Sống tận cùng với đất

595 views

Published on

Tập Bút ký đạt giải và tham dự cuộc thi
“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới”
do Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỏ chức.

Published in: Education
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
595
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
21
Actions
Shares
0
Downloads
4
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Sống tận cùng với đất

  1. 1. BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH CỤC VĂN HOÁ CƠ SỞ **************SỐNG TẬN CÙNG VỚI ĐẤT Tập Bút ký đạt giải và tham dự cuộc thi “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” Hà Nội – 2010 1
  2. 2. MỤC LỤC1. Làng trước sóng – Trần Công Sử2. Ba Hạo – Phạm Huy Thưởng3. Sống tận cùng với đất – Vương Hữu Thái4. Vượt qua số phận – Phạm Văn Thúy5. Trên 12 tầng núi – Phùng Kim Trọng6. Gặp chủ tịch La Đà ký – Trần Kim Anh7. Sau ngày con trâu về bản – Hoàng Nghiệp8. Cánh đồng không ma – Trương Văn Định9. Gặp lại “Tam gia cầu treo”10. Qua mùa bão giông – Nguyễn Thị Thu Giang11. Nhà khoa học chân đất – Hoàng Giang Phú12. Một ngày ở khu bảo tồn sinh thái Đồng Tháp Mười – Lê Hồng Lâm 2
  3. 3. Lời nói đầu Ngày 06 tháng 02 năm 2009, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã cóQuyết định số 410/QĐ - BVHTTDL giao Cục Văn hóa cơ sở tổ chức cuộc thisáng tác văn học về đề tài Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam thời kỳđổi mới với chủ đề Nông thôn Việt Nam đổi mới và phát triển cho các thể loạitruyện, ký và kịch bản văn học. Cuộc thi đã nhận được sự phối hợp tích cực củaHội Nông dân Việt Nam, Hội Nghệ sỹ sân khấu Việt Nam, Hội Nhà văn ViệtNam, thu hút nhiều cây bút chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp trong cảnước tham gia. Đặc biệt với đặc trưng thể loại, những tác phẩm ký đã trực tiếp ghi chép,phản ánh trực diện những vấn đề nóng hổi, thời sự của nông nghiệp, nông dân,nông thôn Việt Nam trong quá trình đổi mới và phát triển, biểu dương ngườinông dân Việt Nam khắc phục khó khăn, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dámlàm, đột phá trong cách làm ăn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Các tác phẩm phảnánh đời sống nông nghiệp, nông dân, nông thôn đang có những trăn trở, nhữngbiến đổi sâu sắc trong sự tiếp biến văn hóa, kỹ năng và năng lực hành động củacon người ở nông thôn hiện nay. Đồng thời lý giải những vấn đề bức xúc trongsuy nghĩ, việc làm đối với người nông dân đứng trước những tiêu cực, nhữnghành động trái với lợi ích của nhân dân, với sự phát triển chung; nêu được nhữnggiải pháp và hướng đi đúng, khẳng định vai trò, tầm quan trọng của nông nghiệp,nông dân và nông thôn Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước theo đúng tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của Đảng ta. Cục văn hóa cơ sở trân trọng giới thiệu tập bút ký Sống tận cùng với đất gồmnhững tác phẩm dự thi đạt giải và những tác phẩm có chất lượng khá của cuộc thivới đông đảo bạn đọc. 3
  4. 4. Trong qúa trình biên tập, in ấn không tránh khỏi thiếu sót, mong độc giảthông cảm và góp ý kiến xây dựng. Xin trân trọng cảm ơn. Cục Văn hóa cơ sở 4
  5. 5. Phạm Huy Thưởng BA HẠO1. Nhìn đám dưa hấu lên xanh mơn mởn, ngắm những trái dưa hấu lớn nhanhnhư thổi Đỗ Quý Hạo không khỏi mừng thầm. Chẳng còn bao nhiêu ngày nữa làTết. Tết năm nay gia đình anh thắng vài chục cây vàng là cái chắc. Thật đángđồng vốn đưa vào, đáng công sức bỏ ra. Nhưng rồi mọi sự xảy ra đâu có theo ý muốn con người. Đùng một cái 4hecta dưa hấu đổ bệnh than. Cây lá cứ bám muội đen mà thui chết dần dần. Càngra công phun thuốc cây càng lụi. Ai mách thứ thuốc gì là Hạo mua về phun ngay.Càng ra công cứu đám dưa hấu càng hỏng. Cho đến lúc không cứu được nữa Hạobỏ 40 công dưa hấu không lấy được một trái bày bàn thờ Tết. Nỗi đau thua thiệt rồi cũng qua đi. Nhưng có một điều cứ uất nghẹn tronglòng người. Một câu hỏi cứ day dứt, lẩn quẩn trong đầu Đỗ Quý Hạo: “Vì saongười ta bệnh chữa thuốc thì khỏi mà cái cây bị bệnh thì khó chữa đến nhưvậy ?” Anh quyết định mò vào lĩnh vực chữa bệnh cho cây trồng. Đó là chuyệnđã xảy ra 18 năm trước. Câu chuyện về một nông dân vùng tứ giác Long Xuyênđi tìm những lời giải của khoa học cây trồng. Đỗ Quý Hạo bắt đầu việc học bằng cách tìm đến các chuyên gia để học hỏi vềcây trồng, trước hết là cây lúa. Anh tới trường Đại học Cần Thơ và các trường đạihọc trên thành phố Hồ Chí Minh. Có điều hay là trước nhiệt tình của một nôngdân ham hiểu biết như thế giáo sư nào cũng tận tình chỉ bảo cho anh. Anh cònđược đưa vào tận phòng thí nghiệm để xem những tiêu bản vi khuẩn gây bệnh.Khi biết là anh đã mua một kính hiển vi trị giá cả cây vàng, các giáo sư… khôngngại chỉ dẫn cho anh cả cách làm một tiêu bản. Từ kính hiển vi khung trắng anhcải tiến thành kính hiển vi nền đen. Nhờ đó mà càng ngày Hạo càng hiểu các lọaicây trồng và bệnh trên các lọai cây. Dần dần trong nhà anh hình thành một phòngthí nghiệm và một tủ sách kỹ thuật nông nghiệp. Có phương tiện trong tay, Hạo tự tìm những lời giải cho những loài cây màanh trồng ra. Nhìn cây dưa hấu lớn nhanh mỗi ngày. Hạo đặt câu hỏi “Trái dưahấu phát triển mạnh nhất vào lúc nào trong ngày”. Và qua những thí nghiệm, Hạobiết rằng trái dưa hấu chỉ lớn vào ban đêm. Những phát hiện như vậy càng làm 5
  6. 6. cho Hạo thêm hứng thú vì có được những hiểu biết mới. Và những kết quả trongcông việc động viên Đỗ Quý Hạo. Đó là những trái dưa hấu nặng 15 kg. Lànhững lứa dưa An Tiêm 95 mà trên 50% sản lượng là những trái nặng trên 10kg. Tôi được sinh ra trong một vùng nông thôn, nhà nghèo nên học đến hết lớp 7. Năm 1976 đến tuổi tôi nhập ngũ vào lữ đoàn 22 thiết giáp, quân đoàn 4. Năm 1980 tôi ra quân và tôi về thăm gia đình chị gái đang sống tại Kiên Giang. Ngắm nhìn những cánh đồng rộng mênh mông bát ngát tôi thầm ước mình được đem sức trẻ của mình ra cống hiến cho quê hương này. Sau đó tôi quyết định về quê đưa cha mẹ cùng gia đình ở Thái Bình vào đây lập nghiệp. ( Trích báo cáo của Ba Hạo ). Căn nhà gỗ ba gian lợp tôn, gió lùa bốn phía. Căn nhà dựng vững chắc bên bờkinh. Bốn bức vách của căn nhà thu hút tôi. Nhà ta coi chữ hơn vàng. Coi tài hơncả giàu sang bạc tiền. Trên nền gỗ nhôm nhoam dòng chữ mầu trắng nổi lên mồnmột. Câu khác : Dẫu có bạc vàng trăm ngàn lượng. Không bằng kinh sử một vàipho. Một tuyên ngôn đầy thách thức. Tôi từng đọc câu này ở đâu nhỉ. Lâu rồi.Khi đó tôi chỉ nghĩ đó là thói ngông nghênh của một ông chủ phẫn chí. Ở đây thìkhác. Tôi cười nghĩ bụng. Nói ngông thế thôi chứ, cha con anh Hạo này sắp đầymột bụng chữ rồi. Trên hai bên vách khác lại được bọc giấy trắng. Giấy đã ngảmàu nhưng vẫn thấy rõ trên đó những công thức ADN, tên những loài vi khuẩngây bệnh cây, những tên thuốc… Thấy tôi chăm chú nhìn những hình đó, Hạogiải thích: - Đó là hồi tôi mới học. Tính hay quên nên tôi viết lên đó để ghi nhớ. Trên đầu vách ngay bên cửa ra vào là mấy giòng chữ: “Đề phòng rầy nâu 25- 30/12. Giải quyết đạo ôn trước trổ. Đề phòng nhện dé trước trổ”. Cẩm nangsản xuất cho lúa vụ này của anh ta. Lúa đã trổ bông. Bông như đuôi trâu, lá nhưlá mía. Những cây lúa trong 9 hecta ruộng của Hạo phát triển đúng như thế.Xuống tận ruộng xem xét, Thanh Nhanh, ông chủ hãng sản xuất phân bón ĐạiNông đánh giá: - Lúa này chắc ăn 40 giạ một công. Tiền lời của chỗ lúa này là để nuôi hai đứa con đang học đại học trên thànhphố Hồ Chí Minh. Tôi nhớ Hạo đã kể cho chúng tôi nghe như vậy. Để tiện chocác con có chỗ ăn học, tiện cho việc lên thủ phủ miền Nam tầm sư học đạo, Hạođã mua một miếng đất và xây nhà ở Quận 2. Anh ta tính toán xuýt xoa tiết rẻ : 6
  7. 7. - Tiền làm nhà trên đó, khi đó có thể mua thêm 25 hecta đất ở đây. Tiếc lắmchứ, nhưng biết làm sao được. Nghe lời than thở của Hạo, tôi cười trong bụng.Cậu coi chữ quý hơn vàng mà. Anh ta ngưng nói, nhìn nét mặt tôi và hiểu điều tôikhông nói ra miệng mà tiếp. Cha con tôi đang cần chữ mà. Miếng đất trên đó đãgiúp cho cha con tôi tiếp thu bao nhiêu là kiến thức. Bà xã tôi cai quản cơ ngơitrên đó và chăm nom cho hai đứa con ăn học. Tôi cai quản dưới này với thằngcon mới lấy vợ. Anh ta tính vậy cũng phải, hai ông con lên thành phố, không quản lý chặt,ham học không bằng ham chơi, vô phúc lại dính vào chích hút thì có mà tànmạng. Hạo lôi ở gần bàn ra mấy cái bọc cho chúng tôi coi. Anh ta nói như khoe: - Em cũng thử làm vi lượng cho lúa đó. Đây là Suynfat đồng. Anh đưa ra cáibọc có chất bột màu xanh nước biển và nói. Thằng này hàm lượng chỉ có 75 phầntriệu nhưng thiếu nó là hạt lúa kém mẩy và rụng đầu bông. Anh ta chỉ mấy cáibọc kia mà nói những tên khoa học của mấy thứ muối kẽm, muối môlipđen,bôron… Chẳng biết từ lúc nào câu chuyện của chúng tôi xoay qua đề tài WTO vàAPEC. Có lẽ tại bức ảnh Hạo và ông chủ hãng phân bón Đại Nông chụp ở HàNội. Cả hai sách cặp Samsonite trên tay. Họ đứng trước phòng họp quốc tế có cáimái lượn sóng… Đó là tấm ảnh chụp khi hai người đi dự Đại hội toàn quốc củaHiệp hội Doanh nghiệp tại Hà Nội. - Ngày nay khi đất nước đã thực sự hội nhập quốc tế, cơ chế thị trường pháthuy ở nhịp độ cao thì điều gì là quan trọng nhất đối với nông dân ta? Tôi thử nêucâu hỏi. Tôi nghĩ cả hai người mới đi dự một hội nghị lớn ở Hà Nội, được cácđồng chí trung ương Đảng đến dự, gặp gỡ, nói chuyện hẳn là họ có những suynghĩ thức thời. - Có nhiều vấn đề đặt ra song tôi nghĩ cái mà chúng ta phải phát huy mạnhhơn là làm ăn phải tính toán bài bản trước sau. Chỉ có vậy công việc mới thực sựđem lại hiệu quả. Hai người, Thanh Nhanh và Đỗ Qúy Hạo nói nhiều nữa nhưngtôi nghĩ đây là một mấu chốt. Và tôi được nghe câu chuyện trồng khoai lang vụnày của Đỗ Qúy Hạo. Như mọi năm, Hạo chồng tiền thuê mướn đất. Anh chồng 110 triệu đồng đểthuê 19 hecta đất. Hạo nói: - Năm nay elnino tiếp tục tác hại nặng. Trời sẽ hạn, lại thêm bệnh vàng lùnxoắn lá bà con phải phá lúa. Tất nhiên thế vào đó sẽ là cây khoai lang. Tất cả sẽ 7
  8. 8. đổ vào cây khoai lang. Diện tích khoai lang sẽ tăng. Giá khoai củ sẽ hạ. Đó làquy luật. Nhưng tôi vẫn trồng khoai. Vì khoai lang của tôi vẫn đang ăn khách. Cóđiều phải tính tóan cách trồng khác với mọi năm. Thế là anh trồng khoai sớm hơn. Để có khoai củ sớm, Hạo bỏ một vụ lúa trênđất thuê mướn. Hạo áp dụng phương pháp lên vồng để cho củ to hơn. Vậy là anhchủ động cả về thời vụ, chủng lọai và chất lượng sản phẩm. Anh bỏ khỏan tiềnlời trồng lúa để thu lời cây khoai. Một khoản lời chắc chắn, ổn định hơn. Đúnglúc này, cây lúa trên các cánh đồng mới trổ bông thì những vồng khoai trong 19hecta đất của Hạo đã lên xanh um. *** Bộ loa của cái máy thu hình 21 incs treo trên cao bỗng rộ lên tiếng hò reo củatrận đấu bóng đá. Màn hình đang chạy một chương trình truyền hình trực tiếp củaVTV3. Tôi ngạc nhiên tại sao ở giữa cánh đồng xung quanh chỉ lúa là lúa này lạicó nguồn điện. Hạo lại đoán đúng ý tôi mà nói : - Tôi chạy máy đèn. Năm giờ hết một lít xăng. Chi phí có tăng lên nhưng cha con anh ta đáng được hưởng những tiện nghinày. Doanh thu của 600 - 700 tấn khoai lang củ xuất khẩu và 4.000 đến 5.000 giạlúa hàng năm gánh nổi cho gia đình anh những chi phí gia tăng ấy. Âu cũng làgiữ gìn cho cuộc sống có chất lượng để sáng tạo nhiều hơn. Trầm ngâm một chút Hạo nói : - Khách hàng Nhật bản và Trung Quốc đã tới xem tận ruộng khoai nhà tôi.Họ vừa ý lắm. Nhưng khoai nhà tôi phải xuất qua một địa chỉ khác ở thành phốHCM. 1kg khoai hạng nhất tôi chỉ được có 1.800 đồng, nhưng họ xuất khẩu ăntới 4 USD. Vậy nên tôi chỉ mong mở được một cái Website. Với trang web ấymình sẽ có điều kiện tiếp cận trực tiếp với nhiều khách hàng hơn. Hy vọng mìnhsẽ làm ăn lớn hơn, vững vàng hơn. Cũng hay. www.khoailangvn . Một cái tên miền thú vị. Tôi chúc anh tasớm đạt được ước mơ ấy. 2. Trời mới mưa, đường xấu, không chạy được xe máy nên tôi phải đi vỏ máyvào trong đồng. Một cái lán rộng khoảng hơn trăm mét vuông hiện trên bờ kinh 8
  9. 9. bên phải, gần như đối diện với khu nhà làm việc của trang trại. Ba cỗ máy kéonước sơn đỏ chói rực rỡ dưới nắng. Những chiếc máy kéo Fiat của Ytali nổi tiếnglà bền và khỏe. Ba máy này với phụ tùng cày sới kèm theo, rẻ cũng phải 600 triệuđồng. Từ trong lán mới dựng vang lên tiếng nói, ánh lửa hàn lấp lóa và tiếngmáy mài xoe xóe cà trên bề mặt kim loại. Khung cảnh và âm thanh đó hiện trênmột vùng lúa xanh ngăn ngắt trông thật bắt mắt, nghe thật vui tai. - Đó là xưởng cơ khí. Anh chàng trẻ măng, người chạy vỏ máy lên tiếng. Vậy là đã ba năm tôi mới tới đây. Vẫn là điện tự phát. Tôi nghĩ bụng, bởiquanh đây vẫn chưa hề thấy bóng dáng những cây cột và đường dây. Dưới lòng kinh, một nhóm người đang chôn một cây bạch đàn lớn mà ta dễnhận ra đó là những trụ đứng của một cây cầu. Đỗ Quý Hạo có mặt trong đámnày. Hạo giơ tay vẫy chào tôi từ xa. So với lần gặp nhau ba năm trước Hạo mậphơn. Vì thế nhìn anh ta như thể lùn đi. Nước da cũng đen hơn. Thật tình trônganh ta lúc này giống một con gấu giữa đám người. Một con gấu đặc sệt nông dânvới bộ óc tinh quái. Khó mà nhận ra Hạo trong hình ảnh một đại gia tay cầm cặpSamsonai chụp ảnh trước phòng họp Quốc Tế tại thủ đô Hà Nội năm nào. Hạo đưa tôi vào trong lán cơ khí. Tới bên một bộ phận máy có cái thùngtròn cao với cơ cấu nối sau máy kéo. Hạo nói không dấu vẻ phô trương. - Đây là máy thu hoạch khoai lang tôi mới sáng chế ra. Liền đó Hạo kể rất chi tiết về tính năng chuyên dụng của cỗ máy. Nào làmáy có bánh xe ngầm nhằm cắt đứt dây khoai và làm vỡ đất. Nào là máy cóthùng hút một phần đất vụn để lộ ra nửa trên củ khoai v.v… Nhờ cái máy nàyHạo giảm được non nửa số nhân công thu hoạch. Tỷ lệ và chất lượng khoai xuấtkhẩu đạt cao hơn nhờ vỏ khoai không còn bị chầy sát. Tôi nhẩm tính, cái máynày có thể đem lại cho anh ta hàng trăm triệu đồng tiền lời mỗi vụ. Chưa kể nhờcó máy thu hoạch tiến độ thu hoạch khẩn trương và chủ động hơn, đáp ứng kịpthời những nhu cầu cấp bách của khách hàng, từ đó tạo ra được ưu thế mới trongthị trường. - Vậy thì từ đâu mà bạn có thiết kế của cái máy này ? - Thì tôi đi tham quan ở một số nơi, tham khảo thêm một số máy thu hoạchkhác rồi tự hình dung ra, thiết kế và chế tạo nó. Kỹ thuật gò, hàn, mài, lắp ráplàm tại xưởng nhà. Kỹ thuật cắt gọt thuê tại xưởng khác. Dẫn tôi tới một cái máy khác nằm ở một góc lán, Hạo cho biết : - Đây là máy trồng khoai, vun luống và rải phân bón lót. Cũng là máychuyên dùng cho khoai lang do xưởng cơ khí của nhà làm. Máy này hoạt động rấtngon. Tôi đang theo dõi điều chỉnh cho hoàn thiện hơn. Sau đó có thể phổ biếncho bà con quanh vùng sử dụng. Anh ta gãi gãi cái mũi một cách rất trẻ con. Động tác ấy ở con người tođùng khiến anh ta có cái vẻ rất dí dỏm. Hạo kể tiếp về những cái máy khác màanh ta sẽ còn tiếp tục cho ra đời. Đó là những máy chuyên dùng trên cánh đồng 9
  10. 10. khoai. Chẳng hạn như máy đào rãnh. Hạo mô tả bằng cách vẽ nguyệch ngoạc môhình trên tờ giấy một mặt có chữ. - Vì cánh đồng này tôi áp dụng kiểu tưới thấm. Bởi vậy giữa hai luốngkhoai phải có một mương nhỏ 40x40cm. Đào bằng tay cả hệ thống mương nàyrất tốn công. Bởi tổng chiều dài của mương trên cánh đồng lên tới 50km. Mà vụnào cũng phải đào. Lên luống trồng khoai xong mới đào mương tưới. Đến khi thuhoạch lại lấp đi. Còn phải có máy phun thuốc diệt cỏ mà lại là phun bên dưới lá khoai, Hạonói tiếp. Cái máy này anh ta cũng đã có ý tưởng sẵn sàng. Chỉ còn thể hiện cụ thểvà chế tạo. Chúng tôi không dừng lại câu chuyện về xưởng cơ khí ở đây. Bởi vì rõràng không bao lâu nữa đây phải là một trung tâm cơ khí lớn hơn. Ba Hạo đangtính phải sắm một hai cái máy tiện. Cho dù là chỉ để phục vụ riêng cho nhu cầuchế tạo sửa chữa cho máy móc “ của nhà” cũng phải cần có một cỗ máy tiện.Chưa nói đến việc tại sao lại không mở rộng xưởng phục vụ cho nhu cầu sửachữa cơ khí trên một vùng nông nghiệp nhiều ngàn hecta nơi đây. Có điều là muasắm trong nam hoặc nhân thể ra bắc để lùng kiếm thêm một số thiết bị cơ khíkhác nữa thì anh ta còn phải tính thêm. Vậy là trên cánh đồng khoai 52 hecta này, Quý Hạo đã bước sang mộtcung cách làm ăn mới. Cơ giới hóa. Với ba cái máy kéo và ba dàn cày sới, Hạođã chủ động hoàn toàn khâu làm đất. Cũng với sức máy, Hạo đã hoàn toàn cơ khíhóa khâu trồng trọt và thu hoạch. Đắp xong cái bờ vùng dài 10km bao quanhvùng khoai và hệ thống bơm tưới hoàn chỉnh từ nhiều năm nay Hạo đã chủ độnghoàn toàn khâu tưới tiêu bằng máy… Chính cơ giới hóa đã giúp anh ta giảm trên30% giá thành sản xuất. Cơ giới hóa còn cho anh ta khả năng rút ngắn thời giantrong từng khâu sản xuất. Điều đó cho Ba Hạo lợi thế linh hoạt phù hợp với yêucầu biến động không ngừng của thị trường. Và do đó hơn lúc nào hết Ba Hạođứng rất vững trên thị trường hiện đại đầy sóng gió. Về trưa trời nắng đẹp. Cây cối được cơn mưa sớm rửa sạch tỏa ra sức sốngsinh động. Đứng từ đầu bờ vùng nhìn suốt chiều dài 2km rưỡi tới đầu bờ vùngbên kia tôi đã thấy hút tầm nhìn. Chợt nhận ra một điều khiến tôi thắc mắc. Phảichăng vùng đất này đã thuộc về Đỗ Quý Hạo ? Mà vì một lý do nào đó Hạo chưadám nhận là mình chủ sở hữu ? Tôi cũng biết anh ta đã có 10 hecta đất từ lâu. hỏi: - Có phải vùng đất 52ha này là anh đang thuê của 14 chủ khác nhau ?Anh ta gật đầu xác nhận. Vậy sao ông dám bỏ ra 130 triệu đồng mà làm cái bờvùng đồ sộ này ? Tôi nhìn vào tận mắt anh ta và anh ta cũng nhìn tôi như vậy. - Tôi thuê đất với giá rất cao. Hạo nhấn mạnh hai chữ rất cao. Vừa nói anhta vừa khẽ lắc lắc cái đầu. Những 7 tấn lúa một hecta năm đó. Mà là thuê dài hạn. 10
  11. 11. Tất nhiên là nếu anh thuê ruộng lẻ, từng vụ lẻ giá thuê có thể nhỉnh hơn một chút.Song thuê dài hạn thì giá tôi thuê là cao nhất rồi đó. Tôi dám chịu giá đó là bởivì, nếu mình chọn được giống tốt, kỹ thuật trồng trọt của mình cho ra sản phẩmnhư ý, đón đúng thời điểm ăn giá, lại gặp được đúng khách hàng thì khoai langcủa tôi cho thu nhập cao gấp ba lần lúa. Thu nhập ấy chịu được chi phí cho tôithuê đất. Hạo từng thuê đất nhiều nơi. Có năm anh thuê tới trên trăm hecta. Và cuốicùng anh chọn được vùng này là hợp với cây khoai lang hơn cả. Hạo cũng tìmđược cách dừng chân ở đây cho cây khoai lang của mình. Dưới những hình thứccụ thể khác nhau sự tích tụ đang diễn ra ở đây. Quy luật vẫn luôn luôn là quyluật. - Trong vùng khoai này anh Thưởng ạ, có một miếng đất đối với tôi là cựckỳ quý giá. Hạo chỉ tay cho tôi thấy miếng đất khoảng hơn một trăm mét vuông.Trên đó tôi chỉ thấy lèo tèo những dây khoai lang, lá xanh lá nâu xen lẫn. Khôngbiết là đám khoai đó cực kỳ quý giá với anh ta ở chỗ nào. Chừng như hiểu được ánh mắt của tôi, Hạo tiếp lời. Đó là miếng đát tàngtrữ các loại giống khoai của tôi đó. - Các loại giống khoai ? - Đúng. Trên thế giới có tất thảy 64 giống khoai lang khác nhau thì ở đâyHạo có 32 giống. Trước đây vườn nhà chỉ có 22 giống. Mới đây, các anh ở ViệnLúa ĐBSCL đến thăm, Hạo đổi được thêm 10 giống nữa. Bỏ công bao năm trờisưu tầm đã để lại cho Hạo một kho tàng trên miếng đất đó. Tôi để ý khi nào khoáichí anh ta xưng tên. Khi thân mật anh ta bỏ đại từ “ Tôi”, xưng “ Em”. Trong khoảng nửa tiếng đồng hồ tôi nghe Hạo say sưa kể về việc sưu tầmkhoai lang giống trong nước. Những người nông dân chân lấm, tay bùn trực tiếp lao động như chúng tôi đã biết tìm bệnh cây bằng kính hiển vi, bán sản phẩm qua mạng internet, giao dịch với khách hàng bằng e-mail, thanh toán bằng tài khoản ngân hàng, quản lý sản xuất bằng vi tính, giám sát sản xuất bằng viễn kính và camera. Trang trại còn đầu tư một thư viện có đến vài ngàn đầu sách để bổ trợ kiến thức sản xuất và kinh doanh. Một công viên nho nhỏ có vườn trồng cây lưu niệm mãi mãi ghi nhận bước chân của các nhà lãnh đạo, các nhà khoa học, các thương gia trong và ngoài nước đến thăm. (Trích báo cáo của Ba Hạo) 11
  12. 12. Từ trong nhà bước ra, một vị khách nước da sẫm, tướng hơi to con tay cầmcặp samsonai. Vị khách này bước vào chiếc taxi và xe chạy nhanh ra hướng HàNội. Vị khách hơi nhoài người tới trước dặn người lái: - Cậu chạy ra đường 5 đi Hải Phòng. Cậu cứ chạy tới. Khi nào cần dừng xetôi kêu. Đi bao nhiêu cây số và mất bao nhiêu thời gian dừng xe chờ đợi cậu tínhtiền tôi trả đầy đủ. Qua cầu Chui Gia Lâm xe quẹo vào đường 5 và bon bon chạy tới. Khi đóhai bên đường 5 còn thông thoáng chứ không chật chội những xưởng máy, khohàng và trụ sở doanh nghiệp như ngày nay. Vị khách chăm chăm nhìn qua cửakinh sang những cánh đồng bên lộ xe đông đúc. Vị khách kêu: - Dừng xe. Vị khách tự mở cửa xe ra ngoài. Ông ta đi thẳng xuống cánh đồng. Đếnđúng những mảnh ruộng trồng khoai lang. Ông ta đi sâu vào một ruộng khoai, rồihai ruộng khoai. Mỗi nơi, ông ta ngồi xuống bên rãnh khoai xem xét. Cũng córuộng ông ta bới gốc, rút ra con dao nhíp nhẹ cắt lấy một nhánh dây. Ông ta cuộnnhánh dây bỏ vào một cái túi nilon rồi trở lại đường quốc lộ lên xe giục lái xe đitiếp. Cứ vậy ông ta dừng xe hàng chục lần. Mặc dù đã chùi giày cẩn thận mỗi khivề xe, vị khách nọ cũng đưa vào xe vô khối đất vụn. Xe tới Quán Toan địa đầuvào thành phố Hải Phòng vị khách kêu người lái xe chạy tới. Tới khi vào phố đông, không còn những ruộng khoai, vị khách kêu ngừngxe tính tiền. Người lái xe nhìn đồng hồ cây số tính tiền. Và rồi cả tiền cây số cảtiền chờ người lái tính thành tiền là 1.200.000 đồng. Vị khách vui vẻ trả tiền, ômmớ bọc dây khoai trở vô khách sạn. Vị khách gây tò mò cho người lái xe taxi chẳng phải ai xa lạ, chính là ĐỗQuý Hạo. Lần đó anh ta được mời ra Hà Nội dự một hội nghị. Có một ngày nghỉanh ta thuê xe lên đường 5 sưu tầm giống khoai. Chuyến đi qua bốn tỉnh Hà Nội,Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng đó, trên 20 lần dừng lại các ruộng khoai, Hạotốn một triệu hai trăm ngàn đồng và lấy được bốn giống khoai mới. Chuyến đitính ra cũng bộn tiền vì giá xăng khi đó mới có chưa đến 7.000 đồng một lít. *** Vậy là trong ba năm trời, mọi khâu về kỹ thuật trồng khoai lang đều đãđược Ba Hạo tính toán và làm xong. Và chắc rằng những gì bất trắc về kỹ thuậtcó thể xảy ra trên ruộng khoai của mình, Đỗ Quý Hạo đều có thể giải quyết được.Tôi cứ nhớ mãi một câu Hạo đã nói với tôi trong lần gặp nhau này. - Hiện bây giờ và mãi về sau tôi sẽ chỉ làm khoai lang. Nhưng từ nay tôi đãlà một công nhân nông nghiệp rồi đó. Tôi thấy rõ nét tinh quái trên khuôn mặt Ba Hạo khi anh ta nói câu nói này.Tôi cho rằng có một người nông dân đã trở thành công nhân ngay trên đồngruộng của mình. Bước tiến ấy cũng thật thú vị đấy chứ. 12
  13. 13. 3. Lại nói đến cái Website của Đỗ Quý Hạo. Cả chục năm trời anh chàng mơđến một cái Website riêng thì đến năm 2007 Hạo cũng làm được. Tuy nhiên khivào được mạng thì anh ta mới biết rằng đã có một Website khoailangbahao.comđã nằm chình ình ở đó. Hóa ra Hạo đã chậm chân hơn một ai đó. Hạo cắn răngchịu sự chen ngang này. Anh chàng uất lên vì ước mơ của mình đến lúc hiện thựcthì lại bị phá đám. Hạo thương lượng với chủ kia để sang lại cái tên miền mà đãbao năm mơ ước. Anh chàng nhận được một cái giá kinh hồn: 10.000USD! Cuốicùng anh ta đành phải lấy tên cho Website của mình là khoailangbahao.com.vn.Hàng năm trời Hạo cứ thắc mắc vì sao cái tên miền ấy lại bị lọt ra ngoài và bịchiếm trước. Mà thật ra về nội dung cái website kia cũng chẳng có mấy chuyệnvề khoai lang, toàn là thông tin bạc nhạc. Ba Hạo mới nhớ rằng, trên một vài diễnđàn cả ở trong nam và ngoài bắc, Hạo từng công khai nói lên mơ ước của mìnhvề việc lập một Website với tên miềm như thế. Nói chuyện đó, có vẻ như Ba Hạomuốn công khai xí phần trước cái tên miền thú vị của mình. Để rồi đến lúc Hạomới ngã ngửa ra là thời đại mới có những “luật”, những lối chơi riêng mà ta phảihội nhập. Một lối chơi mà mình không chấp nhận không được. Càng ấm ức vềviệc những thông tin của mình sẽ bị nhiễu trên mạng, Hạo càng hiểu thêm rằnghóa ra cái tên miền của mình cũng đáng đồng tiền. Và đúng như mơ ước lâu nay của anh khi đã thành hiện thực. Bốn thángsau khi Website lên mạng, khách hàng đầu tiên từ Nhật đã tìm tới. Khoai lang BaHạo đã tìm được tới khách hàng. Việc mua bán tuy chưa được trực tiếp, nhưng sovới trước đã giảm được nhiều khâu trung gian. Và cũng từ việc tham gia mạngHạo tìm được không biết bao nhiêu là thông tin bổ ích. Hóa ra sản lượng khoailang trên thế giới là 127 triệu tấn năm. Trong đó Trung Quốc chiếm 90 triệu tấn.Tuy nhiên cái anh chàng to đùng ấy có trong tay tới 80% sản lượng khoai langthế giới này không sẵn lắm những giống khoai ngon. Như khoai tím Nhật chẳnghạn, gần như toàn bộ sản lượng loại này Ba Hạo bán tại Quảng Châu. Giốngkhoai này lại đang chiếm một ưu thế trên cánh đồng khoai Ba Hạo. Một thông tinấy thôi đã cho Hạo bao nhiêu ý tưởng làm ăn mới mẻ. Đó là cách anh ta quyếtđịnh chọn lựa quy trình sản xuất, là việc nghiên cứu cải tạo giống trong phòng thínghiệm và trên cánh đồng khảo nghiệm mà Hạo tiếp tục làm không chỉ với tưcách một người thợ trồng trọt mà là công việc của nhà nghiên cứu. Ba Hạo kể rất chi tiết cho tôi nghe về những con số, những tên gọi, nhữngký hiệu… Có những tên gọi ngoại ngữ anh ta ghi lại cho tôi trên một miếng giấy.Có lẽ tại bởi khó khăn của anh ta trong việc phát âm ngoại ngữ và khó khăn hạnchế của tôi về tiếp nhận tiếng Anh mà Ba Hạo làm vậy. Âu cũng là để thuận lợicho cả hai chúng tôi. Phải tiếp xúc với những kiến thức ấy bao nhiêu lần anh ta 13
  14. 14. mới thuộc vanh vách như vậy? Ba Hạo đã học tập như thế nào? Đó là một câuchuyện rất dài và rất nhiều chi tiết. Sau mấy tiếng đồng hồ lang thang trong siêu thị sách Lê Lợi về nhà anh tarất phấn chấn. Những quyển sách mà anh ta ôm về là nguyên nhân của niềm vuiấy. Đặc biệt là cuốn sách viết về Feramol - Bẫy dụ bọ Hà của giáo sư tiến sĩNguyễn Công Hào. Trong nhà sách, đứng dựa lưng vào một bên giá sách, anh tađã đọc cả tiếng đồng hồ cuốn sách đó. Thoạt đầu anh ta đọc mục lục. Thấy hayanh ta đọc lướt một vài trang. Rồi anh ta đọc kỹ đoạn nói về nguyên tắc chế tạomột Feramol. Anh ta nghiệm thấy một điều là các nhà khoa học thực sự viết sáchcũng không rắc rối lắm. Kể cả những vấn đề rất chuyên sâu cũng được các tác giảxịn đó viết ra thật dễ hiểu. Điều quan trọng là người đọc có hứng thú với đề tàiđược đề cập đến trong sách hay không. Về nhà anh ta bỏ mọi việc đó ôm cuốnsách lên võng nằm. Rất từ tốn anh ta ngốn hết chương này đến chương khác.Cũng có chỗ khó hiểu anh ta phải nghiền ngẫm. Có chỗ anh ta đánh dấu lại để rồinghiên cứu tiếp. Đọc gần hết cuốn sách anh ta đã nghĩ tới việc phải tìm cho đượctác giả để làm quen và hỏi thêm một số điều anh ta đã đánh dấu trong sách. Mấy ngày sau anh ta gọi điện thoại tới nhà xuất bản. Cô trực tổng đài choHạo số điện Ban Biên tập. Từ đó anh ta có số điện thoại Trung tâm Khoa học tựnhiên Quốc gia. Rồi anh ta có tiếp số điện thoại Phân viện Hóa học các hợp chấtthiên nhiên, bởi giáo sư tiến sĩ viện trưởng Nguyễn Công Hào phụ trách phânviện đó. Rồi cứ thế, anh ta phải mất gần 20 cú điện thoại mới gặp trực tiếp trênmáy vị giáo sư viện trưởng… Hóa ra gặp được ngài giáo sư tiến sĩ viện trưởngtuy rắc rối một chút song cũng không khó gì mấy. Bởi giáo sư đã được nghe mấyvị khác nói về anh nông dân Đỗ Quý Hạo nên anh ta có thể nói thẳng vào nhữngthắc mắc của mình từ cuốn sách anh ta đã đọc. Và sau đó chính giáo sư NguyễnCông Hào đã đưa ngay đề tài của mình về thực hành ngay trên cánh đồng khoaiBa Hạo. Lần đó Hạo được học, được làm đến thỏa mãn một đề tài khoa học cấpquốc gia. Chính vì tìm gặp được các nhà khoa học mà Hạo có thể giải quyết đượcnhiều vấn đề nảy sinh trên cánh đồng khoai. Anh ta cũng tích lũy được nhiều kiếnthức trên nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Nhiều GSTS ở Đại học Nôngnghiệp I Hà Nội cho Hạo sách đoc và tư vấn cho anh ta về cây khoai lang, dinhdưỡng cây trồng và nguồn gốc đất đai. Giảng viên kỹ sư Nguyễn Thị Nghiêm vànhiều thầy cô giáo ở Đại học Cần Thơ giúp cho Hạo những kiến thức về truyềnnhiễm, nấm, vi rút, vi khuẩn… bệnh cây. Các GSTS Nguyễn Văn Luận, Lê VănMạnh ở Viện Lúa Đồng bằng Sông Cửu Long thì tư vấn cho Hạo những kiếnthức về sự quang hợp, tích lũy và vận chuyển tinh bột của cây khoai lang. TạiViện Khoa học kỹ thuật miền Nam có Thạc sĩ Nguyễn Quang Chơn, và TSNguyễn Văn Nghĩa truyền đạt cho Hạo kiến thức về đất, vi sinh và chế phẩmcông nghệ cao. Hạo còn được dự thính nhiều khóa học về kinh tế tại Đại học An 14
  15. 15. Giang. Trung tâm Khuyến nông Kiên Giang hỗ trợ cho Hạo về thổ nhưỡng, mùavụ,… Đỗ Quý Hạo không phải là một nhà nghiên cứu, cũng không phải một họcgiả, chắc chắn là như vậy. Những kiến thức tổng hợp và việc thực hành chăm chỉ,khoa học trên cánh đồng giúp anh hiểu cây khoai lang một cách toàn diện, triệtđể. Với Hạo cuộc đời cây khoai lang chẳng khác cuộc đời một con người. - Cây khoai sinh trưởng trong 130 ngày. Hai tháng đầu tôi can thiệp vàođời sống của nó mọi biện pháp tích cực nhất. Những biện pháp nhằm giúp nóphát triển tối đa bộ máy quang hợp, tích lũy tinh bột. Từ tháng thứ ba tôi để nóphát triển tự nhiên, không can thiệp nữa. Khoảng thời gian này đủ cho cây khoaichuyển hóa tất cả những gì mà nó đã tiếp nhận được từ tay tôi. Để rồi đến lúchiểu rằng nó phải chuyển toàn bộ tinh bột xuống củ. Củ khoai, đó là di sản thừakế loài khoai lang để lại cho con cháu… Trở lại câu chuyện bên cánh đồng khoai. - Còn đây là miếng vườn khảo nghiệm. Nó cũng giống như là đi trinh sáttrong quân đội. Có lẽ đôi mắt tròn xoe ngạc nhiên của tôi khiến Hạo ngưng lời.Anh ta nhìn lại tôi với nụ cười tinh quái. Đúng. Công tác trinh sát. Tôi có đi bộđội chứ bộ. Bốn năm dẹp loạn Pôn Pốt ở Campuchia đó. Khảo nghiệm để tìm raquy trình sản xuất phù hợp cho mỗi giống khoai trồng ở ngay tại đất Mỹ HiếpSơn này. Khảo nghiệm nói thì lớn song chính là tôi phải tìm ra cho được mật độtrồng, cách làm đất và công thức phân bón cùng những quy luật chăm sóc khácthích hợp cho mỗi giống. Ví dụ nhờ tự khảo nghiệm tôi rút ra với khoai sữa thìgiảm kali, manhê, tăng boron; Với khoai Benga Raoma thì tăng đạm, tăng kali,giảm nitơ… Việc này cũng rắc rối và rất tốn thời gian. Bởi tôi phải tìm ra chínhxác liều lượng của những tăng giảm ấy. Hơn nữa còn phải tìm công thức tối ưu.Có nhiều giống khoai để làm gì nếu không tìm ra được giống cây ngon nhất, năngsuất cao nhất, tiêu thụ tốt nhất trong thị trường xuất khẩu? Chưa nói đến việckhảo nghiệm không chỉ là phục tráng giống mà còn phải tìm ra cách cải tạo, nângcao chất lượng giống khoai. Trên miếng đất rộng hơn 100 mét vuông. Mỗi vụ anh ta khảo nghiệm sáuloại cây giống. Mỗi năm hai vụ, với 34 giống khoai đang có, anh ta phải mất banăm mới giáp một vòng khảo nghiệm. Vòng sau là những khảo nghiệp sâu hơncho những giống khoai chọn lọc ban đầu. Những giống khoai triển vọng Hạođang theo dõi vụ này đã cho những kết quả thú vị. Cái giống khoai Viên Điền ấy,thiên hạ đã bỏ đi. Bởi đó là loại khoai nhạt nhẽo, nhiều sơ. Nó vô duyên với cảnhững cái bụng đói chứ không nói đến cái thú ăn chơi, ăn cho vui miệng. Vậy màsau mấy lần khảo nghiệm, giống khoai Viên Điền ở trang trại Ba Hạo cho rấtnhiều tinh bột. Khoai này dùng nấu rượu cực kỳ hiệu quả. Thoạt đầu Hạo đã tínhbỏ loại này, sau anh ta cứ đưa vào khảo nghiệm bởi anh ta muốn củng cố, xácđịnh chính xác độ tin cậy phương pháp khoa học của mình. 15
  16. 16. Cũng vậy, những giống khoai Bí Nhật, Tím Nhật, Nhân Ngọc, TầuNghẹn… ngoài đời chúng cũng là những giống bình thường thôi. Qua khảonghiệm ở trại khoai Ba Hạo chúng nổi rõ những phẩm chất không ai ngờ. Nhữngcủ khoai Bí Nhật trở nên ngọt như chấm đường. Miếng khoai Nhân Ngọc mềmngon như củ ấu. Lát khoai Tầu Nghẹn luộc xong ăn chẳng khác gì miếng bánhin… Và sự thực thì thương hiệu Khoai lang Ba Hạo đang chiếm được niềm tin.Anh ta làm quen với anh ta. Bởi kể : mấy người bà con ở Tuyên Quang có gọiđiện vào hỏi thăm: Có mấy cái xe tải chở khoai lang lên vùng núi ngoài đó. Bênngoài thành xe tải họ treo tấm băng - rôn ghi Khoai lang Ba Hạo. “Vậy có đúnglà khoai lang của nhà mình không?” Hạo nghe tin điện thoại đó mà cứ thấy tê têvùng rốn. Còn tôi biết khoai lang Ba Hạo từ ngày chưa con kênh Rạch Giồng bênvườn sau nhà tôi mấy ngày không nghe người ta rao bán “Khoai lang Ba Hạo”. Khi khởi nghiệp gia đình tôi chỉ canh tác có hơn 2 công đất năng suất thấp. Sau 25 năm đến nay diện tích tăng 200 lần, năng suất tăng 7 lần, và sản lượng tăng hơn ngàn lần. Hiện nay mỗi năm tôi canh tác trên dưới 100ha sản lượng 2000 đến 3000 tấn khoai lang. Trên cánh đồng khoai lang chúng tôi đã sản xuất bằng cơ giới hầu hết các khâu từ cày, sới, lên luống, bón phân, phun thuốc, tưới tiêu, thu hoạch. Chúng tôi đang ứng dụng đạt kết quả các giải pháp theo tiêu chuẩn LOBAN GAP. (Trích báo cáo của Đỗ Quý Hạo) Tất nhiên là khảo nghiệm thì chỉ cho mình hiểu biết cách thức trồng trọt đểđạt hiệu quả cao nhất. Còn việc chọn giống nào để trồng thì phải kết hợp cả khảonghiệm với nghiên cứu mùa vụ và thị trường mới có quyết định chính xác. Tôi chợt nhớ ra một vấn đề khác nên hỏi tiếp: - Dân gian có câu “Khoai ruộng lạ. Cá ao quen”, ông trồng khoai chuyêncanh trên một vùng đất như vậy liệu có vấn đề gì xảy ra về công nghệ? Chừng như vấn đề này cũng đã được Hạo xem xét từ lâu. Anh ta trả lờimau mắn: - Sở dĩ người ta tổng kết luận “khoai ruộng lạ” cũng bởi sẽ xảy ra hai vấnđề nếu ta làm đất chuyên canh. Một là, sâu bệnh. Hai là, đất sẽ bị cạn kiệt dinhdưỡng. Về sâu bệnh mình đã chắc chắn là cây khoai có mấy loại bệnh chủ yếu:nấm thối dây lá, nấm thối mềm củ và nấm chết nhánh… Cái bệnh nấm thối mềmcủ có thể làm hại tới 80% sản lượng. Song mình đã biết thuốc và biết cách phòngtrị thì cũng không đáng quan ngại lắm. Bởi vì không chỉ chống và trị bệnh màmình còn có biện pháp phòng bệnh nữa thì kết quả cũng khá triệt để. Còn nhữngphát sinh do đất thoái hóa, cạn kiệt dinh dưỡng thì mình biết rõ quy luật sinh 16
  17. 17. trưởng và nhu cầu chăm sóc của từng giống khoai, lại đảm bảo thêm bằng giảipháp vi lượng thì cũng có phương sách lâu dài. Và hơn nữa, em vẫn đang tiếp tụckhảo nghiệm mà. Đỗ Quý Hạo đưa ánh mắt nhìn xa xăm rồi nói: - Đây cũng chưa hẳn đã là phương án tối ưu cho những năm tới. Nhiều lúcem cảm thấy bị bó buộc vì cái sản lượng khoai lang hiện có rồi. Anh ta nhoàingười tới gần tôi trầm giọng tâm sự. Chắc chắn là phải tính đến một cái nhà máychế biến khoai lang tại đây thôi anh ạ. Em nghĩ là cha con em phải làm và sẽ làmđược. Tôi nhìn anh ta. Ôi con mắt ấy chưa bao giờ tôi thấy nó thật như lúc này.Tôi phải chuyển góc nhìn ra khỏi đôi mắt của anh ta. Chợt nhớ câu châm ngôn của Ba Hạo. Nhà ta coi chữ hơn vàng. Coi tàihơn cả giầu sang bạc tiền. Nay thì họ đã có cả cái hơn và cái kém. Cả chữ và cảvàng. Cả tài năng và bạc tiền, và đôla. Vậy mà anh ta còn muốn hơn nữa. Có một điều tôi nghĩ cả năm nay mà tôi chưa nói với anh ta và chắc là anhta cũng không biết. Con đường anh ta đã đi hai chục năm nay, phải chăng chínhlà con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nước ta? Một con đườngĐảng ta đã ghi rất rõ trong đường lối của Đảng. Tôi nói vậy không biết có quá lời hay không. 17
  18. 18. LÀNG TRƯỚC SÓNG Trần Cụng Sử Đó là một làng biển. Hẳn như vậy! Làng ấy nổi tiếng đấy! chẳng những thế mà khoảng hai mươinăm nay kể từ bài báo của Thế Nghĩa - phóng viên báo nhân dân thường trú tạiThanh Hóa cho in trên báo nhân dân với cái tên rất gợi “làng ăn mày QuảngThái” có thờ ông thành hoàng là “người ăn mày”, “Thần ăn mày”... bỗng dưngnổi lên như cồn. Người ta truyền miệng nhau hư hư thực thực về cái thần phảvừa bí hiểm lại vừa diễu cợt rằng con cháu trong làng hàng năm có cái tục ănmày về cúng cụ thành hoàng thì mới làm ăn yên ổn, phát đạt. Điều ấy thành lệlàng “hoành tráng” vào dịp mùng một tháng hai âm lịch hàng năm cúng tế linhđình, trai thanh gái tú thì khiêng kiệu, rước lọng, các cụ già thì tế lễ hàng dọchàng ngang hết ra biển làm lễ cầu ngư, lại vào đồng làm lễ cầu nông. Đó là chínhlễ. Còn việc ăn uống của làng thì phải vài ba ngày mới gọi tạm xong, còn có nhàthì rả rích dăm hôm mới thỏa. Nào là khách xa, bạn gần mời mọc nhau đến kỳ nosay mới được trở lại nhà, nào là từ ông già cho đến thanh niên những ngày này rađường rượu say túy lúy, chân nam đá chân chiêu... Sau những ngày cúng cụthành hoàng, con cháu trong làng lại “bị, gậy” lên đường có lúc đến trắng làng đểmong “hành khất” no đủ, để rồi đến dịp mùng một tháng hai kéo nhau về cúngcụ. Lại còn có cả tin đồn ủy ban nhân dân xã cấp giấy thông hành cho dân đi ănxin... Thật thế ư? Chẳng nhẽ có một ông thần ăn mày siêu phàm đến thế ư? Sựsiêu phàm của cụ xui được cả chính quyền sở tại cấp giấy thông hành? Chao ơi,chuyện cứ như từ hành tinh khác truyền về chứ làm gì có một làng quê kỳ lạ đếnnhư vậy? Nhưng mà tên làng, tên xã có thật trên bản đồ hành chính của quốc gianày, làm sao mà từ hành tinh khác bay đến đây! Thế là tin lành đồn xa, tin dữ đồnxa thu hút sự tò mò của bao người đối với làng Quảng Thái, báo chí thỉnh thoảngnói về làng, dư luận thêu dệt về làng không chỉ người hàng tỉnh biết mà người cảnước biết về một cái tên làng Quảng Thái như một “thương hiệu đau buồn”... Tôi vốn là bạn chiến đấu với anh Cao Tiến Việt ở Binh đoàn Cửu Longngười ở làng này, hiện nay là Chủ tịch xã Quảng Thái. Nhiều lần anh mời tôi vềchơi, nhưng do bận bịu công việc, đường sá xa xôi, với lại từ ngày phục viên vềquê, phải lo bao nhiêu thứ của hậu phương người lính mà cái nghèo, cái đói cứbám riết, đành làm một cuộc “cách mạng” đưa cha mẹ, vợ con lên miền núi tỉnhHòa Bình xây dựng kinh tế mới, mãi sau này anh em mới liên lạc được với nhau.Thế mà chuyện làng Quảng Thái của Việt cũng bay lên đến tận miền núi nơi tôiđang sinh sống. Vốn là cộng tác viên của báo Binh đoàn trước đây, khi nghe tin 18
  19. 19. đồn như vậy, tôi điện cho Việt để hiểu thực hư thế nào thì được Việt nói rằngchuyện nó dài lắm, khi nào có điều kiện mời ông về chơi với nhau dăm bữa, nửatháng may ra mới nói hết với ông được. Nhân việc cùng anh em cơ quan đi nghỉhè ở Sầm Sơn tôi mới có dịp về thăm Việt và gia đình theo chỉ dẫn của anh quađiện thoại và dự định ở lại chơi mấy hôm còn thăm vài thằng bạn chiến đấu quê ởven biển Quảng Xương, Tĩnh Gia. Buổi chiều, khi cái nắng tháng bảy đã dịu, tôi bắt chiếc xe ôm về QuảngThái. Người lái xe ôm cũng đã đứng tuổi, có bộ ria mép đậm nhưng không đượcchăm chút nên có mấy cái đã chờm qua môi trên. Với một giọng tự tin, liếnthoắng, anh nói với tôi: - Ông về Quảng Thái, về làng ăn mày à? Dễ thôi, 15 ngàn đồng, chỉ vàichục phút là đến ngay. - Sao? Anh cũng biết đó là làng ăn mày à? - Thì người ta đồn ầm lên đấy thôi! Mà nghe nói bây giờ dân ở đấy giàu cólên là cũng nhờ “ăn mày” đấy! - Hóa ra anh cũng chỉ nghe nói... - Người ta còn nói là thờ ông thành hoàng là người ăn mày rất thiêng... - Thế à? Câu chuyện lúc được, lúc chăng thì chiếc hon đa đã đưa chúng tôi về đếnQuảng Thái. Tôi hỏi thăm chủ tịch Cao Tiến Việt thì mọi người đều nhiệt tình chỉlối. Chẳng mấy chốc tôi đã có mặt tại nhà chủ tịch xã Quảng Thái. Vì đã điệnthoại hẹn nhau nên khi tôi đến, Việt đã đợi ở nhà. Anh em tay bắt mặt mừng vìlâu ngày mới gặp nhau. Việt gọi vào trong bếp: - Em ơi, anh Sử về chơi. Chị Đụa - vợ anh đang nấu trong bếp nghe cókhách ra chào: - Bác đi đường xa có mệt lắm không? Anh Việt nhà em nhắc bác luôn đấy. - Dễ đến hơn hai chục năm anh em mới gặp nhau nên cái mệt tan biến đâumất rồi. Tôi cười. - Em bận bếp núc một tý, hai anh em nghỉ ngơi rồi chuẩn bị cơm nước. ChịĐụa vào bếp... * * * Sau khi tôi và Việt tắm táp xong thì bữa cơm tối cũng được dọn ra trênchiếc chiếu hoa trải ở hiên nhà. Chiều xuống nhanh, chỉ còn một vệt sáng yếu ớthắt lên rặng dừa trước mặt. Bóng đêm đã bắt đầu bò ra. Vẫn những cơn gió biểnthổi vào lồng lộng, mát mẻ. Một mâm cơm thịnh soạn toàn là đồ ăn hải sản nhưcua biển luộc, mực hấp, cá thu sốt cà chua, tôm he, rau nộm và vài món ăn ở biểntôi không kịp nhớ hết. Bữa cơm có cả nhà cùng dự. 19
  20. 20. - Hôm nay khách quí từ rừng núi xa xôi Hòa Bình về với biển, chỉ chiêuđãi ông bạn toàn đồ biển thôi đấy nhá. Đây thì có bia, có rượu ông thích gì cứ choý kiến. - Toàn thứ hải sản này thì dùng rượu là hợp phải không? Tôi trả lời. - Đồng ý! Một hũ rượu ngâm rắn biển mà dân địa phương gọi là “đẻn”được Việt mang ra! Trong bữa cơm, anh em ôn lại những chuyện xưa kia ở chiếntrường, chuyện hậu chiến trở về địa phương mưu sinh gian khổ, vất vả, vật lộnvới đời thường, với những thăng trầm năm tháng tồn tại để vượt lên... Bữa cơmvừa xong thì có một vài người nữa đến chơi, người nào cũng lực lưỡng, cánh tayrắn chắc, nước da đỏ au. Người thì chào chú, người thì chào mợ, người thì chàochủ tịch... và họ không quên chào tôi: chào ông. Ấm nước chè xanh chị Đụa bê racòn nóng, khói nghi ngút, hương vị thơm mát. Chị rót ra bát mời mọi người. Họvừa uống nước, vừa hút thuốc lào và tán gẫu. Họ nói chuyện với nhau về thời tiết,về đi khơi, đi lộng... Những kinh nghiệm đi biển của mình đều được trình làng.Một người trạc bốn mươi tuổi cất giọng: - Làm thằng ngư dân ở vùng biển bãi ngang này chỉ khổ suốt đời thôi. Đikhơi không được. Sắm thuyền thì không chỗ neo đậu, chỉ vài cái bè rách kéo lênbãi, đẩy xuống sóng chạy ra vài sải nước đánh chồng, đánh chéo lưới lên nhau thìlấy đâu ra cá... Không như trong miền Nam, thuyền đi khơi dăm bảy ngày, khinào đầy ắp cá thì mới về. Như vậy, thì sao nói là họ không no, không giàu? Nóicó ông bạn của chủ tịch thông cảm cho, ngư dân vùng bãi ngang như chúng tôikhổ như con chó. Bây giờ đang mùa biển thì ở nhà, dù thu hoạch không được làbao, nhưng nó sướng vì mình làm chủ được cái nghề của mình. Dăm bữa, nửatháng nữa biển động triền miên thì kéo nhau đi đánh cá thuê cho thiên hạ... Lạibài ca Phan Rang, Phan Thiết, Bà Rỵa - Vũng Tàu... hãy lên đường thôi anh emơi... Cái giọng hài hước của anh ngư dân làm mọi người cười rộ. Họ còn chenvào vài câu chế diễu hài hước về nghề biền, đánh cá biển làm cho không khí vuihẳn lên... Trong lòng tôi lắng xuống. Chẳng nhẽ nghề biển ở đây khắc nghiệt đếnthế ư? Qua câu chuyện của họ, tôi biết được họ không thuần túy là những ngườibám trụ ở làng. Bởi những địa danh họ kể, những con người họ từng gặp, nhữngcuộc vật lộn với biển cả xứ người... Trong lòng họ luôn có một khát khao trở vềsống giữa quê hương, làm sao cho quê mình giàu có, nghề biển quê mình khấmkhá hẳn lên... Trăng mười tám nhô khỏi rặng dừa trước mặt, sân nhà Việt trànđầy ánh trăng, tràn đầy những câu chuyện biển... Khuya, mọi người lục tục ra về.Chị Đụa thu dọn xong cũng đã đi nghỉ. Những ngọn gió biển vẫn đều đặn thổivào, bầu trời vằng vặc trăng sao. Việt hỏi tôi: - Ông thấy dân biển thế nào? - Hào sảng, ăn to nói lớn, vui vẻ và mến khách! Tôi cũng chỉ trả lời bẵngnhững cảm nhận ban đầu. 20
  21. 21. - Còn một đức tính nữa mà ông chưa hình dung nổi, đó là chịu đựng giankhổ, gan lì trước sóng gió, bão dông, và thẳng thắn... Việt nói. - Môi trường sống làm nên đức tính con người. Tôi khẳng định! Tôi đangđịnh nói điều gì liên quan đến môi trường sống, đến những điều đồn đại về làngcủa Việt mà tôi đặt ra trong chuyến đi thăm bạn lần này. Bỗng Việt hỏi tôi: - Ông có thức khuya được không? - Trăng thanh gió mát, không khí trong lành nên thơ như thế này mà ngủsớm thì có phí không cơ chứ?! - Ừ, thế thì được!Việt đồng tình. - Tôi muốn quan tâm một vấn đề mà đau đáu bấy lâu nay? - Chắc lại chuyện làng ăn mày Quảng Thái mà mấy năm trước ông gọi điệnhỏi tôi? - Đúng đấy! Chuyện ấy là như thế nào? Có phải làng ta có ông thành hoànglà thần ăn mày không? Ăn mày là lệ làng ư? Là nét văn hóa truyền thống vốn tồntại như một số làng ăn mày khác trong cộng đồng dân cư Việt Nam? - Trước hết khẳng định với ông bạn rằng: thành hoàng làng tôi là những vịquan lớn, đưa con dân về đây khai phá đất hoang lập đồn điền trên vùng cát trắngbãi ngang này. Thực hiện chính sách “Ngụ binh ư nông” dưới triều Lê ThánhTông. Không chỉ một vị thành hoàng mà làng tôi có tới hai vị thành hoàng, đó làông họ Tô và ông họ Uông. Còn tục ăn mày thì không có, nhưng dân đi ăn màythì có, thậm chí như một hội chứng dân ăn mày Quảng Thái. Có tiếng xe máy đếncổng rồi rẽ vào nhà Việt. Tiếng xe vừa tắt thì giọng nói oang oang đã tràn vàosân: - Các chú làm gì mà bây giờ chưa ngủ? - Anh đấy à? Anh ngồi đây uống nước. - Tao qua chỗ ông ngoại về ngang đây thấy còn đèn, còn người... - Đây là anh Sử bạn em từ Hòa Bình vào chơi, còn đây là ông anh Tô VũĐưa, đồng hao với tôi, cũng bộ đội về, nguyên là Bí thư đảng ủy xã này khóa1992 - 1994. Ôi, nói đến lịch sử làng thì ông anh rành lắm... Việt giới thiệu mộthồi và lái câu chuyện tôi đang nghe dở sang anh Đưa. Dáng vóc lực lưỡng, máitóc hoa râm, đặc biệt đôi mắt ánh lên sự thông minh của anh cùng với cái bắt tayrất chặt, giọng nói hồ hởi nên anh em chúng tôi làm quen với nhau rất nhanh. Hútđiếu thuốc lào, uống chén trà nóng, anh nối tiếp câu chuyện về làng. Làng có từbao giờ? Có tục ăn mày không mà nổi tiếng đến thế? Đúng là tốn bao giấy mựccủa cánh nhà báo viết về làng vừa đúng vừa sai. Vì sao như vậy ạ? Vì cánh nhàbáo về làng cũng chỉ gặp mấy ông xã rồi cưỡi ngựa xem hoa một vài nơi mà xãgiới thiệu, chỉ dẫn. Thế là tai đực, tai cái viết bài. Nhiều bài báo viết về làng đọcxong thấy tức anh ách, vì họ chẳng hiểu gì làng chúng tôi cả. - Ví dụ? Tôi cắt ngang. Anh Đưa uống thêm ngụm nước nữa và nói mộtmạch: 21
  22. 22. - Làng Đồn Điền chúng tôi thờ nhị vị thành hoàng và tứ vị thánh nương.Sự thật là như thế. Nhị vị thành hoàng là hai ông quan dưới triều Lê Thánh Tôngcó tên tuổi, có hàm vị hẳn hoi, đó là cụ Tô Văn Bảo tự chính Đạo và cụ UôngNgọc Châu. Riêng cụ Tô Chính Đạo thì tôi nắm chắc tiểu sử của ngài. Đó là cụthủy tổ của ba chi họ Tô làng Đồn Điền này. Trong tờ Thông tin họ Tô Việt Namsố 9, mục “Người họ Tô xưa và nay” in vào tháng 6 năm 2006 có ghi rất rõ: Quận công Tô Văn Bảo, thủy tổ họ Tô làng Đồn Điền, Thanh Hóa có xuấtxứ như thế này: “Ngài Tô Văn Bảo tự Chính Đạo thường gọi Tô Chính Đạo,người làng Bao Hàm, tổng Hổ Đội, huyện Thụy Anh, phủ Thái Bình, Trấn SơnNam. Thi đậu giải nguyên thời Lê Thái Tông, khoa thi 1438; được bổ nhậm chứcThanh Hoa Thừa Tuyên xứ - sứ thần. Khi nhỏ ham học, văn võ song toàn, cólòng độ lượng. Khi làm quan Thừa Tuyên ở Thanh Hoa được nhân dân khắpvùng kính trọng. Thời gian này, Ngài được đặc sai đi đánh dẹp giặc ChiêmThành ra quấy nhiễu vùng Nghệ An, ngày khải hoàn được phong tước Quậncông. Năm thứ 3 Quang Thuận- Hồng Đức (1461), ngài cùng đại thần Lê CôngBình phụng chỉ: Dụ dân lập ấp kiến an quốc nội, sử dụng lực lượng (tù nhân, tộiphạm) dưới sự quản lý của quân đội đi khai phá các sở Đồn Điền ở nam phầnThanh Hoa gồm ba huyện Nông Cống, Ngọc Sơn (Tĩnh Gia bây giờ) và Quảngxương của phủ Tỉnh Ninh. Lúc bấy giờ trên địa bàn Quảng Xương có nhiều sởĐồn Điền, riêng sở Đồn Điền (Quảng Thái) do sứ quan Tô Văn Bảo người BaoHàm và sứ quan Uông Ngọc Châu người Vườn Đào đảm trách. Doanh trại vàphủ quan đóng ở Đồn Điền (Quảng Thái), nên mới có tên làng Đồn Điền, dânquanh vùng có khi còn gọi là làng Sở hoặc sở Đồn Điền. Đến bây giờ làng cònlưu giữ những tên gọi mang dấu ấn thời xa xưa ấy như: Ngõ Trại, Đồng Phủ,Rào Quan, Đồng Trực, Bàn Cờ, Mả Chúa, Đồng Bể, ngõ ông Thầy... Ngoài sởchính Đồn Điền (Quảng Thái), các ngài còn góp công khai phá các sở vệ tinhnhư: Tào Lâm (Nông Cống), Tiên Linh, Cá Nổ (Ngọc Sơn), Lưu Vệ, Thái Lai, CôĐồng, Cô Bái, Thủ Phủ, Ngọc giáp, Bể Thôn (Quảng Xương)... Với công dẹp giặc cứu nước, xuất sắc thực thi chính sách: Kiến ấp chấnan quốc nội, tiến hành khai khẩn đất hoang, dụ dân lập làng tăng gia sản xuất,đồn trú dinh lũy phòng vệ biên cương. Ngài được Triều sau phong trật “phúcthần” và giao cho dân làng Đồn Điền phụng sự. Bản sắc Sắc: Thanh Hoa tỉnh, Quảng Xương huyện, Thủ Chính tổng, Đồn Điềnthôn phụng sự: Lê triều Đồn Điền quan Tô Văn bảo tự Chính Đạo chi tôn thần Hộ quốc týdân, niệm trước linh ứng tứ kim, Trẫm tứ tuần đại khánh tiết kinh ban bảo chiếuđàm ân lễ Long đăng trật, tước phong vị đoan túc: Dực Bảo trung hưng LinhPhù Phúc Thần chuẩn kỳ phụng sự thần kỳ tương hựu Bảo ngã lê dân khâm tai. 22
  23. 23. Khải Định Cửu niên, thất nguyệt, Nhị thập tứ nhật. Dịch sắc Sắc ban cho thôn Đồn Điền, tổng Thủ Chính, huyện Quảng Xương, tỉnhThanh Hoa phụng sự: Quan Đồn Điền triều Lê, Tô Văn Bảo tự Chính Đạo bậc tôn thần có cônggiúp nước, cứu dân một nỗi niềm thiêng liêng ứng nghiệm, tới nay gặp tiết ĐạiKhánh, Trẫm đã bốn mươi tuổi, Trẫm ban chiếu báo đáp ơn sâu, Lễ phong lêntrật Phúc thần bảo vệ sự nghiệp trung hưng đất nước; ta cho phép lê dân thờphụng, hãy kính vâng theo chiếu. Khải Định, ngày 24 tháng 7 năm thứ 9. ... Ngài Tô Văn Bảo tự Chính Đạo mất vào ngày mùng 4 tháng 4 âm lịch, dânlàng Đồn Điền lập đền thờ cùng với ngài Uông Ngọc Châu là nhị vị thành hoànglàng Đồn Điền. (Theo tài liệu của Hậu duệ đời thứ 14: Tô Ngọc Cừ đã qui tiên). - Anh có biết nhà ông Tô Ngọc Cừ ở đâu không? Chỗ ba cây dừa trướcmặt. Đấy là một gia phong, nho học. Chính nhờ có chữ mà từ các cụ đã ghi lại sửsách của làng cho con cháu sau này có thêm tư liệu để làm hồ sơ đề nghị côngnhận Nghè làng Đồn Điền là Di tích lịch sử văn hóa. Thế đấy! Vậy mà người tachẳng chịu tìm hiểu gì, gán cho các vị thành hoàng là người ăn mày, anh thấy thếnào? Có phải là bịa đặt không? - Thế còn lệ làng mùng một tháng hai? Tôi hỏi. - Đấy là chuyện về ngài Tiền chánh Lãnh binh thủy quân thời Lê: TôTrung Thành. Ngài là cháu nội của cụ Tô Chính Đạo, thuộc chi Tô Vũ chúng tôisau này. Chuyện kể lại rằng vào dịp tết Nguyên Đán, ngài Tiền chánh thủy quânđưa quân đi đánh giặc Chiêm Thành ra quấy nhiễu vùng biển Nghệ An. Khithắng lợi trở về triều đình thì các binh thuyền của ngài đi ngang biển quê, khi ấylà 27 tháng giêng, ngài truyền cho quân lính neo thuyền chiến lại và lên bờ thămnhà và dân làng. Nhân khúc khải hoàn ca trở về, ông khao quân lính và dân làngăn tết lại tại quê hương ba ngày. Đến ngày mùng một tháng hai thì ngài cùngquân lính xuống thuyền trở về triều đình. Dân làng nấu bánh chưng, giết lợn, gàcùng các sản vật của quê hương, hát xướng tiễn đưa đại quân xuống thuyền. Vàtừ đó cho đến nay trở thành ngày lệ làng ăn tết lại để tưởng nhớ công lao của ngàivà quân lính bận việc đánh giặc không về ăn tết cùng gia đình. Anh không biếtđấy thôi, bây giờ kinh tế khá thì dân làng ăn cả tết lớn và tết lại. Chứ như trướcđây, kinh tế khó khăn, có nhà nhịn ăn tết lớn để tập trung cho tết mùng một thánghai. 23
  24. 24. - Hóa ra là như thế! Tôi như được đắm mình trong không gian văn hóa củalàng qua giọng kể của anh Tô Vũ Đưa. Thế thì “nghề ăn mày” có từ bao giờ? Tôiđưa ra câu hỏi. - Xuất phát điểm từ sau cơn bão số 6 năm 1980. Khi ấy anh em mình đangở biên giới Tây Nam. Biết, mà chẳng làm gì được! Việt tiếp chuyện. - Nguyên nhân có từ đâu à? Đói! Thậm đói! Anh cũng biết rồi đấy, sauchiến thắng 1975, vừa khắc phục hậu quả chiến tranh lại vừa phải đương đầu vớicuộc chiến tranh biên giới bảo vệ Tổ quốc. Cái đói mang tính toàn quốc, nhưng ởvùng biển này thì đã đói lại còn rách rưới và khổ sở hơn nhiều. Khi tâm cơn bãosố 6 tràn qua đây vào giữa tháng 10 năm 1980, nhà cửa bị phá sạch, cây cối gẫy,đổ ngổn ngang, làng như một trận hủy diệt của B52. Nhiều trận bão trước đâycũng gây thiệt hại nặng nề, nhưng sau bão dăm bữa, nửa tháng thì biển lặng, tômcá được mùa. Riêng năm 1980 ấy lại thật oái oăm, sau bão, biển động một lèocho đến tết Nguyên Đán. Thế là đói, đói triền miên, đến ngọn rau má trong đồngcũng không còn mầm rễ để mọc. Anh em họ mạc, bà con chòm xóm lần hồi bữarau, bữa cháo với nhau cũng đã cạn kiệt. Không biết làm gì để sống. Trước tếtmột tháng, có một ông trong làng ra Quảng Ninh thăm con là bộ đội Hải quâncũng với mục đích xem có cứu đỡ được gì cho gia đình. Nhưng ra đến nơi thìtoàn bộ đơn vị của con chuyển ra đảo làm nhiệm vụ. Không gặp được con, ôngđành trở về nhưng tiền tàu xe không có. Ông nghĩ cách là đi bộ đến đâu xin ănđến đó rồi cũng về được đến quê. Cứ dọc ven biển mà đi, sẵn có nghề đánh cábiển có ai thuê vá lưới cũng được... Không ngờ đi đến đâu, khi nghe ông kể hoàncảnh bão gió, đói khát, ra tìm con không gặp ai cũng thương. Người thì cho tiền,người thì cho gạo, người thì thuê vá lưới... có người còn giúp cho việc bán gạomang tiền về cho nhẹ nhưng ông không đồng ý. ở nhà cần gạo, cần khoai chứ cótiền thì lấy đâu ra gạo mà mua. Gần một tháng trên đường ông cũng lên được tàuNam Định - Thanh Hóa và trở về làng với hai bì gạo gánh nặng trĩu vai. Ông chiagạo cho anh em họ mạc, bà con lối xóm mỗi nhà một ít ăn tết. Sau tết năm đóông đi, một vài người theo ông, rồi nhiều người theo ông, rồi thành phong trào cảlàng... Dân làng nói với nhau: “Thà đi ăn mày phúc thiên hạ còn hơn ngồi nhà ăncắp vặt của nhau”. Những năm 1982 - 1984 thấy không trụ nổi cảnh sống ở quê,nhiều gia đình đã tự nguyện xin đi xây dựng kinh tế mới ở các tỉnh phía Nam nhưĐồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh, Kiên Giang, An Giang, Đắc Lắc... Đến bây giờ,nhiều gia đình đã định cư ổn định, kinh tế phát triển, con cháu học hành giỏigiang. Nếu chỉ dừng lại như thế thì khi biển lặng phải ở nhà sinh sống, nhưngđằng này thì không. Họ so sánh giữa lao động biển và lao động “xin” thì lao động“xin” vẫn có hiệu quả kinh tế hơn, đỡ phải sắm ngư lưới cụ, tránh được những taihọa bất thường do biển đem lại. Nhiều người coi “xin” như là một nghề kiếmsống. Bất chấp sự dè bĩu của dư luận, từ ông bà già đến trẻ em rủ nhau lũ lượtlang thang. Đặc biệt, sau mấy mùa giáp hạt của năm 1987 - 1989, làng lại bị cơn 24
  25. 25. bão số 6 năm 1990 tràn vào, lần này cũng bị tàn phá không kém gì cơn bão số 6năm 1980, thậm chí năm ấy, trong vòng 10 ngày tới ba cơn bão tràn vào. Làngquê lại đứng trước một thử thách lớn, chưa thoát nghèo lại bị đói. Nghề biển thìmất trắng không thu hoạch, nếu có thu hoạch thì không đủ tiền mua khoai lang,mua gạo. Họ có những so sánh thật có lý, nếu đi đánh cá biển tròn một ngày giỏira mỗi ngư dân chỉ kiếm được từ một ngìn đến hai ngìn đồng là cùng, còn đi “ănxin” hay đi làm “cửu vạn” một ngày chí ít cũng được vài chục nghìn để ra sau khiđã trả tiền trọ và ăn uống mà không phải lộng, khơi khó nhọc. Thế là bài ca langthang, tha phương cầu thực không chỉ rộ lên ở làng Đồn Điền Quảng Thái mà nócòn kéo theo các làng, các xã chung quanh như Quảng Lưu, Quảng Hải, QuảngNhân, Quảng Lộc, làng Hà Đông cùng xã... Cái điều giản dị là phải sống, phảitìm nguồn sống, phải thoát cái đói! Trước cảnh làng quê xơ xác, trường học vắng bóng học sinh, có lúc tronglớp chỉ còn 5 - 6 em theo học, dư luận xã hội đàm tiếu, diễu cợt, Đảng bộ và đảngviên trong toàn xã họp trước hết phải làm gương vận động người thân của mình ởnhà. Có như vậy mới vận động người khác được. Nhưng hiệu lực của sự làmgương đó chỉ được thời gian ngắn, rồi không vợ, con thì anh em, cha mẹ, họ hàngcủa các Đảng viên lại “lên đường”. Hội chứng “ăn mày” làm nhức nhối dư luậnvà đau đầu lãnh đạo chính quyền địa phương. Huyện ủy xuống chỉ đạo, đảng ủyxã họp bàn ngăn chặn hiện tượng ăn mày ở Quảng Thái. Các tổ chức xã hội từTrung ương đến các nhà hảo tâm vào cuộc. Tại hội nghị huyện Đảng bộ huyệnQuảng Xương năm 1992, vấn đề tha phương cầu thực của bà con trong huyệnđưa vào chương trình nghị sự, tìm cách tháo gỡ. Hội thảo quốc tế trong chươngtrình nghiên cứu Việt Nam của Hà Lan về vấn đề Tha phương cầu thực ở QuảngThái được tổ chức vào tháng 7/1997 do Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Văn Tri lúcđó là Bí thư huyện ủy chủ trì và kết luận, đó là một hiện tượng xã hội mà trên thếgiới ở đâu cũng có. Như vậy, đây không phải là vấn đề tâm linh thờ phụng thầnăn mày như người ta thêu dệt. Trước hết, hãy gọi con em trở về đi học, tạo côngăn việc làm cho các gia đình, xin các dự án trong nước và quốc tế về hỗ trợ và ổnđịnh đời sống cho bà con không chỉ cho Quảng Thái mà cho các xã có đời sốngtương tự như Quảng Thái. Rồi bà con cũng đã trở về, lớp học lại đông như cũ.Nhưng cái đói chưa chịu buông tha cái xứ này. Hiện tượng “ăn xin” có giảm dần,người ta chuyển sang các công việc khác như đánh giầy, bán báo, bán vé số...nghĩa là vẫn cứ phải xa quê kiếm sống. Nhưng các cháu đã chịu ở nhà đi học, cácbậc cha mẹ cũng đã thấy được sự học hành tiến bộ của các con nên đã đầu tư.Phải nói, mất khoảng hơn chục năm dân Đồn Điền không có một học sinh nàovào được đại học hay cao đẳng. Bởi vì có học đến nơi đến chốn đâu mà thi cử!Chứ dân Đồn Điền đã học là giỏi nổi tiếng khắp vùng. Trước đây không năm nàolà không có học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, kể cả cấp quốc gia. Nhưng mấtkhoảng chục năm như vậy, anh thấy có đau không? Anh nói như một nỗi đau dồn 25
  26. 26. nén, tiếc nuối cho sự học của con em trong làng. Nhưng chục năm nay thì khác,trường lớp khang trang, các cháu đua nhau học. Hàng năm tỷ lệ thi đậu vào cáctrường đại học rất cao. Năm nào cũng có khoảng 15 - 20 em đậu vào đại học, đặcbiệt năm 2005 - 2006 đã có tới 36 em thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng.Tuy mang tiếng là làng “ăn mày” như vậy, nhưng từ trước đến nay con em củalàng cũng có nhiều người thành đạt trong xã hội. Hiện nay, cú cỏn bộ lónh đạoTrung ương, có cán bộ cao cấp trong quân đội, cán bộ các cấp từ tỉnh đếnhuyện... Đấy là niềm vui, là sự kích thích đối với quê hương. Còn các triều đạitrước cũng có các cụ Cử, cụ Tú. Đối với làng, đó như mạch chảy truyền thốngvăn hóa không thể không tự hào. Anh Đưa dừng lại uống nước và làm một hơithuốc lào, anh phả khói vào đêm dưới ánh trăng tan ra như một làn mây mỏngbay đi trong gió biển. Anh ngẩng mặt nhìn trời và nói: - Trăng mười tám vượt qua đỉnh đầu như thế này chắc phải hai giờ sángrồi. Tôi xem đồng hồ đeo tay và chính xác là 2 giờ 3 phút sáng. Anh Đưa xinphép ra về chuẩn bị lưới chài còn đi biển, hẹn tôi chiều hôm sau đến nhà chơi.Việt đề nghị tôi đi ngủ... * * * Khi Việt gọi tôi dậy đã hơn bảy giờ sáng. Tôi làm vệ sinh cá nhân xong vàăn sáng. Chị Đụa đưa ra một mâm bánh cuốn với cá biển kho và mắm tôm vắtchanh. Thứ mắm tôm đỏ au, đặc quánh mùi thơm lựng lần đầu tiên tôi thưởngthức, chỉ vùng biển này người ta mới làm được. Anh Việt rót ra hai ly rượu gọi là“chào buổi sáng”, bữa ăn đơn giản mà đậm đà vị biển. Biết Việt buổi sáng khôngbận công việc nên tôi đề nghị anh cho đi chơi quanh trong xã, trong làng. Cơmnước xong, chiếc hon đa chở hai anh em đi trên đường làng đã bê tông hóa vàchạy thẳng ra bãi biển. Mùa này biển lặng, ngoài xa có những chiếc mảng luồngđánh bắt hải sản, gần bờ có mấy người lội cà kheo đánh moi, nước ngập tận cổ.Đây đó trên bãi biển có những dòng người đang kéo rùng, họ nối vào nhau bằngmột sợi dây thừng, còng lưng đi lùi đối mặt với biển. Một bãi biển phẳng và đẹp,cát trắng mịn màng. Những con dã tràng xe cát nhỏ xíu như đang đùa dỡn vớisóng... Việt đưa tôi đến ngồi trên một cái mảng luồng hôm nay không đi biển.Chúng tôi ngồi và nhìn ra khơi xa. Ngoài kia, đảo Hòn Mê hiện lên xanh mồnmột, phía bên trái trên kia là núi Sầm Sơn. Ngồi trước biển, Việt nói những điềuchân thật. Anh tâm sự: Đêm qua anh Đưa đã kể cho ông nghe những câu chuyện về làng, thực sựlàng này nghèo và đói. Nhà tranh vách nứa là cơ bản. Cứ mỗi đợt bão tràn vào ynhư là phải xây dựng lại. Cái ở thì tạm bợ, cái ăn thì phụ thuộc vào biển. Đờisống bấp bênh. Trước tình cảnh dân “lang thang” kiếm sống, Đảng bộ chínhquyền xã cùng với các thôn quán triệt tinh thần là phải tháo gỡ, nâng cao đờisống cho dân. Đảng viên phải gương mẫu trong việc phát triển kinh tế, phải học 26
  27. 27. hỏi kinh nghiệm các nơi có hoàn cảnh tương tự như mình mà họ giàu có mang vềáp dụng cho quê. Đảng viên không chỉ nói mà phải làm, phải hành động. Mộtcuộc chiến đấu với cái đói, nghèo mà Đảng viên là những người tiên phong xungtrận. Năm 2002, lãnh đạo xã có anh Tào Quang Đảnh là bí thư Đảng ủy, mình làchủ tịch cùng với đồng chí Phạm Trọng Lan, Bí thư chi bộ Đồn Điền đều lànhững cựu chiến binh, khăn gói lên đường vào các tỉnh duyên hải miền Trung vàmiền Nam đi thăm quan, học tập kinh nghiệm nuôi tôm trên cát của họ. Hơn haitháng đặt chân lên các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, NinhThuận, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu, bọn mình cũng học hỏi được kinhnghiệm nuôi tôm trên cát. Cái mừng xen lẫn cái lo. Mừng vì đây là cơ hội đểnhân ra cách làm ăn mới cho dân, lo vì vốn, giống, kỹ thuật chăm sóc, mùa đôngmiền Bắc, rồi đầu ra... Nhưng đã quyết là phải làm! Thề là mình, anh Đảnh vàanh Lan hùn vốn vào với nhau làm trước để rút kinh nghiệm nhân rộng cho dân.Vừa tiền vay của ngân hàng, vừa tiền huy động của anh em họ mạc tới hơn 200triệu. Một chiến dịch đào cát làm ao, mua ni lông lót, mua máy bơm nước biểnphải đến hơn ba tháng mới tạm gọi là hoàn chỉnh. Mẻ tôm giống đầu tiên thảxuống mà lòng cứ lo ngay ngáy, cả ba gia đình thay phiên nhau trực, thức đêmthức hôm, thấy đàn tôm phát triển bình thường, nhiều người đến tham quan.Nhiều nhà đã chuẩn bị bãi cát làm theo. Đùng một cái, khi đàn tôm sắp thuhoạch thì sóng biển tràn vào làm vỡ một đoạn bờ, thế là tôm ùa ra biển. Bọnmình phải huy động nhiều người giữ bờ, chắn lưới mới vớt vát được một ít. Thếlà công toi! Niềm hy vọng đổi đời cho dân vừa chợt lóe đã bị dập tắt. Phải lo trảnợ cho ngân hàng và anh em... Vợ con tuy không nói nhưng trong lòng tiếc công,tiếc của cứ ngẩn ngơ... Không chịu! Thua keo này ta bày keo khác! Lãnh đạo xãlại đi tìm việc làm, tìm đối tác và mang được về cho dân nghề thêu ren, tuy cònqui mô nhỏ nhưng cũng giải quyết được công ăn việc làm cho một số người. Cánbộ đầu tư làm trang trại như anh Tô Vũ Lỵ, phó chủ tịch xã; anh Trần CôngTrường, anh Hoàng An đều là cán bộ, làm trang trại vài năm nay. Trang trại củacác anh trước mắt là cá - lúa kết hợp, đã có hiệu quả kinh tế cao. Bà con nôngnghiệp đang có xu hướng góp ruộng lại với nhau, dồn điền đổi thửa để làm theomô hình lúa - cá kết hợp. Sắp tới xã sẽ mở một xí nghiệp dạy nghề may cho conem và là xí nghiệp vệ tinh của công ty may xuất khẩu Thanh Hóa. Trong một dựán chiến lược xây dựng đường du lịch ven biển bãi ngang này, bờ biển kè đá thậtdầy, thật sâu và chắc chắn để mở rộng du lịch từ Sầm Sơn xuống phía nam.Chúng tôi chuẩn bị tâm thế và phong cách làm du lịch. ở đây phù hợp với du lịchgia đình, du lịch nhỏ. Ông thấy đấy, bãi biển của chúng tôi có đẹp không nào?Chủ trương của Đảng ủy tạo cho con em mình nhiều việc làm, đa ngành nghề, cóthế mới mong thoát khỏi cảnh nghèo đói. - Thế còn nghề biển, các ông định hướng cho tương lai thế nào? Tôi hỏi. 27
  28. 28. - Thú thực, đó là câu hỏi lớn mà lãnh đạo, chính quyền chúng tôi có nhiềutrăn trở. Muốn kiếm ăn phát đạt thì phải đánh bắt xa bờ. Nhưng ở đây làm gì cócửa sông, cửa lạch để tàu lớn về neo đậu. Có lần chúng tôi đã có chủ trương mởngư trường lên cửa sông Mã hoặc xuống cửa Ghép và đi đặt vấn đề với các xãbạn, nhưng đều bị từ chối. Đành vậy, cải tiến bè mảng, lắp máy, cải tiến ngư cụ,lưới chài là cách làm thiết thực với vùng biển bãi ngang này. Đó mới chỉ là giảipháp tình thế, còn muốn làm ăn lớn thì phải nghĩ cách khác. - Đúng là khó thật! Tôi công nhận. Khi ấy mẻ lưới rùng vừa cạn cách chỗchúng tôi ngồi không xa. Việt dẫn tôi xuống xem. Thấy chúng tôi, họ chào đónhồ hởi. Chủ tịch ơi, công toi mất thôi. Từ sáng tới giờ kéo hai mẻ rùng mà chỉ đủăn khoai. Giọng một phụ nữ đứng tuổi vừa nói. Cả mẻ rùng kéo lên chỉ đượcchừng dăm cân cá bé xíu. Tôi nhìn quanh đếm thử khoảng 20 người có trongbuổi lao động biển này. Ông chủ nghề rùng Lê Ngọc Kỳ đến cạnh chúng tôi phânbua: - Biển lặng đến cùng kiệt, thế này thì chỉ treo niêu thôi! - Nếu mỗi ngày đi biển thế này thu hoạch cho mỗi lao động được baonhiêu? Tôi hỏi. - Toàn bộ sản phẩm thu hoạch được thì chia làm ba, chủ nghề một phần,nghề một phần, những người làm thuê một phần. Anh cứ tính thử xem từ giờ đếntrưa, khi nước đầy bờ là nghỉ, chúng tôi chỉ kéo ba mẻ lưới nữa là hết. Có thểtrúng lớn, có thể chẳng có gì. - Thế thì phụ thuộc vào biển quá nhỉ?! - Biết làm sao được anh! Anh Kỳ trả lời tôi. - Ta đi chơi một vòng quanh xã nhá. Việt nói. - Đồng ý! Chúng tôi chào mọi người. Việt đẩy xe máy xuống mép sóng, bây giờ thủy triều đang xuống kiệt, mặtcát chắc nịch, mịn màng, chiếc xe chạy êm ru về phía ủy ban xã. Toàn bộ trungtâm hành chính xã được xây dựng khang trang, khu trường học nổi bật trongnắng sớm. Việt dừng lại và chỉ cho tôi: - Kia là trường Trung học cơ sở hai tầng vừa khánh thành hôm qua có 20phòng học đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia. Còn kia là trường Tiểu học có 16 phòng,bên cạnh là trường mầm non có 10 phòng. Đây là công trình Nhà nước và nhândân cùng làm, một sự đầu tư chiều sâu cho tương lai con em chúng ta. Chúng tôiđi dạo quanh làng, quanh xã, nhà cửa đã được xây dựng khang trang, đường bêtông hóa từng ngõ ngách thay những con đường cát bụi, lầy lội trước kia... Tôithấy làng xóm đang có sự khởi sắc. Buột miệng tôi hỏi: - Này, nhà cửa khang trang quá, có phải do đi “ăn mày” mang về không? - Có một phần trước kia, bây giờ do lao động vất vả mà có. - Có còn người đi “hành khất” nữa không? - Không! Nhưng đi bán vé số, bán báo, đánh giầy vẫn còn một ít người. 28
  29. 29. - Đó là lao động chân chính! Tôi nói. - Thì biết thế, nhưng vẫn cứ mang tiếng là lang thang... Một ngày trôi nhanh, buổi chiều theo lời mời, tôi đến chơi nhà anh Tô VũĐưa và ăn cơm cùng anh chị. Anh kể cho tôi nghe nhiều chuyện về làng từ trướcđến nay. Dân làng đa tài, từ cụ Huynh giỏi võ đến cụ Lương Tải giỏi vật. Anh kểvề dân Đồn Điền đã đến sới vật là các đô vật làng khác, huyện khác phải dèchừng kính nể. Có những miếng vật truyền thống từ thuở trước các cụ truyền lại,đặc biệt là miếng gồng kèo dưới. Vì thế mà năm 1962, làng có đô Thanh từngđoạt giải nhì toàn miền Bắc về môn vật tự do. Học giỏi, võ vật giỏi, nhưng cáiđói, cái nghèo vẫn còn bám riết lấy làng. Bù lại tình làng nghĩa xóm lại bền chặt,cưu mang. Anh nói với tôi rằng làng bây giờ có khởi sắc hơn, nhưng nhu cầucuộc sống cũng đòi hỏi cao hơn. Đảng bộ, chính quyền đã cố gắng, dân đã cócách làm ăn, không phải “hành khất” như trước. Những dự án tương lai đưa ramột triển vọng tốt đẹp. Nhưng trước mắt, cuộc sống của ngư dân vẫn còn bấpbênh trước sóng... Đêm khuya, chia tay anh chị tôi về nhà Việt. Nằm trên giường thao thức mãi, tiếng sóng biển rì rầm vọng vào. Câu chuyện anh Đưa kể như một minh chứng cho làng quê ven biển đã tồn tại gần 600 năm, qua thăng trầm của thời gian. Con người và trí tuệ nơi đây thật đáng quí, nhưng giải quyết vấn đề cơ bản của cuộc sống là thoát nghèo ở một vùng biển bãi ngang như Quảng Thái là một câu hỏilớn. Phải có những đề án mang tính khả thi và phải có tầm nhìn chiến lược lâu dài cho cả một vùng... Tôi cứ miên man như vậy cùng sóng biển… 29
  30. 30. SỐNG TẬN CÙNG VỚI ĐẤT Vương Hữu TháiTôi và Phú mỗi đứa cầm một cái sào dài cỡ bốn mét phần trên gắn cái liềm congđể tỉa đám chồi vượt vô dụng trên thân cây cà phê. Thường khi ra giêng, sau tếtdài bận rộn và mệt mỏi là người ta lên rẫy làm cái công việc này, nhẹ thì có nhẹnhưng cứ phải ngửa cổ tìm nhánh chồi trên cao nên đâm ra mỏi cổ rồi cả chóngchán. Phú lảm nhảm “cái xứ quái này cà phê cứ để vượt cao năm sáu mét, tốncông tốn phân”. Mà thật, nơi này là Bảo Lộc chỉ cách Di Linh có vài chục cây sốmà cánh thức khống chế chiều cao cà phê lại khác, trong khi cùng điều kiện thiênnhiên, thổ nhưỡng đất bazan đỏ quạnh, tôi nghĩ khác biệt chắc ở tập quán, mà cáiphần này thì đâu cũng có lý riêng, thôi thì cuối cùng vẫn là năng suất và hiệu quảtùy theo từng vùng khác nhau rồi khoa học mới được biết sau. Tôi thích bắt tay vào việc mà không chần chừ, còn Phú gắn công việc vớikhoa học, theo sau là năng suất và hiệu quả. Nó đang ấp ủ một dự định nghe thìlọt tai, nhưng áp dụng không phải chuyện dễ, cũng không quá mới mà cũngkhông quá cũ. Đó là cưa đốn thân cà phê độ mươi mười lăm tuổi năng suất kém,thoái hóa…để ghép chồi đầu dòng nắn suất cao từ vườn giống nhà nước, màđúng hơn là của Viện nông lâm nghiệp Tây Nguyên. Dự án thì có sẵn, nhưng ítkhi người dân biết mà dẫu biết cũng chẳng dám làm… quả là cái khó, tôi thừahiểu chỉ tầm cỡ trang trại mới dám dấn thân, nhưng biết đâu Phú làm được thìsao? Ngoài quyết tâm nó còn có phần nổi trội hơn đám thanh niên như có họcthức, nhà thuộc loại có tiếng tăm nhờ mấy vụ trúng mùa cà phê mà lại bán đượccơ hội giá cao, rồi xây nhà lớn như cái biệt thự. Mà vùng đất này những năm gầnđây đã có nhiều ngôi “Biệt thự cà phê” mọc lên, đủ ám chỉ cây cà phê có thể đưangười ở đây đến chỗ khá giả, cuộc sống tươm tất. Tôi và mọi người ở đây đềubiết như thế, nên không gì bằng người trong cuộc, dù bộn bề khó khăn thế nào thìcây trồng này ở đất Tây Nguyên là cây mơ ước, của niềm tin hy vọng, tươi róirực rỡ vào độ mùa cuối năm, giữa khi lác đác vẫn còn rơi rớt cơn mưa dai dẳngthấm đất, thấm luôn cả sức người bền chặt gắn với đất… Trưa đến nắng lên cao đến đỉnh đầu, sau một hồi leo dốc lượn giáp vòngquả đồi, tôi và Phú trở về căn chòi nhỏ có khoảng sân trống trông thẳng ra rặngkeo đen cao vút để nghỉ ngơi. Phú phe phẩy cái nón “TUẤN à! Rẫy nhà mày bịrệp sáp tấn công nặng quá, nội tuần tới phải xịt thuốc thôi”, vừa nghe đến đây tôibỗng thấy bòn người vác cái xạc nai đi uể oải từ dưới chân đồi lên, đúng là ôngSáu rồi - ông được gọi là “lão nông tri điền” - vì gắn bó vùng đất này từ hồi rừnghoang vu còn Mễn, heo rừng luẩn quẩn. Giờ tuổi cao nhưng ông vẫn thích lên rẫynhư thú tiêu khiển, vì ở nhà hay vướng vào chyện rượu chè rủ rê đâm hư người. 30
  31. 31. Lần mò một hồi ông mới lên tới chòi, thoáng thấy tụi tôi ông đã dõng dạc “cứnhìn mấy màng trắng như màng nhện bám quanh chùm nụ cà phê là biết thất bátcái chắc, dịch rệp sáp lan rộng mà xịt thuốc hoài chẳng nhằm nhò gì, bữa nọ nghenói nhà thằng Phú xịt thuốc gì hay lắm mà!”. Tôi với tay lấy trong làn chùm bánhnếp nhân đậu mà Mẹ tôi mua từ sáng. Phú bóc cái bánh nhai ngấu nghiến kể lể“cháu học được cách trừ hiệu quả với loại thuốc chứa hoạt chất methidathionxitjcách quãng 10 ngày từ khi chớm dịch, bà con mình mua đủ thứ thuốc đắt tiền, rồinghe đồn thổi tùm lum chứ ít ai chịu tìm hiểu theo hướng dẫn của khuyến nông”.Ông Sáu có mang theo ve rượu con rót ra cái cốc nhỏ bắt hai đứa cùng uống “Ừ!Có lý đó, vậy mà tụi bán thuốc trừ sâu cứ bày vẽ kiếm tiền, mà dân mình cứ thếnghe răm rắp… thôi uống với tao cốc nữa… tụi mày uống không bằng tao uốnggắng… đúng là loại cái, chán bỏ mẹ!” Nể ông Sáu tụi tôi nhấp một tý, ai đời giữatrưa mà bày ra uống rượu, nhưng ông vẫn tỉnh bơ thao thao kể chuyện làm ăn,chuyện cà phê đang rớt giá chắc lại một phen lao đao. Gì chứ chuyện “bao tử” làông ra vẻ rành rọt từng chút bởi chứng kiến bao thăng trầm,vinh nhục ở vùng đấtnày. Phú cũng tranh luận bàn cãi khá sôi nổi với ông Sáu, đây là sở trường của nókhi gặp đúng đối tượng khơi mào lên vấn đề gai góc, thiết thực của cuộc sống…Cái chòi nhỏ xiêu vẹo tự nhiên lại náo động hẳn lên bất kể cái nắng như đổ lửađang chiếu xuống, le lói qua từng tán lá cà phê, hứa hẹn đợt tưới gay gắt cựcnhọc nữa đang độ đến gần… mà cũng có khi trời thương bất chợt mưa xuống thìsao, ở vùng đất này dám lắm chứ??? Mùa tưới nhộn nhịp ở suốt con sông Ba Kẻ cách núi Chúa non vài dặm,quả đồi Tà Ngào được xem là vùng đất tốt nhưng có gió lốc quật ngược vào mùanão. Nơi đây mảnh rẫy của nhà tôi cỡ tám sào, còn nhà Phú thuộc loại “nhà giàu”cỡ tám hecsta toàn chủng Robusta, mà đầu rẫy còn mảnh trà Shan cổ thụ xum xuêvẫn được duy trì. Dọc theo con sông mùa này nước lên đồi cao tưới cà phê và xảyra nhiều tranh chấp giành giật nguồn nước. Nắng gắt nước cạn kiệt, nhiều lúc rẫytôi và Phú phải luân phiên tưới đêm cỡ từ trời tối đến quãng gà gáy, tưới vào lúcnày thuận tiện vì nước lên mà ít người giành giật cãi cọ, nhưng ngặt nỗi có gió réttừ núi tạt xuống khiến tê tái buốt cả người, dầu khăn quàng kín cổ và khoác haiba lớp áo. Cũng may có ông Sáu bỏ lều mình tình nguyện đến chòi tôi thức khuyahỗ trợ việc nấu cháo gà, cháo cá… để lấy sức kéo ống tưới, dĩ nhiên phải kêuthêm người phụ vì công việc luôn tay luôn chân. Thường thì cỡ nửa tháng haymột tháng mới phải tưới lại đợt khác, đó là vùng cao nguyên Bảo Lộc này khôngngặt nghèo chuyện tưới tắm như ở miền Đông nên đúng… được hạt cà phê mà đổmồ hôi sôi nước mắt. Nhưng bù lại nếu trúng mùa trúng giá thì đời lại lên hương.Để chống đỡ cái nắng quái ác và hạn chế việc bốc thoát hơi nước, Phú đi tiênphong dùng máy phát cỏ cắt sát gốc thay vì dãy cỏ cho chết. Phương pháp nàycòn có ưu điểm là chống xói mòn,cỏ mục làm xốp đất. Thấy có nhiều người trongvùng bắt chước theo Phú, đó là cách “sống chung với cỏ” để cân bằng sinh thái, 31

×