Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

Tong quan ve phan tich ky thuat

5,902 views

Published on

  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

Tong quan ve phan tich ky thuat

  1. 1. Nhóm sinh viên nghiên cứu tài chính SFR TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH KỸ THUẬT Thực hiện: Nhóm 4, đội phân tích kỹ thuật, nhóm SFR Trần Bá Duy Nguyễn Duy Lân Trần Trương Mạnh Hiếu Nguyễn Việt Hoà Nguyễn Trần Nhật Huy Nguyễn Hồ Thanh Vĩnh TP. Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 06 năm 2010
  2. 2. LỜI MỞ ĐẦU Newton - một nhà vật lý, toán học thiên tài cũng là một nhà đầu tư chứng khoán. Kết quả kinh doanh của ông: phá sản. Nhưng ông cũng kịp để lại một câu nói vô cùng nổi tiếng: “Tôi có thể cân được khối lượng của linh hồn nhưng không thể đo được sự điên rồ của con người”. Câu chuyện trên là một ví dụ về phân tích kỹ thuật bằng phép cân linh hồn của Newton. Sự thất bại của một thiên tài về cân, đo, đong, đếm như Newton là một lời cảnh tỉnh cho tất cả những ai xem Phân tích kỹ thuật chỉ là việc nghiên cứu những mô hình toán cứng nhắc (đồ thị, xác suất thống kê, biến đổi miền, các dãy số toán học…). “Phân tích kỹ thuật là một môn nghệ thuật và Traders là nghệ sỹ” là câu nói cửa miệng của tất cả những nhà phân tích kỹ thuật. Muốn thành công trong phân tích kỹ thuật, trước hết bạn cần phải nắm được những đặc tính, bản chất, những giả thuyết khoa học của nó; từ đó có cách vận dụng một cách linh hoạt để phân tích kỹ thuật thực sự đem lại hiệu quả trong việc phân tích và dự đoán. Làm được như vậy thì bạn mới chính là một nghệ sỹ trong cuộc chơi của môn khoa học này.
  3. 3. 1. Khái niệm phân tích kỹ thuật: Phân tích kỹ thuật sử dụng các mô hình toán học (đồ thị, biến đổi miền, xác suất thống kê, dãy đại số và các công cụ khác) dựa trên dữ liệu thu thập về thị trường trong quá khứ và hiện tại để chỉ ra trạng thái của thị trường tại thời điểm xác định, thông thường là nhận định xu hướng thị trường đang lên, xuống hay “dập dềnh”; hoặc nhận định tương quan lực lượng giữa sự tăng và giảm giá. Phân tích kỹ thuật không để ý đến các chỉ số tài chính, tình hình phát triển hay các thông tin về thị trường, về doanh nghiệp mà chỉ chú trọng vào việc tập hợp các dữ liệu về giá cả, khối lượng và các tiêu chí khác của cổ phiếu hay hàng hóa thu thập được tại các phiên giao dịch trong quá khứ. Dựa vào việc phân tích sự biến động của giá trong quá khứ và hiện tại dựa vào các đồ thị nhằm mục đích dự báo các xu hướng giá trong tương lai (ngắn hạn, trung hạn và dài hạn). Phân tích có thể áp dụng cho các loại hàng hoá vật chất: lúa, gạo, dầu, vảng, các loại hàng hoá tài vật chất khác; Các loại hàng hoá tài chính: cổ phiếu, trái phiều, chỉ số, tỉ giá các loại tiền tệ, công cụ tài chính khác. Giá sử dụng trong phân tích kỹ thuật có thể là giá mở cửa, đóng cửa, giá cao nhất, hay giá thấp nhất của một chứng khoán nhất định trong một khoảng thời gian cụ thể. Khoảng thời gian áp dụng có thể là 5 phút, 10 phút, 15 phút, 30 phút, 1 giờ, 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng, 1 năm hoặc những khoảng thời gian khác, tuỳ theo việc nhà phân tích có các dữ liệu giá giao dịch trong những khoảng thời gian trên hay không. Ở Việt Nam, khi xem xét thị trường cổ phiếu, ta chỉ có dữ liệu giá và khối lượng giao dịch theo ngày. 2. Lịch sử hình thành và phát triển của trường phái phân tích kỹ thuật. Những nguyên lý khởi nguồn của phân tích kỹ thuật về thị trường tài chính đã có từ hàng trăm năm về trước. Những dấu hiện xuất hiện sớm nhất về phân tích kỹ thuật xuất hiện trong những đánh giá của Joseph de la Vega về thị trường Hà Lan, thế kỉ 17.
  4. 4. Ở Châu Á, trong suốt thế kỷ 18, Hommo Munehisa đã nêu lên ý tưởng về đồ thị hình nến ( candlestick techniques) và phát triển nó trong những đánh giá về thị trường gạo của Nhật Bản thời đó. Kế đến, Lý thuyết Dow ( Dow theory) một lý thuyết được dựa trên tập hợp những bài viết của người sáng lập tạp chí Wall Street – Charles Dow đã đem đến luồng gió thật sự cho sự phát triển phân tích kỹ thuật hiện đại. Ông là người đã sáng lập lên tạp chí phố Wall (The Wall Street Journal). Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 1884 ông đưa ra chỉ số bình quân giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mĩ thời gian đó, dựa trên phân tích những chỉ số này, ông tiến hành nghiên cứu, phân tích và đưa ra những nhận định, càng về sau, ông phát triển những nhận định này thành một số lý thuyết cơ bản. Sau đó, William Peter Hamilton là người thực sự mang lại sức sống cho những nghiên cứu của Dow bằng việc tiếp tục nghiên cứu và xuất bản cuốn sách “The Stock Market Barometer” (Phong vũ biểu thị trường chứng khoán) vào năm 1922. Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W. Schabacker là người đã đã đi sâu vào những nghiên cứu của Dow và Hamilton, Schabacker là người đã đưa ra khái niệm đầu tiên về Phân tích kỹ thuật. Schabacker từng là chủ biên của tạp chí Forbes nổi tiếng. Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dow đưa ra được với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan trọng khi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ. Điều này đã được ông thể hiện và chứng minh trong cuốn sách của mình: “Stock Market Theory and Practice, Technical Market Analysis and Stock Market Profit”. Như vậy những cơ sở đầu tiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong lý thuyết Dow, nhưng phải đến Schabacker – người cha của Phân tích kỹ thuật hiện đại tiếp đó là Edward và Magee với “Technical Analysis of Stock Trend” (cuốn sách đã được tái bản 8 lần) và ngày nay là John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring, … thì mới thực sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao, tổng kết thành một hệ thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung.
  5. 5. Càng về sau, những công cụ phân tích kỹ thuật và những lý thuyết càng phát triển mạnh mẽ, nhất là trong những thập kỷ gần đây, khi những nhà phân tích có được sự trợ giúp đắc lực từ máy vi tính. 3. Những triết lý căn bản của phân tích kỹ thuật. Trước khi đề cập tới những triết lý căn bản của phân tích kỹ thuật, chúng ta cần phải hiểu rõ tại sao chúng ta nên sử dụng phân tích kỹ thuật, tại sao phân tích kỹ thuật sẽ giúp nhà đầu tư trả lời được những câu hỏi đại loại như: Hôm nay tôi nên mua hay nên bán? Liệu giá ngày mai, tuần sau, tháng sau, năm sau… sẽ ở mức nào? Thứ nhất, giả định của phân tích kỹ thuật là tất cả thông tin được đưa ra đều phản ánh ngay vào giá. Mà bản chất của phân tích kỹ thuật là dựa vào tất cả các thông tin có trong giá để lý giải về các biểu hiện của thị trường nhằm hình thành nên dự đoán cho tương lai. Thứ hai, biến động của giá không ngẫu nhiên hoàn toàn, vẫn có những thời điểm nó tuân theo những quy luật nhất định. Phân tích kỹ thuật sẽ chỉ ra được những quy luật đó, và xác định những xu hướng, nhà đầu tư có thể đầu tư theo xu hướng đó để kiếm lợi nhuận. Thứ ba, phân tích kỹ thuật dựa vào việc xác định giá hiện tại như thế nào và biến động của nó trong quá khứ ra sao, vì theo quan điểm của họ, giá được thiết lập dựa trên quan hệ cung cầu, họ không quan tâm đến câu hỏi tại sao. Chính vì những lý do trên, phân tích kỹ thuật sẽ giúp những nhà đầu tư trả lời được những câu hỏi nêu trên. Vậy những triết lý căn bản của PTKT là gì? - Như đã đề cập ở trên, nguyên lý đầu tiên là giá phản ánh tất cả hành động thị trường. Tức là tất cả những yếu tố cơ bản của doanh nghiệp, yếu tố chính trị, tâm lý, … đều phản ánh hết vào giá. Đây có thể coi là nền tảng cho mọi lý thuyết của phân tích kỹ thuật. Trên cơ sở nhận thức những biến đổi của giá trong quan hệ cung cầu, các nhà phân tích kỹ thuật cho rằng, dù với lý do gì đi nữa, thì khi cầu vượt cung thì thị trường tăng giá, cung vượt cầu thì thị trường giảm giá. Và dù họ biết lý do tại sao cung vượt
  6. 6. cầu và ngược lại, nhưng họ không tin rằng những lý do trên là quan trọng và cần thiết trong quy trình dự báo. - Triết lý thứ hai của phân tích kỹ thuật: Giá chuyển dịch theo xu hướng. Theo định luật 1 của Newton, mọi vật chuyển động có quán tính. Tương tự như vậy, giá sẽ có xu hướng dịch chuyển theo chiều hướng tiếp tục hơn là đảo ngược. Dựa trên một xu hướng đang tồn tại, nhà đầu tư có thể đầu tư dựa trên những phương pháp theo sau xu hướng cho tới khi có các dấu hiệu về sự đảo ngược xu hướng xảy ra. Nếu bỏ qua những vận động nhỏ thì giá nhìn chung sẽ vận động theo những xu thế chung của thị trường, và những xu thế này là ổn định trong thời gian dài. ( Edward và Magee – “Techinal Analysisi of stock trend”) - Triết lý thứ ba - Quá khứ sẽ tự nó lặp lại: Nội dung cơ bản của phân tích kỹ thuật và nghiên cứu hành động thị trường là nghiên cứu về tâm lý con người. Mà tâm lý con người thường có xu hướng không thay đổi. Những nhà phân tích kỹ thuật tiên phong đã dựa trên những mẫu hình nghiên cứu về giá trong mối tương quan với tâm lý con người để đề ra những mẫu hình điển hình trong phân tích kỹ thuật. Do vậy, trong tác phẩm “Technical Analysis of stock trend”, Edward và Magee đã cho rằng: “Chìa khoá để nắm bắt tương lai nằm trong việc nghiên cứu quá khứ” và “tương lai chỉ là sự lặp lại của quá khứ”. Như vậy, bài viết đã điểm lại 3 triết lý cơ bản của phân tích kỹ thuật. Nếu chỉ một trong ba triết lý trên không được chấp nhận thì những thành tự của phân tích kỹ thuật sẽ không còn ý nghĩa nữa. Kế đến, chúng ta sẽ tiến hành so sánh việc dự báo dựa trên phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật để làm rõ hơn về mục tiêu của PTKT. 4. So sánh phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật Phương pháp phân tích cơ bản sẽ giúp nhà phân tích xác định được giá trị nội tại của đối tượng nghiên cứu. Những nhà phân tích cơ bản cho rằng: Nếu giá trị nội tại của đối tượng nghiên cứu là thấp hơn so với giá thị trường định, thì tài sản này sẽ được mua vào, làm cho giá tăng, và ngược lại. Phân tích cơ bản đã lý giải được nguyên nhân tại sao giá lại
  7. 7. tăng, tại sao giá lại giảm hoặc đứng yên. Và trên cơ sở xác định được giá trị nội tại của tài sản, các nhà phân tích cơ bản sẽ đưa ra chiều hướng dự báo cho giá vào thời gian tới. Phân tích cơ bản là phương pháp hàng đầu và không thể thiếu được trong phân tích đầu tư cổ phiếu. Phân tích cơ bản cung cấp một cơ sở tương đối vững chắc cho việc ra các quyết định đầu tư. Có khoảng 90% các nhà đầu tư sử dụng phân tích cơ bản (Arshad Khan và Vaqar Zuberi, 1999, Stock Investing for Everyone, trang 85). Chính vì vậy mà các chương trình đào tạo nổi tiếng thế giới về phân tích đầu tư là CFA (Chartered Financial Analyst - thông dụng ở Mỹ) và CIIA (Certified International Investment Analyst - thông dụng ở châu Âu) cũng hoàn toàn chứa các nội dung phục vụ cho phân tích cơ bản và không bao gồm nội dung phân tích kỹ thuật. Nếu như những nhà phân tích cơ bản tiếp cận vấn đề từ góc độ nguyên nhân của sự dịch chuyển giá thị trường để đưa ra dự báo, thì những nhà phân tích kỹ thuật lại nghiên cứu kết quả và tác động từ những sự dịch chuyển này để đưa ra dự báo. Bảng so sánh tóm tắt phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật Phân tích cơ bản Phân tích kỹ thuật - Nghiên cứu các nhân tố từ vĩ mô đến - Nghiên cứu biến động của giá trong vi mô, các nhân tố ảnh hưởng đến cung quá khứ đến hiện tại, xem xét cung cầu cầu để xác định giá trị nội tại của tài ảnh hưởng thế nào đến giá để xác định sản. các xu hướng giá. - Có tính dài hạn - Thiên về ngắn hạn hơn. - Phức tạp, đỏi hỏi nhiều thời gian, cần - Dễ và nghiên cứu nhanh, nhiều nhà phải quan tâm chặt chẽ hoạt động của phân tích kỹ thuật không cần quan tâm doanh nghiệp. đến hoạt động của doanh nghiệp. - Về dài hạn, thị trường chịu chi phối - Trong ngắn hạn, yếu tố tâm lý thị của các nhân tố cơ bản. trường quan trọng hơn.
  8. 8. - Trả lời câu hỏi: Tại sao giá lại thế? - Trả lời câu hỏi: Xu hướng là thế nào, hiện tại nên mua hay nên bán? - Khi xem xét trả lời câu hỏi, bỏ qua tác - Giả định rằng tất cả các yếu tố của thị động của tâm lý thị trường. trường đều đã phản ánh vào giá, do vậy không bỏ qua tác động của tâm lý thị trường. - Tập trung vào quá nhiều các nhân tố - Linh hoạt, có khả năng thích ứng, do cơ bản, ít có tính linh hoạt. yếu tố đầu vào đơn giản. 5. Phân loại các biện pháp phân tích kỹ thuật 5.1 Phân tích tương quan (Leading Indicators) Các phương pháp phân tích tương quan chỉ ra tương quan lực lượng giữa sự tăng giá và sự giảm giá, tương quan lực lượng giữa phe mua và phe bán trong một thời kỳ xác định. Sự tương quan đó biểu hiện thành một giá trị đại diện xác đinh. Nếu sự tăng giá là lớn hơn sự giảm giá thì giá trị này lớn, nếu sự tăng giá là nhỏ hơn sự giảm giá thì giá trị này nhỏ. Sự tăng giá càng áp đảo bao nhiêu thì giá trị này càng lớn bấy nhiêu, sự giảm giá càng áp đảo bao nhiêu thì giá trị này càng nhỏ bấy nhiêu. Tên tiếng Anh của phương pháp này là Leading Indicators, “leading” có nghĩa là “dẫn dắt” hàm ý chỉ ra sự tăng giá hay sự giảm giá đang giữ thế chủ đạo trên thị trường, dẵn dắt diễn biến của thị trường. Ví dụ điển hình của phương pháp này là phương pháp RSI (Phần nghiên cứu các chỉ số sẽ được tiến hành ở các bài nghiên cứu sau) 5.2 Phân tích xu thế (Lagging Indicators) Các phương pháp thuộc nhóm này chỉ ra xu thế chung của thị trường trong một thời kỳ xác định. Xu thế đó có thể là tăng giá, có thể là giảm giá hoặc trạng thái “dập dềnh”. Theo cách đó, nếu chỉ dựa vào một giá trị tính toán được của phương pháp này thì không đủ để nhận định xu thế của thị trường mà phải dựa vào một dãy các giá trị của các thời kỳ
  9. 9. khác nhau để vẽ nên đường xu thế của thị trường. Ví dụ như các phương pháp trung bình động (phần này sẽ được đề cập trong các bài sau này). Các phương pháp phân tích xu thế có tính chất trễ nghĩa là khi phát hiện ra dấu hiệu thị trường đang theo xu thế tăng hay giảm giá thì thực chất xu thế này đã xảy ra – vì vậy, tên tiếng Anh của phương pháp này là Lagging indicators với “lagging” là “trễ”. Phân tích xu thế không trực tiếp phát sinh các tín hiệu mua và bán cho các Nhà đầu tư nhưng phân tích xu thế xác nhận và bổ sung tính chất đúng đắn trong các quyết định mua và bán của Nhà đầu tư. Tuy nhiên, khi sử dụng phân tích xu thế cần chú ý khi thị trường biến động “dập dềnh” sẽ làm mất tác dụng của phân tích xu thế. 5.3 Phối hợp sử dụng phân tích tương quan và phân tích xu thế Phân tích tương quan cung cấp những tín hiệu cảnh báo sớm về tiềm năng của thị trường. Những cảnh báo sớm này tỏ giúp cho các nhà đầu tư nhanh chóng đưa ra các quyết định mua và bán phù hợp. Phân tích xu thế tuy không đưa ra được các tín hiệu nhanh chóng như phân tích tương quan nhưng phân tích xu thế là một công cụ xác thực tính đúng đắn của phân tích tương quan. Phân tích tương quan chỉ có thể cảnh báo chính xác nhất nếu được kết hợp với phân tích xu thế, giảm thiểu các tín hiệu không chính xác, giảm rủi ro cho nhà đầu tư. Chi tiết hơn về việc sử dụng phối hợp phân tích tương quan và phân tích xu thế sẽ được nêu trong các phần sau. 6. Chức năng của phân tích kỹ thuật: Phân tích kỹ thuật đóng vai trò là công cụ trợ giúp nhà đầu tư với ba chức năng chính: Báo động, xác thực và dự đoán 6.1 Báo động: Với vai trò là công cụ báo động, phân tích kỹ thuật cảnh báo sự xuyên phá các ngưỡng an toàn (resistance và support – những phần này sẽ được trình bày ở một bài nghiên cứu chuyên sâu sau này) và thiết lập nên các ngưỡng an toàn mới hay nói cách khác là thiết lập mức giá mới thực sự thay vì dao động quanh một mức giá cũ. Đối với các nhà đầu tư,
  10. 10. việc nhận biết các dấu hiệu về sự sự thay đổi mức giá càng sớm càng tốt giúp cho họ sớm có hành động kịp thời đáp ứng lại diễn biến của thị trường. 6.2 Xác nhận: Mỗi phương pháp phân tích kỹ thuật được sử dụng kết hợp với các phương pháp phân tích kỹ thuật khác hoặc các phương pháp phi kỹ thuật để xác nhận về xu thế của giá. Việc kết hợp và bổ trợ lẫn nhau giữa các phương pháp kỹ thuật khác nhau giúp nhà đầu tư có được kết luận chính xác và tối ưu hơn. 6.3 Dự đoán: Nhà đầu tư sử dụng các kết luận của phân tích kỹ thuật để dự đoán giá cả của tương lai với kỳ vọng về khả năng dự đoán tốt hơn. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, bản chất của phân tích kỹ thuật không phải là một dự báo chính xác về tương lai mà là chỉ thị trạng thái thị trường trong quá khứ với một độ trễ nhất định; do đó nếu sử dụng như một công cụ dự đoán nhà đầu tư cần phải tính đến một xác suất an toàn và mức độ chấp nhận rủi to khi dự đoán là không phù hợp. Không ai có thể nói trước được tương lai chỉ bằng thong tin trong quá khứ. 7. Những khuyết điểm của phân tích kỹ thuật “Đồ thị có thể nói cho chúng ta thị trường đã ở đâu nhưng không thể nói cho chúng ta biết thị trường sẽ đi về đâu”. Đây là vấn đề thường xuyên được nêu ra trong những buổi hội thảo về phân tích kỹ thuật. Đúng, đồ thị không thể nói cho chúng ta bất cứ thứ gì nếu chúng ta không biết cách đọc nó. Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên chính là tuyên bố phủ định cho những nghiên cứu về phân tích kỹ thuật. Phần tìm hiểu về lý thuyết bước đi ngẫu nhiên, bài viết sẽ trình bày ở mục dưới, trong phần này, bài viết chỉ tập trung phân tích những nhược điểm có thể có trong phân tích kỹ thuật.
  11. 11. 7.1 Không thể lý giải được sự đúng đắn của các mẫu hình. Chưa có một nghiên cứu nào thành công trong việc định lượng toán học các mẫu hình. Việc xây dựng các mẫu hình và áp dụng nó đều dựa vào quan điểm chủ quan của cá nhân những nhà phân tích kỹ thuật. Nhưng vấn đề là ở chỗ, các mẫu hình lại được áp dụng rộng rãi và phổ biến trong nhiều năm qua. Rất nhiều nhà giao dịch hành động đúng như các mẫu hình này. Điều đó đã khiến những nhà phân tích kỹ thuật cho rằng những vận động của giá đúng như những mẫu hình. Vậy nhưng ngay cả khi những nhà phân tích kỹ thuật đồng tình với đề cập ở trên, thì họ cũng không nhất thiết phải tham gia thị trường vào cùng một thời điểm và cùng một cách. Một vài người cố gắng dự báo những tín hiệu đồ thị và tham gia vào thị trường sớm hơn. Một vài người khác lại thích mua ở những “điểm phá vỡ” của mẫu hình và khi chỉ số đã hình thành. Một vài người lại tiếp tục chờ đợi đến khi có sự kéo dài. Có thể nói, một số nhà đầu tư thì nóng vội, số khác lại thận trọng. Một số thì sử dụng lệnh dừng ( Stop Order), số khác lại thích dùng lệnh thị trường (Market Order) hoặc lệnh giới hạn (Limit Order). Một số thì giao dịch dài hạn, số khác lại thích giao dịch ngắn hạn. Luôn có sự muôn hình muôn vẻ trong mỗi quyết định của nhà đầu tư. Giá thị trường tăng hay giảm chỉ xảy ra và được duy trì khi chúng tuân theo quy luật cung cầu. Các nhà phân tích kỹ thuật không thể gây nên một sự dịch chuyển thị trường chỉ bằng khả năng mua và bán của riêng họ. Thậm chí, khi thị trường giao sau chỉ số phát triển, quy luật cung cầu có thể bị “bóp méo”, nhưng sự “bóp méo” đó chỉ là trong ngắn hạn và không thể gây ra những sự dịch chuyển lớn. Chính vì thế, không thể lý giải được sự đúng đắn tuyệt đối hoặc là tương đối của các mẫu hình1. 7.2 Thị trường có những thời điểm tuân theo bước đi ngẫu nhiên Thống kê toán học bao gồm thống kê diễn dịch và thống kê quy nạp. Thống kê diễn dịch ám chỉ việc mô tả các dữ liệu dưới dạng đồ thị. Thống kê quy nạp áp chỉ việc tổng quát hoá, tiên đoán, nói chung là phép quy nạp rút ra từ dữ liệu đó. Việc sử dụng dữ liệu giá 1 Tham khảo thêm quyển “Phân tích kỹ thuật” – Lê Đạt Chí
  12. 12. quá khứ để đưa ra dự báo cho tương lai của phân tích kỹ thuật là tuân theo nguyên tắc thống kê toán học, hướng những kinh nghiệm từ trong quá khứ vào tương lai. Nhưng vấn đề là ở chỗ, giá thị trường tuân theo quy luật cung cầu. Sự biến động của cung và cầu rất đa dạng, do vậy có những thời điểm xảy ra “bước đi ngẫu nhiên” trong giá, trong hoàn cảnh đó làm sao để có thể sử dụng được phân tích kỹ thuật? Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên Lý thuyết này cho rằng những thay đổi trong giá cả là “độc lập lẫn nhau” và giá cả trong quá khứ không phải là một chỉ dẫn tốt cho xu hướng tương lai. Tức là ta không thể nào dự đoán được giá cả. Lý thuyết này dựa trên giả định là thị trường hiệu quả, giả định này hàm ý rằng giá cả dao động ngẫu nhiên xoay quanh giá trị nội tại của chúng. Để chứng minh nhược điểm trên không đúng, các nhà phân tích kỹ thuật đưa ra luận điểm như sau: Mọi thứ đều rất công bằng, bất kỳ một biến động xảy ra ngẫu nhiên và không dự đoán được đều là vì những nhà nghiên cứu, phân tích đã không hiểu được nguyên tắc, nguyên lý cho sự vận động này, họ đã không chịu bỏ thời gian ra nghiên cứu những nguyên tắc ứng xử của thị trường mà ảo tưởng rằng đó là do bước đi ngẫu nhiên. Nếu các nhà phân tích đưa ra luận điểm như vậy, thì liệu chăng họ đã xâm phạm vào chân trời của phân tích cơ bản khi tìm hiểu câu hỏi “Tại sao?”
  13. 13. KẾT LUẬN Như vậy, trong phần tổng quan về phân tích kỹ thuật, bài viết đã trình bày những nội dung sau: - Giới thiệu khái niệm phân tích kỹ thuật, - Thống kê lại lịch sử hình thành và phát triển của trường phái phân tích kỹ thuật, - Trình bày những triết lý cơ bản của phân tích kỹ thuật, - So sánh sự khác biệt giữa phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật, - Phân loại các biện pháp phân tích kỹ thuật, - Khái quát chức năng của phân tích kỹ thuật, - Chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong phân tích kỹ thuật. Mặc dù bài viết còn nhiều thiếu sót, nhưng nhóm nghiên cứu hi vọng qua bài viết của mình, nhóm đã trình bày được những vấn đề tổng quan nhất về phân tích kỹ thuật để làm nền tảng cho những nghiên cứu và phân tích sâu hơn về sau.
  14. 14. TÀI LIỆU THAM KHẢO “Phân tích kỹ thuật” – chủ biên Lê Đạt Chí, Phan Thị Bích Nguyệt “Phân tích kỹ thuật” – Sagavn – http://www.saga.vn “Technical analysis of stock trend” –Edwad & Magee “Techincal analysis from A to Z” – Steven B.Achelis

×