I. Một số lý luận chung về độc quyền:    Một thị trường độc quyền được đặc trưng bởi:    1. Một người bán hoặc một người m...
- Xuất, nhập khẩu báo chí, sách giáo khoa    - In ấn và sản xuất phim truyền hình    - Thuốc lá (sản xuất và lưu thông, ph...
độc quyền. Trên thực tế, vừa là DNNN cung cấp hạ tầng, nắm giữ đường trục chính,đồng thời lại vừa là nhà cung cấp dịch vụ ...
những chi phí vì nghĩa vụ chính sách, công ích. Theo các chuyên gia kinh tế, việc địnhgiá này là bất hợp lý bởi các chi ph...
Kiểu của kẻ độc quyền là cứ dư cầu, hụt cung thì tăng giá. Quả thật, tăng giá điệnlà lợi đơn, lợi kép. Kêu gọi tăng giá để...
Trong tổng số 500 loại thuốc nước ngoài tăng giá (theo kết quả của những cuộcthanh tra gần đây) thì đã có 157 loại thuốc d...
USD và 9 tháng đầu năm 2003 là 51 triệu USD (doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩuchỉ thực hiện dịch vụ nhập khẩu và hưởng phí ủ...
đại học (trong 10 năm liền, thậm chí có năm còn bán cả đính chính các lỗi trong bộđề). Đặc quyền này đã đưa NXB Giáo dục l...
thành sản phẩm, góp phần giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và củacả những sản phẩm dịch vụ về tiềm năng c...
vừa thiếu như từng gặp phải trong SGK hiện nay, sẽ giảm đi rất nhiều. Về phía quản lýnhà nước, cụ thể là với ngành giáo dụ...
Theo quy định hiện hành, mỗi loại thuốc muốn lưu hành ở Việt Nam phải đượcCục Quản lý dược cấp một số đăng ký, gọi là số v...
điện. Như vậy, trước khi thực hiện các hành động đối với giá điện và ngành điện, nênlưu ý một số vấn đề sau:    Trước hết,...
thuốc, chính vì vậy tất cả mọi người đều mua bảo hiểm), nhà hàng thuốc sau đó sẽ lấylại số tiền chênh lệch này từ công ty ...
Vấn đề giá thuốc cao không phải là vấn đề của riêng Việt Nam mà của cả thế giớido thuốc là một lĩnh vực chịu ảnh hưởng rất...
được viết và xuất bản thoải mái, nhưng có một hội đồng của Bộ Giáo dục duyệt nộidung, cuốn nào đạt thì được cấp chứng nhận...
nâng cao hiệu quả cho nền kinh tế. Đó là đòi hỏi và mong ước của người kinh doanhvà người dân.                            ...
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Noi dung tieu luan moi

406 views

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
406
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
3
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Noi dung tieu luan moi

  1. 1. I. Một số lý luận chung về độc quyền: Một thị trường độc quyền được đặc trưng bởi: 1. Một người bán hoặc một người mua duy nhất 2. Không có hàng hoá thay thế gần giống 3. Có những rào cản hiệu quả ngăn cản việc gia nhập thị trường Những rào cản với việc gia nhập thị trường có thể tồn tại vì hai lý do: 1. Quy mô kinh tế (economies of scale) 2. Hoạt động của công ty, và/ hoặc hoạt động của chính phủ Nếu quy mô kinh tế tồn tại với mức sản lượng tương đương, các công ty lớn có thểsản xuất hàng hoá với một mức giá thấp hơn với mức giá của các công ty nhỏ hơn cóthể sản xuất. Một ngành kinh doanh như vậy được gọi là độc quyền tự nhiên (naturalmonopoly). Độc quyền địa phương (local monopoly) là một loại độc quyền tồn tại ở một khuvực địa lý cụ thể. Ở nhiều vùng, chỉ có một công ty được cung cấp báo địa phương (ítnhất là trên cơ sở hàng ngày). Tại Syracuse chẳng hạn, công ty báo chí Syracuse làcông ty cung cấp báo địa phương duy nhất (lưu ý là công ty này xuất bản cả tờ báobuổi sáng Post - Standard, tờ báo buổi trưa Herald American). Khi một nền kinh tế có các doanh nghiệp hoặc lĩnh vực độc quyền thì sẽ gây ra tổnthất phúc lợi của xã hội, cụ thể là: 1. Giá cả độc quyền cao hơn giá cạnh tranh hoặc chi phí biên . 2. Sản lượng độc quyền thấp hơn sản lượng có tính cạnh tranh. 3. Nhà độc quyền chiếm giữ thặng dư của người tiêu dùng. Như vậy, tình trạng độc quyền cần phải được kiểm soát bởi chính phủ thông quabiện pháp quy định giá tối đa, điều tiết thuế, hay áp dụng luật chống độc quyền. II. Thực trạng doanh nghiệp độc quyền ở Việt Nam: 1. Tình hình các doanh nghiệp độc quyền trong thời gian qua: Một số lĩnh vực độc quyền tại Việt Nam: - Hàng không (Pacific Airline là một công ty cổ phần do Hàng không Việt Nam chi phối và quá bé nhỏ nên không có một vị trí của đối tác cạnh tranh). - Bưu chính viễn thông (gần đây, một số doanh nghiệp quân đội được cấp phép tham gia kinh doanh một số dịch vụ nhánh, dịch vụ đường trục chính hoàn toàn do Tổng công ty BCVT độc quyền quyết định dưới sự quản lý nhà nước của Bộ BCVT). - Vận tải biển quốc tế (các đội tàu của doanh nghiệp tỉnh còn quá bé nhỏ và chỉ đảm nhận những thương vụ gần). - Đường sắt. - Điện (gần đây, đã cho phép mua điện của một số nhà máy điện nước ngoài theo giá của EVN, song khâu truyền tải, phân phối chỉ do EVN đảm nhận). - Kinh doanh chứng khoán - Xây dựng và khai thác bến cảng, dịch vụ cảng, bến xe khách, cầu đường… 1
  2. 2. - Xuất, nhập khẩu báo chí, sách giáo khoa - In ấn và sản xuất phim truyền hình - Thuốc lá (sản xuất và lưu thông, phân phối) Những lĩnh vực độc quyền nhóm (oligopoly) bao gồm: - Xăng dầu, bảo hiểm, ngân hàng, xi măng, sắt thép, mía đường, xuất, nhập khẩu cà phê, xuất nhập khẩu gạo, du lịch (trừ kinh doanh khác sạn)… Do các cơ quan địa phương quyết định hành chính để bảo vệ doanh nghiệp nhànước, ở không ít tỉnh đã xuất hiện tình trạng “độc quyền địa phương”, “độc quyền cụcbộ”, như đến tỉnh A chỉ được dùng bia của doanh nghiệp nhà nước tỉnh đó, xi măngtỉnh đó sản xuất hay chỉ có công ty lương thực của tỉnh mới được độc quyền kinhdoanh thu mua gạo, … dẫn đến biến dạng nghiêm trọng trên thị trường. Các sản phẩm và dịch vụ độc quyền được bảo hộ rất cao đối với cạnh tranh nướcngoài. Hàng không nội địa, dịch vụ điện thoại hữu tuyến và viễn thông, bến cảng, …không có cạnh tranh. Hệ số bảo hộ có hiệu lực rất cao đối với nhiều ngành côngnghiệp chế biến như: đồ uống không cồn 126%, đường 125%, xi măng 69%, xe máy144%, …Mức độ bảo hộ này chưa tính đến các yếu tố bảo hộ phi thuế quan. Tuy nhiên, do không có đủ khả năng đi sâu phân tích từng ngành, từng lĩnh vựcnên em xin đi sâu vào bốn lĩnh vực độc quyền đang là nỗi trăn trở của xã hội trong thờigian gần đây:Độc quyền nhà nước biến thành độc quyền doanh nghiệp trong lĩnh vực bưu chínhviễn thông: Ở nước ta hiện nay, độc quyền bị lạm dụng, vượt ra khỏi tầm kiểm soát của nhànước, biến độc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp. Hiện tượng độc quyền nhà nước trong lĩnh vực viễn thông được hầu hết các quốcgia áp dụng vì lý do an ninh. Trong các thập niên gần đây, xu hướng chung của thếgiới là áp dụng chính sách khuyến khích cạnh tranh và nới lỏng kiểm soát trong khuvực này. Ở Việt Nam, trước đây viễn thông vẫn là “vùng trời riêng” của các DNNNhoặc doanh nghiệp cổ phần mà nhà nước chiếm cổ phần chi phối. Sau này, trong pháplệnh BCVT có chia doanh nghiệp trong ngành BCVT ra làm 2 nhóm: nhóm các DNcung cấp mạng viễn thông và nhóm các DN cung cấp dịch vụ. Khoản 3, điều 5 củaPháp lệnh này cũng cho phép các DN thuộc mọi thành phần sở hữu được cạnh tranhbình đẳng đối với các dịch vụ viễn thông. Về cơ bản, các doanh nghiệp thuộc nhóm 1 vẫn giữ nguyên các quy định cũ. Vớicác doanh nghiệp thuộc nhóm 2, các quy định được nới lỏng hơn bởi doanh nghiệpcung cấp dịch vụ có thể mở rộng thuộc nhiều thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp100% vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ vào Việt Nam. Tuy nhiên, cácdoanh nghiệp này không được phép xây dựng mạng lưới riêng và do đó sẽ thuê đườngtruyền và thiết bị cổng mạng của doanh nghiệp cung cấp hạ tầng, mà ở đây là Tổngcông ty BCVT Việt Nam (VNPT). Theo TS. Lê Đăng Doanh – chuyên gia kinh tế caocấp; vai trò khống chế của VNPT – DNNN cung cấp hạ tầng, có thể gây ra tình trạng 2
  3. 3. độc quyền. Trên thực tế, vừa là DNNN cung cấp hạ tầng, nắm giữ đường trục chính,đồng thời lại vừa là nhà cung cấp dịch vụ (hiện đang chiếm tới hơn 90% thị phần), vaitrò khống chế thị trường đương nhiên thuộc về VNPT và việc có cho phép các doanhnghiệp khác đấu nối vào đường trục hay không hoàn toàn do VNPT quyết định trongkhi đường trục chính là tài sản quốc gia. Ví dụ: năm 2001, Vietel đã phải mất rất nhiềuthời gian mới có thể triển khai dịch vụ gọi 178 chỉ trong 1 tỉnh, và theo tính toán, vớitốc độ chậm như vậy, thì để hòa mạng cho toàn bộ 61 tỉnh thành công ty phải mấtkhoảng 20 năm. Trong khi đó, theo quy định của nhà nước (quyết định 547), thời hạnký kết hợp đồng kết nối tối đa là 45 ngày và thời hạn tiến hành kết nối thực tế tối đa là60 ngày, kể từ ngày hợp đồng được phê duyệt. Vấn đề chủ yếu là hiện nay vẫn chưa cónguyên tắc rõ ràng, quy trình minh bạch và quá trình giải quyết tranh chấp độc lập choviệc kết nối dịch vụ. Đồng thời, hiện vẫn chưa có quy định nào về các hình thức xử lýđối với VNPT vì đã trì hoãn kết nối quá thời hạn quy định. Đáng chú ý là bộ BCVT,cơ quan quản lý lại không hề chú ý đến trường hợp này nhưng bộ lại phản ứng rấtnhanh chóng đối với bất kỳ biện pháp cạnh tranh nào của các “đối thủ” cạnh tranh củaVNPT như trường hợp khuyến mãi của OCI tháng 12/2003. Trên thế giới, để đảm bảo cho cạnh tranh trên thị trường viễn thông, nhiều nước đãthành lập các cơ quan quản lý viễn thông quốc gia; các cơ quan này hoạt động độc lậpvới các đơn vị khai thác. Ở Việt Nam, trước năm 1997, VNPT thực hiện cả hai chứcnăng; vừa là cơ quan hoạch định chính sách về viễn thông vừa là doanh nghiệp khaithác các mạng lưới và dịch vụ viễn thông. Sau khi mô hình quản lý chung ở các thịtrường viễn thông cạnh tranh được áp dụng, tổng cục BCVT, từ năm 2002 đổi thànhbộ BCVT được thành lập trên cơ sở tách riêng chức năng hoạch định và quản lý củaVNPT. Hiện tại bộ BCVT đóng vai trò cơ quan quản lý nhà nước trong khi VNPT làdoanh nghiệp khai thác chủ chốt cung cấp cả mạng lưới lẫn dịch vụ viễn thông tại ViệtNam. Tuy nhiên, khác với mô hình cơ quan quản lý hiệu quả nhất, bộ BCVT khôngthực sự là một “cơ quan quản lý độc lập” mà vẫn tham gia quản lý VNPT với vai trò làđại diện cho phần vốn nhà nước trong VNPT và đặc biệt là có thẩm quyền bổ nhiệmcác chức danh quản lý cấp cao của tổng công ty này. Sự thiếu rõ ràng tách bạch giữahai chức năng như vậy rất khó có giải pháp khách quan và công bằng cho tất cả cáccông ty cạnh tranh trên thị trường. Mặt khác về cơ chế giá, theo các chuyên gia kinh tế, thông thường trong nền kinhtế thị trường, khi định giá dịch vụ hay sản phẩm đặc biệt phải thành lập hội đồng địnhgiá có đại diện doanh nghiệp, khách hàng (người tiêu dùng), trọng tài kinh tế… thamgia để đảm bảo tính công bằng, hợp lý. Ở Việt Nam, Bộ BCVT sau khi có ý kiến củaBộ Tài Chính có quyền quyết định giá cước các dịch vụ viễn thông công ích trong khibộ trưởng Bộ BCVT có quyền quyết định các giá cước còn lại. Nhưng trên thực tế, cácloại giá cước BCVT đều do VNPT “tham mưu” và người duyệt là bộ BCVT. Các loạigiá này, theo lý giải của một quan chức VNPT thì được hình thành trên những yếu tốchi phí như: khấu hao, lương công nhân, thuế, lợi nhuận để tái đầu tư… và để bù lỗ 3
  4. 4. những chi phí vì nghĩa vụ chính sách, công ích. Theo các chuyên gia kinh tế, việc địnhgiá này là bất hợp lý bởi các chi phí trên phải được giải quyết bằng cơ chế riêng,không thể lồng ghép những chi phí không liên quan đến kinh doanh hay phí do trìnhđộ quản lý, tổ chức yếu kém gây ra vào giá thành… Như vậy, mặc dù đã có những cam kết và quy định chung cho phép có cạnh tranhtrên thị trường nhưng hiện tại thị trường viễn thông của Việt Nam vẫn có cấu trúc độcquyền. VNPT có vị trí thống lĩnh đối với tất cả các loại dịch vụ viễn thông và kiểmsoát các cổng kết nối chính. Không những thế VNPT còn được hưởng những đặcquyền như khảo sát thiết kế, xây dựng các công trình BCVT; xuất nhập khẩu, cungứng vật tư thiết bị BCVT; sản xuất công nghiệp và tư vấn về lĩnh vực BCVT... đượcNhà nước cấp toàn bộ cơ sở hạ tầng và tiền vốn. Sự cạnh tranh mới chỉ khởi độngtrong các dịch vụ giá trị gia tăng, Internet, điện thoại di động là các lĩnh vực có lợinhuận cao. Đối với các dịch vụ viễn thông cơ bản, trong thực tế chỉ có sự cạnh tranhgiữa 3 công ty là VNPT, Vietel và FPT. Tuy nhiên cạnh tranh vẫn còn bị hạn chế vàvẫn có một khoảng cách lớn giữa VNPT và hai công ty còn lại về vốn và kỹ thuật vàquan trọng nhất là VNPT đóng vai trò là nhà cung cấp hệ thống và dịch vụ viễn thông.Việc sửa đổi một số quy định pháp lý và mở cửa thị trường dịch vụ viễn thông là yêucầu bắt buộc để gia nhập WTO. Thế nhưng với vị trí nắm giữ tuyệt đối hạ tầng, gầntuyệt đối thị trường dịch vụ và hoạt động theo một văn bản dưới luật dành riêng chomình như của VNPT hiện nay là hoàn toàn không phù hợp với nguyên tắc thị trường. Với một số lĩnh vực, độc quyền là yêu cầu bắt buộc, tuy nhiên khi độc quyền đãvượt ra khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước thì hậu quả thật khó lường. Nó không nhữnglàm hạn chế sự phát triển của đất nước mà còn gây phiền toái cho người tiêu dùng. Dođó yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải có quy định và thực hiện một cách rõ ràng về cácbiện pháp xử lý đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường, cần thiếtphải có một cơ quan chống độc quyền mạnh mẽ để ngăn cản các hành vi lạm dụng vịtrí thống lĩnh trên thị trường.Độc quyền điện lực: Điện lực là một ngành độc quyền, không phải độc quyền thông thường, mà là độcquyền thuần tuý: chỉ có một người bán, không có hàng hoá thay thế hoàn hảo vàngười mua không thể lựa chọn. Trên thị trường độc quyền thuần tuý này, người muacó quyền tuyệt đối trong việc ấn định giá bán, trong khi cung không đổi thì việc tănggiá sẽ dẫn tới doanh thu tăng. Nếu cơ cấu lương theo doanh thu tăng, thì thu nhập củangành điện đương nhiên sẽ tăng. Lượng điện tiêu thụ tăng theo tốc độ đô thị hoá và phát triển kinh tế bất chấp lượngđiện tiêu thụ của mỗi đơn vị sản xuất, hay tiêu dùng có giảm hay không. Chất lượngđiện có giảm, thì doanh thu ngành điện vẫn cứ tăng. Tăng giá điện tạo ra một tiền lệ, để những người tiêu dùng điện hiểu rằng họ lànhững kẻ phải chấp nhận giá trong thị trường điện độc quyền thuần tuý này. 4
  5. 5. Kiểu của kẻ độc quyền là cứ dư cầu, hụt cung thì tăng giá. Quả thật, tăng giá điệnlà lợi đơn, lợi kép. Kêu gọi tăng giá để mọi đối tượng có ý thức tiết kiệm hơn, ngườidân phải tiêu nhiều mà dùng ít. Tăng giá điện tạo ra tác động “phí đẩy” đối với nền kinh tế: người sản xuất (khôngkể giá áp cho khu vực hành chính và kinh doanh dịch vụ tăng 20%) không bị ảnhhưởng; nhưng chi phí điện cao đối với người tiêu dùng sẽ tạo ra áp lực tăng giá củasức lao động là tiền lương, vì điện sinh hoạt là một đầu vào quan trọng của sức laođộng, đặc biệt với người lao động thành thị và các khu công nghiệp. Việc tăng giá điệnvào giờ cao điểm còn tệ hơn, vì theo luật lao động, người sử dụng lao động phải trảcao hơn cho những giờ lao động thấp điểm (tiền bồi dưỡng làm đêm, nghỉ giữa ca,phụ cấp ngoài giờ). Tăng giá điện làm tăng áp lực chi đối với ngân sách nhà nước ảnh hưởng trực tiếpđến khu vực hành chính sự nghiệp vì điện là một đầu vào không thể cắt giảm của khuvực hành chính sự nghiệp. Tăng giá điện tạo ra sự bất ổn trong nền kinh tế. Hơn cả xăng dầu, điện được sửdụng rộng rãi trong sản xuất và sinh hoạt, nên khi tăng giá sẽ tạo ra tác động tăng giálan truyền, kéo theo lạm phát, thất nghiệp và sự thoái lui đầu tư. Việt Nam là một nước mới bắt đầu giai đoạn tăng trưởng tương đối nhanh trongthời kỳ hội nhập và cạnh tranh quốc tế, chỉ một cú hích tăng giá xăng dầu (ngoại kích)vừa qua đã đủ làm cả nền kinh tế phải khốn đốn, liệu rằng thêm một cú "nội công"tăng giá điện nữa thì nền kinh tế của chúng ta sẽ đi về đâu.Độc quyền ngành dược: Hiện nay, trên thị trường dược phẩm, thuốc nhập ngoại chiếm tới 60%, còn thuốcsản xuất trong nước thì có trên 90% nhập nguyên liệu từ nước ngoài. Theo các chuyêngia, chính việc quản lý lỏng lẻo, để xảy ra tình trạng độc quyền đã đẩy giá thuốc bántrên thị trường Việt Nam lên cao hơn rất nhiều so với giá thuốc ở nước ngoài. Nhiềuloại thuốc đang thịnh hành ở Việt Nam như Voltaren, Zaditen, Amaryl, Renitec,Dogmatil, Cordarone… giá bán lẻ tại Việt Nam cao gấp hàng chục lần so với giá bánlẻ ở Ai Cập. Dư luận rất bất bình về trách nhiệm của Bộ Y tế trong việc để một công tynước ngoài “lách” luật một cách dễ dàng trong lĩnh vực mà Bộ Y tế phải quản lý.Trong báo cáo mới đây của đoàn thanh tra liên ngành Bộ Tài chính, Bộ Thương mại,Bộ Y tế thừa nhận: “Việc cho phép công ty Zuellig Pharma Vietnam được phân phốitrực tiếp tại Việt Nam dẫn đến việc độc quyền phân phối, đặc biệt với những loại thuốcchuyên khoa sâu, đặc trị là một trong những nguyên nhân không thể kiểm soát đượcgiá nhập khẩu các loại thuốc này”. Cũng theo đoàn thanh tra, giá thuốc nhập khẩu quacông ty Zuellig tăng 2%-12%, một số mặt hàng của Zuellig tăng 30%-60%. Riêngtrong năm 2003 Zuellig đã tăng giá 157/549 mặt hàng thuốc. Ngoài ra, Zuellig còncung cấp thuốc cho các đối tượng không được phép phân phối theo quy định tại cácgiấy phép đầu tư và các văn bản khác có liên quan của Bộ Y tế. 5
  6. 6. Trong tổng số 500 loại thuốc nước ngoài tăng giá (theo kết quả của những cuộcthanh tra gần đây) thì đã có 157 loại thuốc do Công ty Zuellig Pharma Việt Nam(ZPV) phân phối. Thuốc do ZPV phân phối tăng giá với mức 2%-12%, thậm chí cóloại tăng 30%-60% (giá bán sau 1/10/2003 so với giá bán trước đó). Theo giấy phép số 08/GP-KCN-HN, ngày 29/3/1999 và các giấy phép đầu tư điềuchỉnh với phạm vi hoạt động trong lĩnh vực dược do Ban Quản lý các khu công nghiệpvà khu chế xuất Hà Nội cấp và các quy định có liên quan của Bộ Y tế thì ZPV chỉđược bán dược phẩm cho các doanh nghiệp trong nước có tư cách pháp nhân và chứcnăng kinh doanh dược phẩm. Tuy nhiên, Thanh tra Bộ Y tế đã phát hiện, ZPV đã bán hàng cho các đối tượng màmình không được phép phân phối như: nhà thuốc, bệnh viện... Song việc phân phốithuốc này lại được "hợp pháp hóa" bằng hình thức ký hợp đồng với Công ty cổ phầnDược liệu T.Ư 2 (Phytopharma). Hợp đồng có điều khoản "Phytopharma là bên bán lạicác dược phẩm cho các khách hàng do ZPV chỉ định tùy theo từng thời điểm (cáckhách hàng) trong lãnh thổ, theo các điều khoản và điều kiện của hợp đồng này. Việcchỉ định cho Phytopharma mua các sản phẩm từ ZPV và bán lại các sản phẩm đó chocác khách hàng do ZPV xác định và với giá bán do ZPV quy định" (trích từ điều 01Hợp đồng mua bán nguyên tắc ký ngày 25.5.2002 giữa Công ty cổ phần Dược liệuT.Ư 2 và Công ty TNHH Zuellig Pharma Việt Nam). Cơ quan thanh tra khẳng định,trên thực tế Phytopharma nhận thông tin chỉ định việc phân phối cho nhà thuốc, bệnhviện, bán lẻ, loại thuốc, giá cả... từ ZPV cung cấp. Phytopharma không trực tiếp thựchiện các công đoạn của quá trình phân phối mà chỉ xuất hóa đơn để cho nhân viên củaZPV tự xuất hàng, giao hàng từ kho của ZPV cho bệnh viện, nhà thuốc, bán lẻ và tựthu tiền. Rõ ràng là bằng một động tác đơn giản là "mượn danh" (đúng hơn là thuê) mộtcông ty trong nước, ZPV đã lách khỏi sự giới hạn của luật pháp và trở thành doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài duy nhất được quyền phân phối sản phẩm tại ViệtNam. Điều đó đã tạo cho công ty mẹ của ZPV là Zuellig Pharma Singapore (ZPS) cólợi thế hơn tất cả các công ty nước ngoài khác và là lý do để các nhà sản xuất lớn lựachọn Zuellig là nhà phân phối độc quyền các sản phẩm của họ tại Việt Nam. Trong số4.467 loại thuốc nước ngoài có số đăng ký với trên 900 hoạt chất thì số hoạt chất thuộccác thuốc do ZPS cung cấp vào Việt Nam đã lên tới 180 hoạt chất (trong đó, 97 hoạtchất chỉ duy nhất có 1 số đăng ký; khoảng 55 hoạt chất có từ 2 - 5 số đăng ký, 18 hoạtchất có 5 số đăng ký nhưng chỉ duy nhất do ZPS cung cấp). Đa số các thuốc do ZPScung cấp là thuốc được bảo hộ về tên thương mại, nhãn hiệu hàng hóa. Chỉ chưa đầy 3 năm được phân phối thuốc tại thị trường Việt Nam, ZPV đã giúpcho doanh thu của công ty mẹ tăng đáng kể. Doanh số của ZPS đứmg đầu trong tổngsố các doanh nghiệp nước ngoài ký kết hợp đồng mua bán với các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu Việt Nam. Cụ thể: năm 2001 khoảng 47 triệu USD, năm 2002 là 64 triệu 6
  7. 7. USD và 9 tháng đầu năm 2003 là 51 triệu USD (doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩuchỉ thực hiện dịch vụ nhập khẩu và hưởng phí ủy thác). Việc ký hợp đồng phân phối sản phẩm giữa ZPV với Phytopharma có thể là khôngsai luật pháp, nhưng rõ ràng là không bình thường, vì chỉ riêng việc mượn danh mộtdoanh nghiệp khác để phân phối sản phẩm cũng đã làm cho giá thuốc đội lên.Độc quyền sách giáo khoa: Trước đây, điện thoại độc quyền, người dân phải trả giá tiêu dùng cao chót vót màngành BCVT vẫn kêu lỗ. Khi xoá độc quyền, người dân được hưởng dịch vụ điệnthoại hiện đại nhất thế giới, trả giá tiêu dùng thấp. Hiện nay, vì điện độc quyền, ngườidân đang phải trả giá tiêu dùng dắt hơn các nước trong khu vực. Gần đây, dư luậnđang gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng độc quyền xuất bản sách giáo khoa. Đã gần 50 năm nay, việc xuất bản SGK do một mình NXB Giáo dục đảm nhận.Với hơn 150 triệu bản mỗi năm, thị trường SGK được coi là thị trường tiềm năng.Nhưng thị trường này có thực sự rộng mở cho tất các NXB khác tham gia hay không,lại là vấn đề không dễ lý giải. Theo ông Nguyễn Kiểm, Cục phó Cục xuất bản – Bộ VHTT, độc quyền tức làchỉ có một người có quyền sản xuất một mặt hàng nào đó. Khi chỉ có một người sảnxuất thì người tiêu dùng khó có điều kiện để so sánh chất lượng cũng như giá của sảnphẩm, đó là thiệt thòi đầu tiên mà người tiêu dùng phải gánh chịu. Trừ những mặthàng Nhà nước chỉ định cho một đơn vị làm như in tiền…, còn những mặt hàng kháckhông liên quan đến an ninh chính trị hay an ninh quốc phòng, thì có thể mở rộng chonhiều người làm. Theo qui định, cứ một NXB nào đó chiếm giữ 30% thị phần thì được coi là độcquyền. Hiện tại, NXB Giáo dục đang chiếm lĩnh số bản sách in ra hàng năm chiếm80% thị phần, đã vượt quá giới hạn qui định, nhìn vào đó chúng ta thấy rất rõ có độcquyền hay không độc quyền theo qui định của luật cạnh tranh. Để ra đời cuốn SGKphải trải qua các khâu biên soạn, thẩm định và in ấn. Theo điều 29 Luật Giáo dục năm2005, Bộ GD&ĐT là cơ quan duyệt SGK để sử dụng chính thức, trên cơ sở thẩm địnhcủa Hội đồng quốc gia. Cũng theo ông Nguyễn Kiểm, độc quyền SGK là sản phẩm của kế hoạch hóatập trung. Chúng ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cầnphải có cạnh tranh trong việc xuất bản SGK. Tuy nhiên, với lý lẽ đảm bảo tính chuẩn mực của SGK, từ nhiều năm nay, BộGD&ĐT giao cả việc xuất bản SGK cho đơn vị trực thuộc, đó là NXB Giáo dục. Saukhi in xong, NXB Giáo dục sẽ giao cho các công ty sách, thiết bị trường học các tỉnh,thành (trực thuộc các sở GD&ĐT). Hàng năm có tới 22 triệu học sinh cắp sách tớitrường, đây là đầu ra rất thuận lợi cho thị trường SGK, vì vậy số lượng sách mà NXBGiáo dục in ra là rất lớn, hơn 150 triệu bản mỗi năm. Bên cạnh số lượng khổng lồ SGK và sách tham khảo, NXB Giáo dục còn độcquyền “Bộ đề thi và bộ đáp án” cho đề thi để bán mỗi năm gần 1 triệu bản cho thi sinh 7
  8. 8. đại học (trong 10 năm liền, thậm chí có năm còn bán cả đính chính các lỗi trong bộđề). Đặc quyền này đã đưa NXB Giáo dục lên hàng “đại gia” với doanh thu khổng lồ.Năm 2005, doanh thu của đơn vị này gần 870 tỷ đồng, chiếm quá nửa doanh thu của47 NXB khác. Ông Trần Đình Việt, Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tổng hợp TP.HCM phátbiểu: “Đấy là lợi thế rất lớn trong làm ăn đối với NXB Giáo dục. Cũng là NXB nhưngcó NXB mỗi năm chỉ thu được mấy chục triệu, thậm chí thu không đủ chi. Khi xóa bỏđộc quyền xuất bản SGK, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho một số NXB có năng lực hoạtđộng”. Ông Nguyễn Kiểm, Cục phó Cục xuất bản – Bộ VHTT nhấn mạnh: “Hiện nay, đầusách xuất bản hàng năm của NXB Giáo dục dao động khoảng trên 4 ngàn tên sách,chiếm 1/4 tên sách xuất bản hàng năm của tất cả các NXB. Cho đến thời điểm này, có52 NXB, trong đó một NXB chiếm giữ tới 20% về tên sách, và 80% về số bản thì đólà biểu hiện bất thường của hoạt động xuất bản trong một quốc gia. 2. Hệ quả của độc quyền: Trong một số trường hợp cụ thể, vì lý do phải đảm bảo lợi ích công cộng, vì tínhchất và điều kiện đặc thù nhất thời của một ngành hay lĩnh vực kinh tế (thí dụ sản xuấtvũ khí hay các phương tiện bí mật nhà nước) cần thiết và có thể cho phép duy trì độcquyền trong một lĩnh vực với mức độ và điều kiện nhất định. Bên cạnh trường hợp kể trên, thương trường còn biết đến những doanh nghiệp dosự lựa chọn độc đáo về ngành nghề kinh doanh, do thành công trong kinh doanh cũngnhư do nhiều lý do khác…mà bằng một cách hợp pháp và trung thực, vào một thờiđiểm nào đó, doanh nghiệp không có đối thủ cạnh tranh thực sự và nó trở thành mộtnhà độc quyền (độc quyền tự nhiên). Không có một Nhà nước hay pháp luật văn minhnào lại trừng trị những "gương sáng" trong kinh doanh này. Ngoài ra, trong sự đặc thù Việt Nam, chúng ta còn biết đến một loạt các doanhnghiệp độc quyền sẵn có. Đó là một số các doanh nghiệp Nhà nước và một vài doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang chiếm vị thế độc quyền do "ngẫu nhiên" mà có. Tuy nhiên, độc quyền sẽ tạo sự sơ cứng cho phát triển kinh tế và vì thế, pháp luậtcạnh tranh luôn tỉnh táo đề ngăn cản và dẹp bỏ mọi toan tính độc quyền hóa. Thựctrạng trên đây dẫn đến hệ quả ngoài kỳ vọng tốt lành của Nhà nước gửi gắm nơi cácdoanh nghiệp độc quyền, đó là môi trường kinh doanh ở Việt Nam trở nên đắt đỏ vàkém hấp dẫn so với khu vực, đã được nêu lên nhiều lần trong đối thoại với các nhà đầutư nước ngoài. Gần đây, tổ chức JETRO của Nhật Bản đã công bố một bảng so sánhcho thấy, cước phí điện thoại quốc tế, Internet, bốc xếp container v.v... của Việt Namđắt hơn hẳn so với các nền kinh tế trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan,Malaysia. (Giá vé máy bay Hà Nội- Quảng Châu bằng giá vé Bangkok-Quảng Châucộng chi phí 1 tuần ở Bangkok, cước vận tải container 40 feet từ Việt Nam đi NhậtBản cao gấp 3 từ Singapore đi Nhật, phí vận hành, bốc xếp tàu 10.000 t ở cảng SàiGòn 40.000 USD so với 20.000 USD ở Bangkok v.v...). Các chi phí này làm tăng giá 8
  9. 9. thành sản phẩm, góp phần giảm năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và củacả những sản phẩm dịch vụ về tiềm năng có năng lực cạnh tranh như may mặc, dagiày, du lịch v.v...Chất lượng dịch vụ cũng thấp so với khu vực. Theo điều tra của Viện Nghiên cứu quảnlý kinh tế trung ương năm 2000, 56% khách hàng cho biết, họ bị cắt điện không đượcbáo trước và điện áp thiếu ổn định, 90% khách hàng bị gián đoạn liên lạc điện thoạikhông dưới 3 lần trong 3 tháng gần nhất, 45% khách hàng mất hơn 10 ngày để lắp đặtđiện thoại. Theo điều tra của Diễn đàn kinh tế thế giới, đa số doanh nghiệp phải đút lótmới được lắp điện, nước, điện thoại v.v... Các hiện tượng cửa quyền trong dịch vụhàng không, bến cảng v.v... đã được báo chí phản ánh trong nhiều năm qua, nhưngnhững cải thiện chỉ diễn ra rất hạn chế và trong thời gian ngắn. Mặt bằng giá của các sản phẩm độc quyền hay độc quyền nhóm, được bảo hộcao như xi măng, đường mía, ô tô, xe máy v.v... đều cao hơn mức trung bình khu vực,trong khi thu nhập của người Việt Nam thấp hơn các nước đó, làm thiệt thòi cho ngườitiêu dùng. Trong khi đó, hàng nông sản không được bảo hộ, phụ thuộc giá thị trườngthế giới lại thuộc loại rẻ nhất trong khu vực, làm giảm sút thu nhập thực tế của nôngdân. Do được độc quyền, cơ cấu giá khó kiểm tra, nên dẫn đến những hiện tượng trìtrệ trong kinh doanh. Trong ngành Bưu Chính Viễn thông Việt Nam có 50 người làmviệc trên 1000 đường điện thoại chính, trong khi ở Thái Lan chỉ số này là 7,3 người.Mức thất thoát điện trong truyển tải và phân phối ở Việt Nam hiện tại là 12,37%, ởThái Lan là 6-9%. v.v. Trong khi nền kinh tế chịu chi phí cao bất thường thì thu nhập thực tế của nhânviên trong các ngành Viễn thông, Điện, Hàng không đều rất cao, cộng thêm với mứcđộ phúc lợi đặc biệt của riêng ngành như có bệnh viện riêng, mỗi tỉnh có nhà kháchriêng của ngành v.v... Hai người cùng tốt nghiệp đại học, nếu 1 người vào được ngànhđộc quyền làm việc có thể có thu nhập cao gấp 2-4 lần người làm ở cơ quan hànhchính nhà nước. Trong xã hội đã hình thành những ốc đảo với những lợi ích nhóm hay cục bộ rấtmạnh, hoàn toàn không phù hợp với các nguyên tắc phân phối Xã hội Chủ nghĩa bìnhđẳng vẫn được giảng dạy trong các sách giáo khoa. Rõ ràng là, tình trạng độc quyền đãdẫn đến những hệ quả kinh tế xã hội rất không bình thường, cần được xem xét và xử lýnghiêm túc. Đặc biệt tình trạng độc quyền SGK là một vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến chiếnlược GD&ĐT của nước nhà. Tình trạng chỉ có một bộ SGK cho mọi đối tượng họcsinh ở nhiều vùng miền khác nhau là bất hợp lý. Đáng nói hơn nữa là nó còn dẫn tớihậu quả mài mòn sự linh hoạt, sáng tạo trong việc dạy và học; không huy động đượcrộng rãi trí tuệ của nhiều người có tâm huyết và khả năng để làm ra những cuốn SGKhay. Mặt khác, khi có nhiều người cùng soạn SGK tất yếu có sự cạnh tranh, nỗ lực đầutư nhằm tìm ra cách thức truyền đạt kiến thức tốt nhất và khi ấy, sự sai sót, vừa thừa 9
  10. 10. vừa thiếu như từng gặp phải trong SGK hiện nay, sẽ giảm đi rất nhiều. Về phía quản lýnhà nước, cụ thể là với ngành giáo dục, một khi mở rộng việc biên soạn SGK, côngviệc quản lý sẽ phức tạp hơn, đòi hỏi trách nhiệm cao hơn. Tuy nhiên, khi ấy ngànhgiáo dục sẽ khẳng định chức năng chỉ đạo của mình trong quản lý, đổi lại, ngành giáodục sẽ nhận được nhiều ý tưởng, sáng tạo và toàn diện hơn. 3. Nguyên nhân dẫn đến độc quyền: Trong khi Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khoá IX) đã quyết định “Không biếnđộc quyền nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp” thì các cơ quan nhà nước lại bảohộ, bao che về mặt hành chính các hành vi độc quyền của doanh nghiệp, như có nhữngthông tư của bộ này yêu cầu các doanh nghiệp phải tiêu thụ sản phẩm của doanhnghiệp thuộc bộ hay giao cho tổng công ty, xây dựng quy hoạch phát triển ngành vàmặc nhiên loại trừ mọi đối thủ cạnh tranh trong thời gian 10 năm sắp tới v.v... Các giảđịnh cho rằng, các tổng công ty độc quyền sẽ thực hiện các nhiệm vụ được giao đểđiều tiết thị trường, giá cả hay vì mục tiêu xã hội như dự trữ và xuất khẩu gạo, cà phê,kinh doanh sách giáo khoa, vận chuyển và kinh doanh muối iốt, chất đốt v.v. ở cácvùng sâu, vùng xa đã không mang lại hiêu quả mong muốn. doanh nghiệp độc quyềnđã lợi dụng vị trí đó để mưu cầu lợi ích siêu ngạch, không hề do năng suất lao độngmang lại. Việc kiểm soát giá do Ban Vật giá của Chính phủ đảm trách, nay thuộc vềBộ Tài Chính, đã không ngăn cản được bất kỳ yêu cầu tăng giá nào, dẫu yêu cầu đó cóphi lý đến đâu chăng nữa! Việc ngừng tăng giá được Thủ tướng Chính phủ quyết định,luôn là kết quả của công luận và tiếng kêu cứu của doanh nghiệp nhỏ và vừa, là kháchhàng và nạn nhân của các doanh nghiệp độc quyền đó. Trong khi, các nền kinh tế thịtrường khác chế định các hoạt động kinh doanh quan trọng độc quyền bằng nhữngLuật chuyên ngành (như Luật Viễn thông , Luật về vận tải hàng không dân dụng, Luậtvề điện), hoạt động kinh doanh của các sản phẩm dịch vụ đó của các tổng công ty ởViệt Nam chưa được chế định bằng luật, mà được quản lý bởi hệ thống pháp quy (caonhất là nghị định); do chính cơ quan độc quyền soạn thảo, trong đó, chứa đựng khôngít những đặc quyền được hành chính hoá. Nhà nước đầu tư trực tiếp từ ngân sách haybằng nguồn vốn vay ưu đãi từ nguồn vốn trong nước hay nước ngoài, trực tiếp chophép liên doanh với các đối tác nước ngoài, trực tiếp xử lý các vướng mắc trong kinhdoanh, hoãn nợ, giãn nợ, khoanh nợ, giảm hay bù lãi suất khi cần thiết. Các tổng côngty được ưu ái, cưng chiều; đặc biệt, có quan hệ thân cận, các đề xuất đều được ưu tiênvà trực tiếp giải quyết với mức ưu tiên cao nhất. Cụ thể đối với ngành dược: chủ trương đăng ký chất lượng sản phẩm trước khi lưuhành ở Việt Nam nhằm mục đích tối thượng là bảo đảm an toàn cho người bệnh là mộtchủ trương đúng đắn của Bộ Y tế. Thế nhưng chủ trương đúng đắn đó đã bị bộ máyquan liêu của cơ quan quản lý ngành dược biến thành một cơ chế điều hành tù mù. Haiđặc điểm nổi bật của cơ chế tù mù đó là cố tình tạo ra những chỗ hở để lợi dụng vàduy trì quan hệ "xin-cho". 10
  11. 11. Theo quy định hiện hành, mỗi loại thuốc muốn lưu hành ở Việt Nam phải đượcCục Quản lý dược cấp một số đăng ký, gọi là số visa. Số visa này được cấp cho cáccông ty dược có đăng ký hoạt động tại Việt Nam. "Xin", đúng nghĩa là như vậy, được cấp số visa, phải có đủ các hồ sơ cần thiết,trong đó thứ nhất, phải có chứng từ xuất xứ của loại thuốc đó (C/O), thứ hai là phải cógiấy kiểm nghiệm (CA), thứ ba là giấy chứng nhận sản xuất tốt của Viện Bào chế(GMP), thứ tư là giấy chứng nhận được phép lưu hành tại nước sản xuất (FOC), v.v...Việc nhập khẩu thuốc vào Việt Nam, ngoài thuốc được nhập theo số visa độc quyền,các doanh nghiệp còn được nhập theo chuyến đối với các loại thuốc chưa cấp số visa.Cục Quản lý dược xét duyệt từng chuyến một. Hồ sơ xin nhập khẩu cũng phải làm yhệt như hồ sơ xin cấp số visa. Nhưng nhập chuyến thì có số lượng được xác định vàthời hạn thực hiện chỉ trong vòng 1 năm. Thuốc nhập theo con đường này tuy vẫnđược phép lưu hành nhưng gặp hai hạn chế lớn: không được đưa vào bệnh viện và rấtít khi được bác sĩ kê toa. Tuy nhiên, theo một số doanh nghiệp nhập khẩu thuốc, để được cấp giấy phép nhậpkhẩu một chuyến như vậy cũng phải mất 1.000 USD cho "đường dây dịch vụ".Điều đáng lưu ý là số visa chỉ được cấp cho công ty dược có văn phòng đại diện tạiViệt Nam mà không phân biệt công ty đó có phải là hãng bào chế thuốc hay không.Trước đây, các công ty dược trong nước không được cấp, họ muốn nhập khẩu thuốcthì phải "mua" lại số visa của công ty nước ngoài. Được cấp số visa, có nghĩa là anhđược độc quyền lưu hành tên thuốc đó tại Việt Nam, độc quyền một cách tuyệt đối. Đólà nguyên nhân của các nguyên nhân làm cho giá thuốc (ngoại nhập) ở Việt Nam bịđẩy lên hàng cao nhất thế giới. Những người đi "xin" số visa ai cũng biết có đường dây ma quỷ đó, nhưng bóc trầnđường dây đó hầu như là một việc không thể, vì nó không để lại một dấu vết nào. Bởivậy, muốn xóa đường dây đó chỉ có cách là xóa bỏ cơ chế nuôi dưỡng nó mà thôi. III. Giải pháp đề ra: * Đối với ngành điện lực: Trong lý thuyết, các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng có rất nhiều biện pháp để giảiquyết vấn đề cân đối cung – cầu trong trường hợp thiếu cung. Thứ nhất, tăng đầu tưdẫn đến lượng cung trong dài hạn. Thứ hai, tăng hiệu quả sử dụng để tiết kiệm lượngtiêu thu, hay giảm lượng cầu. Thứ ba, tăng giá bán dẫn đến tăng cung và giảm cầu. Vàcuối cùng là áp dụng phối hợp các biện pháp, trong đó tăng giá là giải pháp tối kiếnnhất, đi ngược lại với xu thế phát triển chung của các nền sản xuất. Điện là một thứ hàng hoá đặc biệt, và điện lực là một ngành cơ yếu của nền kinh tế.Do đó những động thái của ngành điện cũng như can thiệp của nhà nước đối với vấnđề này cần phải rất thận trọng. Trước vấn đề tăng giá điện, chúng ta hãy nên cân nhắcgiữa cái được và mất của ngành điện, ngân sách nhà nước, của người sản xuất lẫnngười tiêu dùng, của môi trường đầu tư và việc điều chỉnh trong một ngành. Chỉ cầnriêng ngành điện thôi hay nên lôi kéo cả nền kinh tế vào vấn đề cân đối cung cầu về 11
  12. 12. điện. Như vậy, trước khi thực hiện các hành động đối với giá điện và ngành điện, nênlưu ý một số vấn đề sau: Trước hết, phải xác định xem ngành điện đã tiết kiệm chưa? Để làm được điềunày, ngành điện phải công khai tài chính. Trước khi bắt phần còn lại của nền kinh tếphải tiết kiệm, thì hãy để cho ngành điện thực hành tiết kiệm trước đã: nếu lương quácao thì cắt giảm lương. Cách làm này không ảnh hưởng nhiều, vì tỷ lệ thất nghiệp củachúng ta đang còn rất cao. Thứ hai, phải xác định xem ngành điện đã thực sự sản xuất điện một cách có hiệuquả chưa, đã đạt hết công suất chưa, đã đầu tư khai thác hết tiềm năng về điện chưa?Việc quản lý phân phối điện đã hợp lý và hiệu quả chưa? Trước khi yêu cầu toàn bộphần còn lại của nền kinh tế sử dụng điện hiệu quả hơn, thì cần phải đảm bảo rằngngành điện đã đạt hiệu quả hết cỡ rồi. Thứ ba, phải tính toán được những lợi ích thu được và chi phí của việc tăng giáđiện. Ngành điện thu thêm được bao nhiêu, đóng góp cho ngân sách bao nhiêu, tíchlũy đầu tư mở rộng sản xuất điện được bao nhiêu, những đối tượng sản xuất nào có thểtiết kiệm chi phí hay tăng chi phí từ việc tăng giá điện? Trước khi thực hiện các điềuchỉnh, hay các can thiệp thì cả ngành điện và nhà nước cần phải đưa ra được các consố thực tế thuyết phục. Có như thế mới đảm bảo ích nước lợi nhà từ điều chỉnh này. Thứ tư, Phải xác định được những giải pháp phối hợp hoặc thay thế việc tăng giáđiện. Chính phủ và ngành điện phải giải bài toán tối ưu hoá giữa việc tăng giá điện,nhập khẩu điện hay tăng lượng điện thông qua việc khuyến khích đầu tư (trong nướcvà ngoài nước) sản xuất điện, trong ngắn hạn và trong dài hạn. Trong khi kêu gọi mọi đối tượng phải sử dụng tiết kiệm điện, tăng giá để tiết kiệmđiện, thì ngành điện lại lờ đi chuyện phải tiết kiệm của chính mình. Để cho công bằngthì cả hai bên phải cùng tiết kiệm: người tiêu dùng thì xài ít đi, và trả nhiều tiền hơn.Tương tự, ngành điện cũng phải cắt giảm chi phí, cắt giảm lương và tăng lượng cungứng, như thế mới đúng kiểu kinh tế thị trường. * Đối với ngành dược: Thứ nhất, cần mở nhanh dịch vụ bảo hiểm y tế: không phải ai cũng ốm đau, nhưngmọi người cần dành một phần tiền để bảo hiểm nhỡ khi đau yếu. Số tiền bảo hiểm nàyđược sử dụng cho những người đang cần chạy chữa thuốc thang. Dịch vụ bảo hiểmnày phải do các công ty bảo hiểm thực hiện chứ không phải Bộ Y tế, phải hiểu đây làmột nghiệp vụ kinh doanh. Thứ hai, các loại thuốc kháng sinh, bảng độc ...bắt buộc phải bán theo đơn của bácsĩ; các loại thuốc bổ, thuốc cảm, vitamine các loại khác...không phải bán theo đơn bácsĩ thì được kinh doanh tự do (bán tại các nhà thuốc, siêu thị...). Bộ Y tế chịu tráchnhiệm qui định loại nào được bán tự do, loại nào phải theo đơn kê của bác sĩ. Khi muathuốc theo đơn kê của bác sĩ bệnh nhân có bảo hiểm y tế được giảm giá thuốc theo tỷlệ đã thoả thuận với công ty bảo hiểm (ở Mỹ bệnh nhân thường chỉ phải trả 30 % tiền 12
  13. 13. thuốc, chính vì vậy tất cả mọi người đều mua bảo hiểm), nhà hàng thuốc sau đó sẽ lấylại số tiền chênh lệch này từ công ty bảo hiểm. Qua cách làm này công ty bảo hiểm sẽ kiểm soát được giá bán thuốc của cửa hàngcũng như đơn kê của bác sĩ. Công ty bảo hiểm chỉ định hệ thống bệnh viện cũng nhưnhà hàng bán thuốc, họ sẽ chấm dứt hợp đồng với bệnh viện nếu bác sĩ bệnh viện đókhông trung thực kê thuốc nhiều lên so với bệnh án, tương tự hợp đồng với quầy thuốccũng sẽ chấm dứt nếu nhà thuốc bán thuốc cao hơn giá thị trường (vì hai hành độngtrên đều làm giảm thu nhập của công ty bảo hiểm). Thực ra cách làm này hiện nay đềuđược các nước áp dụng. Vấn đề giá thuốc tăng không phải là do một vài nhà thuốc tự động tăng giá mà làdo tình trạng độc quyền trong cung cấp. Điều này dẫn đến người tiêu dùng (bệnh nhân)bị hạn chế trong việc tiếp cận mặt hàng mà mình có nhu cầu (thuốc chữa bệnh). Bảohiểm y tế chỉ giúp người bệnh trang trải bớt chi phí thuốc men và việc chỉ định bác sỹvà nhà thuốc chỉ giúp các công ty bảo hiểm đảm bảo lợi ích của họ. Tiêu chí lựa chọnnhà thuốc của công ty bảo hiểm là độ tin cậy cao và giá cả hợp lý để tránh bệnh nhâncấu kết với nhà thuốc, trong khi tiêu chí của bệnh nhân là giá cả thấp nhất (giả địnhrằng loại thuốc đã được chỉ định bởi bác sỹ). Lập luận của những người ủng hộ việc duy trì độc quyền trong cung cấp thuốc cólẽ là để đảm bảo an toàn cho người bệnh. Tuy nhiên, nếu dựa vào lập luận này thì giảipháp là công nhận các loại thuốc được phép lưu hành trên thị trường Việt Nam chứkhông phải là công nhận nhà cung cấp được phép lưu hành loại thuốc đó. Điều này sẽdẫn tới việc không hạn chế số lượng nhà cung cấp, tạo ra một thị trường có tính cạnhtranh cao hơn và giá thuốc sẽ giảm. Một vấn đề khác là sự tham gia của các công ty dược phẩm Việt Nam trong cáckênh phân phối thuốc. Lý do của việc này có lẽ là để tổng hợp các nhu cầu nhỏ lẻtrong nước tạo ra một đối trọng bên phía Việt Nam (độc quyền cầu) đối với nhà cungcấp nước ngoài để họ không tăng giá một cách vô lý. Trên thực tế, lập luận này khônghợp lý khi nhu cầu trong nước đối với một loại biệt dược là tương đối ổn định vàkhông biến động nhiều theo giá, trong khi số lượng nguồn cung từ bên ngoài thườngrất ít do hạn chế về quyền sở hữu trí tuệ. Yêu cầu bắt buộc sự có mặt của một công tyViệt Nam nhất định chỉ góp phần tăng thêm chi phí trung gian, không có lợi cho bệnhnhân. Lý do khác cho sự tham gia của các công ty Việt Nam là để đảm bảo cho việc tồntại và phát triển của ngành dược phẩm. Tuy nhiên, dường như lợi ích của xã hội đãphải hy sinh quá nhiều cho việc này. Với các loại biệt dược, cho dù bỏ độc quyền cung cấp vẫn chỉ có một số ít công tyđược phép bào chế chúng, do vậy, các công ty này vẫn có quyền quyết định đối với giácả. Tuy nhiên, giá cả các loại thuốc này ở Việt Nam sẽ xấp xỉ với giá cả ở các nướckhác trên thế giới chứ không có tình trạng giá bán lẻ ở một số nước còn thấp hơn giábán buôn tại Việt Nam. 13
  14. 14. Vấn đề giá thuốc cao không phải là vấn đề của riêng Việt Nam mà của cả thế giớido thuốc là một lĩnh vực chịu ảnh hưởng rất nhiều của quyền sở hữu trí tuệ. Một khimột công ty tạo ra một loại thuốc và đăng ký quyền sở hữu trí tuệ, các công ty kháccho dù có biết công thức để tạo ra nó cũng không thể sản xuất trong một khoảng thờigian nhất định gọi là thời gian bảo hộ. Chỉ sau thời gian bảo hộ, các công ty mới có thểsản xuất ra những loại thuốc tương tự. Điều này đang là vấn đề tranh cãi gay gắt giữacác nước đang phát triển và các hãng bào chế dược phẩm. Các nước đang phát triển tốcáo các hãng bào chế chỉ vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tăng giá thuốc bất hợp lýkhiến người bệnh mắc các bệnh nan y ở các nước đang phát triển không đủ khả năngđể mua. Các hãng bào chế cho rằng đó là việc tăng giá hợp lý để đầu tư cho nghiêncứu và phát triển, tìm ra những loại thuốc mới để cứu người bệnh. Tóm lại, giải pháp cho việc giảm giá thuốc để nhiều bệnh nhân có thể mua được là: 1. Chỉ cấp đăng ký cho thuốc và nhà bào chế thuốc, không cấp đăng ký cho nhàcung cấp. Nếu vẫn muốn ràng buộc trách nhiệm của nhà cung cấp, có thể cấp phép chonhà cung cấp khi lần đầu họ tiến hành nhập khẩu. Việc cấp phép đó có thời hạn giá trịtương đương với thời hạn đăng ký của thuốc, không hạn chế nhà cung cấp. 2. Đảm bảo nghiêm minh việc thực thi các quy định, ngăn chặn sự trục lợi của liênminh giữa nhà cung cấp-bệnh viện-nhà thuốc. 3. Hợp tác với các nước đang phát triển khác xây dựng cơ chế trao đổi và theo dõigiá các loại thuốc, đặc biệt là các loại biệt dược tại các nước. Ban hành quy định kiểmsoát giá thuốc không được tăng quá một biên độ nhất định với giá cả trung bình củathế giới với các chế tài xử lý vi phạm nằm trong luật cạnh tranh (chống độc quyền). 4. Tham gia tích cực cùng với các nước đang phát triển và các tổ chức phi chínhphủ yêu cầu nới lỏng quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với lĩnh vực dược phẩm. 5. Đối với việc giải quyết hậu quả của việc giá thuốc tăng quá cao như hiện tại, nếuChính phủ kiên quyết có thể hủy bỏ ngay yêu cầu về cấp đăng ký cho nhà cung cấp,cho phép các nhà cung cấp khác tham gia thị trường đối với những loại thuốc đã đăngký. * Đối với độc quyền phát hành SGK: Thứ nhất, không nên thay SGK sớm và nhiều như thế. Thứ hai, mỗi lần tái bản hay sửa đổi, chỉ nên in thêm phần sửa đổi rời ra, còn vẫnsử dụng lại sách cũ. Thứ ba, nên áp dụng chính sách cho thuê, mượn SGK như nước ngoài (Việt Namđã từng áp dụng chính sách cho mượn SGK), do đó không nên có chuyện làm bài tậptrong SGK. Thứ tư, sách tham khảo không nên độc quyền, độc quyền in SGK đã “nặng” lắmrồi. Ở nước ngoài, SGK không bao giờ chỉ có một bộ, trừ các nước đang phát triển, dotư nhân biên soạn, do nhiều NXB ấn hành. Ví dụ: Ở Nhật Bản, sách giáo khoa đượcviết rất nhiều, nhưng đến mỗi mùa hè, người ta tổng hợp thông tin về “cầu” trong nămhọc tới để điều chỉnh số lượng từng loại cho phù hợp. Ở Nga, sách giáo khoa cũng 14
  15. 15. được viết và xuất bản thoải mái, nhưng có một hội đồng của Bộ Giáo dục duyệt nộidung, cuốn nào đạt thì được cấp chứng nhận, coi như một sự “dán tem” đảm bảo vềchất lượng. Ở gần chúng ta, Singapore cũng cho phép xuất bản tự do, nhưng trên thựctế cũng chỉ có một số ít sách được thị trường lựa chọn, và sau một thời gian sẽ bị thaythế. Việc xóa độc quyền xuất bản sách giáo khoa phải đi theo một lộ trình rõ ràng, phảithống nhất nhận thức và khởi động. Chúng ta cũng không thể làm ngay mà ít nhất cầnphải có khoảng ba, bốn năm chuẩn bị. Đó là khoảng thời gian cần thiết để các nhà làmsách có đủ thời gian và điều kiện chuẩn bị cho việc viết những cuốn sách giáo khoathực sự có chất lượng. Trong khi các biện pháp mở rộng diện doanh nghiệp cùng kinh doanh các sảnphẩm, dịch vụ này, thông qua cạnh tranh mà xoá bỏ độc quyền, hạ giá thành, nâng caochất lượng sản phẩm, dịch vụ, hiện đại hoá công nghệ như đã diễn ra ở hầu hết các nềnkinh tế thị trường (đối với hàng không, viễn thông v.v...) thì lại còn quá xa với đối vớithực tế nước ta hiện nay. Vì lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân như nâng cao nănglực cạnh tranh, tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, kinh doanh, cần cấp bách banhành các văn bản pháp quy ở tầm pháp lệnh hay luật, chế định các quy tắc hành vikinh doanh của các ngành độc quyền như các nước trên thế giới đã làm và mang lạihiệu quả như Luật về Viễn thông của Đức, Singapore, Luật về Hàng không của NewZealand v.v... Luật cần chế định hành vi không phân biệt đối xử đối với khách hàng,các nghĩa vụ của người cung cấp dịch vụ và khách hàng, chất lượng của dịch vụ (sửađiện thoại trong mấy giờ, nối lại cung ứng điện trong bao lâu v.v...). Việc để các doanhnghiệp độc quyền lớn và quan trọng như vậy hoạt động thiếu sự giám sát cần thiết, rõràng là một thiếu sót. Việc kiểm soát giá cần được nâng cao hiệu lực so với hoạt động của Ban Vật Giátrong Bộ Tài chính hiện nay, cần thông qua một hội đồng tư vấn có sự tham gia rộngrãi của các chuyên gia, của khách hàng và người tiêu dùng, có sự giám sát của Uỷ banKinh tế và Ngân Sách của Quốc hội và Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan báo chí. Kếtquả chắc chắn sẽ là loại trừ và giảm bớt được nhiều chi phí không đáng có và các tổngcông ty đó sẽ lành mạnh hơn về nhiều mặt. Thực hiện kiểm toán bắt buộc, định kỳ đối với tất cả các doanh nghiệp độc quyềntheo thông lệ quốc tế, vì là công ty độc quyền, báo cáo kiểm toán cần được đệ trình cácUỷ ban tương ứng của Quốc hội xem xét và công bố cho công luận biết, để rút ranhững kết luận thích đáng. Trong một tương lai không xa, khi thực hiện các cam kết hội nhập theo AFTA,Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ và WTO, rất nhiều sản phẩm, dịch vụ naycòn độc quyền sẽ phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế gay gắt. Thay vì cố gắng níu kéosự ưu đãi và bảo hộ trên vị trí độc quyền càng lâu càng khoẻ như hiện nay, các tổngcông ty độc quyền nên sớm chuẩn bị cho cuộc cạnh tranh đó để có thể trụ vững và 15
  16. 16. nâng cao hiệu quả cho nền kinh tế. Đó là đòi hỏi và mong ước của người kinh doanhvà người dân. 16

×