tieu luan de an mon hoc 64+ (27).doc

374 views

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
374
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
4
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

tieu luan de an mon hoc 64+ (27).doc

  1. 1. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp LỜI MỞ ĐẦU Ngành công nghiệp Dệt may là một ngành có truyền thống từ lâu ở ViệtNam. Đây là một ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phụcvụ nhu cầu thiết yếu của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làmcho xã hội và đặc biệt nó là ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiệncho kinh tế phát triển, góp phần cân bằng cán cân xuất nhập khẩu của đấtnước.Trong quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá hiện nay, ngành Dệtmay đang chứng tỏ là một ngành mũi nhọn trong nền kinh tế được thể hiệnqua kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trong mấy năm gần đây, các thị trườngluôn được rộng mở,số lao động trong ngành ngày càng nhiều và chiếm tỷtrọng lớn trong các ngành công nghiệp, giá trị đong góp của ngành vào thunhập quốc dân… Tuy nhiên trong quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế vànhững biến động của môi trường kinh tế , ngành Dệt may đang đứng trướcnhững khó khăn và thách thức mới cho sự phát triển. Với mục đích tim hiểu những vấn đề lớn liên quan đến ngành trong giaiđoạn hiện nay và thử tìm một số giải pháp để khác phục những vấn đề đó, emđã quyết định lựa chọn đề tài : “Ngành Dệt May Việt Nam trên con đườnghội nhập”. Bài viết được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáoTh.s Mai Xuân Được. Đây là một bài viết với vấn đề được đề cập tương đốirộng nên không thể tránh khỏi những thiếu sót, em mong được sự góp ý củamọi người. Nội dung bài viết được chia làm hai phần: -Phần một: Thực trạng ngành Dệt May Việt Nam. -Phần hai: Định hướng phát triển công nghiệp Dệt May Việt Nam.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  2. 2. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệpI. THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM 1.1 Thị trường dệt may Trong hơn 10 năm qua, ngành dệt may Việt Nam đã có những bước tiếnvượt bậc trong lĩnh vực xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng bình quân 23.8%/năm, vươn lên đứng thứ 2 trong cả nước về kim ngạch xuất khẩu, sau ngànhdầu khí. Nếu như năm 1990 hàng dệt may Việt Nam mới chỉ có mặt ở gần 30nước trên thế giới thì đến nay đã hiện diện ở hầu khắp các châu lục với trên100 nước và vùng lãnh thổ. Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng. Năm1998 xuất khẩu hàng dệt may đạt 1,45 tỷ USD, tới năm 1999 đã tăng lên 1,76tỷ USD và năm 2000 xuất gần 1,89 tỷ USD, gấp 16 lần so với năm 1990. Năm2002 kim ngạch xuất khẩu của ngành đạt 2,7 tỷ USD, tăng 30,7% so với năm2001, vượt kế hoạch 12,5%. Năm 2003 là 3,6 tỷ USD và vượt hơn 400 triệuUSD so với mục tiêu đề ra, điều này không chỉ góp phần đưa kim ngạch xuấtkhẩu nói chung của cả nước tăng 20% mà còn tạo cở sở vững chắc cho sự tăngtrưởng xuất khẩu cho những năm sau. KIM NGẠCH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY QUA CÁC NĂM Đơn vị : triệu USD 4000 3660 3500 3000 2755 2500 1975 1747 1892 2000 1502 1450 1500 1150 850 1000 500 0 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 Thị trường xuất khẩu chủ yếu của hàng dệt may nước ta hiện nay là NhậtBản, Hoa Kỳ và EU. *Thị trường EUhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  3. 3. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Hàng dệt may chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào EU Từ năm 1993, EU dành cho Việt Nam điều kiện xuất khẩu hàng dệt hàngnăm và từng đợt điều chỉnh tăng hạn ngạch. Kim ngạch xuất khẩu của ViệtNam liên tục tăng từ 1991 đến nay. Trị giá xuất khẩu trong các năm 1991 đến2001 tăng lên 21 lần. Tăng trưởng liên tục hàng năm: năm thấp nhất (1993)cũng tăng 5,3%, các năm cao đạt 77,6% (1994 và 1997), 87,6% (1995). Bên cạnh đó EU là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam về hàng maymặc (40% xuất khẩu may mặc của Việt Nam). Từ trước đến nay hàng nàyđược EU cấp hạn ngạch, tăng số lượng hàng năm. Tốc độ tăng trưởng hàngnăm trên 38%. EU và Việt Nam đã ký hiệp định xuất khẩu may mặc của ViệtNam thời kỳ 1998-2000, tăng 31% so với 1992-1997. Việt Nam sử dụng cảhạn ngạch của EU cấp cho Singapore, Indonesia, Philipin. Giai đoạn2001-2002 EU tăng hạn ngạch cho Việt Nam với 16 mã hàng may mặc xuấtkhẩu sang EU. Tỷ trọng hàng dệt may Việt Nam giữ mức 15-16% kim ngạchxuất khẩu. Năm 1999 xuất khẩu hàng này đạt 700 triệu USD. Các nước nhậpkhẩu lớn là Đức, Pháp, Hà Lan, Anh. Nhiều nước đặt gia công may mặc choViệt Nam (Đức, Pháp …) KIM NGẠCH XUẤT KHẨU DỆT MAY VÀO EU Đơn vị: triệu USD 700 631 620 580 590 575 600 500 450 420 400 350 285 300 245 185 200 100 1 0 5 0 2 3 4 6 7 8 9 1 2 9 9 9 9 9 9 0 0 9 9 0 9 9 9 0 9 9 9 9 9 0 0 1 1 1 1 1 1 1 1 2 2 2 *Thị trường Nhật Bảnhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  4. 4. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Nhật Bản là một thị trường mở, có quy mô tương đối lớn đối với các nhà xuất khẩu hàng may mặc nước ngoài, là nước nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ 2 trên thế giới với số dân 126,9 triệu người và mức thu nhập bình quân hàng năm 30.039USD/người. Tuy nhiên, việc mua sắm của người Nhật Bản đối với các sản phẩm may mặc khác với thị trường Mỹ, EU. Người tiêu dùng Nhật Bản chịu tác động rất mạnh bởi các phương tiện thông tin đại chúng như các loại tạp chí, phim ảnh. Nếu như có một mẫu mốt mới xuất hiện ở Newyork, Milan, Pari hoặc Tokyo thì các phương tiện thông tin về thời trang đều đưa tin cập nhật đến mẫu mốt đó, làm thay đổi sở thích tiêu dùng hàng may mặc rất nhanh. Trong khi đó, hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chỉ mới đáp ứng được một cách tương đối hai yêu cầu, đó là giá cả và chất lượng. Còn yêu cầu về kiểu dáng thì kiểu dáng hàng may mặc Việt Nam rất nghèo nàn, không đa dạng do ngành công nghiệp thiết kế thời trang trong nước chưa phát triển, về nhãn mác chỉ người tiêu dùng trong nước mới biết đến nhãn mác các sản phẩm may Việt Nam. Hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản Đơn vị : triệu USD1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002105.7 58.4 104.1 210.5 309.5 325 321 417 620 592 480 Nhật Bản là thị trường phi hạn ngạch lớn nhất của Việt Nam. Hiện nay Việt Nam đứng thứ 4 trong các nước có hàng may xuất khẩu vào Nhật Bản. Các sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản chủ yếu là hàng may mặc như Jacket, quần áo thể thao, quần âu, sơ mi, quần áo lót, quần áo dệt kim…. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang Nhật Bản hàng năm đến năm 2000 đạt cao nhất (620 triệu USD), sau đó đến năm 2001 lại giảm 5%so với năm 2000 còn 592 triệu USD. Theo số liệu mới nhất của Bộ Thương mại thì năm 2002, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật Bản đạt dưới 500 triệu USD, giảm 20% so với năm 2001. Nguyên nhân chính là do sức ép cạnh tranh của hàng Trung Quốc có chất lượng, mẫu mã đa dạng và giá rẻ, hiện đã http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  5. 5. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệpchiếm tới gần 90% thị phần hàng may mặc nhập khẩu của Nhật Bản. Nhiềudoanh nghiệp Việt Nam chỉ nghĩ tới việc thay đổi mẫu mã sản phẩm khi chukỳ sống của sản phẩm đó đã bước sang giai đoạn thoái trào, hàng không bánđược nữa. Còn xuất khẩu cả năm qua cũng giảm 1,8% so với năm 2002. *Thị trường Hoa Kỳ Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ: năm1998 đạt 26.4 triệu USD, năm 1999 đạt 48 triệu USD, năm 2000 đạt 60 triệuUSD, năm 2001 đạt 49 triệu USD. Năm 2001 Việt Nam và Hoa Kỳ đã thiết lập quan hệ thương mại trở lạibằng việc ký kết một hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ. Có thể nói đâylà một cơ hội mới rất tốt cho thương mại của Việt Nam, trong đó có ngànhmay mặc. Bởi Hoa Kỳ được xếp là nước có lượng nhập khẩu hàng may mặclớn nhất trên thế giới, thêm vào đó trong thời gian đầu Mỹ không áp dụngquator cũng như việc mức thuế sẽ giảm từ 40% xuống còn 20% sau khi hiệpđịnh thương mại có hiệu lực. Sau một năm thực hiện Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, hàng dệt mayvươn lên đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Kim ngạchxuất khẩu của hàng dệt may tăng lên tới 1,9 tỷ USD. Các mặt hàng dệt mayxuất khẩu sang Hoa Kỳ cũng đa dạng hơn so với trước. Tháng 1 năm 2001,Việt Nam mới chỉ có khoảng 17 chủng loại có kim ngach xuất khẩu đáng kểnhưng đến tháng 7 năm 2002 đã có đến 42 chủng loại khác nhau xuất khẩuvào Hoa Kỳ. Đồng thời tỷ trọng của hàng dệt may trong tổng xuất khẩu củaViệt Nam sang Hoa Kỳ tăng lên rõ rệt. Năm 2001 hàng dệt may chỉ chiếm4,7% tổng xuất khẩu của Việt Nam thì đến tháng 7 năm 2002 đã lên đến24,2%, chỉ đứng sau nhóm hàng hải sản, vượt qua các nhóm hàng truyềnthống là khoáng sản và giầy dép. Mặc dù có sự đa dạng hoá mặt hàng xuấtkhẩu, nhưng tỷ trọng xuất khẩu hàng dệt may tập trung chủ yếu vào các loạiquần áo dệt kim và dệt thoi, các mặt hàng khác chiếm tỷ trọng không lớn.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  6. 6. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp 1.2 Thiết bị công nghệ ngành Dệt may. Thiết bị công nghệ ngành Dệt may Việt Nam vừa lạc hậu vừa thiếu đồng bộ,sản phẩm làm ra không có năng lựccạnh tranh. Theo chương trình phát triểnLiên hợp quốc ngành Dệi may Việt Nam đang ở trình độ 2/7 của thế giới, thiếtbị máy móc lạc hậu 3-3 thế hệ. Điều này làm cho năng lực sản xuất của ngànhDệt may còn nhiều hạn chế. Máy móc thiết bị ngành Dệt phần lớn là cũ kỹ, lạc hậu và có xuất xứ từnhiều nước. Ngành Dệt có gần 50% thiết bị đã sử dụng trên 25 năm nên hưhang nhiều, mất tính năng vận hành tự động nên năng suất thấp, chất lượngsản phẩm thấp, giá thành cao.Trong nhiều năm qua, hầu hết các doanh nghiệpđã sử dụng nguồn vốn tự có, vốn vay trung hạn, dài hạn để mua sắm thiếtbị,góp phần năng cao chất lương công nghệ, đa dang hoá sản phảm.Hàng ngànmáy dệt không thoi, có thoi khổ rông đã được nhập về, nhiều bộ đồ mắc mới ,hiện đại đã được trang bị thay thế cho những thiết bị quá cũ. Tuy ngành Dệt đãcó nhiều cố gắng trong đầu tư đổi mới công nghệ nhưng cho đến nay trình độkỹ thuật của ngành vẫn còn lạc hậu so với khu vực và thế giới. Trong 5 năm gần đây , toàn ngành đã tranh bị thêm được gần 20.000máy may hiện đại các loại để sản xuất các mặt hàng sơ mi, jacket, đồ bảo hộlao động, áo phông các loại… cải thiện một bước chất lượng hàng may xuấtkhẩu và nội địa. Ngành may liên tục đầu tư mở rộng sản xuất và đổi mới thiếtbị để đáp ứng yêu cầu chất lượng của thị trường thế giới.Các máy may đượcsử dụng hiện nay phần lớn là hiện đại, có tốc độ cao(4.000-5.000 vòng/phút),có bơm dầu tự động, đảm bảo vệ sinh công nghiệp. Một số doanh nghiệp đãđầu tư dây chuyền đồng bộ, sử dụng nhiều máy chuyên dùng sản xuất một mặthàng như đây chuyền may sư mi của May 10, đây chuyền may quần đứng cóthao tác bộ phận tự động theo chương trình, đây chuyền sản xuất quần Jean cóhệ thống máy giặt mài.1.3 Nguyên liệu cho ngành Dệt may.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  7. 7. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Việc sản xuất nguyên liệu bông từ các nguồn trong nước hiện đang thuhút sự quan tâm đặc biệt. Hiện nay, Việt Nam chỉ có t5hể sản xuất hơn 3.000tấn bông/năm, đáp ứng được 5% nhu càu của ngành Dệt trong nước. Sợi tổnghợp phải nhập khẩu hoàn toàn và sợi bong cho sản xuất hàng dệt kim cũngphải nhập khẩu với số lượng lớn hàng năm. Hơn nữa, dù ngành hoá chất trongnước tương đối phát triển nhưng 100% hoá chất nhuộm và hơn 80%hoá chấtkhác vẫn phải nhập khẩu. Như vậy vấn đề nguyên liệu chính là vấn đề nan giảicho ngành dệt. Cho đến nay mặc dù cây bông Việt Nam có những điều kiệnthuận lợi để phát triển nhưng cơ chế và tổ chức thực hiện còn lúng tong. Cótới 95% nguyên liệu chính(bông) phải nhập khẩu với giá không ổn đinh. Hiệntại các doanh nghiệp Dệt vẫn phải chạy theo thị trường mua bông theo kiểumớ món, giá cả thất thường làm cho sản xuất kinh doanh ở thế bị động và bấtlợi. Đầu ra của dệt chính là đầu vào cho may hay nói cách khác là sản phẩmcủa ngành Dệt chính là nguyên liệu cho ngành May. Nhưng nguyên vật liệutrong nước (ngành Dệt) chưa đáp ứng được do chất lượng thấp, nên phải nhậpdo đó rất bị động , thường không đồng bộ.Các sản phẩm Dệt thường không đạttiêu chuẩn về chất lượng và có tính chất đơn điệu. Vải sợi sản xuất trong nướcphần lớn được sử dụng ở các doanh nghiệp địa phương để sản xuất quần áocho nông thôn và vùng xa, chỉ thoả mãn một số nhu cầu của thành thị. Điềunày chính là nguyên nhân gây khó khăn cho các nhà chế tạo may mạc và thờitrang, cũng như các nhà thiết kế để nâng cao hiệu suất sử dụng các nguồnnguyên liệu trong nước.Trên 80% vải sẵn có trong nước hiẹn nay đều phảinhập khẩu. Thậm chí các doanh nghiêp may thuộc Tổng công ty Dệt may cũnghông sử dụng vải do các công ty trong nước sản xuất, có tới 90% nguyên vậtliệu để sản xuất hàng may mặc xuất khẩu phải nhập từ nước ngoài nên bị phụthuộc vào khách hàng bên ngoài. Vì vậy giá trị xuất khẩu của ngành may lớnnhưng nguyên liệu chính và phụ phần lớn phải nhập khẩu nên hiệu quả thấp.1.4 Mặt hàng Dệt may.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  8. 8. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Trước đây, các mặt hàng sợi được sản xuất chủ yếu là các loại sợi bôngchải thô, cung cấp cho thị trường nội địa, dệt các mặt hàng phổ thông như vảibạt quân dụng, vải bảo hộ lao động, ka ki.Những năm gần đây mặt hàng sợi đadạng và phong phú hơn. Tuy các mặt hàng đã được phát triển và nâng cao chấtlượng một cách rõ rệt, mang lại những kết quả khả quan trong xuất khẩu vàtiêu thụ nội địa nhưng tỷ lệ sản lượng mặt hàng có hiệu quả chưa cao làm choviệc phục hồi vốn đầu tư chem., kéo dài việc trả nợ.Hơn nữa công tác nghiêncứu các mặt hàng chưa được khuyến khích, thiếu chủ động trong việc tìmhang mới… nên chưa thay thế được các mặt hàng mà ngành May phải nhập đểtái xuất, chưa hình thành được mối liên hệ vững chắc giữa Dệt và May trên thịtrường nội địa. Sản phẩm của ngành May rất đa dạng và phong phú, có tính chất thờitrang, vừa có tính quốc tế, vừa có tính dân tộc. Kinh tế phát triển, đời sốngnhân dân được nâng cao, yêu cầu hàng may lại càng phong phú và chất lượngcao hơn. Bên cạnh những mặ hàng truyền thống nhân dân mặc hàng ngày,thông qua gia công cho các nước, các doanh nghiệp Việt Nam có điều kiệnlàm quen với công nghệ may phức tạp, thời trang của thế giới. Có nhiều chủngloại mặt hàng các doanh nghiệp đang sảnn xuất phục vụ tiêu dùng trong nướcvà xuất khẩu như: -Nhóm mặt hàng lót. -nhóm mặt hàng mặc thương ngày: sơ mi, quần âu,áo váy… -Nhóm quần áo thể thao: quần áo vải thun, quần áo Jean. -Nhóm thời trang hiện đại -Nhóm trang phục đặc biệt: Quân đội, Nội vụ, bảo hộ lao động cho cácloại ngành nghề. Các chủng loại mặt hàng trên với nhiều chất liệu và phụ liệu, các doanhnghiệp may đang thực hiện đơn hàng với nước ngoài vàcủa các ngành trongnước với tay nghề tốt, khéo léo nên sản phẩm sản xuất ra đạt yêu cầu chấtlượng của khách hàng. Tuy vậy, do còn thiếu các máy chuyên dùng hiện đại,http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  9. 9. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệpphải dung nhiều thao tác thủ công nên năng suất thấp so với nhiều nước khác.Một số mặt hàng như áo da….do chưa co máy chuyên dùng nên còn bị hạnchế trong sản xuất.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  10. 10. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp1.5 Lao động ngành dệt may. Nghề dệt may không đòi hỏi kĩ thuật cao siêu, điêu luyện nên ngành rấtdễ thu hút nhiều lao động. Đến nay cac doanh nghiệp Dêt may đã thu hút hơn500.000 lao động góp phần đáng kể trong việc giải quyết khó khăn về việclàm cho người lao động. Tuy rằng lao động Việt Nam có đôi bàn tay khéo léo,tiếp thu kiến thức mới nhanh nhưng do chưa được đào tạo bài bản, hệ thốngnên trình độ của họ còn rất hạn chế. Hơn nữa, do điều kiện làm việc chuyênmôn hoá cao nên cường độ lam việc căng thẳng trong khi tiền lương nói chungcòn thấp và có sự chênh lệch lớn giữa các doanh nghiệp nên có nhiều biếnđộng lớn trong đội ngũ lao động ngành. Thực tế cho thấy rằng các công ty sảnxuất phát triển, đủ việc làm, thu nhập cao, biến động lao động nhỏ, công nhângắn bó với công ty, thậm chí nhiều người xin vào làm việc. Ngược lai ở nhữngdoanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, sản xuất đình trệ, thiếu việc làm, thu nhậpthấp sẽ nảy sinh tinh trạng “ đất không lành, chim không đậu”, công nhân lànhnghề , công nhân mới đào tạo sau thơi gian quen việc cung sẽ dần chuyển sangcông ty khác. Bên cạnh đó ngành đang có tình trạng thiếu nguồn lao động quản lý vàkĩ thuật, nghiệp vụ. Hầu hết, các cán bộ quản lý chủ chốt trong các doanhnghiệp Dệt may đều có trinh đọ đại học hoặc cao đẳng, chuyên môn khánhưng trình độ quản lý theo phong cánh công nghiệp còn yếu, tiếp cận vớiphương thức quản lý hiện đại còn ít. Cán bộ kĩ thuật chủ yếu trưởng thành từcông nhân bậc cao nên chỉ giỏi về chuyên môn của nhưng sản phẩm cụ thểcon như việc sáng tác mẫu, tạo dang sản phảm còn rất kém. Các doanh nghiệprất cần những kỹ sư có bằng cấp, công nhân kĩ thuật và các nhà quản lý-những người có khả năng nắm bắt công nghệ hiện đại. Có một thực tế là nhiềudoanh nghiệp bỏ ra một số tiền lớn để mua thiết bị và công nghệ hiện đại, giácao để chuẩn bị cho việc sản xuất các mặt hàng cao cấp, song người vận hànhcác thiết bị này lại có trình độ chuyên môn thấp.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  11. 11. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Nhìn chung tăng trưởng nhanh trong khi những cán bộ kĩ thuật và quảnlý được đào tạo tại các trường có xu hướng giảm dần nên dẫn đến tình trạngthiếu đội ngũ công nhân lành nghề và cán bộ khoa học cho ngành Dệt may.II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM2.1.Quan điểm phát triển.2.1.1 một số quan điểm phát triển ngành dệt may.2.1.1.1 Công nghiệp dệt may phải được ưu tiên phát triển và phải được coi làngành trọng điểm trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước tatrong những năm tiếp theo Trong 4 năm qua ,kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đều tăng và đã vươnlên hàng thứ hai trong 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của đất nước . Mặt khác,ngành công nghiệp dệt may là ngang thu hút nhiều lao động, vốn đầu tư khônglớn và đang trong xu hướng chuyển dịch từ các nước Đông á và các nướcĐông Nam á. Nước ta là một nước có nguồn lao động dồi dào và lành nghềnên có thể coi đây là một lĩnh vực lớn có khả năng phát triển nhất. Đồng thờivới dân số là hơn 80 triệu thị trường trong nước có tiềm năng to lớn tiêu thụcác mặt hàng tiêu dùng trong đó có hàng Dệt may.2.1.1.2 Phát triển công nghiệp Dệt may theo hướng hiện đại và đa dạng vềsản phẩm Công nghệ hiện đại ngày nay đã trở thành yêu tố quyết định cho sựphồn vinh của mỗi quốc gia, hay sức mạnh cạnh tranh kinh tế quốc tế của mỗisản phẩm. Chúng ta chỉ có thể thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triểnvà tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế thông qua việc tăngcường năng lực công nghệ quốc gia, tiếp cận và làm chủ công nghệ tiên tiếnvà công nghệ cao. Từ nhận định đó , công nghiệp dệt may phải dược pháttriển theo hướng hiện đại và đa dạng hoá về sản phẩm. Trong thời gian tới , cung với sự phát triển kinh tế của cả nước , nhu cầuhàng tiêu dùng sẽ tăng lên nhưng không đơn giản tăng về số lượng mà ngàycàng đòi hỏi nâng cao về chất lượng ,đa dạng về mẫu mã và số lượng các mặthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  12. 12. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệphàng cao cấp cũng tăng lên. Theo quy luật tiêu dùng thì khi thu nhập tăng lên ,tỷ lệ chi cho ăn uống sẽ giảm tương đối , còn tỷ lệ tiêu dùng hàng hoá sẽ tănglên rất nhanh. Như vậy cung với sự gia tăng dân số và tăng thu nhập thijtrường trong nước sẽ là tiền đề cho công nghiệp sản xuất hang tiêu dùng nóichung và hàng dệt may nói riêng. Đối với thị trường nước ngoài , để tiếp cận thành công sự dịch chuyểnkinh tế từ các nước phát triển hơn và nhanh chóng thay thế họ thâm nhập vàocác thị trường quốc tế mới, ngành dệt may cang cần được trang bị theo hươnghiện đại. Có như vậy mới đáp ứng được nhưng nhu câu ngày càng cao , ngàycàng đa dạng cua thị trường trong và ngoài nước. Tất cả các yếu tố đó, đòi hỏi bức xúc nghành dệt may phải có kế hoạchhiện đại hoá từng bước, kết hợp giữa thay thế và hiện đại hoá, đồng thời nhanhchóng tiếp thu công nghệ mới để giảm bớt khoảng cách tụt hậu.2.1.1.3 Phát triển công nghiệp dệt may theo hướng kết hợp hướng về xuấtkhẩu với thay thể nhập khẩu. Hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu có hiệu quả,đó là kinh nghiệm của nhiều nước công nghiệp mới ( NIC) và ở nước ta cũngxác nhận điều đó. Đó là một hướng chiến lược cơ bản của quá trình côngnghiệp hoá và hiện đại hoá trong những điều kiện của thế giới ngày nay.Ngành dệt may là một trong những ngành làm được điều đó . Thực tế nhữngnăm qua cho they, chiến lược hướng về xuất khẩu đã thu được những kết quảđáng khích lệ. Kinh nghạch xuất khẩu trong những năm qua đều tăng. Nhờnguồn ngoại tệ thu được, ngành có điều kiện tái đầu tư để hiện đại hoá đẩymạnh sản xuất. Song song với xu hướng đẩy mạnh xuất khẩu, cần kết hợp sản xuất cácmặt hàng thay thế nhập khẩu. Thị trường trong nước với dân số đông và sứcmua ngày càng lớn là đối tượng rất quan trọng mà công nghiệp dệt may phảiđáp ứng cho được từ những sản phẩm bình thường phù hợp với đa số ngườihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  13. 13. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệpdân lao động cho đến những mặt hàng cao cấp phục vụ cho các đối tượng cóthu nhập cao. Hiện tại, các sản phẩm dệt may của ta bị cạnh tranh gay gắt bởi các sảnphẩm nhập khẩu chủ yếu ở giá cả. mặc dù, chất lượng có kém hơn song dothắng áp đảo về giá nên họ vẫn chiếm được thị trường rộng lớn ở nông thôn.Đấy là điểm yếu quan trọng buộc các nhà sản xuất phải bằng nhiều cách đểtiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm thì mới có thể cạnh tranh được. 2.1.1.4 Phát triển công nghiệp dệt may theo hướng đa dạng hoá sở hữuvà tập trung vào các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ. Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thịtrường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN là chiến lược pháttriển kinh tế của Đảng. Thực tế cho thấy, ở bất cứ một ngành kinh tế kỹ thuậtnào, nếu không có nhiều thành phần kinh tế tham gia thì sẽ không tạo ra đượcmôi trường cạnh tranh, mà cạnh tranh chính là đông lực thúc đẩy sự pháttriển. Trong tổ chức của ngành dệt may đã có những mô hình quy mô lớnnhưng kém hiệu quả. Qua nhiều lần tiến hành đổi mới quản lý và quanhiềuhoạt động thực tế cho they doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ lànhững mô hình hoạt động tốt. 2.1.1.5 Phát triển công nghiệp dệt may phải gắn liền với sự phát triểncủa ngành công nghiệp và các ngành kinh tế khác, đồng thời góp phần thúcđâỷ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và dịch chuyển cơ cấu kinh tế ởnước ta. Trong chiến lược phát triển Kinh tế- Xã hội đến năm 2010, Đảng đãchỉ rõ cần phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tếmà trước hết là công nghiệp hoá nông thôn. Như vậy , đối với tất cả các ngành công nghiệp , đặc biệt như côngnghiệp Dệt may là nganh sử dụng nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp như bôngtơ tằm , trong chiến lược phát triển của mình cần phải xác định được hướngphát triển là phải gắn lion với sự phát triển của ngành nông nghiệphttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  14. 14. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Trong suốt quá trình phát triển của mình ngành công nghiệp dệt mayViệt nam luôn ở trong tình trạng bị động về nguyên liệu . Hầu hết tất cả cácloại nguyên liệu đều phải nhập khẩu, kể cả bông xơ là loại nguyên liệu mà tacó thể tự cung cấp một phần. Tơ tằm tuy không phải nhập khẩu nhưng nguồntơ sản xuất bị hạn chế cả về số lượng lẫn chất lượng nên giá trị xuất khẩuthấp.Do vậy muốn từng bước tiến tới sự phát triển ổn định bền vững ngành dệtmay phải tạo được cho mình một cơ sở nguyên liệu thích hợp và ổn định2.1.2 Một vài chính sách của đảng và nhà nước đối với ngành dệt may2.1.2.1Chính sách về bảo hộ hàng sản xuất trong nước Do tinh trạng thiết bị cũ , nhiều năm chưa được đổi mới lại thêm côngnghệ lạc hậu nên sản phẩm sản xuất ra chỉ đạt mức trung bình, đáp ứng mộtphần nhu cầu bình thường của người dân. Trong khi đó các nước khác vớimáy moc hiện đại và công nghiệp tiên tiến đã sản xuất ra rất nhiều loại vải cómẫu mã đẹp ,chất lượng cao , sẵn sàng tràn vào thị trường việt nam để lũngđoạn thị trường. Trước sức ép của hàng ngoại nhập vào nước ta có thể đánh đổhàng Dệt may trong nước , Nhà nước có chủ trương bảo vệ hàng nôịi địa.Chính sách bảo vệ hàng dệt may nội địa được thực hiện qua các biện phápchính sau đây: - Lập hàng rào thuế quan đối với hàng ngoại nhập. - Sử dụng hạn ngạch để hạn chế số lượng . - Tăng cường các biện pháp quản lý thị trường nhằm hạn chế đến mứctối thiểu hàng nhập lậu qua biên giới trên bộ và trên biển. Với hàng rào thuế quan và hạn ngạch nhập khẩu , chúng ta đã bảo hộhàng sản xuất trong nước , nhưng không phải lúc nào cũng đạt kết quả mongmuốn . Với hàng ngàn con đường biên giới trên bộ và trên biển , nhất là khinước ta và Trung Quốc bình thường hoá quan hệ thì tình trạng buôn lậu quabiên giới rất phổ biến.Hàng dệt may Trung Quốc với mẫu mã đa dạng , phongphú về chủng loại và giá rẻ đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam.Để hỗ trợ các biện pháp về thuế quan và hạn ngạch hàng nhập , Nhà nước tahttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  15. 15. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệptăng cường quản lý thị trường như đòi hỏi các chủ hàng vận chuyển phải cóhoá đơn , chứng minh xuất xứ hàng hoá, truy thu thuế và triệt để thu thuếdoanh thu. Tuy nhiên do lực lượng thu thuế của ta dàn mỏng nên khâu quản lýthị trường còn nhiều sơ hở, kết quả thu được không đạt như mong muốn. 2.1.2.2 Chính sách về khuyến khích xuất khẩu Xuất khẩu hàng hoá là một trong những mục tiêu lớn của Nhà nước tanhằm cân bằng kim ngạch xuất nhập khẩu. Đối với ngành Dệt may là mộtngành mà nguyên liệu chủ yếu phụ thuộc nước ngoài, hàng năm chúng ta phảinhập khoảng 60.000-70.000 tấn bông, xơ sợi và hàng tấn hoá chất thuốcnhuộm, phụ ting cơ kiện thay thế đưa kim ngạch nhập khẩu lên khoảng120-150 triệu USD. Muốn cân bằng kim ngạch xuất- nhập khẩu , không cócách nào khác là phải đẩy mạnh sản xuất khẩu. Để khuyến khích xuất khẩu, từnhiều năm nay Nhà nước không đánh thuế xuất bkhẩu ào mặt hàng Dệt mayhay nói cách khác là áp dụng biểu thuế suất bằng 0% đối với các mặt hàng Dệtmay. Đây là mức thuế thấp nhằm tạo điều kiên cho hàng Dệt may xuất khẩuđược thuận lợi. Dự kiến trong mấy năm tới đây, Nhà nước cũng sẽ áp dụngchính sách ưu đãi hàng xuất khẩu 2.1.2.3.Chính sách về khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt nam Luật đầu tư nước ngoài vào Việt nam ra đời đã được nhiều công ty từcác quốc gia và khu vực hưởng ứng. Với điều khoản rộng rãi, thoáng và luônđược điều chỉnh ho phù hợp luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam đã được dưluận đánh giá cao. Qua xem xét các dự án đầu tư nước ngoài vào Việt nam về ngành Dệt,chúng ta nhận they có một số điểm sau đây: -Hầu hết các dự án đầu tư của các nước Đông á và các nước Đông Namá, Nhật Bản, Tây Âu và Bắc Mỹ chưa sẵn sàng đầu tư vào ngành Dệt Việtnam. -Đa phàn các thiết bị máy móc đưa vào hầu hết đã qua sử dụng. Đây làmột sự chuyển dịch của các nước NIC nhằm đổi mới công nghệ hiện đại tạihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  16. 16. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệpchính quốc, ận dụng giá trị sử dụng còn lại của thiết bị và khai thác nhân côngrẻ tai Việt Nam. Rõ ràng trong lĩnh vực thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành Dệtmay, chúng ta gạp phải một mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa ý muốn chủquan đưa nhanh ngành Dệt trở thành ngành công nghiệp chủ lực có máy mócthiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến và vốn đầu tư thiếu. Chấp nhân đưa thiếtbị cũ vào Việt Nam, ngành Dệt may nước ta tiếp tục đi sau ngành Dệt may thếgiới nhưng trong điều kiện nền kinh tế chưa phát triển người lao động chưa cóđủ việc làm thì chung ta phải tạm thời chấp nhận ở mức độ nhất định.2.2 Định hướng phát triển ngành dệt may 2.2.1 Giải pháp về thị trường 2.2.1.1 Nghiên cứu thị trường Thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là nguồn đầu ra của qua trìnhsản xuất kinh doanh, thị trường là vấn đề hết sức quan trọng mang tính sốngcòn của mỗi doanh nghiệp vì nó đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanhnghiệp. Để nâng cao hiệu qủa hoạt động sản xuất kinh doanh hàng may mặctrước tiên là phải nghiên cứa tìm hiểu thị trường tiêu thụ một cách chu đáo.Hoạt động nghiên cứa thị trường đòi hỏi phải nắm bắt được những thông tinthiết yếu về nhu cầu, khả năng tiêu thụ cũng như các điều kiện xâm nhập thịtrường của hàng Dệt – May. Từng bước củng cố, mở rộng các thị trườngtruyền thống ( Khối Đông Âu, Nga…) đồng thời tích cực tìm mọi cách xâmnhập, chiếm lĩnh các thị trường tiểm năng mới như Nhật, Mỹ, Châu Á…Trước mắt, để tăng tỷ trọng xuất khẩu hàng Dệt – May cần phải tập trung vàocác thị trường trọng điểm, đó là thị trường EU, Nhật…. 2.2.1.2 Chính sách sản phẩm. Quá trình tiêu thụ sản phẩm được thuận lợi hay không đòi hỏi cả một cơchế hệ thống hoàn hảo từ công nghệ sản xuất, hoàn thành sản phẩm đến việctiếp thị, quảng cáo, tiêu thụ được trên thị trường sẽ đem lại doanh thu, lợinhuận cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển sản xuất vàhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  17. 17. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệptiêu thụ sản phẩm.Đối với ngành Dệt – May, việc đề ra chính sách sản phẩmđúng đắn phù hợp với từng thời kỳ, từng thị trường có ý nghĩa hết sức to lớntrong việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, tăng thêm kim nghạch xuất khẩu,chiếm lĩnh thị trường trong nước và thế giới trong giai đoạn hiện nay. Chính sách sản phẩm hàng Dệt – May trước tiên phải bảo đảm phù hợpthị hiếu ngời tiêu dùng và khả năng từng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Bắtđầu từ khâu sẩn xuất, sản phẩm phải bảo đảm được tiêu chuẩn chất lượng phùhợp với từng thị trường, các lọai vải phải đủ chất lượng, quần áo phải phù hợpvới hoàn cảnh và thời gian sử dụng. Nhà kinh doanh hàng Dệt – May phảinắm được thị hiếu, sở thích của thị trường trong nước và quốc tế về các loạimẫu mã để từ đó đáp ứng nhu cầu của họ. Trước mắt, sự cần thiết phải có mộtbộ phận nghiên cứu mẫu mã hàng Dệt – May. Sự phát triển của việc nghiêncứu mẫu hàng ở Việt Nam mới chỉ bắt đầu nhưng phần nào đẫ đáp ứng đượcnhu cầu tạo mẫu cho hàng Dệt – May. Một hướng phát triển tốt cho việc nghiên cứu tạo mẫu hàng Dệt – May đólà thành lập các trung tâm nghiên cứu tạo mẫu thời trang nằm trong các doanhnghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội về những thông tin thời trang và nhu cầuvề tiêu dùng sản phẩm Dệt – May trong tương lai, từ đó mở rộng hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.* Thị trường trong nước. Nước ta với số dân khá đông ( Khoảng 75 triệu dân ) nên nhu cầu tiêu thụcũng rất lớn, thu nhập quốc dân bình quân đầu người mới đạt 250 USD/ nămnhưng có sự chênh lệch lớn giữa thu nhập của người dân thành thị và nôngthôn. Những người dân thành thị có yêu cầu về hàng Dệt – May cao hơn nhiềuso với những người ở nông thôn và miền núi. Nghĩa là họ có thể mua sắmquần áo hàng tháng, đặc biệt là vào các dịp lễ tết. Ngược lại, người có nhu cầuthấp hiện nay cũng thích xài hàng Dệt – May một mùa hợp với túi tiền củahọ. Điều này cho thấy tại sao hàng may mặc Trung Quốc cần rất ít nguyênliệu, mẫu mã đẹp, rẻ lại tràn ngập thị trường Việt Nam. Hàng Dệt – May Việthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  18. 18. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệpNam lại chủ yếu xuất khẩu xuất chủ yếu sang thị trường EU, Nhật Bản….. lànhững khách hàng rất kỹ tính với đòi hỏi cao về chất lượng. Nếu có sai sót bịtrả lại và bán trên thị trường nội địa thì không phải ai cũng có thể mua đượcngoại trừ tầng lớp có thu nhập cao và tương đối cao nên rất khó tiêu thụ. Đóchính là hạn chế của nền kinh tế hướng về xuất khẩu. Một số doanh nghiệp chú trọng sản xuất hàng xuất khẩu, bỏ rơi thị trườngnộiđịa trong khi điều kiện cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật còn lạc hậu, tỷ lệsản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu thấp đã dẫn đến tình trạng làm ăn thua lỗ.Đối với những sản phẩm may mặc cao cấp, lâu nay chúng ta vẫn mặc “thừa”của các khách hàng nước ngoài, thị trường nội địa đang bị các nhà sản xuất bỏquên. Nhiều doanh nghiệp chỉ bán những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn xuấtkhẩu trên thị trường nội địa mà không có chiến lược phát triển thị trườngtrong nước, điều đó làm uy tín của doanh nghiệp trên thị trường nội địa bịgiảm sút. Đó là do các hoạt động nghiên cứu thị trường còn yếu, không chủđộng xây dựng chiến lược mở rộng thị trường sản phẩm, không thường xuyênnghiên cứu thiết kế mẫu, mốt nên không chủ động trong việc sản xuất hàngcao cấp tiêu thụ trong nước. Mặt khác, do bộ máy đôi lúc còn quan liêu, ỷ lại,khách hàng nước ngoài thường đặt với lô hàng lớn, có sẵn mẫu mã, chỉ phảitính giá thành và thương lượng giá bán với khách hàng và sản xuất theo mẫukhách hàng đặt mà thôi. Đặc điểm chu kỳ sống của sản phẩm Dệt – May là ngắn. Tuy nhiên, đốivới các thị trường có thu nhập thấp như nông thôn, miềm núi, chu kỳ sống cuẩsản phẩm lại dài hơn. Vì vậy, bên cạnh việc phát triển thị trường cao cấp ở cácđô thị, còn phải phát triển mạnh mẽ thị trường cấp thấp và trung bình ở nôngthôn. Đây là chiến lược phù hợp với trình độ và các điều kiện về thiết bị côngnghệ ngành Dệt – May nước ta hiện nay. Để duy trì và mở rộng thị trường nội địa, ngoài việc nắm chắc các hoạtđộng như nghiên cứu thị trường, chính sách các sản phẩm, còn phải tổ chức tốtcác kênh tiêu thụ sản phẩm thành một mạng lưới rộng khắp cả nước. Tổ chứchttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  19. 19. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệpra các trung tâm chuyên buôn bán kinh doanh hàng Dệt – May, phân phốihàng hóa đến mọi vùng của đất nước.* Thị trường xuất khẩu Bên cạnh việc đàm phán để tăng hạn ngạch đối với các thị trường có hạnngạch thì các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp để tăng sản xuất và xuấtkhẩu sang các thị trường phi hạn ngạch, tìm kiếm các thị trường mới. Cần chútrọng, nghiên cứu các tập quán, thông lệ để mở rộng buôn bán với các thịtrường khác nhau. Nhưng điều quan trọng nhất là phải chuyển hình thức sảnxuất và tiêu thụ để nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất khẩu, tận dụng lợi thếso sánh và tính cạnh tranh của sản phẩm. `Chính sách sản xuất và xuất khẩuhàng Dệt – May hiện tại và trong tương lai gần theo phương thức mua nguyênliệu bán thành phẩm là định hướng đúng đắn cho việc phát triển ngành Dệt –May. Hiện tượng giảm giá gia công đã kéo dài trong nhiều năm qua và dườngnhư chưa có dấu hiệu chấm dứt trong những năm tiếp theo, ngành Dệt - Mayphải có giải pháp để đối phó với tình hình này khi còn chưa muộn. Bản thâncác nhà hoạch định của ngành cũng đã khẳng định rằng làm gia công cho nướcngoài khó có thể tăng thu nhập nếu không muốn nói là có nguy cơ giảm dầnvà cũng không có tích lũy để đầu tư phát triển sản xuất trong nước. Chỉ có conđường sản xuất sản phẩm toàn bộ cho xuất khẩu và thị trường trong nước mớiđem lại lợi ích cho ngành Dệt – May và người lao động. Những người trựctiếp sản xuất cũng nhận thấy thời hoàng kim của gia công đang lụi dần. Hầuhết các doanh nghiệp năng động trong nước đều có chung một mong muốn làđược xuất khẩu theo điều kiện FOB. Ngay cả trong việc ủy thác gia công, nếu không tự cung ứng kịp thời đượcnguyên liệu cho các mặt hàng trung và cao cấp cũng sẽ mất ưu thê cạnh tranhđối vơí những nước có khả năng cung ứng nguyên liệu tại chỗ và đây cũngchính là yếu điểm của ngành Dệt – May nên cũng dễ bị ép giá gia công thấphơn các nước khác như đã thấy trong mấy năm gần đây.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  20. 20. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Trong các phương thức thanh toán với nguồn hàng và bạn hàng quốc tế,các nhà kinh doanh hàng Dệt – May nên thực hiện các hình thức phù hợp vớicác điều kiện linh hoạt dễ dàng trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Việc cung cấpđối với nguồn cung cấp hàng, các nhà xuất khẩu nên tạo điều kiện thanh toánđúng hạn với các phương thức thỏa thuận hợp lý giữa đôi bên, thậm chí nếu cócơ sở cung ứng gặp khó khăn về tài chính thì có thể ứng vốn trước để họ sảnxuất hàng. Việc thiết lập các thủ tục thanh toán đơn giản, gọn nhẹ sẽ tạo điềukiện cho các nhà sản khẩu chuẩn bị đầy đủ và kịp thời các mặt hàng xuất khẩu,đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng xuất khẩu, tạo lập uy tín đối với kháchhàng, đồng thời duy trì được nguồn cung ứng hàng khan hiếm.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  21. 21. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp2.2.2 Giải pháp về cơ cấu sở hữu Đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần,vận hành trong cơ chế thịtrường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước củaĐảng ta trong thời gian vừa qua đã huy động được tiềm lực to lớn trong dânvào đầutư phát triển. Điều đó được thể hiện rất rõ ở số doanh nghiệp thuộcthành phần kinh tế tư nhân và các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và rất nhiều cácliên doanh và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài. Nhờ có sự đa dạng hóa về loại hình sở hữu như vậy mà nhu cầu đa dạngvề hàng Dệt -May của các tầng lớp dân cư ở khắp mọi miền đất nước đã bướcđầu được đáp ứng, ngay cả các nhu cầu lẻ như các loại vải thổ cẩm phục vụcho các dân tộc ít người, các loại vải lễ hội... cũng được các tổ chức quy mônhỏ đáp ứng. Trong xu thế phát triển chung, các doanh nghiệp Dệt – May cần được tổchức theo mô hình quy mô nhỏ và vừa, đồng thời đẩy mạnh cổ phần hóa cácdoanh nghiệp Nhà nước để tăng khả năng huy động vốn từ nhân dân. Khi tiếnhanhf cổ phần hóa, cần dành một tỷ lệ thích hợp giá trị tài sản của các doanhnghiệp giao cho công nhân quản lý dưới dạng các cổ phần cho vay. Có nhưvạy mới gắn được quyền lợi và trách nhiệm người lao động với doanh nghiệp,làm cho họ tận tâm với doanh nghiệp mình. Thực tế cho thấy, cổ phần hóa các doanh nghiệp Dệt – May là một vấn đềhết sức khó khăn vì hiện tại hầu hết các doanh nghiệp đều có hiệu quả khôngcao. Để khắc phục tình trạng này, cần tiến hành cổ phần hóa từng bước một,cổ phần hóa các doanh nghiệp May trước rồi đến các doanh nghiệp Dệt quymô nhỏ. Đẩy mạnh phát triển các doanh nghiệp Dệt May theo hướng hạn chếviệc thành lập các doanh nghiệp Nhà nước ngoại trừ các daonh nghiệp kéo sợihoặc nhuộm, hoàn tất vì đối với các công đoạn này, tổ chức sản xuất theo quymô trung bình hoặc trên trung bình là có hiệu quả hơn. Đồng thời, tạo điềuhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  22. 22. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệpkiện cho mọi thành phần kinh tế cùng tham gia phát triển các doanh nghiệpDệt – May ở quy mô nhỏ. Hiện tại, ngành công nghiệp Dệt – May Việt Nam dang trong xu hướngtiếp nhận sự chuyển dịch từ các nước phát triển hơn trong khu vực và trên thếgiới. Đối tượng trực tiếp của sự chuyên dịch này, trước hết các doanh nghiệpNhà nước ( các doanh nghiệp Nhà nước có ưu thế hơn các doanh nghiệp ở cácthành phần kinh tế khác là hạ tầng cơ sở tốt hơn và có diện tích lớn hơn, nênkhả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức liên doanh nhiều hơn),sau đó mới đến các doanh nghiệp của các thành phần kinh tế khác. Chính vì vậy, song song với quá trình tiếp nhận thiết bị và công nghệ mới,cần phải chuyển dịch tốt quá trình chuyển giao thiết bị và công nghệ bao gồmcả phần cứng và phần mềm từ các doanh nghiệp nhà nước sang các doanhnghiệp nhỏ của các thành phần kinh tế khác, có như vậy sẽ tạo nên một hệthống công nghệ nhiều tầng, nhiều trình độ, có khả năng phục vụ được mọinhu cầu của mọi đối tượng trong xã hội. Sản xuất trong công nghiệp Dệt – May không thích hợp với mô hình sảnxuất lớn, do đó về lâu dài cần nghiên cứu để có bước đi thích hợp trong việcchuyển sang các thành phần phi quốc doanh. Đã đến lúc cần tìm lời giải đápcho câu hỏi: Nhà nước có cần thiết duy trì một lượng vốn quá lớn cho sự pháttriển của ngành Dệt- May như hiện nay hay không hay nhường dần cho cácthành phần kinh tế khác? Thay vào đó, Nhà nước sẽ tập trung vào việc pháttriển những ngành làm cơ sở cho công nghiệp Dệt – May phát triển tốt nhưĐiện, cơ khí, hóa chất...... Đa dạng hóa các loại hình sở hữu cũng là một tronh những giải pháp vềvốn quan trọng mà ngành Dệt – May cần thực hiện để đẩy nhanh quá trìnhcông nghiệp hóa- hiện đại hóa ngành kỹ thuật này.2.2.3 Giải pháp về thiết bị công nghệ 2.2.3.1 Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  23. 23. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Vấn đề cấp bách hiện nay là cần mạnh dạn đổi mới quy trình công nghệ,kết hợp đúng mức các trình độ công nghệ hiện có, đầu tư mua sắm thiết bị Dệt– May đồng bộ, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật cao, loại bỏ dần các thiết bị công nghệlạc hậu, không còn thích hợp. Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ là nhân tố đóng vai trò quyết định đốivới sự phát triển của ngành Dệt – May. Nó cũng là sự đòi hỏi khách quan, làsự sống còn của ngành Dệt – May, đặc biệt là ngành Dệt vì: • Hàng Dệt – May có đặc điểm là có tính linh động cao trên thị trường, chu kỳ sản phẩm ngắn, tính mốt thể hiện rõ, tính quốc tế cao. Do đó công nghệ phải đổi mới nhanh và theo hường hiện đại. Đổi mới máy móc thiết bị công nghệ là một yêu cầu cấp bách để đảm bảo tính cạnh tranh của sản phẩm Dệt – May. • Xu thế phát triển ngành Dệt – May trên thế giới là chuyển dịch ngành Dệt – May từ các nước Tây Âu, Nhật Bản sang các nước Châu á, Đông Nam á - nơi có nhân công rẻ, trình độ phát triển thấp. Điều đó đòi hỏi ngành Dệt – May phải đổi mới thiết bị công nghệ để hòa nhập với thế giới. Để đổi mới thiết bị công nghệ vốn đầu tư, vốn đàu tư lớn sẽ điều kiện đểcó công nghệ và kỹ thuật hiện đại. Lựa chọn đúng công nghệ cần đầu tư vàquản lý, sử dụng tốt công nghệ sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư. Do đó đầu tư đổimới thiết bị công nghệ và vốn là hai mặt của một quá trình thống nhất, quan hệmạt thiết, ràng buộc, chi phối lẫn nhau. Ngành Dệt – May trong những năm qua đã có nhiều cố gắng trong đầu tưđổi mới thiệt bị công nghệ theo hướng trang bị đồng bộ một số máy móc thiếtbị, dây chuyền hiện đại để tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, hạ giáthành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa kinh doanh, đadạng hóa sản phẩm. Quá trình dổi mới thiết bị công nghệ trong ngành Dệt –May được thực hiện theo các phương thức đa dạng và có hiệu quả.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  24. 24. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Nhằm thực hiện mục tiêu phát triển ngành Dệt – May như đã đề ra, việcđầu tư đổi mới thiết bị công nghệ của ngành Dệt – May cần quán triệt cacquan điểm chủ yếu: • Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ ngành Dệt – May phải nhằm đưa công nghệ Dệt – May trở thành ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân. Ngành Dệt- May phải phát triển với quy mô lớn và đạt trình độ tiên tiến, đủ sức hòa nhập với nền kinh tế thế giới. Phát triển công nghiệp Dệt phải gắn liền với công nghiệp May nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp góp phần thúc đẩy công nghiẹep hóa – hiện đại hóa. • Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ trong ngành Dệt – May phải thực hiện theo hướng: Nâng cao trình độ công nghệ sẩn xuất, nhờ đó mà tăng sản lượng, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm; Đa dạng hóa sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩmđại diện cho kỹ thuật mới, có hiệu quả kinh tế xã hội cao; Kết hợp đầu tư chiều sâu và chiều rộng, trong đó chủ yếu coi trọng đầu tư chiều sâu, áp dụng công nghệ nhiều trình độ, trong đó các doanh nghiệp Nhà nước phải đi vào kỹ thuật, công nghệ hiện đại. • Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ là sự nghiệp của doanh nghiệp, do doanh nghiệp tự quyết định việc lựa chọn hướng va ftrình độ đổi mới, tự lo vốn và tự tổ chức việc đổi mới. Nhưng Nhà nước đống vai trò quan trọng trong việc khuyến khích đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ như có chính sách ưu đãi miễn giẩm thuế, chú trọng đào tạo cán bộ, cấp kinh phí hoặc hỗ trợ kinh phí cho các đề tài có ý nghĩa kinh tế quốc dân. • Đảm bảo hiệu quả kinh tế xã hội của đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ trong ngành Dệt – May liên quan đến những vấn đề như tỗc độ tăng trưởng, năng suất, chất lượng, giá cả sản phẩm, khả năng cạnh tranh của sản phẩm,lượng vốn, cơ chế huy động và sử dụng vốn, việc làm…..Hiệu quả kinh tế là mục tiêu căn cứ của lựa chọn phương án đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ và thực hiện đầu tưhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  25. 25. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp đổi mới thiết bị công nghệ. Tuy nhiên, những vấn đề xã hội như việc làm, tận dụng năng lực hiện có cũng cần đặt ra khi đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ của các doanh nghiệp trong ngànhDệt- May chịu tác động của các nhân tố thị trường, nguồn vốn và hiệu quả sựdụng vốn, xu thế tiến bộ khoa học công nghệ của ngành và của doanh nghiệp,chiến lược sản phẩm, cơ chế chính sách về khoa học công nghệ. Thực tế đã chỉra rằng thị trường, cơ chế chính sách tác động trước hết, toàn diện và mạnh mẽđến đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ hơn là tác động của chính cơ chế chínhsách khoa học công nghệ. Bộ bao “ thị trường, công nghệ, vốn” luôn là vấn đềcốt lõi của đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ, trong đó thị trường là khâu độtphá. Vì vậy để đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ cần chú ý các giải pháp: • Xuất phát từ nhu cầu thị trường về số lượng, chủng loại, chất lượng, giá cả sản phẩm mà lựa chọn mục tiêu, phương hướng, trình độ đối mới thiết bị công nghệ của doanh nghiệp cho thích hợp. Thực chất đây là sự gắn bó giữa chiến lược thị trường, chiến lược và phương án sản phẩm với chiến lược và phương án đổi mới thiết bị công nghệ, trong đó chiến lược và phương án sản phẩm đóng vai trò quyết định. • Lựa chọn hình thức đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ thích hợp nhằm đổi mới nhanh và có hiệu quả. Trong điều kiện của tiến bộ khoa học công nghệ ngày nay, doanh nghiệp có nhiều hình thức đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ cần phải lựa chọn. Nếu căn cứ vào quan hệ giữa tăng vốn và lao động cũng như trình độ kỹ thuật công nghệ của đổi mới có đầu tư theo chiều sâu và đầu tư theo chiều rộng. Nếu căn cứ vào nguồn đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ có:  Nhập và chuyển giao công nghệ thông qua liên doanh với nước ngoài hoặc thông qua hợp tác làm hàng xuất khẩu cho nước ngoài.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  26. 26. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp  Vay ngân hàng và bằng vốn tự có mua thiết bị, công nghệ hiện đại ở nước ngoài để đầu tư vào một số khâu trọng điểm của dây chuyền hoặc cả dây chuyền.  Tự nghiên cứu phát triển công nghệ Mỗi doanh nghiệp căn cứ vào nhu cầu và xuât phát từ khả năng,điều kiện cụ thể của mình mà lựa chọn hình thức đổi mới thích hợp. Song nhìnchung, đối với ngành Dệt – May, nhất là ngành Dệt phải lấy đầu tư theo chiềusâu là chủ yếu và coi trọng chuyển giao công nghệ thông qua liên doanh vơínước ngoài hoặc lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. • Đa dạng hóa và tăng nguồn vốn cho đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ. Để đổi mới thiết bị công nghệ, ngành Dệt – May cần lượng vốn đầu tư rất lớn. Giải pháp về vốn là: Tăng cường đầu tư từ trong nước thông qua con đường tự tích lũy, khấu hao cơ bản, tăng nguồn vốn lưu động từ cổ phiếu, trái phiếu, vay tín dụng….; Đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài nhờ việc lập các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài và lập xí nghiệp 100% voón nước ngoài. Dự kiến vốn nước ngoài sẽ đảm bảo 65% nhu cầu đầu tư; Thực hiện lãi suất ưu đãi cho đổi mới thiết bị công nghệ, áp dụng thời hạn cho vay dài hạn đổi mới thiết bị công nghệ với ngành Dệt từ 6 – 8 năm. • Tăng cường quản lý Nhà nước và phát triển công tác tư vấn đào tạo. Nhà nước cần xác định đổi mới thiết bị công nghệ ngành Dệt – May là một hướng ưu tiên trong danh mục các công nghệ được ưu tiên. Chú trọng công tác thẩm định đối với việc chuyển giao công nghệ, chú trọng phát triển công tác thông tin khoa học công nghệ và dịch vụ tư vấn về khoa học công nghệ phục vụ và hỗ trợ đổi mới thiết bị công nghệ của các doanh nghiệp ngành Dệt – May. 2.2.3.2 Đồng hóa công nghệ nhập. Đồng hóa công nghệ nhập là quá trình làm chủ công nghệ đã được giaovàtạo công nghệ nội sinh trên cơ sở công nghệ chuyển giao đó. Đây là mộthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  27. 27. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệptrong những giải pháp phát triển khoa học công nghệ rất thích hợp đối với cácnước đang phát triển. Nội dung của làm chủ công nghệ nhập bao gồm: • Duy trì được sản xuất ( bằng công nghệ nhập) tức là vận hànhvà bảo trì tốt thiết bị công nghệ. • Tự thiết kế chế tạo được những phụ tùng hay hỏng ( trừ những phụ tùng tự làm đắt hơn nhập). • Phát huy hết khả năng sản xuất mặt hàng của thiết bị công nghệ.Nội dung tạo ra công nghệ nội sinh bao gồm: • Tự thiết kế, chế tạo được thiết bị để phát triển được sản xuất ( trừ trường hợp thiết bị tự làm ra đắt hơn nhập) • Cải tiến, nâng cao tính năng thiết bị ( cho phù hợp với điều kiện Việt Nam, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng mặt hàng và sáng tạo thêm những mặt hàng mới). • Tạo ra các bí quyết, các đơn công nghệ sản xuất mặt hàng mớiĐối với ngành Dệt – May nước ta, việc đồng hóa công nghệ nhập có ý nghĩasống còn. Hiện nay, để duy trì sản xuất hoặc trẻ hóa thiết bị, các cơ sở sản xuấtkinh doanh phải nhập nhiều máy móc, thiết bị, phụ tùng, hóa chất, thuốcnhuộm, phụ kiện may mặc …với giá thường cao ( vì đó là hàng hóa có hàmlượng công nghệ cao). Trong khi đó láỉan xuất chủ yếu các mặt hàng gia côngvà cấp thấp với giá thường hạ ( vì đó là mặt hàng có hàm lượng công nghệthấp). Việc cân bằng cán cân thương mại trong ngành là rất khó khăn. Nhiềutrường hợp, các cơ sở sản xuất kinh doanh phải vay mượn số lượng ngoại tệtương đối lớn để rồi không có khả năng thanh toán nợ. Đồng hóa công nghệvới nội dung như trên chính là biện pháp giảm nhập khẩu. 2.2.3.3 Tăng cường các tác nhân thúc đẩy công nghệ* Tăng cường các viện nghiên cứu Trong những nămvừa qua, công tác nghiên cứu của các cơ quan nghiêncứu, thiết kế ngành Dệt – May còn chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuấtkinh doanh. Một số nghiên cứu xuất phát từ sở trường và khả năng của tổhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  28. 28. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệpchức, chưa đáp ứng được thực tế đòi hỏi sản xuất, kinh doanh. Một số điềukiện nghiên cứu và cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu thiếu đồng bộ và lạchậu so với thiết bị hiện có của các cơ sở sản xuất. Vì vậy, tăng cường các cơquan nghiên cứu chính là làm cho các tác nhân này đi sát với sản xuất kinhdoanh.* Tăng cường các bộ phận thông tin khoa học công nghệ Trong đầu tư và hoạt động sản xuất kinhdoanh, các doanh nghiệp Dệt –May thường thiếu thông tin về công nghệ và thị trường công nghệ. Điều đóảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Đầu tư vẫn chưalàm tăng trưởng mạnh ngành Dệt – May và chưa góp phần khai thác tiềm năngcủa ngành. Hàng Dệt – May Việy Nam vốn đã quen với thị trường Nga vàĐông Âu, thế những hàng Dệt – May Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ hiệnđãchiếm hầu như thị trường may mặc bình dân này. Rõ ràng phải tăng cường cácbộ phận thông tin công nghệ và thị trường công nghệ. 2.2.4 Giải pháp về lao động. Lao động là một yếu tố đóng góp quan trọng vào sự phát triển của ngànhcông nghiệp Dệt – May. Hiện tại và ngaycả sau này, khi mà ngành côngnghiệp Dệt – May đã được hiện đại hóa thì nó vẫn là một trong các ngành sửdụng nhiều lao động. Lao động phục vụ công nghiệp Dệt – May không đòi hỏi tinh xảo, khéoléo ở mức độ cao. Vì vậy, nó dễ dàng được đào tạo trong một thời gian ngắnđể nắm bắt và thao tác thành thạo các loại máy móc và thiết bị của ngành. đặcbiệt sự dồi dào nguồn lực lao động ở các nước đang phát triển là cơ hội và làtiền đề để các nước này đi vào phát triển ngành công nghiệp Dệt – May. Khi chi phí về sức lao động trong giá trị sản phẩm Dệt – May tăng lên làmđội giá thành, vượt qua mức mà thị trường tiêu thụ chấp nhận. Lúc đó, sảnxuất Dệt –May sẽ không phát triển được và sẽ xuất hiện sự chuyển dịch từvùng này sang vùng khác trong một nước hoặc từ nước này sang nước kháctrong phạm vi tòan cầu.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  29. 29. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Một nguyên tắc khác gây nên sự chuyển dịch của ngành Dệt – May là sựthiếu hụt về lực lượng lao động. Do phải làm việc căng thẳng, trong nhữngđiều kiện không mấy thuận lợ ( ca kíp, bụi, nóng, ồn….) trong khi thu nhập lạithấp nên lao động của ngành công nghiệp Dệt – May có xu hướng chuyển dịchsang các ngành kinh tế kỹ thuật khác ngày một nhiều. Chính vì vậy mà ởnhiều nước, do không chịu đựng được sức ép về tăng giá nhân công nên đãphải chuyển dịch ngành công nghiệp này từ thành thị ra vùng nông thôn hoặcthậm chí ra nước ngoài để mong tìm được một chi phí lao động thấp hơn. Để có được đội ngũ lao động có trình độ nên thực hiện các biệnpháp cụ thể về đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật trong ngành như sau: • Các doanh nghiệp trong hiệp hội lập qũy học bổng, khuyến khích học viên giỏi trong các chuyên ngành Dệt – May để thu hút học viên vào học ngành này. • Đầu tư cơ sở vật chất cho các trường đào tạo công nhân công nghệ cùng với việc thay đổi nội dung và chương trình đào tạo để theo kịp với các nước công nghiệp phát triển. • Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ trong ngành. Phối hợp đào tạo giữa các viện, trường trong ngành Dệt – May với các cơ sở đào tạo quốc gia nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ kinh tế kỹ thuật của ngành. Bồi dưỡng thường xuyên theo các chương trình ngắn hạn. Tổ chức hội thảo để cung cấp trao đổi những thông tin trong và ngoài nước. Cử cán bộ khoa học kỹ thuật giỏi, có khả năng và kiến thức cần thiết đi thực tập, đào tạo ở các nước có nền công nghiệp Dệt – May phát triển nhằm thu thập và nắm bắt các bí quyết về công nghệ mà trong nước đang cần hoặc tiếp nhận chuyển giao công nghệ mới. • Chuẩn hóa chức năng, yêu cầu về trình độ chuyên môn kỹ thuật của từng vị trí trong ngành, từ đó có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ lao động trong ngành.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  30. 30. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp Ngoài ra để ổn định và giữ vững đội ngũ lao động và cán bộ khoahọc kỹ thuật, nghiệp vụ trong ngành, một số biện pháp có thể thực hiện như: • Xây dựng tiêu chuẩn tuyển dụng lao động như: ít nhất phải tốt nghiệp phổ thông trung học; đã được đào tạo cơ bản qua trường dạy nghề ( những trường hợp chưa được đào tạo, doanh nghiệp sẽ tổ chức đào tạo chuyên môn). • Các biện pháp về đòn bẩy kinh tế - đây là động lực kích thích mạnh nhất, có tác dụng trực tiếp thu hút sự quan tâm, sự gắn bó lâu dài, khả năng phát huy năng lực trí tuệ của người lao động và đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ. Các công ty đã hoàn chỉnh các quy chế tiền lương, đảm bảo công bằng, công khai, quy chế khen thưởng, phụ cấp cho cán bộ quản lý giỏi, cán bộ kỹ thuật giỏi và công nhân giỏi, quy chế khuyến khích cán bộ công nhân đi học. • Không ngừng nâng cao chất lượng và đổi mới thiết bị công nghệ nhằm tăng năng suất lao động và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Đối với vấn đề lao động trong ngành Dệt, do liên quan tới nguyên lý máy - đó là sự chuyển động tập trung của các cọc sợi, do sự hiện đại hóa, chương trình hóa máy dệt là quá đắt, chưa phù hợp với nguồn tài chính trong các doanh nghiệp nên khó có những biện pháp khắc phục về mặt kỹ thuật, công nghệ. Chúng ta chỉ có thể cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động thông qua các chế độ về lương, về phụ cấp độc hại ( tiếng ồn, bụi bông…), về các chế độ nghỉ ngơi. Riêng công nhân may, nên dung hòa giữa tổ chức lao động theo dây chuyền, tức là gữa cái lợi về quản lý với các lựo của người công nhân. Nên nhanh chóng thay đổi quan điểm chia nhỏ công đoạn như hiện nay, dây chuyền cần ít công đoạn hơn ( Ví dụ: may một chiếc áo chỉ nên còn 4 khâu: may thân, may tay và vào tay, may cổ và vào cổ, hoàn tất gồm khuy- là - thêu..). Tất nhiên như vậy sẽ nổi lên những vấn đề cân đối thời gian giữa các khâu. Điều này có thể giải quyết được bằng cách tổ chức lại dâyhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  31. 31. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp chuyền, vừa theo hướng dọc lẫn hướng ngang, theo lý thuyết mạng, sau những thời gian nhất định, nên chuyển đổi thợ theo kiểu vòng tròn. • Thông qua các tổ chức đòan thể phát động các phong tào thi đua, tuyên truyền giáo dục cán bộ công nhân viên; luôn chăm lo đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên trên cơ sở phát triển sản xuất kinh doanh, coi đó là động lực phát triển doanh nghiệp và là chất kết dính giữa người lao động và doanh nghiệp. KẾT LUẬN Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích tình hình ngành công nghiệp Dệt –May ở Việt Nam, có một số điểm nội bật sau: • Thị trường nước ngoài của ngành Dệt – May trong mấy năm gần đây đã không ngừng được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu đã tăng rất nhanh trong thời gian qua. Tuy nhiên, do hoạt động chủ yếu dưới hình thức gia công xuất khẩu nên phần gia trị gia tăng đem lại cho đất nước là không nhiều. Hơn nữa các doanh nghiệp trong nước đã không phát huy được thị trường nội địa nên đã để mất nhiều thị phần cho hàng hóa ngoại nhập và nhập lậu. Do đó, có thể nói rằng đối với ngành Dệt – May Việt Nam, “ thị trường nươc ngoài: làm thuê; thị trường nội địa: bỏ ngõ”. Để tăng hiệu quả trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Dệt – May, các nhà sản xuất cần có xu hướng chuyển sang hình thức “muahttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  32. 32. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp nguyên liệu, bán thành phẩm” và đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng nhu cầu trong và ngòai nước. • Máy móc thiết bị của ngành phần lớn là cũ kỹ,lạc hậu và cần phải thay thế, nâng cấp. Mặt hàng được san xuất trong nước còn nhiều hạn chế về chất lượng va chủng loại nên tính cạnh tranh của hàng hóa thấp. Do vậy, ngành có nhu cầu đầu tư để đổi mới thiết bị công nghệ rất lớn trong những nămtiếp theo để có thể sản xuât được những mặt hàng chất lương cao. • Ngành May hiện đang nhập khẩu một số lượng lớn vải các loại. Do vậy việc đầu tư tập trung cho ngành Dệt để tạo ra những sản phẩm đáp ứng được đầu vào của ngành May là một vấn đề đáng quan tâm. • Lực lượng lao động kỹ thuật, tay nghề cao và cán bộ quản lý đang có nguy cơ thiếu hụt nghiêm trọng trong vài năm tới. Vì vậy, công tác đào tạo và khuyến khích người lao động trong ngành cần được nâng cao hơn nữa. Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, với những đặcđiểm kinh tế kỹ thuật riêng phù hợp với tình hình kinh tế xã hội nước ta hiệnnay, công nghiệp Dệt – May được đánh giá là ngànhcó triển vọng phát triểnsản xuất và xuất khẩu đem lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế trước mắt cũngnhư lâu dài.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com
  33. 33. Đề án môn học Kinh tế và Quản lý Công nghiệp MỤC LỤCLời mở đầu ......................................................................................................1I. Thực trạng ngành dệt may Việt Nam ............................................................21.1. Thị trường dệt may.....................................................................................21.2. Thiết bị công nghệ ngành Dệt may.............................................................61.3. Nguyên liệu cho ngành Dệt may................................................................61.4. Mặt hàng Dệt may......................................................................................71.5. Lao động ngành Dệt may...........................................................................9II. Định hướng phát triển công nghiệp Dệt may Việt Nam ............................102.1. Quan điểm phát triển ...............................................................................102.1.1. Một số quan điểm phát triển ngành dệt may.........................................102.1.2. Một vài chính sách của Đảng và Nhà nước đối với ngành Dệt may....132.2. Định hướng phát triển ngành Dệt may.....................................................152.2.1. Giải pháp về thị trường .........................................................................152.2.2. Giải pháp về cơ cấu sử dụng.................................................................192.2.3. Giải pháp về thiết bị công nghệ.............................................................202.2.4. Giải pháp về lao động ...........................................................................26Kết luận .......................................................................................................29http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com

×