giáo án giảng bài gia đình

1,859 views

Published on

giáo án lý thuyết gia đình

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
1,859
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
26
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

giáo án giảng bài gia đình

  1. 1. GIÁO ÁN LÝ THUYẾT I. PHẦN GIỚI THIỆU: Khoa : Cơ bản – Bộ môn Giáo dục chính trị Môn học : Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin Đối tượng học viên : Sinh viên đại học chính quy Tên bài giảng: Những vấn đề chính trị - xã hội có tính quy luật trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa Tên giảng viên: Hoàng Trung Dũng Số tiết: 3 tiết Thời gian: 180 phút 1. Vị trí: Chương VIII, phần thứ 3 của môn học 2. Nội dung chính: - Vấn đề dân tộc và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc - Vấn đề tôn giáo và nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo II. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA BÀI HỌC: 1. MỤC ĐÍCH: - Giúp sinh viên hiểu được những kiến thức chung, cơ bản nhất về dân tộc, tôn giáo, giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta hiện nay
  2. 2. - Nâng cao ý thức, trách nhiệm, chất lượng, hiệu quả quán triệt, tuyên truyền, thực hiện quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng , Nhà nước ta, cảnh giác đấu tranh hòng chống sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch 2. YÊU CẦU: Sinh viên phải nắm được: - Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dân tộc - Hai xu hướng phát triển của các dân tộc và vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội - Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc - Khái niệm tôn giáo - Vấn đề tôn giáo trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội - Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo III. CHUẨN BỊ 1. Giáo viên - Đề cương bài giảng, giáo trình môn học - Chuẩn bị phương tiện, đồ dùng dạy học - Dự kiến hình thức, phương pháp đánh giá kiến thức, kỹ năng của sinh viên: 2. Học sinh - Những kiến thức và kinh nghiệm liên quan đến bài học - Tài liệu học tập; dụng cụ học tập IV. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP: 1. Ổn định tổ chức (thời gian: 5 phút): - Kiểm tra sĩ số lớp học 2. Bài mới:
  3. 3. Đặt vấn đề vào bài mới: - Trò chơi giải ô chữ liên quan đến chủ dân tộc và tôn giáo Nội dung và phương pháp: Nội dung Thời gian (phút) Phương pháp Các hoạt động của giáo viên và học sinh Thảo luận Giáo viên Học sinh Ổn định tổ chức Chương VIII NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI CÓ TÍNH QUY LUẬT TRONG TIẾN TRÌNH CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA *Đặt vấn đề vào bài mới - Trò chơi giải ô chữ liên quan đến chủ dân tộc và tôn giáo III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO 1. Vấn đề dân tộc và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc a. Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dân tộc 3 tiết 15’ 60’ 10’ 5’ -Giảng giải, minh họa -Nêu vấn đề - Nghiên - GV trình bày tri thức, cách thức hành động bằng cách giảng giải, minh họa theo một trình tự nhất định - GV nêu vấn đề - GV cho đề - Tiếp thu, tái hiện những tri thức - SV tự lực, sáng tạo giải quyết vấn đề - SV nghiên - Giải quyết những câu hỏi của SV - đánh giá kết quả nghiên cứu của SV
  4. 4. - Khái niệm dân tộc - Các đặc trưng cơ bản của dân tộc b. Hai xu hướng phát triển của các dân tộc và vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội c. Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc 2. Vấn đề tôn giáo và nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo a. Khái niệm tôn giáo b. Vấn đề tôn giáo trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội c. Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo 25’ 25’ 40’ 10’ 15’ 15’ cứu - Nghiên cứu tài, nội dung và gợi ý - GV cho đề tài, nội dung và gợi ý cứu qua các bước (GV hướng dẫn) - SV nghiên cứu qua các bước (GV hướng dẫn) 4. Củng cố bài học: (Nội dung, phương pháp, thời gian,…)
  5. 5. 5. Giao nhiệm vụ về nhà cho học sinh: Câu hỏi, bài tập, chuẩn bị kiến thức bài mới 6. Tài liệu tham khảo: - Giáo trình môn: những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, NXB chính trị quốc gia 2009 - Giáo trình môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học, NXB chính trị quốc gia 2007 - Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam lần IX, X - Về xu hướng công nhân hóa ở nước ta hiện nay, T.S Nguyễn An Ninh, NXB chính trị quốc gia, 2007 - Các bài viết trên tạp chí Đảng Cộng sản; Tạp chí lý luận chính trị; Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo Nhân dân… HÀ NỘI, ngày...... tháng ..... năm 2013 Tổ bộ môn thông qua Người soạn bài (ký tên và đóng dấu) (ký và ghi rõ họ tên)
  6. 6. Chương VIII NHỮNG VẤN ĐỀ CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI CÓ TÍNH QUY LUẬT TRONG TIẾN TRÌNH CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ngày nay vấn đề dân tộc đang trở thành một vấn đề hết sức nhậy cảm tại nhiều nơi trên thế giới và ở nước ta. Quan hệ giai cấp và quan hệ dân tộc có tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến sự định hướng phát triển bền vững về các lĩnh vực kinh tế chính trị xã hội . Sự phát triển mạnh mẽ của nền văn minh nhân loại đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin làm cho các dân tộc có xu hướng xích lại gần nhau. Mặt khác trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cũng làm cho mối liên hệ qua lại gữa các dân tộc , bộ tộc tăng lên tạo điều kiện cho sự bảo lưu và phát triển nhiều nét riêng biệt trong bản sắc của mỗi dân tộc, bộ tộc. Sự phát triển thống nhất trong mâu thuẫn giữa hai xu hướng đó làm xuất hiện hàng loạt vấn đề cần giải quyết liên quan đến vận mệnh từng dân tộc và đụng chạm đến mối quan hệ gữa các dân tộc. Đặc biệt, những năm gần đây, với những biến động lớn trong đời sống chính trị -xã hội trên thế giới; vấn đề dân tộc mà trọng tâm là các quan hệ dân tộc cũng diễn biến rất đa dạng và phức tạp. III. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO 1. Vấn đề dân tộc và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc a. Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dân tộc - Khái niệm dân tộc Theo anh chị hiểu thế nào về dân tộc?
  7. 7. Dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc. Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và thay thế vai trò của phương thức sản xuất phong kiến. Ở một số nước phương Đông, do tác động của hoàn cảnh mang tính đặc thù, đặc biệt do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc đã hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập. Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất: +Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó. Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận của quốc gia như dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Êđê, Bana,... ở nước ta. +Hai là, chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Ví dụ: dân tộc Việt Nam, Trung Hoa, Hoa Kì,... Với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia, với nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó – quốc gia dân tộc.
  8. 8. Tuy nhiên, chỉ khi đặt nó bên cạnh nghĩa thứ hai, trong mối liên hệ với nghĩa thứ hai thì sắc thái nội dung của nó mới bộc lộ đầy đủ. - Các đặc trưng cơ bản của dân tộc ? Theo anh chị dân tộc có những đặc trưng cơ bản nào + Về kinh tế: Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc. + Về lãnh thổ: Cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. + Về ngôn ngữ : Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. + Về văn hóa: Có nét tâm lý riêng (tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn bó với nền văn hóa của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc). Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Trên thực tế, nhân tố dân tộc được biểu hiện trong văn hoá, ngôn ngữ, phong tục, tập quán,... Tức là yếu tố văn hoá - tâm lí để phân biệt cộng đồng dân tộc, là căn cứ chủ yếu để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. b. Hai xu hướng phát triển của các dân tộc và vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội - Xu hướng thứ nhất: ? Anh chị hãy cho biết nguyên nhân các dân tộc muốn tách ra để thành lập các quốc gia độc lập
  9. 9. Do sự thức tỉnh, sự trưởng thành của ý thức dân tộc mà các cộng đồng dân cư muốn tách ra để xác lập các cộng đồng dân tộc độc lập. - Xu hướng thứ hai: ? Anh chị hãy cho biết nguyên nhân và mục đích của các quốc gia liên hiệp lại với nhau Các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc, sự vận động của hai xu hướng trên gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại. Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận, thay vào đó là những khối liên hiệp với sự áp đặt, thống trị của chủ nghĩa đế quốc nhằm áp bức, bóc lột các dân tộc còn nghèo nàn, lạc hậu. Hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc do V.I.Lênin phát hiện đang phát huy tác dụng trong thời đại ngày nay với những biểu hiện rất phong phú và đa dạng. * Xét trên phạm vi các quốc gia xã hội chủ nghĩa có nhiều dân tộc: - Xu hướng thứ nhất biểu hiện trong sự nổ lực của từng dân tộc để đi tới sự tự chủ và phồn vinh của bản thân dân tộc mình. Xu hướng thứ hai tạo nên sự thúc đẩy mạnh mẽ để các dân tộc trong cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau hơn, hòa hợp với nhau ở mức độ cao hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống. Hai xu hướng phát huy tác động cùng chiều, bổ sung hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng dân tộc, trong cả cộng đồng quốc gia và đến tất cả các quan hệ dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo điều kiện cho từng dân tộc đi nhanh tới sự tự chủ và phồn vinh. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, cả hai xu hướng trên đều loại trừ các tư
  10. 10. tưởng và hành vi kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, dân tộc hẹp hòi, xung đột dân tộc. - Tóm lại, các dân tộc ngoài việc hội nhập còn phải tìm các giải pháp hữu hiệu để giữ gìn và phát huy bản sắc của dân tộc mình. Chính sách đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định “giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” là nguyên tắc thống nhất của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.( Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần 8 của Đảng,1996,tr.84 ) c. Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ? Theo các anh chị thì việc giải quyết vấn đề dân tộc gồm những nguyên tắc nào? ? Thảo luận nhóm 5 phút về nội dung Nhóm 1: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng Nhóm 2: Các dân tộc được quyền tự quyết Nhóm 3: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc -Giải quyết vấn đề dân tộc phải gắn với cách mạng vô sản và trên lập trường của giai cấp công nhân. Điều đó cũng có nghĩa là việc giải quyết vấn đề dân tộc phải trên cơ sở và vì lợi ích cơ bản, lâu dài của dân tộc. -Giải quyết vấn đề dân tộc thực chất là xác lập quan hệ công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc trong một quốc gia, giữa các quốc gia dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. -V.I.Lênin đã khái quát lại thành “Cương lĩnh dân tộc” của Đảng Cộng sản. Trong tác phẩm Về quyền dân tộc tự quyết, Người nêu rõ: “Các dân tộc
  11. 11. hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”. + Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân tộc. Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được pháp luật bảo vệ và được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trên phạm vi giữa các quốc gia – dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dân tộc trong giai đoạn hiện nay gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa sôvanh; Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc. ? Theo các anh chị ở Việt Nam hiện nay, các dân tộc đã hoàn toàn bình đẳng chưa? Nếu có thì bình đẳng trên những phương diện nào? * Các dân tộc ở Việt Nam đều được bình đẳng về chính trị. - Mọi dân tộc được tham gia vào quản lí nhà nước và xã hội - Mọi dân tộc được tham gia bầu - ứng cử - Mọi dân tộc đều có đại biểu trong hệ thống cơ quan nhà nước. - Tham gia góp ý những vấn đề xây dựng đất nước. Ví dụ: Quốc hội khoá XII đại biểu dân tộc thiểu số = 17,6%; đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh = 18,3%; huyện = 18,7%; xã = 22,7% * Các dân tộc ở Việt Nam đều bình đẳng về kinh tế. - Mọi dân tộc đều được tham gia vào các thành phần kinh tế, chính sách phát triển của Đảng và nhà nước đối với các dân tộc
  12. 12. - Nhà nước luôn quan tâm đầu tư cho tất cả các vùng - Nhà nước ban hành các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt ở các xã có điều kiện kinh tế khó khăn. Ví dụ: chương trình 135, 135, 136… * Các dân tộc ở Việt Nam đều bình đẳng về văn hoá, giáo dục. - Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán, văn hoá tốt đẹp. - Văn hoá các dân tộc được bảo tồn và phát huy. - Các dân tộc được bình đẳng hưởng thụ một nền giáo dục, tạo điều kiện các dân tộc đều có cơ hội học tập. ? Quyền bình đẳng giữa các dân tộc có ý nghĩa gì - Là cơ sở của đoàn kết giữa các dân tộc và đại đoàn kết các dân tộc. - Là sức mạnh đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước. - Góp phần thực hiện mục tiêu: dân giàu… - Các dân tộc được quyền tự quyết Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh dân tộc mình, quyền tự quyết định chế độ chính trị – xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình. Quyền tự quyết bao gồm quyền tự do độc lập về chính trị tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc (chứ không phải vì mưu đồ và lợi ích của một nhóm người nào) và cũng bao gồm quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có đủ sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia – dân tộc.
  13. 13. Khi xem xét, giải quyết quyền tự quyết của dân tộc cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân. Triệt để ủng hộ các phong trào dân tộc tiến bộ phù hợp với lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực đế quốc và phản động lợi dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, giúp đỡ các thế lực phản động dân tộc chủ nghĩa (sôvanh, hẹp hòi) đàn áp các lực lượng tiến bộ, đòi ly khai và đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa tư bản. Liên hệ: Thực tiễn Lê nin đã giải quyết rất khoa học vấn đề dân tộc trong cách mạng XHCN ở Nga: . Trước cách mạng Tháng mười, Lênin ủng hộ xu hướng tách ra làm thất bại chính sách sô vanh đại Nga và làm suy yếu chế độ Nga hoàng, tạo điều kiện thuận lợi cho CM tháng 10 nổ ra và giàng thắng lợi. . Sau cách mạng Tháng mười, Lênin ủng hộ liên hiệp tự nguyện thành lập liên bang nhằm bảo đảm quyền bình đẳng, xóa bỏ thù hằn giữa các dân tộc; tăng sức mạnh cho cách mạng đập tan sự bao vây của các nước đế quốc, xây dựng xây dựng thành công XHCN. (Ngày 31/12/1922 Lênin ra quyết định thành lập Liên bang các nước cộng hòa Xô viết, gọi tắt là Liên Xô. Tuy nhiên đến tháng 12/1991 Liên Xô lại tách ra thành 15 nước cộng hòa; trong đó một số nước liên minh lỏng lẻo, thành lập cộng đồng các quốc gia độc lập SNG) Trong hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tại chương 4 có nêu rõ về việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền nam Việt Nam. Gồm 6 điều, từ điều 9 đến 14. Trong đó, đáng chú ý nhất là điều 9: Điều 9:
  14. 14. Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cam kết tôn trọng những nguyên tắc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam dưới đây: a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của miền Nam Việt Nam thông quan tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế. c) Các nước ngoài sẽ không được áp đặt bất cứ xu hướng chính trị hoăc cá nhân nào đối với nhân dân miền Nam Việt Nam. - Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc là tư tưởng cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của các đảng cộng sản: Nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Nó bảo đảm cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi. Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc quy định mục tiêu hướng tới; quy định đường lối, phương pháp xem xét cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng dân tộc. Đồng thời, nó là yếu tố sức mạnh đảm bảo cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. LIÊN HỆ: Tuyên ngôn của Hội Liên hiệp các Dân tộc bị áp bức Ngày 9/7/1925, tại Quảng Châu, Hội Liên hiệp các Dân tộc bị áp bức do Nguyễn Ái Quốc và một số nhà cách mạng Trung Quốc vận động, đã chính thức được thành lập tập hợp nhiều thành viên quốc tế như Việt
  15. 15. Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Miến Điện (Myanmar)... với tôn chỉ “liên lạc với các dân tộc cùng làm cách mạng nhằm đánh đổ đế quốc”. Và tuyên ngôn đưa ra lời kêu gọi: “Hỡi các bạn thân yêu, muốn xua tan những đau khổ cần phải đoàn kết các dân tộc bị áp bức và toàn thể công nhân trên thế giới lại để làm các mạng…” KẾT LUẬN VẤN ĐỀ: Mối quan hệ giữa các nội dung của cương lĩnh: Tuy có tính độc lập tương đối song các nội dung lại có quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau; trong đó nội dung liên hiệp GCCN các dân tộc là tư tưởng quan trọng nhất. * Ý nghĩa: Nó vạch rõ bản chất, phương hướng giải quyết vấn đề dân tộc, là cơ sở lý luận, phương pháp luận cho các Đảng cộng sản về việc giải quyết vấn đề dân tộc trong cách mạng XHCN. - Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác - Lê nin được Hồ Chí Minh coi là cẩm nang thần kỳ, là mặt trời soi sáng con đường đi tới thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Khi bắt gặp cương lĩnh dân tộc của CN Mác -Lê nin, Người đã từng nói: "Hỡi đồng bào bị đoạ đầy đau khổ đây là cái cần thiết của chúng ta, đây là con đường giải phóng của chúng ta". Vấn đề dân tộc có vị trí hết sức quan trọng trong cách mạng XHCN vừa là nhiệm vụ trước mắt vừa là vấn đề có tính chiến lược lâu dài hiện nay. Để giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong cách mạng XHCN cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mà trước hết phải tuân thủ nghiêm ngặt cương lĩnh dân tộc của Lênin. Đặc biệt việc giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay phải được xác định là trách nhiệm của mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương của cả hệ thống chính trị và của chính đồng bào các dân tộc.
  16. 16. 2. Vấn đề tôn giáo và nguyên tắc cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo a. Khái niệm tôn giáo Chủ nghĩa Mác – Lênin coi tín ngưỡng, tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan. Qua hình thức phản ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội đều trở thành thần bí. Trong tác phẩm Chống Đuyrinh, Ph. Ăngghen đã viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo – vào trong đầu óc của con người – của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ; chỉ là sự phán ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”. C. Mác và Ph. Ăngghen còn cho rằng, tôn giáo là một hiện tượng xã hội, văn hóa, lịch sử; một lực lượng xã hội, trần thế”.(C.Mác và Ph.Ăngghen:Toàn tập-1994, tập 20, tr.437) Tôn giáo có nguồn gốc từ sự bất lực và sự sợ hãi của con ngưòi trước sức mạnh của giới tự nhiên. Ngoài ra trong xã hội có giai cấp, tôn giáo còn bắt nguồn từ sự áp bức bóc lột giai cấp. Tôn giáo là sản phẩm của con người, gắn với những điều kiện lịch sử tự nhiên và lịch sử xã hội xác định. Do đó, xét về mặt bản chất, tôn giáo là một hiện tượng xã hội phản ánh sự bất lực, bế tắc của con người trước tự nhiên và xã hội. Theo C. Mác: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” ( Sđd, tập 1,tr.570)
  17. 17. Tuy nhiên, tôn giáo cũng chứa đựng một số giá trị phù hợp với đạo đức, đạo lý của con người. Trong hệ thống những lời răn dạy của giáo lý tôn giáo cũng có những điều góp phần hướng con người đến những việc thiện, tránh điều ác. b. Vấn đề tôn giáo trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Nguyên nhân tồn tại của tôn giáo trong xã hội xã hội chủ nghĩa - Nguyên nhân nhận thức: Ngày nay, nhân loại đã đạt được những thành tựu to lớn về khoa học và công nghệ, giúp con người có thêm khả năng để nhận thức xã hội và làm chủ tự nhiên. Song thế giới khách quan còn nhiều vấn đề khoa học chưa thể làm rõ. Do đó, tâm lý sợ hãi, trông chờ và tin tưởng vào thần, thánh, phật… chưa thể gạt bỏ khỏi ý thức của con người trong xã hội. - Nguyên nhân tâm lý: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội bảo thủ nhất. Tín ngưỡng, tôn giáo đã ăn sâu vào đời sống tinh thần, lối sống của một bộ phận nhân dân qua nhiều thế hệ, trở thành một kiểu sinh hoạt văn hóa tinh thần không thể thiếu của cuộc sống. Mặc dù, xã hội đã có những biến đổi lớn về kinh tế, chính trị, xã hội… nhưng tín ngưỡng, tôn giáo không thay đổi kịp tiến độ của những biến đổi kinh tế, xã hội mà nó phản ánh. - Nguyên nhân chính trị – xã hội: Trong các nguyên tắc tôn giáo, có những điểm còn phù hợp với Chủ nghĩa xã hội, với đường lối chính sách của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa, đáp ứng được yêu cầu tinh thần của bộ phận nhân dân. Vì vậy tôn giáo vẫn tồn tại trong Chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh giai cấp vẫn đang diễn ra dưới nhiều hình thức, các thế lực chính trị vẫn lợi dụng tôn giáo để thực hiện cho mưu đồ chính trị của mình. Cùng với nỗi lo sợ về chiến tranh, bệnh tật, đói nghèo… là điều kiện thuận lợi cho tôn giáo tồn tại.
  18. 18. - Nguyên nhân kinh tế: Trong Chủ nghĩa xã hội nhất là giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế với những lợi ích khác nhau của các giai tầng xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân chưa cao, con người còn chịu tác động của nhiều yếu tố ngẫu nhiên, may rủi. Điều đó làm cho con người có tâm lý thụ động, cầu mong vào những lực lượng siêu nhiên. - Nguyên nhân về văn hóa: Sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo có khả năng đáp ứng ở một mức độ nào đó nhu cầu văn hóa tinh thần và có ý nghĩa nhất định về giáo dục ý thức cộng đồng, đạo đức, phong cách, lối sống. Vì vậy, việc kế thừa, bảo tồn và phát huy văn hóa (có chọn lọc) của nhân loại trong đó có đạo đức tôn giáo là cần thiết. c. Những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo Tín ngưỡng, tôn giáo là một vấn đề tế nhị, nhạy cảm và phức tạp. Vì vậy việc giải quyết vấn đề tôn giáo trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội cần dựa trên những quan điểm sau: - Một là: Chủ nghĩa Mác – Lênin, hệ tư tưởng chủ đạo của xã hội Xã hội chủ nghĩa và hệ tư tưởng tôn giáo có sự khác nhau cơ bản về thế giới quan, nhân sinh quan và con đường mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Với hệ thống tín điều và giáo lý của mình, tôn giáo phần nào làm hạn chế khả năng vươn lên làm chủ của con người. Vì vậy, khắc phục dần những ảnh hưởng tiêu cực của tôn giáo trong đời sống xã hội phải gắn liền với quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới là yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội. - Hai là: Một khi tín ngưỡng tôn giáo còn là nhu cầu tinh thần của một bộ phận quần chúng nhân dân thì chính sách nhất quán của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do
  19. 19. không tín ngưỡng của công dân. Mọi công dân theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, đều có nghĩa vụ và quyền lợi như nhau. Cần phát huy những nhân tố tích cực của tôn giáo, đặc biệt là những giá trị đạo đức, chủ nghĩa nhân đạo và tinh thần yêu nước. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm tự do tín ngưỡng của công dân. - Ba là: Thực hiện đoàn kết giữa những người theo với những người không theo một tôn giáo nào, đoàn kết các tôn giáo hợp pháp, chân chính, đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nghiêm cấm mọi hành vi chia rẽ vì lý do tín ngưỡng tôn giáo. Thông qua quá trình cùng nhau đoàn kết xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao mức sống và trình độ kiến thức của quần chúng, những người lao động có tín ngưỡng, tôn giáo sẽ dần dần đến với Chủ nghĩa xã hội. Đương nhiên, như vậy không có nghĩa là coi nhẹ việc giáo dục chủ nghĩa vô thần khoa học, thế giới quan duy vật cho toàn dân, trong đó có những tín đồ tôn giáo. - Bốn là: Phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo. Mặt tư tưởng thể hiện sự tín ngưỡng trong tôn giáo. Khắc phục mặt này là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, gắn liền với quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có tín ngưỡng. Mặt chính trị thể hiện sự lợi dụng tôn giáo để chống lại sự nghiệp đấu tranh cách mạng, xây dựng Chủ nghĩa xã hội của những phần tử phản động đội lốt tôn giáo. Đấu tranh loại bỏ mặt chính trị trong lĩnh vực tôn giáo là nhiệm vụ thường xuyên, đòi hỏi phải nâng cao cảnh giác kịp thời chống lại những âm mưu và hành động của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng, xây dựng xã hội mới. Giải quyết vấn đề này phải khẩn trương, kiên quyết, vừa thận trọng vừa có sách lược đúng đắn.
  20. 20. - Năm là: Phải có quan điểm lịch sử-cụ thể khi giải quyết vấn đề tôn giáo. Ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, vai trò, tác động của từng tôn giáo đối với đời sống xã hội không giống nhau. Quan điểm, thái độ của các giáo hội, giáo sĩ, giáo dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội cũng khác nhau. Vì vậy cần phải có quan điểm lịch sử- cụ thể khi xem xét, đánh giá và ứng xử đối với những vấn đề liên quan đến tôn giáo.
  21. 21. http://tuoitrebentre.vn/threads/4148-Bai-5-Quyen-binh-dang-giua-cac- dan-toc-ton-giao bai trình chieu http://baigiang.violet.vn/present/same/entry_id/8772680

×