Journal051006030753

483 views

Published on

Published in: Education, Sports
0 Comments
1 Like
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
483
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
2
Comments
0
Likes
1
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Journal051006030753

  1. 1. MÔI TRƯỜNG SINH THÁI VẤN ĐỀ CỦA MỌI NGƯỜI NGUYỄN MINH HẰNG * Nhân loại sắp sửa giã từ năm cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai đểbước vào thiên niên kỷ mới. Một thiên niên kỷ sẽ chứng kiến nhiều biếnđộng dữ dội, mang tính chất toàn cầu mà các điều kiện và tiền đề đã đượcchuẩn bị từ những năm cuối của thiên niên kỷ trước đó. Đó là những biếnđổi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học, môi trườngsống .. Những biến đổi này vừa tạo ra những cơ hội thuận lợi nhưng cũngvừa đặt ra những thách thức to lớn về nhiều mặt cho tất cả các nước. Trong phạm vi bài này, tôi chỉ nói đến một thách thức to lớn – đó làkhủng sinh thái trên phạm vi toàn cầu. Môi trường sinh thái là một mạng lưới chỉnh thể có mối liên quan chặtchẽ với nhau giữa đất, nước, không khí và các cơ thể sống trong phạm vitoàn cầu. Sự tương tác hoà đồng giữa các hệ thống của thiên nhiên tạo ramôi trường tương đối ổn định. Sự rối loạn bất ổn định ở một khâu nào đótrong hệ thống sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng. Con người và xã hội xuấtthân từ tự nhiên, là một bộ phận của thiên nhiên. Hoạt động của con ngườivà xã hội được xem là một khâu, một yếu tố trong hệ thống. Thông qua quátrình lao động, con người khai thác bảo vệ bồi đắp cho thiên nhiên. Cũngqua quá trình đó con người xã hội dần dần có sự đối lập với tự nhiên. Dotiếng gọi của những lợi ích nhất thời nào đó, cũng có thể là do sự hoạch địnhthiển cận về mặt chiến lược, trong không ít nền kinh tế đã nảy sinh tình trạngvô tình hoặc cố ý không tính đến tương lai của chính mình. Người ta khaithác tài nguyên thiên nhiên một cách tối đa, vay mượn cả tài nguyên của cácthế hệ tương lai, bất chấp quy luật tự nhiên và đạo lý xã hội, gạt sang mộtbên những bài toán về môi sinh và những lợi ích chính đáng của thế hệ sau. -Đầu tư nhằm vào những lĩnh vực sinh lợi nhanh được kêu gọi một cách ồ ạt,đẩy trách nhiệm trả nợ cho thế hệ kế tiếp. Lợi ích trước mắt được quan tâmquá mức, gây nên tình trạng phát triển thiếu cân đối hoặc phát triển theo kiểu“bong bóng xà phòng”. Vô tình hay hữu ý, con người càng phá huỷ môitrường sống của chính mình một cách nghiêm trọng. Sự suy thoái về môi trường sinh thái toàn cầu hiện nay được thể hiệnrõ nét trong những vấn đề sau: Trước hết là sự suy thoái tầng ozon. Tầng ozon là lớp khí (O3) rất dàybao bọc lấy trái đất và có tác dụng như là một cái đệm bảo vệ trái đất khỏinhững tia cực tím của mặt trời chiếu xuống trái đất. Có thể nói nếu không cótầng ozon thì sự sống trên trái đất không tồn tại (tầng ozon đã hấp thụ 99%lượng bức xạ tia cực tím của mặt trời chiếu xuống trái đất). Tầng ozon bị suythoái sẽ tác động mạnh đến mọi sinh vật trên trái, làm tăng thêm các bệnhtật, làm giảm khả năng miễn dịch của con người. Cuối năm 1985 các nhà
  2. 2. khoa học Anh đã phát hiện lổ thủng tầng ozon ở Nam Cực, đến năm 1988người ta lại phát hiện ra lổ thủng ozon ở Bắc Cực… Nguyên nhân gây ra sựsuy thoái tầng ozon là do các hợp chất cacbon có chứa flo hoặc brôm. Ướctính hàng năm có khoảng 788.000 tấn CFH3 (Clo-ro Cac-bon) thải vào môitrường, chất này được sử dụng rộng rãi trong công nghệ đông lạnh và chấtdung môi. Vấn đề suy giảm tầng ozon đã và đang đụng chạm đến một trongnhững vấn đề nhức nhối và bức xúc nhất của nhân loại - vấn đề bệnh tậttrong điều kiện xã hội phát triển. Chẳng hạn ung thư vẫn đang được thế giớicoi là bệnh nan y. Sư suy thoái tầng ozon đã làm cho nhiều quốc gia thứctỉnh và lo ngại. Đầu năm 1987, 27 nước đã ký công ước Viên về việc bảo vệtầng ozon. Những nước công nghiệp phát triển nhất đã cam kết giảm dần vàtiến đến chấm dứt việc sử dụng, sản xuất và thải bỏ các chất gây tác hại chotầng ozon vào năm 2000. Đó thực sự là một quyết định thông minh và nhânđạo. Song cho đến nay sự giảm độ dày của tầng ozon vẫn là vấn đề quan tâmvà lo lắng của nhân loại. Hậu quả tiêu cực của hiện tại vẫn chưa thể chấmdứt ngay được. Thứ hai là hiện tượng “hiệu ứng nhà kính”. Trái đất và khí quyểnđược xem như là một nhà kính khổng lồ, trong đó trái đất có nguy cơ bị đốtnóng lên. Nhiệt độ của trái đất tăng lên được gọi là hiện tượng “hiệu ứng nhàkính”. Nguyên nhân của hiện tượng này là do sử dụng nhiều các nguyên liệuhoá thạch, do sự giảm sút diện tích rừng xanh …, lượng khí thải độc CO2,CH4, CFC3.. vào thiên nhiên ngày càng nhiều. Trong thế kỷ này, nhiệt độ của trái đất tăng lên từ 0,30C đến 0,70C sovới thế kỷ trước. Các nhà khoa học dự đoán rằng đến năm 2030 nếu lượngkhí CO2 tăng lên hai lần thì nhiệt độ tăng từ 1,5 0C đến 4,50C. Khi nồng độkhí CO2 trong khí quyển tăng lên, một phần nhiệt độ của trái đất bốc lên gặpkhí CO2 sẽ phản chiếu trở lại đốt nóng trái đất. Nhiệt độ của trái đất tăng lênsẽ làm tan khối lượng khổng lồ ở hai cực và làm cho mực nước biển dânglên. Mực nước biển dâng lên là nguy cơ đe doạ rất nhiều quốc gia và đờisống của hàng triệu dân trên thế giới. Hiện tượng “hiệu ứng nhà kính” gắn liền với một hiện tượng ô nhiễmmôi trường khác không kém phần nguy hiểm đó là mưa axít. Trong các chấtkhí thải vào khí quyển, đặc biệt có SO2 và NO2 theo hơi nước bốc lên cao,chúng bị oxy hoá và thuỷ phân tạo thành axít, gặp lạnh mưa xuống đất. Mưaaxít có tác hại rất lớn đến các thế hệ sinh thái nông nghiệp, làm giảm năngsuất mùa màng, có nơi còn bị mất trắng, làm giảm chất lượng cây trồng vàvật nuôi, phá hoại nặng nề các cánh rừng ôn đới phía Bắc bán cầu. Mưa axítcòn làm ô nhiễm các đường ống nứoc uống và nước sinh hoạt của con ngườivà sinh vật, ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và tính mạng của con người.
  3. 3. Ngoài ra sự suy thoái môi trường còn thể hiện ở sự ô nhiễm nguồnnước sạch. Tổng lượng nước trên toàn cầu là 1.360 triệu km3, trong đólượng nước ngọt chỉ chiếm trên dưới 3% và con người chỉ sử dụng đượckhoảng 1% để phục vụ nhu cầu của xã hội. Thế nhưng 1% đó đang bị ônhiễm bởi các chất thải trong sinh hoạt, trong sản xuất… Như các hoá chấtdùng trong công nghiệp, thuốc trừ sâu, phân bón hoá học dùng trong nôngnghiệp… Trong bản thông điệp của UNEP nhân ngày Thế giới về nước – ngày22-3-1996 nhấn mạnh: ô nhiễm nước là một vấn đề nan giải và rộng khắp.Làm cho nước bị ô nhiễm trở nên sạch là một nhu cầu cấp bách và thiếtthực, là trách nhiệm của mọi người, mọi chế độ xã hội. Nguyên nhân chính dẫn đến một loạt sự suy thoái môi trường sinh tháitrên, trước hết phải kể đến sự phát triển của công nghiệp ồ ạt, đặc biệt là cácngành công nghiệp gây ô nhiễm. Mỗi năm hoạt động sản xuất thải vàokhông khí 150 triệu tấn khí SO2, 200 triệu tấn CO2, 350.000 tấn CFC3…(Theo Phạm Thành Dung – Môi trường sinh thái, Tạp chí giáo dục lý luận số3-99). Những chất mà những yếu tố khác trong hệ thống, trong chỉnh thểmôi trường sinh thái không thể hấp thụ được, nên đã gây tác hại đến tầngozon, đến nguồn nước sạch… Nguyên nhân thứ hai là tệ nạn phá rừng ngày càng nghiêm trọng trênphạm vi toàn cầu. Có thể nói rừng là nước cho đời sống của thực vật và chosản xuất của xã hội, là không khí trong lành, rừng là năng suất mùa màng…Rừng đóng vai trò quan trọng như thế, nhưng hiện nạy rừng trên thé giớiđang kêu cứu, cứ mỗi phút trôi qua có tới 21,5 ha rừng nhiệt đới bị phá huỷ.Sự mất mát quá lớn của rừng tất yếu dẫn đến nghèo kiệt của đất đai và sựbiến mất dần những sinh vật quý hiếm, sự tăng hàm lượng CO2 trong khíquyển - một trong những chất khí quan trọng nhất gây nên “hiệu ứng nhàkính”, làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất… Một nguyên nhân nữa là do sự mất cân bằng tài nguyên và dân số.Dân số tăng nhanh đòi hỏi phải khai thác các tài nguyên tự do nhiều hơnnhịp điệu cao hơn, chất thải các loại tăng nhanh hơn dẫn tới phá vỡ cânbằng, vắt kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Tình trạng chạy đua vũ trang, sản xuất các loại vũ khí hạt nhân, vũ khíhoá học cũng là nguyên nhân vừa gây ô nhiễm môi trường, vừa tạo khả nănghuỷ diệt thiên nhiên thông qua chiến tranh xung đột. Đối với Việt Nam, tuy là một nước nông nghiệp, hơn nữa sự phát triểncủa xã hộI ta hiện nay vẫn chưa vượt ra khỏi trình độ của nền văn minh côngnghiệp, thế nhưng điều đó không có nghĩa là không có hiểm hoạ sinh thái đedoạ.
  4. 4. Ở các nước phát triển, hiểm hoạ sinh thái là do sự phát triển của kỹthuật công nghệ, do sự phát triển tự phát của nền văn minh công nghiệp, thìở Việt Nam, hiểm hoạ sinh thái là do sự kết hợp giữa phát triển và lạc hậu,do ảnh hưởng còn nặng nề của nếp suy nghĩ, nếp làm của người sản xuất nhỏvà lối sống công nghiệp còn chưa ổn định, chưa hoàn thiện. Thiên nhiên nước ta trước đây bị phá hoại bởi những cuộc chiến tranhkéo dài, còn bây giờ bị phá hoại bởi những hoạt động vô ý thức, bởi thái độtuỳ tiện vô trách nhiệm, thiếu kế hoạch trong việc khai thác và sử dụng cácnguồn thiên nhiên. Trước năm 1945, ở nước ta, rừng bao phủ 43,8% diệntích che phủ còn 28% (tức là dưới mức báo động 30%). Diện tích đất trồngđồi trọc đang bị xói mòn mạnh, lên khoảng 13,4 triệu ha. Nguyên nhânchính là do du canh du cư, lấy gỗ, củi, mở mang giao thông, xây dựng thuỷđiện.. Ô nhiễm môi trường cũng đang là vấn đề nan giải, chất thải côngnghiệp, sinh hoạt, chất độc hại của quá trình sản xuất không được xử lýnghiêm túc mà đưa trực tiếp vào môi trường, gây bệnh tật và ô nhiễm môitrường sinh thái. Khu công nghiệp Biên Hoà I hằng ngày xả ra sông ĐồngNai khoảng 20.000m3 nước thải nhiễm bẩn và thải lượng chất rắn 260-300tấn/ 1 tháng … Ấy là chưa kể khu công nghiệp Biên Hoà II. Nồng độ bụi ở đô thị vượt quá nhiều lần chỉ tiêu cho phép. Khí thảiCO2 vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 – 2,5 lần. Ngoài ra vấn đề khai thác mỏ, vật liệu xây dựng, vàng, đá quý.. chínhthức và tự do cũng đã và đang làm huỷ hoại môi trường sinh thái. Việc sửdụng mìn khai thác ở nhiều lĩnh vực đang làm phá sự cân bằng về hệ sinhthái môi trường. Mặc dù những hành động vô ý thức đó chưa có sự tham gia tích cựccủa yếu tố kỹ thuật, do vậy mà sức tàn phá đối với môi trường chưa đạt mứcđộ nghiêm trọng như các nước công nghiệp phát triển, nhưng cũng khôngphải là không đáng bàn. Theo kế hoạch quốc gia về môi trường đánh giá “Việt Nam hiện nayphải đương đầu với những vấn đề môi trường nghiêm trọng như nạn phárừng, với mòn đất, việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên ven biển, đedoạ tới các hệ sinh thái và sự cạn kiệt nguồn gien…” (Việt Nam kế hoạchQuốc gia về phát triển môi trường và phát triển lâu bền. Xuất bản 1991,tráng7) Thứ trưởng Bộ khoa học – Công nghệ môi trường Phạm Khôi Nguyênđã khẳng định tại Hội nghị môi trường toàn quốc (10/1998) tại Hà Nội: Bảovệ môi trường đã trở thành vấn đề sống còn của nhân loại. Mọi quá trìnhphát triển sẽ trở nên không bền vững nếu như chúng ta không quan tâm đếnbảo vệ môi trường.
  5. 5. Như vậy rõ ràng vấn đề bảo vệ môi trường này không còn là vấn đềriêng của một quốc gia mà là vấn đề của toàn nhân loại. Mặc dù vấn đề nàyđã được cảnh tỉnh trước đó rất lâu, từ ngày 5-6-1972 tại Stockhom (ThuỵĐiển), các nhà khoa học và đại diện chính phủ nhiều nước đã họp Hội nghịmôi trường thế giới lần đầu tiên để nhắc nhở “Con người hãy cứu lấy cái nôicủa chúng ta” và coi ngày 5-6 hàng năm là ngay môi trường thế giới. Sau đó6-1992 tại Braxin, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường thế giới diễn ra vớitham dự của hơn 100 quốc gia và tổ chức quốc tế, một lần nữa khẳng địnhtình trạng suy thoái môi trường nghiêm trọng, kêu gọi mọi quốc gia hãy hợptác hiệp lực có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Thế nhưng chođến hôm nay, tình trạng vẫn không được cải thiện đáng kể là bao, và vấn đềô nhiễm môi trường vẫn là vấn đề nóng bỏng của mỗi quốc gia. Rõ ràng đây là vấn đề rộng lớn mang tính thời đại để giải quyết tốtđược nó, trong phạm vi chỉ vài trang giấy không thể đưa ra được nhữngbiện pháp cụ thể đầy đủ. Ở đây tác giả chỉ đưa ra những định hướng cơ bảnbước đầu, góp phần vào nhiệm vụ chung của mọi người là gìn giữ mối quanhệ tốt đẹp giữa con người và môi trường sống. - Trước hết để làm tốt công tác bảo vệ môi trường sống, chúng tacần phải thay đổi nhận thức – xây dựng ý thức sinh thái. Tức là làm cho mọi người nhận thức một cách tự giác về mối quan hệgiữa con người với tự nhiên. Con người cần phải nhận thức lại vị trí vai tròcủa mình và xã hội trong hệ thống tự nhiên – con người – xã hội. Trước vũ trụ mênh mông, con người trở nên nhỏ bé, không cònchuyện chiếm lĩnh tự nhiên bằng mọi giá mà phải hành động theo quy luật.Sự vi phạm quy luật tự nhiên, trước hết sẽ gây tổn thương cho tự nhiên, điềunày còn có thể cứu vãn, nhưng một khi sự vi phạm đó ảnh hưởng đến vậnmệnh của con người thì sự nguy hiểm khó lường hậu quả. Ăngghen đã từng nhắc nhỏ chúng ta rằng: Không nên quá khoái chívề những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên, bởi vì sự thật nhắcnhở chúng ta hoàn toàn không thống trị giới tự nhiên như một kẻ xâm lượcthống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài thế giới tự nhiên,và tất cả sự thống trị của chúng ta đối với tự nhiên bao hàm ở chỗ là chúngta khác tất cả các sinh vật khác, biết nhận thức được những quy luật của giớitự nhiên và sử dụng những quy luật đó một cách đúng đắn. (Mác Angghentoàn tập, tập 20, trang 655. Nxb CTQG Hà NộI 1994). Cần phải nhận thức lại một cách nghiêm túc và sâu sắc rằng con ngườivà xã hội dù có phát triển đến đâu, đến mức cao như thế nào đi chăng nữa,thì cũng chỉ là một bộ phận của sinh quyển, là những yếu tố trong hệ thốngTự nhiên – Con người – Xã hội, các yếu tố trong hệ thống có mối quan hệkhăng khít và tác động phụ thuộc lẫn nhau. Con người xã hội dù có sức
  6. 6. mạnh nhưng hành động của họ cũng không thể vượt ra ngoài hệ thống màcon người phải biết vận dụng thế mạnh của mình - dạng vật chất duy nhất cóý thức, do đó chỉ có con người mới có khả năng điều khiển một cách có ýthức mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Thông qua quá trình pháttriển khoa học kỹ thuật và công nghệ con người dân dần nắm bắt được cácquy luật của tự nhiên và tìm cách vận dụng một cách hợp lý các quy luật đóvào hoạt động thực tiễn của xã hội, để tạo cơ sở tự nhiên bền vững cho sựphát triển xã hội. - Thứ hai, cần phải kết hợp giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu sinhthái trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ở Việt Nam, đã một thời do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan,chúng ta chưa nhận thức đầu đủ ý nghĩa vị trí tầm quan trọng của công tácbảo vệ môi trường sinh thái. Tình trạng tách rời công tác này với sự pháttriển kinh tế - xã hội xảy ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp. Ý thức sinhthái học chủ yếu mới nằm trong đầu các nhà khoa học, các nhà quản lý …chứ chưa có sự chuyển biến mạnh mẽ trong toàn xã hội (Mặc dù gần đây đãcó luật bảo vệ môi trường). Đối với tình hình nước ta muốn tăng trưởng kinhtế không có con đường nào khác là phải tiến hành công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đượcĐảng ta khẳng định: Bảo đảm sự tăng trưởng nhanh và lâu bền của kinh tếvà gắn với việc xử lý tốt các vấn đề công bằng xã hội và tiến bộ xã hội, môitrường và sinh thái. Nghị quyết Trung ương khoá VIII cũng khẳng định: “Phát triển khoahọc công nghệ gắn liền với bảo vệ và cảI thiện môi trường sinh thái, bảođảm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững” (Trang 60). Rút kinh nghiệm của những nước đi trước, chúng ta thấy rằng tăngtrưởng kinh tế là mục tiêu quan trọng bậc nhất của sự phát triển xã hội, songđó không phải là mục tiêu duy nhất và càng không phải là tất cả. Những gìđược gọi là thành tựu trong gần 300 năm qua do khoa học và công nghệ đemlại cũng đồng thời kèm theo những tổn thất to lớn cho môi trường tự nhiênnhư: lổ thủng ozon, hiệu ứng nhà kính, mưa axít, cạn kiệt tài nguyên thiênnhiên… Tất cả chỉ khẳng định rõ thêm rằng con người không thể sống thiếukhoa học và công nghệ, cần cả các tài nguyên thiên nhiên để tồn tại và pháttriển xã hội, nhưng đồng thời cũng rất cần một môi trường sống trong sạchlành mạnh, bởi vì bản chất con người là một thực thê sinh học – xã hội. Mộtbài học xương máu rút ra từ quá trình công nghiệp hoá vừa qua là không thểtách mục tiêu kinh tế, đó là một tất yếu khách quan nếu muốn phát triển lâubền. Đối với nước ta hiện nay, để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoátrước hết phải đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động và hiệu quả
  7. 7. kinh tế. Đổi mới công nghệ bằng hai con đường: chuyển giao công nghệ vàtự tiếp thu công nghiệp hiện đại – công nghệ có hàm lượng chất xám cao vàcông nghệ sạch, từ đó chúng ta mới có thể thực hiện được công nghiệp hoáhiện đại hoá rút ngắn, đồng thời đó cũng chính là phương thức thực hiện hữuhiệu nhất để kết hợp các mục tiêu kinh tế và sinh thái. Kiên quyết khôngnhập công nghệ gây ô nhiễm môi trường sinh thái với bất kỳ điều kiện nào.Phát triển kinh tế trên sự huỷ hoại môi trường cũng đồng nghĩa với sự kết ántương lai của mình. Do vậy mục tiêu chuyển giao công nghệ phải làm saovừa đáp ứng được yêu cầu tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo vấn đề môitrường sinh thái. -Thứ ba, nên sản xuất xã hội cần phải thực hiện thêm chức năngtái sản xuất các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Trong một thời gian dài chúng ta đã tiêu xài quá phung phí một nguồnvốn - nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên thiênnhiên không tái tạo được (các nguyên, nhiên liệu hoá thạch). Các nguồn tàinguyên là một loại vốn không thể thay thế được, con người chỉ tìm ra chúngvà sử dụng chúng một cách ồ ạt, lãng phí, làm cạn kiệt các nguồn tài nguyênvà gây ô nhiễm môi trường. Nền sản xuất xã hội chưa quan tâm đúng mứcđến hiệu quả của tài nguyên thiên nhiên, từ khâu khai thác chế biến, cũngnhư đến các chất thải bỏ, các quá trình sản xuất phần lớn chưa đáp ứng đượcyêu cầu sinh thái, đã thải ra quá nhiều chất độc hại cho môi trường. Để tránh tình trạng trên, nền sản xuất sản xuất cần phải thực hiệnthêm chức năng tái sản xuất các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cụ thể là phảithay thế phương thức sử dụng các nguồn tài nguồn thiên nhiên từ bề rộngsang bề sâu, cố gắng sử dụng tối đa các tính năng vốn có của nó để sao chokhi thảI ra khỏi quá trình sản xuất, những chất thải đó, các sinh vật khác cóthể sử dụng được, môi trường có thể tiếp nhận được và xử lý được nhưnhững chất thải của các sinh vật tự nhiên khác. Nói cách khác là thực hiệnphương pháp chu trình công nghệ khép kín, nghĩa là đưa các chất thải củasản xuất vào lĩnh vực tiêu dùng của sản xuất, tăng cường cái gọi là “côngnghệ khô”, khử các chất độc hại bằng sinh học. Tóm lại, các nhân tố kinh tế, con người, môi trường, công nghệ gắnbó chặt chẽ với nhau. Chỉ có sự thực hiện đồng bộ các nhân tố đó mới tạo rađược sự tiến bộ thật sự của xã hội. Ở đây, con người với tư cách là chủ thểcủa lao động và trí tuệ là nhân tố giữ vai trò quyết định cho sự phát triển lâubền. Trên đây chỉ là một vài định hướng bước đầu, nhằm cải tạo tốt hơnmôi trường sống của con người và xã hội trong bối cảnh hiện nay. Cũng làbước mở đầu cho sự phát triển xã hội bền vững trong tương lai.
  8. 8. ECOLOGICAL ENVIRONMENT – PROBLEM OF EVERYBODY. NGUYEN MINH HANG Protection of ecological environment in socio – economicdevelopment process is now the problem of everybody. The solution decideshuman survivel and prevents our extinction. My report raises some urgent environmental issues both in the worldand in Vietnam and their causes. From that basis, some measures arementinoned to restore the ecological environment, helping people andsociety sustain themselves in nature.TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Mác – Ăngghen toàn tập, Tập 20, Nxb CTQG Hà Nội 1994. 2. Nguyễn Trần Quế - Những vấn đề toàn cầu ngày nay. Nxb KHXH Hà Nội 1999. 3. Phạm Thành Dung – Môi trường sinh thái - Vấn đề của mọi người mọi nhà. Tạp chí Giáo dục Lý luận số 3. 1999. 4. Phạm Thị Ngọc Trâm – Môi trường sinh thái - Vấn đề và giải pháp. Nxb CTQG Hà Nội 1997. 5. Việt Nam kế hoạch hoá Quốc gia về phát triển môi trường và phát triển lâu bền. Nxb KHXH Hà Nội 1991. 6. Bộ thương mại – Thương mại – Môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam. Nxb CTQG Hà NộI 1998. 7. Tạp chí Giáo dục Lý luận. Học viện CTQG Hồ Chí Minh số 3.1999. 8. Nghị quyết TW II khoá VIII. Nxb CTQG Hà NộI 1999.

×