Luan Van Anh Tan

10,332 views

Published on

bio diesel

Published in: Education, Technology
2 Comments
8 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • nmb
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
10,332
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
406
Comments
2
Likes
8
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Luan Van Anh Tan

  1. 1. TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP T.P HCM CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM KHOA CÔNG NGHỆ HÓA HỌC Độc lập – Tự do - Hạnh phúc ----- // ----- ----- // ----- NHIỆM VỤ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Họ và tên sinh viên: Lê Viết Tấn MSSV: 05036301 Ngành: Công nghệ hoá hữu cơ Lớp: DHHC-1 1. Tên luận văn tốt nghiệp: “Tối ưu hoá quá trình điều chế biodiesel từ mỡ cá tra với xúc tác KOH/γ-Al2O3 bằng phương pháp bề mặt đáp ứng”. 2. Nhiệm vụ: • Lý thuyết về đề tài, các nghiên cứu điều chế biodiesel với xúc tác rắn. • Điều chế và phân tích các đặc tính của xúc tác KOH/γ-Al2O3 sử dụng trong phản ứng điều chế biodiesel. • Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng điều chế biodiesel từ mỡ cá tra sử dụng xúc tác KOH/γ-Al2O3 theo ma trận thực nghiệm xây dựng được bằng phần mềm Statgraphics. • Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố nghiên cứu đến hiệu suất điều chế biodiesel và xác định giá trị tối ưu của các nhân tố. LỜI CẢM ƠN Sau những năm tháng học tập dưới mái trường Đại Học Công Nghiệp Tp Hồ Chí Minh, hành trang mà em có được chính là những kiến thức về ngành công nghệ hóa học mà thầy cô đã truyền thụ, những kỹ năng cơ bản ban đầu của thực tế công việc. Những kiến thức này sẽ là hành trang giúp em bước vào cuộc sống và công việc của mình sau này. Lời đầu tiên, em xin gởi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô Khoa công nghệ Hóa học đã tận tâm dạy dỗ em trong suốt những năm tháng học i
  2. 2. tập dưới mái trường. Các thầy cô không những truyền đạt cho em những kiến thức sách vở mà còn chỉ bảo cho em những kinh nghiệm cuộc sống, tất cả những điều đó sẽ giúp cho em vững tin bước vào cuộc đời sắp tới. Em xin chân thành cảm ơn cô Lê Thị Thanh Hương, Giám Đốc Trung tâm Công nghệ hóa học, người đã luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để em nghiên cứu khoa học. Cô tận tình giúp đỡ, dìu dắt em trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này, cũng như chia sẽ những khó khăn trong suốt quá trình nghiên cứu. Em đã học được từ cô rất nhiều điều thật quý giá, giúp em vững vàng hơn trước khi bước vào cuộc sống tự lập. Tình cảm và kiến thức của cô đã dạy bảo cho em mãi mãi là một kỷ niệm không bao giờ quên của những năm tháng học tập dưới mái trường này. Em kính chúc cô thật nhiều sức khỏe để tiếp tục sự nghiệp trồng người của mình và gặt hái nhiều thành công trong công việc cũng như trong cuộc sống. Em cũng xin gởi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Trung tâm công nghệ Hoá học, các thầy cô đã giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp này. Em cũng cảm ơn sự động viên, giúp đỡ và chia sẻ những khó khăn của các bạn cùng lớp trong quá trình thực hiện luận văn. Sinh viên Lê Viết Tấn LỜI NÓI ĐẦU Ngày nay, do nguồn nhiên liệu dầu mỏ ngày càng cạn kiệt dần, cùng với đó là vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng nên yêu cầu về một nguồn năng lượng sạch hơn, an toàn hơn, có khả năng tái sử dụng và bền vững lâu dài được đặt ra ngày càng cấp thiết. Trong tình hình đó, biodiesel là một trong những giải pháp thu hút được nhiều sự quan tâm nhất. Quá trình điều chế biodiesel có thể được phân loại thành các phương pháp sử dụng xúc tác đồng thể, dị thể và không cần xúc tác. Hiện nay, ii
  3. 3. phương pháp sử dụng xúc tác đồng thể được sử dụng nhiều trong các qui trình sản xuất thương mại. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn còn nhiều nhược điểm. Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, phương pháp điều chế biodiesel bằng xúc tác dị thể tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp điều chế biodiesel sử dụng xúc tác đồng thể, đặc biệt là trong quá trình phân tách và làm sạch sản phẩm. Tuy nhiên, các nghiên cứu điều chế biodiesel sử dụng xúc tác dị thể thường tiến hành trên nguồn nguyên liệu là các dầu béo thực vật như dầu cọ, dầu nành…, mà chưa tập trung nhiều vào nguồn nguyên liệu dầu mỡ động vật. Bên cạnh đó, nguồn nguyên liệu cũng là một trong những yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất biodiesel, do nguyên liệu ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm và chất lượng biodiesel tạo thành. Trong khi đó, Việt Nam hiện đang có nguồn mỡ cá thô rất lớn. Giá thành mỡ cá thô lại rất thấp, thậm chí được coi là phế phẩm của quá trình sản xuất. Do đó, việc sử dụng lượng mỡ cá trên một cách hợp lý sẽ đem lại nguồn lợi vô cùng lớn. Với lợi thế về nguồn nguyên liệu như vậy, thì việc nghiên cứu điều chế biodiesel từ mỡ cá tra ở nước ta là một hướng nghiên cứu rất đáng quan tâm. Tất cả những vấn đề trên là cơ sở cho đề tài luận văn tốt nghiệp: ‘‘Tối ưu hoá quá trình điều chế biodiesel từ mỡ cá tra với xúc tác KOH/γ-Al2O3 bằng phương pháp bề mặt đáp ứng”. MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN....................................................................................................i LỜI NÓI ĐẦU..................................................................................................ii 1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của biodiesel................................1 1.1.2. Định nghĩa biodiesel và ưu nhược điểm của biodiesel....................2 1.1.3. Một số phương pháp sản xuất biodiesel..........................................4 iii
  4. 4. 1.1.3.1. Các nguồn nguyên liệu trên thế giới........................................4 1.1.3.2. Các phương pháp sản xuất biodiesel........................................5 1.1.4. Phản ứng chuyển hóa este...............................................................7 1.1.4.1. Định nghĩa................................................................................7 1.1.4.2. Cơ chế phản ứng.......................................................................7 1.2.4. Kiểm định sự tương hợp của phương trình hồi quy........................8 CHƯƠNG II....................................................................................................16 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........................................16 2.1. Nguyên liệu......................................................................................25 2.2. Thiết bị ............................................................................................25 2.3. Xây dựng mô hình thực nghiệm (Design of experiments) [5, 7, 12] .................................................................................................................26 2.4. Xây dựng mô hình toán và phân tích mối quan hệ giữa các biến với hiệu suất tạo biodiesel.............................................................................29 2.5. Phương pháp tiến hành [3, 8, 9, 11].................................................29 2.5.1. Điều chế xúc tác KOH/γ-Al2O3 ..............................................29 2.5.1.1. Quy trình............................................................................29 2.5.1.2. Thuyết minh quy trình........................................................30 2.5.1.3. Kiểm tra tính chất của xúc tác KOH/γ-Al2O3...................30 2.5.2. Điều chế dầu biodiesel.............................................................32 2.5.2.1. Quy trình ...........................................................................32 2.5.2.2. Thuyết minh quy trình........................................................32 2.5.3. Phân tích các chỉ số của metyleste tạo thành............................33 2.5.3.1. Tính hiệu suất phản ứng.....................................................33 2.5.3.2. Tỷ trọng .............................................................................33 2.5.3.3. Độ nhớt...............................................................................34 3.1. Đặc tính của xúc tác KOH/γ-Al2O3 [1, 3, 4, 9, 11, 13, 15, 16, 17, 18]............................................................................................................37 3.1.1. Kết quả phân tích BET và SEM của xúc tác KOH/γ-Al2O3....37 iv
  5. 5. 3.1.2. Kết quả phân tích X-ray của xúc tác KOH/γ-Al2O3................37 3.1.3. Kết quả phân tích nhiệt TG/DTA..............................................39 3.1.4. Độ mạnh bazơ của xúc tác KOH/γ-Al2O3................................40 3.1.5. Kết quả phân tích phổ hồng ngoại IR của xúc tác KOH/γ-Al2O3 .............................................................................................................40 3.2. Hiệu suất tạo biodiesel thu được từ thực nghiệm.............................41 3.3. Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu suất [2, 5, 7, 10, 14] .................................................................................................................41 3.5. Mô hình bề mặt đáp ứng thể hiện ảnh hưởng của các nhân tố nghiên cứu đến hiệu suất tạo biodiesel [3, 5, 10, 12, 14]....................................44 3.5.1. Ảnh hưởng của hàm lượng xúc tác và nhiệt độ phản ứng.........44 3.5.2. Ảnh hưởng của hàm lượng xúc tác và thời gian phản ứng.......46 3.5.3. Ảnh hưởng của tỉ lệ mol metanol:mỡ cá và nhiệt độ phản ứng 48 3.5.4. Ảnh hưởng của tỉ lệ mol metanol:mỡ cá và hàm lượng xúc tác51 3.6. Điều kiện tối ưu của phản ứng điều chế biodiesel ..........................53 3.7. Khảo sát khả năng thu hồi và tái sử dụng xúc tác KOH/γ-Al2O3 . .53 3.7.1. Đặc tính của xúc tác KOH/γ-Al2O3 sau phản ứng [4, 13].......53 3.7.2. Thu hồi và tái sử dụng xúc tác KOH/γ-Al2O3 [3]....................54 CHƯƠNG IV..................................................................................................46 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ........................................................................46 4.1. Kết luận chung.................................................................................61 4.2. Những nội dung chưa được thực hiện..............................................62 4.3. Kiến nghị..........................................................................................62 TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................63 v
  6. 6. vi
  7. 7. 1.1. Tổng quan về biodiesel [3, 6, 12, 19] 1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của biodiesel Biodiesel bắt đầu được sản xuất khoảng giữa năm 1800, trong thời điểm đó người ta chuyển hóa dầu thực vật để thu glycerol ứng dụng làm xà phòng và thu được các phụ phẩm là methyl hoặc ethyl ester gọi chung là biodiesel. Năm 1893 lần đầu tiên Rudolf Diesel đã sử dụng biodiesel do ông sáng chế để chạy máy. Năm 1912, ông đã dự báo: “Hiện nay, việc dùng dầu thực vật cho nhiên liệu động cơ có thể không quan trọng, nhưng trong tương lai, những loại dầu như thế chắc chắn sẽ có giá trị không thua gì các sản phẩm nhiên liệu từ dầu mỏ và than đá”. Trong bối cảnh nguồn tài nguyên dầu mỏ đang cạn kiệt và những tác động xấu lên môi trường của việc sử dụng nhiên liệu, nhiên liệu tái sinh sạch trong đó có biodiesel đang ngày càng khẳng định vị trí là nguồn nhiên liệu thay thế khả thi. Để tưởng nhớ nguời đã có công đầu tiên đoán được giá trị to lớn của biodiesel, Nation Board Biodiesel đã quyết định lấy ngày 10 tháng 8 hằng năm bắt đầu từ năm 2002 làm ngày diesel sinh học Quốc tế (International Biodiesel Day). Năm 1900 tại hội chợ thế giới tổ chức tại Pari, Diesel đã biểu diễn động cơ dùng dầu biodiesel chế biến từ dầu lạc. Trong những năm của thập kỷ 90, Pháp đã triển khai sản xuất biodiesel từ dầu hạt cải và được dùng ở dạng B5 (5 % biodiesel với 95 % diesel) và B30 (30 % biodiesel trộn với 70 % diesel). 1
  8. 8. Các nước trên thế giới đã sản xuất biodiesel với số lượng ngày càng nhiều và tăng rất nhanh, có thể tham khảo biểu đồ hình 1.1 biểu diễn lượng biodiesel được sản xuất trong những năm gần đây. Hiện nay, người ta sử dụng biodiesel bằng cách pha trộn biodiesel vào thành phần diesel từ 5 ÷ 30 %. Ở châu Âu, theo 2003/30/EC của EU thì từ ngày 31 tháng 12 năm 2005 ít nhất là 2 % và cho đến 31 tháng 12 năm 2010 ít nhất là 5,75 % các nhiên liệu dùng để chuyên chở phải có nguồn gốc tái tạo. Ở Mỹ, biodiesel đã được sử dụng từ năm 2005 dưới dạng B20. Hình 1. 1. Sản lượng Biodiesel sản xuất trên thế giới thừ năm 1999-2006 1.1.2. Định nghĩa biodiesel và ưu nhược điểm của biodiesel Biodiesel là dầu diesel sinh học, được xem là nguồn nhiên liệu sạch, hoàn toàn có thể thay thế nhiên liệu dầu đốt hóa thạch diesel thông thường. Theo tiêu chuẩn ASTM thì biodiesel được định nghĩa: “là các mono alkyl ester của các acid mạch dài có nguồn gốc từ các lipit có thể tái tạo lại như:dầu thực vật, mỡ động vật, được sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ diesel”. Biodiesel là một chất lỏng có màu vàng nhạt đến vàng nâu, hoàn toàn không trộn lẫn với nước. Biodiesel có điểm sôi cao (thông thường khoảng 150 o C hay 302 oF), áp suất hơi thấp, trọng lượng riêng khoảng 0.86 g/cm3, và hoàn toàn không phải là hóa chất độc hại. Độ nhớt của biodiesel tương đương của dầu diesel thông thường. Bản chất của biodiesel là sản phẩm ester hóa giữa methanol hoặc ethanol và acid béo tự do trong dầu thực vật hoặc mỡ động vật. Tính chất vật 2
  9. 9. lý của biodiesel tương tự như diesel nhưng tốt hơn diesel về mặt chất thải. Biodiesel khắc phục được những các nhược điểm của dầu thực vật như độ nhớt quá lớn (cao gấp 6 – 14 lần diesel), chỉ số cetan thấp. Các loại biodiesel đều có tỷ lệ % trọng lượng oxy khá lớn, đây là điều mà dầu diesel không có. Biodiesel có thể được dùng hoàn toàn 100 % trong các loại động cơ diesel hoặc được phối trộn với dầu diesel hóa thạch thông thường ở bất cứ tỉ lệ nào trong các thiết bị hiện đại chạy dầu diesel. Sử dụng biodiesel có nhiều thuận lợi cho môi trường so với diesel, cụ thể như: giảm thành phần CO trong khí thải đến 50 % và CO2 đến 78 %. Biodiesel chứa ít hydrocarbon thơm hơn so với diesel thông thường, cụ thể là hàm lượng benzofluoranthene giảm 56 % và benzopyrenes giảm 71 %. Biodiesel có thể làm giảm nhiều đến 20 % các khí thải trực tiếp dạng hạt nhỏ, các sản phẩm cháy của các chất rắn, trên thiết bị có bộ lọc, so với dầu diesel có hàm lượng sulfur thấp (< 50ppm). Khí thải dạng hạt được tạo ra khi đốt biodiesel giảm khoảng 50 % so với khi sử dụng diesel có nguồn gốc hóa thạch. Đặc biệt, biodiesel có thể bị phân hủy sinh học dễ dàng nên rất thân thiện cho môi trường. Bên cạnh những ưu điểm trên, biodiesel cũng có nhiều nhược điểm gây hạn chế việc ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp và đời sống. Việc sử dụng nhiên liệu chứa nhiều hơn 5 % biodiesel có thể gây nên những vấn đề sau: ăn mòn các chi tiết của động cơ và tạo cặn trong bình nhiên liệu do tính dễ bị oxi hóa của biodiesel. Nhiệt độ đông đặc của biodiesel phụ thuộc vào nguyên liệu sản xuất nhưng nói chung là cao hơn nhiều so với dầu diesel thành phẩm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng biodiesel ở những vùng có thời tiết lạnh. Ngoài ra, biodiesel rất háo nước nên cần những biện pháp bảo quản đặc biệt để tránh tiếp xúc với nước. Biodiesel không bền, rất dễ bị oxi hóa nên gây nhiều khó khăn trong việc bảo quản. 3
  10. 10. 1.1.3. Một số phương pháp sản xuất biodiesel 1.1.3.1. Các nguồn nguyên liệu trên thế giới Trên thực tế, người ta đã và đang nghiên cứu gần như tất cả những nguồn dầu, mỡ có thể sử dụng để sản xuất biodiesel. Việc lựa chọn loại dầu thực vật hoặc mỡ động vật nào phụ thuộc vào nguồn tài nguyên sẵn có và điều kiện khí hậu cụ thể của từng vùng. Với điều kiện ở châu Âu thì cây cải dầu với lượng dầu từ 40 % đến 50 % là cây thích hợp để dùng làm nguyên liệu sản xuất diesel sinh học. Ở Trung Quốc người ta sử dụng cây cao lương và mía để sản xuất biodiesel. Ngoài ra, Trung Quốc còn nghiên cứu phát triển khai thác một loại nguyên liệu mới, đó là tảo. Khi nghiên cứu loại dầu sinh học từ tảo thành công và được đưa vào sản xuất, quy mô sản xuất loại dầu này có thể đạt tới hàng chục triệu tấn. Mỹ cũng vận dụng các tiến bộ trong công nghệ sinh học hiện đại như nghiên cứu gen đã thực hiện tại phòng thí nghiệm năng lượng tái sinh quốc gia tạo được một giống tảo mới có hàm lượng dầu trên 60 %, một mẫu có thể sản xuất được trên 2 tấn dầu diesel sinh học. Các nước Tiểu Vương quốc Ảrập Thống Nhất thì sử dụng dầu jojoba, một loại dầu được sử dụng phổ biến trong mỹ phẩm để sản xuất biodiesel. Đối với khu vực Đông Nam Á, các nước Thái Lan, Inđônêxia, Malaysia cũng đã đi trước nước ta một bước trong lĩnh vực nhiên liệu sinh học. Ở Thái Lan, người ta sử dụng dầu cọ để sản xuất biodiesel và đang thử nghiệm hạt cây jatropha, cứ 4 kg hạt jatropha ép được 1 lít biodiesel tinh khiết 100 %, đặc biệt loại hạt này không thể dùng để ép dầu ăn và có thể mọc trên những vùng đất khô cằn, cho nên giá thành sản xuất sẽ rẻ hơn so với các loại hạt có dầu truyền thống khác. Indonexia thì ngoài cây cọ dầu, cũng như Thái Lan, Indonesia còn chú ý đến cây có dầu khác là jatropha. Do chi phí cho việc trồng cây nhiên liệu lấy dầu rất thấp, hơn nữa chúng lại rất sẵn trong tự nhiên nên trong tương lai, diesel sinh học có thể được sản xuất ra với chi phí thấp hơn nhiều so với diesel lấy từ dầu mỏ. 4
  11. 11. 1.1.3.2. Các phương pháp sản xuất biodiesel Hiện nay, để sản xuất biodiesel từ những nguồn nguyên liệu khác nhau có nhiều phương pháp. Nói chung các phương pháp này đều dựa trên nguyên tắc làm giảm làm giảm độ nhớt và tăng chỉ số cetan cho nguyên liệu để tính chất của nó gần giống với nhiên liệu diesel. a. Phương pháp sấy nóng Phương pháp này dựa trên đồ thị thay đổi của độ nhớt theo nhiệt độ của nhiên liệu. Độ nhớt của dầu thực vật sẽ giảm khi nhiệt độ tăng lên. Tăng nhiệt độ lên quá cao làm thay đổi trạng thái nhiệt và ảnh hưởng xấu đến hệ thống cấp nhiên liệu. Mặt khác phương pháp này không cải thiện được trị số cetan của mỡ cá . . . do đó phương pháp này chỉ thích hợp để áp dụng đồng thời với các phương pháp khác. b. Phương pháp pha loãng Phương pháp pha loãng là một trong những phương pháp đơn giản làm giảm độ nhớt và tăng chỉ số cetan, có thể sử dụng nhiên liệu diesel để làm môi chất pha loãng. Pha loãng các nguyên liệu bằng diesel sẽ tạo ra một hỗn hợp nhiên liệu mới. Đây là một hỗn hợp cơ học giữa nguyên liệu và diesel, hỗn hợp này đồng nhất và bền vững. Các chỉ số đặc tính của hỗn hợp dầu mỡ nguyên liệu/diesel tùy thuộc vào tỷ lệ thành phần giữa dầu mỡ nguyên liệu và diesel và các chỉ số này thường không đạt được tính chất như diesel. c. Phương pháp cracking Quá trình cracking dầu mỡ động thực vật gần giống như cracking dầu mỏ. Nguyên tắc cơ bản là cắt ngắn mạch hydrocacbon của dầu mỡ dưới tác dụng của nhiệt độ và chất xúc tác thích hợp. Sản phẩm thường gồm nhiên liệu khí, xăng, diesel và một số sản phẩm phụ khác. Với các điều kiện khác nhau sẽ nhận được tỷ lệ nhiên liệu thành phẩm khác nhau. Cracking có thể thực hiện trong môi trường khí nitơ hoặc không khí. Nhược điểm cơ bản của phương pháp này là tốn năng lượng để điều chế nhiên liệu. Sản phẩm thu được bao gồm nhiều thành phần nhiên liệu khác nhau và đặc biệt là khó thực hiện được ở quy mô lớn. 5
  12. 12. d. Phương pháp nhũ tương hóa Nhiên liệu ban đầu là dầu mỡ động thực vật, rượu và chất tạo sức căng bề mặt với thiết bị tạo nhũ có thể tạo ra nhũ tương dầu mỡ – rượu, trong đó các hạt rượu có kích thước hạt khoảng 150 nm được phân bố đều trong nhũ tương. Nhiên liệu thu được có độ nhớt tương đương diesel, tỷ lệ rượu càng lớn thì độ nhớt nhũ tương càng giảm. Tuy nhiên, lúc đó dễ tạo ra các hạt nhũ tương nhỏ, khả năng phân lớp tăng lên làm nhũ tương kém đồng nhất do đó cần có biện pháp bảo quản thích hợp. Nhiệt độ hóa hơi của rượu thấp nên một phần rượu bay hơi sẽ cản trở quá trình làm việc bình thường của động cơ. e. Phương pháp este hóa Phương pháp este hóa dầu mỡ động thực vật là phương pháp được chú ý nhiều trong thời gian gần đây, nguyên lý chuyển hóa cơ bản có thể miêu tả như là phản ứng của một phần tử triglyceride (axit béo không no, có độ nhớt cao) và ba nguyên tử rượu tạo thành este của axit béo và một nguyên tử glycerin. Điều kiện của phản ứng này là cần có xúc tác và nhiệt độ thích hợp, khi này lần lượt các liên kết R1CO_, R2CO_, R3CO_, bị tách ra khỏi phân tử triglyceride. Các sản phẩm thay thế đầu tiên là diglyceride, sau đó là monoglyceride và cuối cùng là glycerin. Glycerin dễ dàng được tách ra khỏi este và sử dụng trong các ngành công nghiệp khác. Quá trình sản xuất biodiesel theo phương pháp này có thể được mô phỏng trong hình 1.2. 6
  13. 13. Hình 1. 2. Sơ đồ thu biodiesel bằng phương pháp este hoá 1.1.4. Phản ứng chuyển hóa este 1.1.4.1. Định nghĩa Phản ứng chuyển hóa ester còn gọi là phản ứng alcol phân, là phản ứng giữa một este với một ancol tạo thành một este mới và một alcol mới. Đối với nguyên liệu là dầu mỡ, thành phần este là triglycerid, phương trình phản ứng được mô tả như sau: O O H 2C O C OR 1 R O C OR1 H 2C OH O O + 3 R-OH R O C OR 2 + HC O C OR 2 HC OH O O H 2C O C OR 3 R O C OR 3 H 2C OH Metyl ester Triglycerid Ancol (Biodiesel) Glycerin 1.1.4.2. Cơ chế phản ứng Cơ chế phản ứng alcol phân với chất xúc tác có thể được tóm tắt bằng các bước chính sau: - Nhóm cacnonyl của triglyxerit sẽ khuếch tán trên bề mặt chất xúc tác (khuếch tán ngoài). - Nhóm cacbonyl bị tấn công bởi phân tử alcol (khếch tán trong) theo cơ chế ái nhân tạo hợp chất trung gian. - Dung môi sẽ giúp cho quá trình dịch chuyển điện tích tạo điều kiện cho sự tách nhóm. 7
  14. 14. - Sự hình thành hợp chất trung gian, ankyl este được proton hóa và một phân tử diglyxerit. - Sự dịch chuyển hóa giải hấp phụ làm tái tạo lại chất xúc tác. Yếu tố khiến cho xúc tác có khả năng làm tăng hiệu quả quá trình phản ứng là nhờ vào quá trình hấp phụ nhóm cacbonyl. Sự tác động qua lại giữa xúc tác và chất mang làm tăng tính ái điện tử của nguyên tố carbon của nhóm carbonyl kế cận, làm cho nó dễ dàng bị tấn công bởi tác nhân ái nhân. với: 1.2.4. Kiểm định sự tương hợp của phương trình hồi quy Kiểm định sự tương hợp của phương trình hồi quy thu được với số liệu thực nghiệm được tiến hành theo hai bước: - Bước 1: Kiểm tra sự có nghĩa của các hệ số phương trình hồi quy bằng tiêu chuẩn thống kê (chuẩn số) Student tα :thực chất ở đây là kiểm tra các hệ số bi = 0 hay không, hay kiểm định xem thực chất có bao nhiêu yếu tố ảnh hưởng đến hàm mục tiêu. Để kiểm tra Sự sản xuất biodiesel hay còn gọi thông thường là các methyleste của axit béo (FAME) đã thu hút sự chú ý quan trọng trong những năm gần đây vì yêu cầu ngày càng tăng về một nguồn năng lượng sạch hơn, an toàn hơn và có thể tái sử dụng. FAME được sản xuất chủ yếu từ dầu thực vật, đó là một nguồn có thể tái sử dụng và duy trì lâu dài được. Quá trình sản xuất FAME có thể được phân loại thành các phương pháp đồng thể, dị thể và không cần xúc tác, sự phân loại này phụ thuộc vào loại xúc tác được sử dụng trong qui trình sản xuất. Hiện tại, phương pháp sử dụng xúc tác đồng thể được sử dụng nhiều trong các qui trình sản xuất thương mại. Tuy nhiên, phương pháp này có nhiều vấn đề không thuận lợi. Theo các báo cáo gần đây, phương pháp chuyển hoá ester bằng xúc tác dị thể tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn khi so sánh với phương pháp chuyển hoá sử dụng xúc tác đồng thể, đặc biệt là trong quá trình phân tách và làm sạch sản phẩm (FAME). Trong phương pháp dùng xúc tác đồng thể, các chất phản 8
  15. 15. ứng, xúc tác và FAME tạo ra đều tồn tại trong pha lỏng, do đó sẽ dẫn đến một quá trình phân tách lỏng – lỏng phức tạp. Quá trình thu hồi xúc tác đồng thể cũng rất khó khăn. Trái lại, phương pháp sử dụng xúc tác dị thể, trong đó chất xúc tác ở dạng rắn, không có các mặt hạn chế như vậy. Quá trình phân tách rắn - lỏng diễn ra một cách tương đối dễ dàng khi so sánh với quá trình phân tách lỏng – lỏng, nên sự thu hồi xúc tác rắn dễ dàng hơn nhiều. Hơn nữa, phương pháp sử dụng xúc tác dị thể sẽ loại trừ được sự hình thành của xà phòng, do đó hạn chế được lượng nước rửa cần sử dụng. Với việc loại trừ được sự hình thành của xà phòng, phương pháp dị thể sẽ ngăn ngừa được sự hình thành nhũ tương trong hỗn hợp, vì nhũ tương có thể gây khó khăn cho quá trình phân tách và làm sạch sản phẩm. Về cơ bản, có ba kiểu xúc tác dị thể được sử dụng trong quá trình chuyển hoá este; đó là a-xít, kiềm và enzym. Trong mỗi phương pháp, trong đó loại chất xúc tác dị thể được sử dụng, nói chung sẽ được đặt tên theo tên của chính loại chất xúc tác đó. Chẳng hạn, qui trình axit sẽ tương ứng với chất xúc tác dị thể dạng axit được sử dụng trong phản ứng chuyển hoá este. Hiện nay, có nhiều loại xúc tác dị thể khả thi được sử dụng trong quá trình chuyển hoá este, như các oxit kim loại, các phức chất kim loại, những kim loại hoạt động được tẩm trên các chất mang, trên zeolit, trên nhựa, trên màng, và enzym lipaza. Một vài chất xúc tác dị thể đã được cấp bằng sáng chế và được sử dụng trong việc sản xuất thương mại FAME, chẳng hạn những xúc tác được tìm thấy bởi công nghệ Axens. Những chất xúc tác này được chứng minh có hoạt tính xúc tác cao trong quá trình chuyển hoá este. Tuy nhiên, hầu hết các chất xúc tác này được sử dụng cho các loại dầu khác như dầu nành, dầu hạt cải hơn là dầu cọ. Như vậy, mục tiêu chính của bài nghiên cứu này là sản xuất các methyleste của axit béo (FAME) từ dầu cọ sử dụng khoáng vật sét KSF làm chất xúc tác dị thể. Nghiên cứu này được hỗ trợ với quá trình thiết kế các điều kiện thực nghiệm bằng phương pháp thống kê sử dụng phương pháp luận bề mặt đáp ứng (RSM) để thu nhận và phân tích các dữ liệu thu được dựa trên 9
  16. 16. ảnh hưởng của bốn biến trong quá trình đến hiệu suất của quá trình chuyển hoá theo phương pháp nhanh và hiệu quả với số thí nghiệm ít nhất. 2. Nguyên liệu và phương pháp tiến hành 2.1. Nguyên liệu Dầu cọ đã tinh chế được mua từ Yee Lee Edible Oils Sdn Bhd, Malaysia, trong khi đó methanol được mua từ hãng hoá chất R & M Chemicals, UK. Methyl heptadecanoate (được sử dụng theo tiêu chuẩn nội địa) và các chất chuẩn được dùng để phân tích FAME là: methyl myristate, methyl palmitate, methyl stearat, methyl oleat, methyl linoleate được mua từ hãng Fluka Chemie, Đức. Chất xúc tác, khoáng vật sét KSF (ở dạng bột), cũng được mua từ Fluka Chemie, Đức, được sử dụng mà không cần bất kỳ một quá trình xử lý nào khác. Những yêu cầu về tính chất của khoáng vật sét KSF là độ ẩm < 12 %, a-xít tự do 8 – 12 %, và có bề mặt được bao phủ bằng axit sulfuric. Khoáng sét KSF có một giới hạn về thời gian tồn tại, bởi vậy cần được bảo quản trong một kho lạnh ( ở dưới -18 oC) để duy trì được những tính chất vốn có trước khi sử dụng. 2.2. Thiết lập các điều kiện tiến hành thực nghiệm Mô hình thí nghiệm được lựa chọn trong bài nghiên cứu này là một mô hình phức hợp nhiều tâm (CCD), mô hình này sẽ giúp đỡ trong việc khảo sát các ảnh hưởng bậc 1, các ảnh hưởng bậc hai, lập phương và tích chéo của các biến được chọn trong quá trình chuyển hoá ester (independent variables) đến hiệu suất của của FAME tạo ra từ dầu cọ (response). Bốn biến được nghiên cứu là nhiệt độ phản ứng, thời gian phản ứng, tỷ lệ của methanol/ dầu và hàm lượng xúc tác. Bảng 1 trình bày phạm vi và các mức nghiên cứu của bốn biến độc lập này. Phương pháp CCD gồm có một bảng thí nghiệm với một ma trận giai thừa gốc ở hai mức (1/2 x 24 =8), tám điểm dọc theo trục hay các thí nghiệm ở điểm sao và năm điểm thí nghiệm ở tâm. Giá trị alpha của ma trận CCD này được cố định là 2. Bảng ma trận đầy đủ của những thí nghiệm và kết quả được trình bày trong bảng 2. Tất cả các biến ở mức 0 tạo thành các thí nghiệm ở tâm và sự kết hợp của mỗi biến ở các mức cao nhất (+2) và thấp 10
  17. 17. nhất (-2) của nó với mức 0 của các biến khác tạo thành các thí nghiệm ở điểm sao. Bảng 1 – Các mức nghiên cứu của bốn biến nghiên cứu được chọn. Biến Mức nghiên cứu Biến nghiên cứu Đơn vị mã hoá -α -1 0 +1 +α o Nhiệt độ phản ứng X1 C 50 80 120 155 190 Thời gian phản ứng X2 phút 60 120 180 240 300 Tỉ lệ dầu/methanol X3 mol/mol 1:4 1:6 1:8 1:10 1:12 Hàm lượng xúc tác X4 % kl 1 2 3 4 5 Mỗi giá trị hiệu suất thu được của quá trình chuyển hoá este được sử dụng để phát triển một mô hình toán, trong đó có sự tương quan giữa hiệu suất của FAME tạo ra từ dầu cọ với những biến ảnh hưởng được nghiên cứu, với số mủ bậc một, bậc hai của mỗi nhân tố và tương tác đồng thời của các nhân tố, được đưa ra dưới dạng một phương trình đa thức bậc 2 như sau: 4 4 4 Y = bo + ∑ b j .x j + ∑b jj .x jj + ∑ b jj .x 2 j j =1 i ≠ j =1 j =1 ở đây Y là hiệu suất dự đoán của FAME tạo ra từ dầu cọ, mol/mol, xi và xj đại diện cho những biến hoặc những tham số, bo là hệ số hồi qui bậc 0 (số hạng hiệu chỉnh), bj là là hệ số hồi qui tuyến tính bậc 1, b ij là hệ số hồi qui thể hiện sự tương tác cấp một của các nhân tố và bjj là hệ số hồi qui bậc 2. 2.3. Điều chỉnh mô hình toán và phân tích thống kê Phần mềm dùng thiết kế phiên bản 6.0.6 (STAT- EASE Inc., Minneapolis, Mỹ) được sử dụng để phân tích hồi quy cho dữ liệu thí nghiệm thu được nhằm đưa ra mô hình phù hợp với phương trình đa thức bậc hai đã nêu ở trên và đánh giá ý nghĩa thống kê của phương trình mô hình toán xây dựng được. 2.4. Quá trình nghiên cứu Phản ứng chuyển hoá ester được thực hiện trong một bồn phản ứng với một máy khuấy từ (hình 1). Hỗn hợp dầu cọ, chất xúc tác và methanol được 11
  18. 18. nạp vào trong bồn phản ứng. Cường độ khuấy trộn của máy khuấy từ được thiết lập ở 190 - 200 vòng/phút. Nhiệt độ phản ứng, thời gian phản ứng, tỷ lệ dầu cọ/ methanol và hàm lượng xúc tác (khoáng sét KSF) được thiết lập theo những giá trị đã đưa ra trong ma trận thực nghiệm đã xây dựng được trình bày trong bảng 2. Thực nghiệm được thực hiện một cách ngẫu nhiên để ảnh hưởng của các yếu tố không kiểm soát được là nhỏ nhất. Methanol dư từ những mẫu sản phẩm thu được sau phản ứng được loại bỏ bằng máy cô quay. Lớp phía trên của mẫu sản phẩm được tách ra khỏi lớp đáy của mẫu và được làm nguội bằng n-hec-xan (dung dịch loãng) trước khi đem đi phân tích các chỉ số của FAME. Hình 1 - Sơ đồ tóm tắt cơ cấu thí nghiệm của quá trình chuyển hoá este (thiết bị phản ứng) Bảng 2 – Mô hình ma trận thực nghiệm và kết quả (sắp xếp theo mã xúc tác) 2.5. Phân tích Quá trình phân tích các chỉ số của FAME tạo ra từ dầu cọ trong các mẫu được thực hiện bằng phương pháp sắc khí (GC) với cột mao quản Inert Cap WAX (30mm x 0.25mm x I.D. 0,25 µm . Hê-li được sử dụng làm khí mang. Nhiệt độ của máy lúc ban đầu là 120 oC và được giữ trong 1 giờ, sau đó 12
  19. 19. tăng lên đến 220 oC (được giữ trong15 phút) với tốc độ 4 oC/phút. Nhiệt độ của đầu tiêm và đầu dò được thiết lập tương ứng là 220 oC và 250 oC. Một lượng khoảng 1 µ l từ mỗi mẫu được tiêm vào trong cột. Hiệu suất của FAME tạo ra từ dầu cọ trong quá trình chuyển hoá este được tính toán tương tự theo phương pháp của Jitputti et al. 3. Kết quả và bàn luận 3.2. Ảnh hưởng của các biến nghiên cứu được chọn trong quá trình chuyển hoá ester Từ bảng 3, ta quan sát được rằng trong số bốn nhân tố độc lập được nghiên cứu, nhiệt độ phản ứng (x1) có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu suất của FAME tạo ra từ dầu cọ (vì có giá trị F cao nhất), tiếp theo là thời gian phản ứng (x2). Tỷ lệ dầu/ methanol (x3) có ảnh hưởng khá quan trọng trong khi hàm lượng xúc tác (x4) có những ảnh hưởng khác không quan trọng. Ảnh hưởng bậc hai của x1 và x2 đến hiệu suất tạo thành FAME khá mạnh so với các biến x3 và x4. Những hệ số có ý nghĩa khác bao gồm ảnh hưởng tương tác đồng thời ứng của các biến, cụ thể là ảnh hưởng của tương tác giữa biến x 2 và x4 và giữa biến x1 và x4. Thời gian phản ứng dài hơn cho phép đủ thời gian cần thiết cho quá trình chuyển hoá este xảy ra hoàn toàn, hay ít nhất là đến mức cực đại. Những kết quả trong bảng 2 chứng minh rằng hoàn toàn có khả năng cải thiện hiệu suất của FAME tạo ra từ dầu cọ với sự lựa chọn chính xác các biến ảnh hưởng đến quá trình chuyển hoá este sử dụng khoáng sét KSF làm chất xúc tác. Hoạt tính xúc tác của khoáng sét KSF trong phản ứng chuyển hoá este, tại tốc độ phản ứng bất kỳ, được cho là do tính axit của xúc tác. Như ta đã đề cập trước đó, khoáng sét KSF có hàm lượng axit tự do là 8 - 12%, và có bề mặt được bao phủ bằng axit sulfuric. Axit sulfuric là một axit mạnh tiêu biểu, và ta biết rằng phản ứng chuyển hoá este được xúc tác bằng axit hay bazơ, vì vậy tính axit mạnh của khoáng sét KSF này đã có đóng góp quyết định đến hiệu suất cao của FAME tạo ra từ dầu cọ. 13
  20. 20. Bảng 3 – Phân tích ANOVA cho phương trình mô hình hồi qui và các hệ số sau khi loại bỏ các hệ số không có ý nghĩa Tuy nhiên, khi hiệu suất cực đại đạt được tại những biên của các biến thí nghiệm được lựa chọn trong bài nghiên cứu này, các điều kiện thí nghiệm tối ưu để đạt được hiệu suất cực đại không thể rút ra được (ngoại trừ những điều kiện thí nghiệm tại biên của những biến nghiên cứu). Điều này cũng do mô hình xây dựng được bằng phần mềm DOE gây ra, bởi lẽ không có hiệu suất cực đại nào nằm bên trong miền thực nghiệm được khảo sát. Bởi vậy, mô hình xây dựng được bằng phần mềm DOE được dùng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra chính xác ảnh hưởng của các biến và tương tác của chúng đến hiệu suất của quá trình chuyển hoá este. Trong số bốn hệ số tương tác được tìm thấy có ảnh hưởng quan trọng đến hiệu suất tạo ra FAME từ dầu cọ, những ảnh hưởng quan trọng là tương tác giữa biến x2 và x4 và giữa biến x1 và x4. Hình 3 cho thấy có sự thay đổi hiệu suất khi thay đổi nhiệt độ phản ứng ở hàm lượng xúc tác 2 % và 4 %. Hai biến khác của quá trình là: thời gian phản ứng và tỷ lệ của dầu/ methanol được giữ cố định tại 180 phút và 1: 8. Ta nhận thấy có một kết luận chung rằng tỉ lệ phần trăm cao của xúc tác sẽ dẫn đến hiệu suất chuyển hoá tryglycerids thành methyl ester cao hơn, bởi vì hiệu lực của các tâm hoạt động sẽ tăng cao. Tuy nhiên, kết luận này không phải luôn luôn đúng. Ta có thể thấy trong hình 3, hiệu suất của biodiesel tạo ra ở 4 % xúc tác thấp hơn ở 2 % xúc tác khi nhiệt độ phản ứng thấp hơn 95 oC. Điều này có thể được giả thuyết rằng có những tương tác tồn tại giữa nhiệt độ phản ứng với chính các tâm hoạt động trên xúc tác. Hình 4 cho thấy có sự thay đổi trong hiệu suất tạo ra FAME từ dầu cọ với các khoảng thời gian phản ứng khác nhau ở hàm lượng 2 % và 4 % xúc tác. Hai biến khác của quá trình là: nhiệt độ phản ứng và tỷ lệ dầu/methanol được giữ cố định ở 120 oC và 1:8. Ta nhận thấy trong hình 4, khi cùng một thời gian phản ứng ngắn hơn, hàm lượng 2 % xúc tác cho hiệu suất tạo FAME 14
  21. 21. thấp hơn so với 4 % xúc tác. Tuy nhiên, hiệu suất ở 2 % xúc tác tiếp tục tăng đều cho đến khi vượt qua hiệu suất ở 4 % xúc tác sau khi phản ứng đến 210 phút. Mặt khác, ở 4 % xúc tác ta nhận thấy có một hiệu suất khá ổn định trong hầu hết các khoảng thời gian phản ứng và giảm nhẹ khi thời gian phản ứng lớn hơn 210 phút. Từ hiện tượng này, ta có thể kết luận rằng, sự cân bằng của phản ứng đạt được nhanh chóng với hàm lượng 4 % xúc tác, và sau khi đạt đến trạng thái cân bằng, phản ứng chuyển hoá este có thể dừng lại hoặc bắt đầu dịch chuyển theo chiều ngược lại. Trạng thái cân bằng của phản ứng chuyển hoá ở 2 % xúc tác chỉ có thể đạt được sau khoảng thời gian phản ứng dài hơn vì tính hoạt động của các tâm hoạt tính của xúc tác nhỏ hơn, như vậy độ chuyển hoá ở 2 % xúc tác sẽ dịch chuyển tăng dần từ 120 phút đến 240 phút. Tóm lại, tốc độ chung của phản ứng, đó là phản ứng chuyển hoá este và phản ứng theo chiều nghịch lại, có thể chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi tổng số những tâm hoạt tính của chất xúc tác, bởi vì các tâm hoạt tính lớn hơn sẽ tăng tốc cho cả phản ứng thuận và phản ứng nghịch. Hình 3- Ảnh hưởng của hai biến nhiệt Hình 4- Ảnh hưởng của hai biến thời độ phản ứng và hàm lượng xúc tác gian phản ứng và hàm lượng xúc tác đến hiệu suất: a) mô hình bề mặt đáp đến hiệu suất: a) mô hình bề mặt đáp ứng; b) bản vẽ theo hai chiều ứng; b) bản vẽ theo hai chiều 4. Kết luận Dựa trên các kết quả thí nghiệm thu được, ta có thể kết luận rằng khoáng sét KSF có thể được sử dụng làm chất xúc tác rất hiệu quả cho sự chuyển hoá dầu cọ thành FAME. Tuy nhiên, nghiên cứu tương lai trên chất xúc tác này vẫn cần có những kiểm tra trên phạm vi rộng hơn đối với những tham số nghiên cứu này, và cũng cần bổ sung thêm những tham số mới có thể có trong quá trình phản ứng như cường độ khuấy trộn, áp suất phản ứng …theo hướng thương mại hóa công ngh 15
  22. 22. CHƯƠNG II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
  23. 23. 2.1. Nguyên liệu - Mỡ cá: Công ty xuất nhập khẩu Afiex, An Giang. - KOH: 82 %, (Shantou Xilong, Quảng Đông, Trung Quốc). - Al(OH)3: 97 %, (Xing Ta, Quảng Đông, Trung Quốc). - Metanol công nghiệp: 90 %. 2.2. Thiết bị - Máy khuấy từ có gia nhiệt: CB162 Stuart, BioCote. - Lò vi sóng: MM-820ABN 800W, Hitoshi. - Lò nung: 4800Furnace, Barnstead Thermolyne. - Tủ sấy: Shellab. - Máy sàng rung: A200, Retsch. Kích thước các rây sàng từ 75 – 220 µm . - Nhớt kế: 100 S746 Cannon, Instrusment. - Bể điều nhiệt: Memmert. - Cân phân tích: CP 324S Sartorius, Sartorius AG Gottingen, Germany. - Phễu chiết. - Máy sấy tóc. - Chén nung bằng Niken. - Cối nghiền hoá chất. - Becher 100ml và 250 ml. - Bình cầu hai cổ. - Hệ thống sinh hàn hồi lưu. - Cá từ. - Nhiệt kế 100 oC. - Bình hút ẩm. - Bình tỷ trọng 10 ml: A44, IsoLab, Germany. - Đồng hồ bấm giây.
  24. 24. Hình 2. 1: Hệ thống phản ứng điều chế biodiesel 1. Bình cầu hai cổ 5. Giá đỡ 2. Bếp khuấy từ 6. Kẹp 3. Sinh hàn hồi lưu 7. Phễu chiết 4. Nhiệt kế 2.3. Xây dựng mô hình thực nghiệm (Design of experiments) [5, 7, 12] Mô hình thí nghiệm được lựa chọn trong bài nghiên cứu này là một mô hình phức hợp nhiều tâm (CCD: central composite design), mô hình này sẽ giúp đỡ trong việc khảo sát các ảnh hưởng bậc 1, các ảnh hưởng bậc hai, lập phương và tích chéo của các biến được chọn trong quá trình chuyển hoá este (independent variables) đến hiệu suất của biodiesel tạo ra từ mỡ cá (response). Mô hình thí nghiệm CCD này còn giúp cho việc tiến hành nghiên cứu và phân tích thống kê các dữ liệu thực nghiệm thu được một cách chính xác và nhanh nhất, với số thí nghiệm cần thực hiện là ít nhất. Bốn biến được chọn nghiên cứu là nhiệt độ phản ứng (oC), thời gian phản ứng (phút), tỷ lệ của mỡ cá:methanol (mol/mol) và hàm lượng xúc tác (%). Hàm đáp ứng được chọn để khảo sát là hiệu suất tạo biodiesel trong phản ứng chuyển hoá (đơn vị tính là %). Bảng 2.1 trình bày phạm vi và các mức nghiên cứu của bốn biến độc lập được chọn để khảo sát.
  25. 25. Bảng 2. 1. Phạm vi và các mức nghiên cứu của bốn biến được chọn. Mức nghiên cứu của các nhân tố được lựa chọn như trên bởi việc xem xét giới hạn hoạt động của các thiết bị thí nghiệm và các tính chất của các tác chất phản ứng. Trên mức nhiệt độ 65 °C, được xác định là điểm sôi của methanol, vì vậy lượng methanol sẽ bay hơi đáng kể trước khi tham gia phản ứng và nhiệt độ cao sẽ thúc đẩy phản ứng phụ, đó là phản ứng xà phòng hoá, làm giảm hiệu suất tạo biodiesel. Mức thấp hơn nhiệt độ 55 °C, khi đó nhiệt độ sẽ không đủ để phản ứng có thể diễn ra hoàn toàn. Mức nghiên cứu của tỉ lệ xúc tác được chọn là 5 % và 7 % được chọn theo các các tài liệu đã nghiên cứu trước đó. Mặc dù tỉ lệ mol của methanol và mỡ cá theo phương trình hoá học là 3:1, nhưng do đây là một phản ứng thuận nghịch nên theo nguyên lý Lechardie, ta phải chọn một tác chất dư, ở đây ta chọn methanol, và căn cứ vào các báo cáo trong các nghiên cứu trước đây ta chọn mức cao cho tỉ lệ methanol/mỡ cá là 9:1 và mức thấp là 7:1. Thời gian phản ứng nếu quá dài có thể làm phản ứng dịch chuyển theo chiều ngược lại hoặc phát sinh các phản ứng phụ khác, chẳng hạn như phản ứng xà phòng hoá; ngược lại nếu quá ngắn thì triglycerides chưa chuyển hoá hoàn toàn thành metyleste (ME). Theo các tài liệu nghiên cứu trước đây, ta chọn mức cao cho thời gian phản ứng là 120 phút và mức thấp là 60 phút. Giữa các biến mã hoá (xi) và các giá trị biến thật (Zi) đã chọn để nghiên cứu ở các mức nghiên cứu khác nhau được liên hệ với nhau qua các hệ thức sau: Z ithuc − Z io xi = λi Trong đó: - Zio: giá trị nghiên cứu ở mức 0 (mức gốc). - λi : khoảng biến thiên của biến nghiên cứu. Giá trị của λi được tính nhờ biểu thức sau:
  26. 26. Z max - Zmin λi = 2 - Zmax: giá trị nghiên cứu ở mức cao (+1). - Zmin: giá trị nghiên cứu ở mức thấp (-1). Mô hình thực nghiệm CCD gồm có một bảng thí nghiệm ma trận gốc ở hai mức (2k=24 =16), 8 thí nghiệm ở điểm sao và 3 điểm thí nghiệm ở tâm, vậy tổng số thí nghiệm cần tiến hành là 27. Tất cả các biến ở mức 0 tạo thành các thí nghiệm ở tâm và sự kết hợp của mỗi biến ở các mức cao nhất (+ α ) và thấp nhất (- α ) của nó với các biến khác tạo thành các thí nghiệm ở điểm sao. Giá trị alpha ( α ) của ma trận CCD này được xác định là: α= N .2n − 2 − 2n −1 = 27.24− 2 − 24−1 = 1,5467 Mỗi giá trị hiệu suất nhận được (hàm đáp ứng) của quá trình chuyển hoá este được dùng để xây dựng một mô hình toán, trong đó có sự tương quan giữa hiệu suất tạo biodiesel từ quá trình chuyển hoá với những nhân tố ảnh hưởng được nghiên cứu, với số mủ bậc một, bậc hai của mỗi nhân tố và tương tác đồng thời của các nhân tố, được đưa ra dưới dạng một phương trình đa thức bậc 2 như sau: 4 4 4 Y = bo + ∑ b j .x j + ∑b jj .x jj + ∑ b jj .x 2 j j =1 i ≠ j =1 j =1 ở đây Y là hiệu suất tạo thành biodiesel (%), xi và xj đại diện cho những biến hoặc những tham số, bo là hệ số hồi qui bậc 0 (số hạng hiệu chỉnh), b j là là hệ số hồi qui tuyến tính bậc 1, bij là hệ số hồi qui thể hiện sự tương tác cấp một của các nhân tố và bjj hệ số hồi qui bậc 2. Trong bài nghiên cứu này, xi và xj là bốn biến nghiên cứu được chọn: nhiệt độ phản ứng, thời gian phản ứng, tỉ lệ methanol/mỡ cá và hàm lượng xúc tác. Các hệ số bi, bij và bjj đặc trưng cho tác động của các biến hay các ảnh hưởng (mà các hệ số này đứng trước) đến hiệu suất tạo biodiesel, sự tác động này được thể hiện qua độ lớn và dấu của các hệ số.
  27. 27. Bảng 2. 2. Bảng ma trận mã hoá của bốn biến được chọn để nghiên cứu Bảng 2. 3. Điều kiện phản ứng cụ thể cho các thí nghiệm trong mô hình thực nghiệm đã xây dựng 2.4. Xây dựng mô hình toán và phân tích mối quan hệ giữa các biến với hiệu suất tạo biodiesel Phần mềm Statgraphics Centurion XV (STAT- EASE Inc., Minneapolis, Mỹ được sử dụng để phân tích hồi quy cho các dữ liệu hiệu suất tạo biodiesel thu được từ các thí nghiệm theo mô hình thực nghiệm đã xây dựng ở trên, nhằm đưa ra một mô hình toán phù hợp với phương trình đa thức bậc hai đã nêu ở trên và phân tích mối quan hệ giữa các biến được chọn nghiên cứu với hiệu suất tạo biodisel thông qua các biểu đồ và mô hình bề mặt đáp ứng được phần mềm xây dựng nên. 2.5. Phương pháp tiến hành [3, 8, 9, 11] 2.5.1. Điều chế xúc tác KOH/γ-Al2O3 2.5.1.1. Quy trình KOH γ-Al2O3 Tẩm (3h) Sấy 120 oC (24h) Nung ở 550 oC (2.5h) KOH/γ-Al2O3 Hình 2. 2. Qui trình điều chế xúc tác KOH/γ-Al2O3
  28. 28. 2.5.1.2. Thuyết minh quy trình - Điều chế γ-Al2O3: chất mang γ-Al2O3 được điều chế bằng quá trình nung Al(OH)3 ở 650 oC trong 6 giờ. Sau đó, γ-Al2O3 được sàng trên máy sàng rung để thu được các hạt mịn có kích thước nhỏ hơn 90 µ m . - Điều chế xúc tác KOH/γ-Al2O3: cân chính xác lượng KOH và lượng γ- Al2O3 cần thiết cho quá trình tẩm theo các tỉ lệ cần khảo sát. Hòa tan KOH trong bercher với lượng nước cất vừa đủ để tạo một dung dịch kiềm đậm đặc. Sau đó, cho γ-Al2O3 từ từ từng lượng một vào bercher, khuấy đều trong 3giờ. Quá trình tẩm được thực hiện ở nhiệt độ phòng. Sau quá trình tẩm, xúc tác được đem sấy trong môi trường không khí ở nhiệt độ 120 oC trong 24 giờ. Trước khi đem thực hiện phản ứng chuyển hóa ester, xúc tác được nung hoạt hóa ở nhiệt độ 550 oC trong 2.5 giờ. 2.5.1.3. Kiểm tra tính chất của xúc tác KOH/γ-Al2O3 a. Phương pháp xác định diện tích bề mặt (BET) Bề mặt riêng là một trong những tính chất quan trọng của xúc tác dị thể, bởi vì phản ứng xảy ra trên bề mặt của xúc tác. Bề mặt riêng càng lớn thì càng thuận lợi cho phản ứng. Bề mặt riêng của chất mang γ-Al2O3 và xúc tác KOH/γ-Al2O3 được đo trên máy 3000 – ChemBet – Mỹ, tại Viện khoa học và công nghệ Việt Nam (số 1, Mạc Đĩnh Chi, Q.1, Tp.Hồ Chí Minh). b. Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM) Cấu trúc bề mặt của xúc tác và kích thước các hạt xúc tác được quan sát qua kính hiển vi điện tử. Mẫu xúc tác được chụp tại Viện khoa học và công nghệ Việt Nam (số 1, Mạc Đĩnh Chi, Q.1, Tp.Hồ Chí Minh). Sử dụng máy hiển vi điện tử quét (SEM) 7410F – JMS – JEOL – Nhật, với độ phóng đại 500 – 100000 lần. c. Phương pháp phân tích phổ hồng ngoại (IR) Để có những hiểu biết sâu hơn về tương tác giữa KOH và chất mang γ -Al2O3 trong quá trình tẩm xúc tác, đồng thời để xác định các liên kết hình thành trong xúc tác, các đặc trưng của xúc tác được phân tích bằng phương
  29. 29. pháp phân tích hồng ngoại IR. Các phổ IR của xúc tác được ghi trên thiết bị Vector22 – Bruker – Đức, tại Viện khoa học và công nghệ Việt Nam (số 1, Mạc Đĩnh Chi, Q.1, Tp.Hồ Chí Minh). Các mẫu được phân tích ở nhiệt độ phòng trong vùng bước sóng 400 – 4000 cm-1. d. Phương pháp phân tích phổ X-ray Để nhận biết được hàm lượng γ -Al2O3 và các chất được hình thành trong quá trình chuẩn bị xúc tác, ta tiến hành phân tích phổ X-ray của xúc tác và phổ X-ray của chất nền γ -Al2O3. Giản đồ phổ X-ray của xúc tác và chất nền được ghi trên máy D8 Advance – Bruker – Đức, ở Viện khoa học và công nghệ Việt Nam (số 1, Mạc Đĩnh Chi, Q.1, Tp.Hồ Chí Minh). Các mẫu được phân tích ở chế độ máy sử dụng ống phát tia X bằng Cu với bước sóng Kα =1,54056 Ao, điện áp 40 Kv, cường độ dòng điện 40 mA, nhiệt độ 25 oC góc quét 2 θ = 2o – 75o, bước quét 0.03o. e. Phương pháp phân tích nhiệt TG - DTA Để có thể xác định được nhiệt độ nung hoạt hoá xúc tác tốt nhất, đồng thời xác định được các tương tác xảy ra giữa chất tẩm lên KOH với chất mang γ -Al2O3 trong quá trình nung hoạt hoá xúc tác, ta tiến hành phân tích nhiệt TG – DTA cho xúc tác . Mẫu xúc tác được đem phân tích nhiệt trên thiết bị STA 409 PC – NETZSCH, ở khoa Công Nghệ Vật Liệu - Trường Đại Học Bách Khoa Tp. Hồ Chí Minh (268, Lý Thường Kiệt, Q.10, Tp. Hồ Chí Minh).
  30. 30. 2.5.2. Điều chế dầu biodiesel 2.5.2.1. Quy trình Xúc tác Methanol Mỡ cá tra Hoạt hóa xúc tác Ester hóa Lắng tách Xúc tác -Nước rửa Nước cất nóng Rửa -Pha glycerin Sấy Nước Biodiesel Hình 2. 3. Quy trình điều chế biodiesel sử dụng xúc tác KOH/γ-Al2O3 2.5.2.2. Thuyết minh quy trình Cân khối lượng xúc tác KOH/γ-Al2O3 và khối lượng methanol cần thiết ,theo giá trị được cho trong bảng ma trận đã xây dựng được, cho vào bình phản ứng, lắp nhiệt kế vào. Sau đó, đặt bình phản ứng lên máy khuấy từ, khuấy hỗn hợp này 15 - 20 phút cho xúc tác tan hoàn toàn (lúc này không cần gia nhiệt cho hỗn hợp). Cho mỡ cá đã xử lý vào hỗn hợp phản ứng rồi gia nhiệt đến nhiệt độ phản ứng cần thiết ứng với thí nghiệm trong ma trận xây dựng được, khuấy trộn mạnh hỗn hợp, phản ứng trong khoảng thời gian đã hoạch định theo thí nghiệm trong ma trận. Phản ứng kết thúc, hỗn hợp sau phản ứng được để lắng trong phễu chiết để tách xúc tác rắn, và phân thành hai lớp: − Lớp trên: metyl este − Lớp dưới: glycerin và triglyceride dư. Hỗn hợp metyleste ở trên đem rửa sạch với nước cất để loại bỏ tạp chất và glyxerin, thu được dầu biodiesel nguyên chất. Tiến hành tách nước cho dầu
  31. 31. biodiesel thu được này bằng lò vi sóng. Dầu biodiesel sau khi đã tách nước hoàn toàn được để nguội và sau đó tiến hành đo các chỉ số hóa lý của sản phẩm biodiesel. 2.5.3. Phân tích các chỉ số của metyleste tạo thành 2.5.3.1. Tính hiệu suất phản ứng Hiệu suất phản ứng là khả năng chuyển hóa mỡ cá thành biodiesel của phản ứng. Hiệu suất được tính theo công thức sau: Trong đó: - m1 là khối lượng methyl ester thu được từ thực nghiệm (g) - m2 là khối lượng methyl ester thu được theo lý thuyết (g) Khối lượng methyl ester được tính toán như sau: m1 = ME x n x 3 - n: số mol mỡ cá (mol) - ME: khối lượng mol trung bình của metyleste (g/mol) ME = (Mm – 41 + 15 x 3)/3 - Mm: khối lượng mol trung bình của mỡ cá (g/mol) 2.5.3.2. Tỷ trọng Tỷ trọng là tỷ số giữa khối lượng riêng của metyleste và khối lượng riêng của nước cất tại cùng nhiệt độ. Cách xác định: cân bình tỷ trọng dung tích 10 ml đã sấy khô, để biết khối lượng ban đầu m0 (g) của bình. Tiến hành cân xác định khối lượng nước ở nhiệt độ phòng. Nước ở nhiệt độ phòng được cho vào bình tỷ trọng đến đầy (chảy tràn), tránh bọt khí xuất hiện trong bình. Cân bình tỷ trọng có chứa nước, ta được khối lượng m1 (g). Sau đó, tiến hành cân bình tỷ trọng có chứa biodiesel, trong cùng điều kiện đo, ta có khối lượng m2 (g). Tỷ trọng của mỡ cá được tính theo công thức: m2 − m0 d= m1 − m0
  32. 32. 2.5.3.3. Độ nhớt Tiến hành đo độ nhớt của biodiesel tạo thành ở 40 oC bằng ống đo nhớt kế Cannon. Độ nhớt động lực của biodiesel được xác định như sau: ν=Cxt Trong đó: - C: hằng số nhớt kế sử dụng (nhà sản xuất nhớt kế cung cấp), C = 0.015. - t: là thời gian chảy của mẫu biodiesel (s). - ν: là độ nhớt động học của mẫu biodiesel (mm2/s).
  33. 33. 3.1. Đặc tính của xúc tác KOH/γ-Al2O3 [1, 3, 4, 9, 11, 13, 15, 16, 17, 18] 3.1.1. Kết quả phân tích BET và SEM của xúc tác KOH/γ-Al2O3 Kết quả phân tích BET của chất mang γ-Al2O3 và của xúc tác KOH/γ- Al2O3 cho thấy: diện tích bề mặt riêng của γ-Al2O3 và của xúc tác KOH/γ- Al2O3 là 142.86 m2/g và 23.43 m2/g. Diện tích bề mặt riêng giảm do một phần KOH bám dính trên bề mặt γ-Al2O3 và một phần chui vào các mao quản của γ-Al2O3. Ảnh SEM cho thấy tinh thể γ-Al2O3 có dạng hình que và bề mặt được thay đổi rõ rệt sau khi được tẩm KOH. Tinh thể KOH đã phủ đơn lớp và được thiêu kết trên bề mặt tinh thể γ-Al2O3 (Hình 3.1). Tuy nhiên, cấu trúc của chất mang vẫn không bị thay đổi sau khi được tẩm KOH. Điều này được chứng minh qua phổ XRD của γ-Al2O3 và KOH/γ-Al2O3 (Hình 3.2). Hình 3. 1. Hình chụp SEM của chất mang γ-Al2O3 và xúc tác KOH/γ-Al2O3 3.1.2. Kết quả phân tích X-ray của xúc tác KOH/γ-Al2O3 Hình 3. 2. Phổ XRD của chất mang γ-Al2O3 và xúc tác KOH/γ-Al2O3 Hình 3.2 trình bày phổ XRD của một dãy các mẫu xúc tác KOH/ γ - Al2O3 với các tỉ lệ KOH đưa lên khác nhau và phổ XRD của chất mang γ - Al2O3. Trên phổ XRD này ta nhận thấy ở mẫu xúc tác với tỉ lệ 5mmol KOH/ γ -Al2O3, hình dạng các pic phổ rất giống với phổ nền γ -Al2O3 và ta không phát hiện được các pic đặc trưng nào khác ngoài các pic của γ -Al2O3. Điều này cho thấy ở tỉ lệ 5mmol KOH/g γ -Al2O3, khả năng phân tán tự nhiên của
  34. 34. KOH trên bề mặt γ -Al2O3 rất tốt và chúng tạo thành một trạng thái đơn lớp bề mặt. Nhưng khi lương KOH tăng lên 6mmol, lúc này trên phổ XRD của mẫu xúc tác xuất hiện một số pic khác ở vị trí 2 θ =32.8o, được cho là của kali oxit dạng KO3 trên nền phổ của γ -Al2O3. Khi tỉ lệ KOHt đưa lên tăng từ 6 – 7 mmol, thì vùng phổ của KO3 càng mở rộng và đặc trưng hơn, nhưng khi lượng KOH tăng đến 8 mmol thì vùng phổ pic của KO3 lại thu hẹp trở lại. Ngoài ra, ở phổ XRD của mẫu xúc tác ứng với 7mmol và 8mmol KOH/ g γ -Al2O3, ta còn quan sát thấy một số pic mới ở các vị trí 2 θ =33.2o, 38.2o, 44.3o, các pic mới này được cho là do hợp chất kali polyaluminat, dạng K12.5Al21.83O38, gây ra. Đặc biệt, ở phổ XRD của mẫu xúc tác 8mmol KOH/ γ - Al2O3, ngoài các pic mới của KO3 và K12.5Al21.83O38, ta còn phát hiện thấy pic đặc trưng của KOH, điều này cho thấy rằng chỉ có một phần KOH bị phân huỷ dưới các điều kiện tổng hợp và hoạt hoá xúc tác, để hình thành nên dạng KO3 và K12.5Al21.83O38. Khi lượng dư KOH còn lại quá nhiều, chúng sẽ tạo thành trạng thái đa lớp do vượt qua khả năng phân tán tự nhiên trên bề mặt chất mang, lúc này nó sẽ tạo ra các pic đặc trưng của KOH trên nền phổ XRD. Việc hình thành nên các dạng KO3 và K12.5Al21.83O38 có thể do lượng KOH đưa lên đã phân huỷ và tương tác với chất mang. Trong quá trình cấy tẩm, γ -Al2O3 đã bị hydroxyl hoá hoàn toàn và khi nung xúc tác ở nhiệt độ cao, do quá trình tách nước của các nhóm hydroxyl, mà trên bề mặt của chất mang γ -Al2O3 sẽ xuất hiện rất nhiều các lỗ trống, vì vậy sự phân tán của KOH trên bề mặt γ -Al2O3 thực tế là quá trình các cation của KOH được chèn vào các lỗ trống này. Đối với xúc tác KOH/ γ -Al2O3, ion K+ có thể đã được chèn vào các lỗ trống nhờ vào các liên kết với nguyên tử O của bề mặt, giúp gia tăng quá trình phân tán và phân huỷ của KOH trên bề mặt chất mang, để hình thành nên các tâm hoạt tính của xúc tác. KOH + Al – OH  Al – O – K + H2O → Mặt khác, quá trình tách nước của các nhóm hyđroxyl sẽ để lại các ion O2-, là các ion có khả năng cho điện tử, chúng sẽ tương tác với ion K+ của KOH để hình thành nên các tâm bazơ bền. Phổ XRD trên hình 3.2 cho thấy
  35. 35. rằng khi lượng KOH đưa lên tăng dần thì số lượng các tâm bazơ, cùng với hoạt tính của xúc tác, cũng tăng lên. Tuy nhiên, khi lượng KOH đưa lên quá nhiều, lúc này KOH không còn phân tán tốt trên bề mặt nữa, mà sẽ tạo ra trạng thái đa lớp, lượng dư KOH này có thể bong ra khỏi bề mặt và khi tham gia phản ứng, điều này có thể gây ra phản ứng xà phòng hoá làm giảm hiệu suất. Mặt khác, lượng dư KOH có thể bao phủ các tâm hoạt tính của xúc tác và gây giảm hoạt tính của xúc tác. 3.1.3. Kết quả phân tích nhiệt TG/DTA Xem xét kết quả phân tích nhiệt trọng lượng và nhiệt vi phân của xúc tác KOH/γ-Al2O3 ở hình 3.3, có thể nhận thấy có hai giai đoạn giảm khối lượng trong khoảng nhiệt độ từ 100 – 650 oC. Giai đoạn một từ 100 – 310 oC có một điểm cực tiểu thu nhiệt ở 215.7 oC. Trong khoảng nhiệt độ này, đường DTA không giảm đều liên tục mà có một giai đoạn nằm ngang nên có thể xảy ra hai hiệu ứng thu nhiệt và tỏa nhiệt. Hiệu ứng thu nhiệt tương ứng với quá trình tách nước vật lý và giải phóng CO2. Hiệu ứng tỏa nhiệt là quá trình phân hủy KO3 thành K2O (4KO3 = 5O2 + 2K2O) vì KO3 được tạo thành trước đó do phản ứng oxy hóa một phần KOH ở nhiệt độ thường với ozon (6KOH + 4O3 = 4KO3 + 2KOH.H2O + O2). Điều này cũng phù hợp với phổ XRD của xúc tác KOH/γ-Al2O3 ở trên. Giai đoạn giảm khối lượng từ 310 – 550 oC xảy ra với hiệu ứng thu nhiệt có cực tiểu ở 372.6 oC. Giai đoạn này có phản ứng của KOH trên bề mặt của chất mang γ-Al2O3 tạo thành liên kết Al – O – K của hợp chất kali polyaluminat K12,5Al21,83O38 (KOH + Al – OH → Al – O –K + H2O). Như vậy các tâm hoạt động chính của xúc tác KOH/γ-Al2O3 là K2O và bề mặt của nhóm Al – O – K. Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của W. Xie trước đây về xúc tác KNO3/γ-Al2O3. Hình 3. 3. Giản đồ phân tích nhiệt DTA và TG của xúc tác KOH/γ-Al2O3
  36. 36. 3.1.4. Độ mạnh bazơ của xúc tác KOH/γ-Al2O3 Phân tích độ mạnh bazơ của xúc tác theo phương pháp chỉ thị Hammetl cho thấy xúc tác KOH/γ-Al2O3 là một bazơ mạnh có hàm lượng bazơ là 3,91 (mmol/g) và độ mạnh bazơ 9.8 < pH < 12. 3.1.5. Kết quả phân tích phổ hồng ngoại IR của xúc tác KOH/γ-Al2O3 Trên hình 3.4 là kết quả phân tích phổ hồng ngoại IR của một dãy các mẫu xúc tác KOH/Al2O3 theo các nhiệt độ nung khác nhau. Tất cả phổ IR của các mẫu xúc tác này đều có một khoảng hấp phụ đặc trưng quanh 3450 cm-1, điều này có thể do dao động của liên kết Al – O – K gây ra. Sự hình thành liên kết này đã được trình bày ở phần trên. Bên cạnh đó, một vùng phổ hấp phụ nhỏ quanh vùng 725 cm-1 cũng được quan sát thấy trên hình, phổ hấp phụ này được cho là các dao động của liên kết Al – O trong chất mang Al 2O3. Thêm vào đó, trên phổ IR ta cũng nhận thấy xuất hiện một pic hấp phụ quanh vùng 1640 cm-1, pic hấp phụ này được cho là dao động ν OH của các phân tử H2O hấp phụ từ không khí vào xúc tác. Khi nhiệt độ nung hoạt hoá xúc tác được tăng dần lên thì vùng phổ pic này càng thu hẹp lại và cuối cùng biến mất ở nhiệt độ nung 550 oC. Hình 3. 4 . Phổ IR của chất mang γ-Al2O3 và xúc tác KOH/γ-Al2O3 theo các nhiệt độ nung khác nhau Ngoài ra, từ phổ IR trong hình ta cũng quan sát thấy một pic hấp phụ quanh vùng 1410 cm-1 đặc trưng cho dao động của các nhóm CO32- . Ion CO32- có thể được hình thành do phản ứng giữa KOH với CO2 từ không khí hấp thụ vào xúc tác trong suốt quá trình cấy tẩm và nung xúc tác. Những điều quan sát thấy trên phổ IR này rất phù hợp với các kết quả phân tích phổ XRD và DTA của xúc tác KOH/Al2O3 ở trên.
  37. 37. 3.2. Hiệu suất tạo biodiesel thu được từ thực nghiệm Bảng 3.1 trình bày hiệu suất thực nghiệm tạo biodiesel (Y %) thu được từ việc tiến hành thí nghiệm theo các điều kiện thí nghiệm (bảng 2.4) của ma trận CCD đã xây dựng. Từ bảng kết quả hiệu suất tạo biodiesel thu được từ thực nghiệm, ta sẽ tiến hành phân tích thống kê để xác định được ảnh hưởng của các biến nghiên cứu được chọn đến hiệu suất tạo biodiesel và xác định được phương trình hồi quy thực nghiệm của mô hình. Mặt khác, từ các kết quả này ta sẽ xây dựng được các mô hình không gian bề mặt đáp ứng thể hiện mối quan hệ tương quan giữa các biến nghiên cứu đến hiệu suất tạo biodiesel. Bảng 3. 1. Hiệu suất tạo biodiesel thu được từ thực nghiệm 3.3. Phân tích ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu suất [2, 5, 7, 10, 14] Việc phân tích thống kê (Analyze design) được thực hiện trên những kết quả thí nghiệm thu được, và các ảnh hưởng bậc 1 và bậc 2 của bốn nhân tố cùng với các ảnh hưởng đồng thời của từng đôi một hai nhân tố (x1x2, x1x3 , x1x4 , x2x3, x2x4, x3x4), dưới dạng các biến mã hoá, được xem xét. Bảng 3.2 trình bày các kết quả phân tích ảnh hưởng của các biến nghiên cứu đến hiệu suất tạo biodiesel. Dựa vào kết quả phân tích trong bảng 3.2, ta thấy rằng tất cả các ảnh hưởng đều có bậc tự do bằng 1, với bậc tự do của các ảnh hưởng bằng số mức nghiên cứu của mỗi ảnh hưởng trừ 1. F – ratio là tỉ số Fisher của các ảnh hưởng, các tỉ số này sẽ được so sánh với chuẩn số Fisher tra được từ bảng F0. 05(1,14)= 4.60 với độ tin cậy được chọn là 95 %. Chỉ những tỉ số Fisher của các ảnh hưởng nào lớn hơn chuẩn số Fisher tra được từ bảng mới được xem là có nghĩa và mới được giữ lại. Giá trị F – ratio còn cho thấy mức độ tác động của ảnh hưởng đến hiệu suất (hàm mục tiêu), những ảnh hưởng nào có giá trị F – ratio càng lớn thì mức tác động của nó đến hiệu suất tạo biodiesel càng cao. P-Value là độ không tin cậy của ảnh hưởng đang xét, từ độ không tin cậy này ta dễ dàng suy ra độ tin cậy của ảnh hưởng đó, chỉ những độ không tin cậy nào ≤ 0.05 (tức ứng với độ tin cậy 95 %) mới được giữ lại.
  38. 38. Các ảnh hưởng chính và các ảnh hưởng tương tác của các nhân tố có thể được biểu diễn theo biểu đồ cột ở hình 3.4. Quan sát trên biểu đồ này, ta thấy rằng đường gạch dọc trên biểu đồ là một đường chuẩn, xác định mức ảnh hưởng có nghĩa của các nhân tố, ứng với độ tin cậy được chọn là 95 %; các cột hình chữ nhật màu xanh và màu xám trên biểu đồ tương ứng với các ảnh hưởng của các nhân tố và giá trị tin cậy, cũng như mức tác động của các ảnh hưởng đó được đặc trưng bởi độ cao của các cột này. Chỉ những nhân tố nào có mức ảnh hưởng bằng hoặc vượt qua đường tin cậy chuẩn mới được xem là có ý nghĩa. Màu xanh chỉ ra rằng các ảnh hưởng này là tiêu cực, nghĩa là nó có tác động làm giảm hiệu suất tạo biodiesel; còn màu xám cho thấy các ảnh hưởng có màu này có tác động tích cực đến hiệu suất tạo biodiesel, tức là nó làm tăng hiệu suất tạo biodiesel. Bảng 3. 2. Ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu suất tạo biodiesel (Y) Hình 3. 5. Biểu đồ ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu suất tạo biodiesel Từ bảng 3.2 và hình 3.5, ta nhận thấy rằng các ảnh hưởng bậc 1 và bậc 2 của tất cả các nhân tố đã chọn đều có ý nghĩa và ngoài hai ảnh hưởng bậc 1 của lượng methanol và của thời gian phản ứng là có tác động làm tăng hiệu suất tạo biodiesel, còn tất cả các ảnh hưởng còn lại đều có tác động làm giảm hiệu suất tạo biodiesel. Cũng trên biểu đồ này, ta thấy rằng ngoài ảnh hưởng
  39. 39. đồng thời của hai nhân tố nhiệt độ - thời gian phản ứng (CD hay x3x4) và tỉ lệ mol metanol:mỡ cá – thời gian phản ứng (AD hay x1x4) là không có ý nghĩa, còn tất cả các ảnh hưởng đồng thời của hai nhân tố khác đều có nghĩa và đều có tác động làm giảm hiệu suất tạo biodiesel. Đồng thời, ta cũng nhận thấy các ảnh hưởng bậc 2 của các nhân tố đều lớn hơn các ảnh hưởng bậc 1 của chúng nhưng lớn nhất là ảnh hưởng tương tác đồng thời của hàm lượng xúc tác – nhiệt độ phản ứng (BC hay x2x3), ứng với giá trị F – ratio lớn nhất; tiếp theo là ảnh hưởng bậc 2 của hàm lượng xúc tác (BB hay x22). Trong các ảnh hưởng bậc 2 của các nhân tố thì sự tác động giảm dần theo trật tự sau: hàm lượng xúc tác (BB hay x22), nhiệt độ phản ứng (CC hay x32), tỉ lệ mol metanol:mỡ cá (AA hay x12), thời gian phản ứng (DD hay x42). Ngược lại, trật tự tác động của các ảnh hưởng bậc 1 của các nhân tố lại giảm dần theo thứ tự sau: hàm lượng xúc tác (B hay x2), tỉ lệ mol metanol:mỡ cá (A hay x1), nhiệt độ phản ứng (C hay x3), thời gian phản ứng (D hay x4). Như vậy, hàm lượng xúc tác có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu suất tạo biodiesel ở cả bậc 1 và bậc 2. Thời gian phản ứng có mức độ ảnh hưởng thấp nhất so với bốn nhân tố được khảo sát kể cả bậc 1 và bậc 2. 9 BB -1.835 10 BC -2.613 11 BD -0.775 12 CC -1.782 13 DD -1.546 Dấu dương phía trước những hệ số chứng tỏ ảnh hưởng của các nhân tố có tác động tích cực, làm tăng hiệu suất; trong khi đó dấu âm trước các hệ số chỉ ra những ảnh hưởng của các nhân tố có tác động tiêu cực, làm giảm hiệu suất xuống. Hình 3.6 trình bày sự so sánh giữa các giá trị hiệu suất tạo biodiesel thực nghiệm với các giá trị hiệu suất tính toán được nhờ phương trình hồi qui của mô hình đã xây dựng. Từ hình 3.6, ta có thể nhận thấy rằng độ tương quan nhận được giữa các giá trị hiệu suất thực nghiệm và dự đoán là 98.7 %.
  40. 40. Kết quả trong hình 3.2 chứng minh rằng phương trình mô hình hồi quy xây dựng được đã mô tả chính xác các số liệu thực nghiệm, và như vậy mô hình này đã thể hiện đúng mối quan hệ giữa bốn biến được chọn để nghiên cứu với hiệu suất tạo biodiesel. Hình 3. 6. Hiệu suất biodiesel thực nghiệm so với hiệu suất biodiesel dự đoán từ mô hình xây dựng được Hệ số tương quan nhận được khi phân tích ảnh hưởng của các nhân tố là R2 = 98.68 %, với giá trị hệ số tương quan này ta có thể kết luận rằng 98.68 % sự biến đổi của hiệu suất tạo biodiesel trong quá trình thực nghiệm là do ảnh hưởng của bốn nhân tố độc lập được chọn nghiên cứu gây ra và chỉ có 1.34 % sự thay đổi là do các nguyên nhân không xác định được gây ra. 3.5. Mô hình bề mặt đáp ứng thể hiện ảnh hưởng của các nhân tố nghiên cứu đến hiệu suất tạo biodiesel [3, 5, 10, 12, 14] 3.5.1. Ảnh hưởng của hàm lượng xúc tác và nhiệt độ phản ứng Kết quả khảo sát ảnh hưởng đồng thời hàm lượng xúc tác và nhiệt độ phản ứng đến hiệu suất biodiesel ở điều kiện cố định tỷ lệ molmetano/mỡ 8/1 và thời gian phản ứng 90 phút được trình bày ở hình 3.7. Vì hàm lượng xúc tác và nhiệt độ phản ứng có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu suất điều chế biodiesel đối với cả bậc 2 và tương tác đồng thời nên những thay đổi nhỏ của hai nhân tố này sẽ dẫn đến sự biến đổi đáng kể về hiệu suất. Ở hàm lượng xúc tác thấp (5 %), nhiệt độ phản ứng cao (65 oC) cho hiệu suất tạo biodiesel cao
  41. 41. hơn hẳn so với ở nhiệt độ phản ứng thấp (55 oC). Nhưng khi hàm lượng xúc tác tăng dần từ 5 % – 7 % thì hiệu suất tạo biodiesel ở nhiệt độ phản ứng thấp sẽ tăng lên, trong khi đó ở nhiệt độ phản ứng cao thì hiệu suất lại giảm xuống. Tuy nhiên, hiệu suất biodiesel ở nhiệt độ phản ứng thấp (5 %) sẽ tăng dần đến khi đạt giá trị cực đại, ứng với hàm lượng xúc tác khoảng 5.7 – 6.2 %, sau đó sẽ giảm xuống. Bề mặt đáp ứng trong hình cũng cho thấy rằng, ở nhiệt độ phản ứng thấp (55 oC) hiệu suất biodiesel ở hàm lượng xúc tác 7 % cao hơn so với hiệu suất nhận được ở hàm lượng xúc tác 5 %. Khi nhiệt độ phản ứng tăng dần từ 55 oC – 65 oC, thì hiệu suất biodiesel đối với hàm lượng xúc tác cao (7 %) gần như không đổi trong khoảng nhiệt độ 55 oC – 57 oC, nhưng khi nhiệt độ tiếp tục tăng cao hơn thì hiệu suất tạo biodiesel sẽ giảm đi nhanh chóng. Ngược lại, ở hàm lượng xúc tác thấp (5 %), khi nhiệt độ phản ứng tăng dần thì hiệu suất biodiesel sẽ tăng lên và đạt đến cực đại ở nhiệt độ khoảng 60 – 61 oC, sau đó hiệu suất sẽ giảm nhẹ khi nhiệt độ tăng vượt ra khỏi khoảng trên. Từ sự thay đổi như trên của hiệu suất biodiesel theo hàm lượng xúc tác và nhiệt độ phản ứng, ta có thể kết luận rằng hàm lượng xúc tác sẽ ảnh hưởng lớn đến hiệu suất biodiesel của phản ứng do các tâm hoạt tính của xúc tác cùng với quá trình tiếp xúc pha trong hỗn hợp phản ứng. Ở hàm lượng xúc tác cao, lượng xúc tác quá nhiều có thể đã ngăn cản quá trình tiếp xúc pha của metanol với xúc tác và của metanol với mỡ cá; cùng với quá trình đó là các tâm hoạt tính của xúc tác có thể đã xúc tác cho cả phản ứng thuận và phản ứng nghịch của quá trình chuyển hoá este, lượng xúc tác dư quá nhiều sau khi phản ứng đạt cân bằng có thể đã làm dịch chuyển phản ứng chuyển hoá este theo chiều ngược lại và làm giảm hiệu suất biodiesel. Trong khi đó, nhiệt độ phản ứng cao đã làm bay hơi một lượng lớn metanol trước khi tham gia vào phản ứng, chính điều này đã làm giảm hiệu suất biodiesel. Mặt khác, do ảnh hưởng đồng thời của cả hàm lượng xúc tác cao và nhiệt độ phản ứng cao mà trong phản ứng có thể xuất hiện các phản ứng phụ, như phản ứng xà phòng hoá, làm giảm hiệu suất tạo biodiesel.
  42. 42. Sự biến đổi như trên của hiệu suất có thể được giải thích nhờ vào các hệ số hồi qui bậc 1, bậc 2 và hệ số hồi qui thể hiện tương tác đồng thời của hai nhân tố hàm lượng xúc tác và nhiệt độ phản ứng. Khi mà hàm lượng xúc tác nhỏ thì hiệu suất tạo biodiesel tăng lên khi nhiệt độ phản ứng tăng là do ảnh hưởng bậc 1 của hàm lượng xúc tác lớn hơn nhiệt độ phản ứng (do hệ số bi bậc 1 của hàm lượng xúc tác lớn hơn hệ số bi của nhiệt độ phản ứng) và vì ảnh hưởng bậc 1 của cả hai nhân tố này đều có tác động tích cực đến hiệu suất tạo biodiesel. Ngược lại, ở hàm lượng xúc tác cao, hiệu suất tạo biodiesel lại giảm mạnh khi nhiệt độ phản ứng tăng, điều này được giải thích do tác động làm giảm của các ảnh hưởng bậc 2 của hàm lượng xúc tác bình phương (x 22) và nhiệt độ phản ứng bình phương (x32), kết hợp với tương tác đồng thời hàm lượng xúc tác – nhiệt độ phản ứng (x2x3), do hệ số bij và bii của các ảnh hưởng này đều mang dấu âm. Mặt khác, các hệ số bi của các ảnh hưởng bậc 1 của hàm lượng xúc tác và nhiệt độ phản ứng lớn hơn nhiều so với các hệ số bii và hệ số tương tác đồng thời bij của hai nhân tố này. Nói cách khác, ở hàm lượng xúc tác thấp và nhiệt độ phản ứng thấp, ảnh hưởng bậc 1 giữ vai trò tác động chính đến hiệu suất tạo biodiesel; trong khi đó, ở hàm lượng xúc tác cao và nhiệt độ phản ứng cao, ảnh hưởng bậc 2 lại giữ vai trò tác động chính đến hiệu suất tạo biodiesel. Sự thay đổi rất nhỏ của hàm lượng xúc tác cũng dẫn đến sự thay đổi lớn của hiệu suất biodiesel quan sát được trên mô hình, đã chứng minh cho ảnh hưởng quan trọng của hàm lượng xúc tác đến hiệu suất tạo biodiesel ở cả bậc 1 và bậc 2. Với những quan sát từ mô hình và phân tích ở trên, ta có thể kết luận rằng để có thể đạt được giá trị hiệu suất biodiesel cực đại cho quá trình điều chế, hàm lượng xúc tác chỉ cần sử dụng với lượng vừa phải và nhiệt độ phản ứng ở mức trung bình. 3.5.2. Ảnh hưởng của hàm lượng xúc tác và thời gian phản ứng Kết quả khảo sát ảnh hưởng đồng thời hàm lượng xúc tác và thời gian phản ứng đến hiệu suất biodiesel ở điều kiện cố định tỷ lệ mol metanol/mỡ 8/1 và nhiệt độ phản ứng 60 oC được trình bày ở hình 3.8. Từ bề mặt đáp ứng
  43. 43. trong hình 3.8 ta có thể nhận thấy rằng, nhìn chung ở các giá trị hàm lượng xúc tác được cố định, khi thời gian phản ứng tăng dần thì hiệu suất tạo biodiesel cũng tăng dần đến khi đạt giá trị cực đại ở khoảng thời gian phản ứng trung bình (90 – 98 phút), sau đó nếu thời gian phản ứng tiếp tục tăng lên thì hiệu suất tạo biodiesel lúc này lại giảm. Tuy nhiên, hiệu suất tạo biodiesel khi ở giá trị hàm lượng xúc tác thấp (5 %) cao hơn rất nhiều so với hiệu suất tạo biodiesel nhận được ở các giá trị hàm lượng xúc tác cao (7 %). Mô hình này cũng cho thấy rằng , ở những khoảng thời gian phản ứng thấp (60 – 80 phút), khi hàm lượng xúc tác tăng dần từ 5 % – 7 % thì hiệu suất tạo biodiesel ban đầu sẽ tăng nhanh đến khi đạt giá trị cực đại, ở hàm lượng xúc tác khoảng 6 %, sau đó giảm dần. Quá trình diễn tiến này cũng được quan sát thấy ở những khoảng thời gian phản ứng dài hơn (100 – 120 phút), nhưng độ tăng của hiệu suất tạo biodiesel, khi hàm lượng xúc tác tăng dần, diễn ra chậm hơn và giá trị cực đại sẽ đạt được ở khoảng hàm lượng xúc tác 5.5 % – 5.8 %, đồng thời độ giảm của hiệu suất sẽ diễn ra nhanh hơn khi ở hàm lượng xúc tác càng cao. Do đó, khi quan sát trên mô hình ta sẽ thấy với hàm lượng xúc tác thấp (5 %), hiệu suất tạo biodiesel ở thời gian phản ứng ngắn (60 phút) sẽ thấp hơn so với hiệu suất ở thời gian phản ứng dài (120 phút). Nhưng khi hàm lượng xúc tác tăng dần lên đến 7 % thì ngược lại, hiệu suất tạo biodiesel ứng với các khoảng thời gian phản ứng ngắn lại cao hơn so với các giá trị hiệu suất ở các khoảng thời gian phản ứng dài. Với sự biến đổi như trên của hiệu suất biodiesel, thì rõ ràng phản ứng chuyển hoá este sẽ đạt được sự cân bằng tốt nhất ở khoảng thời gian phản ứng vừa phải; nếu thời gian phản ứng quá ngắn, thì hiệu suất tạo biodiesel sẽ thấp do chưa đủ thời gian để chuyển hoá hoàn toàn các tryglycerides thành các metyleste, còn nếu thời gian phản ứng quá dài thì lúc này trong hệ phản ứng sẽ xảy ra sự chuyển hoá theo chiều ngược lại và phát sinh các phản ứng phụ, như phản ứng xà phòng, làm giảm hiệu suất tạo biodiesel. Đặc biệt, điểm thấp nhất của mô hình (hiệu suất tạo biodiesel thấp nhất) ứng với khoảng thời gian phản ứng dài nhất (120 phút) và hàm lượng xúc tác cao nhất (7 %). Từ điều
  44. 44. này, ta có thể nhận thấy rằng ở hàm lượng xúc tác cao, sự cân bằng của phản ứng chuyển hoá este sẽ nhanh chóng đạt được sau một khoảng thời gian phản ứng vừa đủ, sau khi đạt cân bằng nếu tăng thời gian phản ứng lên thì phản ứng lại chuyển hoá theo chiều ngược lại. Điều này có thể được giải thích như sau, với hàm lượng xúc tác cao, các tâm hoạt tính của xúc tác sẽ nhiều hơn và thúc đẩy phản ứng nhanh chóng đạt đến trạng thái cân bằng, nhưng sau đó khi thời gian phản ứng tăng lên, phản ứng lại chuyển dịch theo chiều ngược lại, như vậy các tâm hoạt tính của xúc tác sẽ thúc đẩy cho cả phản ứng thuận và phản ứng nghịch. Toàn bộ các quá trình diễn tiến của hiệu suất tạo biodiesel theo hàm lượng xúc tác và thời gian phản ứng như trên có thể được giải thích nhờ vào các hệ số hồi qui bậc 1, bậc 2 và hệ số hồi qui thể hiện tương tác đồng thời của hai nhân tố này. Từ phương trình hồi qui với biến thực, các hệ số hồi qui bậc 1của hàm lượng xúc tác và thời gian phản ứng đều mang dấu dương, nghĩa là chúng có góp phần làm tăng hiệu suất tạo biodiesel. Trong khi đó, ảnh hưởng bậc 2 và ảnh hưởng tương tác đồng thời của hai nhân tố này lại có tác động làm giảm hiệu suất tạo biodiesel, do các hệ số của các ảnh hưởng này đều mang dấu âm. Ta cũng nhận thấy các hệ số hồi qui bậc 1 của hai nhân tố này lớn hơn rất nhiều lần các hệ số hồi qui bậc 2 và hệ số hồi qui thể hiện tương tác đồng thời của chúng. Do đó, ở những giá trị hàm lượng xúc tác thấp và thời gian phản ứng vừa phải, thì ảnh hưởng bậc 1 của hai nhân tố này giữ vai trò tác động chính đến hiệu suất tạo biodiesel, nên hiệu suất biodiesel sẽ tăng lên khi hàm lượng xúc tác và thời gian phản ứng tăng dần. Ngược lại, khi ở hàm lượng xúc tác cao và thời gian phản ứng dài, thì ảnh hưởng bậc 2 của chúng lại lớn hơn bậc 1, vì vậy hiệu suất biodiesel bị giảm xuống. Như vậy, hiệu suất tạo biodiesel cực đại của mô hình chỉ có thể đạt được ở giá trị hàm lượng xúc tác trung bình và thời gian phản ứng vừa phải. 3.5.3. Ảnh hưởng của tỉ lệ mol metanol:mỡ cá và nhiệt độ phản ứng Kết quả khảo sát ảnh hưởng đồng thời của tỉ lệ mol metanol:mỡ cá (x 1) và nhiệt độ phản ứng (x3) đến hiệu suất tạo biodiesel, ở điều kiện cố định hàm
  45. 45. lượng xúc tác (x2) ở 6 % và thời gian phản ứng (x 4) ở 90 phút, được trình bày bằng bề mặt đáp ứng trong hình 3.9. Ở những nhiệt độ phản ứng thấp (55 oC), hiệu suất biodiesel ở tỉ lệ mol metanol cao (9:1) lớn hơn so với hiệu suất ở tỉ lệ mol metanol thấp (5:1). Nhưng khi càng tiến đến nhiệt độ phản ứng cao (65 o C) thì ngược lại, hiệu suất biodiesel ở tỉ lệ mol metanol:mỡ cá cao lại thấp hơn so với hiệu suất ở tỉ lệ mol metanol:mỡ cá thấp. Tuy nhiên, sự biến đổi của hiệu suất biodiesel theo nhiệt độ khác nhau ở các tỉ lệ mol metanol:mỡ cá. Ở các giá trị tỉ lệ mol metanol:mỡ cá thấp (7:1), khi nhiệt độ tăng dần từ 55 oC – 65 oC thì ban đầu hiệu suất cũng tăng dần, cho đến khi đạt đến giá trị cực đại ở khoảng nhiệt độ trung bình (59 oC – 60 oC), sau đó khi nhiệt độ tiếp tục tăng thì hiệu suất lại giảm dần. Trong khi đó, ở những tỉ lệ mol metanol:mỡ cá cao, khi nhiệt độ phản ứng tăng thì hiệu suất tạo biodiesel tăng rất chậm và nhanh chóng đạt đến cực đại rồi duy trì gần như không đổi ở khoảng nhiệt độ 57 – 59 oC, nhưng sau đó hiệu suất lại giảm đi rất nhanh khi nhiệt độ tiếp tục tăng cao. Kết quả phân tích mô hình bề mặt cũng cho thấy rằng, ở tỉ lệ mol metanol:mỡ cá thấp (7:1), hiệu suất biodiesel ở nhiệt độ phản ứng thấp (55 o C) thấp hơn so với ở hiệu suất nhận được ở nhiệt độ phản ứng cao (65 oC). Tuy nhiên, khi tỉ lệ mol metanol:mỡ cá tăng dần từ 7:1 đến 9:1 thì lúc này hiệu suất ở hai mức cao và thấp của nhiệt độ phản ứng cũng tăng lên. Nhưng hiệu suất sẽ tăng nhanh hơn ở nhiệt độ phản ứng thấp và đạt điểm cực đại ở tỉ lệ mol khoảng 8:1, sau đó duy trì gần như không đổi trong khoảng tỉ lệ mol trung bình (8:1 – 8,3:1). Trong khi đó, hiệu suất biodiesel ở nhiệt độ phản ứng cao lại tăng chậm và đạt đến mức cực đại ở khoảng tỉ lệ mol metanol:mỡ cá mỡ cá thấp hơn, sau đó giảm xuống khi tỉ lệ mol metanol:mỡ cá tăng đến 9:1. Do đó, ở tỉ lệ mol metanol:mỡ cá cao thì hiệu suất biodiesel ở nhiệt độ phản ứng thấp (55 oC) lại cao hơn so ở nhiệt độ phản ứng cao (65 oC). Sự thay đổi của hiệu suất tạo biodiesel quan sát thấy trên mô hình bề mặt đáp ứng này, có thể được giải thích nhờ vào các hệ số hồi qui, biểu diễn ảnh hưởng của hai nhân tố tỉ lệ mathanol:mỡ cá và nhiệt độ phản ứng, trong phương trình hồi qui thu được. Từ phương trình hồi qui, ta nhận thấy các hệ
  46. 46. số hồi qui bậc 1 của hai nhân tố này đều mang dấu dương, nghĩa là các ảnh hưởng bậc 1 này làm tăng hiệu suất tạo biodiesel. Trong khi đó, hệ số hồi qui bậc 2 của tỉ lệ mol metanol:mỡ cá bình phương và nhiệt độ phản ứng bình phương, cùng với hệ số bij biểu diễn tương tác đồng thời của chúng đều mang dấu âm, tức các ảnh hưởng này làm giảm hiệu suất biodiesel. Đồng thှø`7

×