Phần I
Tổng quan về Công ty xi măng kiện khê-hà nam
I. Quá trình hình thành và phát triển
1. Sự hình thành và quá trình ph...
tâm xây dựng và áp dụng thành công hệ thống quản lý châts lượng theo tiêu
chuẩn quốc tế ISO 9001: 2000./
Dây chuyền sản xu...
xây dựng cơ sở sản xuất xi măng lò đứng công suất 82.000 tấn tại khu vực Kiện
Khê và trên cơ sở đó, Viện vật liệu xây dựng...
- Trong khâu tiêu thụ Công ty đã thực hiện việc phân phối sản phẩm theo
các đại lý được đặt ở các tỉnh lân cận.
4
II. Những đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả đổi mới công nghệ ở Công ty
Xi măng Kiện Khê.
1. Sản phẩm
1.1. Đặc điểm ...
Bảng 1: Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng xi măng đen
Tên chỉ tiêu
Mức
PC 30 PC 40
Xi măng poóc lăng có thành phần hoá học ph...
Cụ thể, Công ty cần đổi mới hệ thống lò nung clanhke chuyển từ lò đứng
sang lò quay từ đó nâng chất lượng clanhke góp phần...
2.2. Nguyên vật liệu phụ dùng cho quá trình sản xuất Xi măng.
- Xỉ Pirit Lâm Thao (là phế thải của nhà máy Supe phốt phát ...
Bảng 4: Cơ cấu lao động của Công ty Xi măng Kiện Khê
Năm
Cơ cấu
Số lượng Tỷ lệ
2000 2001 2002 2000 2001 2002
1. Theo giới ...
Năng lực quản lý dự án của Công ty Xi măng Kiện Khê cũng chưa đủ
mạnh để điều hành các dự án lớn, thiếu chuyên gia có trìn...
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức quản lý đổi mới của Công ty XMKK
Phòng Kế toán Tài vụ: Quản lý tài chính của dự án, huy động vốn c...
Kiểu cơ cấu trực tuyến - chức năng tạo sự tập trung quyền lực, đây là sự
cần thiết để thống nhất quản lý, tránh được tình ...
Bảng 7: Công suất, sản lượng và nhu cầu tiêu thụ nội địa của các
nước ASEAN năm 2001
Tên nước Công suất thiết kế Sản lượng...
Do chính sách khuyến khích xuất khẩu để thu ngoại tệ nhanh nhằm phục
hồi nhanh nền kinh tế, một số nước trong khu vực đã c...
tấn xi măng lò đứng (biện pháp tình thế) nhằm giải quyết sự thiếu hụt xi măng ở
nước ta, nhiều cơ sở xi măng lò đứng cũ đã...
Thị phần - - -
Nguồn : Ban dự án
Trong 2 năm 1998 - 1999 tốc độ tiêu thụ xi măng trong nước có giảm đi
do ảnh hưởng của cu...
Bảng 11: Cân đối Cung - Cầu xi măng giai đoạn 2002- 2005
Năm
Chỉ tiêu
2002 2003 2004 2005
Nhu cầu xi măng ( triệu tấn) 19,...
Bảng 12: Nhu cầu xi măng trong giai đoạn 2006 - 2010
Năm
Chỉ tiêu
2006 2007 2008 2009 2010
Tốc độ tăng tiêu thô (%) 12 12 ...
Trước thực trạng chất lượng xi măng của Công ty chỉ đáp ứng được yêu
cầu thấp của khách hàng. Do vậy, Công ty không có khả...
- Tổ phục vụ sản xuất thuộc khối cung cấp vật tư
1.4. Bộ phận sản xuất phụ
1.5. Sơ đồ cơ cấu sản xuất
Sơ đồ 2: Cơ cấu sản ...
Phân xưởng thành phẩm: Đây là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất xi
măng.
2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
Bộ máy tổ ch...
Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
22
Ban Gi¸m ®èc
Tr­ëng
phßng
Tr­ëng
phßng
Tr­ëng
phßng
Tr­ëng
phßng
Phßng
TC - HC
P...
Phần II
Thực trạng quá trình đổi mới công nghệ tại Công ty Xi măng kiện
khê - Hà Nam
I. kết quả sản xuất kinh doanh
Quá tr...
Năm
Chỉ tiêu
2000 2001 2002
KH TH % KH TH % KH TH %
1. Sản lượng sản
xuất (tấn)
42.000 60.014 142 60.000 84.000 140 73.000...
2. Phương thức đổi mới công nghệ của Công ty XMKK
Hiện nay Công ty XMKK đang sử dụng dây chuyền sản xuất bằng công
nghệ lò...
2.2. Giai đoạn 2 (2000- 2002)
Sau kết quả đổi mới công nghệ bước đầu,Công ty đã tiếp tục tiến hành
giai đoạn II. Ở giai đo...
Bảng 17: Tổng hợp tổng mức đầu tư giai đoạn III
ĐVT: 1000 đồng
STT Khoản mục
Giá trị trước
thuế VAT
Thuế VAT Sau thuế
II V...
Năm 2003 Công ty XMKK đánh giá lại thiết bị máy móc. Xác định thiết
bị hiện đại chiếm 44%. Do khấu hao nên mức trang bị vố...
Quy trình công nghệ lò đứng cơ khí hoá.
a. Công đoạn chuẩn bị nguyên liệu
29
§¸ v«i
B·i tËp
kÕt
§Êt sÐt
Kho tæng
hîp
Xû pi...
b. Công đoạn nghiền phối liệu
c. Công đoạn nung Clanke bằng lò
Trước khi cải tạo thì công đoạn này được thực hiện bằng lò ...
d. Công đoạn nghiền, đóng bao xi măng
e. Công đoạn nghiền than, vận chuyển và dự trữ than mịn: đây là công
đoạn đầu tư mới...
c. Công đoạn nung clanhke bằng lò quay phương pháp khô: Đây là công
đoạn quan trọng nhất của dự án cải tạo công nghệ, công...
tin này là cơ sở là căn cứ để Công ty ra quyết định hợp lý, đảm bảo hiệu quả đổi
mới công nghệ.
Nguồn và phương pháp thu t...
Củ thể, sau khi hoàn thành giai đoạn 3 của quá trình đổi mới công nghệ,
Công ty sẽ đưa một số lao động đi học tập kinh ngh...
* Cơ cấu vốn: Xét theo tính chất vốn thì vốn kinh doanh được chia thành
vốn lưu động và vốn cố định. Vốn lưu động là hình ...
2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
2.1. Môi trường cạnh tranh trong ngành xi măng Việt Nam
Đối thủ cạnh tranh hiện tại...
Bảng 20: Đối thủ cạnh tranh hiện tại của Công ty XMKK.
TT Tên doanh nghiệp
Chủng loại
sản phẩm
Công suất
thiết kế
Công suấ...
Đối thủ cạnh tranh tiềm Èn:
Trên thực tế, ngoài các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Công ty còn có những
đối thủ cạnh tranh ...
tấn/ngày lên 300 tấn/ngày. Dự án được UBND tỉnh Hà Nam. Cơ chế quản lý tài
chính nói chung, và quản lý đầu tư nói riêng đố...
Phương án I: sản xuất 100%; Xi măng PC B30 (chứa 75% Clanke PC 50).
Phương án II: sản xuất 100% XM PC 40 (chứa 80% PCB 40)...
1.2. Tăng doanh thu và hoàn trả các khoản vốn vay cho đổi mới công
nghệ
Tăng doanh thu là kết quả rõ ràng thể hiện qua bản...
2. Những khó khăn còn tồn tại
2.1. Dây chuyền sản xuất của Công ty chưa đáp ứng được yêu cầu về
chất lượng và sản lượng.
K...
Phần III
Biện pháp nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ tại Công ty Xi
măng Kiện Khê
I. Mục tiêu và phương hướng phát triển...
khả năng cạnh tranh cao không chỉ ở thị trường khu vực mà vươn ra cả các thị
trường bên ngoài.
Như vậy, nhiệm vụ đặt ra kh...
Cơ cấu khu vực thị trường thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng tiêu thụ tại
địa bàn tỉnh Hà Nam tập trung tăng tiêu thụ tại m...
chuyên môn, sức sáng tạo, tính năng động, khả năng liên kết phối hợp….) Cho
dù doanh nghiệp có phương tiện kỹ thuật tiên t...
sâu hơn về công nghệ clanhke và nguyên lý, thiết kế kỹ thuật của dây chuyền
thiết bị. Những khoá đào tạo này nhằm mục đích...
tạo Pháp - Việt… Chương trình đào tạo nhằm cập nhật các phương pháp quản trị
doanh nghiệp, phân tích thị trường, phân tích...
- Cán bộ nhân viên cần ý thức rằng việc tu nghiệp là nhằm mục đích nhằm
nâng cao trình độ chuyên môn, thực sù phục vụ công...
2.3. Phương thức tiến hành
Công ty xi măng Kiện Khê nên điều chỉnh cơ cấu kiểu trực tuyến - chức
năng, giảm bớt sự phân lậ...
cấp nh hiện nay. Ban Dự án chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Ban Giám đốc về
hoạt động đổi mới công nghệ.
Ví dụ, phòng kỹ t...
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao

617 views

Published on

Published in: Education
1 Comment
0 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và CAO HỌC (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ. DỊCH VỤ LÀM SLIDE: 10.000VNĐ/1SLIDE
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
617
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
9
Comments
1
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Thuc trang-va-mot-so-bien-phap-nang-cao

  1. 1. Phần I Tổng quan về Công ty xi măng kiện khê-hà nam I. Quá trình hình thành và phát triển 1. Sự hình thành và quá trình phát triển của Công ty Kiện khê. 1.1. Sù hình thành: Công ty xi măng Kiện Khê - Hà Nam là doanh nghiệp nhà nước được thành lập theo quyết định số 22/QĐUB ngày 13/1/1994 của UBND tỉnh Nam Hà (trước đây) nay là tỉnh Hà Nam có tổng số vốn đầu tư là 52 tỷ bằng nguồn vốn vay ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nam. Ngành nghề chính là sản xuất xí măng PCB 30 PCB 40. 1.2. Quá trình phát triển: Tháng 4 năm 199 6 dây chuyền đồng bộ cơ khí hoá và tự động hoá thiết bị của Trung Quốc sản xuất có công suất thiết kế 82.000 tấn xi măng/1 năm được chính thức đưa vào sản xuất. Sản phẩm xi măng của Công ty sản xuất ra đảm bảo chất lượng. Năm 1996 đã được tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng cấp chứng nhận. TCVN 2682 - 1992 nay là TCVN 6260 - 1997. Nhờ vậy mà sản phẩm của Công ty đã được khách hàng tín nhiệm và có uy tín trên thị trường khu vực phía Bắc nhất là thị trường Hà Nội, do đó sản lượng sản xuất của Công ty ngày một tăng năm sau cao hơn năm trước. Năm 1996 sản xuất mới chỉ đạt 39.000 tấn/1 năm nhưng đến năm 2001 Công ty đã đạt công suất thiết kế với sản lượng đạt 82.000 tấn/1 năm. Tổng sè CBCNV trong toàn Công ty là 260 người, có 4 phòng ban chức năng, 3 phân xưởng sản xuất chính và 2 tổ kỹ thuật trực thuộc . Bộ máy của Công ty rất gọn, hợp lý có tinh thần đoàn kết thống nhất cao tạo nên sức mạnh thúc đẩy sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao. Để nhằm tăng sức mạnh cạnh tranh trên thị trường, nhằm thoả mãn nhu cầu của khách hàng đồng thời phát huy tính đoàn kết, huy động mọi nguồn lực cùng tham gia xây dựng Công ty ngày một phát triển. Vì vậy năm 2002 Công ty xi măng Kiện Khê quyết 1
  2. 2. tâm xây dựng và áp dụng thành công hệ thống quản lý châts lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001: 2000./ Dây chuyền sản xuất xi măng Kiện Khê 82.000 tấn /1 năm được bố trí trên một khu vực mặt bằng có diện tích 45.650 m2 . Đây là khu vực có nền đá gốc nằm sát bề mặt tự nhiên. Địa hình dốc thoải với độ dốc 8-10%. Để giảm bớt khối lượng phá đá san nền trong điều kiện vẫn phải đảm bảo mọi hoạt động của nhà máy. Các hạng mục công trình trong dây chuyền được phân tích sắp xếp 3 cốt san nền một cách hợp lý. Với hướng gió chủ đạo là hướng đông nam, các công trình hành chính, điều hành sản xuất đều được đặt ở đầu hướng gió, tránh ảnh hưởng của không khí nóng, bụi do hoạt động sản xuất của các hạng mục công trình sản xuất gây ra. 2. Nhiệm vụ và vị trí của Công ty Xi măng Kiện khê : Công ty xi măng Kiện khê được xây dựng với nhiệm vụ chính là sản xuất xi măng . Để khắc phục tình trạng thiếu xi măng do nhu cầu đòi hỏi ngày càng tăng ở trong nước vào những năm tiếp theo. Nhà máy xi măng Kiện Khê (Hà Nam) được xây dựng nên sẽ góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương bằng nguồn tài nguyên có sẵn của mình. Công ty XMKK đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của tỉnh Hà nam. Công ty góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của Địa phương cung cấp sản phẩm cho thị trường trong tỉnh vã các tỉnh thành lân cận Công ty sẽ tạo việc làm cho khoảng hơn 200 công nhân đóng góp cho ngân sách nhà nước nhiều tỷ đồng. Hà Nam là một trong những tỉnh có nguồn tài nguyên phong phú sản xuất vật liệu xây dựng đi từ nguồn nguyên lieẹu đá vôi có chất lượng cao. Tuy có sẵn nguồn nguyên liệu sản xuất xi măng đạt chất lượng cao và có hạ tầng cơ sở tương đối thuận loựi, song trong những năm vừa qua do điều kiện huy động vốn của tỉnh bị hạn chế nên việc xây dựng nhà máy xi măng mới có công suất phù hợp với địa phương, công nghệ tiên tiến là không triển khai được. Vì vậy được sự đồng ý của uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Hà (nay là Hà Nam). Sở xây dựng đã có văn bản số 408/Sở xây dựng gửi bộ xây dựng xin giúp đỡ 2
  3. 3. xây dựng cơ sở sản xuất xi măng lò đứng công suất 82.000 tấn tại khu vực Kiện Khê và trên cơ sở đó, Viện vật liệu xây dựng đã lập dự án tiền khả thi xây dựng nhà máy xi măng lò đứng nhập thiết bị Trung Quốc với công suất 82.000 tấn xi măng /năm vào tháng 3 năm 1992. 3. Mối quan hệ với các đơn vị liên quan 3.1. Nhà cung cấp Nhà cung ứng nguyên vật liệu: nguồn nhiên liệu cung cấp cho Công ty XMKK đó là: Đá vôi núi bùi ( cách nhà máy 2Km) Đất sét Ba Sao ( cách nhà máy 14Km) Với nguồn nhiên liệu này đủ cung cấp cho nhà máy hoạt động trên 50 năm Ngoài hai nguyên liệu chính nh trên để sản xuất xi măng Công ty cần thêm nhiên liệu và một số phụ gia khác Than cám ( Hòn Gai- Quảng Ninh) Xỉ Pirit Lâm Thao ( Phú Thọ) Thạch cao ( Đông Hà) 3.2. Khách hàng - Khách hàng của Công ty Xi măng Kiện Khê tập trung ở các tỉnh lân cận nh Nam Định, Hà Tây, Thái Bình, Ninh Bình đặc biệt là thị trường Hà Nội và các khách hàng trong tỉnh. 3.3. Cơ quan chủ quản - Công ty XMKK chịu sự quản lý trực tiếp của Sở XD tỉnh Hà Nam. - Tỉnh uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam thực hiện việc chỉ đạo định hướng các hoạt động của Công ty với quan điểm chủ đạo là “lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phươnghu phát triển. 3.4. Đối tác Công ty XMKK đã và đang bắt đầu tiến hành thực hiện với liên doanh liên kết với các đối tác khác trong lĩnh vực sản xuất Xi măng. 3
  4. 4. - Trong khâu tiêu thụ Công ty đã thực hiện việc phân phối sản phẩm theo các đại lý được đặt ở các tỉnh lân cận. 4
  5. 5. II. Những đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng tới hiệu quả đổi mới công nghệ ở Công ty Xi măng Kiện Khê. 1. Sản phẩm 1.1. Đặc điểm về sản phẩm Sản phẩm Xi măng là một loại vật liệu xây dựng. Yêu cầu quan trọng của Xi măng là chất lượng Clanke. Do đặc thù của công nghệ cũ (công nghệ lò đứng) được áp dụng ở Công ty là không khống chế được chế độ nung nên chất lượng clanke không ổn định, hàm lượng vôi trong clanke còn cao (3- 5%). Dẫn đến chất lượng xi măng chậm đông kết, mác thấp ổn định thể tính kém. Các chỉ tiêu tiêu hao nhiệt năng cao và điện năng còn lớn: tiêu hao điện năng 1100 - 1400 kcal/kg Clanhke, tiêu hao điện năng 100 - 125KWh/tấn XM. Từ đặc điểm này, khi đổi mới công nghệ. Công ty đã áp dụng công nghệ lò quay để khắc phục hạn chế của công nghệ lò đứng. Cụ thể là khi áp dụng công nghệ lò quay thì chỉ tiêu tiêu hao nhiệt là < 730 Kcal/kg clanke và chỉ tiêu tiêu hao điện năng là 90 - 100KWh/tấn Xi măng. Đồng thời khi áp dụng công nghệ mới. Công ty đã mở rộng được quy mô sản xuất, sản lượng Xi măng của Công ty tăng thêm 48.300 tấn/ năm tăng 56,8%. Không những thế, khi áp dụng công nghệ mới Công ty sẽ sản xuất 100% Xi măng PC40. Đây là mác Xi măng có chất lượng tốt với các tiêu chuẩn so víi xi măng PC 30 của công nghê - Sảm phẩm Xi măng là loại sản phẩm không thay thế thuộc loại vật liệu xây dựng. Do vậy khi Công ty áp dụng công nghệ mới (công nghệ lò quay). Sẽ tạo nên sản phẩm có chất lượng tốt. Tạo cho thương hiệu Xi măng Kiện Khê trở nên nổi tiếng có uy tín với khách hàng. 5
  6. 6. Bảng 1: Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng xi măng đen Tên chỉ tiêu Mức PC 30 PC 40 Xi măng poóc lăng có thành phần hoá học phù hợp với quy trình công nghệ, hàm lượng MgO trong clinkei không lớn 5% 1. Giới hạn bền nén, N/m2, không nhỏ hơn - Sau 3 ngày - Sau 18 ngày 16 31 21 40 2. Độ nghiền mịn: phần còn lại trên ràng không 0,08mm,% không lớn hơn. - Bê mặt riêng xác định theo phương pháp Blaine cm2/g, không nhỏ hơn 15 2500 15 2500 3. Thời gian đông kết - Bắt đầu, phót, không sớm hơn - Kết thúc, giê, không muộn hơn 45 10 4. Độ ổn định thể tích, xác định theo phương pháp lo Satolie, mm, không lớn hơn 10 5. Hàm lượng anhydrric sunfuric (SO3) % không lớn hơn 3,0 6. Hàm lượng mất khi nung không lớn hơn 5,0 Nguồn : Phòng kỹ thuật công nghệ - Mặt khác với nhu cầu thị trường ngày càng phát triển giai đoạn từ nay đến 2010 sẽ là cơ hội lớn để các nhà đầu tư quan tâm đến công nghệ Xi măng. Việc Việt Nam gia nhập AFTA vào năm 2006 cũng là thách thức lớn đối với các nhà sản xuất xi măng và đòi hỏi phải có chiến lược nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Đây chính là yếu tố tạo sức cạnh tranh của sản phẩm xi măng mà Công ty cần quan tâm để đầu tư. Với đặc điểm sản phẩm đòi hỏi Công ty cần đổi mới công nghệ theo hướng đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng. 6
  7. 7. Cụ thể, Công ty cần đổi mới hệ thống lò nung clanhke chuyển từ lò đứng sang lò quay từ đó nâng chất lượng clanhke góp phần nâng cao chất lượng xi măng. 1.2. Cơ cấu sản phẩm Công ty XMKK là Công ty đã bước đầu tạo được uy tín và chiếm lĩnh được thị phần trên thị trường xi măng. Hiện nay sản phẩm của Công ty XMKK bao gồm 2 loại là: Xi măng và Clanhke Bảng 2: Cơ cấu sản phẩm Đơn vị:% Năm Tiêu thức 2000 2001 2002 XM Clanhk e XM Clanhk e XM Clanhke Theo doanh thu 87,7 12,3 86,4 13,6 89,7 16,3 Theo sản lượng 86,7 13,3 85,5 14,5 89,6 10,4 (Nguồn: Phòng tiêu thụ) Theo biểu cơ cấu trên ta thấy xi măng là sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn. Còn Clanhke chiếm phần nhỏ. Xuất phát từ cơ cấu sản phẩm nh vậy. Công ty Xi măng Kiện Khê tập trung ưu tiên đầu tư đổi mới công nghệ vào việc sản xuất xi măng. 2. Nguyên vật liệu. 2.1. Nguyên vật liệu chính dùng để sản xuất sản phẩm Xi măng - Đá vôi nơi Núi Bùi và mơ phía Tây Thung Mơ (cách nhà máy gần 2km) là loại đá vôi có chất lượng tốt để sản xuất xi măng, hàm lượng cao = 81,85 ữ 54,0%, MgO < 2,5%. Trữ lượng ước tính khoảng trên 30 triệu tấn. - Đất sét Ba Sao (cách nhà máy khoảng 14km) là loại đất sét thích hợp để sản xuất xi măng có thành phần hoá học trung bình là SiO2 = 63,0 ữ Al2O3 = 10,22 ữ 16,96%; Fe2O3 = 7,08 ữ 8,30; R2O = 2,2 ữ 3%. Trữ lượng ước tính khoảng 1,6 triệu tấn. Với đặc điểm nguyên vật liệu chính nh vậy thì đây là điều kiện thuận lợi cho đổi mới công nghệ. Bởi vì, tiêu chuẩn NVL chính phù hợp với tiêu chuẩn về NVL của công nghệ mới là công nghệ lò quay. 7
  8. 8. 2.2. Nguyên vật liệu phụ dùng cho quá trình sản xuất Xi măng. - Xỉ Pirit Lâm Thao (là phế thải của nhà máy Supe phốt phát lâm thao) được mua và vận chuyển về Công ty bằng tàu hoả và ô tô có hàm lượng Fe2O3 dao động trong khoảng 58 ữ 65% đây là nguồn phụ gia giàu rất thích hợp cho sản xuất Xi măng. - Cát mịn Sông đáy (khai thác tại Hà Nam) là loại phụ giao cao silic đã được các nhà máy quanh khu vực sử dụng trong nhiều năm qua, hàm lượng SiO2 doa động trong khoảng 88 ữ 90%. - Than Cám 3 và 4A Hòm Gai - Quảng Ninh được mua và vận chuyển về Công ty bằng Sà Lan và ô tô chất lượng than thoả mãn yêu cầu để sản xuất xi măng. 2.3. Cơ cấu nguyên vật liệu trong sản phẩm xi măng Bảng 3: Cơ cấu nguyên vật liệu trong sản phẩm xi măng Đơn vị: % Loại nguyên liệu Tỷ lệ nghiền phối liệu PC 40 PC 50 Đá Vôi 80,5 81,5 Đất sét 10,2 12,8 Xỉ Pirit 6,3 1,7 Cát mịn 3,0 4,0 ( Nguồn : Phòng kỹ thuật công nghệ) Khi tiến hành đổi mới công nghệ, thay đổi các thiết bị. Công ty cần nghiên cứu điều chỉnh kết cấu nguyên vật liệu cho phù hợp với thiết bị mới. Cụ thể là không cần đầu tư thêm các thiết bị ở công đoạn chuẩn bị liệu, nghiền phối liệu và nghiền Xi măng. 3. Đặc điểm về lao động Công ty Xi măng Kiện Khê có số lượng lao động không nhiều (259 người) trong đó nam giới chiếm đa số do đặc thù của kĩ thuật công nghệ sản xuất sản phẩm xi măng nên chủ yếu là lao động nặng. Do đặc thù của quy trình công nghệ sản xuất xi măng nên lượng lao động trực tiếp chiếm đa số (244 người) chiếm….còn lượng lao động gián tiếp chiếm một phần nhỏ (15 người) chiếm…. 8
  9. 9. Bảng 4: Cơ cấu lao động của Công ty Xi măng Kiện Khê Năm Cơ cấu Số lượng Tỷ lệ 2000 2001 2002 2000 2001 2002 1. Theo giới tính Nam Nữ 210 20 215 25 230 29 91,3 8,7 89,5 10,5 88,8 11,2 2. Theo tính chất lao động - Lao động trực tiếp - lao động gián tiếp 190 40 225 15 195 64 82,6 17,4 80 20 75,3 24,7 3. Theo chất lượng lđ Kỹ sư Cao Đẳng Trung Cấp Công nghệ kỹ thuật LĐ Phổ thông 9 01 25 90 105 10 02 95 133 11 03 23 100 122 3,9 0,4 19,2 43,5 45 7,3 0,8 39,5 55,5 4,2 1,2 8,8 38,6 47,2 Nguồn: Phòng TC - HC Trình độ cán bộ quản lý: Công ty XMKK có đội ngò kỹ sư, cán bộ quản lý được đào tạo cơ bản, có kinh nghiệm chuyên môn. Bên cạnh đó, Công ty cũng có những người lãnh đạo chủ chốt có năng lực có khả năng điều hành mọi công việc trong Công ty. Tuy nhiên, tỷ lệ lao động có trình độ từ Cao Đẳng trở lên còn thấp. Do đó năng lực tiếp thu, thích ứng và làm chủ công nghệ chưa cao vì thiếu cán bộ có trình độ học vấn cao, có chuyên môn sâu về sản xuất xi măng. Trước thực trạng đó, Công ty Xi măng Kiện Khê cần đổi mới công nghệ theo phương thức chuyển giao ngang (tức là nhập dây truyền thiết bị hoàn chỉnh). 9
  10. 10. Năng lực quản lý dự án của Công ty Xi măng Kiện Khê cũng chưa đủ mạnh để điều hành các dự án lớn, thiếu chuyên gia có trình độ cao và có kinh nghiệm về những dự án tương tự. * Trình độ công nhân: Số lượng lao động phổ thông không qua đào tạo của Công ty Xi măng Kiện Khê năm 2000 tương đối lớn sau đó giảm xuống còn 122 (người), năm 2002 nhưng vẫn chiếm 47,2%. Đối với một doanh nghiệp nh Công ty Xi măng Kiện Khê, cơ cấu chất lượng lao động nh vậy là chưa hoàn toàn hợp lý. Do vậy khi đổi mới công nghệ Công ty cần tìm phương án giải quyết số lượng lao động phổ thông. Đây là yếu tố làm giảm năng suất lao động chung, tăng chi phí lương và khó khăn cho việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng. Với cơ cấu lao động nh vậy không đáp ứng đựơc yêu cầu về chất lượng lao động với công nghệ mới. Điều này đặt ra cho Công ty vấn đề cần đào tạo lại lao động góp phần nâng cao hiệu quả của đổi mới công nghệ . Bảng 5: Trình độ công nhân của Công ty XMKK tại thời điểm năm 2002 Công nhân Bậc thợ % 2/7 28,6 3/7 36,6 4/7 32,8 Nguồn: Phòng tổ chức hành chính Nhìn chung, Công ty có đội ngò thợ bậc cao lành nghề giàu kinh nghiệm vận hành và sửa chữa máy móc thiết bị hiện đại. Với đội ngò công nhân hiện tại, có thể nhanh chóng nắm bắt công nghệ mới, đảm bảo vận hành và xử lý sự cố máy móc thiết bị khi cần thiết. 10
  11. 11. Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức quản lý đổi mới của Công ty XMKK Phòng Kế toán Tài vụ: Quản lý tài chính của dự án, huy động vốn cho đầu tư, duy trì, thẩm định dự toán phòng TC - HC: quản lý vấn dề đào tạo, tuyển dụng nhân sự cho đổi mới công nghệ. Vận chuyển kho tàng, máy móc thiết bị phòng Kế toán - Công nghệ: quản lý các phương án kỹ thuật, đánh giá máy móc thiết bị. Ban dự án là trung tâm điều phối triển khai dự án. 11 Gi¸m §èc Phßng TC- HC Phßng KÕ to¸n Tµi vô Phßng tiªu thô Phßng KT - CnghÖ Ban Dù ¸n TriÓu khai dù ¸n ®æi míi c«ng nghÖ VËn chuyÓn kho tµng Kü thuËt thiÕt bÞ Thñ tôc, th«ng tin giao dÞch Nh©n sù vµ tæ chøc Tµi chÝnh Phã Gi¸m §èc
  12. 12. Kiểu cơ cấu trực tuyến - chức năng tạo sự tập trung quyền lực, đây là sự cần thiết để thống nhất quản lý, tránh được tình trạng phân tán nhất là đối với dự án lớn, độ phức tạp cao. 4. Đặc điểm thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm 4.1. Thị trường 4.1.1. Thị trường và công nghệ xi măng ngoài nước và khu vực Đông Nam Á. Tiêu dùng xi măng trên thế giới không ngừng tăng trưởng là động lực quan trọng thúc đẩy nghành công nghiệp xi măng phát triển. Theo Cement của Nga thì đến cuối năm 2000, toàn thế giới có khoảng 1750 cơ sở sản xuất xi măng và 150 cơ sở nghiền riêng với tổng công suất 1750 triệu tấn ( chưa kể gần 11000 cơ sở xi măng lò đứng của Trung Quốc và hơn 50 cơ sở xi măng lò đứng củaViệt Nam ). Tiêu dùng xi măng trên thế giới năm 2000 là 1610 triệu tấn và năm 2001 khoảng 1.670 triệu tấn ( tăng khoảng 3% so với năm 2000 Châu Á là khu vực sản xuất và tiêu thụ xi măng nhiều nhất trên thế giới năm 2000 là 910 triệu tấn. Mức tiêu thụ xi măng trung bình của Châu Á và thế giới trong giai đoạn 1985 - 2000 và dự báo đến năm 2010 như sau: Bảng 6: Mức tiêu thụ xi măng trung bình của Châu Á và thế giới trong giai đoạn 1985 - 2000 và dự báo đến năm 2010 như sau: Năm 1985 1990 1995 1998 2000 2005 2010 Châu Á 325 475 815 850 910 1.050 1.200 Thế giới 955 1.160 1.425 1.510 1.610 1.800 1.990 Nguồn: Ban dự án Khu vực Đông Nam á bao gồm 10 quốc gia trong khối ASEAN, với tổng diện tích 4.381.159 Km2 , dân số 524 triệu người có tổng công suất các nhà máy xi măng năm 2001 là 179 triệu tấn. Công suất, sản lượng và nhu cầu tiêu thụ nội địa của các nước ASEAN năm 2001 nh sau: 12
  13. 13. Bảng 7: Công suất, sản lượng và nhu cầu tiêu thụ nội địa của các nước ASEAN năm 2001 Tên nước Công suất thiết kế Sản lượng Tiêu thô Triệu tấn % Triệu tấn % Triệu tấn % Indonesia 45,570 26,57 31,600 31,64 25,600 28,90 Thái Lan 52,756 29,47 24,600 24,63 18,100 20,45 Malayxia 28,500 15,92 13,835 13,85 12,036 13,60 Philippin 26,782 14,96 11,807 11,82 11,986 13,53 Việt Nam 20,560 11,48 16,500 16,52 16,379 18,10 5 nước khác 2,850 1,60 1,520 1,54 4,820 5,42 Tổng cộng 179,018 100 99,862 100 88,542 100 (Nguồn : ban dự án) Nhìn chung, khu vực châu á là khu vực kinh tế có tốc độ phát triển nhanh so với thế giới trong thập kỷ cuối cùng của thé kỷ 20. Trong từng khu vực lại có sự phát triển về cung và cầu xi măng khác nhau. Trong đó có một đặc điểm chung là sự tăng trưởng về nhu cầu tiêu thụ xi măng là rất cao so với thế giới. Giá bán sản phẩm Tại khuvực Đông Nam á, do lượng tiêu thụ xi măng thấp hơn năng lực sản xuất nên các nhà sản xuất đã phải giảm giá bán, đặc biệt là giá xuất khẩu. Giá bán xi măng trong thị trường nội địa của một số nước trong khu vực ASEAN nh sau: Bảng 8: Giá bán xi măng trong thị trường nội địa của một số nước trong khu vực ASEAN Thời gian Gia bán trong nội địa TháI Lan Xingapo Indonexia Tháng 4/97 Đơn vị VNĐ 800.000 1.242.000 932.000 Tháng 6/98 Đơn vị VNĐ 764.000 934.000 325.000 Tháng 10/99 Đơn vị VNĐ 926.000 504.000 756.000 Tháng 3/2000 Đơn vị VNĐ 1.034.940 652.830 814.870 Nguồn: Ban dự án Nhu cầu nhập khẩu xi măng của các nước trong khối ASEAN chỉ còn giới hạn ở một nước như: Myanma, Lào, Campuchia … Vì vậy, các nhà sản xuất xi măng trong khối này đang cố gắng tiếp cận vào thị trường các nước Châu Phi, Châu Âu và Bắc Mỹ. 13
  14. 14. Do chính sách khuyến khích xuất khẩu để thu ngoại tệ nhanh nhằm phục hồi nhanh nền kinh tế, một số nước trong khu vực đã có chính sách hỗ trợ xuất khẩu thường thấp hơn so với giá bán nội địa. 4.1.2. Thị trường và công nghệ xi măng trong nước a. Về công nghệ sản xuất: Hiện nay, ở Việt Nam đang tồn tại song song cả ba công nghệ sản xuất xi măng là : Công nghệ ướt, công nghệ khô và công nghệ bán khô. Trong đó công nghệ ướt áp dụng trong sản xuất ở các nhà máy xi măng lò quay còn công nghệ bán khô được áp dụng ở các nhà máy xi măng lò đứng. Các dây truyền sản xuất theo công nghệ lò quay phương pháp ướt hiện có ở 3 Công ty xi măng là : Hải phòng, Bỉm Sơn và hà Tiên 2. Tổng công suất thiết kế tính theo clanhke) của 3 công ty này là 1,679 triệu tấn/ năm, chiếm 13,32% lượng clanhke của cả nước. Các dây truyền sản xuất theo công nghệ lò quay phương pháp khô ( công nghệ tiên tiến nhất ) hiện có ở các Công ty xi măng lớn là : Hoàng Thạch, Chinfon, Bót Sơn, Nghi Sơn, Hoàng Mai, Luksvaxi, hà Tiên, Sao Mai. Tổng công suất thiết kế ( tính theo clanhke ) của các Công ty nói trên là 8,971 triệu tấn / năm, chiếm 71,2% sản lượng clanhke của cả nước. Công nghệ lò quay phương pháp khô cũng đang được tiếp tục đầu tư xây dựng lại các nhà máy mới nh xi măng Tam Điệp, hải Phòng, Sông Gianh, Thái Nguyên, hạ Long, Thăng Long …. Riêng Công ty xi măng Bỉm Sơn trong thời gian qua đang cải tạo công nghệ lò quay phương pháp ướt thành lò quay phương pháp khô nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; dây truyền cải tạo sẽ đi vào vận hành trong quý IV năm 2002. Công nghệ bán khô được áp dụng ở hơn 50 cơ sở sản xuất xi măng lò đứng ( thủ công và cơ khí hoá ) với tổng công suất thiết kế ( theo clanhke) gần 3 triệu tấn/ năm, chiếm 23% sản lượng clanhke của cả nước. Công nghệ này được áp dụng ở Việt Nam từ những năm 70 với hệ lò đứng thủ công φ 1,5x6m có công suất 5.000 tấn/lò/ năm. Từ năm 1993 - 1995, thực hiện chương trình 3 triệu 14
  15. 15. tấn xi măng lò đứng (biện pháp tình thế) nhằm giải quyết sự thiếu hụt xi măng ở nước ta, nhiều cơ sở xi măng lò đứng cũ đã đầu tư cải tạo chuyển đổi sang dây chuyền sản xuất cơ khí hoá và một phần tự động hoá theo mô hình của Trung Quốc với hệ lò 4 vạn (φ 2,2 x 8,6m), 6 vạn (φ 2,5 x 10m) và 8 - 8,5 vạn (φ 3 x 11m)/tấn/năm. Cùng với quá trình cải tạo, chuyển đổi này đã có thêm 26 cơ sở xi măng lò đứng cơ khí hoá được đầu tư xây dựng mới; Công ty xi măng Kiện Khê là một trong những số đó. b. Thị trường xi măng trong nước: Nhờ đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, đó là động lực quan trọng thúc đẩy ngành công nghiệp xi măng phát triển. Thống kê mức độ tiêu thụ xi măng từ năm 1990 đến nay thấy rằng lượng tiêu thụ xi măng trong nước luôn tăng, kể cả trong những năm 1998 - 1999 xảy ra khủng hoảng kinh tế trong khu vực ASEAN. Có 4 nguồn cung cấp xi măng cho thị trường Việt Nam, đó là: Hoàng Thạch, Bót Sơn, Hoàng Mai, Hà Tiên), các Công ty xi măng liên doanh (gồm các Công ty xi măng Chinfon - Hải Phòng, Luksvaxi - Huế, Sao Mai - Kiên Giang), hơn 50 cơ sở xi măng lò đứng và trạm nghiền, xi măng và clanhke nhập khẩu. Bảng 9: Thống kê lượng xi măng tiêu thụ trong nước trong thời kỳ 1995 - 2001 TT Năm 1999 2000 2001 Tổng số (triệu tấn) 11,002 13,911 16,379 Tỷ lệ tăng, giảm giữa các năm % 10 26 18 1Tổng Công ty xi măng Việt Nam Lượng tiêu thụ (triệu tấn) 5,469 6,456 7,242 Tỷ lệ tăng, giảm giữa các năm (%) -3 18 12 Thị phần % 50 46 44 2 XM lò đứng + trạm nghiền Lượng tiêu thụ (triệu tấn) 2,933 3,792 3,890 Tỷ lệ tăng, giảm giữa các năm % 24 29 3 Thị phần 27 27 24 3 Công ty xi măng liên doanh Lượng tiêu thô ( triệu tấn) 2,6 3,663 5,247 Tỷ lệ tăng, giảm giữa các năm % 35 41 43 Thị phần (%) 24 26 32 4 Nhập khẩu Lượng tiêu thô ( triệu tấn) 0,3(CLK ) 0,5(CLK) 1,328 CLK Tỷ lệ tăng, giảm giữa các năm % -60 67 166 15
  16. 16. Thị phần - - - Nguồn : Ban dự án Trong 2 năm 1998 - 1999 tốc độ tiêu thụ xi măng trong nước có giảm đi do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Tuy nhiên đến năm 2000 nền kinh tế của các nước trong khu vực đã bắt đầu giai đoạn phục hồi và tăngtrưởng. Nền kinh tế của nước ta cũng có những chuyển biến tích cực. Từ năm 1999 đến nay, do nhu cầu xi măng ngày một tăng trong khi các nhà máy đã chạy hết khả năng nên một số đơn vị đầu tư trạm nghiền và nhập khẩu clanhke của nước ngoài ( Indonexia, Thái Lan, Philippin). Xu hướng này vẫn tiếp tục gia tăng và riêng 9 tháng đầu năm 2002, lượng clanhke nhập khẩu đã tăng trên 3 triệu tấn. Dự báo trước nhu cầu xi măng trong nước, chính phủ đã có kế hoạch đầu tư phát triển nghành xi măng và thường xuyên đầu tư nghiên cứu kịp thời điê 4.2. Khả năng tiêu thụ sản phẩm. Dự báo nhu cầu tiêu thụ xi măng giai đoạn 2002-2005 Theo dự án “ Điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng ở Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” dự báo nhu cầu xi măng giai đoạn 2002 - 2005 có tốc độ tăng trưởng 13-15%, cụ thể nh sau: Bảng 10: dự báo nhu cầu xi măng giai đoạn 2002 - 2005 có tốc độ tăng trưởng 13-15%, cụ thể nh sau Năm Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 Tốc độ tăng tiêu thô (%) 20 15 14 13 Nhu cầu xi măng ( triệu tấn) 19,7 22,6 25,7 29,4 Căn cứ theo kế hoạch đầu tư đã được phê duyệt và tiến độ đưa các nhà máy xi măng và sẽ xây dựng và khai thác đến năm 2005 ( đúng tiến độ đề ra) gồm các nhà máy xi măng Bỉm Sơn( cải tạo), Tam Điệp, Hải Phòng mới, Sông Ghanh, Hoàng Thạch 3, Tuyên Quang, Vân Xá 2 thì cân đối Cung - Cầu xi măng giai đoạn 2002- 2005 như sau: 16
  17. 17. Bảng 11: Cân đối Cung - Cầu xi măng giai đoạn 2002- 2005 Năm Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 Nhu cầu xi măng ( triệu tấn) 19,7 22,6 25,7 29,1 Khả năng sản lượng huy động 16,0 17,75 18,35 21,25 Thiếu 3,7 4,85 7,35 7,85 (Nguồn: Ban dự án) Nh vậy, trong giai đoạn từ nay đến năm2005 vẫn phải nhập clanhke của nước ngoài để cung cấp cho các trạm nghiền. Đối với xi măng lò đứng: trong giai đoạn tới cần đầu tư chiều sâu để nâng cao năng suất đầu tư để phấn đấu đạt sản lượng 3 triệu tấn xi măng/ năm ( mét số dây truyền quy mô nhỏ, thiết bị cũ lạc hậu, nguồn cung cấp nguyên liệu khó khăn sẽ chuyển sang sản xuất các sản phẩm VLXD khác dể tận dụng kết cấu hạ tầng và một số thiết bị hiện có) Dự báo nhu cầu tiêu thụ xi măng giai đoạn 2006-2010: Trong xu thế hội nhập với nền kinh tế của khu vực và thế giới theo chiều hướng thị trường tự do, nhất là sau năm 2006 Việt Nam tham gia đầy đủ vào AFTA, trong bối cảnh sự dư thừa xi măng của các nước trong khu vực vẫn còn ở mức cao sẽ tạo ra sự cạnh tranh và sức Ðp gay gắt đối với nghành công nghiệp sản xuất xi măng trong nước. Vì vậy, để thoả mãn nhu cầu xi măng trong nước chúng ta phải tăng cường đầu tư để đưa nhanh các nhà máy vào hoạt động, tiếp cận kịp thời thị trường trong nước tạo tiền đề cho việc cạnh tranh với sản phẩm xi măng của các nước trong khu vực. Để xi măng trong nước có thể cạnh tranh được với xi măng trong khu vực. Để xi măng trong nước có thể cạnh tranh được với xi măng trong khu vực thì việc đầu tiên phải làm là nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng trong tiêu thụ xi măng giai đoạn 2006 - 2010 là 10 - 12%. Nhu cầu xi măng trong giai đoạn 2006 - 2010 nh sau: 17
  18. 18. Bảng 12: Nhu cầu xi măng trong giai đoạn 2006 - 2010 Năm Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 Tốc độ tăng tiêu thô (%) 12 12 10 10 10 Nhu cầu xi măng (triệu tấn) 32,6 36,5 40,1 44,2 48,6 (Nguồn: Ban dự án) Từ dự báo như trên, dự án “Điều chỉnh quy hoạch phát triển công nghiệp xi măng ở Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” đã đề ra kế hoạch đầu tư để trình Chính phủ phê duyệt (sau khi thống nhất giữa Bộ Xây dựng và Bộ Kế hoạch - Đầu tư) quy hoạch đầu tư thêm 17 nhà máy xi măng lò quay nhằm đạt được cân đối cung - cầu giai đoạn này như sau: Bảng 13: Cân đối cung - cầu giai đoạn 2006 - 2010 Năm Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 Nhu cầu xi măng (triệu tấn) 32,6 36,5 40,1 44,2 48,6 Sản lượng huy động 25,5 32,15 39,1 44,65 48,95 Thiếu (-), thừa (+) - 7,1 - 4,35 - 1,0 + 0,45 + 0,35 (Nguồn: Ban dự án) Căn cứ vào bảng cân đối dự báo trên cho thấy từ nay đến năm 2008 năng lực sản xuất xi măng ở nước ta vẫn thiếu. Nếu chúng ta thực hiện đầu tư lớn đúng tiến độ đề ra để đến năm 2010 sản lượng xi măng ở nước ta đạt gấp 3,5 lần. hiện nay thì mới đáp ứng đủ nhu cầu. Đối với Công ty xi măng Kiện Khê, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Hà Nam, Sở Xây dựng và sự hỗ trợ của các sở, ban, ngành trong tỉnh, từ năm 1998 đến nay sản lượng tiêu thụ xi măng của Công ty ngày một tăng, đóng góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của ngành xi măng. 4.3. Thị trường tiêu thụ của Công ty xi măng Kịên Khê Trong thởi điểm hiện nay thị trường tiêu thụ của Công xi măng Kiện Khê bao gồm các tỉnh: Hà nam, Hà nội, Nam định, Ninh bình. Đây là thị trường tiêu thụ tuy hẹp về diện tích nhưng yêu cầu về chất lượng tương đối cao. 18
  19. 19. Trước thực trạng chất lượng xi măng của Công ty chỉ đáp ứng được yêu cầu thấp của khách hàng. Do vậy, Công ty không có khả năng củng cố và mở rộng thị phần trên thị trường hiện có. Trong thời gian tới Công ty cần thay đổi công nghệ để đáp ứng yêu cầu về chất lượng của khách hàng. 5. Cơ cấu sản xuất 5.1.Kiểu cơ cấu sản xuất - Kiểu cơ cấu sản xuất của Công ty xi măng kiện khê. Công ty - Phân Xưởng - Ngành - Nơi làm việc Đơn vị ngành gọi là tổ sản xuất để tiện cho công tác quản lý. Đây là kiểu cơ cấu phức tạp, thường áp dụng cho các doanh nghiệp có quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm phức tạp, đối tượng lao động phải di chuyển qua nhiều nơi làm việc, đòi hỏi lượng công nhân lớn. Công ty Xi măng Kiện Khê tổ chức sản xuất theo nguyên tắc đối tượng: Mỗi phân xưởng được bố trí hỗn hợp nhiều loại máy móc thiết bị để hoàn thành sản xuất một loại sản phẩm. Loại hình sản xuất của Công ty là loại hình sản xuất khối lượng lớn. Phương pháp tổ chức sản xuất là phương pháp dây truyền từ công đoạn chuẩn bị liệu đến công đoạn đóng bao xi măng. Với đặc điểm đó, Công ty cần đổi mới sử dụng thiết bị công nghệ tự động hoá cao. Các bước công việc nhỏ được gộp lại thành bước công việc lớn. Trên cơ sở đó, Công ty có thể tinh giảm cơ cấu sản xuất. Đồng thời đổi mới công nghệ cần gắn với bố trí loại mặt bằng sản xuất. Xác lập đường di chuyển của đối tượng lao động và thành phần cho hợp lý, phù hợp với cơ cấu sản xuất. 1.2. Bộ phận sản xuất chính: Bộ phận sản xuất chính của Công ty gồm 3 phân xưởng là: Chuẩn bị liệu, nung luyện, thành phẩm. Ba phân xưởng này được chia làm các tổ sản xuất. 1.3. Bộ phận phục vụ sản xuất - Tổ phục vụ sản xuất trong các phân xưởng 19
  20. 20. - Tổ phục vụ sản xuất thuộc khối cung cấp vật tư 1.4. Bộ phận sản xuất phụ 1.5. Sơ đồ cơ cấu sản xuất Sơ đồ 2: Cơ cấu sản xuất Đối với phân xưởng chuẩn bị liệu, đây là phân xưởng đảm nhận nhiệm vụ chuẩn bị và đưa nguyên vật liệu vào quá trình sản xuất. Do vậy, trong quá trình đổi mới công nghệ, Công ty cần quan tâm tới hệ thống chuẩn bị nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất. Đảm bảo cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục . Từ đó nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ. Phân xưởng Nung luyện là phân xưởng có quy mô lớn, được trang bị nhiều máy móc thiết bị. Phân xưởng có chức năng sản xuất clanhke. Đây là khâu quan trọng nhất của quá trình sản xuất xi măng. Do vậy, trong quá trình đổi mới công nghệ Công ty cần đặc biệt quan tâm hệ thống lò nung clanhke. Cụ thể là thay hệ thống lò nung cũ bằng hệ thống lò nung mới( lò quay). Đảm bảo chất lượng clanhke ổn định, tăng chất lượng sản phẩm xi măng. 20 C«ng ty Ph©n x¬ng s¶n xuÊt phô Ph©n xëng s¶n xuÊt chÝnh Bé phËn phôc vô s¶n xuÊt PX chuÈn bÞ liÖu PX Nung luyÖn PX thµnh phÈm
  21. 21. Phân xưởng thành phẩm: Đây là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất xi măng. 2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Bộ máy tổ chức quản lý của Công ty xi măng Kiện Khê được tổ chức theo kiểu trực tuyến - chức năng, theo chế độ một thủ trưởng. Người lãnh đạo doanh nghiệp được sự giúp đỡ của phòng chức năng để chuyển bị các quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quyết định. Ban dự án: - Chức năng nghiệp vụ: nghiên cứu, lập các phương án, trình tự triển khai dự án đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất cho Công ty. Trực tiếp thực hiện các thủ tục về dự án đầu tư mở rộng sản xuất. - Chức năng tham mưu: Tìm kiếm thông tin, tư vấn cho ban giám đốc về thị trường công nghệ, đánh giá các nhà thầu, đề xuất nội dung và phương thức đổi mới công nghệ. - Chức năng quản lý: thực hiện chức năng quản trị dự án, điều phối quá trình thực hiện dự án đổi mới công nghệ của Công ty, giám sát các đối tác thực hiện hợp đồng. * Bé máy quản lý dự án đổi mới công nghệ: Trong Công ty XMKK, ban dự án là bộ phận quản lý hoạt động đổi mới công nghệ. Đổi mới công nghệ có liên hệ mật thiết với mọi lĩnh vực quản trị doanh nghiệp. Đặc điểm của nó quy định cơ cấu và phương thức tổ chức quản lý dự án. Theo kiểu cơ cấu trực tuyến - chức năng, mỗi lĩnh vực do một bộ phận chuyên trách quản lý sau đó thống nhất và tham mưu cho ban giám đốc. Với nguyên tắc đó, ban giám đốc tập trung chủ yếu và nhiệm vụ thực hiện các thủ tục và theo dõi giám sát đồng thời tổng hợp và đề xuất các phương án, các phương án của từng lĩnh vực thông qua phòng chức năng tương ứng chấp nhận rồi trình ban giám đốc quyết định. 21
  22. 22. Sơ đồ 3: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 22 Ban Gi¸m ®èc Tr­ëng phßng Tr­ëng phßng Tr­ëng phßng Tr­ëng phßng Phßng TC - HC Phßng KÕ to¸n Phßng tiªu thô Phßng Kü thuËt c«ng nghÖ Qu¶n ®èc PX chuÈn bÞ liÖu Qu¶n ®èc PX nung luyÖn Qu¶n ®èc PX thµnh phÈm
  23. 23. Phần II Thực trạng quá trình đổi mới công nghệ tại Công ty Xi măng kiện khê - Hà Nam I. kết quả sản xuất kinh doanh Quá trình đổi mới công nghệ tại Công ty XMKK đã đem lại hiệu quả kinh doanh rõ rệt. Trong giai đoạn (2000 - 2002) Công ty đã tăng sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm. Từ sản lượng 61.000 tấn năm 2000 đã tăng lên 99.500 tấn vào năm 2002 điều đó chứng tỏ đổi mới công nghệ đã có sự tác động tích cực vào sản xuất. Doanh thu của Công ty tăng rõ rệt từ 30.102 (trđ) năm 2000 tăng lên 47.700 (trđ) năm 2003. Không những thế các chỉ tiêu: nép ngân sách và thu nhập bình quân của người công nhân đều tăng. Nh vậy việc đổi mới công nghệ đã giúp công ty tiết kiệm chi phí, nâng cao NSLĐ, giảm hao phí. Bảng 14 . Kết quả sản xuất kinh doanh so với các năm Năm Chỉ tiêu 2000 2001 2002 1)Sản xuất và tiêu thụ.(Đv:Tấn) 61.000 84.000 99.500 2)Doanh thu(Tr đ) 30.102 41.048 47.700 3)Nép ngân sách(Tr đ) 1.325 2.000 3.600 4)Thu nhập bình quân đầu người(đ) 750.000 900.000 1.300.000 (Nguồn: Phòng tổ chức hành chính) 2. Tình hình thực hiện chỉ tiêu kế hoạch. Trong 3 năm triển khai đổi mới công nghệ từ (2001 - 2002) Công ty xi măng Kiện Khê thường xuyên hoàn thành vượt mức kế hoạch các chỉ tiêu đã đề ra. Công ty cũng thường xhuyên đạt vượt mức kế hoạch nép ngân sách. Nh vậy đổi mới công nghệ không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cho Công ty, mà còn đem lại lợi Ých cho Nhà nước và xã hội. Bảng15.Cácchỉtiêukinhdoanhchủyếusovớikếhoạch. 23
  24. 24. Năm Chỉ tiêu 2000 2001 2002 KH TH % KH TH % KH TH % 1. Sản lượng sản xuất (tấn) 42.000 60.014 142 60.000 84.000 140 73.000 99.500 137% 2 Sản lượng tiêu thụ (tấn) 42.000 60.014 142 60.000 84.000 140 73.000 99.500 137% 3. Doanh thu (tr.đồng) 21.500 30102 140 27.000 41.048 152 36.500 47.700 130 4. Nép ngân sách (tr.đ) 1.300 1.25 102 1.400 2.000 142 1.800 3.600 200 5. Lợi nhuận (tr.đ) - 0 - 0 50 100 200 (Nguồn: Phòng tổ chức hành chính) II. Hiệu quả đổi mới công nghệ của Công ty xi măng Kiện Khê. 1. Công ty XMKK đã hoàn thành giai đoạn I của đổi mới công nghệ và hiện đang tiếp tục tiến hành giai đoạn II của đổi mới công nghệ Từ năm 2000 - 2002 (giai đoạn I) Công ty đã đạt được những kết quả nhất định trong việc đổi mới công nghệ Bảng 16: Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ Năm Chỉ tiêu Giai đoạn II Giai đoạn III 2000 2001 2002 2003 2004 Kdm (%) 64,6 13,12 16,51% 39,8 53,6 Kck (%) 50,1 40,4 54% 59,4 70,5 Kv (triệu VNĐ/người) 202,21 103,13 116,09 124,49 237,12 Ihđ (%) 64 13,12 28 44% 70 (Nguồn: Phòng kỹ thuật công nghệ) Chú thích: - Kdm : Hệ số đổi mới thiết bị - Kck: Tỷ lệ cơ khí hoá, tự động hoá - Kv: Mức trang bị vốn cho sản xuất - Ihđ: Tỷ trọng thiết bị hiện đại 24
  25. 25. 2. Phương thức đổi mới công nghệ của Công ty XMKK Hiện nay Công ty XMKK đang sử dụng dây chuyền sản xuất bằng công nghệ lò đứng của Trung Quốc có công suất thiết kế 85.000 tấn/năm. Việc đầu tư này đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Điều đó được thể hiện thông qua việc Công ty từng bước làm chủ công nghệ, tăng dần được sản lượng và phát huy vược công suất thiết kế, trả nợ hết vốn vay đầu tư. Trong thời gian tới thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và chủ trương công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với quan điểm chỉ đạo “lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lùa chọn dự án đầu tư và công nghệ, đầu tư chiều sâu để khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có”. Đồng thời để tiếp tục tạo điều kiện phát triển công nghiệp xi măng, khai thác thế mạnh về nguyên liệu và thị trường của tỉnh. Công ty XMKK đã khẩn trưởng triển khai dự án đầu tư cải tạo công nghệ giai đoạn II nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm trên cơ sở tận dụng các điều kiện hiện tại, cải tạo công nghệ lò đứng thành lò quay nung Clanke theo phương pháp khô. Công ty chủ trương mua sắm thiết bị hiện đại phù hợp với quy trình công nghệ sản xuất hiện tại. Sau đó, đầu tư cải tiến quy trình công nghệ, áp dụng công nghệ lò quay nung clanke theo phương pháp khô để năng suất và chất lượng sản phẩm xi măng. 2. Các giai đoạn đổi mới công nghệ của Công ty XMKK 2.1. Giai đoạn 1: (1997 - 1999) Đây là giai đoạn Công ty XMKK tập trung rà soát, đánh giá dây chuyền thiết bị, công nghệ, phân tích những khâu trọng yếu ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn này là ổn định chất lượng để tạo sức cạnh tranh cho sản phẩm trên thị trường. Trong giai đoạn này, các hạng mục đầu tư không đáng kể chủ yếu là sửa chữa và nâng cấp các thiết bị cũ, phần còn lại chờ các giai đoạn đầu tư tiếp theo. Việc đổi mới công nghệ chỉ tập trung vào những thiết bị đã quá cũ háng lạc hậu làm giảm chất lượng sản phẩm. 25
  26. 26. 2.2. Giai đoạn 2 (2000- 2002) Sau kết quả đổi mới công nghệ bước đầu,Công ty đã tiếp tục tiến hành giai đoạn II. Ở giai đoạn này việc đổi mới công nghệ có chiều sâu mang tính hệt hống. Mục tiêu là đạt công suất thiết kế, nâng chất lượng sản phẩm lên một bước. Tổng giá trị đầu tư thực tế của hai giai đoạn đầu là 1,5 tỷ đồng Việt Nam trong đó giá trị thiết bị là 1,5 tỷ các hạng mục đầu tư tập trung chủ yếu vào năm 2000 nên hệ số đổi mới Kdm 64,6% còn tỷ trọng thiết bị hiện đại đạt64%. Mức trang bị vốn cho sản xuất năm 2000 vượt 96,07% so với năm 2001. Tuy nhiên nhiều khâu trong quá trình sản xuất vẫn chưa được tự động hoá (Kck giảm từ 50,1 xuống 40,4). Ở giai đoạn này Công ty đã đầu tư xây dựng các hạng mục công trình mới, tập trung vào phân xưởng chuẩn bị liệu và phân xưởng thành phẩm. 2.3. Giai đoạn 3 (2003 - 2004) Ngày 22/10/2002 thực hiện nhiệm vụ được giao của UBND tỉnh Hà Nam. Công ty XMKK đã khấn trương triển khai thủ tục lập, và trình duyệt dự án đầu tư cải tạo công nghệ nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm trên cơ sở tận dụng các điều kiện hiện tại, cải tạo lò đứng thành lo quay nung clanke theo phương pháp khô, công suất tăng từ 240 tấn Clanke/ngày lên 300 tấn clanke/ngày. Nguồn vốn sử dụng chủ yếu là vốn vay ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Hà Nam và vốn tự có. Khi triển khai dự án, Công ty áp dụng phương thức dấu quốc tế hạn chế (trong các nhà thầu Trung Quốc) với toàn bộ gói thầu. Nhờ các nỗ lực của mình Công ty đã tiết kiệm vốn trong những hạng mục đã triển khai. Với những hạng mục đang triển khai Công ty đã lập dự toán với những hạng mục chưa triển khai vẫn tính giá trị đầu tư theo mức vốn kế hoạch đã được duyệt. 26
  27. 27. Bảng 17: Tổng hợp tổng mức đầu tư giai đoạn III ĐVT: 1000 đồng STT Khoản mục Giá trị trước thuế VAT Thuế VAT Sau thuế II Vốn cố định 28.150.174 500.687 28.650.216 1 Chi phí xây lắp 6.890.592 344.530 7.235.122 2 Chi phí thiết bị 17.358.476 105.272 17.463.748 3 Chi phí khác 2.080.082 50.285 2.130.367 4 Dự phòng 1.316.456 5 Lãi vay trong thời gian XD 504.566 II Vốn lưu động 1.000.000 1.000.000 III Tổng mức đầu tư 29.150.174 500.087 29.650.261 (Nguồn: Ban dự án) + Chi phí xây lắp của dự án bao gồm các hạng mục Nhà nghiền than, nhà lò nung, máy lò nung…. Chi phí xây lắp này được tính theo các căn cứ: + Chi phí khác + Chi phí dự phòng Đây là một dự án tương đối lớn. Nội dung của dự án mang tính đổi mới căn bản. Trong đó hạng mục quan trọng nhất là lò nung clanke (lò quay) thay thế lò đứng. Từ đó sẽ nâng công suất clanke từ 240 tấn/ngày lên 300 tấn/ngày. Bảng 18: Các hạng mục của dự án đổi mới STT Tên mạng mục 1 Nhà nghiền than 2 Nhà vận hành lò nung 3 Móng lò nung, móng Tbị làm nguội Clanke 4 Nhà tháp trao đổi nhiệt 5 Khung đỡ tháp điều hoà khí thải 6 Móng quạt hót khí thải 7 Khung đỡ lọc bụi điện 8 Èng khói 9 Móng các thiết bị, hố công nghệ 10 Trạm khí nén 11 Hệ thống giao thông khu vực lò nung (Nguồn: Ban dự án) 27
  28. 28. Năm 2003 Công ty XMKK đánh giá lại thiết bị máy móc. Xác định thiết bị hiện đại chiếm 44%. Do khấu hao nên mức trang bị vốn giảm từ 20,221 (năm2000) xuống còn 124,49 (năm 2003). Móng lò nung năm 2002 Công ty đầu tư xây dựng mới và trạm khí nén nên Kdm tăng từ 54%(năm 2002) lên 124,49 (2003) các thiết bị được đầu tư mới, giá trị lớn nên làm cho Ihđ tăng lên 44%. Đến tháng 1/2004 Công ty XMKK đã hoàn thành hệ thống giao thông khu vực lò nung, nhà vận hành lò nung, ống khói, qua đó Ihd đạt tới 70%. Tuy nhiên chỉ số đó mới phản ánh về mặt giá trị. Thực tế tại thời điểm này thiết bị hiện đại chỉ chiếm phần nhỏ. Dây chuyền thiết bị chính (lò nung clanke) là lò quay trong giai đoạn II. Công ty đã đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị mới hiện đại. Qua đó tỷ lệ cơ khí hoá, tự động hoá tăng từ 59,4% (2003) lên đến 70,55. Nội dung đầu tư chủ yếu của giai đoạn III. Xây mới các hạng mục đã được đề cập ở bảng…. Đặc biệt là các hạng mục quan trọng nh: + Lò nung Clanke: từ lò đứng sang lò quay tăng công suất Clanke từ 240 tấn/ngày - 300 tấn/ngày. + Nhà nghiền than, nhà vận hành lò nung, nhà tháp trao đổi nhiệt, khung đỡ bọc bụi điện được thiết kế theo bậc chịu lửa cao nhất. Tất cả các hạng mục xây mới chủ yếu được áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam hiện hành. Tuy nhiên một số tiêu chuẩn của Trung Quốc có thể được áp dụng cho công trình với sự thoả thuận của chủ đầu tư và nhà thầu thiết kế. III. Phân tích nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả đổi mới công nghệ tại Công ty XMKK 1. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp 1.1. Quy trình công nghệ chế tạo sản phẩm: Sản phẩm chính của Công ty XMKK là xi măng và Clanke. Quy trình công nghệ của sản xuất xi măng bao gồm 3 công đoạn chính là: chuẩn bị nguyên liệu, Nghiền phối liệu, nghiền và đóng bao xi măng. Đây là quy trình công nghệ rất phức tạp có nhiều công đoạn nhỏ, lẻ. Thời gian của quy trình công nghệ dài. 28
  29. 29. Quy trình công nghệ lò đứng cơ khí hoá. a. Công đoạn chuẩn bị nguyên liệu 29 §¸ v«i B·i tËp kÕt §Êt sÐt Kho tæng hîp Xû pirit Kho tæng hîp Phô giao cao silic Kho tæng hîp Than c¸m 3 Kho tæng hîp M¸y ®Ëp hµm (®Ëp lÇn 1) M¸y c¸n ®Êt sÐt Bun ke cÊp liÖu Bun ke cÊp liÖu Bun ke cÊp than M¸y ®Ëp hµm (®Ëp lÇn 2) M¸y sÊy thïng quay (sÊy tõng lo¹i riªng) + läc bôi tÜnh ®iÖn B¨ng t¶i cao su GÇu t¶i - B¨ng t¶i cao su - GÇu t¶i - B¨ng t¶i cao su Silo ®¸ v«i Silo ®Êt sÐt Silo sØ pyrit Sil« phô gia Sil« than
  30. 30. b. Công đoạn nghiền phối liệu c. Công đoạn nung Clanke bằng lò Trước khi cải tạo thì công đoạn này được thực hiện bằng lò đứng cơ khí hoá sau khi cải tạo công đoạn này được xử lý bằng lò quay phương pháp khô làm cho công suất Clanke tăng từ 240 tấn/ngày - 300 tấn/ngày. Ở công đoạn này ngoài các thiết bị thuộc hệ thống nung Clanke và xử lý khí thải còn có hệ thống gầu tải và vít tải đảo trộn phối liệu để tăng độ đồng nhất, dưới các nilo đồng nhất bổ sung thêm hệ thống khí nén để tháo bột liệu, chóng tạo vòm, tắc liệu. 30 Silo ®¸ v«i C©n b¨ng (®¸ v«i) Silo ®Êt sÐt C©n b¨ng (®Êt sÐt) Silo xØ pyit C©n b¨ng (xØ pyrit) Silo phô gia C©n b¨ng (phô gia) Silo than C©n b¨ng (than) B¨ng t¶i cao su cÊp liÖu cho m¸y nghiÒn M¸y tÝnh §K tû lÖ phèi liÖu, NS M¸y nghiÒn 23,5 tÊn/h GÇu t¶i vÝt t¶i håi bét th« M¸y ph©n ly GÇu t¶i VÝt t¶i bét mÞn
  31. 31. d. Công đoạn nghiền, đóng bao xi măng e. Công đoạn nghiền than, vận chuyển và dự trữ than mịn: đây là công đoạn đầu tư mới hoàn toàn, nhằm cung cấp than mịn cho vòi phun than của lò quay nung Clanke. Công nghệ lò quay phương pháp khô a. Công đoạn chuẩn bị liệu: Giữ nguyên toàn bộ hệ thống thiết bị hiện có theo sơ đồ ở trên. b. Công đoạn nghiền phối liệu: Giữ lại toàn bộ hệ thống thiết bị hiện có theo sở đồ ở trên, riêng cân bằng dưới silo than sẽ được thay bằng cấp liệu đĩa để cấp than cho máy nghiền than (thuộc công đoạn nghiền than, vận chuyển và dự trữ than mịn được đầu tư mới như mục e dưới đây). 31 Silo clanhke CÊp liÖu rung ®iÖn tö Silo ®Êt sÐt CÊp liÖu rung ®iÖn tö Silo xØ pyrit CÊp liÖu rung ®iÖn tö Th¹ch cao Kho tæng hîp Phô gia Kho tæng hîp KÐt xi m¨ng M¸y ®Ëp hµm GÇu t¶i M¸y ®ãng bao 2 vßi B¨ng t¶i cao su Xi m¨ng
  32. 32. c. Công đoạn nung clanhke bằng lò quay phương pháp khô: Đây là công đoạn quan trọng nhất của dự án cải tạo công nghệ, công đoạn này thay thế cho công đoạn nung clanhke bằng lò đứng cơ khí hoá hiện có. Ở công đoạn này, ngoài các thiết bị thuộc hệ thống rung clanhke và xử lý khí thải được đầu tư mới hoàn toàn còn bổ sung thêm hệ thống gầu tải và vít tải đảo trộn phối liệu để tăng độ đồng nhất, dưới các silo đồng nhất bổ sung thêm hệt hống sục khí nén để tháo bột liệu, chống tạo vòm, tắc liệu. 1. 2. Thùc trạng máy móc thiết bị tại Công ty XMKK Tỷ trọng giá trị thiết bị nhập ngoại chiếm 80%. Phần lớn giá trị thiết bị này nằm trong dây chuyền sản xuất. Ngoài ra hơn 50% thiết bị của nhà máy đều đã cũ chủ yếu là các máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất nh lò nung Clanke, hệ thống điện, chuẩn bị liệu. Từ năm 1998 - 2000 Công ty đã không ngừng cải tiến công nghệ, tận dụng tối đa công suất của máy móc thiết bị do đó năng suất và chất lượng của sản phẩm đã tăng lên rõ rệt. Nhưng do quy trình công nghệ sản xuất xi măng áp dụng tại nhà máy là quy trình công nghệ lò đứng cơ khí hoá. Do đó sản phẩm của Công ty chưa cạnh tranh được với sản phẩm áp dụng công nghệ lò quay. Nhận thức được đây là vấn đề sống còn của Công ty trong tương lai. Vì vậy ban giám đốc Công ty XMKK đã đi đến quyết định thực hiện giai đoạn III của đổi mới công nghệ. Chuyển từ công nghệ lò đứng sang công nghệ lò quay. Từ đó nâng công suất Clanke từ 240 tấn/ngày tăng lên 300 tấn/ngày. Nhìn chung, hiện nay máy móc của Công ty XMKK đã có nhiều sự thay đổi, tỷ lệ máy móc mới, hiện đại chiếm phần lớn. Điều này giúp Công ty đáp ứng được nhiệm vụ sản xuất kinh doanh trong thời gian tới. 1.3. Thông tin cho đổi mới công nghệ Quá trình đổi mới công nghệ của Công ty XMKK cần dùa vào thông tin về nhiều yếu tố như: thị trường công nghệ, quy mô thị trường xi măng, nhu cầu thị trường, đối thủ cạnh tranh, thực trạng công nghệ của nhà máy. Những thông 32
  33. 33. tin này là cơ sở là căn cứ để Công ty ra quyết định hợp lý, đảm bảo hiệu quả đổi mới công nghệ. Nguồn và phương pháp thu thập thông tin chủ yếu của Công ty XMKK. Hiện nay Công ty đã áp dụng phương pháp thu thập thông tin. Thôngtin thị trường và thông tin trong ngành thường lấy từ tổng Công ty xi măng. Ngoài ra Công ty còn thu thập qua các báo cáo hàng tháng, hàng quý. Do đó, thông tin thu được về thị trường và đối thủ cạnh tranh thiết và chậm. Điều này làm cho Công ty gặp khó khăn khi hoạch định phương án đổi mới công nghệ hiệu quả nhất. Đảm bảo khả năng cạnh tranh và chiếm lĩnh thị trường. Thông tin về công nghệ thường thu thập qua tổng Công ty và một số nhà tư vấn, nhưng thiếu chi tiết và cụ thể. Do đó Công ty chỉ có thông tin mang tính định hướng để ra tiêu chí mời thầu. Vì thiếu tư liệu về thiết kế kỹ thuật, giải pháp công nghệ. Nên Công ty phải phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn từ nhà thầu cung cấp. Những thông tin này chủ yếu do một số nhà môi giới đem tới còn Công ty chưa chủ động tìm kiếm. Chính vì vậy hiệu quả đổi mới công nghệ bị giới hạn. Phương pháp xử lý thông tin cho đổi mới công nghệ. Công ty XMKK vẫn căn cứ vào phương pháp thống kê kinh nghiệm, bán hàng giản đơn để dự báo khả năng tiêu thụ. Ngoài ra Công ty chưa áp dụng phương pháp bài bản để phân tích và lượng hoá các yếu tố định tính của thị trường công nghệ, thiếu cơ sở định hướng khoa học để đảm bảo sự phù hợp của quyết định và hiệu quả của đổi mới công nghệ. 1.4. Chất lượng lao động: Thực trạng chất lượng lao động hiện tại của Công ty XMKK là tương đối thấp. Tỷ trọng lao động có trình độ từ cao đẳng trở lên còn thấp, thiếu cán bé có trình độ học vấn cao, có kiến thức chuyên sâu về sản xuất xi măng. Đây là một yếu tố tác động không nhỏ tới hiệu quả đổi mới công nghệ. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ , Công ty cần cải thiện chất lượng lao động. 33
  34. 34. Củ thể, sau khi hoàn thành giai đoạn 3 của quá trình đổi mới công nghệ, Công ty sẽ đưa một số lao động đi học tập kinh nghiệm quản lý và sử dụng công nghệ hiện đại tại một số nhà máy xi măng trong nước và nước ngoài. 1.5. Khả năng tài chính: Ở thời điểm hiện nay, Công ty XMKK là doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh, đây là điều kiện thuận lợi để nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ tại Công ty. Dự án đổi mới công nghệ ở Công ty XMKK cố tổng vốn đầu tư là 29.650 triệu đồng. Nguồn vốn đầu tư này sẽ được huy động từ các nguồn vốn sau: - Vốn tự có của chủ đầu tư: 8000 triệu đồng (chiếm 28,4%) - Phần còn lại là 21,650 triệu đồng (7,16%) vay ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nam với lãi suất 0,7%/tháng (8,4%/năm). - Vốn lưu động: 998.054 triệu đồng, vay ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nam với lãi suất 0,63%/tháng. Qua các số liệu trên ta thấy việc huy động nguồn vốn chủ sở hữu cho dù án đầu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn đầu tư cho dù án (28,4%). Còn phần vốn đầu tư chủ yếu là vay ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nam (71,6). Vì vậy Công ty không thể chủ động trong việc huy động vốn đầu tư cho đổi mới công nghệ, dẫn đến những khó khăn cho việc đổi mới công nghệ. Do đó Công ty không nắm bắt được cơ hội kinh doanh, các quết định đầu tư sẽ bị chậm trễ không kịp thời. Dẫn đến việc giảm hiệu quả trong việc đổi mới công nghệ. Bên cạnh khó khăn trên, Công ty cũng có những thuận lợi nhất định trong việc huy động vốn vay ngân hàng. Đó là do kết quả kinh doanh của Công ty trong ba năm trở lại đây rất khả quan. Công ty có được sự tín nhiệm của các ngân hàng trong tỉnh đặc biệt ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nam. Với thuận lợi nh vậy thì Công ty có thể huy động được một nguồn vốn lớn cho dù án giúp khắc phục được những khó khăn do việc huy động vốn qua đó góp phần nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ. 34
  35. 35. * Cơ cấu vốn: Xét theo tính chất vốn thì vốn kinh doanh được chia thành vốn lưu động và vốn cố định. Vốn lưu động là hình thái giá trị biểu hiện bằng tiền của toàn bộ TSLĐ hiện có trong doanh nghiệp. Vốn cố định là hình thái giá trị biểu hiện bằng tiền của toàn bộ TSCĐ hiện đang được doanh nghiệp huy động vào sản xuất kinh doanh. * Vốn cố định của Công ty XMKK bao gồm các hạng mục sau: - Tài sản cố định của dây chuyền - Tài sản cố định sẽ được khấu hao hết đến thời điểm khởi công xây dựng công trình. - Vốn cố định đầu tư mới bao gồm: chi phí xây lắp, chi phí thiết bị, chi phí khác, chi phí dự phòng và lãi vay trong thời gian xây dựng cơ bản. * Vốn lưu động: Vốn lưu động được xác định theo thời gian dự trữ nguyên nhiên vật liệu, chi phí sản xuất, chi phí sản xuất cho sản phẩm dở dang. Vì vậy khi đổi mới công nghệ vốn lưu động cần bổ sung thêm 1.000.000 đồng trong đó: - Vốn lưu động tự có: 1.946.000 đồng - Vay vốn lưu động: 998.054.000 đồng với lãi suất 0,65%/tháng Bảng 19: Tổng hợp mức đầu tư cho đổi mới công nghệ. ĐVT: 1000 đồng STT Chỉ tiêu Giá trị I Vốn cố định 28.650.216 1 Chi phí xây lắp 7.235.122 2 Chi phí thiết bị 17.463.748 3 Chi phí khác 2.130.367 4 Dự phòng 1.316.457 5 Lãi vay trong thời gian xây dung 504.566 II Vốn lưu động 1.00.000 III Tổng mức đầu tư 29.650.216 (Nguồn: Ban dự án) 35
  36. 36. 2. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp. 2.1. Môi trường cạnh tranh trong ngành xi măng Việt Nam Đối thủ cạnh tranh hiện tại: Công ty XMKK cùng một thị trường mục tiêu và cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm XMKK có thương hiệu xi măng bót sơn, xi măng Bỉm Sơn, Nghi Sơn, Hoàng Mai. 36
  37. 37. Bảng 20: Đối thủ cạnh tranh hiện tại của Công ty XMKK. TT Tên doanh nghiệp Chủng loại sản phẩm Công suất thiết kế Công suất hiện tại Công nghệ áp dụng 1 Công ty xi măng Bót Sơn XM Clenke 1,4 1,4 Lò quay 2 Công ty XM Bỉm Sơn XM Clanke 1,2 1,2 Lò quay Mặc dù hướng tới thị trường mục tiêu không hoàn toàn giống Công ty XMKK, nhưng thực tế các thương hiệu trên đều có thể chia sẻ thị trường và cạnh tranh với sản phẩm XMKK. Các đối thủ cạnh tranh trên thực lực rất mạnh. Cả hai Công ty đều là Công ty lớn trực thuộc bộ Xây dựng. Có bề dày lịch sử, họ được thừa hưởng kinh nghiệm và phương pháp quản lý kinh doanh hiện đại. Trong bối cảnh đó, nếu chất lượng của Công ty XMKK không đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, thì khách hàng tiềm năng và cả một bộ phận khách hàng hiện tại sẽ quay sang sử dụng sản phẩm xi măng khác như Bót Sơn và Bỉm Sơn. Trước sức Ðp cạnh tranh nh vậy, Công ty xi măng Kiện Khê đã bước đầu đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đó là yếu tố để Công ty quảng bá với khách hàng, hàng là công cụ cạnh tranh trên thị trường. Bởi Công ty đã quyết định lùa cho công nghệ lò quay thay thế công nghệ lò đứng đang áp dụng. Công ty Xi măng Bót Sơn là đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Công ty Xi măng Kiện Khê đã chiếm lĩnh phần lớn thị trường trong và ngoài tình Hà Nam. Vì vậy để duy trì và tăng được thị phần trên thị trường. Công ty cần đẩy nhanh tiến độ đổi mới công nghệ. Sớm hoàn thành các hạng mục đầu tư để huy động vào sản xuất. 37
  38. 38. Đối thủ cạnh tranh tiềm Èn: Trên thực tế, ngoài các đối thủ cạnh tranh trực tiếp. Công ty còn có những đối thủ cạnh tranh tiềm Èn có thể trở thành đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Công ty Xi măng Kiện Khê trong tương lai. Khi Công ty xi măng Kiện Khê mở rộng khu vực thị trường sang miền Trung thì sẽ phải cạnh tranh với thương hiệu xi măng đã chiếm lĩnh thị trường khu vực đó như: Nghi Sơn, Bỉm Sơn và Công ty xi măng Tam Điệp sắp sửa đi vào hoạt động. Ngoài ra nhiều Công ty xi măng cũng dự định thâm nhập thị trường tỉnh Hà Nam và các tỉnh lân cận. Tới năm 2006 khi hội nhập AFTA, các doanh nghiệp xi măng ở Việt Nam còn p hải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong khu vực Đông Nam Á. Đó chính là đối thủ tiềm Èn, là rào cản với Công ty XMKK trong quá trình thực hiện mục tiêu mở rộng thị trường và củng cố vị thế hiện tại. 2.2. Cơ chế và chính sách quản lý của Nhà nước Theo quy chế quản lý tài chính DNNN, Công ty XMKK phải thực hiện thủ tục xin phép đầu tư và xin phê duyệt dự án đầu tư. Với dự án lớn, Công ty phải lập dự án theo hai bước: dự án tiền khả thi và dự án khả thi. Về thủ tục xin phép đầu tư, Công ty phải thông qua sở xây dựng (cơ quan chủ quản) để trình lên UBND tỉnh Hà Nam. Nội dung xin phép phê duyệt là quy mô, công suất của dự án, địa điểm đầu tư, các vấn đề liên quan đến giao thông, môi trường. Với dự án khả thi, Công ty lập hồ sơ rồi trình lên sở xây dựng tỉnh Hà Nam. Lãnh đạo sở sẽ xem xét, xin ý kiến UBND tình Hà Nam về các vấn đề liên quan tới địa điểm đầu tư, đồng thời trình dự án lên Bộ Xây dựng thẩm định dự án khả thi rồi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Sau khi được phê duyệt Công ty sẽ lập dự án khả thi. Với dự án khả thi. Công ty đã ký kết hợp đồng với viện KHCN vật liệu xây dựng lập báo cáo nghiên cứu khả thi cải tạo công nghệ. Đây là dự án có tổng vốn đầu tư 29.650.216 (1000đ). Dự án này sẽ nâng công suất clanke từ 240 38
  39. 39. tấn/ngày lên 300 tấn/ngày. Dự án được UBND tỉnh Hà Nam. Cơ chế quản lý tài chính nói chung, và quản lý đầu tư nói riêng đối với DNNN hiện còn rất chặt chẽ, có nhiều thủ tục mỗi quyết định đầu tư trên 250 triệu đồng, Công ty XMKK phải thông qua 3 cơ quan phê duyệt là Bộ Xây Dựng, Xây dựng Tỉnh Hà Nam, tổng Công ty Xi Măng. Mất nhiều thời gian thực hiện thủ tục. Bên cạnh đó Công ty cũng có nhiều thuận lợi là có sự quan tâm của cơ quan chủ quản, được phép đầu tư quy mô lớn, tuy nhiên trong quá trình triển khai thủ tục còn phức tạp. 2.3. Năng lực của nhà thầu Thuận lợi: Công ty XMKK sử dụng phương thức đấu thầu để lùa chọn đối tác thực hiện dự án đổi mới công nghệ. Do dự án lớn, năng lực công nghệ của Công ty lại chưa cao nên Công ty quyết định chọn tổng thầu. Khó khăn: Theo quy định hiện tại, Công ty XMKK áp dụng đấu thầu trong nước để lùa chọn đối tác thực hiện các hạng mục xây lắp. Do các công trình phức tạp, nên chỉ một Ýt số nhà thầu Việt Nam đủ điều kiện tham gia đấu thầu hình thành một dạng độc quyền tập đoàn. Vì thế, Công ty XMKK gặp khó khăn trong khâu tổ chức đấu thầu vì các nhà thầu có thể liên minh để nâng giá thầu. Năng lực của nhà thầu Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng cong nghiệp còn hạn chế. Do đó Công ty XMKK cũng gặp khó khăn trong khâu lùa chọn nhà thầu và giám sát thi công cho công trình đảm bảo được các yêu cầu nghiêm ngặt của thiết kế. Mặt khác cơ chế xử lý vi phạm hợp đồng kinh tế ở Việt Nam còn lỏng lẻo. Chính vì thế, khi các nhà thầu không đảm bảo yêu cầu của hợp đồng thì Công ty XMKK còng không đền bù thiệt hại do chậm tiến độ, sai háng thiết kế, nhất là khi nhà thầu là DNNN. IV. Đánh giá hiệu quả đổi mới công nghệ của Công ty XMKK 1. Thành tựu đạt được Sau khi đổi mới công nghệ, chất lượng xi măng được nâng lên đáng kể không thua kém các đối thủ cạnh tranh tại thị trường khu vực. Sau khi cải tạo công nghệ công ty có thể sản xuất sản phẩm theo cả 3 phương án: 39
  40. 40. Phương án I: sản xuất 100%; Xi măng PC B30 (chứa 75% Clanke PC 50). Phương án II: sản xuất 100% XM PC 40 (chứa 80% PCB 40) Phương án III: sản xuất 80% XM PCB 40; 10% xi măng Bền Nun phát (xi mang đặc biệt) PCHS 40; 10% xi măng giếng khoan chủng loại G (đặc biệt). Để có được các phương án sản phẩm đa dạng là nhờ Công ty đã đầu tư dây chuyền công nghệ lò quay phương pháp khô. Chuyển từ lò đứng sang lò quay làm cho chất lượng Clanke tăng đáng kể. Dẫn đến xi măng có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu đa dạng của thị trường. 1.1. Nâng cao công suất và tăng sản lượng tiêu thụ nhờ có đổi mới công nghệ mà sản lượng xi măng của Công ty liên tục tăng trưởng. Từ chỗ chưa đạt công suất thiết kế (1998 - 1999) đến chỗ vượt công suất thiết kế (2000 - 2001). Cụ thể trong Năm 2000 Công ty sản xuất và tiêu thụ được 61.000 tấn Năm 2001 Công ty sản xuất và tiêu thụ được 84.000 tấn Năm 2002 Công ty sản xuất và tiêu thụ được 99.500 tấn Có được các kết quả này nhờ hai giai đoạn đổi mới công nghệ đầu. Tuy nhiên do đặc thù công nghệ lò đứng do đó Công ty không cải thiện được chất lượng và năng suất Clanke. Do vậy Công ty tiến hành đổi mới công nghệ chuyển từ công nghệ lò đứng sang lò quay (giai đoạn III). Với công nghệ này Công ty có thể nâng công suất Clanke từ 240 tấn/ngày đến 300 tấn/ngày, giảm 25% đáp ứng được nhu cầu thị trường tăng thị phần của Công ty trên thị trường. Sau khi thực hiện giai đoạn III Công ty có thể thực hệin 3 phương án sản phẩm với sản lượng P/A P/A I II III Sản lượng (tấn/năm) 126.000 168.125 115.750 40
  41. 41. 1.2. Tăng doanh thu và hoàn trả các khoản vốn vay cho đổi mới công nghệ Tăng doanh thu là kết quả rõ ràng thể hiện qua bảng kết quả sản xuất kinh doanh so với các năm doanh thu của Công ty tăng liên tục qua các năm từ 2000 - 2002 đây là kết quả của quá trình đổi mới công nghệ qua 2 giai đoạn đầu. Trong giai đoạn II của quá trình đổi mới công nghệ Công ty đã đầu tư thêm máy móc thiết bị với tổng giá trị 1,5 tỷ đồng. Nhờ có sự đầu tư này mà doanh thu của Công ty tăng từ 30 tỷ (năm 2000) lên đến 47 tỷ năm 2002. 1.3. Tăng năng suất lao động, đảm bảo lợi Ých của người lao động. Chủ trương của Công ty là đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại - tù động hoá. Do đó năng suất lao động của Công ty đã được tăng nhanh. Bên cạnh đó các điều kiện lao động cũng được cải thiện. Hơn nữa do tiếp xúc với công nghệ hiện đại, phải tuân theo thủ tục nghiêm ngặt và các quy tắc quy phạm lao động nên nhìn chung ý thức kỷ luật lao động tác phong công nghiệp của người lao động tiến bộ rõ rệt. Bảng 21: Năng suất lao động của Công ty XMKK Năm Sè lao động (người) Sản lượng (tấn) Doanh thu thuần (tr.đ) Năng suất LĐ theo doanh thu (Tr/người/năm ) NSLĐ theo SL (tấn/người/năm ) 2000 230 61.000 30.102 130,878 265,217 2001 240 84.000 41.048 171,033 350 2002 259 99.500 47.700 184,169 384,169 (Nguồn: Phòng tổ chức hành chính) Mặt khác trong quá trình đổi mới công nghệ, Công ty luôn quan tâm tới lợi Ých của người lao động. Để tiết kiệm đầu tư và giải quyết việc làm cho người lao động Công ty chủ trương dùng lao động thủ công thay thế cho việc nhập khẩu thiết bị. Đổi mới công nghệ góp phần tăng thu nhập cho người lao động trong Công ty đây là kết quả được thể hiện rõ qua bảng kết quả sản xuất kinh doanh. 41
  42. 42. 2. Những khó khăn còn tồn tại 2.1. Dây chuyền sản xuất của Công ty chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và sản lượng. Khi đưa dây chuyền sản xuất lò đứng cơ khí hoá tự động. Sản phẩm của Công ty không đáp ứng được yêu cầu cao về chất lượng của khách hàng dẫn đến sản phẩm của Công ty chỉ phục vụ được một số Ýt khách hàng, không có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm được sản xuất bằng công nghệ lò quay. Bên cạnh đó sản lượng của Công ty còn thấp so với các Công ty khác nh Bót Sơn và Bỉm Sơn do vậy Công ty chỉ chiếm được thị phần nhỏ trên thị trường khu vực. 2.2.Năng lực tài chính cho đổi mới công nghệ Công ty XMKK mặc dù được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của UBND Tỉnh Hà nam về mọi mặt và cả vấn đề tài chính. Được sư tín nhệm của các ngân hàng trong tỉnh, đặc biệt là ngân hàng đầu tư và phát triển Hà nam. Công ty có thể vay được một số vốn lớn đáp ứng yêu cầu về tài chính của dự án đổi mới công nghệ. Mặc dù được một số vốn lớn nhưng Công ty phảI chịu một lãI vay tương đối cao. Trong tổng vốn đầu tư của dự án đổi mới công nghệ của giai đoạn 3, tỷ trọng vốn tự có còn thấp chủ yếu là vốn vay. Do vậy, Công ty không thể chủ động về nguồn vốn, dẫn đến làm chậm tiến độ đổi mới công nghệ. 2.3.Chất lượng lao động Công ty XMKK mới được thành lập đI vào hoạt động chưa đây 10 năm, do đó chất lượng lao động của Công ty còn thấp. Cụ thể là thiếu cán bộ quản lý có trình độ cao, có kinh nghiệm trong vấn đề quản lý nhân sự. Bên cạnh đó đội ngò công nhân kỹ thuật còn yếu và thiếu cả về kinh nghiệm lẫn chuyên môn. Họ chưa có khả năng sử dụng công nghệ tiên tiến hiện đại. 2.4. Công tác nghiên cứu thị trường chưa được chú trọng: Hiện nay, Công ty XMKK không có đội ngò nghiên cứu, phân tích thị trường một cach chuyên nghiệp. Công tác tiêu thụ sản phẩm là chức năng của phòng kinh doanh. Tuy nhiên, công việc của phòng kinh doanh chỉ dừng lại ở mức độ bán hàng, xuất giao cho các đại lý và kí kết các hợp đồng bán buôn. Việc nắm bát thông tin thị trường chỉ dùa vào các thống kê của tổng Công ty xi măng Việt nam. 42
  43. 43. Phần III Biện pháp nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ tại Công ty Xi măng Kiện Khê I. Mục tiêu và phương hướng phát triển của Công ty 1. Phương hướng phát triển 1.1. Phát triển bền vững Công ty xi măng Kiện Khê mới đi vào hoạt động được gần 10 năm do vậy trong quá trình phát triển Công ty phải luôn xác định duy trì vị thế của mình trên thị trường khu vực tạo dựng uy tín lâu dài. Với chủ trương Êy Công ty xác định mục tiêu phát triển bền vững. Sự phát triển của giai đoạn trước không gây những tác động tiêu cực lâu dài tới các giai đoạn sau. Phát triển bền vững có nghĩa là những kết quả thành tựu của giai đoạn trước phải trở thành nền tảng thuận lợi, là nhân tố thúc đẩy sự phát triển ở các giai đoạn tiếp theo. Có nh vậy, Công ty mới đạt được sự phát triển lâu dài và luôn giữ được uy tín vị thế, đồng thời đạt kết quả kinh doanh tốt. Đối với doanh nghiệp công nghiệp sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, một yếu tố cơ bản để đánh giá tiềm lực và sức mạnh của doanh nghiệp là năng lực sản xuất, trình độ thiết bị công nghệ và chất lượng sản phẩm. Nh vậy, để thực hiện phát triển bền vững thì doanh nghiệp phải đầu tư và phát triển các nhân tố nói trên. Do đó, xuất phát từ mục tiêu phát triển bền vững, đổi mới công nghệ là một đòi hỏi khách quan, một nhiệm vụ tất yếu của doanh nghiệp. Nó phục vụ cho chiến lược kinh doanh lâu dài của doanh nghiệp, đồng tời phản ánh trình độ phát triển của doanh nghiệp, khẳng định vị thế của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh lâu dài. 1.2. Củng cố, chiếm lĩnh và mở rộng thị trường Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, doanh nghiệp Nhà nước lớn chính là công cụ kinh tế để thành phần kinh tế Nhà nước giữ được vai trò chủ đạo, nắm giữ và điều tiết các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân. Công ty xi măng Kiện Khê trong tương lai sẽ trở thành một Công ty lớn có 43
  44. 44. khả năng cạnh tranh cao không chỉ ở thị trường khu vực mà vươn ra cả các thị trường bên ngoài. Như vậy, nhiệm vụ đặt ra khi tiến hành đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất là phải đạt hiệu quả đồng bộ trên nhiều mặt: đổi mới công nghệ phải gắn với nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, phù hợp với sự phát triển xã hội, giải quyết được các vấn đề liên quan. 1.3. Nâng cao trình độ công nghệ theo hướng hiện đại và tự động hoá cao. Công ty xi măng Kiện Khê là một doanh nghiệp vừa và nhỏ đặt ra phương hướng phát triển với nhiều mục tiêu do đó gắn liền với xu thế phát triển chung của ngành xi măng nói chung, Công ty cũng đặt ra nhiệm vụ nâng cao trình độ công nghệ. Đó là cơ sở để mở rộng quy mô sản xuất, củng cố vị thế của Công ty trên thị trường. Việc nâng cao trình độ công nghệ phải đi theo hướng hiện đại tiếp cận với công nghệ tiên tiến, chuyển tư sử dụng lao động điều khiển trực tiếp sang điều khiển tự động hoá. Đây là xu hướng tất yếu, tạo ra tính chính xác, thống nhất trong quá trình sản xuất, đồng thời nâng cao năng suất lao động, chỉ định chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, hiện nay đổi mới công nghệ không chỉ bao hàm mua sắm thiết bị đơn thuần. Để thực sự có hiệu quả thì đổi mới công nghệ phải gắn liền với việc nâng cao đổi mới công nghệ của Công ty. Điều đó thể hiện qua trình độ nắm bắt, làm chủ công nghệ và trình độ nghiên cứu cải tiến hoặc thích ứng hoá công nghệ mua về trong môi trường sản xuất kinh doanh cụ thể của Công ty. 2. Mục tiêu của Công ty tới năm 2010 2.1. Mục tiêu chung Tới năm 2010 Công ty Xi măng Kiện Khê đạt mục tiêu thâm nhập thị trường bên ngoài khu vực đồng thời chiếm lĩnh thị trường khu vực. Công ty sẽ trở thành một Công ty lớn có trình độ công nghệ hiện đại, tỷ lệ giá trị thiết bị hiện đại chiếm 90%. 44
  45. 45. Cơ cấu khu vực thị trường thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng tiêu thụ tại địa bàn tỉnh Hà Nam tập trung tăng tiêu thụ tại một số khu vực mới nh Hưng Yên, Ninh Bình. Qua đó dần dần mở rộng thị trường vào các khu vực lớn hơn. Cơ cấu sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhiều đối tượng khách hàng hơn, nhưng vẫn luôn bảo vệ uy tín và truyền thống chất lượng cao. 2.2. Mục tiêu cụ thể Căn cứ vào mục tiêu chung và dùa vào thực trạng kết quả sản xuất kinh doanh trong những năm gần đây cùng với quá trình đổi mới công nghệ đang diễn ra Công ty xi măng Kiện Khê đã đặt ra chỉ tiêu kế hoạch sản xuất kinh doanh trong những năm tới. Bảng 22: Chỉ tiêu sản xuất kinh doanh kế hoạch tới năm 2010 Năm Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 Sản xuất và tiêu thụ (tấn) 100.000 120.000 130.000 140.000 Doanh thu (tr.đ) 50.000 55.000 65.000 70.000 Nép ngân sách (tr.đ) 4.000 4500 5.000 6.000 Thu nhập bình quân đầu người (đồng) 1.500.00 0 1.600.000 1.700.00 0 2000.000 (Nguồn: Phòng tổ chức hành chính) II. Biện pháp nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ ở Công ty Xi măng Kiện Khê. Biện pháp 1: Đào tạo cán bộ quản lý và công nhân. 1.1. Cơ sở lý luận Phần cơ sở lý luận của chuyên đề đã đề cập tới các nội dung liên quan tới năng lực công nghệ của doanh nghiệp. Năng lực công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với đổi mới công nghệ, chi phối hiệu quả đổi mới công nghệ. Bởi vì hiệu quả đổi mới công nghệ không chỉ phản ánh qua việc “ Ta sẽ sở hữu công nghệ gì?” mà phản ánh qua “Ta thu được gì từ công nghệ sẽ đổi mới?”. Rõ ràng, bản thân năng lực công nghệ của doanh nghiệp phải đạt tới trình độ nhất định, thì mới có thể làm chủ, và khai thác công nghệ có hiệu quả. Yếu tố cốt lõi của năng lực công nghệ là vấn đề con người, trình độ của cán bộ, chuyên gia, công nhân. Nâng cao trình độ công nghệ trước hết phải tập trung nâng cao chất lượng đội ngò cán bộ nhân viên một cách toàn diện (trình độ 45
  46. 46. chuyên môn, sức sáng tạo, tính năng động, khả năng liên kết phối hợp….) Cho dù doanh nghiệp có phương tiện kỹ thuật tiên tiến đến đâu nhưng không có người đủ trình độ để làm chủ công nghệ thì cũng khó có thể khai thác, đảm bảo hiệu quả đổi mới công nghệ. Doanh nghiệp có năng lực công nghệ cao phải có cán bộ, chuyên gia trình độ cao, đội ngò công nhân lành nghề, kỹ năng chuyên môn giỏi. Doanh nghiệp sẽ lùa chọn đưộc công nghệ hợp lý nhất (phù hợp với môi trường kinh doanh giá cả hợp lý), đảm bảo vận hành công nghệ an toàn, với chi phí tiết kiệm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể làm chủ công nghệ, nắm bắt phương pháp công nghệ, cải tiến và thích ứng hoá công nghệ trong điều kiện kinh doanh của mình. Thậm chí, có thể lấy đó làm nền tảng để phát triển công nghệ mới. 1.2. cơ sở thực tiễn: Trong quá trình đổi mới công nghệ, do thiếu chuyên gia và cán bộ quản lý có năng lực, am hiểu về công nghệ và thị trường công nghệ, nên nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã nhập về những công nghệ lạc hậu, khiến Việt Nam có nguy cơ trở thành “bãi thải công nghệ của thế giới”. Hoặc có nhiều doanh nghiệp nhập công nghệ tốt nhưng không phát huy được hiệu quả sản xuất kinh doanh vì thiếu năng lực công nghệ, trình độ công nhân vận hành, cán bộ quản lý kỹ thuật không tương xứng. Công ty Xi măng Kiện Khê cũng chưa xây dựng được hệ thống nhân sự đủ mạnh về chất để có thể triển khai dự án và phát huy cao nhất hiệu quả của đổi mới công nghệ. Kiến thức đào tạo nặng tính cơ bản, chưa đi sâu vào chuyên ngành, thiếu kiến thức hiện đại về công nghệ và quản lý. Tiến độ triển khai đổi mới công nghệ bị chậm một phần do thiếu cán bộ làm việc chuyên nghiệp và có trình độ quản lý dự án. 1.3. Phương thức tiến hành: Đào tạo cán bộ kỹ thuật. Hiện nay Công ty có 11 cán bộ kỹ thuật thuộc phòng Kỹ thuật công nghệ, phòng Kỹ thuật cơ điện, phòng Vật tư, Ban dự án và phân xưởng, được đào tạo cơ bản và giàu kinh nghiệm. Trên cơ sở này, Công ty tổ chức đào tạo bồi dưỡng 46
  47. 47. sâu hơn về công nghệ clanhke và nguyên lý, thiết kế kỹ thuật của dây chuyền thiết bị. Những khoá đào tạo này nhằm mục đích nâng cao mặt bằng chuyên môn của đội ngò cán bộ kỹ thuật. Nội dung đi sâu vào đặc thù của công nghệ Xi măng. Với tính chất đó, chương trình đào tạo cần đặt hàng trước, theo hướng đi sát thực tế. Công ty nên mời các nhà khoa học và chuyên gia trực tiếp tới tìm hiểu, đánh giá, phân tích thiết bị công nghệ hiện tại và thực tập cùng học viên. Tuyển dụng đào tạo chuyên gia cao cấp. Với doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn nh Công ty Xi măng Kiện Khê cần có khoảng 3 - 5 chuyên gia cao cấp, có trình độ chuyên sâu về công nghệ sản xuất Xi măng. Chuyên gia là người hiểu rõ chi tiết công nghệ, thiết kế, nguyên lý và công nghệ, đồng thời là người điều phối toàn bộ quá trình sản xuất. Công ty lập riêng một phòng nghiên cứu công nghệ gồm một số chuyên gia am hiểu về ngành xi măng và có trình độ khoa học công nghệ cao. Công ty nên tuyển dụng hoặc mời một số nhà khoa học cộng tác, kết hợp với tuyển chọn từ cán bộ kỹ thuật giàu kinh nghiệm hiện có. Đây là nền tảng nhân lực để Công ty nâng cao năng lực công nghệ. Các chuyên gia được cử sang tu nghiệp tại nước ngoài. Công ty đã có kế hoạch hợp tác cùng với một số nhà máy Xi năng trong nước và nước ngoài (Trung Quốc) chương trình đào tạo đi sâu vào công nghệ sản xuất Xi măng thị trường công nghệ xi măng thế giới thực tập tại những Công ty Xi măng lớn và nổi tiếng thời gian đào tạo 3 - 5 tháng đủ để các chuyên gia nắm bắt công nghệ có khả năng nghiên cứu thích ứng công nghệ và tìm hiểu các thế hệ công nghệ tiên tiến khác. Chí phí đào tạo khoảng 1 tỷ đồng. Tuyển dụng đào tạo cán bộ quản trị dự án: Đội ngò cán bộ làm công tác quản trị dự án còn thiếu, chuyên môn nghiêng về kỹ thuật. Công ty cần tuyển dụng thêm nhân viên có trình độ và kinh nghiệm về quản trị kinh doanh. Cán bộ điều phối dự án cần được nâng cao trình độ thông qua một khoá học 6 - 8 tháng. Công ty có thể kết hợp với Đại học Knh tế quốc dân, viện Đào 47
  48. 48. tạo Pháp - Việt… Chương trình đào tạo nhằm cập nhật các phương pháp quản trị doanh nghiệp, phân tích thị trường, phân tích tài chính, chiến lược kinh doanh, cập nhật thông tin thị trường công nghệ… Công ty cần cử 2 cám bộ được đào tạo dài hạn chuyên sâu hơn về quản trị dự án, có thể mời giảng viên nước ngoài tại Việt Nam để tiết kiệm chi phí, kết hợp với đi tham quan thực tế. Đào tạo công nhân kỹ thuật Công ty có điều kiện thuận lợi là đang sử dụng nhiều thiết bị tương đối hiện đại, có nhiều công nhân bậc cao nên có thể tiếp cận, sử dụng thiết bị mới một cách nhanh chóng. Khi đổi mới công nghệ, Công ty có thể yêu cầu chuyên gia của nhà cung cấp trực tiếp sang hướng dẫn đào tạo phương pháp vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa máy móc thiết bị. Ngoài ra, cần bồi dưỡng sâu hơn về các kiến thức khác nhau: cơ chế vận hành thông số kỹ thuật và vai trò của từng chi tiết công nghệ… 1.4. Hiệu quả thực hiện. Nếu áp dụng phương án này, Công ty Xi măng Kiện Khê có thể nâng cao năng lực công nghệ của mình đồng thời xây dựng đội ngò nhân viên được trang bị đầy đủ kiến thức cần thiết. Trước hết, công tác quản trị dự án được củng cố. Công ty thể thể tiết kiệm chi phí đầu tư do nắm bắt được giá cả và nâng cao khả năng đàm phán. Ngoài ra, do trình độ công nhân, chuyên gia kỹ thuật được củng cố nên giảm khoảng 50% sự cố kỹ thuật gây gián đoạn sản xuất, từ đó giảm chi phí sửa chữa. 1.5. Điều kiện thực hiện - Ban Giám đốc Công ty và cơ quan chủ quản cần quan tâm và đánh giá đúng tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ cán bộ để phát triển năng lực công nghệ. - Cần có nguồn tài chính đủ mạnh. Bởi vì đầu tư đào tạo, phát triển năng lực công nghệ rất tốn kém, đòi hỏi sự đầu tư lâu dài, có hệ thống. Không thu hồi vốn nhanh. 48
  49. 49. - Cán bộ nhân viên cần ý thức rằng việc tu nghiệp là nhằm mục đích nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, thực sù phục vụ công tác thực tế, không phải là để tích luỹ bằng cấp. Biện pháp 2: Hoàn thiện tổ chức quản lý hoạt động đổ mới công nghệ của Công ty 2.1. Cơ sở lý luận Trong doanh nghiệp, đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ quyết định cơ chề quản lý doanh nghiệp. Cơ chế quản lý, cơ cấu tổ chức quản lý không phù hợp sẽ cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, việc đổi mới công nghệ cũng đặt ra yêu cầu điều chỉnh cơ cấu quản lý doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ. Bên cạnh đó, theo xu hướng phát triển, công nghệ ngày càng phức tạp thì đòi hỏi tính liên kết ngày càng cao (1 bộ phận háng là cả hệ thống ngừng hoạt động). Nó đảm bảo cho sự ăn khớp thống nhất giữa các bộ phận công nghệ để có thể phát huy hiệu quả công nghệ. Bởi thế, yếu tố tổ chức quản lý cũng phải đảm bảo tính linh hoạt và găn kết cao. Hệ thống tổ chức là một phần (O) của công nghệ. Trong nền kinh tế thị trường đổi mới công nghệ gắn chặt với nhu cầu thị trường. Trong khi thị trường luôn thay đổi rất linh hoạt. Do vậy, cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp phải đảm bảo khả năng liên kết, phối hợp đồng điệu giữa các bộ phận đồng thời đảm bảo tính linh hoạt, thích nghi với những biến động bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. 2.2. Cơ sở thực tiễn Hiện nay, Công ty Xi măng Kiện Khê áp dụng kiểu cơ cấu tổ chức trực tuyến - chức năng. Do đó, các bộ phận quá phân lập về chức năng, tính liên kết thấp. Đổi mới phương pháp quản lý đòi hỏi tất yếu trong điều kiện sản xuất kinh doanh mới. Nh vậy mới có thể phát huy hiệu quả đổi mới công nghệ nói riêng và hiệu quả phối hợp đồng bộ của các bộ phận, các yếu tố sản xuất cùng hướng tới mục tiêu chung. 49
  50. 50. 2.3. Phương thức tiến hành Công ty xi măng Kiện Khê nên điều chỉnh cơ cấu kiểu trực tuyến - chức năng, giảm bớt sự phân lập chức năng (trước hết là trong bộ phận quản lý đổi mới công nghệ). Hiện nay, Công ty có Ban dự án là bộ phận đảm nhận công tác kỹ thuật và thực hiện các thủ tục liên quan tới đổi mới công nghệ. Công ty có thể bố trí Ban dự án thành một hệ thống tổ chức năng (tổ tài chính, tổ kỹ thuật công nghệ, tổ khoa học công nghệ, tổ thị trường, tổ xây dựng cơ bản…). Mỗi tổ chức năng quan hệ trực tuyến với phòng chức năng tương ứng. Tổ chức năng là hình thức phân công lao động chuyên môn hoá, không phải là một cấp quản trị. Đội ngò nhân sự có thể thuyên chuyển từ các phòng, ban chức năng sang kết hợp tuyển dụng người có trình độ cao từ bên ngoài. Ban Dự án có một tổ thường trực, các Phó trưởng phòng (hoặc trưởng phòng) được bố trí kiêm nhiệm làm tổ trưởng tổ chức năng tương ứng của Ban Dự án. Như vậy, phiên chế nhân sự của Ban Dự án có tính mềm dẻo, hội tụ đầy đủ các lĩnh vực nhưng không phiên chế tập trung cứng nhắc. Qua đó, Ban dự án bao quát được mọi lĩnh vực liên quan tới đổi mới công nghệ, đồng thời tránh được sự cồng kềnh không cần thiết. Trên cơ sở đó, Công ty nên bổ sung quyền hạn cho Ban dự án, đưa Ban dự án trở thành bộ phận tư vấn, trợ giúp toàn diện cho Ban Giám đốc và thực hiện mọi vấn đề liên quan tới đổi mới công nghệ (vốn, công nghệ, xây dựng…). Hiện nay, trong quá trình đổi mới công nghệ, vấn đề phát sinh thuộc lĩnh vực nào thì phải do Trưởng phòng chức năng tương ứng phê chuẩn rồi trình Ban Giám Đốc. Với mô hình mới, bộ phận giúp việc cho Ban Giám đốc về đổi mới công nghệ tâp trung về một mối, không bị dàn trải như hiện nay. Các trưởng phòng chức năng có nhiệm vụ xem xét, đánh giá và phê chuẩn những quyết định lớn, các phương án chung thuộc lĩnh vực của mình, và theo dõi giám sát quá trình triển khai thực hiện giúp cho Ban Giám đốc. Còn lại, trong quá trình triển khai đổi mới công nghệ. Ban dự án chủ động giải quyết mọi vấn đề cụ thể (trên cơ sở phương án chung đã thống nhất), không cần qua nhiều 50
  51. 51. cấp nh hiện nay. Ban Dự án chịu trách nhiệm hoàn toàn trước Ban Giám đốc về hoạt động đổi mới công nghệ. Ví dụ, phòng kỹ thuật có nhiệm vụ xem xét, đánh giá và tham gia quyết định phương án kỹ thuật hạng mục đầu tư (tiêu chuẩn, thông số kỹ thuật, phương pháp công nghệ….). Khi triển khai, Ban Dự án chủ động xử lý các nội dung cụ thể (lùa chọn thiết bị, lắp đặt…). Phòng kỹ thuật chỉ theo dõi, giám sát kết quả, không can thiệp sâu. Thực ra, phương án này không loại bỏ vai trò của các phòng chức năng và tuyệt đối hoá vai trò của Ban dự án trong việc trợ giúp Ban Giám đốc quản lý hoạt động đổi mới công nghệ. Nó có tác dụng giảm bớt sự chi phối trực tiếp của quá nhiều bộ phận để thống nhất công tác quản lý. Vì các phó Trưởng phòng chức năng (hoặc Trưởng Phòng) tham gia vào Ban Dự án (là tổ trưởng tổ chức năng tương ứng) nên hoạt động của Ban Dự án đảm bảo tính bao quát, cân đối mọi yếu tố của đổi mới công nghệ. Hiện nay, Ban Dự án có 4 người. Để đảm đương nhiệm vụ thì cần mở rộng lên 16 - 20 người, trong đó sẽ phiên chế mềm 2 cán bộ từ mỗi phòng chức năng. Tổ kỹ thuật 9 người, tổ tài chính 4 người, tổ nhân sự và đào tạo 2 người, tổ thư ký tổng hợp 5 người… Cán bộ nhân viên sẽ được đào tạo có trình độ kỹ thuật công nghệ và quản trị dự án. Công ty cần tuyển dụng một số người có trình độ (trên đại học) và kinh nghiệm từ bên ngoài để giúp ban Dự án sớm củng cố hoạt động quản lý. Khi thực hiện phân quyền và tập trung hoạt động quản lý đổi mới công nghệ cho Ban Dự án thì cấp phân xưởng cũng cần có sự điều chỉnh. Ban Giám đốc có thể uỷ quyền cho Ban Dự án chỉ đạo phân xưởng trong khâu lập kế hoạch điều động, sắp xếp máy móc thiết bị để lắp đặt, chạy thử thiết bị mới và khâu bố trí mặt bằng, khớp nối để đưa thiết bị mới vào sản xuất. Nh vậy, quá trình tổ chức chạy thử, huy động thiết bị mới vào sản xuất (sau khi thiết bị được nhập về) sẽ tập trung vào thống nhất hơn. Qua đó rút ngắn tiến độ thực hiện và nâng cao hiệu quả đổi mới công nghệ. 51

×