Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

đề Tài 8

2,562 views

Published on

  • DỊCH VỤ THIẾT KẾ THUYẾT TRÌNH (Thiết kế profile cho doanh nghiệp--- Thiết kế Brochure--- Thiết kế Catalogue--- slide bài giảng--- slide bài phát biểu---slide bài tốt nghiệp--- dạy học viên thiết kế thuyết trình…)-----(Giá từ 8.000 đ - 10.000 đ/1trang slide)------ Mọi chi tiết vui lòng liên hệ với chúng tôi: điện thoại 0973.764.894 hoặc zalo 0973.764.894 (Miss. Huyền) ----- • Thời gian hoàn thành: 1-2 ngày sau khi nhận đủ nội dung ----- Qui trình thực hiện: ----- 1. Bạn gửi nội dung cần thiết kế về địa chỉ email dvluanvan@gmail.com ----- 2. DỊCH VỤ THIẾT KẾ THUYẾT TRÌNH báo giá chi phí và thời gian thực hiện cho bạn ----- 3. Bạn chuyển tiền tạm ứng 50% chi phí để tiến hành thiết kế ----- 4. Gửi file slide demo cho bạn xem để thống nhất chỉnh sửa hoàn thành. ----- 5. Bạn chuyển tiền 50% còn lại. ----- 6. Bàn giao file gốc cho bạn.
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

đề Tài 8

  1. 1. Đề tài 8: Quá trình tuyển nổi trong xử lý nước thải. Mô hình bể tuyển nổi 1. Giới thiệu chung. 1.1Cơ sở khoa học của quá trình tuyển nổi  Phương pháp bể tuyển nổi thường được sử dụng để tách các tạp chất (ở dạng rắn hoặc lỏng) phân tán không tan, tự lắng kém khỏi pha lỏng. Trong một số trường hợp, quá trình này còn được dùng để tách các chất hòa tan như các chất hoạt động bề mặt. Trong xử lý nước thải, quá trình bể tuyển nổi thường được sử dụng để khử các chất lơ lửng, làm đặc bùn sinh học.  Tuyển nổi là phương pháp được áp dụng tương đối rộng rãi nhằm loại bỏ các tạp chất không tan trong nước và khó lắng. Trong nhiều trường hợp, tuyển nổi còn được sử dụng để tách các chất tan như chất hoạt động bề mặt. Tuyển nổi được áp dụng để xử lý nước thải của nhiều ngành sản xuất như: chế biến dầu mỏ, tơ sợi nhân tạo, giấy, da, hoá chất, cao su, thuỷ sản…  Bản chất của quá trình tuyển nổi là các phân tử có bề mặt kỵ nước sẽ có khả năng dính kết vào các bọt khí. Khi các bọt khí và các phần tử phân tán cùng chuyển động trong nước thì các phần tử tự do sẽ tập trung tại bề mặt các bọt khí làm cho tỷ trọng của tổ hợp cặn khí giảm và lực đẩy nổi xuất hiện. Khi lực đẩy nổi đủ lớn sẽ đẩy các bọt bám dính trên bọt khí lên bề mặt. Các phần tử nào không có khả năng dính kết vào bọt khí thì sẽ ở lại trong nước thải. Quá trình tuyển nổi có thể sử dụng để loại bỏ dầu mỡ, cặn lơ lửng và nén bùn sinh học (bùn hoạt tính, màng vi sinh vật).  Hiệu quả phân riêng bằng tuyển nổi phụ thuộc vào kích thước và số lượng bọt khí. Kích thước tối ưu của bọt khí là 15 – 30 µm. Để có kích
  2. 2. thước bọt khí ổn định trong quá trình tuyển nổi, người ta dùng chất tạo bọt, có thể là dầu thông, phenol, ankyl, sunfat natri, cresol CH3C6H4OH. 1.2 Quá trình tuyển nổi Quá trình tuyển nổi thực chất là làm cho các chất ô nhiễm dính bám vào các bọt khí kích thước nhỏ (cỡ vài chục micromét) và nổi trên mặt nước dưới dạng bọt sau đó được tách ra khỏi nước (như khi đun nấu thức ăn nhỏ lửa, các bọt khí nổi lên kéo theo các chất lơ lửng kích thước nhỏ và tạo thành bọt trong nồi.) 1.3 Phân loại  Tuyển nổi bằng việc tách không khí từ dung dịch  Tuyển nổi phân tán không khí bằng phương pháp cơ học  Tuyển nổi bằng cấp không khí qua đầu khuếch tán bằng vật liệu xốp  Tuyển nổi điện và tuyển nổi hóa học 1.4 Cơ chế hệ thống tuyển nổi áp lực:
  3. 3.  Không khí được khuyếch tán vào dòng nước tuần hoàn với áp suất cao trong một thùng gọi là thùng bão hòa hay thùng áp lực.  Dòng nước tuần hoàn đã bảo hòa không khí này được châm vào bể tuyển nổi qua các vòi phun hoặc các van chuyên dụng từ đáy ngăn tiếp xúc.  Do áp suất giảm đột ngột (xuống bằng áp suất khí quyển), xảy ra quá trình nhả khí từ dung dịch bão hòa và hình thành các bọt khí có kích thước rất nhỏ (từ 20-50µm) trong vùng tiếp xúc với mật độ cao và rất đồng nhất.  Các bọt khí sẽ dính kết với các phần tử chất bẩn và nổi lên trên mặt nước tạo một lớp bọt trên bề mặt bể, lớp bọt này dần trở nên đặc hơn và được tách gạt ra khỏi bể.  Nước sau khi tách bẩn được thu từ đáy bể, nước tuần hoàn được lấy sau bể tuyển nổi (hoặc sau bể lọc) để tiếp tục chu trình. 2. Các hóa chất dùng trong quá trình tuyển nổi  Trong quá trình tuyển nổi, chỉ sử dụng khí hóa tan để tạo bọt, nên không sử dụng hóa chất trong giai đoạn này.  Nhưng không để giai đoạn tuyển nổi ở bước đầu của quá trình xử lý nước được vì tuyển nổi đạt hiệu quả cao khi độ đục của nước, nhiệt độ và pH ở mức độ vừa phải  Trước khi bước vào tuyển nổi, nước phải qua các quá trình sau:  Lọc bằng lưới để ngăn các chất lơ lửng kích thước lớn.  Lắng để làm giảm lượng phù sa trong nước. Hiệu suất của quá trình tuyển nổi bằng sục không khí phụ thuộc vào nhiệt độ, số lượng bọt khí, kích thước lỗ xốp, áp suất không khí và lưu lượng khí, thời gian thực hiện quá trình và mức nước trong thiết bị tuyển nổi.
  4. 4. (Phải ổn định cho nhiệt độ nước dưới 40o C. Vì nhiệt độ cao sẽ gây ra quá trình nhũ tương hóa nếu nước thải chứa nhiều dầu cặn. Các giọt nhũ tương khiến cho dầu và nước gắn chặt vào, khó tách ra. Ngoài ra, nhiệt độ nước cao sẽ làm hỏng thiết bị.) Hình : Thể nhũ tương Hiệu suất cao nhất của bể  Độ đục phù hợp để tuyên nổi đạt kết quả cao nhất là <500mg/L và tốt nhất là nhỏ hơn 150mg/L. Kết quả sau khi tuyển nổi, độ đục phải nhỏ hơn 3mg/L Do đó phải có quá trình tao bông keo tụ trước đó nếu nguồn nước cấp có nhiều phù sa. Hóa chất để tạo bông keo tụ là các loại phèn như Al2(SO4)3 17% hoặc PAC (Poly Aluminum Chloride) công thức [Al2(OH)nCl6-n]m 1-4g nếu độ đục là 50-400mg/L, 5-6g đối với 500- 700mg/L.  Áp suất bão hòa của không khí khi sục vào bể tuyển nổi là 4,5-5,5atm. Hiệu suất bão hòa khí tối ưu là 85-90%. Kích thước của bọt khí khoảng 15- 30µm là tốt nhất.  Không xáo trộn mặt nước vì đây là nơi cặn nổi lên.  Nhiệt độ nước dưới 400 C 3. Thành phần bể tuyển nổi  Diện tích bề mặt cần thiết của thiết bị làm đặc bùn bằng tuyển nổi cũng có thể được xác định trên cơ sở vận tốc nổi của hạt rắn, thường nằm trong khoảng từ 8 đến 160 l/m2 .phút, tùy thuộc vào nồng độ hạt rắn, mức độ làm đặc cần đạt và tải trọng riêng theo chất rắn ghi trong bảng 1.
  5. 5. Bảng 1: Tải lượng theo chất rắn của các thiết bị tuyển nổi bằng không khí hòa tan Loại bùn Tải lượng kg/m3 .ngày Hỗn hợp lỏng- bùn hoạt tính(bằng sục không khí) 25 → 75 Bùn hoạt tính( lắng băng sục không khí) 50 → 100 Bùn hoạt tính ( lắng bằng sục oxi tinh khiết) 60 → 150 50% bùn lắng cấp 1 + 50% bùn hoạt tính ( lắng) 100 → 200 Bùn lắng cấp 1 Tới 260  Diện tích buồng tuyển nổi thường được tính trên cơ sở cường độ không khí từ 6 đến 10 m3 /m2 .h. Thời gian tuyển nổi là 20 phút. Đường kính buồng tuyển nổi Dk được tính theo công thức Dk =√ 4𝑄 𝜋.Uk Trong đó Uk là vận tốc của nước trong buồng tuyển nổi và thường được chọn bằng 10,8 m/h, với thời gian được lưu của nước bằn 5 đến 7 phút.  Đường kính của thiết bị tuyển nổi kết hợp với bể lắng được xác định theo công thức : Dk =√ 4.𝑄 𝜋.𝑈0 + 𝐷 𝑘 2 trong đó U0 là vận tốc của nước trong vùng lắng, thường chon bằng 4,7 m/h.  Kích thước thiết kế điển hình của một số bể tuyển nổi được trình bày trong bảng 2.
  6. 6. Bảng 2: Các kích thước cơ bản của thiết bị tuyển nổi có bể lắng ở các năng suất khác nhau. Năng suất m3 /h Buồng tuyển nổi Kích thước chung Đường kính Dk, m Chiều cao Hk, m Đường kính Dk, m Chiều cao Hk, m 150 300 600 900 3 4,5 6,0 7,5 1,5 1,5 1,5 1,5 6 9 12 15 3 3 3 3  Trong tuyển nổi bằng sục khí qua tấm sứ hay đầu khuếch tán bằng vật liệu xốp sẽ tạo ra bọt khí nhỏ và kích thước của nó được tình theo công thức sau: R = 6. √𝑟2. 𝜎 trong đó :  R và r là đường kính bọt khí vs đường kính lỗ  𝜎 là sức căng bề mặt nước.  Áp suất cần thiết để thắng sức căng bề mặt được xác định theo công thức Laplace ∆𝑃 = 4𝜎 𝑟
  7. 7.  Theo kinh nghiệm, kích thước của lỗ thường lấy từ 4 đến 20 𝜇𝑚, áp suất không khí từ 0,1 đến 0,2 MPa ; lưu lượng không khí từ 40 đến 70 m3 /m2 .h,thời gian tuyển nổi từ 20 đến 30 phút và mức nước trong buồng tuyển nổi từ 1,5 đến 2,0 m. 4. Ưu nhược điểm của phương pháp tuyển nổi: Ưu điểm  Quá trình thực hiện liên tục và có phạm vi ứng dụng rộng rãi  Vốn đầu tư và chi phí vận hành thấp  Thiết bị đơn giản  Có độ lựa chọn tách các tạp chất  Tốc độ quá trình tuyển nổi cao hơn quá trình lắng và có khả năng cho bùn cặn có độ ẩm thấp hơn (90-95%) So với các phương pháp khác cấu tạo đơn giản, chi phí năng lượng thấp So với phương pháp lắng có thể khử được hoàn toàn các hạt nhỏ và nhẹ, lắng chậm, trong một thời gian ngắn. Nhược điểm  các lỗ mao quản hay bị bẩn và tắc  khó chọn vật liệu có kích thước mao quản giống nhau để đảm bảo thành các bọt khí có kích thước đồng đều 5. Tình hình sử dụng bể tuyển nổi ở nước ta  Bể tuyển nổi lần đâu tiên được thủ nghiệm tại Phần Lan khoảng những năm 20 của thế kỷ trước. Tại Mỹ, DAF chính thực được áp dụng năm 1980.  Tại Việt Nam hầu hết vẫn chỉ dùng công nghệ tạo bông keo tụ. Công nghệ này mới chỉ dùng trong xử lý nước thải quy mô nhỏ, chưa có điều kiện tổng kết và chưa dùng trong công nghệ nước cấp.
  8. 8.  Công nghệ này rất có triển vọng trong tái chế bột giấy và xỉ bùn than tại các nhà máy điện. Tất cả đã có công trình nghiên cứu. Nhà máy điện Cẩm Phả đã áp dụng công nghệ này để tái chỉ bùn than khi chất lượng than cung cấp cho nhà máy ngày càng xấu khiến các hạt bùn than ngày càng nhỏ.

×