QT194.doc

808 views

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
808
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
15
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

QT194.doc

  1. 1. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com LỜI MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi tolớn về nhiều mặt. Sự chuyển hướng phát triển nền kinh tế đất nước từ cơ chế kếhoạch hoá tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường là nền tảng cho những thayđổi tích cực đó. Kinh tế thị trường đã đặt ra trước mắt các doanh nghiệp nhiều thử tháchnhưng cũng mang tới những cơ hội để doanh nghiệp có thể tự khẳng định mình.Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp cũng phải biết áp dụngnhững kiến thức mới về quản trị doanh nghiệp vào thực tiễn hoạt động sản xuấtkinh doanh của mình. Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hướng phát triển ngày càng phổbiến của doanh nghiệp công nghiệp và là điều kiện để doanh nghiệp thích ứngvà phát triển trong môi trường kinh doanh đầy biến động. Trong những khó khăn chung của nền kinh tế mới phát triển, nhiều doanhnghiệp đã vươn lên từ sức mạnh nội lực, luôn duy trì được sản xuất và đảm bảothu nhập ổn định cho người lao động. Công ty cổ phần Dược và thiết bị vật tư ytế TRAPHACO là một doanh nghiệp như vậy. Có được thành công này là dodoanh nghiệp đã chọn cho mình một hướng đi đúng đắn "Đa dạng hoá sảnphẩm mang tính chiến lược tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thươngtrường " Trong quá trình thực tập tại công ty, cùng với những lý luận được trang bịtrong quá trình học tập nghiên cứu tại trường Đại học Kinh tế quốc dân và xuấtphát từ thực tế tại công ty, em đã chọn đề tài: "Giải pháp phát triển đa dạnghoá sản phẩm ở Công ty CP Dược và TBVTYT Bộ GTVT TRAPHACO " đểthực hiện chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Nội dung chuyên đề gồm các phần chính sau : Phần I : Những vần đề cơ bản về đa dạng hoá sản phẩm trong doanhnghiệp công nghiệp. Phần II : Thực trạng đa dạng hoá sản phẩm tại công ty TRAPHACO Phần III : Một số giải pháp về đa dạng hoá sản phẩm ở công tyTRAPHACOhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 5
  2. 2. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Phần I: Những vấn đề cơ bản về đa dạng hoá sản phẩm trong doanh nghiệp công nghiệp. I . Thực chất của đa dạng hoá: 1. Sản phẩm :1.1. Khái niệm sản phẩm công nghiệp : Sản phẩm công nghiệp hiểu theo cách đơn giản nhất chính là yếu tố đầu racủa doanh nghiệp, là kết quả của quá trình biến đổi các yếu tố đầu vào dưới sựtác động của tư liệu sản xuất. Theo quan niệm cổ điển, sản phẩm công nghiệp là tổng hợp các đặc trưngvật lý hoá học có thể quan sát và được tập hợp trong một hình thức đồng nhất làvật mang giá trị sử dụng. Trong nền kinh tế hàng hoá cùng với sự phát triển của các quan hệ trao đổibuôn bán, sản phẩm công nghiệp còn chứa đựng các thuộc tính hàng hoá,không chỉ là vật mang giá trị sử dụng mà còn mang giá trị trao đổi hay giá trị. Theo quan điểm Marketing, sản phẩm được định nghĩa là " mọi thứ có thểchào bán trên thị trường để chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng, có thể thoả mãnđược một mong muốn hay nhu cầu ". Như vậy khái niệm về sản phẩm hàng hoá mang tính chất phức tạp bởi lẽmỗi sản phẩm đều có những nét đặc trưng về vật chất và tâm lý như: chấtlượng, mầu sắc, nhãn mác, cách sử dụng, giao hàng và thực hiện thanh toán,dịch vụ sau bán hàng...Sản phẩm với những nhãn hiệu cụ thể tạo ra cho ngườitiêu dùng một hình ảnh, một tín hiệu để nhận biết về doanh nghiệp và xác nhậnsự hiện diện của doanh nghiệp trên thị trường . Mỗi sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp phải đáp ứng một nhu cầu, vìđó là lời hứa hẹn với khách hàng hay người tiêu dùng. Người mua thường quanniệm sản phẩm hàng hoá là của cải vật chất hay dịch vụ mà họ mua để thoảmãn nhu cầu của mình do đó mỗi sản phẩm được coi là lời giải đáp cho mộtnhu cầu đã tìm thấy trên thị trường, doanh nghiệp phải bán cái mà khách hàngcần chứ không phải cái mình có. Nghiên cứu sản phẩm về thực chất là tìm hiểu thái độ chấp nhận của kháchhàng đối với sản phẩm của mình.1.2. Phân loại sản phẩm :http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 6
  3. 3. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Các doanh nghiệp tạo ra sản phẩm hàng hoá là để bán và do sản phẩmhàng hoá của doanh nghiệp mang tính chất đa dạng nên phải phân loại để tạođiều kiện thuận lợi cho công tác kinh doanh. Trong thực tiễn người ta phân loạisản phẩm theo rất nhiều cách khác nhau nhưng để phục vụ cho việc tìm hiểu vềđa dạng hoá có thể xem xét một số cách phân loại chủ yếu sau.1.2.1. Phân loại theo tính chất sử dụng : Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: sản phẩm côngcộng và sản phẩm cá nhân. - Sản phẩm công cộng là sản phẩm mà việc tiêu dùng của người này khônglàm ảnh hưởng đến việc tiêu dùng của người khác như đường xá, cầu cống, cáccông trình văn hoá, các di tích lịch sử... - Sản phẩm cá nhân là sản phẩm mà khi một người đã tiêu dùng thì ngườikhác không thể tiêu dùng sản phẩm đó .Ví dụ như quần áo, thực phẩm... Sản phẩm cá nhân có tính cạnh tranh mạnh mẽ còn sản phẩm công cộngkhông có tính cạnh tranh.1.2.2. Phân loại sản phẩm theo mối quan hệ với thu nhập : Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm hàng hóa thôngthường và hàng xa xỉ. - Hàng thông thường là những sản phẩm mà mọi tầng lớp trong xã hội cóthể tiêu dùng một cách bình thường như giày dép, chất đốt... - Hàng xa xỉ là những sản phẩm dành cho các đối tượng có thu nhập caotrong xã hội như kim cương, áo lông thú...1.2.3. Phân loại sản phẩm theo khả năng thay thế lẫn nhau: Theo cách phân loại này, sản phẩm công nghiệp bao gồm: hàng hoá bổsung và hàng hoá thay thế - Hàng hoá bổ sung là hàng hoá khi tiêu dùng phải theo một cơ cấu vàđồng bộ nhau, không thể tách rời nhau được như: ô tô và xăng, thuốc lá và bậtlửa.. - Hàng hoá thay thế là hàng hoá tiêu dùng độc lập với nhau và khi cần cóthể thay thế cho nhau như: bếp điện và bếp ga, dầu và than..1.2.4. Phân loại sản phẩm theo tuổi thọ của sản phẩm: - Hàng hoá lâu bền là hàng hoá có thể sử dụng được trong một thời giandài như ô tô, xe máy, nhà cửa...http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 7
  4. 4. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Hàng hoá không lâu bền như những vật rẻ tiền nhanh hỏng: đũa tre, guốcmộc...1.2.5. Phân loại sản phẩm theo tần số mua: - Hàng mua thường xuyên: là hàng hoá rất cần thiết cho cuộc sống hàngngày mà người tiêu dùng phải sử dụng thường xuyên như quần áo, giày dép.. - Hàng mua không thường xuyên: là loại hàng hoá mà người tiêu dùngkhông tiêu dùng chúng thường xuyên như quần áo cưới ...1.2.6. Phân loại sản phẩm theo mức độ chế biến sản phẩm: - Sản phẩm trung gian: là những sản phẩm còn phải trải qua một số bướcchế biến nữa mới trở thành sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ cho tiêu dùng như sợiđể dệt vải, vải để may quần áo.. - Sản phẩm cuối cùng là những sản phẩm hoàn chỉnh có thể phục vụ chotiêu dùng như xe máy, văn phòng phẩm..1.3. Năm mức độ của sản phẩm: Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi lập kế hoạch sản phẩm của mìnhnhà kinh doanh cần suy nghĩ đầy đủ về năm mức độ của sản phẩm. Mức độ cơ bản nhất chính là ích lợi cốt lõi, chính là dịch vụ hay lợi ích cơbản mà khách hàng thực sự mua. Ngưòi kinh doanh phải luôn coi mình làngười cung ứng ích lợi. Ví dụ như trong trường hợp khách sạn, người kháchnghỉ đêm mua " sự nghỉ ngơi và giấc ngủ ". ở mức độ thứ hai, người kinh doanh phải biến lợi ích cốt lõi thành sảnphẩm chung chính là dạng cơ bản của sản phẩm đó vì thế khách sạn phải là mộttoà nhà có các phòng để cho thuê. ở mức độ thứ ba, ngưòi kinh doanh chuẩn bị một sản phẩm mong đợi,tức là tập hợp các thuộc tính và điều kiện người mua thường mong đợi và chấpnhận khi họ mua sản phẩm đó. Ví dụ như khách đến khách sạn mong đợi mộtcái giường sạch sẽ, xà bông, khăn tắm và một mức độ yên tĩnh tương đối. Vìhầu hết các khách sạn có thể đáp ứng được mong muốn tối thiểu này nên kháchdu lịch thường không có thiên vị đối với khách sạn nào mà họ sẽ vào bất kìkhách sạn nào thuận tiện nhất . ở mức độ thứ tư, người kinh doanh chuẩn bị một sản phẩm hoàn thiệnthêm tức là sản phẩm bao gồm những dịch vụ và ích lợi phụ thêm làm cho sảnhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 8
  5. 5. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comphẩm của công ty khác với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Ví dụ khách sạncó thể hoàn thiện thêm sản phẩm của mình bằng cách đăng kí khách nhanhchóng, bổ sung sữa tắm, bữa ăn ngon và phục vụ tốt v.v..Cuộc cạnh tranh củacác doanh nghiệp ngày nay chủ yếu ở mức độ hoàn thiện sản phẩm. ở mức độ thứ năm là sản phẩm tiềm ẩn, tức là những sự hoàn thiện vàbiến đổi mà sản phẩm đó cuối cùng có thể nhận được trong tương lai. Trongkhi sản phẩm hoàn thiện thể hiện những gì đã được đưa vào sản phẩm ngàyhôm nay thì sản phẩm tiềm ẩn lại chỉ nêu ra hướng phát triển khả dĩ của nó.Đây chính là nơi các công ty tìm kiếm tích cực những cách thức mới để thoảmãn khách hàng và tạo sự khác biệt cho sản phẩm của mình. Sự xuất hiện củamột số khách sạn thượng hạng mà ở đó khách có thể ở nhiều phòng là một sựđổi mới khách sạn truyền thống. Một số công ty đã bổ sung cho sản phẩm của mình những ích lợi khôngnhững thoả mãn mà còn làm cho khách hàng vui lòng bằng cách mang đếnnhững sự ngạc nhiên bất ngờ cho họ khi tiêu dùng sản phẩm của công ty mình1.4. Danh mục sản phẩm : Một danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả những loại sản phẩm và mặthàng mà một người bán cụ thể đưa ra để bán cho người mua. Danh mục sảnphẩm của một công ty sẽ có chiều rộng, chiều dài, chiều sâu và một mật độnhất định Chiều rộng danh mục sản phẩm thể hiện công ty có bao nhiêu loại sảnphẩm khác nhau. Chiều dài danh mục sản phẩm là tổng số mặt hàng của công ty . Chiều sâu danh mục thể hiện có bao nhiêu phương án của mỗi sản phẩmtrong một loại. Mật độ của danh mục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mứcđộ nào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiếtbị sản xuất hay kênh phân phối nào khác. Bốn chiều này của danh mục sản phẩm tạo nên những căn cứ để xâydựng chiến lược sản phẩm của công ty. Công ty có thể khuyếch trương doanhnghiệp của mình theo nhiều cách. Công ty có thể mở rộng danh mục sản phẩmbằng cách bổ sung những sản phẩm mới. Công ty có thể kéo dài từng loại sảnphẩm. Công ty có thể bổ sung thêm các phương án sản phẩm cho từng sảnhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 9
  6. 6. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comphẩm và tăng chiều sâu của danh mục. Cuối cùng công ty có thể tiếp tục tănghay giảm mật độ của loại sản phẩm tùy theo ý đồ của công ty muốn có uy tínvững chắc trong một lĩnh vực hay tham gia vào nhiều lĩnh vực. Việc lập kế hoạch danh mục sản phẩm chủ yếu tùy thuộc vào trách nhiệmcủa những người hoạch định chiến lược của công ty căn cứ vào những thông tindo người làm công tác marketing của công ty cung cấp. Họ phải đánh giánhững loại sản phẩm cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch và cần loại bỏ.2. Đa dạng hoá sản phẩm và sự cần thiết của đa dạng hoá sản phẩm trongdoanh nghiệp công nghiệp :2.1. Thực chất của đa dạng hoá sản phẩm: Trong hệ thống mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi doanh nghiệp có hai mụctiêu được coi là cơ bản, tạo tiền đề cho các mục tiêu khác đó là việc tạo ra sảnphẩm với chất lượng cao phù hợp với nhu cầu của thị trường và xã hội và việcđạt được lợi nhuận tối đa sau mỗi chu kỳ kinh doanh trên cơ sở nâng cao hiệuquả của các hoạt động sản xuất kinh doanh. Để thực hiện có hiệu quả hệ thốngmục tiêu kinh tế-xã hội nói chung và hai mục tiêu nói riêng mỗi doanh nghiệpphải xác định được cơ cấu sản phẩm hợp lý của mình. Tính hợp lý của mỗi cơcấu sản phẩm chỉ thích ứng với những điều kiện nhất định trong mỗi kỳ kinhdoanh do đó khi những điều kiện ấy có sự thay đổi thì cơ cấu sản phẩm cũngphải thay đổi để đạt tính hợp lý mới điều đó có nghĩa là cơ cấu sản phẩm củacông ty phải mang tính " động " để thích ứng với nền kinh tế thị trường cạnhtranh sôi động. Sự hoàn thiện và đổi mới cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp được thựchiện theo nhiều cách khác nhau như : - Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi thời,những sản phẩm kém sức cạnh tranh và những sản phẩm không có khả năng tạora lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Giữ nguyên chủng loại sản phẩm đang sản xuất nhưng cải tiến, hoànthiện những sản phẩm ấy về hình thức, về nội dung, tạo thêm nhiều kiểu dángvà thế hệ sản phẩm mới . - Bổ sung thêm vào danh mục sản phẩm những sản phẩm mới phù hợp vớinhu cầu thị trường và xu hướng phát triển của khoa học, công nghệ.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 10
  7. 7. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Chuyển hoá vị trí các sản phẩm trong cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp,đưa những sản phẩm ở vị trí hàng thứ lên vị trí hàng đầu hoặc ngược lại bằngcách thay đổi định lượng sản xuất mỗi loại. Trong thực tế, các hướng trên đây được thực hiện xen kẽ lẫn nhau. Nếu cơcấu sản phẩm của doanh nghiệp thay đổi theo hướng thu hẹp lại, đảm bảo sựtập trung cao hơn về sản xuất thì doanh nghiệp phát triển theo hướng chuyênmôn hoá. Ngược lại cơ cấu sản phẩm được mở rộng ra, doanh nghiệp phát triểntheo hướng đa dạng hoá...Trong những thời kì nhất định và trên một thị trườngnhất định doanh nghiệp có thể thực hiện đa dạng hoá thông qua hình thức cảitiến , hoàn thiện sản phẩm đã có hoặc là đưa ra những sản phẩm mới hoàn toàncó thể cùng loại hoặc khác biệt so với những sản phẩm cũ nhưng doanh nghiệpcũng có thể kết hợp cả hai hình thức trên nhằm thỏa mãn đáp ứng cao nhất nhucầu của thị trường. Như vậy đa dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp là việc mở rộng danhmục sản phẩm, nó gắn liền với quá trình đổi mới và hoàn thiện cơ cấu sảnphẩm, nhằm đảm bảo doanh nghiệp thích ứng được với sự biến động của môitrường kinh doanh. Đa dạng hoá sản phẩm là một nội dung cụ thể của đa dạng hoá sản xuất vàđa dạng hoá kinh doanh công nghiệp. Khi thực hiện đa dạng hoá sản phẩm,doanh nghiệp chỉ mở rộng danh mục các sản phẩm công nghiệp của mình,nghĩa là hoạt động của doanh nghiệp vẫn chỉ giới hạn trong lĩnh vực sản xuấtcông nghiệp. Khi thực hiện đa dạng hoá sản xuất, thì ngoài lĩnh vực truyềnthống là sản xuất công nghiệp, doanh nghiệp còn có thể thâm nhập sang cáclĩnh vực sản xuất khác. Chẳng hạn, thâm nhập sang các lĩnh vực sản xuất côngnghiệp không phải truyền thống, sang lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, xâydựng cơ bản...Còn khi thực hiện đa dạng hoá kinh doanh ( hay kinh doanh tổnghợp ) doanh nghiệp có thể phát triển sang cả lĩnh vực thương mại, dịch vụ... Mối quan hệ giữa đa dạng hoá sản phẩm và kế hoạch hoá sản xuất - kinhdoanh được thể hiện ở chỗ khi xác định phương án đa dạng hoá sản phẩm đòihỏi doanh nghiệp phải xác định rõ chủng loại sản phẩm, khối lượng sản phẩmcủa mỗi loại, thị trường tiêu thụ, khả năng đảm bảo các yếu tố đầu vào, khảnăng huy động vốn đầu tư và dự kiến lợi nhuận sẽ đạt được.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 11
  8. 8. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hướng phát triển ngày càng phổbiến trong các doanh nghiệp công nghiệp. Các tổ chức kinh tế lớn như tập đoànkinh doanh thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, kinh doanh đa ngành và đa lĩnhvực hoạt động. Số lượng và chủng loại hàng hoá lưu thông trên thị trường thựcchất cũng là một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của mỗi doanh nghiệpcũng như của nền kinh tế nói chung. Nhiều doanh nghiệp độc lập với các quymô khác nhau cũng thực hiện đa dạng hoá sản phẩm và trong thực tế việc thựchiện đa dạng hoá sản phẩm đã không những giúp doanh nghiệp đạt được cácmục tiêu kinh tế và phi kinh tế như lợi nhuận hay thế lực trên thị trường mà cònđóng góp rất lớn vào sự phát triển của toàn xã hội nhờ tạo ra nhiều loại hànghoá mang lại lợi ích và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng.2.2. Sự cần thiết phải đa dạng hoá :2.2.1. Nhu cầu thị trường ngày càng phong phú, đa dạng và thường xuyên biếnđổi : Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, đời sống xãhội cũng ngày càng được nâng cao về nhiều mặt. Trong cuộc sống ngày nay,nhu cầu của con người không chỉ bó gọn ở mức độ thấp như có ăn, có mặc màphải là ăn ngon mặc đẹp ngoài ra còn có nhu cầu vui chơi, giải trí, nhu cầuthẩm mĩ rất cao. Như vậy so với trước kia trong thời kì kế hoạch hoá tập trungtự cung tự cấp, nhu cầu thị trường mang tính cứng nhắc và bị áp đặt bởi chínhcác yếu tố cung, giờ đây nhu cầu mới là nhân tố thực sự quyết định sự vậnđộng của thị trường. Các sản phẩm không thể đáp ứng được nhu cầu của thịtrường khi chúng chỉ mang " ích lợi cốt lõi " đơn thuần mà còn phải mang tínhthẩm mĩ, sự tiện nghi và phong phú về chủng loại. Việc một loại sản phẩm cócùng giá trị sử dụng nhưng có thêm một số đặc tính khác để thoả mãn từngđoạn thị trường nhất định chính là một biểu hiện của hoạt động đa dạng hoá sảnphẩm. Đa dạng hoá sản phẩm tạo ra nhiều mặt hàng mới phong phú với chấtlượng cao tăng phương án sản phẩm để người tiêu dùng có nhiều cơ hội lựachọn. Theo quy luật tất yếu, thị trường luôn vận động và biến đổi không ngừnglàm nảy sinh những nhu cầu mới cao hơn, phong phú hơn tạo ra những tháchthức và cũng đồng thời mang đến những cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp.Trong môi trường kinh doanh sôi động mà người thành công là người biết "nắm lấy các cơ hội ", doanh nghiệp phải luôn bám sát các diễn biến của quanhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 12
  9. 9. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comhệ cung cầu trên thị trường, xây dựng cơ cấu sản phẩm tối ưu thich ứng với sựlinh hoạt của thị trường. Thực tế cho thấy hiện nay các doanh nghiệp luôn cốgắng làm mới và mở rộng danh mục sản phẩm của mình dựa trên sự hoàn thiệnkhông ngừng các sản phẩm hiện có song song với việc đưa vào sản xuất nhữngmặt hàng mới đón đầu nhu cầu thị trường, tạo thế chủ động của doanh nghiệptrên thương trường. Sự phong phú và biến đổi không ngừng của thị trường đãđòi hỏi các doanh nghiệp phải năng động sáng tạo trong việc tạo ra một cơ cấusản phẩm " động " thông qua hoạt động đa dạng hoá sản phẩm mới có thể tồntại và phát triển trong sự cạnh tranh khốc liệt " thương trường là chiến trường ".2.2.2. Do tiến bộ của khoa học công nghệ nên chu kỳ sống của sản phẩm bị rútngắn Ngày nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra với tốc độnhanh như vũ bão. Một khối lượng đồ sộ các phát minh sáng chế ra đời đã tạora ngày càng nhiều công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên liệu mới. Điều đặcbiệt là hàm lượng tri thức hay tỷ trọng phần mềm trong các công nghệ mới nàylà rất lớn chính vì vậy thời gian tồn tại của các công nghệ này rất ngắn và điềunày cũng đồng nghĩa với việc sản phẩm của doanh nghiệp bị đào thải nhanhhơn. Chu kỳ sống của một sản phẩm được chia ra 4 pha: bắt đầu, phát triển, bãohoà, suy thoái. Các thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng ngày càngrộng rãi vào sản xuất làm cho giai đoạn bão hoà và suy thoái của một sản phẩmđến nhanh hơn. Sự lạc hậu nhanh chóng của công nghệ và sản phẩm không chophép doanh nghiệp tự hài lòng với những gì hiện có mà phải tranh thủ nắm bắtkịp thời những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ và sử dụng nhữngthành tựu ấy như một lợi thế cạnh tranh. Vì vậy doanh nghiệp phải luôn xemxét, đánh giá sản phẩm đang ở giai đoạn nào trong chu kỳ sống nếu đang ở giaiđoạn bão hoà doanh nghiệp sẽ tìm cách cải tiến sản phẩm đó để kéo dài tuổi thọcủa sản phẩm hoặc chuẩn bị nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới đáp ứng nhucầu phong phú của thị trường. Sự xuất hiện của các ngành công nghệ mới vừatạo điều kiện vừa thúc đẩy doanh nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm mới, thực hiệnđa dạng hoá sản phẩm như một phương thức phát triển của doanh nghiệp.2.2.3. Xu hướng chuyên môn hoá kết hợp với đa dạng hoá trong sản xuất kinhdoanh:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 13
  10. 10. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Việc nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa chuyên môn hoá và đa dạnghoá sản phẩm của doanh nghiệp công nghiệp là cơ sở để xác định đúng đắn conđường, phương hướng và điều kiện phát triển các hình thức tổ chức sản xuấttương ứng. Về hình thức, khi mức độ đa dạng hoá sản phẩm càng cao trình độ chuyênmôn hoá sản xuất của doanh nghiệp càng thấp nhưng xét về nội dung đó khôngphải là hai quá trình độc lập mà có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Thứ nhất, bản thân sản phẩm chuyên môn hoá của doanh nghiệp cũng phảiđược hoàn thiện, cải tiến về hình thức và nội dung, tăng thêm kiểu cách, mẫumã để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường. Theo nội dung này, sản phẩmchuyên môn hoá của doanh nghiệp được đa dạng theo hình thức biến đổi chủngloại. Thứ hai, với nhiều doanh nghiệp việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên mônhoá thường không sử dụng hết các nguồn lực sẵn có. Bởi vậy trong khi coinâng cao một cách hợp lý trình độ chuyên môn hoá là phương hướng chủ đạocủa phát triển doanh nghiệp, doanh nghiệp vẫn cần mở rộng danh mục sảnphẩm để tận dụng các nguồn lực sản xuất. Với nội dung này, đa dạng hoá sảnphẩm tạo thành " tuyến sản phẩm " hỗ trợ quan trọng cho phát triển chuyênmôn hoá. Thứ ba, có rất nhiều phương thức thực hiện đa dạng hoá sản phẩm nhưngđa dạng hóa sản phẩm dựa trên cơ sở nền tảng các điều kiện vật chất kĩ thuậtcủa chuyên môn hoá ban đầu mang lại, sẽ giảm bớt được nhu cầu đầu tư. Đâychính là ràng buộc của chuyên môn hoá đến việc thực hiện đa dạng hoá sảnphẩm của doanh nghiệp. Như vậy, để xây dựng cơ cấu sản phẩm động mang tính linh hoạt thì bảnthân sản phẩm chuyên môn hoá của doanh nghiệp cũng phải được đa dạng hoávà đây được coi là xu hướng tất yếu đảm bảo cho doanh nghiệp đứng vữngtrong môi trường kinh doanh thiên biến vạn hoá.2.2.4. Phân tán rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh : Mục tiêu chính của các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh làlợi nhuận nhưng trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt, sự thànhcông của doanh nghiệp bị đe dọa bởi rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan.Một cơ hội kinh doanh có khả năng thu lợi càng lớn thì mức độ rủi ro kinhhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 14
  11. 11. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comdoanh xảy ra đối với doanh nghiệp càng cao. Các nguyên nhân gây ra rủi ro cóthể đến từ các yếu tố nội tại của doanh nghiệp như máy móc thiết bị khôngđồng bộ, công nghệ lạc hậu, thiếu vốn...hay từ môi trường kinh doanh như sựthay đổi đột ngột nhu cầu, chính sách kinh tế của nhà nước, thiên tai...Rủi rokinh doanh xảy ra có thể gây thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp về nhiều mặt vìvậy khi xây dựng các phương án kinh doanh, doanh nghiệp rất quan tâm đếnviệc ngăn ngừa rủi ro đảm bảo độ an toàn cao nhất cho doanh nghiệp. Mộttrong những biện pháp giúp doanh nghiệp giảm thiểu những rủi ro là thực hiệnđa dạng hoá sản phẩm để tạo ra các tuyến sản phẩm với nhiều thang, dòng bổsung lẫn nhau thay vì chỉ tập trung sản xuất một sản phẩm khi các yếu tố kháchquan biến động có thể dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp.2.2.5. Đa dạng hoá góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung củasự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lựcđó trong quá trình tái sản xuất nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh. Mộthiện tượng có tính phổ biến tồn tại trong các doanh nghiệp hiện nay là cácnguồn lực không được tận dụng hết mức sản xuất thực tế mà thường nằm dướiđường giới hạn khả năng sản xuất. Sự lãng phí nguồn lực có thể do: đầu tưkhông đúng mục đích, đọng vốn lớn, không sử dụng hết công suất thiết bị máymóc hay không tận dụng hết chất có ích của nguyên liệu...Việc đa dạng hoá sảnphẩm trên cơ sở các nguồn lực sẵn có cho phép doanh nghiệp tăng năng lực sảnxuất, đạt được lợi nhuận tối đa ngoài ra còn tăng thêm thu nhập cho người laođộng, giải quyết việc làm và các mục tiêu xã hội khác. Tóm lại, thực hiện đa dạng hóa sản phẩm được coi là một xu hướng tấtyếu khách quan đối với các doanh nghiệp công nghiệp giúp doanh nghiệp tồntại, phát triển vững chắc trong nền kinh tế thị trường hiện hay.II. Các hình thức đa dạng hoá và các nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hoásản phẩm :1. Các hình thức đa dạng hoá sản phẩm : Trong quá trình mở rộng kinh doanh các doanh nghiệp có thể thực hiện đadạng hoá sản phẩm với những hình thức khác nhau. Sau đây là một số cáchphân loại đa dạng hoá sản phẩm.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 15
  12. 12. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com1.1. Xét theo sự biến đổi danh mục sản phẩm : có các hình thức đa dạng hoásau đây:1.1.1. Biến đổi chủng loại : Đó là quá trình hoàn thiện và cải tiến các loại sản phẩm đang sản xuấtđang sản xuất để giữ vững thị trường hiện tại và thâm nhập vào thị trường mới,nhờ sự đa dạng về kiểu cách, cấp độ hoàn thiện của sản phẩm thoả mãn thịhiếu, điều kiện sử dụng và khả năng thanh toán của những khách hàng khácnhau. Sự hoàn thiện ấy có thể thuần tuý về hình thức sản phẩm ( kiểu dáng,mẫu mã ) hoặc về nội dung sản phẩm ( chất lượng, cấp độ hoàn thiện về kỹthuật ) hoặc cả về hình thức và nội dung sản phẩm.1.1.2. Đổi mới chủng loại: Loại bỏ những sản phẩm lỗi thời, những sản phẩm khó tiêu thụ và bổ sungnhững sản phẩm mới vào danh mục sản phẩm của doanh nghiệp. Những sảnphẩm được bổ sung này có thể là sản phẩm mới tuyệt đối ( đối với doanhnghiệp và với thị trường ) hoặc sản phẩm mới tương đối ( mới với doanhnghiệp nhưng không mới với thị trường ). Việc thực hiện hình thức đa dạng hoá sản phẩm này gắn liền với việcdoanh nghiệp rời bỏ một số thị trường cũ và gia nhập những thị trường mới.1.1.3. Hình thức hỗn hợp: Kết hợp một số nội dung của hình thức thứ nhất và thứ hai vừa nêu. Nghĩalà doanh nghiệp vừa cải tiến, hoàn thiện một số sản phẩm đang sản xuất, vừaloại bỏ những sản phẩm không sinh lợi, vừa bổ sung những sản phẩm mới vàodanh mục sản phẩm của mình.1.2. Xét theo tính chất của nhu cầu sản phẩm:1.2.1. Đa dạng hoá theo chiều sâu nhu cầu mỗi loại sản phẩm: Đó là việc tăng thêm kiểu cách, mẫu mã của cùng một loại sản phẩm đểđáp ứng toàn diện nhu cầu của các đối tượng khác nhau về cùng một loại sảnphẩm. Ví dụ như doanh nghiệp sản xuất kem đánh răng có thể có kem đánhrăng chống sâu răng cho trẻ em, kem đánh răng muối.. Việc thực hiện hình thức đa dạng hoá sản phẩm này gắn liền với việc phânđoạn thị trường sản phẩm.1.2.2. Đa dạng hoá theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm: thể hiện ở việcdoanh nghiệp chế tạo một số sản phẩm có kết cấu, công nghệ sản xuất và giá trịhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 16
  13. 13. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comsử dụng cụ thể khác nhau, để thoả mãn đồng bộ một số nhu cầu có liên quanvới nhau của một đối tượng tiêu dùng. Ví dụ như doanh nghiệp không chỉ sảnxuất kem đánh răng mà còn sản xuất bàn chải đánh răng. Việc thực hiện hìnhthức đa dạng hoá sản phẩm này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực lớn vềtài chính, công nghệ để xây dựng doanh nghiệp quy mô lớn, cơ cấu sản xuấtphức tạp.1.2.3. Đa dạng hoá theo hướng thoát ly sản phẩm gốc, đưa sản phẩm mới vàodanh mục của doanh nghiệp: Nếu hai hình thức đa dạng hoá sản phẩm nêu trên vẫn lấy một loại sảnphẩm chuyên môn hoá ban đầu làm cơ sở để mở rộng danh mục sản phẩm củadoanh nghiệp thì ở hình thức này sản phẩm được mở rộng không có liên quanđến sản phẩm chuyên môn hoá ban đầu cả về giá trị sử dụng và công nghệ sảnxuất.1.3. Xét theo mối quan hệ với sử dụng nguyên liệu chế tạo sản phẩm:1.3.1. Sản xuất những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau nhưng có chungchủng loại nguyên liệu gốc. Ví dụ, nhà máy sứ vừa sản xuất sứ dân dụng, sứmỹ nghệ, sứ điện, vừa sản xuất sứ vệ sinh. Các sản phẩm này có giá trị sử dụngkhác nhau nhưng đều sử dụng cao lanh và các loại men xương làm nguyên liệuchính.1.3.2. Sử dụng tổng hợp các chất có ích chứa đựng trong một loại nguyên liệuđể sản xuất một số loại sản phẩm coa giá trị sử dụng khác nhau. Chẳng hạntrong công nghiệp mía đường, người ta sử dụng không những tổng hợp cây míađể sản xuất ra đường mà còn để sản xuất ra cồn công nghiệp, ván ép...1.4. Xét theo phương thức thực hiện :1.4.1. Đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở các nguồn lực hiện có của doanhnghiệp : Bằng việc áp dụng hình thức này, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được đầutư, giảm bớt thiệt hại do rủi ro khi thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, tận dụngđược khả năng sản xuất hiện có. Tuy nhiên sự tận dụng này lại hạn chế khảnăng mở rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp.1.4.2. Đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở nguồn lực hiện có kết hợp với đầu tưbổ sung :http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 17
  14. 14. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Nghĩa là việc mở rộng danh mục sản phẩm đòi hỏi phải có đầu tư, nhưngđầu tư này chỉ giữ vị trí bổ sung nhằm khắc phục khâu yếu hoặc khâu sản xuấtmà doanh nghiệp còn thiếu. So với hình thức trên, khả năng mở rộng danh mụcsản phẩm của doanh nghiệp được nâng cao hơn1.4.3. Đa dạng hoá sản phẩm bằng đầu tư mới: Hình thức này thường được áp dụng khi doanh nghiệp đang triển khai sảnxuất những sản phẩm mới, mà khả năng sản xuất hiện tại không thể đáp ứngđược. Trong trường hợp này nhu cầu đầu tư thường lớn và xác suất rủi ro sẽcao hơn, nhưng khả năng sản xuất được mở rộng hơn. Tóm lại, từ các hình thức đa dạng hoá sản phẩm nêu trên ta thấy, trongphạm vi hoạt động sản xuất-kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có thể có nhiềuhình thức đa dạng hoá sản phẩm, các hình thức này đan xen cùng tồn tại và bổsung cho nhau, ưu điểm của mỗi hình thức đa dạng hoá sản phẩm chỉ được thểhiện khi doanh nghiệp bảo đảm cho nó những điều kiện thích hợp mà hìnhthức này đòi hỏi. Dù áp dụng một hay nhiều hình thức đa dạng hoá sản phẩmthì cũng làm cho danh mục sản phẩm của mỗi doanh nghiệp được mở rộng, cơcấu sản phẩm trở nên phức tạp hơn và mỗi doanh nghiệp sẽ có thêm nhiềuthang, dòng và mặt hàng sản phẩm.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hoá sản phẩm:2.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp:2.1.1. Nhu cầu thị trường: Trong điều kiện cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp phải bám sát nhu cầucủa thị trường và đưa ra thị trường những sản phẩm và dịch vụ mà thị trườngcần. Việc điều tra phân tích nhu cầu thị trường phải được coi là một trongnhững công tác quan trọng hàng đầu trong quản lý doanh nghiệp và quản lýngành công nghiệp. Trong chiến lược đa dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp,yếu tố quan trọng và có ảnh hưởng lớn nhất đến phương hướng và mức độ đadạng hoá chính là nhu cầu thị trường. - Kiểu cách mẫu mã, kích cỡ mỗi loại sản phẩm mà thị trường đòi hỏi.Việc phân khúc nhu cầu thị trường có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tíchnhu cầu thị trường về mỗi loại sản phẩm. Vì vậy để cung cấp một hàng hoá,dịch vụ với một số lượng, chất lượng, giá cả, thời gian cung ứng cụ thể theohttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 18
  15. 15. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comđúng yêu cầu của khách hàng thì việc xác định đúng phân đoạn thị trường sẽquyết định sự thành công của doanh nghiệp. - Nhu cầu sản phẩm có liên quan đến người tiêu dùng, nghĩa là phân tíchbề rộng nhu cầu các sản phẩm. Để xác định phương hướng đa dạng hoá sảnphẩm cũng cần phải xem xét điều kiện để sản xuất các sản phẩm, kết cấu vàtính chất sản phẩm. - Các loại sản phẩm có thể thay thế. Việc nghiên cứu phân tích này nhằmhạn chế rủi ro trong khi phát triển đa dạng hoá sản phẩm. - Sự vận động của sản phẩm trong chu kỳ sống của nó. Việc đa dạng hoánếu nhằm vào sản phẩm đang ở pha suy thoái thì sẽ làm tăng rủi ro kinh doanh. - Đối với các doanh nghiệp thực hiện đa dạng hoá bằng sản phẩm khôngmới đích thực ( đã có trên thị trường ) thì một việc làm không thể thiếu là phảixem xét đánh giá phần thị trường còn lại của một sản phẩm mà doanh nghiệpcó thể xâm nhập. Nhu cầu TT = Dung lượng _ Phần TT mà các DN khác về SP của DN thị trường có khả năng cung ứng Tóm lại việc nghiên cứu, phân tích sự ảnh hưởng của nhân tố chủng loạivà dung lượng nhu cầu trên thị trưòng để xác định phương hướng và mức độ đadạng hoá sản phẩm không chỉ ở mặt lượng mà còn ở cả tính chất, nhu cầu vàquan hệ với các sản phẩm liên quan khác.2.1.2. Bản quyền công nghiệp: Một thực tế hiện nay là các doanh nghiệp đầu tư rất lớn cho hoạt độngnghiên cứu phát triển sản phẩm mới nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh so với cácđối thủ nhưng sản phẩm của họ nhiều khi không mang lại lợi nhuận như mongmuốn. Nguyên nhân chủ yếu là các đối thủ cạnh tranh thông qua các kênhthông tin khác nhau có thể sao chép và nhái lại sản phẩm của doanh nghiệp mộtcách nhanh chóng khi doanh nghiệp còn chưa thu hồi vốn đầu tư. Vấn đề bản quyền công nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động đadạng hoá của công ty vì hầu hết các công ty đều thực hiện đa dạng hoá sảnphẩm mới với công ty nhưng không mới với thị trường. Bản quyền công nghiệpxác nhận quyền sở hữu của một doanh nghiệp đối với nhãn hiệu, bí quyết côngnghệ..của một sản phẩm. Vì vậy khi xây dựng chiến lược đa dạng hoá công tyhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 19
  16. 16. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comphải hết sức quan tâm đến vấn đề này nhằm bảo vệ chính sản phẩm và uy tíncủa mình và tránh vi phạm bản quyền công nghiệp.2.1.3. Tình hình cạnh tranh: Hoạt động trong kinh tế thị trường, doanh nghiệp bị chi phối bởi quy luậtcạnh tranh. Quy luật cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải có một cơ cấu sảnphẩm hợp lý để có thể tạo ra vũ khí cạnh tranh hiệu quả xác định vị trí củamình trên thương trường. Hiện nay trong bất kì ngành kinh doanh nào sự cạnhtranh về nhiều phương diện giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước đềuđang diễn ra rất mạnh mẽ. Sản phẩm của doanh nghiệp có thể bị các đối thủcạnh tranh sao chép một cách nhanh chóng thông qua hệ thống thông tin rấtphát triển.Thực tế đã cho thấy nếu như trước kia các doanh nghiệp chủ yếu thựchiện đa dạng hoá đồng tâm tức là thêm vào cơ cấu sản phẩm những sản phẩmmới có liên hệ với nhau và phù hợp với công nghệ hiện tại của công ty thì ngàynay các doanh nghiệp đã chuyển sang hình thức đa dạng hoá kết khối là hìnhthức đa dạng hoá mà một doanh nghiệp sản xuất các loại mặt hàng rất khác biệtnhau thuộc nhiều nhóm đòi hỏi đầu tư nhiều nguồn lực. Đây chính là kết quảcủa sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, nó đã thúc đẩy đa dạng hoá lên mộtmức cao hơn. Ví dụ như tập đoàn LG sản xuất 2 loại mặt hàng chủ yếu là điệntử và điện lạnh ngoài ra LG còn được biết đến là một nhà sản xuất thiết bị vănphòng và các loại mỹ phẩm. Một trong những nguyên nhân của sự mở rộng nàylà do LG phải đối đầu với sự cạnh tranh rất gay gắt của DAEWOO,SAMSUNG...và phát triển mạnh đa dạng hoá là một điều kiện cần thiết để tồntại.2.1.4. Quá trình hội nhập khu vực và quốc tế: Hội nhập khu vực và quốc tế là một quá trình tất yếu để đưa các doanhnghiệp vào con đường phát triển.Tiến trình này đặt ra cho các doanh nghiệpnhiều thách thức, song đây cũng là cơ hội lớn tạo điều kiện thuận lợi cho doanhnghiệp công nghiệp thâm nhập vào thị trường quốc tế để tiếp thu phương phápquản lý, công nghệ tiên tiến... và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm đa dạnghoá. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam thì quá trình gia nhập Khu vực tự domậu dịch Châu á AFTA có tác động tương đối lớn đến tính chất và phươnghướng của đa dạng hoá sản phẩm. Do AFTA chú trọng đến các mặt hàng cônghttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 20
  17. 17. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnghiệp chế tạo nên các doanh nghiệp nhanh chóng nắm bắt được xu hướng này.Các doanh nghiệp sẽ tập trung vào đa dạng hoá sản phẩm bằng những mặt hàngcông nghiệp chế tạo đã có ở Việt nam và tích cực nghiên cứu sản xuất nhữngmặt hàng mới. Mặt khác khi sự giao lưu quốc tế và khu vực tăng lên mạnh mẽcác doanh nghiệp sẽ nắm bắt được thêm nhiều nhu cầu sản phẩm mới, khai thácđược nhiều nguyên nhiên vật liệu mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộngdanh mục sản phẩm của doanh nghiệp.2.1.5. Chính sách kinh tế - xã hội: Trong cơ chế thị trường mỗi doanh nghiệp công nghiệp là một chủ thểkinh doanh độc lập vì vậy doanh nghiệp có quyền thực sự trong việc xác địnhphương hướng sản xuất kinh doanh của mình thông qua việc xây dựng một cơcấu và danh mục sản phẩm có hiệu quả. Nhưng như vậy không có nghĩa làdoanh nghiệp có thể sản xuất bất cứ sản phẩm, tham gia kinh doanh bất kì lĩnhvực nào miễn là mang lợi nhuận. Chính sách kinh tế của nhà nước có thể manglại thuận lợi cho hoạt động đa dạng hoá khi doanh nghiệp sản xuất loại sảnphẩm được nhà nước khuyến khích và ngược lại có thể mang đến sự thất bạicho doanh nghiệp khi sản phẩm đó bị hạn chế hoặc nghiêm cấm sản xuất. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện vai trò chủ thể kinh doanh của mình,mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp có thể mâu thuẫn với các mục tiêu xã hội,điều quan trọng là doanh nghiệp phải biết dung hoà các lợi ích để vừa đạt đượccác mục tiêu của mình vừa góp phần phát triển xã hội.2.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp:2.2.1. Tính chất nguyên vật liệu và sản phẩm của doanh nghiệp: Đặc điểm sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với đa dạng hoá sảnphẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường tiêu thụ sản phẩm, doanh thu, lợinhuận, vòng quay vốn... Nguyên nhiên vật liệu mà mỗi doanh nghiệp sử dụng rất phong phú và đadạng, chúng đựoc gọi là đối tượng lao động - một trong ba yếu tố của quá trìnhsản xuất, thiếu nguyên vật liệu thì quá trình sản xuất bị gián đoạn không thựchiện được. Trong quá trình sản xuất con người sử dụng tư liệu lao động làmthay đổi hình dáng, kích thước, tính chất lý hóa của đối tượng lao động để tạora những sản phẩm công nghiệp với chất lượng ngày càng cao, thoả mãn đầy đủnhu cầu của thị trường.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 21
  18. 18. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Chủng loại nguyên vật liệu đơn giản hay phức tạp đều có ảnh hưởng trựctiếp đến chất lượng sản phẩm, đến hiệu quả việc phát triển đa dạng hoá sảnphẩm và do đó ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.Ngược lại mức độ đa dạng hoá trong doanh nghiệp cao hay thấp theo hình thứcnào đi nữa thì cũng đòi hỏi việc cung ứng phải đáp ứng được yêu cầu về chấtlượng, số lượng, thời gian giao hàng mà điều này lại phụ thuộc rất lớn vào tínhchất nguyên vật liệu. Nhìn chung mối quan hệ giữa đa dạng hoá sản phẩm vàtính chất nguyên liệu đưa vào sản xuất thay đổi tùy thuộc vào đặc điểm sảnxuất từng ngành và phương hướng sản xuất kinh doanh. Vì vậy để có đượcphương án đa dạng hoá sản phẩm hợp lý và có hiệu quả mỗi doanh nghiệp phảixác định được mức độ ảnh hưởng của nguyên vật liệu hạn chế tác động tiêu cựccủa nó đến đa dạng hoá nói riêng và quá trình kinh doanh nói chung của doanhnghiệp.2.2.2. Yếu tố lao động: Giống như yếu tố nguyên vật liệu, lao động là một trong ba yếu tố của quátrình sản xuất, trực tiếp tác động tới thành quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi thực hiện đa dạng hoá trên cơ sở chuyên môn hoá, doanh nghiệp đã cómột đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhưng điều quantrọng hơn cả để thực hiện thành công đa dạng hoá là cơ cấu lao động trongcông ty được tổ chức như thế nào. Lực lượng lao động bảo đảm được số lượng,chất lượng, giới tính và lứa tuổi được sử dụng đúng chỗ là một điều kiện thuậnlợi khi mở rộng sản xuất những mặt hàng mới. Để quản lý một danh mục sản phẩm với nhiều chủng loại phức tạp thì yêucầu đặt ra đối với đội ngũ lãnh đạo cũng rất cao. Mặt khác chính những nhàquản lý cũng là những người vạch ra chiến lược đa dạng hoá cho công ty vì vậyhọ phải có sự hiểu biết, kinh nghiệm và một tầm nhìn xa. Tuy vậy một cơ cấu lao động tối ưu không đủ để mang đến thành công chodoanh nghiệp khi nó không được đặt trong một môi trường làm việc lành mạnhcó văn hoá và khuyến khích người lao động có trách nhiệm với công việc,không ngừng sáng tạo vươn lên vì bản thân và vì sự phát triển của doanhnghiệp.2.2.3. Vốn:http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 22
  19. 19. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Một nguồn lực quan trọng để thực hiện đa dạng hoá sản phẩm là tiềm năngvốn của doanh nghiệp vì vậy phải đánh giá đầy đủ về nguồn vốn, tính chất vàkhả năng khai thác các nguồn. Thực hiện đa dạng hoá sản phẩm liệu doanhnghiệp có phải đầu tư thêm không hay đầu tư mới ? Đầu tư vốn cố định hayvốn lưu động ? Tỉ lệ giữa vốn cố định và vốn lưu động là bao nhiêu ?. Liệu kếtquả thực hiện đa dạng hoá sản phẩm có bù đắp được chi phí hay không ?. Sauđa dạng hoá mức doanh lợi là bao nhiêu, vòng quay vốn cố định, vốn lưu độngnhư thế nào ?.2.2.4. Đặc điểm công nghệ, máy móc thiết bị của doanh nghiệp: Máy móc thiết bị có vai trò rất quan trọng trong sản xuất, nó không chỉchiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn doanh nghiệp mà còn quyết định điềukiện và khả năng sản xuất kinh doanh. Khả năng khai thác tối đa công suất thiếtbị máy móc là điều kiện cần để thực hiện đa dạng hoá hiệu quả. Các đặc điểm công nghệ của doanh nghiệp như : đơn giản hay phức tạp,chuyển giao dọc hay ngang trình độ cao hay thấp ...cũng là một nhân tố quyếtđịnh mức độ đa dạng hoá. Kỹ thuật công nghệ kém sẽ khó nâng cao năng lựcsản xuất, khó sản xuất những mặt hàng có cùng công nghệ sản xuất với sảnphẩm đang được sản xuất, kết quả là đa dạng hoá sản phẩm sẽ không thực hiệnđược. Mặt khác nó cũng ảnh hưởng đến công tác định mức, tiết kiệm nguyênvật liệu, hạ giá thành, đẩy mạnh tiêu thụ, mở rộng thị trường, khó cạnh tranhvới các đối thủ của mình. Tóm lại, trong môi trường cạnh tranh sôi động, các doanh nghiệp phảiluôn năng động và nhạy bén nắm bắt các cơ hội kinh doanh phản ánh trong cơcấu sản phẩm mỗi thời kỳ. Trong quá trình ấy phải đánh giá đúng khả nănghiện có và có thể có của doanh nghiệp .Việc phân tích khả năng của doanhnghiệp được thực hiện trên nhiều góc độ khác nhau: khả năng các yếu tố củaquá trình sản xuất ( nhân tài , vật lực ...), khả năng của các tài sản hữu hình vàvô hình...Như vậy việc đánh giá khả năng của doanh nghiệp đã vượt ra khỏiphạm vi từng doanh nghiệp cá biệt, mà được xem xét trong mối quan hệ vớicác doanh nghiệp có liên quan. Để thực hiện việc này,việc thu thập thông tin vàviệc đưa doanh nghiệp tham gia các tổ chức liên kết thích ứng có tầm quantrọng đặc biệt.III. Một số chỉ tiêu đánh giá mức độ và hiệu quả đa dạng hoá :http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 23
  20. 20. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com1. Hệ số đa dạng hoá sản phẩm : HD D0 HD = 1 - ------- DS Trong đó:D0 : Doanh thu từ sản phẩm đa dạng hoá trong kỳDS : Doanh thu của toàn bộ sản phẩm trong kỳHD = 0 thì không đa dạng hoá sản phẩm0< HD< 1: HD càng thấp thì mức độ đa dạng hoá sản phẩm càng cao Ví dụ: Doanh thu từ 9 sản phẩm mới của một doanh nghiệp dược phẩmnăm 1999 là 0,91 tỷ đồng, tổng doanh thu là 80 tỷ. 0,91 HD = 1 - ---------- = 0,988 80 ⇒ Doanh nghiệp thực hiện đa dạng hoá ở mức độ thấp.2.Hệ số biến đổi chủng loại sản phẩm: HB SC HB = --------- SG Trong đó:SG : Chủng loại sản phẩm gốcSC : Chủng loại sản phẩm cải tiền từ sản phẩm gốc HB ≥ 1 Nếu HB =1 thì doanh nghiệp không thực hiện đa dạng hoá theo hướng cảitiến, hoàn thiện sản phẩm HB càng lớn mức độ đa dạng hoá càng lớn Ví dụ một doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo cải tiến bao gói và hình thứccủa bánh kem xốp thành 3 loại sản phẩm khác nhau. 3 HB = ----------- = 3 1http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 24
  21. 21. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com3. Hệ số mở rộng chủng loại sản phẩm : HM SC + SM HM = -------------- S SC : Chủng loại sản phẩm cải tiến từ sản phẩm gốc. SM : Số chủng loại sản phẩm mới hoàn toàn . S : Tổng số chủng loại sản phẩm sản xuất trong kỳ của doanh nghiệp. HM ≤ 1: HM càng lớn thì mức độ đa dạng hoá càng cao. Doanh nghiệp trong ví dụ trên, bên cạnh việc cải tiến sản phẩm hiện cócòn đầu tư dây chuyền công nghệ để sản xuất thêm 9 mặt hàng mới như bánhqui bơ, bánh mặn...mở rộng danh mục sản phẩm ra 26 loại. 3 + 9 HM = ------------- = 0,46 26 Như vậy mức độ đa dạng hoá sản phẩm chưa hoàn toàn thể hiện sự năngđộng của doanh nghiệp trong kinh doanh. Mức độ hợp lý của đa dạng hoá sảnphẩm còn phụ thuộc vào quy mô, khả năng quản lý, quan hệ liên kết của doanhnghiệp và đặc biệt là hiệu quả kinh tế mà đa dạng hoá mang lại.4. Mức tăng doanh lợi : KP PD P0 KP = ------ - ------ ZD Z0 Trong đó:P0 và PD: Lợi nhuận trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩmZ0 và ZD: Giá thành sản phẩm trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩm PD P0 KP’= ------ - ------ VD V0V0 và VD : Vốn sản xuất trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩmhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 25
  22. 22. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com PD P0 KP’’ = ------------------------- - ------------------- ZD + EĐM ( I0 + ID ) Z0 + EĐM. I0 Trong đó: I0 và ID : Vốn đầu tư trước và sau khi đa dạng hoá sản phẩm Z0 và ZD: Giá thành sản phẩm trước và sau khi đa dạng hoá Eđm : Hệ số hiệu quả định mức của vốn đầu tư ( cho biết từ một đơn vị chi phíđầu tư bỏ thêm thì thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận ).KP, KP’, KP’’ >0 : Đa dạng hoá có hiệu quả.KP, KP’, KP’’ ≤ 0 : Đa dạng hoá không có hiệu quả.IV. Quy trình thực hiện đa dạng hoá sản phẩm : Như phần trên đã nghiên cứu ta thấy rằng doanh nghiệp có thể đa dạng hoátheo hai hướng là cải tiến hoàn thiện sản phẩm hiện có hoặc nghiên cứu pháttriển sản phẩm mới hoàn toàn. Mỗi hình thức này đều có những ưu và nhượcđiểm nhất định, ngày nay, phần lớn các doanh nghiệp đều không ngừng vươnlên khẳng định mình bằng chính những sản phẩm mới có tính sáng tạo caomang lại vị thế lớn cho doanh nghiệp trên thương trường. Trong thực tế có sáuloại sản phẩm được coi là mới theo góc dộ chúng có tính chất mới đối với côngty và thị trường: - Sản phẩm mới đối với thế giới: Những sản phẩm tạo ra một thị trườnghoàn toàn mới. - Chủng loại sản phẩm mới: Những sản phẩm cho phép công ty xâm nhậpmột thị trưòng đã có sẵn lần đầu tiên. - Bổ sung chủng loại sản phẩm hiện có : Những sản phẩm mới bổ sungthêm vào các chủng loại sản phẩm sẵn có của công ty ( kích cỡ gói, hương vị...) - Cải tiến sửa đổi những sản phẩm hiện có: Những sản phẩm mới có tínhnăng tốt hơn hay giá trị nhận thức được lớn hơn và thay thế những sản phẩmhiện có . - Định vị lại : Những sản phẩm hiện có được nhằm vào những thị trườnghoặc khúc thị trưòng mới. - Giảm chi phí: Những sản phẩm mới có tính năng tương tự với chi phíthấp hơn. Công ty thường theo đuổi cả một danh mục những sản phẩm mớihttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 26
  23. 23. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnày. Một phát hiện quan trọng là chỉ có 10 % số sản phẩm mới là thức sự đổimới hay mới đối với thế giới. Những sản phẩm này có chi phí và rủi ro cực lớnbởi vì chúng mới cả đối với công ty và thị trường. Phần lớn hoạt động về sảnxuất mới của công ty được dành cho việc cải tiến những sản phẩm hiện có chứkhông phải sáng tạo những sản phẩm mới Vì vậy hoạt động nghiên cứu phát triển ngày càng được đầu tư nhiều hơnvề nhân lực và vật lực, là hoạt động không thể thiếu trong quá trình thực hiệnđa dạng hoá. Về cơ bản, quá trình nghiên cứu và phát triển gồm các bước sau:1. Hình thành ý tưởng về sản phẩm : Quá trình phát triển một sản phẩm mới nhằm thực hiện đa dạng hoá bắtđầu từ việc tìm kiếm những ý tưởng. Việc tìm kiếm không thể là vu vơ. Banlãnh đạo tối cao phải xác định những sản phẩm và thị trường cần chú trọng. Họcần xác định mục tiêu của sản phẩm mới như tạo lưu kim mới, khống chế thịtrường hay những mục tiêu khác. Họ cũng cần phải xác định cần dành baonhiêu nỗ lực cho việc phát triển những sản phẩm đột phá cải biến những sảnphẩm hiện có và làm nhái các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh.1.1. Những nguồn ý tưởng sản phẩm mới : Những ý tưởng sản phẩm mới có thể nảy sinh từ nhiều nguồn: khách hàng,các nhà khoa học, đối thủ cạnh tranh, công nhân viên, thành viên của kênh, banlãnh đạo tối cao. Quan điểm Marketing khẳng định rằng những nhu cầu và mong muốn củakhách hàng là nơi hợp lôgic để tìm kiếm những ý tưởng sản phẩm mới. Cáccông ty có thể phát hiện những nhu cầu và mong muốn của khách hàng thôngqua các cuộc thăm dò khách hàng, trắc nghiệm chiếu hình, trao đổi nhóm tậptrung và những thư góp ý khiếu nại của khách hàng. Nhiều ý tưởng hay nhấtnảy sinh khi yêu cầu khách hàng trình bày những vấn đề của mình liên quanđến sản phẩm hiện có. Các công ty cũng dựa vào những nhà khoa học, các kỹ sư, những ngườithiết kế và các công nhân viên khác để khai thác ý tưởng sản phẩm mới,khuyến khích mọi thành viên công ty tham gia cải tiến sản phẩm. Các công ty có thể tìm được những ý tưởng hay thông qua khảo sát sảnphẩm và dịch vụ của các đối thủ cạnh tranh. Qua những người phân phối,http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 27
  24. 24. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnhững người cung ứng và các đại diện bán hàng có thể tìm hiểu xem đối thủcạnh tranh đang làm gì. Công ty có thể phát hiện ra khách hàng thích nhữngđiểm gì ở sản phẩm mới của đối thủ cạnh tranh. Chiến lược cạnh tranh củacông ty có thể là chiến lược phỏng tạo và cải tiến chứ không phải là đổi mớisản phẩm. Các đại diện bán hàng và những người bán hàng của công ty là nguồn ýtưởng rất tốt. Họ có thể điều kiện mắt thấy tai nghe những nhu cầu và phànnàn của khách hàng. Họ thường hay biết được trước tiên những diễn biến cạnhtranh. Những ý tưởng sản phẩm mới cũng có thể có những nguồn khác nhau nhưnhững nhà sáng chế, những người có bằng sáng chế, các phòng thí nghiệm củatrường đại học, các công ty Marketing và ấn phẩm chuyên ngành.1.2. Phương pháp hình thành ý tưởng: Những ý tưởng thực sự hay đều nảy sinh từ nguồn cảm hứng, sự lao độngcật lực và những phương pháp. Có một số phương pháp sáng tạo có thể giúp cánhân hay tập thể hình thành những ý tưởng tốt hơn. - Liệt kê thuộc tính :Phương pháp này đòi hỏi phải liệt kê những thuộc tính chủ yếu của một sảnphẩm hiện có để tìm ra một sản phẩm cải tiến. - Xem xét quan hệ bắt buộc: Phương pháp này đòi hỏi phải xem xét sự vật trong mối quan hệ gắn bóvới nhau tức là hướng các ý tưởng vào sản phẩm bổ sung. - Phân tích hình thái học: Phương pháp này đòi hỏi phải phát hiện những cấu trúc rồi khảo sát mốiquan hệ giữa chúng, tìm ra sản phẩm với cách kết hợp mới. - Phát hiện nhu cầu - vấn đề: Những phương pháp sáng tạo trên không đòi hỏi thông tin từ người tiêudùng để hình thành ý tưởng. Phương pháp này tìm kiếm thông tin từ người tiêudùng như đặt ra các câu hỏi về những vấn đề khi sử dụng một sản phẩm haymột loại sản phẩm cụ thể .2. Sàng lọc và lựa chọn ý tưởng: Sau khi có được nhiều ý tưởng về sản phẩm sản xuất, doanh nghiệp cầnxây dựng một số chỉ tiêu phù hợp nhất để đánh giá tính khả thi đi tới việc lựahttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 28
  25. 25. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchọn những ý tưởng phù hợp với khả năng của công ty và nhu cầu của thịtrường. Hầu hết các công ty đều yêu cầu trình bầy những ý tưởng sản phẩmmới theo một mẫu thống nhất để ban phụ trách sản phẩm mới có thể xem xét.Nội dung trình bầy phải nói lên được ý tưởng của sản phẩm, thị trường mụctiêu và tình hình cạnh tranh, ước tính sơ bộ quy mô thị trường giá bán sảnphẩm, thời gian và chi phí phát triển, chi phí sản xuất và tỷ suất lợi nhuận. Sauđó ban phụ trách sẽ xem từng ý tưởng sản phẩm mới đối chiếu với các tiêuchuẩn bằng những câu hỏi, những ý tưởng nào không thoả mãn được một haynhiều câu hỏi này sẽ bị loại bỏ. - Khả năng thích ứng của sản phẩm: Câu hỏi cần trả lời trước khi quyếtđịnh sản phẩm là sản phẩm liệu có thể đáp ứng được nhu cầu của khách hàngkhông và đáp ứng đến đâu. Nếu sản phẩm không tạo ra được sự thu hút đối vớikhách hàng và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng trong tương lai thìý tưởng về sản phẩm có hay đến đâu cũng bị loại bỏ. - Dự tính chi phí sản phẩm: Một vấn đề rất quan trọng khi thực thi bất kì hoạt động gì là chi phí phảibỏ ra là bao nhiêu. Một sản phẩm có thể đáp ứng được nhu cầu thị trường vềgiá trị sử dụng nhưng lại có giá bán cao hơn các sản phẩm cùng loại trên thịtrường thì sản phẩm đó gặp rủi ro cao. Mục tiêu chủ yếu của chiến lược đadạng hoá là lợi nhuận vì vậy sản phẩm mới phải đảm bảo có lãi. Ngoài ra cũngcần dự tính toàn bộ chi phí cho quá trình xây dựng một phương án sản phẩm. - Tốc độ phát triển sản phẩm và mức lợi nhuận dự kiến : Vấn đề ở đây là phải xác định xem cần bao nhiêu thời gian để sản phẩm cóđược chỗ đứng trên thị trường và có được thị phần mong muốn và khi đưa rathị trường doanh nghiệp có thể thu được bao nhiêu lợi nhuận dự kiến và tốc độthu hồi vốn ra sao. Câu hỏi này mang tính chất quyết định đối với việc lựa chọnphương án sản phẩm. - Đánh giá khả năng của doanh nghiệp nhằm khẳng định các tiềm lực tàichính cho việc thực hiện phương án này. Phân tích khả năng của doanh nghiệpđược tiến hành trên các phương diện: khả năng hiện có về máy móc thiết bị, laođộng, vốn đầu tư cho dự án. Thông qua việc nghiên cứu sơ bộ các tiêu chuẩn trên của sản phẩm, giaiđoạn này giúp cho doanh nghiệp loại bỏ những ý tưởng tồi không có tính khảhttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 29
  26. 26. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthi và lựa chọn phương án sản phẩm tối ưu , đạt được nhiều nhất các yêu cầu đềra.3. Thử nghiệm và phát triển sản phẩm: Giai đoạn này đưa các ý tưởng vào giai đoạn nghiên cứu phát triển haythiết kế kĩ thuật để phát triển thành sản phẩm vật chất. Cho đến lúc này nó mớichỉ ở dạng mô tả bằng lời, một mô hình vẽ hay mô hình phác thảo. Giai đoạnnày sẽ đòi hỏi phải có một sự nhảy vọt về số vốn đầu tư. Giai đoạn này sẽ trảlời ý tưởng sản phẩm đó, xét về mặt kỹ thuật và thương mại có thể biến thànhmột sản phẩm khả thi được không. Phòng nghiên cứu phát triển sẽ tìm mộtnguyên mẫu mà người tiêu dùng thấy rằng nó có đủ các thuộc tính then chốtđược mô tả trong quan niệm về sản phẩm như kiểu dáng kết cấu, tính năng tácdụng, vật liệu kỹ thuật sản xuất, hoạt động an toàn trong điều kiện sử dụng bìnhthường và có thể sản xuất trong phạm vi chi phí sản xuất đã dự toán. Khi làmxong các nguyên mẫu phải được mang đi thử nghiệm về chức năng một cáchnghiêm ngặt và thử nghiệm với người tiêu dùng. Các thử nghiệm chức năngđược tiến hành trong phòng thí nghiệm và trong điều kiện dã ngoại để biết chắcrằng các doanh nghiệp đó hoạt động an toàn và có hiệu suất. Sau khi hài lòng với những kết quả về chức năng và tâm lý của sản phẩmthì doanh nghiệp có thể xác định cho sản phẩm đó tên nhãn hiệu, bao bì và mộtchương trình marketing sơ bộ để thử nghiệm nó trong điều kiện xác thực hơnđối với người tiêu dùng. Giai đoạn thử nghiệm trên thị trường đã cung cấp đủthông tin về sản phẩm doanh nghiệp quyết định phát triển sản phẩm trên thịtrường. Cuối cùng doanh nghiệp phải xác định những kết quả mà sản phẩm mớimang lại hay cũng chính là hiệu quả của hoạt động đa dạng hoá.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 30
  27. 27. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Phần II: Thực trạng đa dạng hoá sản phẩm tại công ty TRAPHACO.I. Những nét khái quát về công ty :1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty:1.1. Giới thiệu chung: Công ty cổ phần Dược và thiết bị vật tư y tế giao thông vận tải là doanhnghịệp được thành lập dưới hình thức chuyển từ doanh nghiệp nhà nước thànhcông ty cổ phần được tổ chức và hoạt động theo Luật công ty và Luật doanhnghiệp. Công ty được thành lập để huy động và sử dụng vốn có hiệu quả trongviệc phát triển sản xuất và kinh doanh dược phẩm và trang thiết bị y tế và cáclĩnh vực khác nhằm mục tiêu thu lợi nhuận tối đa, tạo công ăn việc làm ổn địnhcho người lao động, tăng lợi tức cho các cổ đông, đóng góp cho ngân sách nhànước và phát triển công ty ngày càng phát triển vững mạnh. - Tên giao dịch quốc tế: TRAPHACO pharmaceutical & medical stockcompany. - Tên viết tắt: TRAPHACO - Công ty có trụ sở tại : 75 Yên Ninh , Ba Đình, Hà Nội. - Điện thoại: 8454813-7333647 - Fax: 84300091.2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty và bổ sung nhiệm vụkinh doanh của công ty: - Tiền thân của công ty là một xưởng dược nhỏ bé do Sở y tế Tổng cụcđường sắt thành lập năm 1972 với nhiệm vụ sản xuất thuốc phục vụ cho cán bộcông nhân viên ngành đường sắt theo hình thức tự sản tự tiêu. - Tháng 6/1993, để phù hợp với nền kinh tế thị trường, xưởng được mởrộng và chuyển thành xí nghiệp dược phẩm đường sắt, tên giao dịch làRAPHACO theo tinh thần nghị định số 388/ HĐBT của Hội đồng bộ trưởngvới chức năng là sản xuất và thu mua dược liệu theo 1087-QĐ / TCCB-LĐ. - Tháng 8/1993, Sở y tế đường sắt được chuyển thành Sở y tế giao thôngvận tải do Bộ giao thông vận tải quản lý. Từ đó xí nghiệp dược phẩm đường sắtđược đổi thành Xí nghiệp dược Bộ GTVT.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 31
  28. 28. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Tháng 6/1994,đổi thành công ty dược phẩm Bộ GTVT ,tên giao dịchTRAPHACO theo quyết định số 666 QĐ/TCCB-LĐ của Bộ GTVT với chứcnăng nhiệm vụ thu mua dược liệu sản xuất và kinh doanh dược phẩm. - Đến năm 1995, công ty bổ sung nhiệm vụ kinh doanh thiết bị vật tư y tếtheo quyết định 535 QĐ/ TCCBB-LĐ của Bộ GTVT. -Vào thời điểm cuối năm 1999, theo chủ trương của chính phủ về việcchuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, công ty đã chuẩn bị vàxây dựng phương án cổ phần hoá trình bộ GTVT xét duyệt. Theo quyết định số2566 ngày 27/ 09/ 1999 của Bộ GTVT về việc chuyển công ty Dược và thiết bịvật tư y tế TRAPHACO thành công ty cổ phần, công ty đã tiến hành đại hội cổđông thành lập và chính thức hoạt động công ty cổ phần theo Luật doanhnghiệp từ ngày 1/1/2000. Biểu 1:Tóm tắt các quyết định qui định chức năng và nhiệm vụ kinh doanh cơ bản của công ty. Năm ra QĐ Số QĐ Nội dung Chức năng Tên công ty 1993 1087QĐ/ Thành lập xí Thu mua dược Xí nghiệp dược TCCB- nghiệp dược liệu và sản xuất phẩm đường sắt LĐ phẩm đường thuốc chữa bệnh RAPHACO sắt 1994 666QĐ/ Đổi tên và bổ Thu mua thuốc Công ty dược TCCB- sung nhiệm chữa bệnh,sản TRAPHACO LĐ vụ kinh xuất kinh doanh doanh dược phẩm 1995 4678QĐ/ Bổ sung Thu mua thuốc Công ty dược TCCB- nhiệm vụ chữa bệnh,sản TRAPHACO LĐ xuất kinh doanh dược phẩm và TBVTYT 1997 535QĐ/ Đổi tên Như trên Công ty dược và TCCB- công ty TBVTYT LĐ TRAPHACO 1999 2566QĐ/ Thay đổi hình Như trên Công ty cổ phần TCCB- thức pháp lý dược và LĐ TBVTYThttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 32
  29. 29. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com TRAPHACO2. Cơ cấu tổ chức của công ty: Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty được tổ chức theo kiểu trực tuyến-chức năng. Kiểu cơ cấu tổ chức này vừa phát huy năng lực chuyên môn củacác bộ phận vừa đảm bảo quyền chỉ huy của hệ thống trực tuyến. Mô hình này có ưu điểm: Giao một số chức năng quyền hạn cho từng bộphận tăng cường trách nhiệm cá nhân, mệnh lệnh thi hành phải chịu nhiều chỉthị khác nhau, tạo sự năng động trong toàn công ty. Bên cạnh đó là chức năngcủa các bộ phận tham mưu phối hợp để tư vấn cho lãnh đạo tránh tình trạngmệnh lệnh cục bộ . Theo đặc điểm của công ty cổ phần, bộ phận quan trọng và cao nhất ởcông ty là Hội đồng quản trị. Đây là bộ phận thay mặt cổ đông định ra cácchiến lược hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, định hướng công tácquản lý điều hành của Ban giám đốc công ty. Ban giám đốc gồm 1 giám đốc và1 phó giám đốc. Giám đốc là người chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động sảnxuất kinh doanh của công ty còn phó giám đốc có nhiệm vụ tổ chức quản lý vàchỉ đạo công tác kinh doanh của công ty đồng thời là người kiểm tra việc thựchiện kế hoạch kinh doanh của công ty. Ngoài ra còn có ban kiểm soát để kiểmtra các hoạt động của hội đồng quản trị và ban giám đốc điều hành. Số lượngcán bộ quản lý chính của công ty là 31 người. Về mặt tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, nhân lực công tyTRAPHACO có thể được chia thành 2 khối là khối sản xuất và khối gián tiếp.2.1. Khối sản xuất: Với 190 người làm việc tại 7 phân xưởng - Phân xưởng thực nghiệm: có 30 lao động với chức năng ổn định chấtlượng sản phẩm trước khi đưa vào sản xuất quy mô lớn và thực hành nghiêncứu - Phân xưởng GMP. Viên nén : sản xuất các loại thuốc dạng viên nén, viênnang theo tiêu chuẩn GMP ASEAN ( Asean good manufacturing practise ) - Phân xưởng viên hoàn: sản xuất các loại thuốc có nguồn gốc dược liệuthành thuốc có dạng viên hoàn, trà tan, túi lọc... - Phân xưởng thuốc mỡ, thuốc bộthttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 33
  30. 30. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Phân xưởng thuốc ống: sản xuất các loại thuốc bổ dạng ống thuỷ tinh,kiềm hay trung tính. - Phân xưởng sơ chế: với nhiệm vụ bào chế các loại dược liệu từ dạng thôsang dạng tinh như bột mịn, cốm để hình thành các sản phẩm viên hoàn. - Phân xưởng Tây y: sản xuất các loại thuốc dạng nước2.2. Khối gián tiếp: Với 139 cán bộ làm việc trong 7 phòng ban và chịu sự chỉ đạo thống nhấtcủa giám đốc được chia thành: - Phòng đảm bảo chất lượng: giám sát phân xưởng thực hiện đúng quitrình kĩ thuật để sản phẩm đạt yêu cầu về chất lượng và số lượng theo đúng tiêuchuẩn Asean GMP, xem xét các sai lệch, sự cố kĩ thuật, các điểm không phùhợp về chất lượng đề xuất biện pháp xử lý.- Phòng kiểm tra chất lượng: có nhiệm vụ kiểm tra việc đảm bảo chất lượngbao gồm việc kiểm tra chất lượng nguyên phụ liệu trước khi đưa vào sản xuấtcũng như chất lượng sản phẩm nhập kho.- Phòng nghiên cứu và phát triển: từ những nghiên cứu cơ bản và những nghiêncứu ứng dụng, phòng nghiên cứu và phát triển sẽ nghiên cứu tính khả thi củasản phẩm hay qui trình mới, kiến nghị với ban giám đốc về việc có nên tiếp tụcphát triển sản phẩm hay qui trình đó không. Phòng thị trường: là một bộ phận của phòng nghiên cứu phát triển, phốihợp với phòng nghiên cứu và phát triển, phát triển mặt hàng mới cải tiến mẫumã và chất lượng các mặt hàng có sẵn phù hợp với thị hiếu khách hàng.. Tổchức hệ thống marketing và các hoạt động yểm trợ cho công tác bán hàng nhằmthoả mãn nhu cầu khách hàng khai thác thị trường đã có và thị trường mới - Phòng cơ điện : với nhiệm vụ sửa chữa bảo dưỡng máy móc thiết bị phụcvụ cho quá trình sản xuất được liên tục. * Bộ phận các phòng ban: là các phòng tham mưu trực tiếp cho giám đốctrong việc điều hành và quản lý kinh doanh.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 34
  31. 31. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Phòng tổ chức hành chính: làm nhiệm vụ quản lý nhân sự và các côngviệc có liên quan đến nhân sự. - Phòng kế hoạch kinh doanh: Căn cứ vào kế hoạch sản xuất được duyệtkết hợp với tiến độ và nhu cầu thị trường năng lực thực tế của phân xưởng đểgiao kế hoạch sản xuất chi tiết hàng tháng, quý cho phân xưởng. Lập kế hoạchquản lý kinh doanh và hồ sơ báo cáo bán hàng từng thời kì cụ thể. - Phòng tài chính kế toán: thực hiện các công tác tài chính kế toán củadoanh nghiệp, tham mưu cho giám đốc về các vấn đề tài chính tín dụng .3. Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty:3.1. Đặc điểm ngành nghề kinh doanh : Các chức năng kinh doanh chính của công ty : - Thu mua, gieo trồng chế biến dược liệu - Sản xuất kinh doanh dược phẩm, hoá chất và các thiết bị vật tư y tế. - Pha chế thuốc theo đơn. - Tư vấn sản xuất dược phẩm mỹ phẩm - Kinh doanh xuất nhập khẩu nguyên phụ liệu làm thuốc các loại sản phẩmthuốc. Sản phẩm chính của công ty là các loại thuốc phục vụ cho công tác phòngvà chữa bệnh của nhân dân. Đó là một loại hàng hoá đặc biệt có liên quan đếnsức khoẻ và tính mạng của con người. ở nước ta, hiện nay hệ thống sản xuất và kinh doanh cung ứng thuốc đượcchia làm 6 khu vực trong đó khu vực sản xuất thuốc TW thuộc Tổng công tydược Việt nam chiếm khoảng 30-40 % giá trị thuốc sản xuất trong nước còn lạilà khu vực địa phương, công ty cổ phần và công ty liên doanh. Các cơ sở sảnxuất TW và địa phương đều thuộc loại vừa và nhỏ chỉ có 6 đơn vị sản xuất cóvốn trên 5 tỷ đồng còn lại đều dưới 5 tỷ đồng. Ngành sản xuất dược Việt Namvới hoạt động chủ yếu là công nghiệp bào chế thuốc phụ thuộc vào nguyên liệunhập từ nước ngoài, trình độ công nghệ lạc hậu chưa hoàn chỉnh, những dạngbào chế kỹ thuật chưa tự sản xuất được như dung dịch tiêm truyền đặc biệt làdung dịch đạm, dạng phun mù, thuốc tác dụng kéo dài...Vì vậy cơ cấu sảnphẩm nghèo nàn không đủ hoạt chất cần thiết kể cả theo danh mục thuốc thiếtyếu ta mới chỉ đưa vào sản xuất được 175 hoạt chất. Các đơn vị sản xuất rahttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 35
  32. 32. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comnhững sản phẩm thông thường trùng lặp cạnh tranh không lành mạnh đua nhauphá giá để quay vòng vốn, gây thiệt hại rất lớn cho chính các nhà sản xuất.Nhìn chung trong quá trình chuyển đổi cơ chế thị trường đến nay các doanhnghiệp đã chủ động, nhạy bén vươn lên trong sản xuất đã đáp ứng một phầnnhu cầu thuốc trong nhân dân, hình thức chất lượng thuốc ngày càng cải tiến vànâng cao đã bắt đầu chú ý nghiên cứu tuổi thọ và sinh khả dụng của thuốc đã cósự cạnh tranh hàng trong nước và ngoại nhập.3.2. Đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong những nămqua: Vốn là một xưởng sản xuất bổ trợ cho ngành đường sắt, hoạt động củacông ty TRAPHACO mang tính chất bao cấp với các sản phẩm sản xuất ra nhưthuốc giảm đau, hạ nhiệt, kháng viêm, kháng dị ứng, thuốc tim mạch, thuốcdùng cho hệ tiêu hoá..được phân phối toàn ngành do đó cơ cấu tổ chức và sảnxuất gọn nhẹ, linh hoạt dễ thay đổi để thích nghi với cơ chế thị trường. Công tyđã hoàn thành 100 % kế hoạch sản xuất thuốc phục vụ cho cán bộ trong ngànhvà có một số sản phẩm được thị trường biết đến như viên sáng mắt, hoạt huyếtdưỡng não... và nhiều sản phẩm tân dược khác. Trải qua quá trình xây dựng phấn đấu và trưởng thành, công tyTRAPHACO đã không ngừng vươn lên phấn đấu về mọi mặt, hiện nay công tycó hơn 300 nhân viên với trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình với công việc, cơsở vật chất tương đối ổn định, trang bị thêm nhiều máy móc thiết bị hiện đại vàkết quả là công ty đã đạt được tốc độ tăng trưởng rất cao trung bình 30 % mộtnăm đặc biệt năm 1996 tốc độ tăng trưởng của công ty là 100 %. Để bắt kịp nhịp độ cạnh tranh của nền kinh tế thị trường thực hiện đadạng hoá sản phẩm vì vậy nhiệm vụ sản xuất của công ty cũng được mở rộnghơn.. Công ty sản xuất thêm các loại thuốc chữa được bệnh về tim mạch, thuốcdùng cho hệ tiêu hoá và những loại thuốc bổ như nhân sâm tam thất, các loạitrà bổ..thuốc dùng phụ khoa, thuốc dùng ngoài da. Những sản phẩm của côngty đều đạt tiêu chuẩn chất lượng của ngành dược và tiêu chuẩn của nhà nước.Công ty đã dành được cúp vàng " đội ngũ tiếp thị giỏi "tại hội chợ hàng ViệtNam chất lượng cao và huy chương đồng sản phẩm viên Nhân sâm tam thất tạihội chợ hàng công nghiệp Việt Nam năm 1998.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 36
  33. 33. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Vận động trong cơ chế thị trường với địa điểm sản xuất và kinh doanhphân tán ( công ty hiện có 7 phân xưởng sản xuất và 10 địa điểm kinh doanh tại6 quận huyện khác nhau của thành phố Hà nội ), do có định hướng phát triểnđúng đắn qua từng giai đoạn như việc xác định cơ cấu mặt hàng phù hợp với cơchế thị trường để giảm sức ép cạnh tranh, hàng hoá phong phú đa dạng, công tydần chiếm được lòng tin của người tiêu dùng bằng chất lượng sản phẩm vàphương thức phục vụ văn minh. Trong 7 năm từ 1993 đến nay công ty đã mởrộng danh mục sản phẩm từ 20 đến 80 mặt hàng đây là một thành tựu đáng ghinhận. Công ty từng bước tạo được vị thế của mình trên thị trường dược phẩm,là bạn hàng và đối tác quan trọng của Công ty dược Bình Lục, công ty dượcHải Dương, các xí nghiệp dược trung ương thuộc tổng công ty dược. Công ty khẳng định vị trí quan trọng của mình trong ngành công nghiệpdược với một số chỉ tiêu đạt đưọc qua các năm như sau: Biểu 2 :Một số chỉ tiêu cơ bản của công ty năm 1998-2000. ST Tên chỉ tiêu 1998 1999 2000 T 1 Tổng doanh thu(VNĐ) 48418074000 49948976223 81000000000 2 Doanh thu sản xuất 40332072000 42403500507 71000000000 3 Doanh thu kinh doanh 8086002000 7545475716 10000000000 4 Lương bình quân 1.070.000 1.316.000 1.700.000 (đồng/ngưòi/tháng) 5 Nộp ngân sách 1238227843 1982964169 3500000000 6 Tỷ suất LN sau thuế 64,65 % 137,56 % 151,7 % 7 Lao động bình quân 280 người 316 người 360 người Nguồn: Phòng kế toán Từ đó các chỉ tiêu trên có thể thấy rằng dựa trên sự lãnh đạo sáng suốt củaban giám đốc công ty và sự giúp đỡ tận tình của Bộ và sở GTVT cùng với chủtrương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, công ty TRAPHACO đã có sự lớnmạnh không ngừng. - Doanh thu của năm 2000 so với năm 1998 là 168,75 %, năm 1999 là165,3 %. Đây là con số rất đáng khích lệ thể hiện hướng đi đúng dắn của côngty trong phát triển sản phẩm nắm bắt được nhu cầu thị trường.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 37
  34. 34. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com - Tỷ suất lợi nhuận sau thuế tăng từ 64,65 % năm 1998 lên151,7 % năm2000 tạo điều kiện cho tích lũy phát triển sản xuất, mở rộng quy mô của côngty, chứng tỏ hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh là rất cao. Cùng với việc thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuậncông ty đã nâng cao mức sống của người lao động, thu nhập của người laođộng trong công ty cao hơn hẳn so với các doanh nghiệp cùng ngành. Ngoài ra khoản nộp ngân sách của công ty tăng rất nhanh năm 2000 tăngso với năm 1998 là 182 %, so với năm 1999 là 84 % góp phần thực hiện cácmục tiêu chung của nền kinh tế và phát triển đời sống xã hội. Tuy nhiên vì sự phát triển bền vững của công ty trong tương lai và tránhnhững rủi ro nền kinh tế thị trường mang lại, công ty vẫn từng bước xây dựngvà hoàn thiện chiến lược kinh doanh trên cơ sở phân tích những yếu tố thuậnlợi và khó khăn. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, công ty phải phân tíchvà khắc phục triệt để những tồn tại làm giảm hiệu quả kinh doanh trở thànhcông ty hàng đầu trong ngành dược.4. Những đặc điểm kinh tế - kỹ thuật ảnh hưởng đến hoạt động đa dạnghoá sản phẩm của công ty:4.1. Đặc điểm về tính chất sản phẩm: Dược phẩm, vật tư thiết bị y tế là loại hàng hoá được nhà nước quy địnhtrong nhóm hàng hoá đặc biệt nên ngoài những thuộc tính chung của hàng hoánó còn có những thuộc tính riêng có và những thuộc tính này có ảnh hưởngquyết định đến phương hướng đa dạng hoá sản phẩm của công ty. - Thuốc chiếm một vị trí quan trọng trong chiến lược chăm sóc và bảo vệsức khỏe cho nhân dân của Đảng và nhà nước ta do đó hoạt động sản xuất kinhdoanh được tạo điều kiện khuyến khích phát triển. Nhà nước đã tạo ra nhiềuvăn bản, các qui định pháp luật nhằm khuyến khích thúc đẩy hoạt động sảnxuất kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm cũng như phân phối thuốc của cácdoanh nghiệp trong nước làm lành mạnh môi trường cạnh tranh giữa các doanhnghiệp. - Giá trị sử dụng của thuốc lớn và tăng trưởng nhanh, nó đang chuyển dầnthành thuộc tính hàng hoá thực sự, rất có khả năng trở thành ngành kinh tế mũinhọn của quốc gia có vị trí quan trọng về quốc phòng, chính trị và khoa họcđây là một tác động tích cực thúc đẩy công ty đa dạng hoá mặt hàng.http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 38

×