PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG ĐỘC QUYỀN MỸPHÁP LUẬT VỀ CHỐNG ĐỘC QUYỀN MỸ(THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM SAU 115 NĂM)Khoa học pháp lý, số 4...
Luật ShermanTrong những năm sau đó, pháp luật chống độc quyền Mỹ tiếp tục hoàn thiện bởi Đạo LuậtSherman không dự liệu khả...
Electric và Vectingas. Vào những năm 1960 các công ty này ra hầu tòa, 7 trong trong số nàychịu án tù, tổng số tiền phạt lê...
thuận hay không, nếu nó không lớn hơn giá Demping và không mang lại hậu quả xấu chocạnh tranh.Luật Clayton nghiêm cấm các ...
kiến phản đối, các bên có thể thực hiện việc mua, bán, sát nhập theo kế hoạch của mình. Việcthông báo về dự định sát nhập ...
hơn so với pháp luật chống độc quyền của Nhật và các quốc gia châu Âu..Tuy nhiên việc xác định thị phần của một công ty tr...
con số thống kê từ năm 1958 đến 1980 tốc độ khả năng cạnh tranh cũa nền kinh tế Mỹ tănh từ56% đến 75%. Trong khỏng thời gi...
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Pháp luật về chống độc quyền mỹ

3,859 views

Published on

1 Comment
1 Like
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và THẠC SỸ (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ. DỊCH VỤ LÀM SLIDE POWERPOINT:10.000VNĐ/1SLIDE
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
3,859
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
70
Comments
1
Likes
1
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Pháp luật về chống độc quyền mỹ

  1. 1. PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG ĐỘC QUYỀN MỸPHÁP LUẬT VỀ CHỐNG ĐỘC QUYỀN MỸ(THÀNH TỰU VÀ KINH NGHIỆM SAU 115 NĂM)Khoa học pháp lý, số 4 năm 2000 Một trong những nhiệm vụ cấp bách trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật kinhtế hiện nay tại Việt Nam là xây dựng Luật bảo vệ cạnh tranh và kiểm soát độc quyền.Kết hợpmột cách khoa học giữa lý luận và thực tiễn, vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm các quốc giacó hệ thống pháp luật điều chỉnh độc quyền ở trình độ phát triển cao vào hoàn cảnh cụ thểcuả Việt Nam là điều cần thiết. TTKHPL xin giới thiệu bản lược dịch bài viết của GS Đại họcTổng hợp Quốc tế Mátxcơva G.I. Nhikerốp, đăng trên tạp chí “Nhà nước và pháp luật”; số 6năm 1999.Tại Mỹ, Luật pháp chống độc quyền (chống tờ-rớt) là sản phẩm thuần Mỹ, là kết quả của mộtxã hội mà trong đó mọi mặt của cuộc sống xã hội: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, khoahọc đều thể hiện sự ganh đua chèn ép để vượt lên trên.Quá trình hình thành và phát triển pháp luật chống tờ-rớt.Cuộc cách mạng công nghiệp vào giữa thế kỷ 18 là động lực của phát triển kinh tế nướcMỹ.Trong bối cảnh ấy hình thành hàng loạt các công ty tập đoàn lớn. Hệ quả của quá trìnhnày là sự hạ giá của hàng loạt hàng hóa, dịch vụ trong đó có vé tàu hỏa, sự thua lỗ và phá sản.Vào những năm 80, các công ty thay đổi chiến lược : Thỏa thuận với nhau nhằm ổn định vàtăng giá hàng hóa dịch vụ , phân chia thị trường, hình thành các tập đoàn, sát nhập các côngty. Đời sống các tầng lớp nhân dân lao động, thợ thuyền, những người kinh doanh, buôn bánnhỏ ngày càng khốn đốn. Đối đầu với các thế lực độc quyền là các đảng phái cực tả và cáctầng lớp nhân dân.Dước các áp lực các lực lượng này, lần lượt các Tiểu Bang và cuối cùng là Liên bang thôngqua các Đạo luật chống Tờ-rớt. Đạo luật chống Tờ-rớt đầu tiên của Mỹ là Luật của BangAlabama năm 1883. Tám năm sau 18 Bang có luật chống Tờ_rớt của bang mình.Vào năm 1890 Dự luật chống độc quyền của Nghị sỹ Sherman của Bang Ohio được Hạ ViệnMỹ thông qua và Tổng thống Harrison ký công bố. Đạo luật Sherman cấm hạn chế thươngmại và các hành vi độc quyền hóa thị trường, giao cho Bộ Tư Pháp tiến hành điều tra, khởi tốcác vụ việc liên quan đến độc quyền . Đạo Luật này được đánh giá là viên gạch đầu tiên củahệ thống pháp luật chống độc quyền tại Mỹ. Song trên thực tế, từ lúc ban hành đến năm 1895,Đạo Luật Sherman được sử dụng như là một công cụ hữu hiệu chống các cuộc đình công củathợ thuyền. Mãi cho đến năm 1897 nó mới được sử dụng đúng chức năng thực sự của nó đểluận tội các thỏa thuận ngầm về giá. Vào năm 1904, Tổng thống Roosevelt đã sử dụng Đ. 2Luật này để tấn công vào 3 Tờ-rớt khổng lồ của nước Mỹ. Đến những năm 1911-1912, Đạoluật này thực sự là lá chắn của Nhà nước để thúc đẩy cạnh tranh.Bản án tiêu biểu nhất trong giai đoạn này do Tòa thượng thẩm khu vực số 6 xét xử vụ US. vs.Addiston Pipe and Steel. Co, do Bộ Tư Pháp khởi kiện. Các bị đơn (các nhà sản xuất ốnggang) ký kết một thỏa thuận về giá cho sản phẩm của họ. Tòa thượng thẩm phán quyết rằngđây là hành vi phạm luật, còn tự bản thân (per se) thỏa thuận ngầm (không nhất thiết chứngminh hậu quả đối với cạnh tranh) đã hội đủ yếu tố cấu thành để truy cứu trách nhiệm pháplý . Kể từ đây, hình thành một học thuyết tư pháp (per se) như là một tiền lệ tồn tại cho đếnsau này và áp dụng trong việc xét xử các vụ việc chống tờ-rớt.Cùng thời gian này vào năm 1911, Tòa Tối cao Mỹ cũng hình thành một tiền lệ khác có tênlà: Qui tắc hợp lý ( mặc nhiên) khi xét xử vụ U.S. vs Standard Oil of New Jersey, nội dungcủa tiền lệ thể hiện việc áp dụng một cách thận trọng khi ra các quyết định về giải thể, chiatách các công ty độc quyền, tức xem xét tổng thể cái lợi, hại, được, mất khi tiến hành giải thể,chia tách và thu hẹp một số hành vi cấm độc quyền thị trường được quy định tại Đ.2 Đạo
  2. 2. Luật ShermanTrong những năm sau đó, pháp luật chống độc quyền Mỹ tiếp tục hoàn thiện bởi Đạo LuậtSherman không dự liệu khả năng ngăn chặn và hình thành độc quyền nhóm trên các lĩnh vực.Dưới thời Tổng Thống Wilson thông qua hai Đạo Luật: Đạo Luật Clayton và Đạo Luật về Ủyban Thuơng mại Liên bang (UBTMLB). Nội dung Đạo Luật Clayton cấm các hành vi sátnhập, nhằm hạn chế cạnh tranh về giá, các hợp đồng độc tôn và điều kiện ràng buộc. Nộidung Đạo Luật thứ hai qui định địa vị pháp lý của Ủy ban Thương mại Liên bang- cơ quanchuyên trách về cạnh tranh và độc quyền, hoạt động độc lập với Bộ tư pháp. Vào năm 1936dưới áp lực của các công ty thương mại nhỏ, Hạ viện Mỹ thông qua Đạo Luật Robinson-Petman để bổ sung Đạo Luật Clayton, cụ thể hoá các hành vi phân biệt đối xử về giá, đặc biệtlà Đạo Luật Seller-Kefover 1950 thay đổi Đ.7 Đạo Luật Clayton, tấn công vào các hành viliên kết theo chiều dọc cuả các công ty tập đoàn.Sự thay đổi cơ bản trong pháp luật chống độc quyền ở Mỹ thời gian sau đó phải kể đến LuậtHart – Scott - Rodino 1976 và các đạo luật khác ban hành trong giai đoạn những năm 70 đến90. Các đạo luật này sửa đổi cách phân loại tội phạm theo Luật Sherman từ ít nghiêm trọngđến đặc biệt nghiêm trọng và tăng mức phạt lên 20 lần, quy định nghĩa vụ các công ty phảithông báo các kế hoạch sát nhập lớn, tăng gấp đôi chi phí từ ngân sách liên bang cho Cụcchống tờ-rớt thuộc Bộ tư pháp và Ủy ban Thương mại Liên bang. Bộ máy kiểm soát cạnhtranh và chống độc quyền hiện nay của Mỹ với một cơ cấu khổng lồ và thực sự có năng lựcvới hàng chục ngàn luật gia và các nhà kinh tế có bề dày kinh nghiệm và các chuyên giatrong mọi lĩnh vực. Pháp luật chống độc quyền được đưa vào giảng dạy trong các chươngtrình đào tạo tại một số trường đại học tại Mỹ với tư cách là một môn học với vô vàn các tàiliệu tham khảo, giáo trình...SỰ ĐIỀU CHỈNH CÁC HÀNH VI THỊ TRƯỜNG.Vấn đề điều tra các hành vi cạnh tranh bất hợp pháp được xem là vấn đề quan tâm hàng đầutại Mỹ, bởi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh và độc quyền diễn rarất phức tạp.Chương I Đạo Luật Sherman cấm các thỏa thuận và hợp nhất thành các tờ-rớt, các hình thứcthoả thuận nhằm thiết lập vị thế thống trị và ngăn cản phát triển thương mại công nghiệp giữacác bang hoặc với nước ngoàiNhững hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang và theochiều dọc. Hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang: là các hành vi thỏa thuận giữa các công ty xínghiệp cạnh tranh. Hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc là thỏa thuận giữa người sản xuất, cungcấp với người mua, người tiêu thụĐặc biệt Nhà nước Hoa Kỳ có sự “quan tâm đặc biệt” đến các thỏa thuận giữa các nhà cạnhtranh về việc định giá mang tính độc quyền đối với hàng hóa và dịch vụCác thẩm phán cho rằng: Nếu việc chứng minh được yếu tố thỏa thuận về giá thì tự bản thânsự thỏa thuận ấy mặc nhiên (per se) là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý. Nguyên đơnkhông có nghĩa vụ chứng minh rằng thiệt hại do sự thỏa thuận mang lại đã hiện hữu hay sẽxảy ra.Học thuyết per se lúc đầu đưa ra như một án lệ và sau đó được khẳng định bởi Tòa án Tối caoMỹ vào năm 1927 qua bản án U.S. vs Trenton Potterries Co. Hồ sơ vụ án như sau: 20 công tytư nhân và 23 công ty cổ phần kiểm soát 82% thị trường vật liệu, thiết bị vệ sinh tiến hànhthành lập hiệp hội. Hiệp hội này định giá cung cấp, giá cho người bán sỉ và ràng buộc nhữngngưới bán sỉ phải bán lẻ với giá do họ đưa ra. Thẩm phán Stown nhận định: ”tự bản thân việcthỏa thuận hạn chế về giá mặc nhiên là bất hợp pháp và không thiện chí, mà không phải điềutra chứng minh sự bất hợp pháp và không thiện chí của từng loại giá cụ thể”Một biểu hiện khác của hành vi thỏa thuận về giá là hành vi thỏa thuận ép giá trong đấu thầu.Ví dụ: sự thỏa thuận ép giá để thắng thầu của 29 công ty sản xuất thiết bị, cơ sở hạ tầng chongành điện trong một thời gian dài trong đó có “con bạch tuột nổi tiếng “ như General
  3. 3. Electric và Vectingas. Vào những năm 1960 các công ty này ra hầu tòa, 7 trong trong số nàychịu án tù, tổng số tiền phạt lên đến 1,9 triệu USD và bồi thường thiệt hại 405 triệu USDElzinga K.G; Breit W, The antitrusst penalties, New haven and London 1976; p. 32;56;141..Trong thời gian từ 1988 đến 1991 Bộ tư pháp tiến hành điều tra và truy tố các thủ đoạn đấuthầu cung cấp sữa cho các trường phổ thông, khởi tố 73 vụ án hình sự ở 10 bang, 36 công tybị truy tố, tổng số tiền phạt lên đến 26 triệu USD An. Agenda for the antitrust division-Cambrige 1992 p. 3,4.Bên cạnh các thỏa thuận về giá là sự thỏa thuận về phân chia thị trường, mỗi địa hạt thống trịmột công ty độc quyền, thao túng giá sản phẩm. Vào năm 1972, Tòa Tối cao vận dụng tiền lệ“per se” vạch trần các hành vi cuả Hiệp hội: Topkoy associates trong việc thỏa thuận phânchia thị trường. Hiệp hội này bao gồm 25 doanh nghiệp vừa và lớn trong việc sản xuất và bánsỉ hơn 1000 mặt hàng. Hiệp hội này phân chia thị trường tiêu thụ cố định cho mỗi thành viên.Thẩm phán Marsall cho rằng đây là những hành vi độc quyền theo chiều ngang và hạn chếcạnh tranh, tiêu diệt tự do thương mại.Trong một số trường hợp, việc trao đổi các thông tin về giá giữa các công ty cạnh tranh cũngđược xem xét như là một hành vi cạnh tranh bất hợp pháp. Vào năm 1969 Tòa tối cao Mỹ xétxử vụ tập đoàn “ congteine” và 17 nhà sản xuất côngtơnơ tôn sóng (các công ty này cung ứng90% lượng côngtơnơ tôn sóng cho các Bang phía đông nam) thỏa thuận thông báo chi tiếtcho nhau về giá cung cấp khi bán hàng hóa của mình cho các nhóm người mua số lượng lớn.Thẩm phán nhận định rằng đây là hành vi bất hợp pháp.Trong vụ Klor kiện Brodvey-keil storis được Tòa tối cao Mỹ xét xử vào năm 1959, Tập đoànthương mại Brodvei khei storis (bị đơn) là người mua chính các sản phẫm thiết bị điện dândụng buộc các nhà cung cấp chấm dứt quan hệ thương mại hoặc quan hệ với các điều kiệnkhắt khe, bất hợp lý với nguyên đơn chỉ vì công ty này hạ giá.. Nhận định của Thẩm phánrằng trong trường hợp này là hành vi thỏa thuận để tẩy chayPháp luật chống độc quyền Mỹ chú trọng đến các hiện tượng thỏa thuận về giá hình thành thịtrường theo chiều dọc. Sự thỏa thuận tăng giá không chỉ trong khuôn khổ các công ty cạnhtranh mà còn giữa các công ty cạnh tranh với các cá nhân riêng biệt tạo thành một mắt xích:nhà sản xuất- người bán sỉ- người bán lẻ- người mua. Hành vi trên gọi là thỏa thuận cản trởcạnh tranh theo chiều dọc hay hạn chế thương mại theo chiều dọc và là hành vi phạm luật. Đ.3 Luật Clayton cấm người bán thiết lập giá bán lại, nếu sự định giá này làm suy yếu cạnhtranh và thiết lập, hình thành độc quyền.Vào năm 1911 tòa Tối cao Mỹ xét xử vụ công ty dược Mailz. Công ty này tiến hành kiểmsoát và định giá sản phẩm của mình trong việc bán sỉ và bán lẻ của các cửa hàng tự do, ngoàira công ty này còn định giá tối thiểu trong việc bán lại sản phẩm. Tòa án nhận định đây là làhành vi bất hợp pháp. Thẩm phán lý giải nhận định của Tòa án như sau :1. Người sản xuất hoặc người bán lại, khi bán hàng của mình, nhận tiền tức là đã từ bỏ quyềnsở hữu của mình đối với hàng hóa đã bán vì vậy việc quan tâm đến giá cả của nó trong tươnglai là không cần thiết.2. Thiết lập giá cho người trung gian và sự chấp mhận giá tối thiểu trong việc bán lại hànghóa, thực tế là sự thỏa thuận về giá và chịu chế tài của pháp luật.Cho đến năm 1977 tòa án áp dụng tiền lệ “per se” để xét xử các vụ án độc quyền theo ngànhdọc. Tuy nhiên sau bản án của Tòa Tối cao về vụ Continental T.V., Inc. vs GTE Sylvania Inc,tiền lệ này được sửa đổi theo hướng nhẹ hơn. Quan điểm này được nhận định rõ trong vụ ánBusiness Electronics. vs. Sharp Electronics rằng học thuyết per se tòa án chỉ áp dụng trongtrường hợp nhận thấy sự thỏa thuận về giá giữa người cung cấp và người bán một cách rõràng. Cuối cùng qua bản án Y.E.A Petrol kiện công ty dầu khí Atlantic Rirfirt học thuyết perse đã bị hủy bỏ. Tòa án cho phép thực hiện các thỏa thuận theo chiều dọc về giá tối đa bởi:Một mức giá thấp là có lợi cho người tiêu dùng không phụ thuộc vào việc đấy là giá thoả
  4. 4. thuận hay không, nếu nó không lớn hơn giá Demping và không mang lại hậu quả xấu chocạnh tranh.Luật Clayton nghiêm cấm các hành vi thương mại với mục đích hạn chế sự tự do lựa chọncủa người mua làm giảm sức cạnh tranh, như là các hợp đồng ràng buộc các điều kiện vềphạm vi lãnh thổ của người phân phối, các hợp đồng loại trừ (chỉ mua từ những người bánnhất định và bán cho những người mua nhất định).Đ. 2 Luật Clayton nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử nếu nó xâm hại sự cạnh tranhlành mạnh và thiết lập độc quyền phân biệt đối xử về giá , tức là khi cùng một mặt hàng cócông dụng như nhau được bán với giá khác nhau cho người tiêu dùng.Việc phân biệt về giá còn thể hiện ở việc các công ty lớn sử dụng hàng loạt các biện phápkhuyến mãi về giá đối với những nhóm người mua cụ thể hoạt động trên địa bàn cụ thể nhằmđánh bật và loại trừ đối thủ của mình ra khỏi thị trường để tạo thế độc quyền và sau đó tănggiá thu lại các khoản lợi nhuận kết xu. Từ 1914 đến nay (1999) UBTMLB ban hành hơn 2000văn bản cấm phân biệt đối xử về giá.Ví dụ về phân biệt đối xử giá diễn ra sôi động nhất trên thị trường sản xuất và phân phối thựcphẩm. Công ty thực phẩm đa quốc gia Continental baking, Petmillk và Karnation thống lĩnhthị trường bánh kem từ trước năm 1957 tại TP Soltlak Citi Bang Yta.Tuy nhiên hai năm saumột công ty “Yta Time” không lớn lắm tại điạ phương, đã vươn lên chiếm 67% thị phầnthông qua việc hạ giá bởi tiết kiệm được chi phí sản xuất và vận chuyển. Đối phó với “Ytatime” ba con “bạch tuột” trên đã thỏa thuận với nhau giá bán thấp hơn giá thành tự có và thấphơn giá cuả Yta time. Vào năm 1959 thị phần của Công ty này chỉ còn 34% buộc nó phải hạgiá sản phẩm từ 4,15 USD xuống 2,75 USD / 1 bánh . Mãi đến những năm 1960-1961 Ytatime mới giành lại được khoảng 45-46% thị trường và tiến hành kiện ra tòa. Vụ việc đượcTòa án Tối cao xét xử vào năm 1967 và phán xét hành hành động của công ty đa quốc gia làhành vi cạnh tranh bất hợp pháp. Theo nhận định của thẩm phán : Một người bán không cóquyền bán cùng loại sản phẩm cho các người mua khác nhau bằng các giá khác nhau, nếuhành vi này mang lại những thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh. Trong vụ này, việc công ty đaquốc gia chỉ hạ giá sản phẩm của mình trong một địa điểm nhất định là Thành phố Soltlai Citiđể gạt đối thủ cạnh tranh ra khỏi thĩ trường.Việc hạ giá của công ty Ytabai là hành vi hợp pháp bởi:q Thứ nhất: Giá bán của Ytabai gần với giá thành sản phẩm hơn hơn giá cuả công ty đa quốcgiaq Thứ hai: Theo pháp luật hiện hành các công ty nhỏ và các công ty mới thành lập được phéphạ đến một mức giá nhất định để hội nhập vào thị trườngĐiều chỉnh cấu trúc thị truờngChức năng quan trọng của pháp luật chống độc quyền là điều chỉnh cấu trúc thị trường, chứcnăng này thể hiện ở hai hướng:Ngăn chặn các hành vi sát nhập phản cạnh tranhBan hành các biện pháp làm suy yếu những lĩnh vực thị trường đã độc quyềnĐiều 7 Đạo luật Clayton ngiêm cấm các hành vi sát nhập công ty nếu làm suy yếu cạnh tranhmột cách trầm trọng và hình thành thế độc quyền. Đạo luật bổ sung luật luật Clayton yêu cầucác công ty phải báo cáo trước cho Cục chống độc quyền thuộc Bộ tư pháp và UBTMLB vềkế hoạch sát nhập ( mua lại)Theo pháp luật hiện hành , người mua, người bán có nghĩa vụ thông báo nếu:1. Hành vi mua bán diễn ra tại Mỹ với giá lớn hơn 100 triệu USD hoặc tài sản có tại Mỹ lớnhơn 10 triệu USD và ngược lại2. Giá trị hợp đồng mua bán không nhỏ hơn 15 triệu USD (hoặc không nhỏ hơn 25 triệu USDnếu người bán không phải là một công ty Mỹ) hoặc nắm giữ không thấp hơn 15% số cổ phiếucó quyền biểu quyết.Thời hạn xem xét đơn là 15-> 20 ngày. Nếu sau thời gian này các cơ quan trên không có ý
  5. 5. kiến phản đối, các bên có thể thực hiện việc mua, bán, sát nhập theo kế hoạch của mình. Việcthông báo về dự định sát nhập là nghĩa vụ bắt buộc. Không tuân thủ qui định này đã đủ cơ sởđể áp dụng các chế tài. Ví dụ vào năm 1991 công ty Atlantia rirfild và Union Karbaid phảinộp phạt 2 triệu USD vì lỗi trên.Kiểm soát sát nhập, mua lại được tiến hành dưới nhiều mức độ khác nhau phụ thuộc vào quimô sát nhập, đặc biệt là các sát nhập theo chiều ngang. Khi xét xử các vụ này Tòa án tuân thủcác nguyên tắc sau:q Không thể sát nhập các công ty là các nhà sản xuất với qui mô lớn sản xuất cùng một sảnphẩm trong cùng một khu vực địa lý;q Không thể sát nhập một công ty tương đối lớn với một công ty lớn nhất cùng một lĩnh vựcđã tồn tại.Tòa án đặc biệt chú ý đến mức độ tập trung tích tụ thị trường và xu hướng phát triển. Sự sátnhập các công ty với mức độ tập trung tích tụ cao với xu hướng hình thành vị thế độc quyềnđược các thẩm phán chú ý kiểm soát gắt gao.Bộ Tư pháp, UBTMLB thường xuyên ban hành các văn bản pháp quy điều chỉnh và hướngdẫn việc sát nhập các công ty . Các văn bản này hướng dẫn việc xác định mức độ tập trungtích tụ hình thành vị thế độc quyền và nguy hại đến cạnh tranh . Thông thường được dựa trêncác yếu tố sau:q Nguy cơ tác hại đối với sự cạnh tranh;q Khả năng hội nhập vào thị trường của các công ty mới thành lập;q Năng suất hiệu quả sản xuất;q Sự phá sản.Dựa vào các kết quả nghiên cứu các cơ quan có thẩm quyền ban hành các quyết định cuốicùng.Đ 1.5 Thông tư năm 1992 đưa ra tiêu chuẩn (hệ số) Kherrphindala-khersman để đánh giámức độ tích tụ thị trường của các công ty lớnTiêu chuẩn Kherrphindala-khersman là tổng bình phương thị phần của các công ty tham giathị trường :Ví dụ; trên thị trường , trong một lĩnh vực nào đó có 4 công ty chiếm lần lượt là30,25,20,15% . ta có :30 bình phương+ 25 bình phương +20 bình phương +15 bình phương= 2150(Trong trường hợp này 2150 là chỉ số Kherrphindala-khersman)Nếu chỉ số này càng gần số 0 thì đó là một cấu trúc thị trường được chia cắt nhỏ, hoàn hảo.Nếu chỉ số này là 10.000: đó là thị trường độc quyền 100%, nếu chỉ số này dưới 1000 đượccác nhà chức trách ở Cục chống độc quyền và UBTMLB xem là thị trường không có sự tíchtụ và hoạt động bình thường, nếu chỉ số từ 1000 đế 1800: thị trường tích tụ, tập trung, từ 1800trở lên: thị trường tập trung và tích tụ cao.Các cơ quan như UBTMLB và Cục chống độc quyền theo dõi diễn biến chỉ số này trước vàsau khi sát nhập. Nếu sau khi sát nhập chỉ số này dưới 1000 thì thị trường hoạt động bìnhthường. Khả năng nếu sau khi sát nhập chỉ số từ 1000--> 1800 là hiện tượng thị trường tích tụôn hòa có chừng mực. Chỉ số tăng lên 100 đơn vị sau sát nhập được coi là không nguy hiểmvà có thể cho phép sát nhập. Nếu chỉ số này tăng lên trên 100 đơn vị sau khisát nhập đượcxem là biểu hiện của tích tụ cao và các cơ quan chức năng cần thiết can thiệp. Trong trườnghợp trước sát nhập chỉ số này đã lớn hơn 1800 được coi là thị trường có mức độ tích tụ cao,bất kỳ một sự sát nhập nào làm tăng thêm chỉ số này lên trên 50 đơn vị đều không được phép.Theo thống kê, năm 1987 các công ty thông báo 2256 vụ sát nhập trong đó có 14 trường hợpcác cơ quan chức năng không cho phépĐ. 2 Luật Sherman quy định rằng: Sự độc quyền bất hợp pháp không chỉ khi sự độc quyền ấyđã tồn tại hiện hữu mà trong cả các trường hợp những hoạt động của công ty ấy hướng tớimục đích hình thành độc quyền. Đây là điểm khác biệt , đồng thời cũng là qui định khắt khe
  6. 6. hơn so với pháp luật chống độc quyền của Nhật và các quốc gia châu Âu..Tuy nhiên việc xác định thị phần của một công ty trên thị trường là một công việc không dễdàng. Vì vậy trong thực tế tồn tại hai khái niệm thị trường:”thị trường hàng hoá”và “thịtrường địa lý”. Đối với thị trường hàng hoá cần xác định sản phẩm nào thuộc diện tính trongthị phần trong thị trường khu vực và thị trường quốc gia.Trong vụ án “Alkoa” đại diện của bịđơn yêu cầu cầnphải tính cả hàng nhôm nguyên chất lẩn các kim loại pha nhôm (toàn bộ cácloại sản phẩm của công ty). the cách tính này công ty của họ chỉ chiếm 33% thị phần. Songtoà án nghiêng về phía lời buộc tội cuả các cơ quan chống độc quyền (nguyên đơn) là chỉ tínhtỷ lệ thị phần của riêng hàng nhôm nguyên chất và thị phần của bị đơn đối với hành này là90%Trong một trường hợp khác, trong vụ “xelôphan” (giấy bóng kính) tòa án tối cao đưa ra mộtquyết định ngược lại trong vụ “Alkao” nghiêng về phía bị đơn là công ty Dubon. Đại diện bịđơn khẳng định rằng vì nhu cấu các loại dụng cụ đóng gói không ổn định, vì vậy trong cácloại hàng hóa là dụng cụ đóng gói thuộc diện tính thị phần không chỉ giấy bóng kính mà cảcác loại chất liệu mềm khác có cùng chức năng đóng gói mà công ty sản xuất. Nếu tính theocách này thị phần của cộng ty chỉ chiếm 18%. Trong khi quan điểm các cơ quan chống độcquyền cho rằng chỉ nên tính riêng mặt hàng giấy bóng kính và mặt hàng này của bị đơn chiêm100% thị phầnLiên quan đếnkhái niệm thị trường địa lý , tùy vào từng trường hợp cụ thể mà toà án xác địnhphạm vi điạ lý để tính thị phần. ví dụ :trong vụ kiện tập đoàn Fhiladenfianational vào năm1963, bị đơn khiếu nại rằng thị trường cung ứng các dịch vụ của nó là cả nước và thực tế thịphần của nó lớn hơn nhiều. Song Tòa tối cao Mỹ nghiêng về phía nguyên đơn và xác định thịtrường địa lý của nó chỉ bao gồm Philadenphia và 4 vùng ngoại thành và thị phần của nó là36%, sau khi sát nhập với các tập đoàn khác thì chỉ số Kherrphindala-khersman rất lớn và làbiểu hiện của độc quyềnTrong thực tế một thị phần lớn không là bằng chứng duy nhất và quyết định đối với tòa ántrong việc quyết định giải thể một tập đoàn nào đó. Các cơ quan chức năng và Tòa án nhấtphải xem xét các hành vi nhằm mục đích cản trở hạn chế cạnh tranh, các hoạt động cạnhtranh bất hợp pháp. Ngoài ra việc áp dụng pháp luật chống độc quyền trong thực tế còn phảitính đến các yếu tố: Hàng hoá ,dịch vụ của công ty này phải đơn giản có một chuẩn mực cụthể; các công ty không là các điển hình cuả sự nghiệp cách tân đổi mới,Thị phần lớn không làkết quả của trực tiếp từ tài năng thực sự của những người điều hành, những người lao độngtrong công ty tập đoàn ấy, và cũng không là kết quả từ qui mô đầu tư và sản xuất, Có lợinhuận cao, kếch xù, việc tiến hành điều tra không ảnh hưởng (hoặc ảnh hưởng rất ít ) đến giácổ phiếu của công ty ấyTrong quá trình tồn tại, pháp luật chống độc quyền của Mỹ đã phát huy hết vai trò của mình.Các phán quyết của Tòa án về việc giải thể, chia tách hợp nhất 3 tập đoàn lớn ở nước ngoàinhư tập đoàn dầu Standard oil tập đoàn thuốc lá American tabaco thị phần của chúng chiếm90% và tập đoàn thuốc súng Dypon vào năm 1912. Ngoài hình thức buộc giải thể, chia thànhcác công ty nhỏ toà án còn áp dụng thêm các hình thức khác như hoàn toàn việc sát nhập, hộpnhất trong tương lai đối với một số trường hợp, Cấm các hành vi, hoạt động và các phươngthức kinh doanh cụ thể đối với một số trường hợp mà theo tòa án có thể hình thànhvị thế độcquyền, Trong phán quyết của Tòa án đối với tập đoàn American telephon and telegrap mộttrong những tập đoàn có tài sản lớn nhất hành tinh tai thời diểm bấy giờ các biện pháp nàyđược áp dụng như buộc chia nhỏ ra 22 công ty con dưới sự giám sát của tòa án và các cơquan chức năngSự ảnh hưởng của pháp luật chống độc quyền Mỹ đến pháp luật cạnh tranh và chống độcquyền các quốc gia khácPháp luật chống độc quyềnMỹ đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trongkinh doanh,góp phần điều chỉnh cấu trúc thị trường và sự vận hành của nền kinh tế cuả quốc gia. theo các
  7. 7. con số thống kê từ năm 1958 đến 1980 tốc độ khả năng cạnh tranh cũa nền kinh tế Mỹ tănh từ56% đến 75%. Trong khỏng thời gian từ 1975 đến 1980 thị phần cuả các cộng ty , tập đoànlớn không tăng hoặc thậm chí còn giảm, khả năng cạnh tranh tăng. theo số liệu của J. Sefard (Đại học tổng hợp bang Michigan) độc quyền thực sự (vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay,nhưng chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực nhất định như điện lực, thông tin nhưng không hoàntoàn chiếm 100% thị phần và chịu sự kiểm soát gắt gao ) giảm thị phần từ 6 đến 2 %; Nhữngcông ty, tập đoàn trọng điểm (chiếm lĩnh trên 50% thị phần) giảm thị phần từ 5đến 3% ; cáctập đoàn tài phiệt (mỗi tập đoàn có thị phần hơn 50%) giảm thị phần từ 36 đến 18 %.Pháp luật chống độc quyền Mỹ có những ảnh hưởng nhất định đến việc hình thành và pháttriển pháp luật chống độc quyền các quốc gia.Các qui định pháp luật trong Đạo luật Sherman,phương thức điều tra, thu thập chứng cứ các hành vi hạn chế cạnh tranh, thiết lập vị thế độcquyền, học thuyết per se và các tiền lệ trong tư pháp được các nhà làm luật và các cơ quan tưpháp các quốc gia khác sử dụng như một cẩm nang trong việc xây dựng và thực thi pháp luậtchống độc quyền.Trong thời gian gần đây , trong thương mại quốc tế các công ty tập đoàn Mỹ đối đầu với cáctập đoàn hùng mạnh khả năng cạnh tranh cao từ Nhật và các quốc gia Tây Âu. Các công tytập đoàn của Mỹ đã nhường chỗ cho các công ty này trên phương diện qui mô vốn.Một thựctế hiện nay đối với các công ty, tập đoàn tham gia vào thương mại quốc tế là khả năng cạnhtranh với các công ty nước ngoài phụ thuộc vào độ lớn về vốn. Chính vì vậy, Luật chống độcquyền Mỹ phát triển theo hướng: Pháp luật chống độc quyền không hoàn toàn nhằm chia cắtmà hướng các hoạt động, các hành vi cuả tiến trình độc quyền theo hướng lành mạnh

×