Cam nang soi than

390 views

Published on

Published in: Health & Medicine
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
390
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
4
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Cam nang soi than

  1. 1. 1 Cẩm Nang Bệnh Sỏi Thận I. Bệnh Sỏi thận II. Các nguyên nhân dẫn đến bệnh sỏi thận III. Triệu chứng bệnh sỏi thận. IV. Biến chứng bệnh sỏi thận V. Đối tượng nào hay mắc sỏi thận. VI. Sỏi thận ở phụ nữ có thai. VII. Chế độ ăn uống đối với người bị bệnh sỏi thận. VIII. Lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả. IX. Sử dụng cốm trị sỏi thận Sirnakarang để phòng và chữa bệnh.
  2. 2. 2 I, BỆNH SỎI THẬN: 1, Bệnh sỏi thận là gì? Đó là sự lắng đọng những chất đáng lẽ có thể hòa tan trong nước tiểu, vì một lý do nào đó đã kết tinh, lắng đọng lại và tạo sỏi trong thận, tùy thời gian, vị trí và độ lắng đọng mà kích thước sỏi lớn nhỏ khác nhau. Box: Nước từ mạch máu ngấm qua tế bào thận, bài tiết nước tiểu qua ống thận vào lòng thận, theo ống bài tiết (niệu quản) xuống bàng quang và thoát ra ngoài. Sỏi hình thành, di chuyển ở bất cứ vị trí nào trên đường đi đó của nước tiểu và được gọi là sỏi thận, sỏi niệu quản hay sỏi bàng quang. Tuy nhiên, do cấu tạo của thận có nhiều ngóc ngách, khe kẽ mà độ lắng đọng lớn hơn khiến dễ bị sỏi hơn cả. 2, Biểu hiện bệnh sỏi thận: Đau từng cơn, đầu tiên đau ở hai hố thắt lưng, rồi lan ra bụng, xuống bụng dưới và xuống đùi. Đó là do sỏi nút lại như nút chai, khiến nước tiểu không thoát ra được. Khi nước tiểu bị tắc nhiều hay ít sẽ tạo ra các cơn đau khác nhau. Nhiều khi bệnh nhân cảm thấy đau, cựa mình một lúc lại hết đau là do viên sỏi chưa quá lớn, lúc đầu gây bít tắc nước tiểu, nhưng viên sỏi lại di chuyển vị trí khiến nước tiểu rỉ ra được một chút làm cơn đau giảm bớt. Đau một bên là do bị sỏi ở một bên thận, và nếu bị sỏi cả hai thận thì người bệnh sẽ đau cùng lúc cả hai bên hố thắt lưng.
  3. 3. 3 Đái ra máu do sỏi gây tổn thương thành niệu quản, gây xước và chảy máu. Đái buốt, đái rắt. Các cơn đau ở lưng khi bị sỏi thận hầu như khó phân biệt với các cơn đau của chứng bệnh khác. Vì thế khi bị đau lưng nên đi khám ngay để được bác sĩ chẩn đoán, nếu nghi bị sỏi thận thì cần được siêu âm, chụp X-quang (UIV) để được chuẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời. Phân loại sỏi thận : - Sỏi canxi là phổ biến nhất. Mức độ phổ biến gấp 2 đến 3 lần ở nam giới, thường xuất hiện ở độ tuổi từ 20-30. Canxi có thể kết hợp với cá chất khác như oxalat(chất phổ biến nhất), photphat hay carbonat để tạo thành sỏi. Oxalate xuất hiện trong một số thức ăn. - Sỏi axit uric phổ biến hơn ở nam giới. Chúng có liên quan với bệnh gout hay hóa trị liệu. Sỏi axit uric chiếm khoảng 10% tất cả các loại sỏi. - Sỏi cystin có thể hình thành ở những người mắc cystin niệu. Là một rối loạn di truyền ảnh hưởng đến cả nam và nữ - Sỏi struvite chủ yếu được tìm thấy ở phụ nữ là kết quả của nhiễm trùng đường tiết niệu. Chúng có thể lớn lên nhanh chóng và làm tắc thận, niệu quản, hay bàng quang. II, CÁC NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN SỎI THẬN 1/ Sỏi thận do lắng đọng: + Vì uống nước không đủ, nhất là với những người lao động nặng nhọc, hoặc mải làm việc cả ngày không uống nước, lúc uống lại uống quá nhiều mà không uống đều trong ngày. + Vì bị dị dạng đường tiểu khiến nước tiểu không thoát ra hết, lâu ngày tích trữ, đọng lại và tạo sỏi. + Vì bị u xơ tiền liệt tuyến, u xơ đội lên trong lòng bàng quang khiến nước tiểu đọng lại ở khe kẽ. + Bị chấn thương nặng, phải nằm một chỗ (như chấn thương đùi chẳng hạn), người bệnh lại uống nhiều sữa, ít nước. Trường hợp này cũng dễ tạo sỏi thận. 2/ Chế độ ăn uống không hợp lý: Ăn thiên lệch một loại thức ăn, cụ thể là ăn quá nhiều thịt hoặc ngược lại, ăn quá nhiều rau cũng là những nguyên nhân gây nên sỏi thận.
  4. 4. 4 3/ Nhiễm trùng bộ phận sinh dục: Nguyên nhân này thường gặp ở nữ giới nhiều hơn. Khi không vệ sinh thường xuyên, vi trùng có cơ hội xâm nhập gây viêm đường tiết niệu, tạo mủ và lắng đọng các chất bài tiết của cơ thể, từ đó hình thành sỏi. 4/ Hiếm gặp là các trường hợp có dị vật trong bàng quang. Những dị vật đó cũng làm lắng đọng sỏi, thậm chí sỏi rất lớn. Độ tuổi bệnh nhân sỏi thận: Thông thường sỏi thận bắt đầu xuất hiện ở người ngoài 20 tuổi, nhưng cũng có trường hợp trẻ 5 tuổi đã bị. Theo thống kê, nữ giới bị sỏi thận ít hơn nam giới.( Nữ giới 5%, Nam giới 10%) III, TRIỆU CHỨNG CỦA BỆNH SỎI THẬN 1. Đái rắt, đái buốt, đái đục, đái mủ tái phát nhiều lần, có thể đái ra sỏi. 2. Đau: Đau dữ dội, đau thường khởi phát từ các điểm niệu quản, lan dọc theo đường đi của niệu quản xuống phía gò mu. Cũng có khi đau xuyên cả ra hông, lưng, có khi buồn nôn và nôn. Đau âm ỉ, gặp ở những trường hợp sỏi vừa và thậm chí lớn nhưng nằm ở vị trí bể thận. 3. Đái máu: Là biến chứng thường gặp của sỏi thận - tiết niệu, nhất là khi sỏi đang di chuyển bên trong niệu quản gây đau kèm đái máu. 4. Đái buốt, đái rắt, đái mủ: Khi có nhiễm khuẩn tiết niệu. 5. Sốt: Người bệnh sốt cao, rét run kèm theo với triệu chứng đau hông, lưng, đái buốt, đái rắt, đái mủ là dấu hiệu của viêm thận - bể thận cấp.
  5. 5. 5 6. Các dấu hiệu tắc nghẽn đường niệu: Đái tắc từng lúc hoặc hoàn toàn. IV, BIẾN CHỨNG BỆNH SỎI THẬN 1. Tắc đường tiểu Những hòn sỏi hình thành trong lòng đường tiểu như: đài thận, bể thận, bọng đái đều có khả năng rơi vào niệu quản hoặc niệu đạo và gây bế tắc. Khi đó, hệ niệu đạo sẽ phản ứng co bóp mạnh để cố gắng tống hòn sỏi ra khỏi chỗ tắc nghẽn. Điều đó sẽ dẫn đến các cơn đau tại thận như đau vùng sườn bụng, giữa xương sườn và hông, đau ở hông, cảm giác đau lan tỏa tới tận háng, có thể đau âm ỉ hoặc đau quặn. Ngoài ra, còn gây ra hiện tượng thận ứ nước hoặc niệu quản ứ nước. Nếu sỏi được lấy ra kịp thời, hiện tượng này có thể mất đi. Nếu không, sau một thời gian ứ nước kéo dài, đôi khi thận không còn khả năng hồi phục nữa nên sau đó, dù đã khỏi bệnh rồi mà khi siêu âm, thận vẫn còn ứ nước độ một hoặc độ hai. Cuối cùng là hiện tượng bí tiểu. 2. Nhiễm trùng Hòn sỏi nằm lâu ngày trong hệ niệu, nơi vi trùng tụ tập và phát triển, do đó, sẽ gây nhiễm trùng. Ở các trường hợp nhiễm trùng nhẹ, các triệu chứng có thể là tiểu rắt, đau lưng, thử nước tiểu thấy có bạch cầu một hoặc hai. Trường hợp nặng hơn, bệnh nhân có thể bị tiểu ra mủ, sốt cao.
  6. 6. 6 Nếu bệnh nhân bị sỏi thận không được phát hiện sớm, để đến giai đoạn bị nhiễm trùng thì việc điều trị bệnh sỏi thận sẽ gặp nhiều khó khăn. Bác sĩ thường chỉ đặt một ống vào thận để dẫn lưu mủ ra ngoài, rồi chờ cho tình trạng nhiễm trùng giảm đi, bệnh nhân khá hơn mới dám điều trị triệt để. 3. Suy thận cấp và mãn tính Nếu hai quả thận đều bị bế tắc cùng một lúc, bệnh nhân rất dễ rơi vào tình trạng không có một giọt nước tiểu nào cả, nếu kéo dài trong vài ngày có thể dẫn đến tử vong. Quá trình nhiễm trùng, ứ nước lâu ngày có thể hủy hoại dần dần chủ mô thận. Vắng khoảng 50% số đơn vị thận, người ta vẫn có thể sống một cách bình thường nhưng nếu vắng đến 75%, tình trạng suy thận sẽ xuất hiện. Lúc đó, người bệnh sẽ phải cần đến các biện pháp tốn kém để duy trì sinh mạng như chạy thận nhân tạo hay ghép thận. Hiện nay, ghép thận thì nước ta chưa có điều kiện để phát triển nhân rộng, còn chạy thận nhân tạo thì chỉ có một vài trung tâm có, chi phí chạy thận rất đắt đỏ với những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn. 4. Vỡ thận Vỡ thận xảy ra khi thận bị ứ nước to, vách thận mỏng. Tuy nhiên, đây là trường hợp rất hiếm gặp.
  7. 7. 7 Lời khuyên tốt nhất dành cho bệnh nhân bị sỏi thận vẫn là việc thăm khám, phát hiện sớm bệnh để điều trị. Để tránh bị biến chứng suy thận thì việc điều trị sớm, nhanh chóng, dứt điểm và đặc biệt phục hồi chức năng thận là rất quan trọng. Khi điều trị cũng cần lưu ý đến việc phòng tránh tái phát sỏi thận vì mỗi lần tái phát là nguy cơ suy thận lại tăng lên. V, ĐỐI TƯỢNG NÀO HAY MẮC SỎI THẬN Sỏi canxi và sỏi liên quan đến chuyển hóa axit uric hoàn toàn có thể phòng ngừa do chế độ ăn uống và vận động thể lực phù hợp. Những người đã mắc các bệnh lý như dạ dày, ruột… hay có thói quen ăn uống và hoạt động thể chất không phù hợp cũng có thể bị sỏi thận.Những đối tượng dễ bị sỏi thận: - Người mắc các bệnh tiêu hóa như bệnh lý dạ dày, ruột, gây tiêu chảy quá nhiều làm giảm citrat – chất quan trọng để ngăn cản sự gắn kết canxi với photpho, oxalat gây sỏi. - Người mắc bệnh gút do bị rối loạn chuyển hóa uric là nguy cơ chính gây tăng urat trong máu và tăng nguy cơ tạo sỏi khi lắng đọng tại thận. - Người bị nhiễm trùng đường tiết niệu trong thời gian dài do các vi khuẩn làm tăng amoniac và tăng độ pH, từ đó các chất photpho, magie, amoni kết hợp với nhau tạo ra sỏi struvit. - Người mắc bệnh liên quan đến đường tình dục - Những người bệnh phải đặt ống thông như đẻ chỉ huy, mổ, nạo hút, can thiệp sản khoa… - Những người làm nghề ít vận động, phải ngồi nhiều, hay phải nhịn tiểu lâu như nghề lái xe, lái máy bay….. - Những vận động viên, người ép cân do hoạt động quá mạnh, ở tần suất cao gây mất mồ hôi, lượng muối tăng cao. - Những người ăn khô, khan - Những người mắc loãng xương, mắc bệnh phải nằm điều trị lâu ngày dễ tạo sỏi.
  8. 8. 8 - Nhiều người bệnh sỏi thận đã đau nhiều nhưng vì họ có mắc đồng thời các bệnh tim mạch nên rất e dè khi quyết định nội soi, tán sỏi ngoài cơ thể hay phẫu thuật. Đối với các trường hợp bị sỏi thận có bệnh tim mạch đi kèm như hở, hẹp van hai lá, ba lá, suy tim… nếu ở mức độ nhẹ thì vẫn có thể tiến hành tán sỏi ngoài cơ thể được, ngay cả khi phải phẫu thuật lấy sỏi. Tuy nhiên, các trường hợp này cần có sự phối hợp giữa bác sĩ tim mạch, tiết niệu và ngoại khoa để có được cách đánh giá và biện pháp điều trị tốt nhất. VI, SỎI THẬN TRONG THỜI KÌ MANG THAI Sỏi thận trong thời kỳ mang thai là trường hợp khá hiếm. Phần lớn thai phụ phát hiện sỏi thận trong thai kỳ là do đã mang chứng bệnh này trước đó. Sỏi thận không đe dọa trực tiếp lên sức khỏe thai nhi (trừ nguy cơ chuyển dạ sớm) nhưng nó lại tiềm ẩn trục trặc sức khỏe dành cho mẹ. Nếu viên sỏi chỉ nằm trong thận thì ít có nguy hiểm nhưng nếu nó di chuyển vào đường tiết niệu, thai phụ có thể đối mặt với chứng viêm đường tiết niệu. Triệu chứng điển hình của viêm đường tiết niệu là đi tiểu ra máu, đau khi đi tiểu… 1.Nguy cơ Có 3 rắc rối với chứng sỏi thận trong thai kỳ là: đau, nguy cơ chuyển dạ sớm và khả năng thận bị nhiễm khuẩn. Trong đó, nhiễm khuẩn ở thận là tình trạng nguy hiểm nhất. Khi thận không
  9. 9. 9 thể hoạt động tốt vì có sỏi, nó dễ bị nhiễm trùng, làm thay đổi áp lực máu lên bào thai. Nhiễm trùng thận trong thai kỳ sẽ dẫn tới chuyển dạ sớm. Vì thế, điều quan trọng là thai phụ cần chữa trị chứng sỏi thận khi thuận tiện. 2.Ngăn ngừa sỏi thận trong thai kỳ Một số nghiên cứu cho thấy, dùng quá nhiều canxi không phải nguyên nhân gây nên chứng sỏi thận trong thai kỳ. Dù vậy thì thai phụ cũng tránh lạm dụng canxi, chỉ sử dụng theo đúng định mức từ tư vấn của bác sĩ. Uống đủ nước sẽ giúp cho hệ thống tiết niệu hoạt động tốt, ngăn ngừa sỏi thận. Ngoài ra, thai phụ mắc sỏi thận cần duy trì chế độ sinh hoạt, ăn uống hợp lý đối với người bệnh sỏi thận nói chung. Nhiều trường hợp, sỏi thận không được điều trị trong thai kỳ. Nếu có tiền sử về sỏi thận, cần đi chụp X-quang trước khi có dự định mang thai. Nếu phát hiện sỏi thận, cần trao đổi với bác sĩ để tiến hành điều trị trước khi mang thai.Nhóm phụ nữ có chứng bệnh về thận, chẳng hạn, nhiễm trùng bàng quang cũng cần đi kiểm tra sức khỏe trước thai kỳ. VII, CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG ĐỐI VỚI NGƯỜI BỆNH SỎI THẬN Dưới đây là một vài chế độ ăn phòng bệnh sỏi thận mà bạn nên biết: 1. Uống nhiều nước:
  10. 10. 10 Đây là cách phòng ngừa sỏi thận hiệu quả, an toàn và rẻ tiền nhất. Mùa hè khí hậu nóng, người dễ đổ mồ hôi, nước tiểu cô đặc lại, dễ tạo sỏi nên cần uống nhiều nước để nước tiểu loãng ra. Mỗi ngày nên uống khoảng từ 2,5 – 3 lít nước lọc, uống khoảng 150 – 200ml nước/ lần, uống nhiều lần trong ngày. 2. Hạn chế thực phẩm có nhiều chất oxalat: Hãy hạn chế sử dụng những thực phẩm như bia đen, trà đen, sôcôla, đậu nành, đậu phộng, củ cải, cà rốt, táo, mận, dừa, dứa, đào, hành tây… 3. Ăn nhạt, ăn ít thịt động vật: Không nên ăn mặn, ăn nhiều thịt. Thực phẩm chứa nhiều muối và nhiều chất đạm sẽ làm giảm độ pH nước tiểu, kích thích bài tiết chất calcium và cystine, gây ra sỏi. Ngoài ra chúng còn làm giảm bài tiết chất citrat, là chất giúp ngăn chặn sự tạo thành sỏi. 4. Uống nhiều nước cam, chanh tươi: Hai loại thức uống này có chứa nhiều citrat - chất giúp chống lại sự tạo thành sỏi trong cơ thể. 5. Ăn nhiều rau tươi:Chất xơ của rau sẽ giúp tiêu hoá nhanh, tránh ứ đọng trong ruột, giảm thiểu sự tái hấp thụ chất oxalat từ ruột để tạo nên sỏi niệu. Ngoài ra, chất kiềm cung cấp bởi rau tươi sẽ gia tăng sự bài tiết chất citrat chống lại sỏi thận.
  11. 11. 11 6. Tránh ăn nhiều thực phẩm chứa chất purine: Vì dễ gây ra sỏi niệu như cá khô, thịt khô, mắm, lòng bò, lòng heo… Các thực phẩm nên tránh khi bị sỏi 1. Các loại thịt và thịt gia cầm: Giảm lượng thịt bò, thịt gia cầm và cá vì đây là những thực phẩm rất giàu protein. Nhiều protein trong chế độ ăn uống sẽ khiến lượng oxalate trong nước tiểu tăng lên, hình thành các loại sỏi. 2. Một số loại rau quả: Trong khi cố gắng để loại bỏ các loại thực phẩm có chứa oxalate từ thịt thì cũng lưu ý một số loại rau quả có thể gây nên sỏi thận. Ví như rau bina được cho là tạo nhiều oxalat nhất. 3. Muối: Cố gắng ăn nhạt vì những nghiên cứu cho thấy việc giảm lượng muối trong chế độ ăn cũng có thể cắt giảm lượng oxalate trong nước tiểu VIII, LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN Những năm gần đây, nhờ sự phát triển của ngành y - dược, điều trị sỏi thận tiết niệu đã có những tiến bộ vượt bậc làm thay đổi việc điều trị căn bệnh này, tỷ lệ bệnh nhân phải phẫu thuật nhỏ hơn 10%. Thay vào đó là các phương pháp điều trị nội khoa, ngoại khoa kết hợp thuốc uống, y học cổ truyền, biện pháp ăn uống, luyện tập... Việc quyết định lựa chọn phương pháp điều trị bệnh sỏi thận dựa vào các tiêu chí sau: vị trí sỏi, kích thước, mật độ của sỏi và chức năng của thận… Điều trị ngoại khoa Với những sỏi có kích thước lớn hoặc đã có biến chứng thì thường áp dụng các biện pháp như: tán sỏi ngoài cơ thể, tán sỏi qua da, phẫu thuật lấy sỏi…
  12. 12. 12 Tán sỏi ngoài cơ thể: Máy tán sỏi phát ra tia laser hoặc sóng xung kích, phá bề mặt sỏi, đập vụn sỏi ra và đào thải ra ngoài theo đường nước tiểu. Bệnh nhân hầu như không đau đớn. Phương pháp này áp dụng với bệnh nhân có sỏi khoảng dưới 3cm.. Tán sỏi ngược dòng: Dùng ống soi niệu quản đi từ niệu đạo, lên bàng quang và lên niệu quản tiếp cận trực tiếp viên sỏi, dùng nguồn năng lượng bằng laser hoặc khí nén để phá vụn sỏi, bơm rửa lấy hết sỏi. Vị trí: sỏi 1/3 giữa và 1/3 dưới niệu quản đối với nam giới, ở nữ giới có thể tán sỏi cao hơn lên ngang đốt sống L3, L4. Phẫu thuật nội soi lấy sỏi: Chỉ định cho những sỏi bể thận, sỏi 1/3 trên niệu quản. Những sỏi lớn, mật độ chắc, khó tán. Phẫu thuật mổ mở: Hiện nay, hiếm khi chỉ định do nhiều tai biến, thời gian hồi phục lâu. Áp dụng cho những sỏi thận, niệu quản kích thước lớn, chức năng thận kém.
  13. 13. 13 Lấy sỏi thận qua da: Tạo đường hầm vào thận và đưa ống nội soi đường kính 10 - 15mm vào tiếp cận sỏi. Phá vỡ sỏi bằng laser, khí nén hoặc siêu âm phá vỡ sỏi và lấy sỏi ra ngoài. Vị trí: sỏi bể thận, sỏi có kích thước lớn, sỏi san hô, sỏi cứng, sỏi nhóm đài dưới. Phẫu thuật bằng Robot: Thực hiện ở những nước phát triển, chỉ định cho những sỏi thận lớn, rút ngắn thời gian nằm viện (2 - 3 ngày), chi phí rất cao. Tán sỏi bằng laser đang được thực hiện ở những nước phát triển thế giới, tốt hơn so với tán sỏi bằng khí nén và siêu âm. Laser có thể tán được mọi loại sỏi (thậm chí cả sỏi có polyp), kích thước nhỏ hơn 2cm. Điều trị nội khoa Với những sỏi nhỏ hoặc chưa có biến chứng thì việc dùng các thuốc uống giúp tan sỏi sẽ thích hợp hơn bởi tính an toàn, tiện dụng và thích hợp với những người thể trạng yếu hoặc sợ phẫu thuật . Dùng thuốc Đông y như: kim tiền thảo, bông mã đề... kết hợp uống nhiều nước, vận động. Dùng thuốc giãn cơ trơn, giảm đau nếu cần. Bệnh nhân cần được theo dõi bằng siêu âm, nếu sau 2 - 3 tháng kích thước sỏi không giảm cần chuyển phương pháp điều trị. IX, SỬ DỤNG CỐM TRỊ SỎI THẬN SIRNAKARANG ĐỂ PHÒNG VÀ CHỮA BỆNH Thuốc cốm SIRNAKARANG bào chế từ cao Kim tiền thảo giúp làm tan sỏi và đào thải sỏi dễ dàng ở bệnh sỏi đường tiết niệu như: sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang. Sirnakarang tác động đa cơ chế, ngăn ngừa sự hình thành sỏi từ mầm mống ban đầu, bào mòn, phá vỡ sỏi cũ, chặn tái phát hiệu quả. Kim tiền thảo có tên khoa học là Desmodium styracifolium (Osb.) Merr., Họ Đậu – Fabaceae Cơ chế tác dụng của Thuốc cốm trị sỏi thận Sirnakarang là đa cơ chế: ngăn chặn kết tụ sỏi, bào mòn sỏi tạo điều kiện tống sỏi ra ngoài, gọi là “bài thạch lâm thông”. Kim tiền thảo còn
  14. 14. 14 kiểm soát lượng khoáng chất trong nước tiểu tốt nên có tác dụng điều trị và phòng tái phát sỏi thận. Tác dụng Hoạt chất soyasaponin-I chứa trong SIRNAKARANG đã được chứng minh có tác dụng ức chế sự hình thành sỏi calci oxalat ở thận. Cao kim tiền thảo thí nghiệm trên động vật có tác dụng ức chế sự hình thành sỏi calci oxalat ở thận do thành phần polysacchorid chứa trong cao có tác dụng này và đồng thời làm tăng lượng bài tiết nước tiểu. Kim tiền thảo còn có tác dụng tăng cường sự tiết mật. Kim tiền thảo có tác dụng ức chế đối với tụ cầu vàng, trực khuẩn, thương hàn,lỵ, trực khuẩn mủ xanh. Công dụng Thuốc cốm trị sỏi thậ Sirnakarang được dùng chữa sỏi đường tiết niệu, sỏi mật, viêm gan vàng da, viêm thận phù thũng. Các bạn có thể tham khảo Cẩm nang bệnh sỏi thận trên Vnexpress.net tại đây: http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/cam-nang-benh-soi-than Hoăc truy cập vào website:http://soithan.vn/ Chúc bạn sức khỏe tốt.

×