực tế này cho thấy việc thu hút đầu tư của các nước trong khu vực vào Việtnam vẫn chưa được cải thiện kể từ khi bị giảm sút nghiêm trọng vào năm 1997. Tính đếnđầu năm nay đầu tư của các nước Asean vào Việt Nam còn hiệu lực là 448 dự án với tổngvốn đầu tư đăng ký trên 9 tỷ USD , vốn thực hiện 3,7 tỷ với sự tham gia của 5 nước làSingapo, Malaixia ,Thái Lan ,Philipin , Inđônêxia chiếm khoảng 30% trong tổng vốn đầu tưnước ngoài đăng ký vào Việt Nam , các dự án chủ yếu rơi vào khoảng trên 1 tỷ USD .Dẫnđầu các nước Asean đầu tư vào Việt Nam vẫn là Singapo tiếp theo là Thái Lan , cách đâykhoảng 3 năm Thái Lan cùng Singapo và Malaysia nằm trong tốp 10 nước có tổng vốn đầu tưlớn vào Việt Nam , nhưng nay chỉ còn Singapo nằm trong danh sách này. Tính tới naySingapo có 273 dự án với tổng số vốn đăng ký trên 7,313 tỷ USD 2.2.6 Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản vào Việt Nam Nhật Bản là một trong những nhà đầu tư chính vào khu vực Asean nói chung và vàoViệt Nam nói riêng, Trong năm 2002 vừa qua các doanh nghiệp Nhất Bản đã đầu tư thêm vàoViết Nam 43 dự án với tổng vốn đăng ký trên 95 triệu USD trong đó đã thực hiện 78,42 triệuUSD. Với kết quả này Nhật Bản là nước nằm trong tốp dẫn đầu về vốn đầu tư trực tiếp vàoViệt Nam 2.2.7 Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam Tính tới nay Mỹ đã có khoảng hơn 153 dự án đầu tư vào Việt Nam , như vậy hiện nayMỹ vẫn đứng thứ 9 trong bảng xếp hạng các nhà đầu tư vào Việt Nam, Các dự án của Mỹ chủyếu tập chung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng là chủ yếu ngoài ra còn lĩnh vực d ịch vụvà nông nghiệp . Trong bối cảnh chung về đầu tư trưc tiếp nước ngoài tại Việt Nam từ sau cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ khu vực đầu tư của Mỹ cũng có xu hướng giảm ngoài ra trong 118 dựán có 21 dự án bị giải thể trước thời hạn với tổng số vốn đâù tư là 324,18 triêu USD, tỷ lệloại hình xí nghiệp 100% vốn nước ngoài đã tăng vọt lên so với cách đây 2 năm. Bảng 2.9 Đầu tư trực tiếp của Mỹ vào Việt Nam (1998-2001) 29
  30. 30. (Đơn vị nghìn USD)Stt Ngành đầu tư Số dự án Tổng số vốn Vốn pháp định1 CN nhẹ 13 83.087 32.3662 CN dầu khí 6 123.800 123.8003 CN nặng 48 307.113 172.3114 CN thực phẩm 10 38.620 14.5405 Xây dựng 7 65.212 20.2306 Nông lâm nghiệp 11 115.943 39.3447 Thuỷ sản 4 13.973 7.3448 Dịch vụ 6 25.876 10.3119 GTVT và Bưu điện 7 40.930 21.19910 Tài chính ngân hàng 5 67.150 65.65011 VH-YT-GD 9 103.330 40.59412 Văn phòng cho thuê 3 56.833 29.981 Tổng số 129 1.041.870 577.674 Nguồn :Vụ QLDA-Bộ KH-ĐT Sau khi ký hiệp định thương mại Việt - Mỹ thì đầy là sự kiện tác động lớn đến môitrường đầu tư và môi trường kinh doanh hiện nay của Việt Nam, có thể coi đó như một giảipháp nhăm khôi phục được niềm tin của giới các nhà đầu tư nâu nay đang nguội lạnh, Trongbối cảnh suy giảm nặng đầu tư trực tiếp nước ngơài vào Việt Nam mấy năm qua mà nguyênnhân chủ yếu là do tính chủ quan chúng ta chứ không thể đổ lỗi hoàn toàn do khách quan làhậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ mang lại, Hiệp định được ký kết lần này nhưmột điều hứa hẹn chắc chắn với các nhà đầu tư nước ngoài rằng giờ đây môi trường kinhdoanh của Việt Nam đã thay đổi lành mạnh hơn, đúng luật chơi hơn và đặc biệt quyền lợi củahọ được đảm bảo. Trong hoạt động đầu tư ở Việt Nam, các nhà đầu tư Mỹ đã quan tâm đến nhiều lĩnh vựccủa nền kinh tế Việt Nam, song chủ yếu tập chung trong các khu công nghiệp với 84 dự ánđiển hình là dự án lắp ráp ô tô FORD với số vốn đăng ký là 102 triệu USD.Tiếp đến là lĩnhvực dịch vụ tài chính ngân hàng văn phòng cho thuê, dịch vụ y tế giáo dục với 30 dự án 30

×