Tuyến điểm du lịch miền tây sông nước

5,933 views

Published on

  • Be the first to comment

Tuyến điểm du lịch miền tây sông nước

  1. 1. Bài Thuyết Minh TP.Hồ Chí Minh - Tiền Giang - Đồng Tháp - An Giang – - ( 246 Km ) Dzoãn Tiến Đạt IA. Tp.HCM – Tx.Tân An ( 47 Km ) : . Năm 1698, Nguyễn Phƣớc Chu - tức chúa Minh - sai Thống suất Nguyễn Hữu Kính (thƣờng đọc là Cảnh) vào Nam kinh lý và lập phủ Gia Định. Nhƣng trƣớc đó, có lẽ hàng thế kỷ, nhiều sử liệu cho thấy ngƣời Việt Nam đã tới buôn bán và khẩn hoang lập ấp rải rác trong đồng bằng sông Mê Kông ở châu thổ miền Nam và sông Mê Nam bên Xiêm rồi. Biên niên sử Khơ Me chép:Năm 1618, vua Chey Chettha II lên ngôi. Ngài liền cho xây cung điện nguy nga tại U Đông, rồi cử hành lễ cƣới trọng thể với một công chúa Việt Nam rất xinh đẹp con chúa Nguyễn (ngƣời ta phỏng đoán đó là công nữ Ngọc Vạn con chúa Sãi, Nguyễn Phƣớc Nguyên). Hoàng hậu Sam Đát Việt Nam cho đem nhiều ngƣời đồng hƣơng tới Campuchia, có ngƣời đƣợc làm quan lớn trong triều, có ngƣời làm các nghề thu công và có ngƣời buôn bán hay vận chuyển hàng hóa. Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhƣng cũng là địa điểm qua lại và nghỉ ngơi của thƣơng nhân Việt Nam đi Campuchia và Xiêm La. Chẳng bao lâu, hai đồn thu thuế trở thành thị tứ trên bến dƣới thuyền, công nghiệp và thƣơng nghiệp sầm uất. Giáo sĩ Ý tên Christoforo Boni sống tại thị trấn Nƣớc Mặn gần Qui Nhơn từ năm 1681 đến năm 1622, viết hồi ký "Chúa Nguyễn phải chuyên lo việc tập trận và gởi quân sang giúp vua Campuchia - cũng là chàng rể lấy con gái hoang của chúa! Chúa viện trợ cho vua cả tàu thuyền lẫn binh lính để chống lại vua Xiêm". Borri cũng tả khá tỉ mỉ về sứ bộ của chúa Nguyễn đi Campuchia hồi 1620: "Sứ thần là ngƣời sinh trƣởng tại Nƣớc Mặn, một nhân vật quan trọng đứng sau chức tổng trấn. Trƣớc khi lên đƣờng, ông đã để nhiều ngày giờ bàn bạc và nhận lệnh của chúa. Sứ bộ gồm khá đông ngƣời, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị vũ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh U Đông, thì dân chúng Khơ Me, thƣơng nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản và Trung Hoa đã tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh. Vì sứ thần đây là ngƣời quan thuộc, đã lui tới nhiều lần, từng làm đại diện thƣờng trú từ lâu, chứ không phải sứ giả mới tới lần đầu. Borri còn cho biết tòa sứ bộ khá quan trọng và đông đúc, nào là thê thiếp, ngƣời hầu kẻ hạ của sứ thần, nào binh sĩ giữ an ninh và phục dịch sứ bộ. Một giáo sĩ khác ngƣời Pháp tên là Chevreuil tới thăm Colompé (tức Pnom Penh, Nam Vang) hồi 1665 đã thấy "hai làng An Nam nằm bên kia sông, cộng số ngƣời đƣợc độ 500 mà kẻ theo đạo Công giáo chỉ có 4 hay 5 chục ngƣời". Ngoài Nam Vang, tại các nơi khác cũng có nhiều ngƣời Việt Nam sinh sống, ở thôn quê thì làm ruộng, gần phố thì buôn bán, làm thủ công hay chuyên chở ghe thuyền, kể hàng mấy ngàn ngƣời. Nhƣ ở Đất Đỏ, Bà Rịa, Bến Cá, Cù lao Phố, Mỹ Tho, Hà Tiên, v.v...
  2. 2. Ngoài đồng bằng sông Mê Kông, ngƣời Việt Nam còn đến làm ăn và định cƣ rải rác trong đồng bằng sông Mê Nam. Lịch sử cho biết: dân tộc Thái mới lập quốc từ thế kỷ VII sau công nguyên ở giữa bán đảo Đông Dƣơng và chủ yếu trên lƣu vực sông Mê Nam. Nƣớc này gọi là Xiêm hay Xiêm La (Siam), đến năm 1939 mới đổi tên là Thái Lan. Kinh đô Xiêm xƣa ở Ayuthia, xây dựng thừ năm 150 trên một khúc quanh của sông Mê Nam cách biển gần 100 km. Theo bản đồ Loubère vẽ năm 1687, thì kinh đô Ayuthia nằm trong một hòn đảo lớn, giữa hai nhánh sông Mê Nam. Đƣờng sá, cầu cống, phố chợ, lâu đài... đƣợc ghi khá rõ ràng. lại có thêm chú chích minh bạch nhƣ: A=Thành phố, B=cung điện, C=bến cảng, D=xƣởng thủy hải quân, E=xƣởng thủy ghe thuyền, F=phố thị, G=chủng viện... Chung quanh hòn đảo chính có những khu vực dành riêng cho dân Xiêm hay ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú: ngƣời Xiêm ở phía Bắc và Tây Bắc, ngƣời Hoa ở phía Đông, ngƣời Việt Nam, Mã Lai, Nhật Bản, Hòa Lan, Bồ Đào Nha ở phía Nam. Nơi ngƣời Việt ở cũng là một cù lao khá rộng, qua sông là tới phố thị kinh đô, việc đi lại giao dịch rất thuận lợi. Nhìn cách bố trí thôn trại chung quanh Ayuthia, ta có thể phỏng đoán cộng đồng ngƣời Việt ở đây khá đông và là một trong mấy nhóm ngoại quốc tới lập nghiệp sớm nhất. Trên bản đồ có ghi rõ chữ Cochinchinois nơi thôn trại Việt. Đƣơng thời, địa danh này chỉ ngƣời Đàng Trong và cũng có thể chỉ chung ngƣời VIệt Nam, vì trƣớc đó - trong thời gian chƣa có phân ranh Trịnh Nguyễn, Tây phƣơng dùng địa danh ấy, biến dạng bởi Giao Chỉ - Cauchi - Cauchinchina - Cochinchine để gọi chung Việt Nam. Đa số ngƣời Việt ở đây là ngƣời Đàng Trong, song cũng có ngƣời Đàng Ngoài. Họ tới định cƣ và lập nghiệp có lẽ từ thế kỷ XVI hay đầu thế kỷ XVII tồi, nghĩa là từ thời nhà Mạc khi trong nƣớc rất xáo trộn là loại ly. Theo ký sự của Vachet thì cả nam nữ già trẻ. Ngoài Ayuthia, ngƣời Việt còn tới làm ăn định cƣ tại Chân Bôn (Chantaburi) và Bangkok là những thƣơng điếm trung chuyển từ Hà Tiên tới kinh đô Xiêm. Sử Việt Nam và sử Khơ Me cùng nhất trí ghi sự kiện:Năm 1674, Nặc Ong Đài đánh đuổi vua Nặc Ong Nộn. Nộn chạy sang cầu cứu chúa Nguyễn. Chúa liền sai thống suất Nguyễn Dƣơng Lâm đem bính đi tiến thảo, thâu phục luôn 3 lũy Sài Gòn, Gò Bích và Nam Vang (trong sử ta, địa danh Sài Gòn xuất hiện từ 1674 vậy). Đài thua chạy rồi tử trận. Chúa Nguyễn phong cho Nặc Ong Thu làm Cao Miên quốc vƣơng đóng đô ở U Đông, cho Nặc Ong Nộn làm phó vƣơng. Sử ta còn ghi rõ:năm 1679, chúa Nguyễn Phƣớc Tần tức Hiền Vƣơng cho "nhóm ngƣời Hoa" muốn "phục Minh chống Thanh" là Dƣơng Ngạn Địch tới Mỹ Tho, Trần Thƣợng Xuyên tới Biên Hòa và Sài Gòn để lánh nạn và làm ăn sinh sống. Những nơi đó đã có ngƣời Việt tới sinh cơ lập nghiệp từ lâu. Nhƣ Trịnh Hoài Đức đã chép: các chúa Nguyễn "chƣa rảnh mƣu tính việc ở xa nên phải tạm để đất ấy cho cƣ dân bản địa ở, nối đời làm phiên thuộc ở miền Nam, cống hiến luôn luôn". Nhƣng năm 1658, "Nặc Ong Chân phạm biên cảnh", Hiền Vƣơng liền sai "phó tƣớng Tôn Thất Yên đem ngàn binh đi 2 tuần đến thành Mô Xoài (Bà Rịa), đánh phá kinh thành và bắt đƣợc vua nƣớc ấy". Sau đƣợc tha tội và đƣợc phong làm Cao Miên quốc vƣơng "giữ đạo phiên thần, lo bề cống hiến, không xâm nhiễu dân sự ở ngoài biên cƣơng. Khi ấy địa đầu Gia Định là Mô Xoài và Đồng Nai đã có lƣu dân của nƣớc ta đên ở chung lộn với ngƣời Cao Miên khai lhẩn ruộng đất". Nhƣ vậy là từ trƣớc 1658, Mô Xoài và Đồng Nai đã thuộc "biên cảnh" của Việt Nam.
  3. 3. Bốn mƣơi năm sau (tức 1698), chúa Nguyễn mới sai Nguyễn Hữu Kính vào "kinh lý" miền Nam. Đó là cuộc kinh lý miền biên cảnh - khi ấy "đất đai đã mở rộng khắp miền đông Nam Bộ nay. Trên cơ sở lƣu dân Việt Nam tự phát tới "khẩn hoang lập ấp", Nguyễn Hữu Kính đã lập phủ Gia Định và 2 huyện Phƣớc Long, Tân Bình (một phần nay là TPHCM). Đúng là dân làng đi trƣớc, nhà nƣớc đến sau. Và miền biên cảnh Nam Bộ sáp nhập vào cƣơng vực Việt Nam một cách thật êm thắm và hòa hợp dân tộc vậy. Hình ảnh đầu tiên tạo nên địa thế Sài Gòn chính là vùng Bến Nghé – Sài Gòn. Vùng này xƣa kia là rừng rậm đầm lầy, hoang vắng, "mênh mông rừng tràm, bạt ngàn rừng dừa", song cũng nổi tiếng là vùng đất màu mỡ phì nhiêu có đƣờng giao thông thuận tiện. Năm 1698Chúa Nguyễn sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền biên cảnh phía Nam, lập phủ Gia Định và thời điểm này đƣợc ghi vào lịch sử nhƣ cột mốc thời gian để tính tuổi cho thành phố Năm 1896, thành phố đổi tên từ "Gia Định Tỉnh" thành Sài Gòn và từ đây tên tuổi này ngày càng rực sáng trên trƣờng quốc tế qua những hình ảnh và trang sử rất gợi nhớ: "Là trung tâm thƣơng mại sầm uất, có thƣơng cảng thuận tiện cho giao lƣu kinh tế với nƣớc ngoài"; "Sài Gòn hòn ngọc của Viễn Đông", "Sài Gòn có cảng Nhà Rồng, nơi Bác Hồ đã ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc"; Sài Gòn còn là điểm khởi đầu của Nam Bộ kháng chiến oanh liệt. Trong kháng chiến chống Mỹ, Sài Gòn luôn đi đầu trên mọi trận tuyến, lịch sử Sài Gòn gắn liền với những trang sử đấu tranh hào hùng của công nhân, lao động, trí thức, học sinh, sinh viên và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã tô thắm thêm cho bản anh hùng ca dựng nƣớc và giữ nƣớc của ngƣời Sài Gòn, của dân tộc Việt Nam kiên cƣờng. Từ đây lịch sử đã sang trang mới, "Sài Gòn" đƣợc Quốc Hội đổi tên thành "Thành phố Hồ Chí Minh" (tháng 07/1976), và một thời kỳ mới đã bắt đầu - Thời kỳ xây dựng xã hội mới vì mục tiêu: Dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Địa danh: Gia Định – Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh - 1698 – 1802: Phủ Gia Ðịnh - 1790 – 1802: Gia Ðịnh Kinh - 1802 – 1808: Gia Ðịnh Trấn - 1808 – 1832: Gia Ðịnh Thành - 1836 – 1867: Tỉnh Gia Ðịnh - 1889 – 1975: Tỉnh Gia Ðịnh (Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Ðịnh) - 1976 đến nay: Thành phố Hồ Chí Minh Địa danh Gia Định đã xuất hiện từ 300 năm qua, nhƣng khi là phủ, là tỉnh, là toàn xứ Nam bộ, lại chỉ định những địa bàn hành chính to nhỏ rất khác nhau. Thật là phức tạp, chúng ta cần xem xét cho thấu đáo. Phủ Gia Định từ 1698 đến 1802. Năm 1698, Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền Nam, thấy nơi đây đất đã mở mang "hàng ngàn dặm và có dân trên 4 vạn hộ". Để chấm dứt tình trạng lƣu dân tự khẩn hoang lập ấp đó, Cảnh bèn lập phủ Gia Định để coi hai huyện: Phƣớc Long (Biên Hòa) và Tân Bình (Sài Gòn, từ sông Sài Gòn đến sông Vàm Cỏ Đông). Diện tích rộng khoảng 30.000 km2. Năm 1708, Mạc Cửu xin cho trấn Hà Tiên thuộc quyền Chúa Nguyễn. Năm 1732,
  4. 4. chúa Nguyễn cho lập châu Định Viễn và dựng dinh Long Hồ (sau là Vĩnh Long). Năm 1756, tổ chức cai trị đạo Trƣờng Đồn (sau là Định Tƣờng). Năm 1757, chúa Nguyễn cho lập các đạo Đông Khẩu, Tân Châu, Châu Đốc. Từ đó toàn miền Nam thuộc về lãnh thổ và chính quyền Việt Nam. Từ 1779, phủ Gia Định bao gồm cả: Dinh Phiên trấn (Sài Gòn) Dinh trấn Biên (Biên Hòa) Dinh Trƣờng Đồn (Định Tƣờng) Dinh Long Hồ (Vĩnh Long, An Giang). Trấn Hà Tiên. Nhƣ vậy, diện tích phủ Gia Định là diện tích toàn Nam bộ rộng khoảng 64.743 km2. Gia Định kinh từ 1790 đến 1802 Sau khi thâu hồi đất Gia Định, Nguyễn Ánh cho xây thành Bát Quái rộng lớn theo cách bố phòng Vauban, theo định hƣớng phong thổ Aá Đông, theo mỹ thuật dân tộc Việt Nam và mệnh danh là Gia Định kinh. Gia Định trấn từ 1802 đến 1808. Năm 1802, Nguyễn Ánh thâu phục kinh thành Phú Xuân rồi lên ngôi và lấy đế hiệu Gia Long. Gia Long bèn hạ cấp Gia Định kinh xuống làm Gia Định trấn thành. Cải tên phủ Gia Định làm trấn Gia Định và đặt "trấn quan" để cai quản cả ngũ trấn là: trấn Phiên An, trấn Biên Hòa, trấn Định Tƣờng, trấn Vĩnh Long, trấn Hà Tiên. Gia Định thành từ 1808 đến 1832 Gia Định thành thay cho Gia Định trấn. Gia Định thành là đơn vị hành chính lớn cũng nhƣ Bắc thành cai quản cả xứ Bắc gồm nhiều trấn. Có lẽ phải đổi tên Gia Định trấn ra Gia Định thành để khỏi lẫn với 5 trấn dƣới quyền cai quản. Từ đó, thành cai quản trấn. Để dễ phân biệt. Khi Trịnh Hoài Đức viết Gia Định thành thông chí là có ý nghiên cứu toàn hạt 5 trấn đã kể trên. Tỉnh Gia Định từ 1836 đến 1867. Năm 1832, sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng liền cải ngũ trấn thành lục tỉnh là Phiên An, Biên Hòa, Định Tƣờng, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đổi thành Gia Định - nơi trú đóng của Tổng trấn - làm tỉnh thành Phiên An - nơi trị sở của Tổng đốc coi riêng Phiên An thôi. Năm 1835, sau vụ Lê Văn Khôi, Minh Mạng cho phá thành Bát Quái và xây dựng Phụng thờ nhỏ, gọi là tỉnh thành Phiên An. Năm 1936, cải tỉnh Phiên An ra tỉnh Gia Định. Tỉnh thành Phiên An cũng đổi ra tỉnh thành Gia Định. Tỉnh Gia Định đƣơng thời rộng khoảng 11.560 km2. Năm 1859, Pháp tới chiếm Sài Gòn và phá bình địa thành Gia Định (Pháp gọi là thành Sài Gòn). Sau Hòa ƣớc 1862 mất đi ba tỉnh miền Đông, Pháp vẫn chia tỉnh Gia Định làm 3 phủ nhƣ cũ: Tân Bình, Tân An, Tây Ninh. Hạt Gia Định từ 1885 đến 1889. Từ năm 1867, Pháp bỏ tên tỉnh Gia Định mà gọi là tỉnh Sài Gòn. Tỉnh Sài Gòn cũng là địa bàn tỉnh Gia Định trƣớc, song không chia ra phủ huyện, mà chia ra 7 hạt tham biện (inspection), trong đó có hạt Sài Gòn (không kể thành phố Sài Gòn). Hạt Sài Gòn gồm 2 huyện Bình Dƣơng và Bình Long. Nhƣng từ năm 1872, hạt Sài Gòn gồm thêm huyện Ngãi An (Thủ Đức) nguyên thuộc tỉnh Biên Hòa.
  5. 5. Năm 1885,đổi tên hạt Sài Gòn thành hạt Gia Định (có lẽ để phân biệt rõ với thành phố Sài Gòn). Tỉnh Gia Định từ 1889 đến 1975. Năm 1889,bỏ danh xƣng hạt (arrondissement), lấy tên tỉnh cho thống nhất với toàn quốc Việt Nam. Tỉnh Gia Định là 1 trong 20 tỉnh của cả Nam Kỳ lục tỉnh cũ. Tỉnh Gia Định (thu hẹp) này chia ra 18 tổng với 200 xã thôn, rộng khoảng 1.840 km2. Năm 1944,thiết lập tỉnh Tân Bình trên một phần đất của tỉnh Gia Định (bắc Sài Gòn nhƣ Phú Nhuận, Phú Thọ, Hạnh Thông, Tân Sơn Nhì..., vùng Thủ Thiêm và một phần Nhà Bè). Tỉnh này chỉ tồn tại đến cuộc Cách mạng 5-1945 rồi giải thể. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, một phần không nhỏ của địa phận tỉnh Gia Định đã là căn cứ Cách mạng kháng chiến. Năm 1956,vùng Củ Chi đƣợc trích ra để lập thêm 2 tỉnh Hậu Nghĩa và Bình Dƣơng, Hậu Nghĩa lấy phần đất phía tây vẫn gọi là quận Củ Chi. Bình Dƣơng lấy phần đất phía đông gọi là quận Phú Hòa. Sau vụ chia cắt, Củ Chi cho 2 tỉnh Hậu Nghĩa và Bình Dƣơng, tỉnh Gia Định (1970) còn chia ra 8 quận với 74 xã, rộng 1.499 km2. Tình hình đó tồn tại đến ngày Giải phóng 1975. Từ năm 1975đến nay, địa danh Gia Định không còn dùng để chỉ bất cứ một đơn vị hành chính nào. Song nhân dân miền Nam vẫn nhớ tên đó với nhiều ấn tƣợng sâu sắc và tốt đẹp, Sử sách Thành phố và toàn Nam Bộ luôn nói đến Gia Định từ suốt 300 năm qua để ghi dấu bao chiến công và thành tích phát triển vƣợt bậc của phần đất phía Nam của Tổ quốc. . Ngay cái nhìn đầu tiên, Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh đã để lại ấn tƣợng sâu sắc của một đô thị lớn nhất, náo nhiệt nhất và năng động nhất trong cả nƣớc. Những phố xá đèn sáng choang, sinh hoạt và vui chơi giải trí kéo dài đến tận khuya. Những dòng xe cộ hối hả trên khắp các ngả đƣờng nhƣ không bao giờ dứt. Dãy dãy cửa hiệu với hàng hóa phong phú đủ màu, đủ loại góp phần làm nên danh tiếng "Sài Gòn - thiên đƣờng mua sắm". Nhan nhãn những quán ăn, cửa tiệm, nhà hàng với thực đơn rất đa dạng khiến ẩm thực trở thành một cái thú không thể thiếu đối với du khách đến nơi đây. Nhƣng đàng sau sự sôi nổi ấy là một cuộc sống phóng khoáng mà hài hòa, với những phong tục tập quán lâu đời của một nền văn hóa truyền thống đã thích nghi với cuộc sống khai hoang mở đất ở một vùng đồng bằng sông nƣớc, và sớm giao thoa với các nền văn hóa trong khu vực và phƣơng Tây. Hàng trăm chùa chiền, hàng trăm ngôi đình thờ phụng các anh hùng đất nƣớc và các tiền hiền có công mở cõi vẫn quanh năm nhang khói. Các chứng tích của sự nghiệp giải phóng thành phố và đất nƣớc đƣợc trân trọng bảo tồn. Ngoài các lễ tết chính thức, ngƣời dân thành phố tổ chức rất trọng thể nhiều lễ hội theo truyền thống "uống nƣớc nhớ nguồn" nhƣ Lễ hội Nghinh Ông, Ngày giỗ tổ nghề, Ngày Thầy thuốc, Ngày Nhà giáo, Ngày Báo hiếu, Ngày Phụ nữ… Các kiến trúc của Sài Gòn - Hòn ngọc Viễn Đông xƣa đƣợc giữ gìn và tôn tạo, trở thành những điểm tham quan lý thú. Bên cạnh đó là những công trình hiện đại phát huy từ cảm hứng trong kiến trúc truyền thống Việt Nam. Ởû nơi đất hẹp ngƣời đông này, du khách sẽ bất ngờ với những đại lộ rợp bóng cổ thụ trăm năm, những công
  6. 6. viên rộng rực rỡ hoa lá, những khu biệt thự thanh bình. Bên cạnh những tòa cao ốc mới ở trung tâm thành phố, khách sẽ có dịp ghé thăm Chợ Lớn của ngƣời Hoa với những khu phố cổ nhộn nhịp, hoạt động thƣơng mại và sản xuất luôn nhộn nhịp ngày đêm. Là trung tâm du lịch và cửa ngõ du lịch lớn nhất trong cả nƣớc, thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống cơ sở vật chất và dịch vụ du lịch khá phát triển, từ những điểm vui chơi giải trí cho đến khách sạn, nhà hàng. Khí hậu thành phố dễ chịu, nắng không quá nóng và mƣa không kéo dài nên mùa nào cũng có thể là mùa du lịch. Ngƣời dân thành phố, thân thiện và phóng khoáng, luôn mong đƣợc tiếp đón du khách từ mọi phƣơng trời. . Để chuyến du lịch đến thành phố Hồ Chí Minh trọn vẹn, có những điểm tham quan tiêu biểu mà bạn không thể bỏ qua. Với hệ thống 11 bảo tàng, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có số bảo tàng nhiều nhất so với các tỉnh, thành trong cả nƣớc. Nội dung trƣng bày của các bảo tàng khá phong phú, và không chỉ về lịch sử và văn hóa địa phƣơng, mà của cả Nam bộ, quốc gia và khu vực Đông Nam Á, cung cấp nhiều kiến thức lý thú. Trên 1.000 ngôi chùa, đình, đền và miếu đƣợc xây dựng qua nhiều thời kỳ cũng là những tài sản quý về văn hóa, kiến trúc và nghệ thuật. Bạn sẽ tìm thấy những chùa Phật giáo Nam bộ tiêu biểu, những ngôi đình xƣa gắn liền với lịch sử khẩn hoang mở đất. Bên cạnh đó là những chùa "cách tân" lớn nhất và đẹp nhất trong cả nƣớc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phong cách hiện đại với kiến trúc chùa cổ truyền. Thành phố có đến nửa triệu ngƣời Hoa sống tập trung nên số chùa Hoa cũng nhiều nhất so trong nƣớc, kiến trúc đa dạng và phong phú, nhiều chùa đã đƣợc công nhận di tích lịch sử - văn hóa của thành phố và quốc gia. Ngƣời Pháp đã để lại nhiều công trình đẹp và đa dạng. Có thể nói hiếm có đô thị nào ở Đông Nam Á lại có nhiều dạng kiến trúc, nhiều trƣờng phái, phong cách nghệ thuật phƣơng Tây nhƣ Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh. Điển hình nhƣ trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố theo phong cách Đệ Tam Cộng hòa Pháp, Ngân hàng Nhà nƣớc chịu ảnh hƣởng trào lƣu Tân Nghệ thuật, Nhà Thiếu nhi với phong cách Tân Cổ điển, Nhà Rồng phong cách Đông Dƣơng, Bƣu điện với trƣờng phái Chiết Trung, nhà thờ Đức Bà với nghệ thuật Rôman, nhà thờ Huyện Sĩ theo Tân Gôtic… Mảng kiến trúc đƣơng đại, đang bùng nổ, trăm màu trăm vẻ, tạo cho thành phố một diện mạo vui mắt, trong đó có một số tòa nhà đẹp, có giá trị thẩm mỹ cao. Nhƣng điểm du lịch độc đáo nhất của thành phố vẫn là Địa đạo Củ Chi, một công trình độc đáo trong lịch sử quân sự thế giới, biểu tƣợng của ý chí sắt đá và thông minh mƣu trí của quân dân thành phố trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc. Lẫy lừng không kém là rừng ngập mặn Cần Giờ với những trận chiến phá tàu giặc trên cửa sông Sài Gòn, nay là một điểm du lịch sinh thái tuyệt vời với những cánh rừng đƣớc xanh vô tận. 1.4. . Là trung tâm của vùng đất phƣơng Nam trù phú, sản vật dồi dào, nên món ăn Sài Gòn rất đa dạng. Lại thêm là nơi hội tụ của cƣ dân từ mọi miền đất nƣớc và cửa ngỏ tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nên thành phố đã tiếp nhận thêm các dòng ẩm
  7. 7. thực của cả nƣớc và thế giới, chọn lọc tinh hoa thành một nền ẩm thực phong phú và hấp dẫn. Ngày nay, ngƣời ta dễ dàng tìm thấy ở Sài Gòn vô số đặc sản Bắc, Trung, Nam hay quốc tế, theo đúng nguyên bản cũng có, nhƣng phổ biến hơn vẫn là những món đã đƣợc "Sài Gòn hóa" để hƣơng vị thêm phong phú, đậm đà. Chất Sài Gòn thƣờng thể hiện ở vị ngọt, nhiều rau xanh và nhiều thủy hải sản tƣơi sống. Chẳng hạn nhƣ món canh chua Sài Gòn đã kết hợp cả cái chua- mặn của miền Bắc, cái cay nồng ớt tƣơi của miền Trung và cái ngọt xởi lởi của miền Nam. Món bún bò Huế đƣợc "cải biên" để bớt cay, thêm ngọt, thêm béo và thêm rau. Món bò bít tết của phƣơng Tây thì mỏng hơn, chín hơn, nhiều gia vị hơn và kèm rau sống, đồ chua nhiều hơn… Khuynh hƣớng gần đây tìm về những món dân dã chốn đồng quê, món ăn của thời khẩn hoang mở cõi. Kể cả thực đơn của các nhà hàng sang trọng nay có cả món chuột đồng rô ti, châu chấu chiên giòn, lƣơn hấp trái bầu, ếch xào lăn, cá rô kho tộ, cá bống dừa kho tiêu… Món lẫu sành điệu phải đủ hai mƣơi mấy thứ rau đồng nội nhƣ cù nèo, tai tƣợng, càng cua, bông so đũa, bông điên điển… Món nƣớng thì nào là nƣớng than hồng, nƣớng trui, nƣớng mọi, nƣớng lu, nƣớng đất sét… Và ngƣời Sài Gòn vẫn không ngừng sƣu tầm để bổ sung vào thực đơn của mình những món ăn đã một thời bị quên lãng cũng nhƣ những món mới từ khắp bốn phƣơng trời. Từ bình dân đến cao cấp, mỗi nhà hàng tạo một ấn tƣợng riêng. Tuy nhiên, khuynh hƣớng chung vẫn là tìm về với phong cách dân tộc và địa phƣơng. Nhà hàng máy lạnh nhƣng trang trí mây tre lá và gốm sứ Việt Nam, ngƣời phục vụ trong áo dài khăn đóng. Lại có nhà hàng thiết kế cột gỗ mái ngói, hoành phi câu đối, dàn nhạc dân tộc cùng cung cách phục vụ của cung đình. Bên cạnh đó là những nhà hàng hải sản trang trí lƣới cá dăng dăng và dãy dãy bể rộng đủ loại tôm, cua, cá. Nhƣng có lẽ đƣợc yêu thích nhất vì phù hợp với khí hậu miền nhiệt đới, với tâm tình của con ngƣời Nam bộ, là những làng nƣớng mái lá đơn sơ bốn bề rộng mở, với gốc chuối, ao sen, khăn rằn, áo bà ba và những món ăn có nguồn gốc dân dã nhƣng đã đƣợc nâng cấp từ hình thức đến hƣơng vị thành những đặc sản tuyệt vời. Đi đầu trong phong cách này phải nói đến Làng Du lịch Bình Quới với chƣơng trình Buffet Ẩm thực Khẩn hoang. Không kể món Hoa gốc Chợ Lớn vốn đƣợc xem nhƣ một bộ phận của ẩm thực Sài Gòn, bạn sẽ có dịp thƣởng thức ẩm thực thế giới trong các khách sạn sang trọng hay tại các nhà hàng Hồng Kông, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Ấn Độ, Pháp, Ý, Đức, Tiệp, Mỹ… do chính những đầu bếp bản quốc nấu nƣớng. Bên cạnh đó, bạn có thể thƣởng thức những bữa tiệc chay với các món ăn trang trí đẹp mắt và hƣơng vị đậm đà, thật sự làm ngạc nhiên thực khách. Sở thích của người Sài Gòn là ngồi nơi thoáng đãng, ăn uống lai rai, tán gẫu với bạn bè, vừa ngắm cảnh người qua lại tấp nập trên đường phố. Vì thế mà hàng quán bán thức ăn nhẹ, thức ăn chơi hiện diện khắp mọi nơi. Có đến hàng trăm thức ăn nhẹ, như bánh mì, phở, hủ tiếu, mì, cháo, bún, xôi, cơm tấm, bánh cuốn, bánh bao… Mỗi thức lại có vài chục món, như riêng xôi, bạn có thể chọn xôi vò, xôi bắp, xôi gấc, xôi vị, xôi mặn, xôi gà, xôi lạp xưởng, xôi đậu đen, xôi đậu xanh, xôi đậu phụng... Mỗi món, tùy theo quán, lại có khẩu vị riêng, của miền Nam, Trung, Bắc, kể cả những khẩu vị đặc trưng của người Hoa.
  8. 8. Lại có những quán ăn chơi bên vỉa hè mà khách hàng chính là các bạn trẻ, nhưng cũng không hiếm những người lớn tuổi thích tìm một chút "bụi bụi" hay những gia đình đưa con nhỏ đi dạo chơi và ghé vào. Quán đơn lẻ cũng nhiều, nhưng nổi tiếng vẫn là những khu phố bán đủ các món ăn chơi hoặc nguyên một khúc đường chỉ bán một món duy nhất. Chẳng hạn như bột chiên đường Võ Văn Tần, gỏi bò khô Đinh Tiên Hoàng, thạch chè Nguyễn Đình Chiểu, chè 3 màu – xôi mặn Bùi Thị Xuân, hột vịt lộn – nghêu sò Pasteur, bò bía Bà Huyện Thanh Quan, cocktail sữa Nguyễn Tri Phương, bánh canh cua Ngã Sáu… Cũng thật là những nơi thú vị cho du khách sau một vòng dạo phố ban đêm, ngồi lai rai ngắm cảnh. Cho nên thật không có gì quá đáng khi nói rằng ẩm thực Sài Gòn thuộc loại hàng đầu trong cả nƣớc. Xin đừng quên thƣởng thức những món ngon Sài Gòn khi đến với thành phố này. . Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 641 khách sạn với 17.646 phòng. Hệ thống khách sạn bao gồm từ những khách sạn cao cấp do các tập đoàn quốc tế hàng đầu nhƣ Accor, Furama, Mariot hay Shareton quản lý, các khách sạn đã có quá trình hoạt động cả trăm năm mà dịch vụ đƣợc ngay cả các vị nguyên thủ quốc gia, các doanh nhân tầm cỡ khen ngợi, đƣợc các tổ chức quốc tế về du lịch trao tặng nhiều giải thƣởng và danh hiệu về chất lƣợng cao cho đến các khách sạn bình dân đáp ứng nhiều nhu cầu linh động và đa dạng của khách. Phần lớn các khách sạn đều chiếm những vị trí đẹp nhất trong trung tâm thành phố, gần các khu thƣơng mại, cận kề sân bay, nhà ga, bến xe… Và đặc điểm chính là các khách sạn đều có tính chuyên nghiệp cao, từ cơ sở vật chất và trang thiết bị cho đến các dịch vụ và phong cách phục vụ. Mỗi khách sạn thƣờng lựa chọn một ấn tƣợng riêng: Caravelle là khách sạn thƣơng nhân tuyệt hảo, Rex là "Ngôi nhà Việt Nam", Majestic với vẻ thanh lịch cổ điển phƣơng Tây, Bông Sen gây ấn tƣợng bằng ẩm thực "buffet gánh", Đệ Nhất nổi tiếng với dịch vụ tiệc cƣới… Ngay những khách sạn nhỏ cũng tạo phong cách nhƣ sự phục vụ tận tâm, thân tình nhƣ trong gia đình, hay những dịch vụ đáp ứng mọi yêu cầu nho nhỏ của khách. Ngành khách sạn của thành phố Hồ Chí Minh có thể tự hào khi so sánh với các nƣớc trong khu vực. : . Long An là một trong những địa bàn của Nam Bộ từ lâu đã có cƣ dân sinh sống. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy ở An Sơn, đông bắc tỉnh này các di chỉ hậukỳ đồ đámới cách đây 3.000 năm và Rạch Núi đông nam tỉnh di chỉ đồ sắtcách đây 2.700 năm. Đáng chú ý là trên địa bàn Long An có tới 100 di tích văn hoá Óc Eovới 12.000 hiện vật, đặc biệt là quần thể di tích Bình Tả, gồm ba cụm di tích: Gò Xoài, Gò Đồn và Gò Năm Tƣớc. Đây là quần thể di tích văn hoá Óc Eo - văn hoá Phù Namcó niên đại từ thế kỷ thứ 1đến thế kỷ thứ 7. Quần thể di tích Bình Tả cho thấy vào thời cổ đại, vùng đất Long An ngày nay đã từng là trung tâm chính trị, văn hoá và tôn giáo của Nhà nƣớc Phù Nam- Chân Lạp. Ngoài các khu di tích lịch sử văn hoá kể trên, Long An còn có 40 di tích lịch sử cách mạng và nhiều công trình kiến trúc cổ khác. Tính chung, Long An có 186 di tích lịch sử văn hoá, trong đó đã có 7 di tích đƣợc xếp hạng cấp quốc gia.
  9. 9. Đến đời vua Minh Mạng, nhà Nguyễnđổi các trấn thành sáu tỉnh là: Định Tƣờng, Biên Hòa, Gia Định, Vĩnh Long, An Giangvà Hà Tiên. Sau khiPhápchiếm trọn miền Nam, đã chia 6 tỉnh này thành 21 tỉnh, tỉnh Định Tƣờng tách ra để thành lập 3 tỉnh mới là Tân An, Mỹ Thovà Gò Công. Đất đai của Long An ngày nay khi đó thuộc tỉnh Tân An , Hậu Nghĩa và Chợ Lớn. Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhân dân Long An đã tham gia các cuộc kháng chiến dƣới sự lãnh đạo của Võ Duy Dƣơng, Trƣơng Định, Nguyễn Hữu Huân,Nguyễn Trung Trựcđánh các đồn bốt của ngƣời Pháp. Nguyễn Đình Chiểuđã làm bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để biểu dƣơng tinh thần của các nghĩa sĩ Cần Giuộc. . Mảnh đất Long An, cửa ngõ của đồng bằng sông Cửu Long, có diện tích 4.338 km2, với 1.300.100 ngƣời dân sinh sống ở thị xã Tân An và các huyện: Mộc hóa, Tháp Mƣời, Lai Vu, Châu Thành. Long An hấp dẫn khách du lịch chủ yếu do giá trị nhân văn của nền văn hóa ốc Eo, một nền văn hóa đã hình thành và phát triển ở châu thổ sông Cửu Long từ thế kỷ thứ nhất đến thứ 6 sau Công nguyên do tiếp nhận tinh hoa văn hóa ấn Ðộ. Ở LONG AN CÓ gần 20 di tích tiền sử và gần 100 di tích văn hóa ốc Eo đƣợc phát hiện, thu thập 12 nghìn hiện vật. Long An còn có trên 40 di tích lịch sử cách mạng, kiến trúc và danh lam thắng cảnh quan trọng nhƣ: Cụm di tích Bình Tả (Ðức Hòa), di tích lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Ðức (thị xã Tân An), di tích lịch sử Văn Nhựt Tảo, di tích đồn Rạch Cát, ngôi nhà trăm cột (ấp Trung, xã Long Hiệu Ðông, huyện Cần Ðƣớc), di tích lịch sử khu vực Ngã tƣ Ðức Hòa. Diện tích: 4.338 km2 (1694 sq miles). Dân số(01/04/1999): 1,306,202 ngƣời. Tỉnh ly: Thị xã Tân An. Các huyện: Bến Lức, Cần Đƣớc, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Tân Trụ, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Vĩnh Hƣng, Tân Hƣng. Dân tộc: Việt (Kinh), Khmer. Cách Sài Gòn 47 km (30 miles), Long An là cửa ngõ của đồng bằng sông Cửu Long, phía Bắc giáp Tây Ninh và các nƣớc Cam-Pu-Chia, phía Đông giáp Sài Gòn, phía Nam giáp Tiền Giang và phía Tây giáp Đồng Tháp. Là một tỉnh nông nghiệp, đất Long An màu mỡ trải ra trên hai triền sông của hai con sông lớn sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây. Ở phía Bắc tỉnh có một số gò, đồi thấp, còn lại thì bằng phẳng. Phần đất phía Tây thuộc vùng trũng của Đồng Tháp Mƣời. Long An có một mạng lƣới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nối liền nhau, chia cắt địa bàn tỉnh thành nhiều vùng. Thực ra Long An chƣa phải là đồng bằng sông Cửu Long, mà chỉ là đồng bằng sông Vàm Cỏ giữa hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long. Khí hậu: nhiệt đới gió mùa, hai mùa mƣa và khô rõ rệt nhiệt độ trung bình 27,4 ° C, mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, lƣợng mƣa trung bình 1.620 mm/năm (64 in/năm). Long An đông dân chủ yếu là ngƣời Việt (Kinh) và đồng bào gốc Khmer ở phía Tây tỉnh. Long An có 4 tôn giáo đƣợc đông ngƣời theo là Phật, Kitô, đạo Cao Đài và đạo Tin Lành. . Cụm di tích Bình Tả: Cụm di tích kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Bình Tả (gồm Gò Xoài, Gò Đồn và Gò Năm Tƣớc) cách thị xã Tân An 40 km (25 miles) về phía Đông
  10. 10. Bắc, tại ấp Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Nằm trong một quần thể di tích thời tiền sử đƣợc phân bố theo các trục lộ cổ và sông Vàm Cỏ Đông, cụm di tích này thuộc nền văn hóa Óc Eo - Phù Nam có niên đại từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 7 sau công nguyên. Có ba di tích trong cụm đã đƣợc khai quật: di tích Gò Năm Tƣớc, Gò Xoài và Gò Đồn đƣợc phân bố trên một địa bàn tƣơng đối gần nhau. Ngôi đền Gò Xoài nằm ở độ sâu 1,70 - 1,90 m (5,4 - 5,7 ft) có thể coi là địa điểm hành lễ của dân Phù Nam. Đặc biệt trong bộ sƣu tập 26 hiện vật bằng vàng phát hiện ở Gò Xoài có một bản bằng 646 chữ Phạn cổ khắc trên một lá vàng mỏng ghi câu kinh Phật giáo. Nhiều hiện vật đƣợc khai quật tại đây có giá trị nhƣ các tƣợng thần Siva, thần giữ đền, tƣợng Vinu, các linh vật Linga, Yoni. Nhiều mảnh gốm mịn Óc Eo, mảnh kim loại, đá quí, sa thạch và hàng loại di chỉ khác về con ngƣời từ thời tiền sử xung quanh ngôi đền, trong khoảng bán kính 10 km (6 miles) đã đƣợc phát hiện. Các kiến trúc đƣợc phát hiện tại cụm di tích Bình Tả là các đền thờ thần Siva, thuộc tôn giáo Bà La Môn, xuất hiện ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ nhất trƣớc công nguyên đƣợc truyền bá mạnh mẽ vào miền Nam Đông Dƣơng từ đầu công nguyên. Nằm trong tổng thể di chỉ khảo cổ ở Đồng Tháp Mƣời và vùng phù sa cổ Đức Hòa (Long An), di tích Óc Eo đƣợc xây dựng nhằm mục đích tôn giáo đồng thời cũng đóng vai trò là một trung tâm chính trị, văn hóa của nƣớc Phù Nam - Chân Lạp thời cổ đại. Chùa Linh Sơn (chùa Núi): Chùa nằm trên khu di chỉ khảo cổ Rạch Núi. Chùa do Hòa thƣợng Minh Nghĩa khai sáng vào giữa thếkỷ 19. Chùa đƣợc trùng tu sửa chữa vào các năm 1926, 1970 và 1988. Kiến trúc ngôi chính điện hiện nay do Hòa thƣợng Thiên Lợi sửa chữa năm 1970. Trong chùa còn lƣu giữ trên 100 bức tƣợng, trong đó có nhiều pho tƣợng cổ bằng gỗ quí nhƣ tƣợng cổ Tiêu Diện, cao 0,40 m (1,2 ft). Ngoài ra trong khuôn viên chùa có tháp Hòa thƣợng Quảng Trí và Hòa thƣợng Thiện Lợi. Nhà bảo tàng Long An: Ở ngay trung tâm thị xã Tân An, thuộc phƣờng 4. Bảo tàng Long An trƣng bày nhiều cổ vật quí hiếm có ý nghĩa văn hóa nghệ thuật, trong đó có nhiều hiện vật đƣợc khai quật từ các di chỉ văn hóa tại địa phƣơng, rất thú vị cho khách đến tham quan nghiên cứu. Ngôi nhà 120 cột: Thuộc xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đƣớc, cách thị xã Tân An khoảng 50 km (31 miles). Ngôi nhà làm bằng gỗ quí (cẩm lai, gõ đỏ), đƣợc xây dựng trên 100 năm với vẻ rêu phong cổ kính, với kiến trúc độc đáo, chạm khắc tinh vi trong trang trí nội thất từ những bàn tay khéo léo, điêu luyện của 15 ngƣời thợ tài hoa ở miền bắc vào. Hoa văn ở đầu kèo, đầu cột làm cho bạn có cảm giác nhƣ mình đang đứng giữa một khu rừng có hoa lá, cỏ cây, chim muông... Bạn sẽ hết sức thú vị với những đƣờng nét pha trộn sự tinh tế của điêu khắc mang đặc điểm của ba miền. Ngôi nhà đã thu hút nhiều nghệ nhân các vùng lân cận đến nghiên cứu về kỹ thuật xây dựng, cũng nhƣ nhiều khách du lịch đến đây để tham quan. Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mƣời: Ngƣợc dòng sông Vàm Cỏ Tây, thuyền du lịch sẽ đƣa du khách đến trung tâm Đồng Tháp Mƣời, vùng du lịch sinh thái đặc trƣng của vùng đất trũng Nam Bộ, cách Tân An khoảng 50 km (31 miles) thuộc các huyện Mộc Hóa, Vĩnh Hƣng, Thạnh Hóa và Tân Thạnh. Đến đây du khách tận mắt nhìn thấy những cánh rừng tràm bạt ngàn, thoang
  11. 11. thoảng hƣơng thơm với từng đàn ong mật lƣợn quanh, những cánh đồng sen rộng lớn với muôn vàn đóa hoa sen khoe sắc dƣới ánh nắng. Có nhiều loại động vật quí hiếm đang đƣợc bảo vệ tại vùng Đồng Tháp Mƣời nhƣ: Cò, Sếu đỏ, Rùa, Rắn... làm tăng vẻ đẹp vùng sinh thái. Đặc biệt khách có thể thƣởng thức các món ăn Nam Bộ nhƣ canh chua bông điên điển, gỏi ngó sen, cá lóc nƣớng trui chấm muối ớt với vài ly rƣợu đế đặc trƣng của đồng bằng Nam Bộ. Cụm vƣờn Thanh Long (Châu Thành): Khoảng 5km (3 miles) xuôi về phía Nam thị xã Tân An là huyện Châu Thành, huyện nổi tiếng về trái thanh long và dƣa hấu. Thanh long là loại trái cây đặc sản đƣợc trồng phổ biến ở vùng này, có giá trị dinh dƣỡng và kinh tế cao. Cành Thanh long đƣợc thả leo trên cây dông uốn mình nhƣ những con rồng xanh ngậm quả chín mọng đỏ rất hấp dẫn khách tham quan và thƣởng thức nét đẹp của vƣờn cây, vị ngọt mát của loại trái cây này. Vƣờn hoa kiểng Thanh Tâm: Vƣờn hoa nằm tại trung tâm thị xã Tân An, là vƣờn hoa cây kiểng bon sai nhiều loại, có loại trên 100 tuổi. Nhiều loại cây đạt huy chƣơng vàng hội chợ hoa xuân các tỉnh phía Nam. Với tài nghệ của các nghệ nhân, các kỳ quan thế giới đƣợc thu nhỏ trong vƣờn: núi Phú Sĩ, đền Angco, Kim Tự Tháp, thành nội Huế... DI TÍCH LỊCH SỬ ''VÀM NHỰT TẢO'' Là nơi giao hội giửa sông Vàm Cỏ Đông và sông Nhựt Tảo, Vàm Nhựt Tảo là một vùng sông nƣớc phẳng lặng hiền hòa thuộc xã An Nhựt Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Nhƣng vào ngày 10/12/1861, vàm Nhựt Tảo đã dậy sóng căm hờn nhấn chìm tàu L' Espérance của quân xâm lƣợc Pháp. Ngƣời đã làm nên sự kiện mà nhà thơ Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi là ''oanh thiên địa'' ấy chính là ngƣời anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực. Ông sinh năm 1839 tại xóm Nghề, làng Bình Nhựt, tổng Cửu Cƣ Hạ, huyện Cửu An, phủ Tân An (nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định, ông đã tham gia vào đội nghĩa binh kháng chiến dƣới quyền chỉ huy của Trƣơng Định và đƣợc cử về hoạt động chống Pháp trên địa bàn phủ Tân An. Đƣợc sự giúp đở của hƣơng chức làng Nhựt Tảo ông đã bố trí một kế hoạch táo bạo, thông minh để đánh tàu L' Espérance, một tiểu hạm chủa Pháp đang hoành hành trên vùng sông nƣớc huyện Cửu An.Sáng ngày 10/12/1861, sau khi bố trí lực lƣợng phục kích trên bờ và dụ cho một bộ phận địch rời khỏi tàu, Nguyễn Trung Trực đã cùng 59 nghĩa quân lên 5 chiếc ghe giả làm ghe buôn lúa tiến sát tàu địch. Trong lúc trình giấy thông hành, ông đã bất ngờ giết tên lính Pháp rồi cùng nghĩa quân tấn công lính Pháp trên tàu L' Espérance. Không kịp trở tay, toàn bộ địch trên tàu bị tiêu diệt ( chỉ có 5 tên chạy thoát). Nghĩa quân dùng dầu và đồ dẩn hỏa đốt cháy tàu L' Espérance. Ngọn lửa bốc cao từ từ nhấn chìm tàu xuống đáy sông sâu. Tin chiến thắng Nhựt Tảo bay đi làm nức lòng quân dân cả nƣớc. Triều đình Huế đã thăng Nguyễn Trung Trực lên chức Quản Cơ, hậu thƣởng cho nghĩa quân, cấp tử tuất và hổ trợ tiền cho làng Nhựt Tảo (bị quân Pháp triệt hạ). Thực dân Pháp cũng hết sức bàng hoàng vì chúng không thể ngờ rằng nghĩa quân có thể gây cho chúng tổn thất lớn nhƣ thế. Để ghi dấu kỷ niệm ''đau thƣơng'' này, Thực dân Pháp đã cho xây dựng một bia tƣởng niệm bên bờ sông Nhựt Tảo .Thời gian lặng lẽ trôi, vàm Nhựt Tảo vẫn còn đó nhƣ gợi lại trong lòng khách vãng lai một
  12. 12. niềm hoài cổ. Tàu L' Espérance sau gần 120 năm nằm yên dƣới đáy sông sâu đã đƣợc khai quật. Tổng số hiện vật thu đƣợc là 89, trong đó có 78 hiện vật gỗ, 8 hiện vật sắt, 2 h iện vật đồng và 1 hiện vật thủy tinh. Qua nghiên cứu các hiện vật gỗ ta còn thấy đầy đủ các bộ phận để hợp thành bộ khung của tàu nhƣ cong đà, be, lƣờn, cột buồm. Tuy đã bị đục để lấy đi phế liệu nhƣng tàu L' Espérance vẩn còn một số mảnh gỗ bọc đồng hiện rõ vết cháy loang lỗ. Tất cả những hiện vật nêu trên đã đƣợc bảo quản và trƣng bày tại Bảo Tàng Long An nhằm giới thiệu khách tham quan trong và ngoài nƣớc những bằng chứng cụ thể về chiến công oanh liệt của ngƣời anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực cách nay hơn một thế kỷ. Ngày nay, nếu xuôi dòng Vàm Cỏ Đông đến địa phận xã An Nhựt Tân, du khách sẽ đƣợc ngắm nhìn vùng sông nƣớc hữu tình vàm Nhựt Tảo. Sông nơi đây khá rộng, dòng nƣớc trong xanh, hai bên bờ là những mái nhà xinh xắn nép mình dƣới rặng dừa nƣớc và một số loài cây hoang dại nhƣ vẹt, bần, đƣớc, mắm. Cách vàm 200m là chiếc cầu treo bắc qua sông Nhựt Tảo nối liền 2 xã An Nhựt Tân và Bình Trinh Đông. Những buổi bình minh đứng trên cầu treo nhìn ra vàm sông ta mới cảm nhận hết vẻ đẹp nhƣ tranh nơi đây. Sƣơng tan là đà trên mặt sông dài nhƣ đƣợc nhuốm hồng bởi ánh bình minh, đó đây văng vẳng tiếng hò khoan dìu đặt của ngƣời dân chài lƣới. Gần vàm là ngôi chợ khá lâu đời, hiện vẩn còn 2 dãy phố lợp ngói khá cổ kính. Đối diện chợ là trụ sở ủy ban nhân dân xã An Nhựt Tân. Khuôn viên ủy ban có bia kỷ niệm chiến thắng Nhựt Tảo đƣợc xây dựng năm 1980. Nói chung dƣới sự tác động của thiên nhiên và con ngƣời hơn một thế kỷ qua, di tích vàm Nhựt Tảo đã có sự thay đổi nhất định so với thời điểm xảy ra trận đánh ngày 10/12/1861. Tuy nhiên những gì còn hiện hữu ở vàm Nhựt Tảo cũng đã minh chứng tài năng quân sự của Nguyễn Trung Trực- ngƣời đầu tiên duy nhất đánh chìm đƣợc một tiểu hạm trong cuộc kháng chiến chống Pháp nửa cuối thế kỷ XIX. Chiến thắng Nhựt Tảo cũng cho thấy rằng ta có thể đánh bại quân xâm lƣợc bằng mƣu trí và lòng dũng cảm dù chỉ đƣợc trang bị vũ khí thô sơ. Mặt khác ''trận hỏa hồng Nhựt Tảo'' chính là biểu tƣợng của tinh thần yêu nƣớc, bất khuất trƣớc ngoại xâm của nhân dân ta. Chính những ngƣời ''dân ấp, dân lân'' chỉ vì ''mến nghĩa'' mà đứng lên đánh Pháp đã làm nên chiến thắng vang dội Nhựt Tảo trong khi Triều đình Huế vì yếu hèn đã vội cầu hòa, cắt đứt một phần giang sơn gấm vóc cho quân xâm lƣợc. 135 năm sau ngày Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu L' Espérance, vàm Nhựt Tảo đã đƣợc Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích Quốc gia năm 1996 bởi những giá trị, ý nghĩa sâu sắc chứa đựng trong đó. Một dự án tôn tạo di tích quy mô đã đƣợc Ủy ban nhân dân tỉnh Long An phê duyệt và bƣớc đầu thực hiện. Trong tƣơng lai, đền thờ, tƣợng đài anh hùng dân chài Nguyễn Trung Trực và những hạng mục công trình khác sẽ đƣợc xây dựng bên bờ vàm Nhựt Tảo, sẽ làm cho vùng sông nƣớc nên thơ này không những có ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị tham quan du lịch. Tour du lịch Tân An - Mộc Hóa (Đồng Tháp Mƣời): Đây là tuyến du lịch sinh thái là chủ yếu, có thể kết hợp bằng cả hai phƣơng tiện bộ và thủy. Tuyến du lịch này có thể tham quan một số điểm nhƣ sau: Lăng mộ Cụ Nguyễn Huỳnh Đức-Bảo Tàng Long An-Cảnh quan sông Vàm Cỏ Tây-Khu Núi Đất Mộc Hóa-Cửa khẩu Bình Hiệp-Chùa Nổi-Hệ sinh thái Rừng Tràm-Cảnh quan đầm
  13. 13. sen-Chiến khu Nhơn Hòa Lập-Di tích khảo cổ Gò Bắc Chiêng, Gò Bảy Liếp-Trung Tâm Nghiên cứu bảo tồn và phát triển dƣợc liệu Đồng Tháp Mƣời.,v..v ... Hiện nay, Công ty Du lịch Long An mở tuyến du lịch đi Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển dƣợc liệu Đồng Tháp Mƣời. Đây là tuyến du lịch sinh thái khám phá thiên nhiên Đồng Tháp Mƣời với những nét đặc trƣng nhƣ sau: + Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển dƣợc liệu Đồng Tháp Mƣời thuộc xã Bình Phong Thạnh, huyện Mộc Hóa-cách thành phố Hồ Chí Minh 110 km, cách thị xã Tân An 60 km đƣờng bộ và 45 phút chạy tàu du lịch-có diện tích 1.041 ha, trong đó có 800 ha rừng tràm nguyên sinh, hồ nƣớc rộng 100 ha (vào mùa khô). Trung tâm nghiên cứu các dƣợc liệu từ cây cỏ vùng Đồng Tháp Mƣời nhƣ dầu tràm, mật ong, v..v... + Sản phẩm du lịch chính tại đây là ngắm chim, cò với mật độ dày đặc, nhất là trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 3 (cao điểm trong tháng 11), đi tắc ráng trong kênh, rạch tìm hiểu về thực vật (đặc biệt các cây thuốc) và địa lý Đồng Tháp Mƣời. Đến Trung tâm, quý khách sẽ đƣợc phục vụ những món ăn dân dã đặc trƣng của vùng Nam bộ từ nguyên liệu có sẵn tại chỗ, du khách có thể mua sắm các sản vật của Trung tâm nhƣ mật ong, cá khô, dƣợc phẩm,.v.v... Nếu có nhu cầu quý khách cũng có thể nghỉ lại qua đêm để thƣởng thức cảnh quan thiên nhiên vùng Đồng Tháp Mƣời về đêm đầy thơ mộng. Sau khi tham quan Khu Trung tâm, quý khách sẽ đƣợc đến tham quan Cửa khẩu Bình Hiệp (tiếp giáp nƣớc bạn Campuchia). 2/. Tour du lịch Tân An - Cần Giuộc - Cần Đƣớc: Đây là tour du lịch mang tính lịch sử nhân văn, phƣơng tiện đi lại có thể cả đƣờng bộ và đƣờng thủy với cự ly ƣớc khoảng 50 km. Tour du lịch này sẽ tham quan một số điểm nhƣ sau: Lăng mộ Cụ Nguyễn Huỳnh Đức-Bảo Tàng Long An-Khu lƣu niệm Cụ Nguyễn Trung Trực (Nhật Tảo)-Nhà Trăm cột-Chùa Tôn Thạnh-Đồn Rạch Cát-Chùa Núi-Hệ sinh thái Rừng ngập mặn.v.v... 3/. Tour du lịch Tân An - Đức Hòa - Đức Huệ: Các điểm du lịch chủ yếu là: Lăng mộ Cụ Nguyễn Huỳnh Đức-Bảo Tàng Long An- Ngả Tƣ Đức Hòa-Di chỉ khảo cổ Óc-Eo-Khu di tích lịch sử cách mạng Bình Thành- Cửa khẩu Tho Mo,.v..v.. Sông Vàm Cỏ Đông Chảy từ biên giới Campuchiatại xã Biên Giới, huyện Châu Thànhrồi qua các huyện Châu Thành, Bến Cầu, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng. Chiều dài hơn 150 km. Tại Tây Ninh, Vàm Cỏ Đông chảy từ phía tây bắc hƣớng Bến Cầu có cảng Bến Kéo qua Gò Dầu Hạ, rồi xuôi hƣớng đông nam chảy qua thị trấn Bến Lức của tỉnh Long An. Sông Vàm Cỏ Đông và Sông Vàm Cỏ Tâyhợp lƣu vào cửa Soài Rạpđổ ra biển. Vì có nhiều nhánh sông nhỏ của Vàm Cỏ Đôngnên nó rất thuận tiện cho việc lƣu thông bằng đƣờng thủy để vận chuyển hàng hóa từ các nơi về Tây Ninh hay ngƣợc lại từ Tây Ninh đến những nơi khác (chủ yếu là các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long), điển hình là tại cảng Bến Kéo (huyện Hòa Thành) rất tấp nập. Sông này nổi tiếng với bài hát cùng tên là bài "Vàm Cỏ Đông" (Sáng tác:Trƣơng Quang Lục, thơ: Hoài Vũ) Lời bài hát Vàm Cỏ Đông Ở tận sông Hồng em có biết Quê hƣơng anh cũng có dòng sông. Anh mãi gọi, với
  14. 14. lòng tha thiết. Vàm Cỏ Ðông, ơi Vàm Cỏ Ðông. Ơi, ơi Vàm Cỏ Đông! Ơi hỡi dòng sông! Nƣớc xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng, Ðuổi Pháp đi rồi nay đuổi Mỹ xâm lăng. Giặc đi đời giặc, sông càng xanh trong. Giặc đi đời giặc, sông càng xanh trong. Ơi, ơi Vàm Cỏ Đông! Ơi hỡi dòng sông! Có anh du kích dũng cảm kiên cƣờng, Lẫn ánh trăng mờ băng lửa đạn qua sông, Diệt tan tàu giặc, giữ gìn quê hƣơng. Diệt tan tàu giặc, giữ gìn quê hƣơng. Vàm Cỏ Ðông đây! Vàm Cỏ Đông đây! Ta quyết giữ từng chiếc xuồng tấm lƣới cây dầm. Từng con ngƣời làm nên lịch sử và dòng sông trong mát quanh năm. Vàm Cỏ Ðông đây! Vàm Cỏ Ðông đây! Ta quyết giữ từng mái nhà nép dƣới rặng dừa. Từng thuở ruộng ngƣời đen màu mỡ tình hò hẹn sớm trƣa. Ở tận sông Hồng em có biết, Quê hƣơng anh cũng có dòng sông. Anh mãi gọi với lòng tha thiết. Vàm Cỏ Ðông, ơi Vàm Cỏ Ðông. Vàm Cỏ Ðông, ơi Vàm Cỏ Ðông. LĂNG MỘ VÀ ĐỀN THỜ NGUYỄN HUỲNH ĐỨC Cách Thị xã Tân An 3,5km về phía Tây, lăng Nguyễn Huỳnh Đức là một trong những kiến trúc lăng mộ cổ nhất ở Long An còn tồn tại gần nhƣ nguyên vẹn cho đến ngày nay. Đây là một quần thể kiến trúc bao gồm các công trình chính nhƣ cổng, lăng mộ, đền thờ Kiến Xƣơng Quận công Nguyễn Huỳnh Đức, một công thần khai quốc của Triều Nguyễn. Khuôn viên lăng Nguyễn Huỳnh Đức có diện tích hơn 3000m2, đƣợc giới hạn bởi tƣờng rào, có cổng tam quan mở về hƣớng Đông, trên cổng đắp nổi dòng chữ ''Tiền quân phủ''. Lăng Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức đƣợc xây dựng năm 1817 (trƣớc khi ông mất) bằng đá ong và vữa tam hợp theo hƣớng bắc-nam. Lăng đƣợc xây dựng theo lối cổ, đăng đối nghiêm ngặt, có vòng thành hình chữ nhật dài 35m, rộng 19m, cao1,2m, dày 0,4m bao quanh. Án ngữ lối vào mộ ở phía bắc tƣờng thành là bình phong đá ong cao 3m có đắp nổi hoa văn mai - lộc. Từ bình phong có đƣờng thần đạo dài 17m dẩn đến phần chính của mộ gồm biểu thành, các trụ biểu, hai bình phong và bia mộ. Trên hai bình phong có khắc 2 bài văn tế Nguyễn Huỳnh Đức của Trịnh Hoài Đức và Trấn thủ Định Tƣờng Nguyễn Văn Phong. Toàn bộ ngôi mộ đƣợc trang trí hoa văn rồng, hoa lá, mặt trời, mây, hoa sen và nhiều câu đối chữ Hán. Nổi bật trong ngôi mộ là bia đá cao 1,56m, rộng 0,95m đƣợc mang vào từ Huế. Mặt bia có dòng chử hán: ''Việt Cố Khâm Sai Gia Định Thành Tổng Trấn, Chƣởng Tiền Quân, Tặng Thôi Trung Dực Vận Công Thần, Phụ Quốc Thƣợng Tƣớng Quân, Thƣợng Trụ Quốc, Thái Phó Nguyễn Huỳnh Quận Công Chi Mộ''. Phía sau bia là nơi chôn cất thi hài Nguyễn Huỳnh Đức với một nấm mộ phẳng dài 3,4m, rộng 2,7m, cao 0,3m. Xung quanh mộ là những cây sứ cổ thụ tỏa hƣơng ngào ngạt tạo nên vẻ thâm nghiêm cho nơi an nghĩ của một đại thần khai quốc. Nói chung lăng mộ Nguyễn Huỳnh Đức đƣợc xây dựng theo lối kiến trúc đầu đời Nguyễn: giản dị mà hùng tráng. Cách mộ 20m về phía Nam là đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức. Từ năm 1819 đến 1959, gia tộc thờ ông trong ngôi nhà xƣa do Vua Gia Long sai ngƣời dựng cách ngôi mộ khoảng 500m. Vào năm 1959, để tiện cho việc thờ cúng, gia tộc đã xây dựng ngôi đền thờ mới này theo kiểu tứ trụ, 2 tầng mái, cửa gỗ trông ra hƣớng Đông. Ngay sau cửa chính đền thờ có đặt hƣơng án chạm rồng, phụng, hoa lá sơn son thếp vàng, phía trên có bức họa truyền thần Tiền quân
  15. 15. Nguyễn Huỳnh Đức đƣợc vẽ năm 1802. Phía sau hƣơng án có bộ ván độc mộc dài 3,4m - rộng 1,8m- dày 0,14m có niên đại hơn 300 năm vốn là di vật của ngƣời đã khuất. Trong cùng là bàn thờ chính với khánh thờ đặt trên hƣơng án và chiếc hộp sơn son đựng 8 bản chiếu, chỉ, chế, sắc của các triều Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức phong tặng cho tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức. Bên trong đền thờ còn bố trí 3 bộ lỗ bộ, tàn lọng và 4 cặp liễn đối ca ngợi sự nghiệp của Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức do Vua Gia Long ngự ban. Ngoài ra những hiện vật cổ có niên đại thế kỷ XVIII và XIX còn đƣợc lƣu giữ trong đền thờ nhƣ: đoản kỷ Vua Xiêm tặng năm 1798, Khánh lệnh đồng Vua Gia Long tặng năm 1819, bức hoành ''Vạn Lý Danh'' Vua Tự Đức tặng năm 1854. Phía sau đền thờ là ngôi chánh điện lợp ngói lƣu ly xanh đƣợc gia tộc xây dựng năm 2000 theo bản vẽ của Kiến trúc sƣ Nguyễn Bá Lăng (nguyên viện trƣởng Viện khảo cổ Sài Gòn). Trƣớc đây vào năm 1972 gia tộc đã cho xây dựng 2 cổng lớn ở hai đầu con đƣờng vòng cung dẫn vào lăng với thiết kế giống nhau theo kiểu cổng tam quan truyền thống. Trên cổng có hàng chữ Hán ''Tiền quân phủ'' và ''Lăng Nguyễn Huỳnh Đức'' bằng đồng. Nhìn từ xa, cổng lăng toát lên vẻ đƣờng bệ, uy nghi nhƣ chào đón khách tham quan. Trong dân gian và sử sách, cuộc đời của Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức đã trở thành huyền thoại. Ông có tên thật là Huỳnh Tƣờng Đức, sinh năm 1748 tại làng Tƣờng Khánh- huyện Kiến Hƣng (nay là xã Khánh Hậu - Thị xã Tân An) trong một gia đình võ tƣớng đã 3 đời. Ông theo phò Nguyễn Ánh từ năm 1780 lập nhiều công trạng lớn, đƣợc ban họ vua và giữ nhiều chức vụ quan trọng nhƣ: Chƣởng Hậu Quân, Chƣởng Tiền Quân, Tổng Trấn Gia Định Thành, Tổng Trấn Bắc Thành, tƣớc Quận Công. Tƣơng truyền ông là ngƣời trung cang, nghĩa khí, võ nghệ cao cƣờng, mọi ngƣời đều gọi là ''Hổ tƣớng''. Ông mất vào ngày 9/9/1819, đƣợc dân gian xem nhƣ một vị thần. Hằng năm vào 3 ngày 7-8-9 / 9 âm lịch, nhân dân trong vùng tề tựu cùng gia tộc làm lễ cúng ông hết sức trọng thể. Truyền thống này đã đƣợc kế tục từ năm 1819 cho đến nay. Đến tham quan di tích lăng Nguyễn Huỳnh Đức chúng ta đƣợc chiêm ngƣỡng nghệ thuật kiến trúc lăng mộ đầu đời Nguyễn và những cổ vật quý giá cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Ta còn đƣợc biết đến cuộc đời và sự nghiệp của một ''Hổ tƣớng'' lừng danh đất Ba Giồng và cũng là ngƣời có công khai phá Giồng Cai Én (Khánh Hậu), đƣợc nhân dân tôn thờ nhƣ một vị Tiền Hiền. Với những ý nghĩa ấy, ngay từ đầu thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa đã liệt hạng lăng Nguyễn Huỳnh Đức là 1 trong 404 cổ tích ở Đông Dƣơng. Bộ Văn hóa Thông tin nƣớc Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đã ra quyết định công nhận lăng Nguyễn Huỳnh Đức là di tích Quốc gia ngày 11/5/1993 (số quyết định 534-QĐ/BT). Gạo Nàng thơm Chợ Đào Chợ Đào thuộc xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đƣớc, tỉnh Long An. Gạo Nàng thơm chợ Đào hạt thon dài, chà trắng ra, bên trong có hột lựu hồng hồng. Gạo mới gặt, chà xong nhƣ có một lớp dầu, đƣa tay vào bao gạo, giở tay lên gạo bòn bám trên tay mình. Gạo có mùi rất thơm, vào bao nylon để 4 đến 5 tháng mang ra nấu vẫn thơm lừng. Nhƣng để đến 10 tháng thì mùi thơm sẽ nhạt, hạt gạo cứng dần, độ dẻo và độ xốp không cao nữa. Gạo Nàng thơm chợ Đào một năm cấy đƣợc một mùa. Lúa gieo tháng 6, 7 đến ngày đông chí thì đồng loạt trổ bông, đến 20 tháng Chạp thì gặt đƣợc. Lúa cho dù
  16. 16. có cấy sớm trƣớc 1, 2 tháng thì nó cũng chờ đến ngày tiết đông chí mới trổ. Do vậy, mỗi năm chỉ trồng đƣợc một vụ. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc Năm 1858, thực dân Phápnổ súng xâm lƣợc Việt Nam. Sau khi chiếm đƣợc thành Gia Địnhvào đầu năm 1859, quân Pháp bắt đầu một quá trình mở rộng tấn công ra các vùng lân cận nhƣ Tân An, Cần Giuộc, Gò Công v.v. Nhân dânNam Bộcăm phẫn và sục sôi tinh thần chống Pháp. Đêm ngày 16 tháng 12năm 1861, đúng rằmtháng 11năm Tân Dậu, theo diễn tả trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, mặc dù "chỉ là dân ấp, dân lân", "ngoài cật có một manh áo vải", "trong tay cầm một ngọn tầm vông" nhƣng những nghĩa sĩnông dânđã quả cảm tập kíchđồn giặc ở Cần Giuộc, tiêu diệt đƣợc một số quan quân của Pháp và tri huyện"tay sai". Khoảng hai mƣơi nghĩa sĩ hi sinh. Tấm gƣơng đó đã gây nên niềm xúc động lớn trong nhân dân. Đỗ Quang, tuần phủ Gia Định, giao cho Nguyễn Đình Chiểu làm bài văn tế để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ hi sinh trong trận này. Vẻ đẹp bi tráng mà giản dị của hình tƣợng ngƣời nghĩa sĩ nông dân Cần Giuộc và thái độ cảm phục, xót thƣơng của tác giả đối với họ. Với nội dung chân thật và tình cảm xót xa, bài văn tế có một sức truyền cảm mạnh mẽ, đƣợc Bộ Lễ của triều đình Huế cho sao và truyền đi khắp nƣớc để động viên tinh thần chiến đấu của ngƣời dân chống thực dân Pháp. Qua do khich le co vu cho cac tang lop dau tranh gianh doc lap sau nay. Tính chất trữ tình, thủ pháp tƣơng phản,phức tạp hóa và việc sử dụng ngôn ngữ. Tác phẩm là một bản anh hùng ca vừa thiêng liêng vừa hùng hồn Hai câu đầu của bài văn tế khái quát khung cảnh bảo táp của thời đại - phản ánh biến cố chính trị lớn lao chi phối toàn bộ thời cuộc. Đó là cuộc đụng độ giữa thế lực xâm lăng tàn bạo của thức dân Pháp và ý chí chiến đấu kiên cƣờng để bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta. Hiện lên trên cái nền tảng ấy là hình ảnh của động quân áo vãi đƣợc khắc họa hoàn toàn bằng bút pháp hiện thực, không theo ƣớc lệ của văn học trung đại, không bị chi phối bởi kiểu sáng tác lý tƣởng hóa. Điều đáng chú ý là những chi tiết chân thực đều đƣợc chọn lọc rất tinh tế, nên đậm đặc chất sống, mang tính chất khái quát đặc trƣng cao: "Vốn chẳng phải quân cờ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ. ... Ngòai cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi; trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm đao tu, nón gõ. Chính với những hình ảnh trên mà bức tƣợng đài ánh lên một vẻ đạp mộc mạc, chân chất và hết sức độc đáo. Cao Văn Lầu Ông Cao Văn Lầu tức Sáu Lầu sinh ngày 22/12/1892 tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, sau sát nhập với làng Thuận Lễ trở thành xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Năm 1901, ông Cao theo gia đình đến lập nghiệp tại Bạc Liêu rồi ở luôn tại đây cho đến hết đời (ông qua đời ngày 13/8/1976). Thuở nhỏ, ông học chữ nho rồi học chữ quốc ngữ đến "lớp nhì năm thứ hai" (Cours moyen 2e année) tức lớp 4 ngày nay; sau đó quy y tại chùa Vĩnh Phƣớc - Bạc Liêu. Sau khi rời cửa Phật, ông học nhạc lễ và là một trong những môn đệ giỏi về nhạc lễ của nhạc sƣ Lê Tài Khị (Nhạc Khị). Ông sử dụng rành rẽ đàn tranh, cò, kìm và trống lễ. Nhắc đến ông, ngƣời ta nhớ ngay đến bản Dạ cổ hoài lang (1919) đƣợc xem là tiền thân của bản vọng cổ ngày nay. Ông viết bản nhạc trên gồm 20 câu, nhịp 2 để trút cạn nỗi niềm tâm sự.
  17. 17. Nỗi niềm ấy đã nhiều lần ông thổ lộ với bạn tri âm: "Tôi đặt bài này bởi tôi rất thƣơng vợ. Năm viết bản Dạ cổ hoài lang, tôi đã ăn ở với vợ tôi đƣợc 3 năm mà không có con. Tam niên vô tử bất thành thê. Vợ chồng ăn ở với nhau trong 3 năm, vợ không sinh con, chồng đƣợc quyền bỏ để cƣới ngƣời khác hầu có con nối dõi tông đƣờng. Thời phong kiến có những quan niệm chƣa đúng. Ngƣời ta cho rằng vợ chồng không sinh con là do lỗi của ngƣời đàn bà. Tiếng ra, tiếng vào của gia đình buộc tôi phải thôi vợ, nhƣng tôi không đành. Tôi âm thầm chống lại nghiêm lệnh của gia đình, không đem vợ trả về cho cha mẹ mà đem gởi đến một gia đình có tấm lòng nhân hậu, xót thƣơng cho vợ chồng tôi gặp phải cảnh đau lòng mà cho ở đậu qua ngày, với hy vọng vợ chồng tôi sẽ có con và chiến thắng cái quan niệm khắc nghiệt, lạc hậu, chịu ảnh hƣởng nặng đạo lý thời phong kiến”. Trong thời gian dài, phu thê phải cam chịu cảnh “Đêm đông gối chiếc cô phòng", tâm tƣ nặng trĩu u buồn nên nhạc sĩ Sáu Lầu đêm đêm mƣợn tiếng đàn nắn nót đôi câu bớt cơn phiền muộn. Ông thừa hiểu ngƣời bạn đời cũng đau xót nhƣ ông. Bản Dạ cổ hoài lang ra đời trong bối cảnh nhƣ thế. Trong thời gian tác phẩm chƣa hoàn chỉnh, nhạc sĩ Sáu Lầu cùng anh em tài tử địa phƣơng đàn tới đàn lui bản này, lấy ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp về phƣơng diện sáng tác. Chuông, trống "công phu" ngân vang khiến anh em nhạc sĩ đất Bạc Liêu nhớ lại hồi chín, mƣời tuổi, ông Sáu Lầu quy y làm "Sa di" tại chùa Vĩnh Phƣớc. Chú tiểu từng đánh trống, dộng chuông công phu hai buổi sớm chiều. Do đó, anh em đề nghị thêm hai chữ "Dạ cổ" (tiếng trống về đêm) cho ý nghĩa thêm sâu đậm. Ông Sáu hoan nghênh nên bản nhạc có tên hoàn chỉnh là "Dạ cổ hoài lang", tức "Đêm nghe tiếng trống nhớ chồng". Dạ cổ hoài langkhởi điểm từ nhịp 2. Đó là đứa con của nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Nhƣng khi Dạ cổ hòa nhập vào sân khấu cải lƣơng thì hai soạn giả tiền phong góp công đầu để biến bản nhạc này từ nhịp 2 trở thành nhịp 4 là Huỳnh Thủ Trung (tức Tƣ Chơi) và Mộng Vân (Trần Tấn Trung). Tiếng nhạn kêu sươnglà bản Vọng cổ hoài lang nhịp 4 đầu tiên do soạn giả Huỳnh Thủ Trung (1907-1964) sáng tác vào năm 1925. Trên những chặng đƣờng phát triển, khi Vọng cổ hoài lang đƣợc nâng lên nhịp 8 (từ khoảng năm 1934 đến 1944) thì nó có tên mới là Vọng cổ, không còn đuôi hoài lang. Từ khoảng 1944-1954, vọng cổ tăng lên nhịp 16; thời kỳ kế tiếp: 1955 - 1964: tăng lên nhịp 32 rồi nhịp 64 từ năm 1965 đến nay. Hậu thế đã nhận định nhƣ sau: Nhạc sĩ Cao Văn Lầu là cha đẻ Dạ cổ hoài lang khởi điểm từ nhịp 2. Bản Vọng cổ từ nhịp 4 trở đi, trên những chặng đƣờng phát triển, thuộc công trình chung của tài tử tứ phƣơng. Còn ông tổ cải lƣơng dứt khoát không phải là Cao Văn Lầu. Bản Dạ cổ hoài lang chào đời năm 1919, trong khi sân khấu cải lƣơng ra đời khoảng năm 1916. Sài Gòn - Mỹ Tho, con đƣờng sắt xƣa nhất Đông Dƣơng Ngay sau khi xâm chiếm xong Việt Nam, ngƣời Pháp đã nhanh chóng hoạch định xây dựng tuyến đƣờng sắt đi các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhằm khai thác vùng đất giàu có này. Ý đồ ban đầu của họ là xây dựng tuyến đƣờng sắt đến Vĩnh Long, sau đó nối tiếp tới Phnom Penh, Campuchia. Tuy nhiên sau những cuộc tranh luận kéo dài về hiệu quả kinh tế và sự cần thiết xây dựng tuyến đƣờng sắt, ngƣời Pháp đã quyết định, trƣớc mắt chỉ xây dựng đƣờng
  18. 18. sắt từ Sài Gòn tới Mỹ Tho – con đƣờng sắt đầu tiên của Đông Dƣơng. Đầu năm 1881, chuyến tàu thuỷ đầu tiên chở nguyên vật liệu từ Pháp sang xây dựng tuyến đƣờng cập cảng Sài Gòn. Vào giữa năm, công trƣờng hình thành với 11.000 lao động đƣợc huy động. So với công trƣờng làm đƣờng bộ cùng thời gian này, công trƣờng đƣờng sắt Sài Gòn – Mỹ Tho là công trƣờng đƣợc tổ chức quy mô hơn, tiến hành rất khẩn trƣơng, và có mặt nhiều sĩ quan công binh tại chỗ cùng nhiều kỹ sƣ từ Pháp sang. Để đƣa tàu hoả vƣợt qua các con sông lớn vì lúc này chƣa xây dựng đƣợc cầu, biện pháp kỹ thuật đƣợc kỹ sƣ Têvơnê, giám đốc Sở Giao thông công chánh Nam Kỳ lúc đó đề xuất là dùng phà. Chiếc phà khổng lồ máy hơi nƣớc chở đƣợc 10 toa xe (tƣơng tự nhƣ phà mà Pháp đã làm để đƣa tàu vƣợt sông Gianh sau này), đƣợc lắp đặt đƣờng ray và một thiết bị để nối đƣờng ray trên mặt đất với ray phà. Chiều rộng đƣờng sắt khổ 1 mét, là khổ đang đƣợc sử dụng rộng rãi thời bấy giờ trong ngành đƣờng sắt Anh, Pháp. Ngƣời Pháp dự tính tuyến đƣờng sắt này là một phần của tuyến Sài Gòn - Cần Thơ (để sau đó sẽ nối tuyến đi tiếp qua Phnom Penh , Campuchia). Nhƣ vậy ngay từ đầu ngƣời Pháp đã có ý niệm rõ ràng về xây dựng tuyến đƣờng sắt nối đô thị trung tâm là Sài Gòn với các đô thị khác ở đồng bằng sông Cửu Long để hình thành nên vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, và trên diện rộng là nối kết các vùng kinh tế của các nƣớc thuộc địa với nhau. Những năm tiếp sau, các tuyến đƣờng sắt đƣợc xây dựng là: Sài Gòn - Hà Nội, Sài Gòn - Lái Thiêu - Thủ Dầu Một - Lộc Ninh và Sài Gòn - Gò Vấp - Hóc Môn. Rộng hơn, Sài Gòn – Mỹ Tho là tuyến đầu tiên của kế hoạch hình thành hệ thống đƣờng sắt nối vào hệ đƣờng sắt quốc tế, dự định nhƣ sau: Sài Gòn - Mỹ Tho - Cần Thơ - Bạc Liêu - Cà Mau ; tuyến Cần Thơ - Châu Đốc - Phnom Penh - Bat Đom boong - Bangkok - Miến Điện - Ấn Độ và các nƣớc Trung Đông (tuyến này đã có sẵn đƣờng quốc tế) ; tuyến Bangkok - Mã Lai và tuyến Bangkok-Nakhon (Thái Lan) - Vientiane. Đặc biệt tuyến cuối cùng này sẽ qua Udon của Thái Lan là nơi rất nhiều ngƣời Việt sinh sống. Tuyến này có lợi cho phát triển kinh tế của Việt Nam , đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời giữ quan hệ thân hữu với Lào và Campuchia (họ sẽ có đƣờng thoát ra biển ở Cần Thơ và Sài Gòn). Thế nhƣng do chiến tranh nên các tuyến liên vận quốc tế này đã không đƣợc xây dựng. Theo nhà sử học Nguyễn Đình Đầu, công ty Eiffel trực tiếp thi công, sau bốn năm, tuyến đƣờng sắt Sài Gòn – Mỹ Tho dài 70 km đã hoàn thành sau khi tiêu tốn 11,6 triệu franc. Ông Đầu cho biết, khó khăn khi làm tuyến đƣờng này không thuộc về đền bù đất đai nhƣ bây giờ, vì lúc đó nhà nƣớc có chế độ đất công, đất tƣ rất rõ ràng. Theo ông Đầu, khó nhất là do những yếu tố thuộc tâm linh. Tuyến đƣờng chạy qua gò bãi, bãi tha ma, dân sợ động long mạch, nhà cầm quyền mất nhiều thời gian để giải thích cho dân thông. Điểm khởi đầu xuất phát từ ga Sài Gòn (tại vị trí nay là công viên 23-9) tuyến đi theo các đƣờng : Cống Quỳnh - Phạm Viết Chánh – Hùng Vƣơng – Hồng Bàng – Kinh Dƣơng Vƣơng – Ngã ba An Lạc - Quốc lộ 1 (đi bên trái và sát QL1 theo hƣớng Sài Gòn – Cần Thơ). Đến khu vực Bình Điền (Bình Chánh) tuyến tách xa QL1 và vƣợt sông Chợ Đệm ở vị trí cách cầu Bình Điền đƣờng bộ về phía hạ lƣu khoảng 300 m,
  19. 19. sau đó tuyến lại cặp sát bên trái QL1 cho đến khu vực Bến Lức thuộc tỉnh Long An. Sau khi vƣợt sông Vàm Cỏ Đông, tuyến cắt qua QL1, sang bên phải và tiếp tục đi cặp sát QL1 cho đến thị xã Tân An, vƣợt sông Vàm Cỏ Tây bằng cầu đƣờng sắt Tân An, cắt qua QL1 về bên trái và tiếp tục đi cặp sát QL1, cắt qua ngã ba Trung Lƣơng, chạy dọc theo tỉnh lộ 62 và kết thúc tại ga Mỹ Tho nằm sâu trong thành phố, sát cạnh chợ. Tổng cộng có 15 ga đã đƣợc xây dựng trên tuyến gồm: Sài Gòn, An Đông, Phú Lâm, An Lạc, Bình Điền, Bình Chánh, Gò Đen, Bến Lức, Bình An, Tân An, Tân Hƣơng, Tân Hiệp, Lƣơng Phú, Trung Lƣơng, Mỹ Tho. Nhƣ vậy bình quân 4,7 km có một ga, cự ly ngắn giữa các ga thể hiện tính chất vận tải khách ngoại ô của tuyến đƣờng sắt này. Vị trí ga Mỹ Tho đƣợc ngƣời Pháp lựa chọn tạo nên đầu mối giao thông sắt - thuỷ - bộ. Chuyến tàu đầu tiên-Ngày 20-7-1885 chuyến tàu đầu tiên xuất phát từ ga Sài Gòn, vƣợt sông Vàm Cỏ Đông bằng phà tại Bến Lức, đến ga cuối cùng tại trung tâm thành phố Mỹ Tho đánh dấu sự ra đời của ngành đƣờng sắt Việt Nam. Nhà sử học Nguyễn Đình Đầu cho biết, trong chuyến tàu khai trƣơng, ngƣời Pháp dùng đầu máy mang tên Vaico, tức là Vàm Cỏ (nhƣng khi phiên ra tiếng Pháp đã bị viết sai). Mỗi ngày có bốn cặp chạy trên tuyến đƣờng này, chuyến đầu tiên xuất phát từ Mỹ Tho lúc 1 giờ 30 sáng, đến Sài Gòn 5 giờ sáng. Ở Sài Gòn, chuyến Sài Gòn – Mỹ Tho cũng sẽ xuất phát trùng giờ. Chuyến thứ 2 lúc 9 giờ sáng, chuyến thứ ba lúc 1 giờ chiều và chuyến 6 giờ tối. Vì phải vƣợt phà, mỗi chuyến chạy mất ba tiếng rƣỡi. Đến tháng 5-1886 cầu trên tuyến đƣờng sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đã hoàn thành cho phép tàu chạy một mạch tới Mỹ Tho, thời gian chạy rút xuống còn 2 tiếng rƣỡi. Số lãi thu đƣợc từ tuyến đƣờng sắt này tính đến năm 1896 là 3,22 triệu franc, đến năm 1912 là hơn 4 triệu franc. Lý do, theo ông Nguyễn Đình Đầu, là trƣớc đây, tuyến này rất lãi, nhƣng thập kỷ 50 của thế kỷ 20, xe hơi phát triển cùng với hệ thống đƣờng bộ Sài Gòn - Mỹ Tho đƣợc đầu tƣ gần nhƣ xa lộ nên ngƣời ta chuyển sang đi đƣờng bộ. Có những ngày toàn đoàn tàu chỉ có vài chục ngƣời, lỗ quá nên nhà nƣớc bỏ tuyến đƣờng này đi. Sau 73 năm tồn tại, năm 1958, tuyến đƣờng sắt này đã bị chính quyền Sài Gòn cũ cho ngƣng chạy tàu. Hiện nay toàn bộ tuyến đƣờng sắt Sài Gòn – Mỹ Tho đã bị tháo dỡ, ngay cả ga Sài Gòn cũng bị dời ra Hoà Hƣng. Trên đại lộ Hùng Vƣơng thỉnh thoảng còn lộ ra vài đoạn đƣờng ray cũ chƣa bị tháo dỡ. Nền đƣờng sắt dọc Quốc lộ 1 từ thành phố Hồ Chí Minh đến Mỹ Tho nhƣờng chỗ cho việc mở rộng QL 1 hoặc đã bị những khu dân cƣ, khu công nghiệp dọc tuyến lấn chiếm. Cầu cống dọc tuyến bị tháo dỡ hoàn toàn, tại vị trí các cầu lớn nhƣ cầu Bình Điền, cầu Bến Lức, cầu Tân An chỉ còn các mố hai bên bờ sông, các trụ cầu đã bị phá bỏ để nhƣờng chỗ cho giao thông thuỷ. Sau 125 năm, chỉ còn một nhà ga duy nhất tên Gò Đen (xã Long Hiệp, Bến Lức, Long An) sát Quốc lộ 1A và đang nằm trong kế hoạch giải toả. . Lễ Cầu Mƣa: Những năm hạn hán nhân dân tại các vùng sản xuất nông nghiệp của Long An thƣờng tổ chức cầu mƣa, tế lễ trời đất, mong thần linh ban cho mƣa xuống. Lễ cầu mƣa có hai phần: phần lễ theo nghi thức truyền thống và phần hội là các cuộc đua ghe trên sông rạch, cũng có nơi làm lễ rƣớc rồng. Sau khi đua ghe, dân chúng kéo về đình làng làm lễ cúng thần linh
  20. 20. và tổ chức ăn mừng vui chơi. . Công ty Du lịch Long An: Địa chỉ: 748 Quốc lộ 1, khu phố Bình Quân II, phƣờng 4, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.826718 - 072.826425 - Fax: 072.826227. Công ty Cổ phần Du lịch Bông Sen. (đƣợc công nhận 1 sao): Địa chỉ: Số 7 Võ Công Tồn, phƣờng 1, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.821321 - Fax: 072.822985. Công ty có 2 nhà hàng, 33 phòng ngủ, khu massage đƣợc trang bị hiện đại. Khách sạn Phƣơng Nga: Địa chỉ: Số 1/7C đƣờng Hùng Vƣơng, phƣờng 2, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.827288. Khách sạn có 39 phòng. Khách sạn Huỳnh Thảo: Địa chỉ: Số 80 đƣờng Hùng Vƣơng, phƣờng 2, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.827168. Khách sạn có 21 phòng. Nhà hàng - Khách sạn Nhựt Long: Địa chỉ: Số 368 đƣờng Hùng Vƣơng, phƣờng 3, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.833735. Khách sạn có 1 nhà hàng và 35 phòng nghỉ. Nhà hàng - khách sạn Hoài Thƣơng: Địa chỉ: Số 24 đƣờng Lê Văn Tao, phƣờng 2, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.823597. Khách sạn có 1 nhà hàng và 8 phòng nghỉ. Công ty Du lịch lữ hành nội địa ATC: Địa chỉ: 85 Quốc lộ 1, phƣờng 5, thị xã Tân An. Điện thoại: 072.829336. Điện thoại: 072.850216. Khách sạn có 1 nhà hàng và 20 phòng nghỉ. IB. Tx.Tân An – Trung Lƣơng ( 18 Km ) : . Nằm ở Hạ lƣu sông Tiền (một nhánh lớn của sông Cửu Long), tỉnh Tiền Giang có quá trình hình thành và phát triển về địa chất tƣơng tự nhƣ khu vực Nam bộ, với 3 thời kỳ chính: Paleozoi muộn (Cổ sinh muộn), Mesozoi (Trung sinh) và Kainozoi (Tân sinh). Vào cuối Kainozoi, do hoạt động Tân kiến tạo, vỏ đất ở khu vực bị nứt nẻ ở nhiều nơi, sụt lún làm chênh lệch các lớp đá. Hậu quả của chuyển động này là hai khối đƣợc nâng lên. Ở Việt Nam, có khối nâng Nam Trung bộ. Ở Campuchia, có khối nâng Đông Campuchia. Giữa hai khối nâng là khối sụt, gồm những trũng rộng lớn. Sông Cửu Long và những phụ lƣu của nó chảy qua đây, mang theo các vật liệu bùn, sét, cát lấp đầy các trũng để hoàn thành lớp trầm tích Plio-Pleistoxen cách nay khoảng 700.000 năm.(1) Sau đó diễn ra các giai đoạn biển tiến và biển lùi. Cách ngày nay khoảng 6.000
  21. 21. năm, có đợt biển tiến, làm cô lập các giồng cao. Di tích còn lại là giồng Tân Hiệp (huyện Châu Thành).(2) Cách nay khoảng 5.000 năm có hiện tƣợng biển lùi. Mực nƣớc biển rút dần. Trong khoảng 4.000 năm đến 2.700 năm cách ngày nay, dao động biển khá rõ rệt, các cồn cát duyên hải lộ hẳn ra khỏi mặt nƣớc, các thảm thực vật khá đa dạng và thế giới động vật giàu lƣợng loại. Do tác động của sóng và dòng hải lƣu, các đống sò điệp tụ lại các cồn mới nổi lên. Khảo cổ học đã phát hiện tại huyện Cai Lậy các vỉa sò điệp, dấu vết của bờ biển xƣa. (3) Từ khoảng 2.700 năm trƣớc, vùng Tiền Giang đi vào thế ổn định.Vào khoảng trƣớc hoặc đầu Công Nguyên (trên dƣới 2.000 năm trƣớc), những ngƣời đầu tiên đã đến vùng châu thổ sông Cửu Long, trong đó có Tiền Giang để sinh sống. Đây là các tộc ngƣời Indonésien, ngƣời Nam Á hải đảo, thuộc vùng châu Á gió mùa, có cùng nguồn gốc với một số tộc ngƣời ở Tây Nguyên - Việt Nam.(3) Địa bàn cƣ trú chính của họ là vùng châu thổ sông Cửu Long, gồm một phần của miền Đông Nam bộ, một phần nhỏ Nam Campuchia, vùng đất ven vịnh Thái Lan và phía bắc bán đảo Mã Lai. Họ lập nên nhà nƣớc cổ đại đầu tiên ở Đông Nam Á đất liền, đó là vƣơng quốc Phù Nam.(4) Tỉnh Tiền Giang vào những thế kỷ đầu Công Nguyên thuộc vƣơng quốc Phù Nam. Định chế chính trị ban đầu của Phù Nam còn mang nhiều tính chất thị tộc. Triều đại thứ nhất theo truyền thuyết là sự kết hợp giữa hai thị tộc: Mặt trăng của Liễu Diệp và Mặt trời của Hỗn Điền. Dần dần xã hội có sự phân cực giữa các tầng lớp nông dân, thợ thủ công và thƣơng nhân. Tầng lớp tăng lữ là chỗ dựa của triều đình Phù Nam(5). Theo Lương Thư, tộc ngƣời Phù Nam nguyên là “sống trần truồng, xăm mình, tóc buông xuống lƣng, không biết đến y phục, cả(6) trên lẫn phía dƣới”. Cho đến đầu thế kỷ thứ III “họ vẫn trần truồng” trừ phụ nữ đã biết mặc áo đơn sơ, làm bằng một tấm vải có lỗ để chui đầu. Về sau, “đàn ông đóng khố, con nhà quyền quý làm khố bằng gấm”. Khi thiết triều, vua ngồi nghiêng một bên “chân phải co lên, chân trái buông xuống đất”. Ngƣời Phù Nam chịu ảnh hƣởng của Ấn Độ giáo và Phật giáo, hai tôn giáo đƣợc truyền bá dƣới dạng tín ngƣỡng dân gian và trong hình thức định chế hóa (đền thờ, stupa, cung đình…). Xã hội Phù Nam có các tầng lớp nông dân, thợ thủ công, thƣơng nhân và giới tăng lữ(7) Ngƣời Phù Nam có chữ viết. Các minh văn ở Gò Xoài (ấp Bình Tả, xã Đức Hòa Hạ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) và minh văn ở Gò Thành (xã Tân Thuận Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang) cho thấy minh văn đƣợc viết bằng ngôn ngữ Pali lai (Hybrid-Pali), có dấu vết Sanskrit và bằng một thứ văn tự Deccan (Nam Ấn).(8) Phù Nam đƣợc coi là cƣờng quốc thƣơng nghiệp. Từ giữa thế kỷ thứ III, Phù Nam khống chế nền thƣơng nghiệp hàng hải ở Đông Nam Á và bành trƣớng lãnh thổ, đem quân đi chinh phục hơn “10 vƣơng quốc” làm phiên thuộc, trong đó có Lâm Ấp. (9) Nền thƣơng nghiệp phát triển và sự bành trƣớng nhanh chóng về lãnh thổ của Phù Nam đã dẫn đến việc các tiểu vƣơng ở xa dựa vào các thƣơng nhân giàu có để củng cố thế lực tạo ra nạn cát cứ, khiến cho Phù Nam bƣớc vào thời kỳ suy thoái từ giữa thế kỷ thứ VI, hoàn toàn sụp đổ vào khoảng thế kỷ thứ VII. Vùng châu thổ sông
  22. 22. Cửu Long thuộc Phù Nam khi đó trở nên hoang vu. Ngƣời Chân Lạp trƣớc sự bành trƣớng của đế quốc Khmer đã đến vùng Tiền Giang, vùng rìa của Thủy Chân Lạp, gần nhƣ hoang vu, dân cƣ rất thƣa thớt.(10) Một số di tích của ngƣời Phù Nam tại Tiền Giang đƣợc ngƣời Khmer sử dụng, nhƣng hầu hết bị phá bỏ. Có lẽ do chiến tranh kéo dài nhiều thập kỷ giữa hai vƣơng quốc ở giai đoạn Phù Nam suy tàn, ngƣời Chân Lạp đã phá bỏ các vết tích văn hóa của ngƣời Phù Nam, vì thế nhiều kiến trúc lớn đã hoàn toàn sụp đổ. Do dân số quá ít, kỹ thuật canh tác lạc hậu, lại sống trên một vùng đất khắc nghiệt “dƣới sông sấu lội, trên rừng cọp đua”, ngƣời Chân Lạp chƣa tạo đƣợc dấu ấn văn hóa đậm nét trên vùng đất ở phía Bắc sông Tiền. Vào đầu thế kỷ XVII, Jayajettha II lên ngôi ở Chân Lạp(11). Để chấm dứt việc thuần phục nƣớc Xiêm, ông tìm đến chúa Nguyễn tạo ra một thế lực và liên minh mới đối trọng với nƣớc Xiêm qua cuộc hôn nhân với công chúa Ngọc Vạn(12) Nhờ sự hỗ trợ của chúa Nguyễn, Batom Reachea trở thành vua Chân Lạp. Trong lúc châu thổ sông Cửu Long gần nhƣ hoang vu, Batom Reachea cho ngƣời Việt định cƣ, đƣợc quyền sở hữu đất đai mà ngƣời Việt khai phá. Từ thế kỷ XVII, vùng Tiền Giang đƣợc ngƣời Việt, từ miền Trung và miền Bắc, trong đó phần lớn là từ vùng Ngũ Quảng, đến khai hoang và định cƣ. Lịch sử vùng Tiền Giang của 16 thế kỷ sau Công Nguyên vẫn còn ẩn giấu trong lòng đất Tiền Giang. Những cố gắng của ngành khảo cổ học trong việc khảo sát, khai quật một số di tích khảo cổ trong những năm 80, 90 của thế kỷ XX, mới cung cấp đƣợc một số tƣ liệu quí, nhƣng còn ít ỏi về các nền văn hóa cổ tại Tiền Giang. . Tiền Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch. Hàng năm, lƣợng du khách đến đạt hơn 331.500 lƣợt. Thế mạnh của du lịch Tiền Giang chủ yếu nhờ vào các di tích văn hóa lịch sử và sinh thái nhƣ: di tích văn hóa Óc Eo, Gò Thành thế kỷ I đến thế kỷ VI sau công nguyên); di tích lịch sử Rạch Gầm- Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, lũy Pháo Đài; nhiều lăng mộ, đền chùa: lăng Trƣơng Định , lăng Hoàng Gia, lăng Tứ Kiệt, chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, chùa Sắc Tứ… các điểm du lịch sinh thái mới đƣợc tôn tạo nhƣ: vƣờn cây ăn quả ở cù lao Thới Sơn, Ngũ Hiệp, Trại rắn Đồng Tâm, khu sinh thái Đồng Tháp Mƣời, biển Gò Công. Mạng lƣới viễn thông Tiền Giang đƣợc hiện đại hóa và triển khai đồng loạt trong toàn tỉnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt trong nƣớc và quốc tế. Điện lƣới quốc gia đến toàn bộ trung tâm các xã, phƣờng, thị trấn. Lƣợng nƣớc sạch cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt đạt 55.000m3/ngày đêm cho các khu đô thị và nhiều vùng nông thôn. Mạng lƣới giao thông đƣờng bộ khá hoàn chỉnh. Mạng lƣới đƣờng thủy thuận lợi. Trục chính là sông Tiền, chiều dài 120km chảy ngang qua tỉnh về phía Nam và 30km sông Soài Rạp ở phía Bắc, tạo điều kiện cho Tiền Giang trở thành điểm trung chuyển về giao thông đƣờng sông từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đi TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Đông. Về phía Đông, đƣờng biển từ huyện Gò Công Đông đến Bà Rịa- Vũng Tàu khoảng 40km – ( 25 Km ) : . Thành phố Mỹ Tho hiện là đô thị loại II, trực thuộc tỉnh Tiền Giang (đƣợc Thủ tƣớng
  23. 23. Chính phủ công nhận vào ngày 07 tháng 10 năm 2005), là đô thị tỉnh lỵ, nằm ở bờ bắc hạ lƣu sông Tiền. Phía đông và bắc giáp huyện Chợ Gạo, phía tây giáp huyện Châu Thành, phía nam giáp sông Tiền và tỉnh Bến Tre, có diện tích tự nhiên 49,98 km2, trong đó phần diện tích nội thị là 9,17 km2. Dân số thƣờng trú và tạm trú khoảng 215.000 ngƣời, có 15 đơn vị hành chính cơ sở (gồm 11 phƣờng và 04 xã). Thành phố Mỹ Tho có lịch sử hình thành khá sớm. Từ năm 1623 - một bộ phận ngƣời Việt từ Miền Bắc và Miền Trung vào lập nghiệp ở vùng tả ngạn sông Bảo Định (Phƣờng 2, 3, 8 và xã Mỹ Phong, Đạo Thạnh, Tân Mỹ Chánh, hiện nay còn di tích lƣu lại), chủ yếu sống bằng nghề nông và buôn bán. Vào cuối thế kỷ 17, Nam Bộ có hai trung tâm mua bán lớn là Mỹ Tho và Biên Hòa. Thế mạnh của phố chợ Mỹ Tho là mua bán, đặc biệt là hàng nông thủy sản rất dồi dào, chiếm ƣu thế cả vùng. Từ đó đến nay, Mỹ Tho đã không ngừng phát triển, mặc dù đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, nhất là đối với ngành thƣơng mại, đã hơn 300 năm giữ vai trò chợ đầu mối điều phối hàng hóa cho các nơi trong tỉnh cũng nhƣ khu vực đồng bằng sông Cửu Long với thành phố Hồ Chí Minh. Trong chiến tranh, để bảo đảm cho sự chỉ đạo kịp thời của Trung ƣơng với chiến trƣờng trọng điểm Mỹ Tho ngày càng ác liệt, theo đề nghị của Khu 8, năm 1967 - Trung ƣơng Cục Miền Nam đã chuẩn y nâng thị xã Mỹ Tho lên cấp thành phố ngang với cấp tỉnh và trực thuộc Khu 8. Về phía địch, Mỹ Tho cũng là thành phố. Từ ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nƣớc, Mỹ Tho trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Tiền Giang (đƣợc nhập lại từ tỉnh Mỹ Tho - tỉnh Gò Công và thành phố Mỹ Tho). Do có nhiều đóng góp trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nƣớc, sau ngày giải phóng, Nhà nƣớc đã quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng cho nhân dân và lực lƣợng vũ trang thành phố Mỹ Tho. Ngày nay thành phố Mỹ Tho là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh Tiền Giang, là một trong những đô thị đặc trƣng vùng sông nƣớc đồng bằng sông Cửu Long. . Do vị trí hết sức thuận lợi về giao thông thủy - bộ, nằm gần thành phố Hồ Chí Minh và là cửa ngõ về các tỉnh Miền Tây, từ ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng đến nay, Mỹ Tho trở thành tỉnh lỵ và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các vùng của tỉnh và khu vực phát triển. Thành phố là vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh với cơ cấu công nghiệp, xây dựng chiếm tỷ trọng 36,9%, thƣơng mại - dịch vụ chiếm 47,5% và nông, ngƣ nghiệp chiếm 15,6% (số liệu năm 2004), trong đó ngƣ nghiệp chiếm khoảng 20% với đoàn tàu đánh bắt 400 phƣơng tiện, đƣợc trang bị khá hiện đại các thiết bị đánh bắt và phục vụ đánh bắt. Về kinh tế: tốc độ tăng trƣởng GDP bình quân từ năm 1995 đến nay trên 10%; giá trị công nghiệp xây dựng trên địa bàn đến năm 2006 khoảng 1.000 tỷ đồng, thu ngân sách 150 tỷ đồng, đầu tƣ xây dựng trên 110 tỷ đồng. Thành phố có thế mạnh về thƣơng mại - dịch vụ và tiềm năng du lịch, đặc biệt là du lịch xanh miệt vƣờn, sông nƣớc. Số lƣợng khách tham quan du lịch hàng năm đều tăng (năm 2001: 350.000 khách, năm 2002: 400.000 khách đến tham quan du lịch
  24. 24. thành phố Mỹ Tho). Thành phố Mỹ Tho là đầu mối giao thông thủy - bộ rất thuận lợi đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, có sông Tiền là một trong hai nhánh của sông Cửu Long. Đây là tuyến giao thông quan trọng mang tính đối ngoại của thành phố Mỹ Tho, rất tiện lợi vận chuyển, lƣu thông hàng thủy sản, nối liền Mỹ Tho với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ra biển Đông về thành phố Hồ Chí Minh. Về đƣờng bộ có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 50, Quốc lộ 60 là những tuyến giao thông đối ngoại quan trọng của thành phố. Thành phố Mỹ Tho có bề dày truyền thống văn hóa và lịch sử đấu tranh cách mạng hết sức vẻ vang, là đơn vị đƣợc Nhà nƣớc tuyên dƣơng Anh hùng lực lƣợng vũ trang trong kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc. Thành phố có trƣờng Trung học Nguyễn Đình Chiểu là một trong những trƣờng trung học lớn nhất và sớm nhất Nam bộ, là cái nôi đào tạo nhân tài cho đất nƣớc suốt hơn 120 năm qua. Hiện nay trên địa bàn thành phố có rất nhiều trƣờng đào tạo văn hóa, nghiệp vụ của trung ƣơng và tỉnh. Trong suốt 30 năm qua, Mỹ Tho luôn là lá cờ đầu của tỉnh về phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa - thể dục thể thao. Những năm qua, dƣới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy - Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang, sự giúp đỡ nhiệt tình của các ban ngành tỉnh, đặc biệt là sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ, nhân dân, lực lƣợng vũ trang thành phố, nên Mỹ Tho đã hoàn thành cơ bản nội dung các tiêu chí của đô thị loại II mà Chính phủ quy định, và ngày 07 tháng 10 năm 2005 đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ công nhận là đô thị loại II. Đƣợc tỉnh hỗ trợ đầu tƣ về vốn cho yêu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng nên bộ mặt đô thị Mỹ Tho đã có thay đổi phát triển khang trang hơn: hệ thống đƣờng giao thông nội thị, ngoại thành, điện chiếu sáng, điện sinh hoạt, cấp nƣớc đƣợc nâng cấp; vệ sinh môi trƣờng đƣợc chú ý hơn; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đƣợc cải thiện so với trƣớc đây. Việc xây dựng thành phố lên đô thị loại II nhằm để củng cố vị trí trung tâm của tỉnh, hỗ trợ cho các vùng trong tỉnh và phụ cận, phát huy hết tiềm năng của thành phố đóng góp cho tỉnh, cho vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nƣớc. Đồng thời việc phát triển thành phố lên đô thị loại II nhằm để thực hiện tốt Nghị quyết của Tỉnh ủy, Nghị quyết đại hội VIII của Đảng bộ thành phố; đáp ứng nguyện vọng thiết tha của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân thành phố, với mong muốn thành phố Mỹ Tho ngày càng văn minh, hiện đại hơn. . Chƣơng trình tham quan + Tham quan chùa Vĩnh Tràng. + Tham quan trại rắn Ðồng Tâm. + Du thuyền trên sông Tiền, tham quan chợ nổi cảng cá. + Tham quan 1 trong 3 điểm sau : - Khu Du Lịch Thới Sơn : Tham quan vƣờn hoa kiểng, vƣờn trái cây, lò nấu rƣợu, nhà dân, thƣởng thức trái cây, uống trà và rƣợu mật ong, kẹo, mứt dừa . nghe ca nhạc tài tử. Ði đò chèo trong rạch nhỏ. - Cồn Phụng : Tham quan khu di tích Ðạo Dừa và khu sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; Về khu du lịch Thới Sơn 3 tham quan nhà dân, vƣờn cây ăn trái và thƣởng thức trái cây.

×