Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com                                   LỜI MỞ ĐẦU.       ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com      CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comdoanh đối với NHTM liên doanh, hoặc vốn do tư nhân bỏ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.commua kỳ phiếu sẽ trả số tiền mua bằng mệnh giá trừ đi ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com+ Tín dụng ứng trước: đây là thể thức cho vay được th...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtư chứng khoán có giới hạn không được để hoạt động nà...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcó vốn, vậy trước tiên ngân hàng phải huy động vốn, b...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com        Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một th...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.commà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com       Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comvới ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcàng phong phú thì càng tạo độ linh hoạt và hiệu quả ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com       Là một mối quan hệ kinh tế, tín dụng ngân hàng...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com       4.3/ Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hoà...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comCHƯƠNG II: CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthập thông tin không chỉ thông qua phỏng vấn, giấy tờ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comdụng rất lớn trong việc thúc đẩy mối quan hệ làm ăn t...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com7/ Thu nợ.        Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthức cấp tín dụng như thế nào. Ở Việt Nam các phương ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com7. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng t...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com- Lãi suất tín dụng bao giờ cũng dương (lãi suất thực...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchỗ thời gian cho vay vốn càng dài thì lợi nhuận làm ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com- Điều kiện thị trường tiền tệ: nếu như ngân hàng phụ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comlãi suất làm lãi suất hạ rất thấp gây ra nhiều hiện t...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comNhững hướng dẫn về việc tiếp nhận, đánh giá và bảo qu...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkhông có khả năng hoàn trả được hoặc lãi hoặc gốc hoặ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com       Việc phân loại theo các nguyên nhân có thể kiể...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com- Quyết định cho vay trên cơ sở phải xác định và hiểu...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comTheo số liệu do NHNN công bố đến đầu năm 2001 kết quả...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com   CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG CÁ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comro trong hoạt động ngân hàng được Thống đốc NHNN ban ...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtreo đã thu hồi được. Sự phát triển kinh tế sẽ tạo đi...
Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com        Tuy nền kinh tế tăng trưởng khá nhưng lại xuấ...
DA146.doc
DA146.doc
DA146.doc
DA146.doc
DA146.doc
DA146.doc
DA146.doc
DA146.doc
DA146.doc
DA146.doc
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

DA146.doc

374 views

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
374
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
4
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

DA146.doc

  1. 1. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com LỜI MỞ ĐẦU. Cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá, hệ thống ngân hàng thươngmại (NHTM) cũng ngày càng phát triển và trở thành các trung gian tài chính đưavốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, đáp ứng được nhu cầu về vốn của các doanhnghiệp. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, sản xuất hàng hoáphát triển nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp phục vụ sản xuất kinh doanh làrất lớn, tích luỹ không kịp để mở rộng sản xuất, chính vì vậy các doanh nghiệpđã cần sử dụng vốn tín dụng thực hiện mục đích của mình. Ở nước ta hiện naythì chủ yếu mới chỉ có hoạt động tín dụng ngân hàng là thực hiện nhiệm vụ này,và các NHTM ngày càng phát triển thực hiện tốt chức năng vai trò của mìnhtrong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Để có thể hiểu rõ hơn về hoạt động tín dụng trong các NHTM và vai trò tolớn của nó trong nền kinh tế thị trường nhằm khai thác có hiệu quả hoạt động tíndụng ngân hàng góp phần phát triển nền kinh tế Việt Nam, em xin chọn đề tài"Hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay". Bài viết bao gồm những nội dung sau: - Chương I: Lý luận chung về NHTM và tín dụng ngân hàng. - Chương II: Một số vấn đề cơ bản trong hoạt động tín dụng của NHTM ởViệt Nam. - Chương III: Thực trạng hoạt động tín dụng trong các NHTM ở Việt Namhiện nay và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động tín dụngngân hàng. Em hy vọng bài viết có thể làm rõ một số lý luận về NHTM, hoạt động tíndụng ngân hàng, và thực trạng của hoạt động tín dụng trong các NHTM ViệtNam hiện nay. Bài viết chắc còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự gópý của thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn. Hà Nội, ngày 10/11/2001.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 1
  2. 2. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.I/ Ngân hàng thương mại.1/ Khái niệm Ngân hàng thương mại. Ngân hàng Thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị tríquan trọng nhất trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanhtrong lĩnh vực tiền tệ - tín dụng. Theo pháp lệnh ngân hàng ngày 23-5-1990 củaHội đồng Nhà nước xác định:" Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiềntệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng vớitrách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiếtkhấu và làm phương tiện thanh toán". Như vậy NHTM làm nhiệm vụ trung gian tài chính đi vay để cho vay quađó thu lời từ chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi, nó thực sự là mộtloại hình doanh nghiệp dịch vụ tài chính, mặc dù giữa NHTM và các tổ chức tàichính trung gian khác rất khó phân biệt sự khác nhau, nhưng người ta vẫn phảitách NHTM ra thành một nhóm riêng vì những lý do rất đặc biệt của nó như tổngtài sản có của NHTM luôn là khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống Ngânhàng, hơn nữa khối lượng séc hay tài khoản gửi không kì hạn mà nó có thể tạo racũng là bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền tệ M1 của cả nền kinh tế. Chothấy NHTM có vị trí rất quan trọng trong hệ thống ngân hàng cũng như trongnền kinh tế quốc dân.2/ Các nghiệp vụ của NHTM. Các NHTM có 3 loại nghiệp vụ chính, đó là nghiệp vụ nợ (huy động tạonguồn vốn), nghiệp vụ có (sử dụng vốn) và nghiệp vụ trung gian (thanh toán hộkhách hàng).2.1/ Nghiệp vụ nợ. Đây là nghiệp vụ huy động tạo nguồn vốn dùng cho các hoạt động củangân hàng, bao gồm các nguồn vốn sau:2.1.1. Nguồn vốn tự có, coi như tự có và vốn dự trữ.- Vốn điều lệ: Đây là số vốn ban đầu được hình thành khi NHTM được thànhlập, nó có thể do Nhà nước cấp đối với NHTM quốc doanh, có thể là vốn đónggóp của các cổ đông đối với NHTM cổ phần, có thể là vốn góp của các bên liênHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 2
  3. 3. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comdoanh đối với NHTM liên doanh, hoặc vốn do tư nhân bỏ ra của NHTM tư nhân.Mức vốn điều lệ là bao nhiêu tuỳ theo quy mô của NHTM được pháp lệnh quyđịnh cụ thể.- Vốn coi như tự có: bao gồm lợi nhuận chưa chia, tiền lương chưa đến kỳ thanhtoán, các khoản phải nộp nhưng chưa đến hạn nộp, các khoản phải trả nhưngchưa đến hạn trả.- Vốn dự trữ: Vốn này được hình thành từ lợi nhuận ròng của ngân hàng đượctrích thành nhiều quỹ trong đó quan trọng nhất là quỹ dự trữ và quỹ đề phòng rủiro, được trích theo quy định của ngân hàng trung ương.2.1.2/ Nguồn vốn quản lý và huy động. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nguồn vốn của ngânhàng. Đây là tài sản của các chủ sở hữu khác, ngân hàng có quyền sử dụng cóthời hạn cả vốn lẫn lãi. Nó bao gồm các loại sau:- Tiền gửi không kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế. Nó cómục đích chủ yếu là để bảo đảm an toàn tài sản và giao dịch, thanh toán khôngdùng tiền mặt, tiết kiệm chi phí lưu thông.- Tiền gửi có kỳ hạn của dân cư, doanh nghiệp và các tổ chức khác. Đây làkhoản tiền gửi có thời gian xác định, về nguyên tắc người gửi chỉ được rút tiềnkhi đến hạn, nhưng thực tế ngân hàng cho phép người gửi có thể rút trước vớiđiều kiện phải báo trước và có thể bị hưởng lãi suất thấp hơn. Mục đích củangười gửi chủ yếu là lấy lãi.- Tiền gửi tiết kiệm: đây là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngânhàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Có 2 hình thức: một là, tiền gửi tiếtkiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể ký thác nhiều lần và rútra theo nhu cầu sử dụng và không cần báo trước; hai là, tiền gửi tiết kiệm có kỳhạn, là tiền gửi đến kỳ mới được rút.- Tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu theo mức cho phép của Ngân hàng Nhànước. Trái phiếu, kỳ phiếu có thời hạn cụ thể và chỉ đến thời hạn đó mới đượcthanh toán. Hình thức kỳ phiếu thường được áp dụng theo 2 phương thức, một là: pháthành theo mệnh giá (người mua kỳ phiếu trả tiền mua theo mệnh giá và được trảcả gốc lẫn lãi khi đến hạn); hai là:phát hành dưới hình thức chiết khấu (ngườiHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 3
  4. 4. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.commua kỳ phiếu sẽ trả số tiền mua bằng mệnh giá trừ đi số tiền chiết khấu và sẽđược hoàn trả theo đúng mệnh giá khi đến hạn).2.1.3/ Vốn vay. Bao gồm vốn vay của ngân hàng trung ương dưới hình thức tái chiết khấuhoặc cho vay ứng trước, vay ngân hàng nước ngoài, vay các tổ chức tín dụngkhác và các khoản vay khác trên thị trường như: phát hành chứng chỉ tiền gửi,phát hành hợp đồng mua lại, phát hành giấy nợ phụ, các khoản vay USD ngoàinước ... Với nguồn vốn này NHTM có trách nhiệm sử dụng có hiệu quả và hoàntrả đúng hạn cả vốn lẫn lãi.2.1.4/ Các nguồn vốn khác. Bao gồm các nguồn vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn uỷ thác đầu tư.Vốn này để cho vay theo các chương trình, dự án xây dựng cơ bản tập trung củaNhà nước hoặc trợ giúp cho đầu tư phát triển những chương trình dự án có mụctiêu riêng.2.2/ Nghiệp vụ có. Đây là những nghiệp vụ sử dụng nguồn vốn của mình để thực hiện kinhdoanh tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.2.2.1/ Nghiệp vụ ngân quỹ.- Tiền két: tiền mặt hiện có tại quỹ nghiệp vụ. Nhu cầu dự trữ tiền két cao haythấp phụ thuộc vào môi trường nơi ngân hàng hoạt động và thời vụ.- Tiền dự trữ: gồm tiền dự trữ bắt buộc là số tiền bắt buộc phải giữ lại theo tỷ lệnhất định so với số tiền khách hàng gửi được quy định bởi ngân hàng trungương; tiền dự trữ vượt mức là số tiền dự trữ ngoài tiền dự trữ bắt buộc; và tiềngửi thanh toán tại ngân hàng trung ương và các ngân hàng đại lý, tiền gửi loạinày được sử dụng để thực hiện các khoản thanh toán chuyển khoản giữa cácngân hàng khi khách hàng tiến hành các thể thức thanh toán không dùng tiền mặtnhư séc, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán...2.2.2/ Nghiệp vụ cho vay và đầu tư.- Nghiệp vụ cho vay: hoạt động cho vay rất đa dạng và phong phú, nó là hoạtđộng quan trọng nhất, mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng và có tỷ lệ sinhlợi cao nhất của các NHTM, nó gồm các loại hình sau:Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 4
  5. 5. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com+ Tín dụng ứng trước: đây là thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợpđồng tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong mộtthời hạn nhất định. Có 2 loại là: ứng trước có bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảolãnh; ứng trước không bảo đảm là việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của kháchhàng.+ Thấu chi (tín dụng hạn mức): là hình thức cấp tín dụng ứng trước đặc biệtđược thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng được phép sửdụng dư nợ trong một giới hạn và thời hạn nhất định trên tài khoản vãng lai.+ Chiết khấu thương phiếu: khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu thươngphiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số tiền bằng mệnh giá củathương phiếu trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí.+ Bao thanh toán: là nghiệp vụ đi mua lại các khoản nợ của doanh nghiệp nào đóđể rồi sau đó nhận các khoản chi trả của yêu cầu đó.+ Tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được thực hiệnthông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, động sản và bất động sản khác. Khihết hạn thuê bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tàisản đó.+ Tín dụng bằng chữ ký: gồm tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ và tín dụngbảo lãnh.+ Tín dụng tiêu dùng: là hình thức tín dụng nhằm tài trợ cho nhu cầu tiêu dùngcủa dân cư, có 2 loại: một là, tín dụng tiêu dùng trực tiếp là việc ngân hàng chovay trực tiếp khách hàng để tiêu dùng. Hai là, tín dụng tiêu dùng gián tiếp là việcngân hàng mua các phiếu mua bán hàng từ những người bán lẻ hàng hoá, tức làhình thức tài trợ bán trả góp của NHTM.- Nghiệp vụ đầu tư: NHTM dùng vốn để kinh doanh bất động sản, góp vốn liêndoanh và kinh doanh chứng khoán. Trong đó đầu tư vào chứng khoán là mộthình thức khá phổ biến, nó mang lại thu nhập cho ngân hàng, nâng cao khả năngthanh khoản (vì chứng khoán rất đa dạng, nhiều thể loại và có tính thanh khoảncao). NHTM có thể mua chứng khoán ngắn hạn của Chính phủ, nó vừa tăng thunhập cho ngân hàng, vừa góp phần cân bằng thu chi ngân sách thường xuyên.NHTM còn được phép mua cổ phiếu, trái phiếu của các doanh nghiệp tham giavào việc thành lập và quản lý các doanh nghiệp. Tuy nhiên NHTM chỉ được đầuHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 5
  6. 6. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtư chứng khoán có giới hạn không được để hoạt động này lấn át hoạt động chovay. Nghiệp vụ đầu tư đã giúp cho ngân hàng có thể đa dạng hoá các hoạt độngkinh doanh của ngân hàng nhằm phân tán rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt độngkinh doanh của ngân hàng đồng thời khai thác và sử dụng tối đa nguồn vốn đãhuy động.2.3/ Nghiệp vụ trung gian. Ở đây ngân hàng thực hiện nhiệm vụ phục vụ khách hàng, thực hiện cácnhiệm vụ theo sự uỷ thác của khách bao gồm: - Nghiệp vụ thanh toán: ngân hàng là một trung tâm thanh toán khôngbằng tiền mặt, nó thanh toán dưới các hình thức: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệmchi, thư tín dụng, thẻ thanh toán, ngân phiếu thanh toán. - Nghiệp vụ thu hộ: ngân hàng thay mặt khách hàng nhận tiền theo cácchứng khoán khác nhau như séc, kỳ phiếu, các chứng từ hàng hoá và chứngkhoán có giá. - Nghiệp vụ thương mại: ngân hàng mua hộ hoặc bán hộ khách hàng,hàng hoá ở đây chủ yếu là các chứng khoán. - Nghiệp vụ phát hành chứng khoán: đây là một nghiệp vụ quan trọng vàngày càng phát triển. Các công ty cổ phần, các doanh nghiệp muốn phát hànhchứng khoán có giá trị như cổ phiếu, kỳ phiếu đầu tư có mục đích... nhằm thuhút vốn để tăng nguồn vốn, hay khi Nhà nước phát hành công trái thì thường nhờcác ngân hàng, thông qua NHTM làm trung gian tiêu thụ các chứng khoán đó vàđược nhận số tiền thù lao theo tỷ lệ quy định từ người phát hành. - Nghiệp vụ uỷ thác: làm theo các uỷ thác của khách hàng như bảo quảntài sản( đá quý, chứng khoán...), khách hàng phải trả lệ phí cho việc bảo quản;thực hiện các uỷ nhiệm về chuyển quyền thừa kế tài sản: khách hàng nhờ ngânhàng thực hiện các di chúc sau khi họ qua đời.2.4/ Mối quan hệ giữa 3 nghiệp vụ. Giữa 3 nghiệp vụ này có một mối liên hệ khăng khít, tương hỗ lẫn nhau,thúc đẩy nhau cùng phát triển. Giữa nghiệp vụ nợ và nghiệp vụ có có tác độngqua lại, cùng giúp cho nhau phát triển. Muốn cho vay, kinh doanh thu lời thì phảiHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 6
  7. 7. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcó vốn, vậy trước tiên ngân hàng phải huy động vốn, bởi vậy nghiệp vụ nợ làtiền đề để phát triển nghiệp vụ có, nghiệp vụ nợ càng phát triển thì càng tạo điềukiện cho nghiệp vụ có được mở rộng. Ngược lại, nếu ngân hàng cho vay, kinhdoanh càng nhiều, càng thu được nhiều lãi thì càng bổ sung thêm cho nguồn vốn,tạo điều kiện cho nghiệp vụ có được phát triển. Giữa nghiệp vụ nợ - có với nghiệp vụ trung gian cũng có tác động qua lạilẫn nhau. Khách hàng vừa là người gửi tiền vừa là người vay đối với ngân hàng,họ có quan hệ thanh toán với nhau qua ngân hàng bởi vậy nghiệp vụ nợ và cóphát triển sẽ tác động làm tăng nghiệp vụ trung gian. Mặt khác nghiệp vụ trunggian cũng có tác dụng tích cực đối với nghiệp vụ nợ - có, khi thực hiện cácnghiệp vụ trung gian như thu hộ, uỷ thác, thương mại ... sẽ tạo điều kiện chongân hàng tập trung được những khoản tiền mà nhờ đó bổ sung cho nghiệp vụnợ và đồng thời phát triển nghiệp vụ có tức là bổ sung tạm thời vào nguồn vốnđể tiến hành cho vay. Một vấn đề quan trọng nữa là về khả năng thanh toán của mỗi ngân hàng.Nếu cho vay quá lớn, tuy có thể thu lãi nhiều song gặp rủi ro là khi những ngườigửi tiền ở ngân hàng đồng loạt đến rút tiền sẽ gây ra biến động lớn nguồn vốnkhả năng thanh toán làm cho hệ số an toàn và khả năng thanh toán của ngânhàng sẽ giảm xuống. Ngược lại nếu cho vay ít thì khả năng thanh toán cao hơnnhưng thu lãi ít không bổ sung phát triển được nghiệp vụ nợ. Chính vì vậy mà mối liên hệ mật thiết giữa các nghiệp vụ của ngân hànglà hết sức quan trọng, do đó người làm ngân hàng phải biết bố trí một cách khoahọc và phù hợp giữa các nghiệp vụ để đảm bảo ngân hàng hoạt động có hiệuquả.II/ Hoạt động tín dụng của NHTM. Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng,nó là hoạt động sinh lợi chủ yếu và luôn chiếm một tỉ trọng lớn trong tổng tài sảncó của các NHTM, do đó nó có vị trí rất quan trọng trong hoạt động của ngânhàng. Chính vì vậy vấn đề về tín dụng rất được các ngân hàng quan tâm, trongkhuôn khổ đề tài này em xin được đi sâu vào hoạt động tín dụng của NHTM.1/ Khái niệm tín dụng ngân hàng.1.1/ Định nghĩa tín dụng.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 7
  8. 8. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Trong nền kinh tế hàng hoá, trong cùng một thời gian luôn có một sốngười tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay. Bêncạnh đó luôn có một số người tạm thời thiếu vốn, có nhu cầu đi vay. Hiện tượngnày làm nảy sinh mối quan hệ kinh tế mà nội dung của nó là vốn được dịchchuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiềnvay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Đây chính là quan hệ tín dụng. Như vậy tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả kèmtheo lợi tức, nó để thoả mãn nhu cầu của cả 2 bên, do đó nó là một quan hệ bìnhđẳng, cả 2 bên cùng có lợi và mang tính thoả thuận lớn. Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, thậm chí mối quan hệtín dụng thô sơ nhất được phát sinh ngay từ sau khi chế độ cộng sản nguyên thuỷtan rã. Quan hệ tín dụng đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từđơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, quatừng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà dần hình thành nên các hình thức tíndụng mới có trình độ cao hơn, đã có các hình thức tín dụng sau: tín dụng nặnglãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêudùng. Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể. Tuynhiên trong sự phát triển của mình, các hình thức quan hệ tín dụng trước khônghề mất đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời một hình thứctín dụng mới. Ngày nay, tất cả các hình thức tín dụng trên đều còn tồn tại và bổsung lẫn nhau, và nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế.1.2/ Tín dụng ngân hàng. Trong các hình thức trên thì tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụngvô cùng quan trọng, nó là một quan hệ tín dụng chủ yếu, cung cấp phần lớn nhucầu tín dụng cho các doanh nghiệp, các thể nhân khác trong nền kinh tế. Vớicông nghệ ngân hàng hiện nay, tín dụng ngân hàng càng trở thành một hình thứctín dụng không thể thiếu ở cả trong nước và quốc tế. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng cònbên kia là các tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế. Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng với tất cảcác cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp khác trong xã hội. Nó không phải làquan hệ dịch chuyển vốn trực tiếp từ nơi tạm thời thừa sang nơi tạm thời thiếuHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 8
  9. 9. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.commà là quan hệ dịch chuyển vốn gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, đó làngân hàng. Tín dụng ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng,đó là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, làquan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn và là quan hệ bình đẳng cả2 bên cùng có lợi.1.3/ Đặc điểm của tín dụng ngân hàng.- Tín dụng ngân hàng thực hiện cho vay dưới hình thức tiền tệ: cho vay bằng tiềntệ là loại hình tín dụng phổ biến, linh hoạt và đáp ứng mọi đối tượng trong nềnkinh tế quốc dân.- Tín dụng ngân hàng cho vay chủ yếu bằng vốn đi vay của các thành phần trongxã hội chứ không phải hoàn toàn là vốn thuộc sở hữu của chính mình như tíndụng nặng lãi hay tín dụng thương mại.- Quá trình vận động và phát triển của tín dụng ngân hàng độc lập tương đối vớisự vận động và phát triển của quá trình tái sản xuất xã hội. Có những trường hợpmà nhu cầu tín dụng ngân hàng gia tăng nhưng sản xuất và lưu thông hàng hoákhông tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng, sản xuất và lưu thônghàng hoá bị co hẹp nhưng nhu cầu tín dụng vẫn gia tăng để chống tình trạng phásản. Ngược lại trong thời kỳ kinh tế hưng thịnh, các doanh nghiệp mở mang sảnxuất, hàng hoá lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng ngân hàng lại không đápứng kịp. Đây là một hiện tượng rất bình thường của nền kinh tế.- Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nổi bật so với các hìnhthức khác là: Tín dụng ngân hàng có thể thoả mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn củacác tác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốnbằng tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn. Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắnhạn, trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn vớinhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay. Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợpvới mọi đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.2/ Phân loại tín dụng ngân hàng.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 9
  10. 10. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Có rất nhiều cách phân loại tín dụng ngân hàng dựa vào các căn cứ khácnhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Tuy nhiên người ta thường phân loại theomột số tiêu thức sau:- Theo thời gian sử dụng vốn vay, tín dụng được phân thành 3 loại sau: + Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm, thườngđược sử dụng vào nghiệp vụ thanh toán, cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vềvốn lưu động của các doanh nghiệp hay cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêudùng của cá nhân. + Tín dụng trung hạn: có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được dùng để cho vayvốn phục vụ nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới kỹ thuật, mở rộngvà xây dựng các công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh. + Tín dụng dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụngđể cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy môlớn. Thường thì tín dụng trung và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cốđịnh và một phần vốn tối thiểu cho hoạt động sản xuất.- Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, tín dụng ngân hàng chia thành 2 loại: + Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: là loại tín dụng được cung cấpcho các doanh nghiệp để họ tiến hành sản xuất và kinh doanh. + Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng được cấp phát cho cá nhân để đápứng nhu cầu tiêu dùng. Loại tín dụng này thường được dùng để mua sắm nhàcửa, xe cộ, các thiết bị gia đình... Tín dụng tiêu dùng ngày càng có xu hướngtăng lên.- Căn cứ vào tính chất đảm bảo của các khoản cho vay, có các loại tín dụng sau: + Tín dụng có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vay phátra đều có tài sản tương đương thế chấp, có các hình thức như: cầm cố, thế chấp,chiết khấu và bảo lãnh. + Tín dụng không có bảo đảm: là loại hình tín dụng mà các khoản cho vayphát ra không cần tài sản thế chấp mà chỉ dựa vào tín chấp. Loại hình này thườngđược áp dụng với khách hàng truyền thống, có quan hệ lâu dài và sòng phẳng vớingân hàng, khách hàng này phải có tình hình tài chính lành mạnh và có uy tín đốiHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 10
  11. 11. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comvới ngân hàng như trả nợ đầy đủ, đúng hạn cả gốc lẫn lãi, có dự án sản xuất kinhdoanh khả thi, có khả năng hoàn trả nợ... Trong nền kinh tế thị trường việc phân loại tín dụng ngân hàng theo cáctiêu thức trên chỉ có ý nghĩa tương đối. Khi các hình thức tín dụng càng đa dạngthì cách phân loại càng chi tiết. Phân loại tín dụng giúp cho việc nghiên cứu sựvận động của vốn tín dụng trong từng loại hình cho vay và là cơ sở để so sánh,đánh giá hiệu quả kinh tế của chúng.3/ Lãi suất tín dụng ngân hàng.3.1/ Khái niệm. Trước hết ta cần xem xét lợi tức tín dụng. Lợi tức tín dụng là thu nhập màngười cho vay nhận được ở người đi vay do việc sử dụng tiền vay của người này.Ở đây người đi vay sử dụng vốn vay được để sản xuất kinh doanh. Lợi nhuậnđược tạo ra trong quá trình này tất yếu được phân chia theo một tỷ lệ thoả đánggiữa người cho vay và người đi vay tương ứng với nguồn vốn bỏ vào sản xuấtkinh doanh. Phần lợi nhuận dành cho người cho vay này được gọi là lợi tức. Thực chất lợi tức là giá cả của lượng hàng hoá (tức lượng tiền tệ ) cho vay.Giá cả này lên xuống theo quan hệ cung cầu của vốn, nhưng khác với các hànghoá thông thường khá là giá cả của chúng phản ánh và xoay quanh giá trị củachúng, còn giá cả của vốn lại hoàn toàn không phản ánh được giá trị của vốn, nócòn phụ thuộc vào nhu cầu và sự thoả thuận của 2 bên. Chính vì vậy, lợi tứcchưa phản ánh được hiệu quả của số vốn cho vay phát ra. Như vậy, để xác định khả năng sinh lợi của vốn cho vay người ta đã sosánh lợi tức với vốn cho vay hình thành nên lãi suất tín dụng. Vì vậy ta có địnhnghĩa khái quát về lãi suất tín dụng như sau: Lãi suất tín dụng là tỷ lệ so sánhgiữa số lợi tức thu được với số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định.Lãi suất tín dụng chính là sự cụ thể hoá của lợi tức tín dụng, nó là cái giá củaquyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định, mà người sử dụng phảitrả cho người sở hữu nó.3.2/ Các loại lãi suất tín dụng ngân hàng. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và các hình thức tín dụng mà cácloại lãi suất tín dụng cũng được hình thành một cách đa dạng, đại bộ phận chúngđều do ngân hàng trung ương kiểm soát và khống chế. Các hình thức lãi suấtHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 11
  12. 12. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comcàng phong phú thì càng tạo độ linh hoạt và hiệu quả trong quan hệ tín dụng vìchính lãi suất là chất xúc tác hình thành nên quan hệ tín dụng, do đó cần phảiphân biệt được các loại lãi suất tín dụng ngân hàng để thấy được hiệu quả củachúng trong phát triển tín dụng nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung. Thông thường hệ thống lãi suất trên thị trường có các loại lãi suất sau:- Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng trung ương công bố làm cơ sở cho cácNHTM và các tổ chức tín dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh.- Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và lãi suất cao nhất trong mộtkhung lãi suất nào đó mà ngân hàng trung ương ấn định cho các NHTM hoặc doNHTM quy định trong hệ thống của nó nhằm thống nhất các hoạt động tín dụngtrong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.- Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn mà ngân hàng trung ươngdành cho các NHTM, trong trường hợp cấp vốn cho chúng thông qua nghiệp vụtái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suấtgốc của các NHTM, để từ đó chúng ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất chovay khác trong khung lãi suất được phép.- Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực: Lãi suất danh nghĩa là lãi suất mà người cho vay được hưởng, không tínhđến sự biến động của giá trị tiền tệ, nó được xác định cho một kỳ hạn gửi hoặcvay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước. Lãi suất thực là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ,như lạm phát hoặc lên giá tiền tệ. Do đó ta có công thức tính lãi suất thực nhưsau: Lãi suất thực= lãi suất danh nghĩa - tỷ lệ lạm phát dự đoán. Do vậy, lãi suất danh nghĩa luôn lớn hơn 0 nhưng lãi suất thực thì khôngphải lúc nào cũng dương, khi xảy ra lạm phát mà tỷ lệ lạm phát lại lớn hơn lãisuất danh nghĩa thì lúc đó lãi suất thực sẽ <0 điều này sẽ gây bất lợi cho ngườicho vay và người đi vay lại có lợi hơn. Chính lãi suất thực ảnh hưởng đến đầu tư,đến việc tái phân phối thu nhập giữa người cho vay và người đi vay, vì vậy ngânhàng chỉ thực sự thúc đẩy tích luỹ khi đưa ra được chính sách lãi suất thựcdương.4/ Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 12
  13. 13. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Là một mối quan hệ kinh tế, tín dụng ngân hàng có những tác động nhấtđịnh đến hoạt động kinh tế. Nhất là trong nền kinh tế thị trường, nó có vai tròkhá quan trọng:4.1/ Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển. Nhờ có nguồn vốn tín dụng của ngân hàng nên các doanh nghiệp có điềukiện bổ sung vốn thiếu hụt tạm thời hay mở rộng nguồn vốn đảm bảo được quátrình sản xuất bình thường và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, ápdụng kỹ thuật công nghệ mới tăng tính cạnh tranh. Tín dụng đã giúp các doanhnghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối liênhệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội. Ngày nay trong quá trình toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế ngày càng tăngcường, mỗi quốc gia trở thành một bộ phận của thị trường thế giới, do đó tíndụng ngân hàng trên lĩnh vực tín dụng quốc tế cũng trở nên quan trọng giúp choviệc liên kết chuyển giao công nghệ giữa các nước trên thế giới được nhanhchóng, rút ngắn thời gian phát triển. Như vậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã góp phần thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển nhanh chóng ngay cả trong nước và quốc tế.4.2/ Tín dụng ngân hàng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng, từ đógiúp cho việc tích tụ và tập trung sản xuất. Tín dụng ngân hàng tập trung các khoản tín dụng nhỏ lẻ thành các khoảnvốn lớn, tạo khả năng đầu tư vào các công trình lớn hiệu quả cao. Đồng thời cácdoanh nghiệp cũng nhờ các khoản tín dụng mà có đủ vốn để mở rộng sản xuấtrút ngắn thời gian tích luỹ vốn. Tóm lại, tín dụng đã đóng vai trò tích cực thúcđẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất. Thông qua tín dụng ngân hàng các doanh nghiệp nhận được khối lượngvốn bổ sung rất lớn từ đó tăng quy mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mớithiết bị, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tăng khả năng cạnh tranh làm chodoanh nghiệp lớn ngày càng lớn lên, doanh nghiệp nhỏ bị phá sản do không cạnhtranh nổi, từ đó các doanh nghiệp nhỏ phải liên kết với nhau tăng khả năng cạnhtranh, như vậy tín dụng đã góp phần thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 13
  14. 14. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com 4.3/ Tín dụng ngân hàng giúp cho việc điều hoà nguồn vốn góp phần ổnđịnh thị trường tiền tệ, phát triển cân đối các ngành trong nền kinh tế quốc dân,và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thông qua tín dụng mà nguồn vốn dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu,làm cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn ở nơi thiếuvốn, giúp cho việc sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần làm cho tốc độ luânchuyển hàng hoá và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều trong cácngành. Việc điều hoà nguồn vốn, đồng thời thông qua khung lãi suất quy địnhgiúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hoà lưu thôngtiền tệ góp phần ổn định tiền tệ, và sự phát triển lành mạnh của thị trường tàichính tiền tệ. Hơn nữa, thông qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có những chính sáchưu tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờvào việc đưa ra các ưu đãi tín dụng... do vậy đã kích thích thúc đẩy các doanhnghiệp đầu tư vào các vùng, ngành trọng điểm trong diện ưu tiên của Chính phủ,góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự phát triển cân đối trong cả nước.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 14
  15. 15. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comCHƯƠNG II: CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG TÍNDỤNG CỦA NHTM VÀ BIỂU HIỆN THỰC TẾ Ở VIỆT NAM. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của NHTM, baogồm cả yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, như: Môi trường kinh doanh, môitrường pháp luật, địa bàn hoạt động... Tuy nhiên trong chương này sẽ chỉ đề cậpvề một số yếu tố chủ quan, bản thân ngân hàng kiểm soát được có ảnh hưởngtrực tiếp đến hiệu quả và khả năng phát triển của hoạt động tín dụng trong cácNHTM, và tình trạng của chúng trong thực tiễn ở Việt Nam.I/ Quy trình tín dụng. Hoạt động cho vay là một hoạt động cơ bản của ngân hàng. Nó mang lạidoanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng tồn tại và phát triển. Tuy nhiên việc chovay là một vấn đề không đơn giản, nó mang lại khá nhiều rủi ro, bất trắc, vì vậyđể đảm bảo cho hoạt động này có hiệu quả tích cực thì cần phải đảm bảo thựchiện cho vay theo đúng quy trình thủ tục đã được quy định. Quy trình cho vayđối với các đối tượng khác nhau cũng khác nhau. Và ở Việt Nam có quy định cụthể về quy trình cho vay đối với các tổ chức tín dụng như sau:1/ Hình thành khoản vay. Đối với cá nhân thì hầu hết các khoản vay được bắt đầu bằng việc kháchhàng xin vay vốn, họ đến gặp nhân viên ngân hàng và ghi những thông tin cầnthiết vào đơn xin vay. Trong trường hợp cho vay kinh doanh, các doanh nghiệpthì thường bắt đầu bằng việc tiếp xúc giữa cán bộ tín dụng và đại diện các hãng.Đây chính là cơ hội đầu tiên để cán bộ ngân hàng tìm hiểu thông tin về doanhnghiệp và thuyết phục họ về một khoản vay.2/ Xử lý yêu cầu vay vốn. Sau khi nhận được một yêu cầu vay vốn thì cán bộ ngân hàng cần xử lýyêu cầu vay vốn này. Với một khách hàng cá nhân thì anh ta cần trả lời đầy đủcác câu hỏi của cán bộ tín dụng, qua đó cán bộ có thể tìm hiểu về mục đích xinvay, tính cách và điều kiện, khả năng sử dụng vốn và khả năng trả nợ của kháchhàng qua đó có thể chấp nhận hay từ chối khoản vay. Còn đối với doanh nghiệp, cán bộ tín dụng phải thu thập thông tin cầnthiết về doanh nghiệp gồm các thông tin về quản lý, hành chính; thông tin về tìnhhình tài chính, về cá nhân; thông tin về khoản vay của doanh nghiệp. Việc thuHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 15
  16. 16. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthập thông tin không chỉ thông qua phỏng vấn, giấy tờ báo cáo của doanh nghiệpmà cán bộ còn phải đi xuống tận cơ sở sản xuất kinh doanh để quan sát, nghiêncứu. Ngoài ra còn phải điều tra thêm về các thông tin khác có liên quan đặc biệtlà việc thực thi các quan hệ tín dụng trước đó của doanh nghiệp thông qua tiếpxúc với các chủ nợ trước đó. Xác định các thông tin doanh nghiệp đã cung cấpvà khám phá các thông tin mới cần thiết về hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp. Sau khi đã xác định rõ thì ngân hàng còn có thể tư vấn cho kháchhàng vay vốn về sự hợp lý của yêu cầu vay vốn và có thể gợi ý sự sửa đổi.3/ Đưa ra quyết định cho vay. Sau khi đã tập hợp đầy đủ thông tin tài liệu thì bộ phận phân tích tín dụngsẽ tiến hành phân tích các báo cáo tài chính nhằm xác định xem dòng tiền và cáctài sản dự phòng của khách có đủ hoàn trả món vay hay không, sau đó sẽ chuẩnbị một bản báo cáo tóm tắt có kèm theo kết quả phân tích để gửi cho người cóthẩm quyền xem xét. Từ đó rút ra kết luận chính xác về điểm mạnh điểm yếutrong yêu cầu xin vay của khách hàng. Sau khi đã xem xét khoản vay, chính sáchtín dụng và mục đích, mục tiêu của ngân hàng, cán bộ phải đưa ra một quyếtđịnh có nên cho vay hay không và doanh nghiệp phải được thông báo ngay lậptức. Nếu yêu cầu được chấp thuận cán bộ tín dụng phải trao cho người vay danhmục các chứng từ cần thiết để ký kết khoản vay và đưa ra ngày dự tính ký kết.4/ Cấu trúc khoản vay, ký kết khoản vay. Một khoản vay có cấu trúc hoàn hảo là khoản vay đáp ứng được nhu cầucụ thể của doanh nghiệp đồng thời cũng thoả mãn các tiêu thức tín dụng củangân hàng. Cấu trúc của khoản vay gồm các yếu tố: lãi suất; thời hạn và lịchhoàn trả; sự đảm bảo; người bảo lãnh; các hạn chế và kiểm soát. Các yếu tố nàyphụ thuộc vào sự đàm phán thỏa thuận giữa ngân hàng và doanh nghiệp xin vay. Sau khi đã đạt được thoả thuận vay vốn thì hai bên cần xây dựng một hợpđồng tín dụng làm sao cho phù hợp với tình hình riêng biệt cụ thể và đáp ứngđược các yêu cầu của ngân hàng. Và cuối cùng là việc ký kết khoản vay. Trướckhi ký kết cần phải chuẩn bị lập ra một danh mục kiểm tra toàn bộ các chứng từtài liệu cần thiết, và ngày ký kết phải có đầy đủ 2 bên, và đảm bảo cả 2 đều phảihiểu cặn kẽ giấy tờ vay vốn. Việc ký kết khoản vay được quản lý tốt sẽ có tácHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 16
  17. 17. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comdụng rất lớn trong việc thúc đẩy mối quan hệ làm ăn tốt giữa ngân hàng và doanhnghiệp.5/ Kiểm soát khoản cho vay. Ký kết tín dụng chưa phải là đã kết thúc một quá trình cho vay mà ngânhàng còn phải tiếp tục theo dõi khoản cho vay này để đảm bảo rằng khách hàngsẽ thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi như đã cam kết. Còn với các khoản cho vaythương mại lớn cán bộ tín dụng phải đến và kiểm tra công việc kinh doanh củakhách hàng định kỳ, đồng thời phải tổ chức quá trình kiểm soát cẩn thận vànghiêm túc để đảm bảo xem xét và đánh giá được tất cả những đặc tính quantrọng nhất đối với khoản vay như: đánh giá quá trình thanh toán, đánh giá chấtlượng, tình trạng của tài sản thế chấp, đánh giá sự thay đổi trong tình hình tàichính của người vay... Tiến hành theo dõi thường xuyên hơn đối với nhữngkhoản cho vay có vấn đề. Kiểm soát tín dụng là rất quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngânhàng. Nó không chỉ giúp các nhà quản lý ngân hàng phát hiện ra những khoảncho vay có vấn đề nhanh hơn mà còn giúp xác định được vấn đề các cán bộ tíndụng có tuân thủ đúng chính sách cho vay của ngân hàng hay không.6/ Xử lý khoản vay có vấn đề. Mặc dù đã có những biện pháp quản lý an toàn áp dụng trong các chươngtrình cho vay song việc tồn tại các khoản cho vay có vấn đề là một thực tế khôngthể tránh khỏi, có nghĩa là người vay đã không thực hiện thanh toán đúng kếhoạch hay giá trị tài sản thế chấp đã sụt giảm đáng kể. Khi cán bộ tín dụng nhận ra khoản vay có vấn đề thường thì cán bộ tíndụng cần phải liên lạc với doanh nghiệp để giám sát khoản vay. Nếu ngân hàngvà doanh nghiệp muốn sửa chữa khoản vay thì phải xác định được nguyên nhâncủa vấn đề và tìm ra giải pháp, khi kế hoạch sửa chữa đã được thiết lập thì ngânhàng phải giám sát việc thực hiện một cách liên tục, doanh nghiệp phải báo cáothường xuyên và cả 2 bên cùng phải quan tâm tích cực và phải thường xuyênthận trọng phân tích kết quả của chương trình sửa chữa. Và thường thì ngân hàngchỉ tiến hành thủ tục pháp lý để thu hồi khoản nợ vay sau khi đã áp dụng cácbiện pháp chỉnh sửa mà không có hiệu quả.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 17
  18. 18. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com7/ Thu nợ. Khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo các điều kiện của hợpđồng tín dụng thì cán bộ tín dụng phải lập ngay một kế hoạch thu nợ, sau đó thậntrọng cân nhắc vạch ra các phương án khác nhau để có thể thực hiện điều đó.Thường thì ngân hàng thuyết phục khách hàng tự động bán tài sản thế chấp củamình, nếu không được thì ngân hàng sẽ tiến hành thu hồi tài sản cầm cố thế chấpvà bán hoặc cho thuê tài sản này. Việc ngân hàng xử lý và bán lại tài sản làmđảm bảo phải chú ý thực hiện đúng mọi điều khoản luật pháp có liên quan, vìnếu không ngân hàng sẽ phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại xảy ra đối vớikhách hàng. * Đây là một quy trình rất cụ thể, nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo sự an toànchắc chắn trong việc cho vay. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay việc áp dụng nócòn nhiều tồn tại như: thủ tục, giấy tờ còn rườm rà, nhất là đối với việc cho hộnông dân vay, đó là những món vay nhỏ lẻ, địa bàn cư trú của người vay phântán, trình độ dân trí thấp, nhu cầu vay vốn cao, vậy mà hồ sơ, quy trình thủ tụcvay vốn của họ lại rất phức tạp, gây khó khăn cho người dân. Hay như, việc tuânthủ theo đúng quy trình của cán bộ tín dụng hoặc sự hợp tác của khách hàng vayvốn trong việc cung cấp thông tin, giám sát... cũng là một vấn đề bức xúc, dotrình độ kém hay đạo đức nghề nghiệp khiến cho cán bộ tín dụng đôi khi khôngthực hiện đúng quy trình, hay khách hàng không hợp tác khiến cho việc cho vaygặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến rủi ro lớn. Nhất là hiện nay vấn đề nợ quáhạn, nợ khó đòi trong các NHTM là rất lớn, một phần là do quy trình thủ tục chovay không được đảm bảo thực hiện đúng như quy định, đồng thời biện pháp thuhồi nợ sau khi cho vay trong các ngân hàng cũng chưa được xây dựng tổ chứctốt, vì vậy hiệu quả của các khoản tín dụng là rất thấp. Tình hình đó đòi hỏi cáccán bộ tín dụng khi cho vay cần đảm bảo thực hiện đầy đủ và đảm bảo các bướctrong quy trình cho vay mà các ngân hàng đều đã cụ thể hóa trong các văn bảnhướng dẫn của mình.II/ Các phương thức tín dụng. Nhìn chung các phương thức cấp tín dụng của NHTM có ảnh hưởng trựctiếp đến hiệu quả của doanh nghiệp. Các ngân hàng mạnh không chỉ thể hiện ởchỗ cung ứng một khối lượng tín dụng to lớn cho thị trường mà là ở chỗ phươngHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 18
  19. 19. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comthức cấp tín dụng như thế nào. Ở Việt Nam các phương thức cho vay còn quánghèo nàn, hầu như chỉ bán ra những gì mà ngân hàng có chứ không thật quantâm đến cái mà khách hàng cần, do đó kém sức hấp dẫn và khó mở rộng tíndụng. Trong Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 ngày 30/9/1998 của Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc "Ban hành quy chế cho vay của cácTổ chức tín dụng đối với khách hàng" có quy định về một số phương thức chovay của các tổ chức tín dụng. Nó quy định tổ chức tín dụng thoả thuận với kháchhàng về phương thức cho vay phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn vay và khả năngkiểm tra, giám sát việc khách hàng sử dụng vốn vay theo một trong các phươngthức cho vay sau:1. Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng làm thủtục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.2. Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định vàthoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chukỳ sản xuất, kinh doanh.3. Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để thựchiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phụcvụ đời sống.4. Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự ánvay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ chức tíndụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Việc cho vayhợp vốn thực hiện theo quy định của quy chế này và quy chế đồng tài trợ của cáctổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành.5. Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định vàthoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theonhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay, tài sản mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữucủa bên vay khi trả đủ nợ gốc và lãi.6. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảosẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổchức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụngdự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 19
  20. 20. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com7. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức tíndụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạnmức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máyrút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng. Khi chovay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và khách hàng phải tuântheo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về phát hành và sửdụng thẻ tín dụng.8. Các phương thức cho vay khác phù hợp với quy định của Quy chế này và cácquy định khác của Ngân hàng Nhà nước. * Tuy nhiên Quyết định 324 còn quy định khá chung chung, và đối với cácNHTM việc áp dụng cụ thể như thế nào lại thuộc quyền hướng dẫn của mỗi ngânhàng, và tất nhiên có bao nhiêu ngân hàng sẽ có bấy nhiêu văn bản pháp lý khácnhau quy định cụ thể về các phương thức cho vay. Nhưng có những điều mà cácNHTM lại không thích quy định cụ thể rõ ràng trong văn bản vì nếu thế sẽ bịmắc trong quá trình thực hiện hoặc sẽ không có chỗ "lùi" khi mà quy định củangân hàng mình lại "chặt" hơn ngân hàng bạn do đó giảm khả năng cạnh tranh.Vì vậy qua thực tiễn hoạt động thì Ngân hàng Nhà nước nên sửa đổi quy định vềphương thức cho vay theo hướng cụ thể hoá để thống nhất phương thức cho vaytrong các tổ chức tín dụng là một vấn đề cấp thiết, không để tình trạng tự quyđịnh dẫn đến sự sai lệch về phương thức cho vay và quản lý vốn vay như hiệnnay.III/ Lãi suất tín dụng. Như ta đã biết lãi suất chính là giá của quyền được sử dụng vốn mà ngườisử dụng phải trả cho người sở hữu nó trong một thời gian nhất định. Cái giá đósẽ quyết định việc khách hàng có vay hay không, do vậy nó ảnh hưởng đến khảnăng tín dụng ngân hàng. Để sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất trong pháttriển tín dụng ta cần xem xét vấn đề sau:1/Nguyên tắc xác định lãi suất tín dụng ngân hàng.1.1/ Những nguyên tắc xác định lãi suất hình thành theo cơ chế thị trường.- Lãi suất huy động vốn < lãi suất cho vay. Điều này là đương nhiên nó cho phépđảm bảo tính có lợi nhuận của kinh doanh ngân hàng, đảm bảo cho các NHTMkinh doanh có lãi, từ đó mới có thể tồn tại và phát triển được.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 20
  21. 21. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com- Lãi suất tín dụng bao giờ cũng dương (lãi suất thực >0) và tối đa bằng suất lợinhuận bình quân. Lãi suất thực phải >0 thì mới đảm bảo có lãi cho ngân hàng, vàtối đa bằng suất lợi nhuận bình quân vì ngân hàng cũng là một ngành trong nềnkinh tế.- Lãi suất phi kinh tế là lãi suất của tín dụng nặng lãi, nó rất cao so với mặt bằnglãi suất tín dụng bình thường và suất lợi nhuận bình quân, do đó khoản vốn vaynày không thể sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh mà chỉ sử dụng vớimục đích phi sản xuất. Nó hoàn toàn phụ thuộc vào quan hệ cung cầu của nguồnvốn cho vay, khả năng chịu đựng của người đi vay và tính chất xã hội hoá hoạtđộng của màng lưới ngân hàng.1.2/ Những nguyên tắc xác định lãi suất tín dụng theo luật định. Trong nền kinh tế thị trường, thông thường ngân hàng trung ương ấn địnhthống nhất một khung lãi suất trong từng thời kỳ và các tổ chức tín dụng tự xácđịnh lãi suất riêng theo quan hệ cung cầu trên thị trường. Ngân hàng trung ươngxác định lãi suất theo nguyên tắc sau:- Với lãi suất huy động vốn. + Lãi suất tiền gửi không kỳ hạn < lãi suất tiền gửi có kỳ hạn. + Lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế < lãi suất tiền gửi của dân cư. + Lãi suất tiền gửi tiết kiệm của dân cư là cao nhất.- Với lãi suất cho vay. + Lãi suất cho vay ngắn hạn < lãi suất cho vay dài hạn. + Lãi suất cho vay các ngành sản xuất < lãi suất cho vay các ngành thươngmại, dịch vụ. + Lãi suất các khoản cho vay đến hạn < lãi suất các khoản cho vay quáhạn. + Lãi suất các khoản cho vay ưu đãi theo chính sách của Chính phủ là thấpnhất.2.Phân loại lãi suất. Ở đây ta phân loại lãi suất dựa theo cách phân loại các hoạt động tín dụng.- Theo thời hạn tín dụng thì có lãi suất ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Đây là cách phân loại lãi suất theo độ dài thời gian mà ngân hàng cho cáctác nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vay. Cơ sở của nguyên tắc này là ởHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 21
  22. 22. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comchỗ thời gian cho vay vốn càng dài thì lợi nhuận làm ra càng nhiều đồng thờitính rủi ro mất vốn càng cao do đó thời hạn càng dài thì giá của quyền sử dụngvốn càng cao. Do vậy, lãi suất cho vay dài hạn cao hơn lãi suất cho vay trunghạn, lãi suất cho vay trung hạn cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn. Tuy nhiên trên thực tế nó còn phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế, chínhtrị, xã hội trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Chính phủ dùng công cụ lãi suấtđể điều chỉnh cơ cấu sản xuất xã hội hay chống khủng hoảng khôi phục nền kinhtế sau chiến tranh chẳng hạn, khi đó cần vốn cho xây dựng cơ sở hạ tầng, xâydựng cơ bản, kiến thiết nền sản xuất... do đó lãi suất trung, dài hạn có khi lại thấphơn so với ngắn hạn.- Xét theo tính chất của các ngành nghề sản xuất kinh doanh thì có các loại lãisuất sau: lãi suất cho vay kinh doanh, lãi suất cho vay nông nghiệp, lãi suất chovay tiêu dùng, lãi suất cho vay bất động sản. Lãi suất cho vay kinh doanh là lãi suất áp dụng cho các loại hoạt độngkinh doanh, về mặt lý thuyết thì lãi suất này thường là thấp nhất trong số các loạilãi suất cho vay của NHTM vì thời hạn thu hồi vốn nhanh. Lãi suất cho vay nông nghiệp: thường thì nó cao hơn lãi suất sản xuất kinhdoanh vì nó có rủi ro khách quan lớn (do biến động của khí hậu, thời tiết, điềukiện tự nhiên, sâu bọ, bệnh tật mà con người không kiểm soát được)và quy môsản xuất lại nhỏ hơn, và thời gian thu hồi vốn lâu hơn (do tính thời vụ trong nôngnghiệp). Lãi suất cho vay tiêu dùng: thường cao hơn các lãi suất cho khoản vaykhác vì nó có quy mô nhỏ, rủi ro nhiều và khả năng trả nợ thấp. Lãi suất cho vay bất động sản: lãi suất tương đối cao do bị ảnh hưởng bởikỳ hạn vay, tỷ lệ cho vay, nhu cầu về thanh khoản và tính chất đảm bảo hay bảohiểm bởi một cơ quan khác.- Ngoài ra còn các hình thức lãi suất phụ thuộc vào chính sách tín dụng của nhànước như: lãi suất thông thường, lãi suất ưu đãi, lãi suất quá hạn, lãi suất co dãnhoặc lãi suất cứng.3/ Các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất. Đối với các NHTM thì để đưa ra mức lãi suất nào cho thoả đáng với mỗikhoản vay thì cần phải xem xét các yếu tố sẽ ảnh hưởng tới lãi suất sau:Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 22
  23. 23. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com- Điều kiện thị trường tiền tệ: nếu như ngân hàng phụ thuộc và khoản vốn huyđộng dưới dạng các chứng chỉ tiền gửi mệnh giá lớn hoặc tiền vay Chính phủ thìgiá vốn huy động nó sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các điều kiện của thị trườngtiền tệ, hơn nữa thị trường tiền tệ lại quyết định sức hấp dẫn của các dự án đầutư, do đó nó ảnh hưởng đến lãi suất cho vay.- Rủi ro: cho vay là một hoạt động luôn mang tính rủi ro, và lãi suất sẽ thay đổitheo mức độ rủi ro. Món vay có khả năng rủi ro càng cao, thì yêu cầu lãi suấtcàng lớn và ngược lại.- Lãi suất cố định và lãi suất có thể điều chỉnh: một món vay không bị điều chỉnhlãi suất trong một thời gian càng dài thì rủi ro do những biến động trong tươnglai của điều kiện thị trường tiền tệ càng lớn nên lãi suất cho vay yêu cầu càngcao. Mặc dù hệ thống lãi suất thả nổi hay có thể điều chỉnh là kém hấp dẫn theoquan điểm của một số doanh nghiệp, hay có thể tạo ra một số vấn đề về quản lývà tính toán đối với ngân hàng, nhưng chắc chắn nó thể hiện là cách tính lãi suấttốt nhất cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.- Các chi phí hoạt động và quản lý: Để ngân hàng tồn tại và phát triển, ngân hàngphải bỏ ra các chi phí tiền lương, tiền thuê và các phương tiện... Do đó ngânhàng phải đạt được mức lợi tức đủ để trang trải các chi phí này và cần phải có lợinhuận, tăng tích luỹ... vì vậy nó cũng ảnh hưởng đến việc xác định lãi suất.- Thời hạn hoàn trả: do trong thời gian dài sẽ có rất nhiều biến động trong tìnhhình tài chính của doanh nghiệp, hay giá trị của tài sản bảo đảm sẽ giảm sút, dođó rủi ro càng lớn yêu cầu lãi suất càng cao và ngược lại, thời hạn ngắn hơn thìlãi suất sẽ thấp hơn.- Cạnh tranh: trong nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh giữa các ngân hàng ngàycàng gay gắt, để có thể cạnh tranh mỗi ngân hàng phải đưa ra mức lãi suất hợp lýđể vừa đảm bảo thu hút khách hàng vừa đảm bảo lợi nhuận tối ưu.- Ngoài ra còn một số nhân tố khác như: các chính sách của Nhà nước (chínhsách tiền tệ, chính sách tín dụng, chính sách lãi suất...); sự ổn định của nền kinhtế, lạm phát; tỷ suất lợi nhuận bình quân... * Hiện nay ở Việt Nam sau khi Nhà nước chuyển sang điều hành theo lãisuất cơ bản từ 2/8/2000 thì các NHTM có thể chủ động linh hoạt thay đổi lãi suấtcho phù hợp với mỗi trường hợp cụ thể, vì vậy đã dẫn đến hiện tượng cạnh tranhHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 23
  24. 24. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comlãi suất làm lãi suất hạ rất thấp gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực như "phá giá" lãisuất, gây áp lực cho các ngân hàng nhỏ, đồng thời môi trường hoạt động khókhăn...Vì vậy các NHTM muốn cạnh tranh thì cũng cần phải quan tâm đến cácloại hình cho vay và các yếu tố ảnh hưởng đến lãi suất để có thể đưa ra nhữngkhung lãi suất các loại một cách đúng đắn sao cho đảm bảo được hiệu quả tíndụng, mở rộng tín dụng phải có lợi nhuận, đặc biệt quan tâm đến sự phát triểnchung của nền kinh tế.IV/ Chính sách tín dụng. Một trong những phương pháp quan trọng nhất mà một ngân hàng có thểvận dụng để đảm bảo rằng các khoản cho vay của nó thoả mãn được những tiêuchuẩn do các cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra là thiết lập một chính sách chovay bằng văn bản. Mỗi một NHTM đều xây dựng cho mình một chính sách tíndụng riêng. Một chính sách tín dụng sẽ cung cấp cho cán bộ tín dụng và các nhàquản lý ngân hàng đường lối chỉ đạo cụ thể trong việc ra quyết định cho vay vàxây dựng danh mục cho vay. Cấu trúc thực tế của danh mục cho vay sẽ phản ánhnhững gì mà chính sách cho vay của ngân hàng đặt ra. Nếu điều này không xảyra thì đó là một chính sách cho vay không hiệu quả và nên xem xét lại. Thôngthường một chính sách cho vay tốt gồm một số yếu tố quan trọng sau:- Một tuyên bố về tiêu chuẩn đối với danh mục cho vay của ngân hàng (ví dụnhư nêu lên các đặc điểm của một danh mục cho vay chất lượng cao như loạihình, thời gian đáo hạn, quy mô và chất lượng của các khoản cho vay).- Một bản tiêu chuẩn chất lượng thích hợp áp dụng cho toàn bộ danh mục chovay. Công bố mức giới hạn tối đa đối với tổng dư nợ.- Xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm đối với cán bộ tín dụng và ban thẩmđịnh tín dụng. Giới hạn về trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ đượcgiao và trong việc thông báo thông tin trong phạm vi phòng tín dụng.- Những thủ tục và hoạt động cần thiết cho việc chào mời, xem xét, đánh giá vàra quyết định đối với đơn xin vay của khách hàng.- Những tài liệu được yêu cầu phải kèm theo đơn xin vay và phải được lưu lạitrong hồ sơ tín dụng của ngân hàng (báo cáo tài chính, thoả thuận cam kết...).Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 24
  25. 25. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comNhững hướng dẫn về việc tiếp nhận, đánh giá và bảo quản tài sản thế chấp chocác món vay.- Một bản trình bầy về chính sách và thủ tục đối với việc xác định lãi suất chovay, các khoản phí và thời hạn hoàn trả món vay.- Miêu tả rõ ràng thị trường tín dụng chính của ngân hàng.- Miêu tả các bước cần được tiến hành để phát hiện và phân tích những khoảncho vay có vấn đề... * Một chính sách cho vay rõ ràng sẽ mang lại nhiều lợi thế và thuận lợicho ngân hàng. Nó hướng dẫn cho đội ngũ nhân viên tín dụng các thủ tục, cácbước phải tuân thủ và chỉ rõ phạm vi trách nhiệm của họ. Nó giúp cho ngân hànghướng tới một danh mục cho vay hiệu quả, có thể đạt nhiều mục tiêu như tăngcường khả năng sinh lợi, hạn chế rủi ro và đáp ứng được những đòi hỏi của cơquan quản lý. Đối với Việt Nam để phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển kinh tế, chínhsách tín dụng đã và đang được đổi mới đồng bộ và hữu hiệu đáp ứng các yêu cầumới, tạo bước đột phá trong việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn nộilực và nguồn lực bên ngoài. Để nền kinh tế có tăng trưởng cao, chính sách tíndụng của các ngân hàng nên tập trung vào việc mở rộng đáp ứng các nhu cầu vayvốn có hiệu quả với phương châm không để các dự án đầu tư có hiệu quả bịthiếu vốn. Cơ cấu tín dụng cần tiếp tục chuyển dịch có lợi cho đầu tư và pháttriển, tăng cường cho vay trung và dài hạn. Không ngừng nâng cao chất lượngtín dụng, giảm tỷ lệ nợ quá hạn và nợ khó đòi xuống mức lành mạnh theo tiêuchuẩn quốc tế, tăng vòng quay và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của xã hội.Tiếp tục mở rộng đối tượng cho vay đến tất cả các thành phần kinh tế, chú ýthích đáng việc cho vay đối với nông dân và các đối tượng chính sách góp phầnkhuyến khích phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng, địa phương.V/ Rủi ro tín dụng. Ở Việt Nam từ khi chuyển sang nền cơ chế thị trường, sự ra đời và pháttriển các loại hình ngân hàng và các tổ chức tín dụng, tính đa dạng của các hoạtđộng và hình thức tín dụng đã tạo nên một thị trường tín dụng phong phú và sôiđộng. Nhưng điều đó cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro có thể xẩy ra với cácngân hàng và nhất là rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là tình trạng người đi vayHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 25
  26. 26. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comkhông có khả năng hoàn trả được hoặc lãi hoặc gốc hoặc cả lãi và gốc một cáchđầy đủ và đúng hạn.1/ Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đối với các NHTM. Nếu một khoản vay nào đó bị thất thoát, không thu hồi được, thì ngânhàng phải sử dụng nguồn vốn của mình để trả cho người gửi tiền. Vì vậy nếu xảyra quá nhiều rủi ro trong hoạt động tín dụng mà ngân hàng phải dùng vốn củamình để trang trải cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽkhông thể thực hiện việc "xoá sổ" những khoản thất thoát này nữa và ngân hàngcó thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền thậm chídẫn đến phá sản.2/ Nguyên nhân của rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng xảy ra rất phức tạp và đa dạng, nó có thể do khách hàngmất khả năng trả nợ hay do họ cố ý chây ỳ, tìm cách lừa đảo chiếm đoạt vốn củangân hàng. Nguyên nhân rủi ro tín dụng thì có nhiều nhưng người ta thường chialàm 2 loại nguyên nhân rủi ro xuất phát từ các hành động có thể kiểm soát vàkhông thể kiểm soát.- Những nguyên nhân có thể kiểm soát: + Quyết định cho vay sai lầm từ ban đầu do khâu phân tích thu thập thôngtin không đủ hay sai lầm, hoặc việc xây dựng ký kết hợp đồng có sự khó hiểuthiếu sót. + Không nhận ra các dấu hiệu cảnh báo. + Không có khả năng theo sát kiểm soát các khoản vay. + Không hành động kịp thời khi phát hiện khoản nợ có vấn đề.- Những nguyên nhân không thể kiểm soát được: + Sự phá sản của các doanh nghiệp vay nợ, hay hoạt động sản xuất kinhdoanh kém hiệu quả do quản lý không tốt, sản phẩm công nghệ lạc hậu, thiếuvốn và khả năng cạnh tranh yếu... + Một số nguyên nhân bất ổn khác từ bên ngoài như khách hàng gặp rủi robất chợt nên chưa thể trả nợ ngay, hay tài sản cầm cố thế chấp bị mất giá trị ...khiến ngân hàng không thể thu hồi được khoản nợ...Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 26
  27. 27. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Việc phân loại theo các nguyên nhân có thể kiểm soát hay không thể giúpcho ngân hàng định hướng được việc ngăn chặn rủi ro tập trung vào những rủi romà nguyên nhân có thể kiểm soát. Trước hết là hệ thống các thể chế tạo hànhlang và môi trường hoạt động an toàn và hiệu quả của tín dụng. Sau đó là cácquy định điều kiện cụ thể đối với mỗi loại vay, mỗi đối tượng vay, để xác địnhcác điều kiện và hình thức về giá trị vật chất, giá trị uy tín làm đảm bảo vốn vaytuỳ theo năng lực tài chính, tính chất và loại hình sản xuất kinh doanh, uy tín vàmức độ rủi ro của người vay. Đối với rủi ro bất khả kháng, các ngân hàng chỉ cócách chống đỡ bằng việc thành lập các dự phòng tài chính, đủ khả năng chốngđỡ cho mọi rủi ro có thể xẩy ra bất kỳ lúc nào. Khả năng dự phòng càng cao, tínhchủ động chống đỡ rủi ro càng lớn.3/ Một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng. Để phòng tránh rủi ro trong hoạt động tín dụng, hiện nay các ngân hàng đãvà đang thực hiện một số nguyên tắc đảm bảo an toàn tín dụng sau:- Mở rộng tín dụng trên cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng. Việc mở rộng khốilượng tín dụng là cần thiết để mở rộng kinh doanh, song vấn đề chất lượng tíndụng mới có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển thực chất của ngân hàng.Chất lượng tín dụng chính là kết quả của các khoản tín dụng được thực hiện trọnvẹn, người vay thực hiện đúng các cam kết và ngân hàng thu được gốc và lãiđúng hạn. Vì vậy, khi phân tích mức độ rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khicho vay cần phải suy xét kỹ càng về kinh nghiệm quản lý, tiềm năng, các chínhsách, khả năng sinh lời, luân chuyển vốn và giá trị thực của khách hàng. Cán bộtín dụng phải xem xét và tự đưa ra quyết định cho rằng nên cho khách hàng vaybao nhiêu, mục đích khoản vay và thời gian thu hồi nợ.- Hiệu quả và chất lượng tín dụng dựa trên cơ sở hiệu quả của sản xuất kinhdoanh của người vay vốn. Khi người vay vốn hoạt động sản xuất kinh doanhkhông có hiệu quả dẫn đến tình trạng thua lỗ sẽ là nguyên nhân trực tiếp làm chocác khoản tín dụng không được thực hiên đúng hạn, do đó ngân hàng có thuđược gốc và lãi hay không là phụ thuộc chủ yếu vào việc người vay vốn sử dụngvốn có hiệu quả hay không.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 27
  28. 28. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com- Quyết định cho vay trên cơ sở phải xác định và hiểu rõ người vay. Việc tìmhiểu và đánh giá người vay cần được xem xét trên nhiều mặt. Trước hết là phẩmchất đạo đức kinh doanh, tính trung thực trong quan hệ kinh tế, tính nghiêm túctrong việc chấp hành luật lệ. Thứ hai là người vay vốn phải có đủ năng lực pháplý và năng lực tài chính để sử dụng tiền vay và thực hiện các nghĩa vụ đã cam kếtđối với khoản vay. Thứ ba là đảm bảo xây dựng được các phương án dự phòngtrả nợ.- Cho vay phải do chính ngân hàng quyết định và chịu trách nhiệm về quyết địnhđó. Việc có cho vay hay không là một quyết định mang tính độc lập, không hềchịu ảnh hưởng bởi những người có liên quan và ngân hàng phải cảm thấy thoảimái khi đưa ra quyết định cho vay. Mọi sự can thiệp bên ngoài đối với mỗikhoản cho vay đều phi kinh tế, thiếu tính nghiệp vụ ngân hàng, thường đưa đếnnhững sai lầm và gây ra những tổn thất, do đó khi ngân hàng chịu trách nhiệmhoàn toàn về những khoản cho vay, thì ngân hàng cũng phải hoàn toàn chủ độngvới quyết định của các khoản vay đó.- Chủ động phân tán rủi ro để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro. Việc phân tán rủi rođược thực hiện thông qua phân tán dư nợ và cộng đồng tài trợ. Cụ thể là mỗingân hàng không nên tập trung quá nhiều vốn cho một người vay, những dự ánlớn cần huy động nhiều ngân hàng tham gia tài trợ và cùng quản lý vốn cho vay,hạn chế cho vay trong các lĩnh vực có tỷ lệ rủi ro cao. Nhờ đó sẽ phân tán rủi ro,tránh tập trung rủi ro lớn vào một ngân hàng, làm cho ngân hàng có nguy cơ đổvỡ ảnh hưởng đến môi trường kinh tế chung. Phân tán rủi ro là một yêu cầu vàxu thế quan trọng của mỗi NHTM hiện nay.- Cho vay phải có đảm bảo tiền vay với tính khả thi cao. Trong các điều kiện vayvốn thì điều kiện về đảm bảo tiền vay được coi là quan trọng nhất. Đảm bảo cóthể bằng cầm cố, thế chấp hay bảo lãnh để phòng khi khách hàng không có khảnăng trả nợ thì có thể dùng tài sản bảo đảm trả nợ thay. Vì vậy bản thân tài sảnphải có giá trị, và bản thân nó phải trở thành hàng hoá để có thể chuyển thành giátrị để trả nợ ngân hàng, đồng thời tài sản phải có giá trị lớn hơn giá trị khoảnvay, và có thị trường tiêu thụ hàng hoá đó để thực hiện nghĩa vụ trả nợ. * Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắcbảo đảm tín dụng là một vấn đề rất quan trọng để tránh được rủi ro tín dụng.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 28
  29. 29. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comTheo số liệu do NHNN công bố đến đầu năm 2001 kết quả phân tích, đánh giácủa NHNN đối với nợ xấu của các NHTM trên toàn quốc là 15 nghìn tỷ đồng,tương đương với 1 tỷ USD, tuy nhiên nguồn tin từ các tổ chức tài chính quốc tếđánh giá có thể lên đến 2-3 tỷ USD. Như vậy rủi ro tín dụng ở Việt nam là rấtlớn, đó là do việc chấp hành các nguyên tắc đảm bảo tín dụng còn lỏng lẻo như:chất lượng tín dụng của các NHTM còn thấp, tỷ lệ nợ quá hạn còn cao; việcquyết định cho vay còn chịu nhiều can thiệp từ bên ngoài, điển hình là việc cáccơ quan chính quyền các cấp đề nghị, thậm chí yêu cầu ngân hàng phải đáp ứngnhu cầu về vốn nào đó vì quyền lợi của người vay...; hay các tài sản đảm bảo nợvay khi phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì lại không thể hoán chuyển thành giá trịđược, tức là không thể bán để thu hồi nợ khi các ngân hàng phát mại tài sản đó.hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng còn kém hiệu quả do nhiều lý dovề trình độ, môi trường kinh doanh, pháp lý...; đồng thời môi trường kinh doanhcủa nước ta còn kém, doanh nghiệp làm ăn có lãi thì ít hơn là các doanh nghiệpsản xuất cầm chừng, không có lãi thậm chí lỗ, hay do pháp luật còn nhiều kẽ hởkhiến nhiều doanh nghiệp gian lận, lừa đảo. Vì vậy đã xảy ra những vụ rủi ro tíndụng lớn như trong vụ án TAMEXCO, Minh Phụng - Epco... mà đó chính là mộtbài học đắt giá cho các NHTM Việt Nam. Chính vì vậy việc nhận biết và nghiên cứu kỹ các nguyên nhân gây ra rủiro tín dụng, các loại rủi ro, cách phát hiện, xử lý rủi ro cũng như đảm bảo thựchiện một cách nghiêm túc nguyên tắc an toàn tín dụng là những vấn đề hết sứcquan trọng đối với các NHTM ở Việt Nam hiện nay. Các NHTM cần phải tăngcường các hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình cũng nhưhiệu quả hoạt động của nền kinh tế.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 29
  30. 30. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG CÁC NHTM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.I/ Những thuận lợi và một số thách thức trong hoạt động tín dụng ngânhàng.1/ Một vài nét về cơ sở pháp lý của hoạt động tín dụng ở Việt Nam hiện nay. Hiện nay môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng được hoàn thiện, đầyđủ, rõ ràng chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế hơn. NHNN đã chỉnh sửa,bổ sung, ban hành mới một loạt quyết định, thông tư phù hợp với cơ chế hiệnnay; những vướng mắc, sơ hở, chồng chéo của cơ chế cũ đã được tháo gỡ, bãi bỏlàm cho hoạt động tín dụng được thuận lợi hơn, tăng tính tự chủ, tự chịu tráchnhiệm cho các tổ chức tín dụng. Một số văn bản pháp lý quan trọng được tậptrung ban hành trong thời gian qua bao gồm: Các văn bản quy phạm pháp luật về biện pháp bảo đảm tiền vay của các tổchức tín dụng như: Nghị định 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 của Chính phủ"về đảm bảo tiền vay của TCTD"; Quyết định số 266/2000 của NHNN, ngày18/8/2000 về việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với NHTM cổphần, công ty tài chính cổ phần và ngân hàng liên doanh; Quyết định số283/2000 ngày 25/8/2000 Của NHNN, ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng;Thông tư số 06/2000 ngày 4/4/2000 và Thông tư số 10/2000 ngày 31/8/2000 củaNHNN, hướng dẫn thực hiện bảo đảm tiền vay của TCTD... Về xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng thì có Thông tư liên tịch số03/2001/ TTLT-NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC được ban hành ngày 23/04/2001hướng dẫn việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho các TCTD. Về một số hoạt động khác của tín dụng thì có Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg được Chính phủ ban hành ngày 30/3/1999 về "Một số chính sách tín dụngNgân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn"; NHNN ban hànhQuyết định số 428/2000 ngày 22/9/2000 về chính sách tín dụng ngân hàng đốivới kinh tế trang trại; Ngày 29/6/1999 Chính phủ đã ra Nghị định 43/1999/NĐ-CP "về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước"; Quyết định số 48/1999/QĐ-NHNN5 về việc phân loại tài sản Có, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủiHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 30
  31. 31. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comro trong hoạt động ngân hàng được Thống đốc NHNN ban hành ngày 8/2/1999;Quyết định số 418/2000 ngày 21/9/2000 về đối tượng cho vay bằng ngoại tệ... Một số văn bản chung quan trọng khác như: Luật Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam do Quốc hội ban hành quy định về Ngân hàng Nhà nước; Luật các tổchức tín dụng của Quốc hội ban hành được chủ tịch nước công bố ngày26/12/1997, luật này quy định về tổ chức và hoạt động của các tổ chức tín dụngvà hoạt động ngân hàng của các tổ chức khác; Quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về Quy chế cho vay củatổ chức tín dụng đối với khách hàng... Từ các văn bản quy phạm pháp luật chung, mỗi ngân hàng lại tự ban hànhcho mình những văn bản cụ thể riêng để điều hành, quản lý hoạt động của mình.Ví dụ như NHNO&PTNT VN có một số văn bản sau: Quyết định số180/QĐ/HĐQT về việc ban hành quy định cho vay đối với khách hàng và cóQuy định cho vay đối với khách hàng ban hành kèm theo quyết định này; Hướngdẫn thẩm định, tái thẩm định các điều kiện vay vốn của doanh nghiệp; Hướngdẫn nội dung thẩm định cho vay đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác... Với các văn bản về cơ chế, chính sách nói trên, ngoài ra còn có thêmnhiều văn bản pháp luật về các vấn đề liên quan cũng được bổ sung và sửa đổikhiến cho hoạt động tín dụng đã được phát triển lành mạnh và an toàn hơn. Tạođiều kiện cho các NHTM mạnh dạn hơn trong hoạt động cho vay góp phần thúcđẩy sự phát triển kinh tế.2/ Những thuận lợi cho hoạt động tín dụng ngân hàng trong giai đoạn hiệnnay. Trong những năm qua, bối cảnh kinh tế nước ta xuất hiện nhiều yếu tốthuận lợi cho việc phát triển hoạt động tín dụng. Nền kinh tế nước ta tăng trưởngkhá, tiêu biểu là hoạt động xuất nhập khẩu, có nguyên nhân quan trọng từ cácgiải pháp tiền tệ tín dụng; đồng thời đó cũng là tiền đề cho tăng trưởng tín dụngan toàn. Đặc biệt tăng trưởng cao về kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng rau quả,thuỷ sản, hạt điều...đây là thuận lợi cho vốn tín dụng của các NHTM đầu tưtrong các khâu sản xuất như thuê mua, chế biến, xuất khẩu... Các ngành trướcđây hoạt động thua lỗ, nợ đọng vốn với ngân hàng lớn như xi măng, míađường,...thì nay giá bán đã cải thiện, tình hình khả quan hơn, tiền vốn vay và lãiHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 31
  32. 32. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.comtreo đã thu hồi được. Sự phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện cho việc phát triển tíndụng, mở rộng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng. Môi trường vĩ mô cho hoạt động tín dụng ngân hàng dần dần đi vào ổnđịnh, rõ ràng và an toàn hơn, thể hiện các đối tượng khách hàng sau: - Các doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại. Một số doanh nghiệp đượccổ phần hoá và nhiều doanh nghiệp đã khẳng định được hiệu quả của mình. - Luật doanh nghiệp mới ban hành có hiệu lực thi hành từ 1/1/2000. Theosố liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư, tính đến hết tháng 11/2000 trong cả nước đãcó trên 12000 doanh nghiệp với đủ các loại hình được thành lập mới với tổng sốvốn đăng ký trên 10000 tỷ đồng. Do đó tư cách pháp lý, số vốn tự có thực sự...của doanh nghiệp được khẳng định. - Các hộ gia đình ở nông thôn đang định hình rõ nét: hộ làm ngành nghề,hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, hộ kinh doanh dịch vụ, hộ có trang trại, hộ nuôitrồng thuỷ sản... Ngành chức năng đã ban hành tiêu chí cụ thể xếp loại trang trại,từ đó có các quy chế cụ thể về hoạt động tín dụng thực hiện đối với họ.3/ Một số thách thức mới trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Những năm gần đây, điểm nổi bật trong hoạt động kinh doanh của cácNHTM là thay đổi cơ cấu thu nhập, nhất là đối với các NHTM có quy mô lớn.Nhìn chung tỷ trọng doanh thu từ hoạt động tín dụng giảm xuống ở hầu hết cácngân hàng, thu từ dịch vụ và nghiệp vụ khác như nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ,dịch vụ thanh toán, đầu tư vào giấy tờ có giá...tăng lên. Tuy nhiên hoạt động tíndụng vẫn là hoạt động chính của các NHTM. Trong giai đoạn hiện nay đã xuấthiện một số thách thức đáng lưu ý sau: Với cơ chế điều hành lãi suất cơ bản từ đầu tháng 8/2000 của NHNN, đãthúc đẩy mạnh mẽ hoạt động cạnh tranh về lãi suất, đáp ứng yêu cầu cạnh tranhtrong lĩnh vực tín dụng giữa các NHTM, tuy nhiên nó lại dẫn đến những khókhăn cho các NHTM cổ phần quy mô nhỏ. Cạnh tranh về cung cấp vốn đầu tư, trong khi tổng đầu tư xã hội sụt giảmthì đầu tư của Nhà nước lại tăng nhanh, nhưng trong tổng nguồn vốn đầu tư chỉcó khoảng 10% là vốn huy động trong nước còn lại là nguồn vốn ODA, vốn đầutư, tài trợ nước ngoài. Sự hiện diện của các nguồn vốn ưu đãi quốc tế rõ ràng sẽlàm giảm các cơ hội cung cấp tín dụng của các NHTM.Http://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 32
  33. 33. Download đề án, luận văn, báo cáo tốt nghiệp tại http://luanvan84.com Tuy nền kinh tế tăng trưởng khá nhưng lại xuất hiện một số khó khăn mớinhư các ngành trước đây có kim ngạch xuất khẩu cao như hàng dệt may, giàyda... nhưng năm 2000 lại không đạt kế hoạch, diễn biến không ổn định làm ảnhhưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện các hợp đồng tín dụng. Trước đây một sốlĩnh vực có kim ngạch xuất khẩu lớn như gạo, cà phê...thì giờ lại gặp khó khănlàm cho vốn tín dụng cho vay cũng phải giãn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ, khoảncho vay cũ chưa thu được lại phải cho vay mới. Nhất là ở đồng bằng sông CửuLong do lũ lụt đã gây ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh làm cho sốvốn phải khoanh nợ, giãn nợ lên tới gần 1000 tỷ đồng. Đồng thời thị trường cũngbị ảnh hưởng biến động, khó dự đoán, gây áp lực lên chất lượng tín dụng ngânhàng. Tính rủi ro đối với hoạt động tín dụng có xu hướng tăng lên, đặc biệt trongnền kinh tế thị trường rủi ro đạo đức là rất lớn, do chính cán bộ tín dụng trongviệc thực hiện các thể lệ chế độ gây ra. Dư nợ tiếp tục tăng nhanh trong khi sốlượng cán bộ tín dụng hầu như không tăng, điều kiện giao thông nông thôn, miềnnúi không được cải thiện làm tăng lên áp lực quá tải của cán bộ tín dụng. Đó chính là một số thuận lợi và thách thức đối với các NHTM trong hoạtđộng tín dụng hiện nay, họ phải biết tận dụng và phát huy những thuận lợi vàdám đương đầu với những thách thức để đưa hoạt động tín dụng tăng trưởng cóhiệu quả và khẳng định được vai trò của mình trong thời đại mới.II/ Thực trạng tín dụng ở các NHTM Việt Nam.1/ Một số kết quả đạt được. -Ước tính đến hết tháng 12/2000, dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàngđối với nền kinh tế tăng 21% so với cuối năm 1999, tăng đáng kể so với mứctăng 19,1% của năm 1999;16,4% của năm 1998. Đồng thời ước tính tỷ lệ nợ quáhạn chỉ ở mức 11,7%, giảm gần 1,28% so với 13,5% của năm 1999. Và trong 6tháng đầu năm nay tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng đốivới nền kinh tế khoảng 9,1% so với 31/12/2000, so với cùng kỳ tăng 24,5%. Nhưvậy hoạt động tín dụng của các NHTM đã ngày càng được mở rộng. -Từ 2/8/2000 NHNN chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản, các ngânhàng chủ động linh hoạt quy định lãi suất cho vay theo quan hệ với khách hàng,lãi suất cho vay của ngân hàng đối với kinh tế ngoài quốc doanh giảm xuốngHttp://luanvan.forumvi.com email: luanvan84@gmail.com 33

×