Văn hóa mac việt nam

14,379 views

Published on

Published in: Education
0 Comments
2 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
14,379
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
3
Actions
Shares
0
Downloads
134
Comments
0
Likes
2
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Văn hóa mac việt nam

  1. 1. Văn hóa Việt Nam, hay nói riêng là văn hóa của dân tộc Kinh mà đã có nguồn gốc tại miền bắc Việt Nam, là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất ở trong khu vực Thái Bình Dương. Mặc dù như vậy, nhưng qua ảnh hưởng lớn của Trung Hoa, văn hóa Việt Nam đã lập ra rất nhiều đặc điểm khá giống với những dân tộc của các nước Đông Á, và khác những nước ở khu Thái Bình Dương (như là Campuchia, Lào và Thái Lan) mà đã chịu một phần lớn ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ. Nhưng tuy là ảnh hưởng Trung Hoa được coi là ảnh hưởng lớn nhất của một nước ngoài trên nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, dân tộc Kinh đã vẫn giữ gìn được rất nhiều nét văn hóa riêng của mình, mà cho tới ngày hôm nay những phong tục riêng đó vẫn quan trọng vô cùng trong đời sống của người Việt. Có nhiều nhà viết sử cho rằng là trước khi ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa, Văn hóa Đông Sơn có gốc ở miền bắc Việt Nam (mà cũng đã phát triển mạnh ở những nước khác ở khu Thái Bình Dương) là phần đầu của lịch sử Việt Nam. Có thể nói chung văn hóa của Việt Nam là một pha trộn đặc biệt giữa nhiều những văn hóa cổ xưa cùng với văn hóa bản xứ của người Việt, ngoài ảnh hưởng lớn nhất của Trung Hoa, văn hóa của người Việt còn chịu sự ảnh hưởng của văn hóa phương tây và có các văn hóa riêng biệt của một bộ phận dân tộc thiểu số tại Việt Nam . Trang phục Áo dài ngũ thân Trang phục Việt Nam rất đa dạng. Ở thời phong kiến, có những quy định khắt khe về cách ăn mặc. Dân thường không được phép mặc đồ nhuộm bất kỳ màu gì ngoài đen, nâu hay trắng. Quần áo của người dân hầu hết rất là tầm thường và đơn sơ, để hợp với số phận trong xã hội (ngoài những dịp lễ quan trọng hoạc đám cưới...). Một trong những y phục cổ xưa nhất mà đã được phụ nữ bình dân mặc từ xưa đến đầu thế kỉ XX là bộ "Áo tứ thân". Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là "Áo tứ thân" có thể đã ra đời từ thế kỷ 12.
  2. 2. Vào thế kỷ 18, người bình dân ở hết 3 vùng chính Việt Nam đã bắt đầu mặc bộ đồ pijama đơn sơ (có thể có nguồn gốc ở miền nam), được gọi là áo cánh ở miền bắc và Áo bà ba ở miền nam. Khăn trùm đầu của họ là một mảnh vải đơn giản quấn quanh đầu và đồ đi dưới chân chỉ là một đôi guốc. Những dịp trọng đại đàn ông mặc hai thứ đồ truyền thống là áo dài có xẻ hai bên, và một khăn xếp, thường màu đen hay xám và được làm bằng vải bông hay tơ tằm. Trang phục của cung đình, khác biệt hẳn từ trang phục đơn sơ của nông dân, rất rắc rối và gồm có tới ba chục kiểu áo khác nhau để hợp với mỗi hoàn cảnh và nghi lễ. Chỉ riêng nhà vua được quyền mặc đồ màu vàng, quan lại mặc đồ đỏ hay màu tía. Còn làm rắc rối hơn là mỗi triều đại có thể thích thú hoặc không thích kiểu áo hòang gia của triều đại trước, chính vì vậy thời trang ở trong cung đình nhiều lúc thay đổi với mỗi triều đại. Trang phục truyền thống Việt Nam mà được quí nhất ngày nay là chiếc "Áo Dài", thường được mặc trong những dịp đặc biệt như cưới hỏi,tang tế v.v. Trang phục này có thể là đã có nguồn gốc từ thế kỷ 18 hoặc ở trong cung đình Huế. Từ lúc đó, Áo dài đã trải qua bao nhiêu sự phát triển, từ bộ áo ngũ thân rất rộng và không bó vào người như Áo dài hiện nay, cho tới bao nhiêu cải tiến khác nhau để hợp với những thay đổi trong thế giới thời trang. Cũng có người cho rằng Áo tứ thân mới là Áo dài đầu tiên, đã được biến thành Áo ngũ thân và cuối cùng mới thành chiếc Áo dài mình có hôm nay. Áo dài trắng đã trở thành bắt buộc tại nhiều trường cấp ba Việt Nam. Các giáo viên nữ mặc Áo Dài mọi buổi lên lớp. Một số nữ nhân viên văn phòng như tiếp tân, thư ký, hướng dẫn viên du lịch cũng mặc Áo dài khi làm việc. Và theo đánh giá của một tờ báo của Nhật thì dường như chỉ có dáng của người con gái Việt Nam là mặc áo dài đẹp nhất. Vì sự phổ biến của nó, áo dài đã trở thành biểu tượng quốc gia, đại diện cho các giá trị văn hóa Việt Nam. Trong đời sống hàng ngày, kiểu ăn mặc truyền thống viên nay hiện đã theo phong cách phương tây. Trang phục truyền thống chỉ được mặc trong những dịp đặc biệt. Phụ nữ có thể không mặc váy và cả hai giới hiếm khi mặc các loại quần soóc. VnMedia) - Áo dài là một trong vài từ thuần Việt (như nước mắm, phở, nem…), từ lâu, đã được người nước ngoài sử dụng từ nguyên tiếng Việt, không qua dịch thuật, và trên văn bản, được viết hoa, không dấu: AO DAI. Như thế, áo dài đã trở thành biểu tượng về cái đẹp trong văn hóa mặc của người Việt, được thế giới biết đến, công nhận, ngợi khen, ngưỡng vọng… Không phải ngẫu nhiên, các hoa hậu Việt Nam, trong các cuộc thi trong nước và quốc tế, đều chọn áo dài trong màn trình diễn trang phục dân tộc. Và quả thật đẹp mắt, khi những hoa hậu người nước ngoài đến Việt Nam năm 2007, trên bãi biển Nha Trang, đã nhất loạt khoe vẻ đẹp hình thể trong tà áo dài Việt. Vậy nên, đủ lí do lịch sử-thẩm mĩ để cho thấy: đã có một văn hóa mặc áo dài Việt Nam, và không chỉ ở Việt Nam… Gốc tích văn hóa của áo dài Lần về ngọn nguồn của tà áo dài duyên dáng Việt Nam hôm nay, phải tìm về văn hóa mặc của phụ nữ nông dân châu thổ sông Hồng, với nền văn minh lúa nước đặc trưng của vùng văn hóa gốc: châu thổ Bắc Bộ. Khi các nghệ sĩ nhà hát chèo Việt Nam lưu diễn ở Châu Âu, và nói chung, ở Phương Tây, điều làm “bắt mắt” công chúng phương Tây nhất lại chính là vẻ đẹp dung nhan, sắc vóc của các cô đào chèo, với xống áo mớ ba mớ bảy của họ, trong vai những nhân vật chèo cổ dân gian nức tiếng ở Việt Nam: Thị Màu,Thị Kính, Thị Phương, Xúy Vân, Mẹ Đốp, Đào Huế, Đào Nấp…Dù họ là đào lệch hay đào chín, “chín” hiền
  3. 3. ngoan, chung thủy, ăn ở phúc đức đầy đặn, đẹp nết đẹp người như Thị Kính, Thị Phương, hay “lệch” như Thị Màu, Xúy Vân,…thật nồng nã, đáo để, chênh chao, thì tất cả đều phải mặc áo xống cho thật đẹp. Và do thế, gốc tích văn hóa trang phục của đào chèo trên sân khấu chèo cổ sân đình, từ xa xưa đã được các nhà nghiên cứu văn hóa “chỉ định” là bộ váy áo tứ thân (phổ biến hơn so với áo năm thân, đều được gọi chung là áo dài), thường được phụ nữ mặc vào dịp lễ hội của châu thổ Bắc Bộ, vùng văn hóa điển hình nhất về nghề trồng lúa nước của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu văn hóa mặc của Việt Nam cho biết: Từ TK XIX đến 1945, ở miền Trung và miền Nam, cũng như ở một số vùng miền Bắc, người ta đã “bình dân hóa” cái áo dài. Phụ nữ Việt đã mặc áo dài ngay cả khi lao động nặng nhọc: như gánh gồng, cấy lúa, tát nước, gặt hái, chợ búa… Chính là vùng văn hóa này, về cơ bản, đã sinh ra cái áo tứ thân mớ ba mớ bảy, và đến lượt nó, đã đi vào cả văn chương dân gian lẫn văn chương hiện đại thế kỉ XX. Đặc biệt, nó được lên ngôi trong thơ của các thi sĩ Thơ Mới: Nguyễn Bính, Nguyễn Nhược Pháp. Về sau, cả thi sĩ Kinh Bắc Hoàng Cầm nữa, cũng đồng thuận yêu cái xống áo đa tình ấy, trong những thi phẩm nổi tiếng: Chân quê, Em đi chùa Hương, và Lá diêu bông… Vẻ đẹp gốc của những tà áo tứ thân, mớ ba mớ bảy, vốn là vẻ đẹp chân quê, trước tiên là ở dáng áo dài buông xuôi theo thân người mặc. Áo dài tứ thân, hai lớp, hai vạt trước buông phủ ngoài váy dài đến gót chân, đúng kiểu “váy Đình Bảng buông chùng cửa võng” mà cô thiếu nữ tuổi trăng rằm đã mặc trong “Lá diêu bông” của Hoàng Cầm, tững đã làm thất lạc hồn vía cậu trai lõng thõng đi theo chị. Áo buông bỏ,
  4. 4. may khá rộng, nhưng không buông thõng, mà được thắt khít khao vào lưng ong người mặc, bằng hai dải thắt lưng màu hoa thiên lý và xanh lục. Bên trong áo dài là áo cánh màu rực rỡ: vàng chanh, hồng đào, mỡ gà, hồ thủy… lồng vào nhau, theo “mớ ba mớ bảy”( Nam Bộ nóng, chỉ mặc lồng hai áo, gọi là “áo cặp”). Bên trong áo cánh là yếm lót mình, với các màu: đỏ thắm (dành cho lễ hội), yếm nâu, trắng…, thường là khâu tay, phụ nữ Việt hay mặc trong những ngày làm ruộng, hoặc quanh quẩn trong nhà, hầu chồng, chăm con…Đường viền vai áo thật tròn, ôm lấy bờ vai, và cổ áo chính là cổ yếm. Yếm và áo được gái quê Kinh Bắc mặc đẹp đến mức thành ca dao, dân ca cho quan họ hát huê tình đã vài trăm năm ở quê hương Kinh Bắc, làng quan họ yêu nhau thắm thiết, quyến quyện, đến độ cởi nhẫn, cởi nón, cởi áo, rồi cả…cởi yếm cho nhau, về nhà dối mẹ, bảo qua cầu, nhẫn rơi, nón bay, áo yếm cũng… bay bằng hết. Ngộ chưa? Dễ thương đến thế là cùng, cái câu chuyện xống áo huê tình trong tình yêu đôi lứa làng quê Việt cổ truyền. Nguyễn Bính có bài thơ “Chân quê” lộng lẫy, ca ngợi vẻ đẹp tà áo tứ thân. Cô thiếu nữ thôn quê chỉ đẹp trong mắt người trai quê, khi nàng duyên dáng mặc áo xống quê kiểng ấy. Đến nỗi, cô gái quê rời làng, đi tỉnh, trở về, chỉ thay trang phục tứ thân, với yếm lụa sồi, khăn mỏ quạ, quần nái đen, khăn lưng đũi, bằng trang phục thị thành: khăn nhung, quần lĩnh, áo cài khuy bấm…, chàng trai quê đã lập tức than: “em làm khổ tôi”. Tôi, là chàng trai quê ấy, đã phải chịu nhún nhường mà khẩn nài: van em em hãy giữ nguyên quê mùa, xin em cứ mặc như hôm đi lễ chùa, cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh. Rồi chẳng đặng đừng, chàng trai vân vi bóng gió: Hoa chanh nở giữa vườn chanh. Thầy u mình với chúng mình chân quê, để muốn nói gần nói xa, chẳng qua nói thật: Đất lề quê thói, em tôi đừng dại mà đánh mất vẻ đẹp mộc mạc của xống áo quê mùa. Đừng làm anh cả nghĩ: hôm qua em đi tỉnh về, hương đồng gió nội bay đi ít nhiều… Áo dài Việt là tích hợp văn hóa mặc Đông –Tây Sự di chuyển thẩm mĩ tinh tế, duyên dáng, từ tà áo tứ thân truyền thống đến chiếc áo dài Việt những năm 30 đầu TK XX, là do công lao của hai họa sĩ “Tây học”, vốn là sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương: Lê Phổ và Cát Tường. Hai họa sĩ này đã cải tiến chiếc áo tứ thân cổ truyền thành áo dài hai vạt, với nhiều kiểu cách phong phú trong chiết eo rộng hẹp, trong khoét cổ: cổ thuyền, lá sen, cổ cao, cổ trái tim, phỏng theo áo đầm dạ hội của Pháp… Có lẽ, do ấn tượng bởi cái tên “lạ”, nên người Pháp gọi áo dài theo tên họa sĩ Cát Tường, vốn hiểu theo nghĩa Hán-Việt: Cát Tường là may mắn, tốt lành, thì bị hiểu lầm theo nghĩa tiếng Pháp là “bức tường” (lemur). Do đó, tất cả những áo dài của giai đoạn ban đầu này, đều được gọithành tên chung là áo dài lơ muya.
  5. 5. Tên gọi kể cũng ngộ, nửa Tàu nửa Tây, nhưng áo dài thì quá đẹp, đối với phụ nữ Việt ở đô thị Việt Nam đầu TK XX đang bị/được “Âu hóa”. Áo dài được hoan nghênh rầm rộ, tất nhiên, song, phụ nữ Việt ở các đô thị Việt Nam đầu TK XX, do văn hoá mặc truyền thống chi phối, phần đông vẫn không bị quá đà “Âu hóa”, nên không hẹn mà họ cùng chấp nhận loại áo dài kiểu giản dị, may rộng thoải mái, không phô bày hình thể sỗ sàng, không bó eo, cổ cao kín đáo…Sau này, áo dài được điều chỉnh, sàng lọc qua thời gian và thẩm mỹ hiện đại, từ áo “Le mur” đã cải tiến thành “áo dài tân thời”, khiến phụ nữ đô thị ưa chuộng kinh khủng. Và nó vẫn còn quá đẹp cho đến gần trăm năm sau, nghĩa là cho đến tận bây giờ, năm 2007, 2008 và chắc sẽ đẹp dài dài có khi đến hết cả thế kỉ này. Biết đâu, áo dài sẽ còn đẹp mãi…Còn người đẹp Việt thắt đáy lưng ong, thì tại sao không còn áo dài Việt tôn vinh lưng ong nhỉ? Về tỉ lệ âm dương, áo dài đẹp trên sự hài hòa âm dương của thân thể người con gái Việt. Tính từ trên vai xuống eo thon thắt đáy, áo dài phô hết phần dương tính (theo cách mặc phương Tây) nửa phần thân trên của hình thể người đẹp Việt: cổ áo may khít, ôm lấy cổ kiêu ba ngấn, vai ôm tròn, eo cũng ôm khít “lưng ong”, và xẻ tà áo hai bên cho cao, hở lườn chút xíu thấp thoáng vừa đủ gợi cảm.(Ta có thể nghĩ, để hở một chút da thịt ở eo lưng, áo dài hiện đại đã cố níu giữ vẻ đẹp dân dã đa tình xa xưa đầy quyến rũ của yếm thắm, (thẩm mĩ cổ truyền quan niệm: “Đàn ông đóng khố đuôi lươn/ Đàn bà yếm thắm hở lườn mới xinh”.
  6. 6. Cố nhiên, đây phải là lườn đẹp của lưng ong thiếu nữ, chứ không phải “eo bánh mì” thiếu phụ). Thế nhưng, áo dài lại không phải là áo cánh, nên chiếc yếm, vốn là áo lót cổ truyền, đã bị thế chỗ bởi áo lót phương Tây, nâng đỡ ngực, mà người Việt quen gọi là xu-chiêng (từ tiếng Pháp: “soutien”). Hơn thế nữa, ngay từ đầu thế kỉ XX, tà áo dài đô thị đã giã biệt những gam màu tối, u trầm cổ truyền của làng quê, để chuyển sang màu sắc rực rỡ tươi vui của những gam màu nóng, đầy dương tính… Tuy nhiên, mặc lòng, áo dài vẫn giữ được “lề truyền thống” của văn hóa mặc áo dài xưa, khi thu lại chỉ còn hai vạt kín đáo. Áo cánh bên trong áo tứ thân có thể thấp thoáng cổ yếm ở trong, nhưng áo dài tân thời thì che kín, không để hở cổ, hở ngực. Cổ áo cao và hồ cứng được phụ nữ ưa chuộng nhất. GS.VS Trần Ngọc Thêm, trong sách “ Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, từng nhận xét hóm hỉnh rằng, áo dài tân thời, do sự giữ gìn lề thói kín đáo từ xưa, mà hóa ra “bảo hoàng hơn vua”, như muốn cân bằng lại cái khuynh hướng dương tính hóa, hơi nghiêng lệch về phương Tây của chính nó. Vì thế, áo dài Việt được người phương Tây khen là rất gợi cảm trong sự kín đáo, trang nhã. Phục sức áo dài đã biểu lộ cái duyên riêng của người phụ nữ Việt, một thứ “duyên lặn vào trong”, chứ không lộ liễu “duyên bong ra ngoài”. Tư liệu của GS. Trần Quốc Vượng (Sách “Truyền thống phụ nữ Việt Nam” cho biết: Vị cố đạo người Italia Cristoforo Borri, từng sống ở Việt Nam từ năm 1618 đến 1621, viết Ký sự Đàng Trong, đăng trên Đông Dương tạp chí số 4,1909, tr. 361-367, đã ca ngợi phụ nữ Việt Nam: “tính khí êm dịu hơn bất cứ dân tộc nào khác ở phương Đông”, “ đón tiếp khách khứa rất nồng hậu, mời ăn cơm và coi như bạn bè”. “Tâm tình khoáng đạt, thoải mái”, “dáng đi thong thả uy nghi”, và kết luận: “quần áo của họ có lẽ là kín đáo nhất vùng Đông Nam Á”… Đàn ông người nước ngoài, có thể vì thế mà dễ say mê vẻ đẹp của áo dài Việt hơn các loại áo váy khoe rất nhiều da thịt của phụ nữ Âu Tây. Với các phong cách áo dài duyên dáng và độc đáo Bắc-Trung-Nam, ở 3 thành phố tiêu biểu: Hà Nội, Huế, Sài Gòn, áo dài Việt ngày càng quyến rũ các nhà tạo mẫu trong và ngoài nước lấy cảm hứng, làm cho áo dài Việt ngày càng phong phú kiểu dáng, trở nên thật bắt mắt, và sáng giá trên trường thời trang quốc tế. Không chỉ phụ nữ Việt, đàn ông Việt cũng đã coi áo dài là thời trang lễ hội. Áo dài the đen, cùng khăn xếp, chiếc ô đã thành biểu tượng trang phục cho liền anh quan họ Bắc Ninh và không chỉ trong lễ hội hát
  7. 7. quan họ. Các vị nguyên thủ của các quốc gia trên thế giới, tham dự các cuộc hội họp quốc tế ở Việt Nam mấy năm gần đây đã thú vị, tự hào khoác lên mình những tấm áo dài Việt, vừa truyền thống, lại vừa rất hiện đại, thuận tiện… Phải thấy rằng chưa bao giờ ở các đô thị lớn, áo dài lại được tôn vinh đến thế trong văn hóa mặc của cư dân đô thị Việt hiện đại. Tuy nhiên, văn hóa áo dài càng phát triển, càng gặp nhiều thách thức trên đường tiến hóa. Áo dài mặc không đúng chỗ, đúng lúc, áo dài bị các nhà tạo mẫu biến tấu quá đà, đã không còn giữ được hình dáng truyền thống. Tà áo dài từng bị cắt ngắn hụt hẫng, hoặc bị xé lẻ tan nát thành những dải vải như tàu lá chuối rách. Người ta làm bồng vai áo dài, nhấc phần xẻ tà lên quá cao, hở hết lườn một cách khiêu khích, rồi khoét ngực áo dài rất sâu, thành áo dài cổ thuyền, cổ chữ “V”, phô phang lộ liễu vùng ngực, rồi chia cắt tà áo dài thành nhiều mảng miếng rời rạc, tan nát, bắt áo dài phải gánh quá nhiều hoa văn rắc rối, loạn xạ, rối mắt, hoặc may áo dài bằng những chất liệu trong suốt, khiến áo dài thành thông thống, nhìn rõ cả đồ lót…Những “cách điệu” đó thật phản cảm, đi ngược, thậm chí xúc phạm vẻ đẹp tinh tế, trang nhã, gợi cảm kín đáo của áo dài Việt… Phải vượt qua những thách thức của sự phát triển văn hóa mặc áo dài ở Việt Nam, đó là cử chỉ văn hóa không phải chỉ của riêng ai, nhất là các nhà tạo mẫu. Tiếc rằng ở Việt Nam, chưa xuất hiện nền công nghệ thời trang riêng mang thương hiệu Việt. Việc may, mặc, quảng bá hình ảnh áo dài Việt vẫn còn là công việc được xem là của các nhà thiết kế hoạt động đơn lẻ và gần như xa lạ với sự phát triển hiện đại của thời trang áo dài Việt…
  8. 8. Không phải ngẫu nhiên, trở về từ cuộc thi hoa hậu quốc tế 2007, á hậu 1 Đặng Minh Thu, khi trả lời phỏng vấn, đã khẳng định sự lựa chọn của mình với áo dài Việt Nam: “Trang phục trong đêm chung kết là trang phục tự chọn, và tôi đã quyết định từ khi ở Việt Nam rằng tôi sẽ mặc áo dài. Tôi không bắt chước ai cả, mà chỉ muốn giữ hình ảnh người con gái VN dịu dàng, truyền thống trong tà áo dài. Khi thấy một thí sinh không mặc trang phục dạ hội, khác biệt hẳn, những người không biết sẽ hỏi “Ai đấy?” để biết đó là người VN. Đó là điều tôi hướng tới. Áo dài là trang phục khoe đường cong, lộ rõ ba vòng, chỉ không để hở da thịt thôi. Tôi thích và yêu quý chiếc áo dài (mặc đêm chung kết), vì công sức của những người đã thiết kế, may và thêu rất cầu kỳ, công phu. Họ đã đặt vào đó biết bao hy vọng. Nhiều người hỏi tôi: “Sao không mặc váy áo để phô ra?”. Câu trả lời là tôi không thích. Tôi là người VN. Mỗi người có phong cách và sự lựa chọn khác nhau. Áo dài là trang phục tự chọn của tôi. Ở VN, tôi có thể mặc váy dạ hội. Nhưng khi ra nước ngoài, tôi nhất định phải mặc áo dài…” Báo Thanh Niên chủ nhật 6.4.2008 đăng bài viết gửi về từ Mỹ của nhà báo Dạ Ly, phỏng vấn Jennifer Lê, 17 tuổi, một thiếu nữ “sinh ra và lớn lên tại Mỹ nhưng Jennifer Lê-hoa hậu hoàn vũ Việt Nam 2007 tại Mỹ- nói tiếng Việt khá chuẩn. Nụ cười duyên dáng cùng gương mặt rất Việt Nam của cô đã gây ấn tượng đẹp trong đêm thời trang đặc biệt tại Pala Casino Spa Resort (Mỹ)”. Đặc biệt, khi Dạ Ly hỏi cô: Thích trình
  9. 9. diễn thời trang gì nhất, Jennifer thẳng thắn: Bao giờ em cũng muốn trình diễn áo dài Việt Nam. Thích nói tiếng Việt, thích mặc áo dài Việt trên sân khấu thời trang Mỹ, thích về Việt Nam thăm ông bà nội ngoại ở Rạch Giá, Sài Gòn, thích các món ăn quê nhà, và thích tập nấu món ăn Việt, thích đóng phim, thích làm nghệ thuật ở Việt Nam, thần tượng hai ca sĩ Quang Dũng, Hồ Ngọc Hà… đó là đặc điểm tính cách Việt “ròng” của Jennifer Lê, trong đó, nét duyên nhất là muốn mặc áo dài Việt trình diễn trên sân khấu Mỹ và sân khấu Việt… Áo dài Việt duyên dáng dễ thương đến thế, nên đã không một lần vắng bóng trong cả hai muơi chương trình “Duyên dáng Việt Nam” của báo Thanh Niên. Lần thứ hai mươi, năm 2007, khi diễn chương trình này ở Luân Đôn, thủ đô vương quốc Anh, bao công chúng mày râu người Việt, người Anh đã phải lòng người đẹp Việt trong tà áo dài Việt lộng lẫy và gợi cảm? Phải lòng áo dài Việt và người đẹp Việt, tại sao không? Bởi áo dài Việt thật đẹp, văn hóa mặc áo dài Việt thật tinh tế, huê tình, và quyến rũ đến thế cơ mà?… Cuối tuần vừa rồi, tôi cùng mẹ đi lễ ở chùa Quán Sứ. Trong dòng người đông đúc thành tâm vào chùa thắp hương lễ Phật ấy, tôi thấy có một số cô gái trẻ, mặt hoa da phấn, mặc quần áo hở hang lạc lõng giữa số đông thiện nam, tín nữ y phục chỉnh tề, kín đáo và lịch sự. Khi đem chuyện này nói với mẹ tôi, bà bảo: "Nhiều cô gái thời nay chẳng biết thế nào là lịch sự, là văn hóa nữa! Ăn mặc kiểu đó xuất hiện ngoài đường cũng đã chướng nữa là ở trong chùa. Không hiểu họ đi chùa cầu khấn để mà làm gì chứ?...". Vâng, quả là bây giờ người ta ăn mặc... "thoáng" quá, "cởi mở" quá, nhất là giới trẻ. Mấy lần đi phủ Tây Hồ, đi chùa Trấn Quốc, Văn Miếu... tôi cũng thấy đầy các cô cậu ăn mặc áo quần quá ngắn, quá te tua. Thừa biết ở những nơi đó cần sự tôn nghiêm, lịch sự mà chính các bảng nội quy ở mỗi nơi đã "nhắc" mọi người là "không mặc đồ ngắn vào chùa", song các cô cậu ấy vẫn rất hồn nhiên cho thế là đẹp, là... thời
  10. 10. trang. Con mắt của mọi người "dán" vào các phần hở hang quá mức trên cơ thể họ khiến họ tưởng mình mặc như vậy được... ngưỡng mộ, được khen nên càng tỏ ra hãnh diện. Họ không biết rằng mọi người đang dè bỉu họ vô văn hóa, thiếu ý thức trong cách ăn mặc! Vẫn biết rằng, bây giờ xu hướng thời trang rất thoáng... miễn sao mặc cảm thấy đẹp là được. Thế nhưng, mỗi người nên tự biết rằng mình mặc thế nào là đẹp và nên xuất hiện ở đâu. Trang phục không chỉ toát lên vẻ đẹp hình thức, mà còn thể hiện vẻ đẹp về văn hóa, tri thức của người sử dụng nó. Chính vì thế mà vấn đề ăn mặc của giới trẻ cũng cần được định hướng giáo dục không chỉ ở gia đình mà cả ở nhà trường và xã hội Sinh viên ăn mặc cũng cần phải có văn hóa Người xưa thường nói “Trông mặt mà bắt hình dong”. Từ cách nhận xét đó, cũng có thể suy rộng ra: Nhìn cách ăn mặc, có thể biết anh hay chị là ai, là người tử tế, vốn quen với nếp sống có văn hóa hay thuộc loại đua đòi “trưởng giả học làm sang” ? Sinh viên là lớp người được xã hội coi là có học thức (tuy mới chỉ là bước đầu), cho nên cần thể hiện rõ tính văn hóa trong phép ứng xử cũng như cách ăn mặc, nhất là khi đến giảng đường. Nhiều khi mặc đơn giản mà vẫn đẹp và lịch sự. Ngược lại, ăn mặc cầu kỳ một cách lố lăng hoặc quá “đơn giản” theo kiểu “thiếu vải” thì dễ gây phản cảm cho mọi người, nhất là không biết tôn trọng thầy cô giáo. Biết chọn cách ăn mặc phù hợp với môi trường cũng là nét đặc trưng của người có học thức mà sinh viên nên quan tâm xử sự cho đúng. Đấy cũng là nếp sống có văn hóa trong môi trường giáo dục mà vừa qua Bộ Giáo dục & Đào tạo đã ban hành quy định đối với trang phục của học sinh và sinh viên. Không như học sinh phổ thông thường mặc theo mẫu đồng phục, khi lên đại học, sinh viên được thoải mái hơn, nhưng không vì thế mà coi thường phép lịch sự và tính thẩm mỹ trong cách ăn mặc. Trước đây, Bộ Giáo dục & Đào tạo chưa có quy định về trang phục của học sinh, sinh viên, những Mode thời trang mới nhất được nhiều sinh viên ở thành thị chưng diện khi lên giảng đường. Không phủ nhận những trang phục đó là đẹp với tuổi trẻ, nhưng e rằng làm mất đi tính văn hóa trong môi trường sư phạm. Nếu ở bậc học THPT, hầu như các trường đều bắt học sinh mặc đồng phục khi đến trường thì lên Đại học, như một sự giải phóng khỏi khuôn khổ do nhà trường quy định, sinh viên có thể thoải mái mặc những gì mình thích. Nhưng đôi khi, chính sự thoải mái trong môi trường Đại học, khiến nhiều sinh viên ăn mặc theo phong cách thái quá, vượt qua giới hạn về văn hóa ăn mặc trong môi trường sư phạm. Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp một nữ sinh ăn mặc quá mát mẻ: áo sơ mi sát nách, quần soóc, hay những chiếc áo được khoét cổ quá sâu, váy ngắn,… trên các giảng đường Đại học. Một số
  11. 11. sinh viên còn biến giảng đường thành sàn biểu diễn thời trang, thích gì mặc nấy, xem như không có ai nhìn mình. Dường như bất cứ một trang phục nào cũng được mặc lên lớp để thể hiện phong cách ăn mặc, gu ăn mặc của sinh viên mà không quan tâm đến người khác nghĩ gì. Không ít bạn trẻ hiện nay, đặc biệt là giới trẻ thị thành thường có suy nghĩ “tôi mặc những gì tôi thích”. Nhưng giá trị đạo đức thể hiện qua cách ăn mặc luôn có những chuẩn mực nhất định và không thể vượt qua giới hạn cho phép bằng một chữ “tùy”. Phải chăng càng học lên cao, văn hóa ăn mặc của một số sinh viên lại càng đi xuống thấp? Mặc như thế nào khi lên giảng đường cũng chính là thể hiện thái độ của sinh viên đối với thầy cô giáo của mình. Đôi khi, văn hóa mặc của sinh viên cũng làm cho nhiều thầy cô không thoải mái mỗi khi lên lớp giảng dạy. Thừa nhận, những người trẻ là người đón đầu trào lưu mới. Và văn hóa ăn mặc du nhập từ nước ngoài cũng được sinh viên tiếp nhận nhanh chóng là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, chúng ta phải biết mặc ở đúng nơi, đúng chỗ, đúng hoàn cảnh. Tự do ăn mặc là điều tất yếu, song bạn phải tôn trọng những nơi mà bạn đến để có trang phục phù hợp. Đừng biến giảng đường đại học thành một sân khấu thời trang cho mình phô trương. Thay vào đó, hãy thể hiện trình độ văn hóa mặc của bạn ngay chính tại giảng đường. Ở đây, tôi không nói đến toàn bộ sinh viên của chúng ta đang khiến văn hóa mặc tại môi trường sư phạm đi xuống. Tuy nhiên, một bộ phận sinh viên trong các trường Đại học đang làm mất đi nét đẹp của văn hóa mặc trong môi trường sư phạm, gây thiếu thiện cảm cho chính thầy cô giáo của mình.

×