Người phụ nữ Thái trong truyện thơ của dân tộc Thái ở Tây bắc

8,213 views

Published on

Khoá luận tốt nghiệp đại học của Phạm Thị Huyền
Đăng trên vanhien.vn

Published in: Education
1 Comment
1 Like
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và THẠC SỸ (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ. DỊCH VỤ LÀM SLIDE POWERPOINT:10.000VNĐ/1SLIDE
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
8,213
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1,146
Actions
Shares
0
Downloads
42
Comments
1
Likes
1
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Người phụ nữ Thái trong truyện thơ của dân tộc Thái ở Tây bắc

  1. 1. Khóa luận tốt nghiệp TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TRUYỆN THƠ CỦA DÂN TỘC THÁI Ở TÂY BẮC (Khoá luận tốt nghiệp đại học) Sinh viên: Phạm Thị Huyền Người hướng dẫn: ThS. Đỗ Thị Kiều Nga Người chỉnh lý trước khi công bố: TS. Phạm Việt Long Phạm Thị Huyền 1 Lớp: DT14A
  2. 2. Khóa luận tốt nghiệp LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành bài khóa luận này, ngoài sự cố gắng, nổ lực của bảnthân, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoaVăn hóa dân tộc thiểu số. Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến côgiáo - ThS Đỗ Thị Kiều Nga – người đã trực tiếp hướng dẫn em trong quátrình thực hiện đề tài. Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Phòng văn hóa huyện Triệu Sơn, Banvăn hóa xã Thọ Sơn và đồng bào Thái xã Thọ Sơn đã nhiệt tình cung cấpnhững tư liệu quý báu cho khóa luận. Do thời gian cũng như kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên khóaluận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận đượcnhững ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn để khóa luận đượcđầy đủ và hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2012 Sinh viên Phạm Thị Huyền Phạm Thị Huyền 2 Lớp: DT14A
  3. 3. Khóa luận tốt nghiệp MỤC LỤC MỞ ĐẦU Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC THÁI Ở TÂY BẮC 1.1 Đặc điểm tự nhiên, dân cư vùng Tây Bắc 1.1.1 Đặc điểm tự nhiên 1.1.2 Đặc điểm dân cư 1.2 Khái quát về người Thái ở Tây Bắc 1.2.1 Tên gọi, dân số và phân bố dân cư. 1.2.2 Lịch sử cư trú 1.2.3 Xã hội truyền thống1.2.4 Đặc điểm mưu sinh 1.2.5 Văn hóa vật chất 1.2.6 Văn hóa tinh thần Tiểu kết Chương 2: NGƯỜI PHỤ NỮ THÁI QUA TRUYỆN THƠ 2.1. Khái quát về truyện thơ của dân tộc Thái 2.1.1 Khái niệm truyện thơ 2.1.2 Đặc trưng của truyện thơ 2.1.3 Truyện thơ trong kho tàng văn học dân gian của dân tộc Thái 2.2. Người phụ nữ được miêu tả trong truyện thơ của dân tộc Thái 2.2.1 Chân dung của người phụ nữ 2.2.1.1 Ngoại hình và tài năng 2.2.1.2 Phẩm chất 2.2.1.3 Tính cách 2.2.2 Số phận của người phụ nữ 2.2.3 Vai trò của người phụ nữ Tiểu kết chương 2 Phạm Thị Huyền 3 Lớp: DT14A
  4. 4. Khóa luận tốt nghiệpChương 3 : NGƯỜI PHỤ NỮ THÁI VÀ TRUYỆN THƠ CỦA NGƯỜI THÁI TRONG ĐỜI SỐNG HIỆN NAY 3.1 Người phụ nữ Thái trong cuộc sống hiện nay 3.2 Truyện thơ Thái trong đời sống hiện nay 3.3 Một vài nhận xét 3.3.1 Về người phụ nữ Thái trong truyện thơ và trong cuộc sống hiện nay 3.3.2 Giá trị của truyện thơ và thực trạng bảo tồn, phát huy truyện thơ 3.4 Một số khuyến nghị và giải pháp 3.4.1 Giữ gìn và phát huy văn học dân gian nói chung, truyện thơ Thái nói riêng trong cuộc sống hiên nay 3.4.2 Giữ gìn và phát huy những nét đẹp của người phụ nữ Thái trongcuộc sống hiện nay Tiểu kết chương 3 KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em chung sốngvới nhau suốt từ Bắc chí Nam tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng, phongphú và giàu bản sắc. Trong đó dân tộc Thái là một trong những tộc người códân số đông trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Do có lịch sử cộng cư lâuđời nên nền văn hóa của dân tộc Thái có nhiều nét đặc trưng riêng. Trong nềnvăn hóa đặc sắc ấy phải kể tới văn hóa văn nghệ dân gian Thái với điệu khắp,điệu xòe, với một kho tàng văn học dân gian đồ sộ về số lượng, phong phú vềthể loại. Đó là những giá trị tiêu biểu cần được lưu giữ, bảo tồn và phát huy. Phạm Thị Huyền 4 Lớp: DT14A
  5. 5. Khóa luận tốt nghiệp Trong kho tàng văn học dân gian Thái, truyện thơ được biết đến nhưmột trong những thể loại tiêu biểu và đặc sắc nhất. Qua truyện thơ, chúng tacó thể tìm hiểu về nếp sống, phong tục tập quán của các dân tộc này và từ đórút ra những bài học bổ ích cho việc xây dựng nếp sống mới hiện nay. Truyện thơ Thái về người phụ nữ thể hiện rất rõ quan niệm sống, phẩmchất, tâm tư, tình cảm của người phụ nữ Thái. Tìm hiểu những vấn đề này,chúng ta có thể phát huy được những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ vàhạn chế được những mặt tiêu cực trong đời sống hiện nay. Mặc dù có tính chất quan trọng như vậy nhưng truyện thơ của các dântộc thiểu số nói chung và truyện thơ của dân tộc Thái nói riêng vẫn chưa đượcnghiên cứu nhiều và hình tượng người phụ nữ được thể hiện qua truyện thơchưa được nghiên cứu một cách cụ thể, rõ ràng. Lựa chọn đề tài nghiên cứunày, người viết muốn giới thiệu những nét phẩm chất tốt đẹp của người phụnữ được thể hiện qua các tác phẩm văn học dân gian, cụ thể là truyện thơ, từđó rút ra những vấn đề liên quan đến nếp sống và vai trò của người phụ nữhiện nay. Ngày nay dưới sự tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự phát triểncủa công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là ảnh hưởng của quá trình giaolưu văn hóa, thì người phụ nữ đã có nhiều thay đổi, nhiều trường hợp khônggiữ được những nét phẩm chất tốt đẹp như trong truyền thống. Vì vậy bảo tồnvà phát huy những giá trị tốt đẹp của truyện thơ về người phụ nữ là một trongnhững biện pháp hữu hiệu góp phần xây dựng nếp sống văn hóa, xây dựng giađình hạnh phúc. Là sinh viên năm thứ tư của khoa Văn hóa dân tộc thiểu số, tương laisẽ trở thành người cán bộ văn hóa ở cơ sở, nên từ lâu em đã muốn đi sâu tìmhiểu về vấn đề nói trên. Vì vậy em quyết định chọn đề tài: “Người phụ nữtrong truyện thơ của dân tộc Thái ở Tây Bắc” để làm khóa luận tốt nghiệp củamình với mong muốn sẽ giới thiệu những nét phẩm chất tốt đẹp của người Phạm Thị Huyền 5 Lớp: DT14A
  6. 6. Khóa luận tốt nghiệpphụ nữ Thái được thể hiện qua truyện thơ và vận dụng những nét đẹp đó trongviệc xây dựng nếp sống mới hiện nay. Nghiên cứu đề tài này, người viết cònmuốn góp một phần nhỏ của mình vào việc giữ gìn và phát huy các giá trị vănhóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Thái, theo tinhthần của nghị quyết Trung ương 5 khóa 8 đã đề ra: “Xây dựng nền văn hóatiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nghiên cứu về văn học dân gian Thái đã có rất nhiều công trình như:Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam. Nguyễn Xuân Kính(chủ biên), Viện KHXHVN, viện NCVH, NXB KHXH, Hà Nội, 2008; Tổngtập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 4: Truyện thơ. Đặng NghiêmVạn (chủ biên), Trung tâm KHXH&NVQG, viện văn học, NXB Đà Nẵng,2002; Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam, tập V: Truyện thơ- sử thi, ĐặngVăn Lung, Sông Thao, Trung tâm KH&NVQG, Viện văn học, NXB Giáodục, 1999; Giáo trình văn học dân gian, PGS.TS Phạm Thu Yến (chủ biên),NXB ĐHSP, 2002; Tìm hiểu văn học dân tộc Thái ở Việt Nam, Cầm Cường,NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Viết về truyện thơ của dân tộc Thái thì có: “ Giá trị truyện thơ XốngChụ Xôn Xao”, Mạc Phi, (NCVH,HN 1961, số5); Truyện thơ, trường ca dântộc Thái, Hội văn nghệ Sơn La, Sở VH-TT, 2007; Bước đầu tìm hiểu một vàiđặc điểm của truyện thơ Thái “ Chàng Lú – Nàng Ủa”, Lô Xuân Dừa, Luậnvăn thạc sĩ Ngữ văn, Trường ĐHSPHN, 2002; Tiễn dặn người yêu, Bùi Văntrọng Cường, (Văn nghệ dân tộc và miền núi, Hà Nội, số 9, 2000. Viết về người phụ nữ Thái trong truyện thơ có: Số phận người phụ nữThái qua một số truyện thơ tiêu biểu của người Thái Tây Bắc, Hoàng ThịHương Loan, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội, 2006 Nhìn chung những tài liệu trên đã cung cấp một nguồn tài liệu khá toàndiện về văn học dân gian Thái nói chung và truyện thơ Thái nói riêng, đã có Phạm Thị Huyền 6 Lớp: DT14A
  7. 7. Khóa luận tốt nghiệpđề tài viết về người phụ nữ Thái trong truyện thơ nhưng chỉ mới chỉ đề cập tớisố phận người phụ nữ chứ chưa đề cập đến những khía cạnh khác như ngoạihình, tài năng, tính cách, phẩm chất của người phụ nữ và vai trò của ngườiphụ nữ Thái trong tình yêu, trong gia đình và ngoài xã hội. Do đó, đề tài“Người phụ nữ qua truyện thơ của người Thái Tây Bắc” sẽ tập trung giảiquyết những vấn đề trên. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu - Truyện thơ và những nhân vật nữ trong truyện thơ của dân tộc Thái ởTây Bắc - Người phụ nữ nói riêng, cộng đồng người Thái nói chung ở xã ThọSơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Phạm vi nghiên cứu Về văn bản: - Các truyện thơ của dân tộc Thái ở Tây Bắc đã được sưu tầm, giớithiệu, xuất bản Về địa điểm: Để thấy được sự thay đổi giữa người phụ nữ Thái truyền thống trongtruyện thơ và người phụ nữ Thái trong đời sống hiện nay cũng như tìm hiểuthực trạng truyện thơ trong đời sống của đồng bào Thái làm cơ sở cho việcđưa ra các giải pháp bảo tồn, phát huy những giá trị của truyện thơ nói chung,giữ gìn và phát huy những nét đẹp của người phụ nữ Thái nói riêng, khóa luậnlựa chọn xã Thọ Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa là địa điểm khảo sátthực tế. 4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu: - Khảo sát truyện thơ của dân tộc Thái, thông qua sự miêu tả của cáctác giả dân gian, có thể khái quát được vẻ đẹp truyền thống người phụ nữ Thái Phạm Thị Huyền 7 Lớp: DT14A
  8. 8. Khóa luận tốt nghiệp(chân dung, số phận, vai trò). Từ đó so sánh để thấy được những thay đổi củangười phụ nữ Thái trong cuộc sống hiến nay, nguyên nhân của những thay đổiđó là gì? Đó là những thay đổi tích cực hay tiêu cực? - Bước đầu đưa ra những khuyến nghị và giải pháp nhằm giữ gìn vàphát huy những nét đẹp của người phụ nữ Thái và những giá trị của truyệnthơ Thái trong cuộc sống hiện nay. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Tổng quan tài liệu và lý thuyết nghiên cứu về văn học dân gian nóichung, truyện thơ của dân tộc Thái nói riêng để làm rõ các khái niệm công cụcó liên quan đến đề tài. - Một mặt kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước vềvăn học dân gian của dân tộc Thái, đặc biệt truyện thơ…mặt khác, nghiên cứucác truyện thơ cụ thể để thấy được vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữThái. - Khảo sát thực tế một vùng đồng bào dân tộc Thái cụ thể để thấy đượcsự thay đổi của người phụ nữ Thái trong đời sống hiện nay, nguyên nhân dẫnđến những biến đổi. - Đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm giữ gìn và phát huynhững nét đẹp của người phụ nữ và của truyện thơ Thái trong cuộc sống hiệnnay. 5. Phương pháp nghiên cứu, nguồn tư liệu thực hiện đề tài - Phương pháp nghiên cứu Ngoài phương pháp luận chung là phương pháp luận Mac- LêNin, bàiviết còn sử dụng các phương pháp cụ thể là: Phương pháp nghiên cứu liên ngành (văn học- văn hóa học- dân tộchọc) Phạm Thị Huyền 8 Lớp: DT14A
  9. 9. Khóa luận tốt nghiệp Phương pháp điền dã dân tộc học là phương pháp chủ yếu để tiến hànhthu thập tư liệu với các kỹ thuật như quan sát, mô tả, phỏng vấn, điều tra bảnghỏi, chụp ảnh... Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: tìm đọc những tác phẩmnghiên cứu về truyện thơ của người Thái và những tài liệu địa phương viết vềnhững vấn đề mà đề tài quan tâm. Cuối cùng là các phương pháp miêu tả, phân tích, so sánh, tổng hợp...để hoàn thành bài viết. - Nguồn tư liệu thực hiện đề tài Tài liệu điền dã, phỏng vấn do người viết sưu tầm được qua các đợtkhảo sát, thực tập tại xã Thọ Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Bêncạnh đó đề tài còn tham khảo một số tài liệu có liên quan. Tài liệu thư tịch, các tư liệu về người Thái trong các thư viện và từmạng Internet. 6. Đóng góp của đề tài - Nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện về người phụ nữ Tháitrong truyện thơ và trong đời sống, đề tài sẽ đóng góp thêm tư liệu trongnghiên cứu về người Thái, làm rõ thêm chân dung dân tộc Thái ở Việt Nam. - Các khuyến nghị về giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy những nétđẹp của người phụ nữ và của truyện thơ Thái trong cuộc sống hiện nay có thểgóp phần nâng cao hiệu quả trong công tác trong xây dựng đời sống văn hóacơ sở; đề xuất khoa học cho việc sưu tầm, nghiên cứu, giữ gìn, phát huy giátrị di sản văn hóa dân gian của người Thái ở xã Thọ Sơn, huyện Triệu Sơn,tỉnh Thanh Hóa nói riêng, người Thái ở Tây Bắc nói chung. - Bên cạnh đó, bài nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo phục vụ chonhững ai mong muốn tìm hiểu về văn hóa truyền thống của dân tộc Thái, đặcbiệt là truyện thơ. Đây cũng là nguồn tư liệu giúp những nhà quản lý địaphương có một cái nhìn toàn diện hơn về người phụ nữ Thái, từ đó có thể vận Phạm Thị Huyền 9 Lớp: DT14A
  10. 10. Khóa luận tốt nghiệpdụng những nét phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ vào việc xây dựng nếpsống văn hóa, xây dựng gia đình hạnh phúc. 7, Bố cục của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, Khóa luậngồm 3 chương: Chương 1: Khái quát về dân tộc Thái ở Tây Bắc Chương 2: Người phụ nữ Thái qua truyện thơ Chương 3: Người phụ nữ Thái và Truyện thơ của người Thái trongcuộc sống hiện nay (Khảo sát ở xã Thọ Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh ThanhHóa) Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC THÁI Ở TÂY BẮC 1.1 Đặc điểm tự nhiên, dân cư vùng Tây Bắc 1.1.1 Đặc điểm tự nhiên Vị trí địa lí, địa hình Nằm ở phía tây – bắc lãnh thổ Việt Nam, Tây Bắc có diện tích vàokhoảng 36.000 km2, chiếm ¼ diện tích miền Bắc với 700 km đường biêngiới. Tây Bắc có vị trí địa lí như sau: Phía Bắc giáp Trung Quốc Phía Tây giáp CHDCND Lào Phía Nam giáp Thanh Hóa, Hà Tây Gianh giới phía đông giữa Tây Bắc với Đông Bắc và vùng trung duBắc Bộ là sông Hồng và dãy Hoàng Liên Sơn. Về địa hình, Tây Bắc là phức hợp của các bồn địa lớn, nhỏ nằm xenkẹp giữa các dãy núi bao bọc xung quanh. Phía đông là dãy Hoàng Liên Sơn,giáp biên giới với CHDCND Lào là dãy núi sông Mã, phía Bắc là dãy Pu LaSan, phía Nam là dải núi đá vôi hình cánh cung chạy từ biên giới Việt – Lào Phạm Thị Huyền 10 Lớp: DT14A
  11. 11. Khóa luận tốt nghiệptới tận Suối Rút (Hòa Bình) và lượn lên đến tận Bắc Yên (Sơn La). Xen giữacác dãy núi lớn là các bồn địa, các cánh đồng Mường Than (Than Uyên, LaiChâu), Mường Lò (Nghĩa Lộ), Mường Tấc (Phù Yên, Bắc Yên), MườngMuổi (Thuận Châu), Mường Vạt (Yên Châu), Mường Sang (Mộc Châu)thuộc tỉnh Sơn La, Mường Ẳng, Mường Then (Điện Biên), Mường Lay (LaiChâu), Mường Bi, Muường Vang, Mường Thàng, Muờng Đông thuộc tỉnhHòa Bình…Ngoài các bồn địa lớn, nằm xen giữa các vùng núi đồi Tây Bắccòn có hàng trăm cánh đồng thuộc loại nhỏ và trung bình khác. Tất cả nhữngcánh đồng bồn địa đó chính là những vùng tụ cư, lập làng, khai phá đất đaithành ruộng nước và sinh sống bằng nghề trồng lúa nước của các dân tộc nóingôn ngữ Tày – Thái, Việt – Mường, Hoa – Hán. Trên sườn các dãy núi caolà nơi sinh tụ, lập làng, khai phá đất dốc thành nương rẫy và canh tác câylương thực trên nương rẫy của các cư dân nói ngôn ngữ Môn – Khơme(Mảng, Kháng, Xinh Mun, Khơ Mú), người Dao và cộng đồng dân tộc La Ha.Và trên các đỉnh núi là nơi sinh tụ của cư dân thuộc dân tộc Hmông – Dao,Tạng Miến…Điều này ngày nay vẫn còn hiện diện ở rất nhiều nơi ở Tây Bắc. Khí hậu So với các vùng khác ở Việt Nam, Tây Bắc là xứ sở của các hiện tượngtự nhiên tương đối cực đoan. Khí hậu vùng này ấm hơn ở Đông Bắc nhờ códãy Hoàng Liên Sơn chặn bớt gió lạnh thổi từ đông – bắc xuống vào mùađông. Tuy vậy mùa đông ở Tây Bắc vẫn tương đối khắc nghiệt, nhất là cácvùng có độ cao trên 1000m. Nhìn chung Tây Bắc thuộc vùng nhiệt đới ẩm vớichế độ mưa theo mùa. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng tư đến tháng mười dương lịch. Mưanhiều nhất vào tháng sáu, tháng bảy âm lịch (tháng tám dương lịch) với tổnglượng mưa trung bình vào khoảng 1.500 – 2.300 mm. Nhiệt độ trung bình vàomùa mưa thường ở mức 25 – 35 độ C. Phạm Thị Huyền 11 Lớp: DT14A
  12. 12. Khóa luận tốt nghiệp Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (dơng lịch). Khí hậumùa này thường khô, hanh và kèm theo lạnh buốt, lượng mưa chỉ đạt 5mm –20mm. Vào những đợt rét nhất, có nơi nhiệt độ trung bình xuống tới 4 hoặc 5độ C. Kèm theo lạnh là sương mù dày đặc, gió bấc và sương muối. Khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và tập quán của cư dân TâyBắc đặc biệt là nông lịch sản xuất. Mùa mưa chính là mùa canh tác chínhtrong năm, mùa khô là mùa nông nhàn, là khoảng thời gian dành cho cưới xin,làm nhà mới, tổ chức lễ hội và thăm hỏi lẫn nhau…Đặc điểm này của tự nhiêncũng in đậm trong các tập quán sinh hoạt : ăn, mặc, ở, lễ tết, hội hè… của họ. Đất đai Đất đai ở Tây Bắc chia ra làm hai loại chính: Đất nguyên sinh và đấtphù sa chua. Đất nguyên sinh ở vùng thấp, có độ ẩm lớn chứa nhiều mùn thựcvật, có màu xám hoặc nâu vàng. Đất phù sa chua thường ở lưu vực các sông,suối lớn. Các loại đất này thường thích hợp với canh tác cây lương thực vàhoa màu. Với kinh nghiệm hàng ngàn năm của mình, cư dân các dân tộc Tây Bắcchia đất đai ra thành các loại đất như sau: Đất cát, sỏi: canh tác các loại ngô,đậu; Đất bãi vùng cao nguyên: trồng lạc, vừng, bông.. Đất ở các khe núi:trồng ngô, đậu; Đất mùn: khai phá thành các chân ruộng nước để canh tác lúanếp, hoặc khai phá thành bãi, vườn để trồng rau xanh và cây ăn quả; Đất bùn:khai phá thành ruộng để canh tác các loại lúa nước. Hệ sông suối và nguồn nước Có thể nói, không nơi nào ở Việt Nam có hệ thống sông suối dày đặcnhư ở Tây Bắc. Sông suối ở Tây Bắc không chỉ dày đặc mà còn vô cùng khúckhuỷu và nhiều thác ghềnh. Đây là nguồn năng lượng sức nước vô tận và làcơ sở quan trọng hàng đầu để xây dựng các nhà máy thủy điện với công suấtphát điện cực lớn. Phạm Thị Huyền 12 Lớp: DT14A
  13. 13. Khóa luận tốt nghiệp Sông suối Tây Bắc giữ vai trò quan trọng trong vận chuyển, đi lại củanhiều tộc người trong vùng. Việc dùng thuyền độc mộc, dùng mảng, dùng bèđi lại, vận chuyển trở thành hình tượng văn hóa của nhiều tộc người trongvùng. Không những thế, sông suối cũng góp phần không nhỏ vào việc cungcấp thực phẩm nuôi sống con người Tây Bắc. 1.1.2 Đặc điểm dân cư - Dân số Theo Kết quả điều tra dân số của Tổng cục thống kê năm 2009,ở TâyBắc có khoảng trên 5.000.000 người đang sinh sống. Trong đó phân bố ở cáctỉnh: Lào Cai: 598.069 người; Yên Bái: 679.775 người; Lai Châu (cũ):590.758 người; Sơn La: 880.752 người; Hòa Bình: 756.014 người; Miền tâyThanh Hóa, Nghệ An… - Thành phần dân tộc Vào những năm 60 của thế kỷ XX dân cư Tây Bắc thuộc 23 dân tộckhác nhau. Đó là: Thái, Tày, Pu Nà, Giáy, Lào, Lự, Hmông, Dao, Hà Nhì, LôLô, La Hủ, Si La, Cống, Phù Lá, Khơ Mú, La Ha, Mảng, Kháng, La Ha, Xinh– mun, Hoa, Mường,Việt (Kinh) Cư dân Tây Bắc hiện nay thuộc 26 cộng đồng dân tộc chính, ngoài racòn lại một bộ phận rất ít (không đáng kể) thuộc các dân tộc khác. 1.2 Khái quát về người Thái ở Tây Bắc 1.2.1. Tên gọi, dân số và phân bố dân cư. Từ trước đến nay, người Thái vẫn tự gọi mình là Côn Tay hay Phủ Tayđều có nghĩa là người (trong đó Côn và Phủ là người, còn Tay nghĩa là Thái),cũng giống như người Tày ở vùng Đông Bắc tự gọi mình là Cần Tày (ngườiTày). Có hai ngành Thái: Thái Đen (Táy Đăm) và Thái Trắng (Táy Khao, TáyĐón), bao gồm 6 nhóm địa phương. Còn có một bộ phận khác gồm nhiềunhóm địa phương phức tạp cư trú chủ yếu ở Mộc Châu (Sơn La), Mai Châu(Hòa Bình) và các huyện miền núi thuộc hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An. Phạm Thị Huyền 13 Lớp: DT14A
  14. 14. Khóa luận tốt nghiệp Ở Việt Nam, người Thái có số dân đông thứ 3 sau người Kinh và ngườiTày. Theo số liệu điều tra năm 1999, dân số của người Thái có 1.328.725người, sống tập trung ở vùng Tây Bắc thuộc các tỉnh Điện Biên, Lai Châu,Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An. Từ saunăm 1954, họ còn sống rải rác ở một số huyện thuộc các tỉnh vùng TâyNguyên. Ở Tây Bắc, người Thái cư trú chủ yếu ở vùng thung lũng chân núi,ngoài người Kinh (Việt) thì dân tộc Thái là tộc người chiếm đa số và có vaitrò quan trọng trong vùng. Người Thái ở đây là cư dân bản địa, họ đã sinhsống và làm ăn trên mảnh đất này từ nhiều đời nay nên những phong tục tậpquán và hoạt động sản xuất của họ ảnh hưởng nhiều đến tộc người khác sốngbên cạnh. 1.2.2 Lịch sử cư trú Nguồn gốc lịch sử của người Thái nói chung và người Thái Tây Bắcnói riêng là vấn đề hết sức phức tạp và đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Chođến nay vẫn còn tồn tại hai loại ý kiến: ý kiến thứ nhất cho rằng, ngành TháiTrắng và cả một bộ phận Thái Đen có ngồn gốc bản địa. Vào đầu thiên niênkỷ I, tổ tiên Tày – Thái cổ, đã từng tham gia vào việc xây dựng quốc gia ÂuLạc của Thục Phán An Dương Vương, sau đó một bộ phận di cư sang phíaTây, tách khỏi bộ phận gốc là người Tày hiện nay. Loại ý kiến thứ hai chorằng, người Thái ở vùng Tây Bắc Việt Nam vốn di cư từ miền Tây Nam củatỉnh Vân Nam (Trung Quốc) sang vào nhiều giai đoạn khác nhau. Loại ý kiếnnày được soi sáng bởi những ghi chép trong các tập sử thi như “Quám tômương” (kể chuyện bản mường), “Tay pú xấc” (chuyện cha ông đánh giặc)của người Thái Tây Bắc. Theo những ghi chép trong hai tập sử thi này, chúngta biết được người Thái di cư vào vùng Tây Bắc Việt Nam làm nhiều đợt khácnhau bắt đầu từ thế kỷ IX đến thế kỷ XI. Phạm Thị Huyền 14 Lớp: DT14A
  15. 15. Khóa luận tốt nghiệp Theo tập sử thi “Quám tô mương”, bộ phận Thái Đen có mặt ở MườngThanh – Điện Biên vào thế kỷ thứ X. Thời ấy có một vị tướng tên là Khun BóRôm, được sinh ra tại bản Na Nọi (bản ruộng bé, thuộc xã Nà Tấu, huyệnĐiện Biên, tỉnh Điện Biên), nơi có một phiến đá lớn tên là Đá Ang Nàng (HinChong Nang) vốn được người đời cho là “cái ang” của mẹ Then tắm rửa chochủ tướng kho mới sinh nở. Lớn lên, Khun Bó Rôm phát hiện ra đất MườngThanh rộng lớn, bằng phẳng, ngài lập tức cho dân xuống khai khẩn thànhcánh đồng lớn. Về sau, thấy đất Mường Thanh màu mỡ, người Lự mới di cưđến đây xây đắp mương Viêng Sam Mứn (thành “ba vạn”). Tương truyềntrong vòng thành có 30.000 chiếc cối giã gạo. Đến thế kỷ XVIII, di tích nàyđược ghi trong sử sách Việt Nam gọi là Tam vạn thành. Khun Bó Rôm có 7người con trai, anh cả là Khun Lò đã đưa người Thái Đên từ đất MườngThanh theo đoàn chinh chiến xâm nhập nước Lào. Người Thái Đen do KhunLò chỉ huy đã đánh bại sức kháng cự của người Khạ tại nơi sông Nậm U đổvào sông Mê Công do Khun Cán Hạng cầm đầu, chiếm được Mường Sao(Thái Đen gọi là Mường Sao Va), lập ra mường Xiêng Đông – Xiêng Thongphát triển thành mường Luông Pra Băng, nghĩa tiếng Thái là “Mường lớn cónúi thiêng che chở”. Người Thái Đen nơi đây chuyển thành người Lào vàquên hẳn gốc Thái Đen của mình trước kia. Theo Khun Bó Rôm, còn có một bộ phận Thái Đen di cư đến vùngMường Xang (Mộc châu – Sơn La) vào thế kỷ XIV, theo sự dẫn dắt của vị thủlĩnh tên là Pha Nha Nhọt Chom Khăm. Khi đến đây có người Thái Trắng (TáyKhao) cư trú đông đúc. Chính bộ phận Thái Trắng này đã làm hậu thuẫn đểthủ lĩnh Chom Khăm đánh bại người Xá lếm xá lẻ và giành quyền làm chủ đấtnày. Hai bộ phận Thái này về sau hòa nhập thành Thái Trắng. Một bộ phận Thái Đen khác cũng hình thành xã hội bản – mường ởvùng Nặm Lài – Nong Se, Mường Tung Hoàng, Mường Ôm – Mường Ai, lưuvực thượng nguồn sông Hồng thuộc huyện Tây Nam, tỉnh Vân Nam, Trung Phạm Thị Huyền 15 Lớp: DT14A
  16. 16. Khóa luận tốt nghiệpQuốc. Theo các tập sử thi Quám tô mương, Tay pú xấc và nhiều tập sử thikhác, vào khoảng thế kỷ XI, có hai thủ lĩnh tên là Tạo Xuông và Tạo Ngầnthuộc dòng dõi quý tộc Mường Ôm – Mương Ai đất Tum Hoàng (Vân Nam –Trung Quốc) đã chỉ huy đội quân chinh chiến va dẫn dắt người Thái Đen gồm12 họ gốc di cư xuôi dọc sông Thao (sông Hồng) đên Trái Hút (nay thuộc tỉnhLào Cai) rồi rẽ vào Mường Min (Gia Hội – Tú Lệ) để rồi đến Mường Lò(huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái). Sau khi ổn định cư trú, Tạo Ngần trở lại Mường Ôm- Mường Ai, rồichuyển sang Mường Bo Té để nhường đất Mường Lò cho Tạo Xuông chỉ huyngười Thái Đen khai phá thành cánh đồng ruộng lớn. Về sau, Mường Lò pháttriển thành mường trung tâm, quy tụ dân Thái cúng các tộc người khác ở mọinơi. Từ đó Mường Lò thành một chặng quê tổ của người Thái Đen. Từ Mường Lò một bộ phận Thái tiếp tục thiên di ngược trở lại đầu“sông Thao nước đỏ”, một hướng khác tiếp tục xuôi theo sông Hồng, lập raMường Hồng – Mường Hằng (huyện Trấn Yên – Yên Bái). Một hướng họ đivào cánh đồng Mường Tấc để cộng cư và hòa nhập với người Thái Trắng đãcó mặt từ trước. Sang thế kỷ XII, đoàn quân chinh chiến dưới sự chỉ huy trực tiếp củathủ lĩnh Lạn Chượng (Lò Lạn Chượng) con út của Tạo Lò, cháu đích tôn củaTạo Xuông mở đường đưa người Thái Đen từ Mường Lò và các vùng hữungạn sông Thao, tràn vào miền lưu vực sông Đà, sông Mã và sông Nậm U.Sau 20 năm chinh chiến và di cư, đội quân Lạn Chượng đã chiếm được cánhđồng Mường Thanh. Đến đây người Thái Đen mới đến hào nhập với bộ phậnThái Đen và người Lự vốn làm chủ nơi này từ trước đó. Nhìn chung, bắt đầu từ thế kỉ XII trở đi, các vùng người Thái ở ViệtNam đã ổn định nơi cư trú và bắt tay vào việc xây dựng bản mường của mình.Buổi đầu, khi mới làm chủ và xây dựng bản mường, miền Tây Bắc Việt Namphân thành ba vùng: Phía Bắc, các mường của người Thái Trắng kiên kết với Phạm Thị Huyền 16 Lớp: DT14A
  17. 17. Khóa luận tốt nghiệpngười Lự quy tụ vào trung tâm Mường Lay. Phía nam các mường Thái Đenvà Thái Trắng cũng hình thành và quy tụ vào trung tâm Mường Xang (MộcChâu) và vùng giữa là các mường của người Thái Đen quy tụ vào trung tâmMường Muổi (Thuận Châu). 1.2.3. Xã hội truyền thống - Thiết chế xã hội: Xã hội của người Thái nói chung và người Thái Tây Bắc nói riêngđược hình thành trong lịch sử tộc người. Thiết chế tự quản cơ bản của ngườiThái là Bản Mường. Đứng đầu bản là Tạo Bản, trên bản là Tạo Luông (caiquản một số bản). Bản là một tổ chức cư dân ổn định có ranh rới đất đai rõrệt. Cộng đồng lãnh thổ như thế đã in hằn thành khái niệm trong ý thức hệtruyền thống nên mới có thuật ngữ biểu thị là “đất bản” (đin bản).. Bản của người Thái thường được lập ở chân núi, đối, xung quanh cácthung lũng, cánh đồng và phần lớn đều là những điểm tụ cư đông đúc, có bảntới hàng trăm nóc nhà. Mỗi bản thường có tên gọi riêng. Có tên bản gọi theo tên ruộng (bản NàPán), tên khe suối (Nâm Pố, Nậm San, Huổi Cọ, Huổi Con), cây cỏ (CoKham), thú vật có nhiều quanh (Huổi Luông)... Làng bản của người Thái được cấu trúc theo lối mật tập, trong bảnthường có đường đi chính, to, rộng và hệ thống ngõ, lối. Làng bản thườngđược tạo lập trong các thung lũng lòng chảo,men theo các sườn đồi, dọc theohai bên sông suối. Phía trước thường là cánh đồng, con suối, phía sau tựa lưngvào đồi núi. Quy mô làng bản to nhỏ khác nhau. Bản lớn có đến 100 nóc nhà,bản nhỏ cũng trên 50 nóc. Trong xã hội cũ, Mường thường có lãnh địa là cả một vùng hoặc nhiềuthung lũng rộng lớn, các bản trong vùng đều chịu sự quản lí của mường.Đứng đầu Mường là Tạo Mường. Mường xưa kia do dòng họ quý tộc, bao Phạm Thị Huyền 17 Lớp: DT14A
  18. 18. Khóa luận tốt nghiệpgồm họ gốc: Lò, Cầm, phân chia thành Cầm, Bạc Cầm, Điêu, Hoàng…caiquản. - Tổ chức dòng họ: Trong một mường, một bản của người Thái có nhiều dòng họ cùng cưtrú. Dòng họ quý tộc của người Thái bao gồm họ gốc là Lò Cầm. Họ Lò Cầmđược chia thành các họ: Cầm, Bạc, Điêu và Hoàng.Ngoài ra, dòng dõi ngườiThái còn có họ Vi Khăm (có nơi gọi là Sầm), Kha Khăm (có nơi Hóa, Nghệgọi là Cầm), từ các dòng họ này phân ra thành các họ: Hà, Sa. Ở Thanh Hóa,Nghệ An có những dòng họ gốc dần trở thành quý tộc, mang thêm chức vịđược phong bên cạnh tên họ,ví dụ như các họ Hùn Vi, Mứn Quàng. Các dòng họ bình dân bao gồm: Lò, Lộc, Lự, Quàng,Vi, Cà …và cáchọ của các tộc người khác sống chung với người khác như Nguyễn, Phùng,Lý, Lâm..Các dòng họ bình dân được chia thành 3 đẳng cấp: Nông dân tự do(páy,táu), nông dân bán tự do (cuông, nhuốc) và gia nô (côn, hươn, khỏi) Quan hệ dòng họ của người Thái được biểu hiện ở hai khía cạnh: Khía cạnh tô tem giáo: Tức những dòng họ gốc Thái thường có mộthèm liên quan đến một sinh vật, một vật vô tri hay một hành động trùng tênvới dòng họ. Ví dụ: họ Lò không ăn thịt chim táng Lò, không ăn măng lò; họQuàng kiêng ăn, giết thịt hổ; họ Cà kiêng ăn, giết chim cốt ca (bìm bịp). Khía cạnh quan hệ dòng họ liên minh biểu hiện ra: Quan hệ Ải nọng là những thành viên nam của dòng họ, cùng một tổtiên, người Thái gọi là Đẳm, có “ải nọng huôm po” (anh em cùng cha), ảinọng huôm pú” (anh em cùng ông), “ải nọng huôm pẩu” (anh em cùng cụ)… Quan hệ Lúng ta là các thành viên nam bên vợ (gọi là “lun ta phạbóm”), các thành viên nam bên mẹ( lung ta me), các thành viên nam bên bànội (lung ta da)… Quan hệ Nhính xao là các thành viên nam bên anh/em rể( nhinh xao”hay “nhinh xao chảu”), các thành viên nam bên con rể ( nhinh xao mang lujk) Phạm Thị Huyền 18 Lớp: DT14A
  19. 19. Khóa luận tốt nghiệp… quan giữa “lung ta” và “nhính xao” là quan hệ thông gia, nhưng được phâncấp rõ ràng. Ba hình thái này xuất phát từ quan hệ hôn nhân thuận chiều, tàn tíchcủa liên minh thị tộc. Trong ba quan hệ đó quan hệ của những người Ải nọnglà cơ bản, quan hệ của những người có trách nhiệm duy trì sự trường tồn củadòng họ, chăm lo đến sự phát triển của dòng họ ngày thêm hưng thịnh. quanhệ Lúng ta rất quan trọng biểu thị chủ yếu là vị trí của ông cậu đối với cháungoại. - Gia đình Trong xã hội thái gia đình là một tế bào của xã hội quan trọng với tínhchất phụ quyền rõ rệt, người chồng là đại diện của gia đình trong mọi quan hệxã hội, là người quyết định cuối cùng mọi công việc của gia đình. Nếu trongnhà bố chồng còn sống thì quyền chủ nhà thuộc về bố chồng (ông nội), khicha chết thì con trai cả sẽ làm chủ nhà. Ngoài các gia đình nhỏ vẫn tồn tại trong cộng đồng, người Thái cònsinh hoạt gia đình dưới dạng đại gia đình. Trong đại gia đình, người đứng đầuchịu trách nhiệm điều khiển mọi công việc về kinh tế, sinh hoạt, cưới xin, machay, thờ cúng…Các thành viên trong đại gia đình thường chung sống hòathuận, con cái chăm sóc chung, không phân biệt con anh con em. Đại gia đìnhngười Thái sống có nề nếp, có tôn ti, hiếm thấy có xung đột hầu hết là yêuthương đùm bọc nhau. - Hôn nhân và cưới xin Ngày xưa, do xã hội Thái là một xã hội khá phát triển vì vậy việc hônnhân của con cái là do bố mẹ định đoạt và có mang tính chất mua bán. Tiêuchuẩn chọn cô dâu, chú rể phải xứng đáng với đẳng cấp của dòng họ, địa vịcủa gia đình. Có sự ngăn cách giữa kẻ giàu, người nghèo, giữa quý tộc vàbình dân. Con trai bình dân có chức quyền và giàu sang vẫn được lấy con gái Phạm Thị Huyền 19 Lớp: DT14A
  20. 20. Khóa luận tốt nghiệpquý tộc, còn những chàng trai bình dân nghèo thì không được lấy con gái quýtộc. Con gái bình dân có thể lấy con trai quý tộc nhưng chỉ được làm vợ lẻ. Ngày nay trai gái yêu nhau và đi đến hôn nhân là do tự nguyện sau khiđã xin phép sự đồng ý của gia đình. Trong cưới xin của người Thái có nhiều điều thú vị và trải qua các trìnhtự : ôm chóm (đánh tiếng), mai(đặt dấu), vay(ăn hỏi) duông vịa(thử thách rể),cáo, xống khơi (cưới, tiễn rể), xú phả (nhập phòng), pau máư dam hươn (dâumới đến thăm nhà chồng), cưới đong (cưới xin dâu về nhà chồng), tỏnpạu( đón dâu về nhà chồng). - Sinh đẻ và nuôi dạy con cái Sinh đẻ và nuôi dạy con cái là bổn phận tự nhiên của con người. bất cứai, dân tộc nào cũng đều trú trọng đến tập quán này, nhưng mỗi dân tộc sẽ cócách thức sinh đẻ và nuôi dạy con cái khác nhau. Với người Thái khi biết condâu có thai, cả gia đình có trách nhiệm và tìm mọi cách cho người có thaimạnh khỏe và thoải mái nhất. việc tiếp theo là người có thai phải ăn kiêngmột số thức ăn nhất định như thịt cá, và một số việc làm có hại cho mẹ và cáithai trong bụng. Người Thái có tập quán đẻ ngồi ngay cạnh bếp lửa, lúc này ngườichồng không được rời vợ một bước, người chồng phải ngồi sau lưng bà vợ đểvừa làm chỗ dựa vừa chia sẻ sự đau đớn của người vợ lúc vượt cạn. Đây làmột tập quán đầy tính nhân văn của người Thái. Người Thái rất chú trọng đến việc dạy dỗ con cái. Con gái theo mẹ làmnghề của phụ nữ từ 8 đến 10 tuổi. cũng ở tuổi này bắt đầu tập lao động, làmnương dệt vải…con trai làm các công việc đồng áng để khi lớn lên các emvững trãi trong cuộc sống. đặc biệt sau khi lấy vợ, trong thời gian ở rễ , bố vợcó trạch nhiệm dạy dỗ con rể lao động, làm những việc từ mài dao đan gùi…đến các tập quán, lễ nghi trong ứng xử hàng ngày. - Tang ma Phạm Thị Huyền 20 Lớp: DT14A
  21. 21. Khóa luận tốt nghiệp Tang ma của người Thái được thực hiện theo quy trình tuân thủ nghiêmtúc những tục lệ đã hình thành từ lâu đời. họ quan niệm chết đi là sống ở thếgiới bên kia nên người chết khi đem chôn được chia của như người sống.người ta làm nhà mồ ngay trên mộ người chết và trong nhà (nhà sàn) có cảcác dụng cụ sinh hoạt như chăn, đẹm, cuốc, dao…thậm chí còn thả cả gà, lợncho người chết sau đó lại bắt về. Có nơi, người Thái thực hiện hỏa táng. 1.2.4. Đặc điểm mưu sinh - Trồng trọt Người Thái Tây Bắc vốn là cư dân nông nghiệp và là cư dân sinh sốnglâu đời nhất ở đây, họ sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước và trồnglúa nương. Vì vậy, ngay từ đầu đặt chân đến mảnh đất này, người Thái đã tậptrung đến việc khai phá ruộng đất ở những thung lũng thành những cánh đồngrộng lớn. Trong vốn tri thức dân gian của người Thái, những kinh nghiệmcanh tác ruộng nước, nhất là những kinh nghiệm liên quan đến việc “dẫn thủynhập điền” rất phong phú và ảnh hưởng đến các anh em trong vùng. Hệ thống“Mương, phai, lái, lịn” đã trở thành biểu tượng nông nghiệp Thái nói riêng vàvăn hóa Thái nói chung. Ngoài ra việc canh tác trồng trọt trên nương rẫy của người Thái cũngcó sự kết hợp của nhiều loại hình kỹ thuật khác nhau như: có nương cày,nương cuốc, nương phát – đốt – gieo trồng…Trong khai thác nương rẫy họ đãcó những tiến bộ nhất định trong việc xen canh gối vụ trên nương. Ngoài câylúa nếp, người Thái còn trồng các loại cây ngô, sắn, dâu tằm, chàm, bầu bí…Trong đó cây bông được chú trọng nhiều hơn vì là cây nguyên liệu chínhphục vụ cho sản xuất nguyên liệu đáp ứng nhu cầu dệt thổ cẩm làm trangphục. Đã từ lâu người Thái Tây Bắc đã biết trồng bông, dệt vải để làm chănấm, đệm êm, biết thêu thùa đồ dùng cá nhân hằng ngày, đặc biệt là biết tự taycắt may nên bộ trang phục truyền thống của mình, những sản phẩm đó có thểtrao đổi mua bán với các tộc người khác trong vùng. Phạm Thị Huyền 21 Lớp: DT14A
  22. 22. Khóa luận tốt nghiệp - Chăn nuôi Chăn nuôi gia đình của người Thái cũng được chú trọng trong cơ cấukinh tế của người Thái. Các loại vật nuôi chủ yếu là trâu, bò, lợn, gà…nhằmcung cấp sức kéo cho sản xuất nông nghiệp và đáp ứng nhu cầu thực phẩmcho đời sống hằng ngày cũng như phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt văn hóacộng đồng. Điều đáng chú ý trong chăn nuôi của người Thái là chăn nuôi tằmrất phát triển để đáp ứng nguyên liệu cho may mặc. - Ngành nghề thủ công Nghề thủ công của người Thái rất phong phú, phát triển đến trình độcao. Trong các nghề thủ công, nghề dệt là phát triển nhất. Sản phẩm dệt baogồm: chăn, màn, đệm, gối, quần áo, túi đeo, khăn piêu…Để làm ra nhữngchiếc váy áo, khăn piêu thổ cẩm hoàn chỉnh thì người Thái phải trải qua rấtnhiều công đoạn: kéo sơi, nhuộm màu, dệt vải, cắt may, thêu…Đó là côngviệc khó khăn, phức tạp đòi hỏi sự khéo léo, cần cù, chăm chỉ của người phụnữ Thái. Sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm với những hoa vănđặc sắc, màu sắc hài hòa, bền đẹp. Nghề đan lát là công việc của đàn ông, họ thường đan những vật dụnghằng ngày như nong, nia, dần, sàng. Ngoài ra, còn có nghề thủ công mangtính chuyên nghiệp như nghề rèn công cụ: xẻng, cuốc, lưỡi cày, dao, kéo…Họcòn biết dùng bàn xoay trong nghề gốm với độ nung cao tạo thành nhữngchum, vò, nồi, chõ đất, bát đĩa đạt trình độ cao về kĩ thuật và mỹ thuật. Nói đến săn bắt hái lượm, ta không thể không nhắc đến vai trò củangười phụ nữ và người đàn ông trong gia đình. Người phụ nữ Thái rất giỏi háimăng, mộc nhĩ, củi và các loại rau rừng, còn đàn ông sau mỗi ngày đi làmruộng, làm nương về thì vào rừng săn thú để cải thiện bữa ăn cho gia đình. Như vậy có thể thấy đặc trưng cơ bản trong nền kinh tế của người Tháilà: Trồng lúa nước và lúa nương giữ vai trò chủ đạo, còn các hoạt động kinh Phạm Thị Huyền 22 Lớp: DT14A
  23. 23. Khóa luận tốt nghiệptế khác như trồng nương sắn, nương ngô, lạc, chăn nuôi, săn bắn, hái lượmđều là nghề phụ. 1.2.5 Văn hóa vật chất - Nhà ở Người Thái Tây Bắc thường ở nhà sàn. Nhà sàn người Thái gồm hailoại: nhà mái tròn hình mai rùa có khau cút ở hai đầu của người Thái Đen vànhà có bốn mái phẳng của người Thái Trắng. Nhà của người Thái được làm từnhững nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như tre, gỗ, nứa, lá và là nhà vì cột.Con số ưa thích được dùng cho số đòn tay, bậc thang lên xuống, số lượng cửachính, cửa sổ…là số lẻ vì đồng bào quan niệm số lẻ là số phát triển cần đượcthêm vào. Nhà có cầu thang bên đầu hồi, bên quản dành cho nam giới vàkhách, bên chan dành cho gia đình và phụ nữ, Nhà được chia làm 3 tầng: Tầng thứ nhất dưới gầm sàn (lang) là chỗ ở của gia súc hoặc để củi.Tầng thứ hai là mặt sàn (hạn hươn) là không gian sinh hoạt của gia đình. Tầngthứ ba là gác trên quá giang (khứ hươn hay thạn) là nơi cất những đồ vật quý. Hiện nay, do nhiều lý do khác nhau, nhiều gia đình Thái đã chuyểnsang ở nhà nền đất, nhất là những vùng gần trung tâm thị trấn hay gần đườngquốc lộ. Hiện nay cũng có một số gia đình ở nhà đất hoặc nhà xây. - Trang phục Tất cả các ngành, các nhóm địa phương Thái đều có trang phục cơ bảngiống nhau về đường nét tạo dáng đến cách ăn mặc; khác nhau ở chỗ mỗingành, mỗi nơi có một kiểu cách trang trí các chi tiết hoặc chọn màu sắc khácnhau. Trong trang phục của người Thái, đặc sắc hơn cả là trang phục nữ,vừa đẹp, gọn nhưng không cầu kỳ, vừa làm nổi bật những đường nét của thânhình phụ nữ. Màu sắc được sử dụng rất khéo, trên nền đen hay trắng, áo điểmhàng huy bạc đơn giản nhưng trạm chỗ tinh vi. Nó đã trở thành niềm tự hàokhông chỉ của riêng người Thái mà còn là một nét văn hóa rất đặc sắc trong Phạm Thị Huyền 23 Lớp: DT14A
  24. 24. Khóa luận tốt nghiệpkho tàng văn hóa vật thể của dân tộc Việt Nam. Về cơ bản trang phục nữ củadân tộc Thái gồm: Váy: (xỉu hoặc nôổng): Váy Thái được tạo bởi bốn tấm vải khổ 0,4m, dài từ ngang thắt lưng tới chấm gót, phía trên có cạp váy hay đầu váy (huanịu) cao khoảng 10 cm bàng vải xanh hoặc đỏ, gấu váy cũng khâu nẹp thườnglà màu đỏ cao khoảng 3 cm. Váy có lót bên trong, thường là màu trắng, mayngắn hơn váy ngoài độ 15 cm. Váy phổ biến là màu đen, đôi khi là màu chàm,khi mặc váy có thể gấp trước bụng hay bên sườn. Ở nhà người Thái thườngmặc váy để dài, lao động trên ruộng nương thì xắn váy lên theo cách túm mộtgóc gấu váy nâng ngược lên cài vào cạp váy một cách khéo léo, váy ôm khépkín từ hai đầu gối trở lên. Ngày nay nhiều người phụ nữ Thái có thói quenmặc váy ngắn ngang bọng chân để tiện dụng khi lao động, sinh hoạt, ngỉ ngơi.Váy mặc lao động thường ngày may bằng vải thường, váy mặc ngày lễ tết,váy cưới may bằng lụa, lanh, sa tanh, nhung. Thắt lưng: (xai ẻo) thường bằng lụa tơ tằm nhuộm màu xanh lá cây, haiđầu can thêm hai mảnh vải đỏ thêu thùa có rua ba phía. Khi xai ẻo quắn vàogiữ chặt cạp váy, hai miếng vải để hai đầu được giắt vào trước bụng hoặc lệchsang bên hông, thắt lưng không có trang trí trừ hai đầu có tua. Áo: (xửa) gồm có: Xửa hổm nôm là cái áo lót bên trong, may bằng một tấm vải khoét lỗchiu đầu, phủ trùm hai vai xuống trước ngực, đính khuy hai bên sườn. Ngàynay họ đã bỏ kiểu áo này, dùng áo lót như phụ nữ kinh. Xửa cỏm là cái áo ngắn, áo may dài tay hẹp, thân cũng hẹp, bó sátngười. Áo chỉ ngắn đến thắt lưng, khi mặc gấu áo giấu trong thắt lưng. Áophụ nữ Thái nổi bật là hàng khuy dọc trước bụng. Khuy có thể tết bằng vảihoặc bàng bạc hình con bướm, ve sầu… gọi là măk pém, ngày nay hiếm bạcthì làm bằng nhôm. Giải thích về măk pém có nhiều cách; măk là quả, nghĩabóng là nhành cây, bông hoa mà phụ nữ là đại diện cho sự sinh nở nên măk là Phạm Thị Huyền 24 Lớp: DT14A
  25. 25. Khóa luận tốt nghiệpkhai hoa kết quả, còn pém là bám vào, mà theo quan niệm của người Tháichiếc áo là nơi trú ngụ của hồn người cho nên sự sinh sôi bám vào áo ngườiphụ nữ. Măk pém còn được giải thích như sau: bên khuyết là giống cái (nữ),bên khuy là giống đực (nam), con gái chưa chồng hàng cúc mang số lẻ nhưcòn chờ đợi cặp đôi; có chồng hàng cúc mang số chẵn như mong ước cuộcsống hạnh phúc trọn vẹn. Áo ngắn dùng khi lao động may bằng vải thường;áo lễ hội, cưới xin may bằng lụa, sa tanh. Áo thường màu trắng, màu đen,màu xanh lam hoặc màu lá cây. Bộ váy áo thắt lưng của người phụ nữ Tháivừa kín đáo vừa phô bày những đường cong tuyệt mỹ làm nên nét quyến rũcủa người phụ nữ. Khăn piêu: Phụ nữ chưa chồng búi tóc thả xuống sau gáy, khi có chồngbúi tóc chổng ngược đỉnh đầu sau đó đầu đội chiếc khăn piêu. Piêu là một tấmvải bông nhuộm tràm hai đầu có nhiều hoa văn, chỉ màu phối hợp sặc sỡ.Khăn piêu có tác dụng che đầu khi nắng gió, làm ấm đầu khi mùa đông giálạnh. Khăn piêu không những là vật trang sức quan trọng trong lúc đi chơihay trong lễ hội mà còn là tín vật của tình yêu: Khi người con gái tặng piêucho người yêu là trao cả tấm chân tình. Xà cạp (pe păn kha) là miếng vải như cờ đuôi nheo nhuộm tràm. Phụnữ Thái quắn xà cạp quanh bắp chân khi đi làm đồng vừa để chống giá lạnhvừa để bảo vệ da ở bắp chân. Trang sức của phụ nữ Thái có: Trâm cài tóc (may khắt cẩu), đôi hoa tai(cóng ku), vòng cổ (pok cô), đôi vòng đeo hai cổ tay (pok khẻn), bộ xà tích(pua sỏoi) đều được làm bằng bạc, trạm chỗ đẹp, công phu. Đó là những đồtrang sức quý giá nhất. Đàn ông Thái thì mặc quần dài màu đen, trắng bằng vải dệt, được maytheo kiểu quần ống “chân qùe”. Áo nam giới ngắn, xẻ ngực cài băng nút vải(thắt nút), có hai túi dưới và túi ngực, đầu chít khăn mỏ rìu. Phạm Thị Huyền 25 Lớp: DT14A
  26. 26. Khóa luận tốt nghiệp Ngày nay nam giới người Thái mặc âu phục khá phổ biến, nhưng phụnữ vẫn gắn bó với bộ áo, váy, khăn cùng lối trang sức theo truyền thống dântộc. - Ẩm thực Lương thực chính của người Thái là gạo nếp. Người Thái thích ăn gạonếp hơn gạo tẻ. Csơm nếp thơm ngon ăn cùng với các món ăn được chế biếntừ thịt thú rừng, hay các món cá và các loại rau rừng là các bữa ngon và thú vịcủa người Thái Tây Bắc. Các món ăn Thái được chế biến rất ngon, họ thường thích ăn luộc, đồ,nướng, ăn sống hoặc tái chín cùng các loại gia vị chua, cay, chát… từ thịt củamột số động vật nuôi như lợn, gà, bò hay là các loại thịt thú rừng họ săn bắtđược có thể chế biến ra nhiều món đặc sản. Cá là món ăn hằng ngày và không thể thiếu trên các mâm cúng haymâm cơm mời khách.Người dân Thái có câu nói cửa miệng “Pay kin pa, mákin lẩu” (Đi ăn cá, về uống rượu) Đặc biệt từ các loại cá, người Thái có những món cá đặc sản như móncá gỏi, món cá hấp, cá pỉnh tộp, cá sấy, cá ướp chua… Món nặm pịa là sữabột đắng ở ruột non trâu, bò, hưu, nai… là món không thể thiếu được trongcác bữa ăn của người Thái. Trong ăn uống người Thái thích uống rượu đặcbiệt là rượu cần và rượu nếp, ngày thường đồng bào Thái uống nước đun từ lácây và uống nước lã. Đồng bào ưa hút thuốc lào và phụ nữ thích ăn trầu. - Phương tiện vận chuyển Người Thái Tây Bắc vận chuyển bằng gánh đôi dậu đựng các thứ, đirừng đi núi thì đeo gùi, dùng ngựa cưỡi, thồ hàng. Dọc các dòng sông thì đibằng thuyền đuôi én. 1.2.6. Văn hóa tinh thần - Ngôn ngữ và chữ viết Phạm Thị Huyền 26 Lớp: DT14A
  27. 27. Khóa luận tốt nghiệp Người Thái là một trong số ít các dân tộc thiểu số ở nước ta có chữ viếttừ lâu đời, chữ Thái có nguồn gốc từ chữ Phạn- văn tự ấn độ cổ đại. Từ nhiềuthế kỷ trước, chữ Thái cổ đã được dùng để sáng tác văn học, ghi chép văn họcdân gian. Tiếng Thái thuộc hệ ngôn ngữ Tày – Thái, cùng hệ ngôn ngữ với tiếngTày, Nùng gần với tiếng Lào và tiếng Thái Lan, đây cũng là thứ tiếng phổbiến ở vùng Tây Bắc. - Tôn giáo, tín ngưỡng Người Thái cũng như các tộc người ở Tây Bắc đều theo tín ngưỡng đathần. Người Thái tin rằng, trên trời có Then Luông là đấng tối cao cai quảntrời đất, muôn loài, Then Luông được các thần cai quản giúp việc. Dưới trầngian đều có các ma (phi) cai quản. Bất kỳ làm việc gì từ lập bản, khai ruộng,phát mương đến đánh cá, săn thú đều phải xin phép ma ruộng, ma nương, marừng, ma suối…Những vị thần trên trời, các ma dưới trần gian cùng với manhà (phi hươn), ma họ (phi đẳm) những ông bà cụ kị đã khuất (pú pẩu) lànhững lực lượng phù hộ, bảo vệ người Thái. Từ quan niệm như vậy nên người Thái có những nghi thức và tập tụccúng theo cách của riêng mình. Thông qua các lễ hội trong năm, họ tổ chức lễcúng bản (xên bản), cúng mường (xên mường), cúng nhà (xên hươn)…hoặccúng tế một cái gì đó rất cụ thể như một hòn núi thiêng, một tảng đá lớn, mộtkhúc sông…mà họ cảm thấy ở đó xuất hiện sự linh thiêng, huyền bí để cầumong được sự bao dung, che chở của các đấng siêu nhiên. Cũng từ quan niệm về cái thực, cái hư như vậy, nên khi có người chết,ông mo sẽ dẫn hồn về nhập “Đẳm” tức là tổ tiên ở thế giới bên kia, và đượcmang theo một số của cải, bởi vậy đối với họ chết là tiếp tục “sống” ở cõi hưvô, về với sự vĩnh hằng nơi “Mường trời”. - Lễ hội truyền thống Phạm Thị Huyền 27 Lớp: DT14A
  28. 28. Khóa luận tốt nghiệp Trong một năm, người Thái Tây Bắc có rất nhiều lễ, tết khác nhau như:Xên bản xên mường (cúng thần bản, thần mường), lễ tỏn cộ (lễ đón cỗ), XếnXó Phốn (lễ cầu mưa), Kin khảu mớ (lễ cơm mới)… Trong các dịp lễ, tết người Thái thường tổ chức múa, hát:xòe, múakhăn, múa nón hay trai gái “Khắp báo xao” (hát trai gái giao duyên). Các tròchơi thú vị như: Tót cón (ném còn), Tót én cáy (chơi cầu lông bằng tay), TóMak Lẹ (chơi trò chơi bằng quả Lẹ)…Đó là các sinh hoạt văn hóa đậm đa bảnsắc dân tộc, vừa vui chơi, vừa mang ý nghĩa giáo dục truyền thống. - Văn nghệ dân gian Sinh sống hàng ngàn năm trên dải đất Việt Nam, thừa hưởng một nềnvăn minh lớn lao của cha ông, người Thái Tây Bắc đã góp phần không nhỏvào kho tàng văn hóa chung của dân tộc Việt Nam. Nhờ có văn tự, cư dânThái đã lưu lại cho đến nay nhiều sách, truyện ghi lại trên giấy bản, trên lácây. Đó là những cuốn sách sử chép tay dài hàng trăm trang, ngững bộ luật,những tập quán pháp tương đối hoàn chỉnh phản ánh tình hình xã hội đươngthời, những bản trường ca đọc cả hai, ba đêm dòng xúc động lòng người,những truyện thơ tuy khuyết danh nhưng đầy chất trữ tình nói lên cảm xúcmãnh liệt của cả dân tộc với thiên nhiên tươi đẹp, với con người, với tình yêuđôi lứa, nói lên khát vọng của cả dân tộc hướng đến các thiện, cái đẹp, nhữngtập tục ngữ, dân ca Thái phản ánh quá trình chinh phục tự nhiên, tích lũy kinhnghiệm của cuộc sống nhưng qua đó cũng thấy được tính cách, tâm hồn vànghệ thuật phong phú, đặc sắc. Nổi tiếng nhất trong kho tàng văn học dân gian Thái là các tác phẩm:Xống chụ xôn xao, Khun Lú Nàng Ủa, Hiến Hom- Cầm Đôi, Khăm Panh…Bên mỗi bếp lửa mỗi nóc nhà, người già kể chuyện cho lũ trẻ, những câuchuyện trong kho tàng dân gian Thái có thể kể hết đêm này sang đên khác, hếttháng này sang tháng khác mà vẫn không hết. Phạm Thị Huyền 28 Lớp: DT14A
  29. 29. Khóa luận tốt nghiệp Nói đến nghệ thuật Thái không thể không nói tới hát khắp, múa xòe.Vào các dịp tết, lễ hội, sau một vài tuần uống rượu vui, mọi người tay cầm taycùng múa vui trong không khí nhộn nhịp của tiếng trống, tiếng cồng chiêng.Cuộc xòe vui không biết bắt đầu từ bao giờ và khi nào kết thúc, chỉ biết là hơimen của rượu, hơi ấm của bàn tay cùng ân vang thôi thúc giòn giã của tiếngcồng chiêng làm ấm lòng người, mọi người gần gũi nhau hơn và như muốncùng nhau hòa vào khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ. - Tri thức dân gian Nói đến kho tàng tri thức dân gian đầu tiên phải kể đến lịch pháp vì đólà tri thức quan trọng nhất của một dân tộc về sự vận hành vũ trụ, nó khôngchỉ là cơ sở để tính thời gian mà còn là cơ sở để nhận biết các chu kỳ sinhhoạt văn hóa, hoạt đọng kinh tế …của cộng đồng. Hiện nay, dân tộc Thái Tây Bắc dùng lịch Thái trong đời sống hằngngày. Hầu hết những người từ trung niên đến cao tuổi đều nắm chắc lịch Thái,người Thái ở đây vẫn thờ cúng theo ngày Can của lịch Thái, nên cứ mườingày cúng một lần. Ở các bản đều có các ông mo hay po mự để xem ngày tốtxấu cho những ai có nhu cầu, như ngày cưới vợ, gả chồng, khởi công hoặc lênnhà mới…Các ông này thường có cuốn sổ cổ làm căn cứ cho việc tính toán vàchọn ngày, đồng thời họ tự soạn ra những nội dung lịch hằng năm để cungcấp cho nhân dân trong vùng. Tiểu kết Tại chương 1 người viết đã khái quát những vấn đề cơ bản liên quanđến người Thái Tây Bắc bao gồm đặc điểm tự nhiên, đặc điểm dân cư, thànhphần dân tộc vùng người Thái cư trú. Khái quát về tên gọi, dân số, đặc điểmmưu sinh, xã hội truyền thống, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của ngườiThái. Đặc điểm cơ bản rút ra từ vấn đề này là: Người Thái Tây Bắc sống chủyếu ở khu vực miền núi, nơi gặp nhiều khó khăn hơn các vùng khác về giaothông, giao lưu, phát triển kinh. Nhìn về góc độ kinh tế đây là những hạn chế Phạm Thị Huyền 29 Lớp: DT14A
  30. 30. Khóa luận tốt nghiệpgây khó khăn cho việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, đời sốngtinh thần của người dân trong vùng. Tuy nhiên, nhìn về góc độ văn hóa, chínhnhững khó khăn đó lại là điều kiện thuận lợi giúp cho đồng bào Thái bảo lưuđược vốn văn hóa truyền thống của dân tộc mình trong đó có văn học dângian, hạn chế sự du nhập ồ ạt của văn hóa ngoại lai làm biến dạng văn hóabản địa Dân tộc Thái là một trong số các dân tộc thiểu số ở nước ta có chữ viếttừ lâu đời. Do người Thái có chữ vết nên kho tàng văn học dân gian nhưtruyền thuyết, ca dao, truyện thơ, văn học, dân ca và một số luật lệ còn đượclưu giữ và truyền lại khá nguyên vẹn qua các bản ghi chép trên giây bản vàtrên lá cây. Một số tác phẩm truyện thơ nổi tiếng còn lưu truyền đến ngày naynhư: Xống chụ xôn xao, Khun Lú – Nàng Ủa, Khăm panh, Hiến Hom – CầmĐôi… Dân tộc Thái có số dân đông thứ ba sau người Kinh và người Tày. Dânsố đông cộng với có chữ viết là những điều kiện thuận lợi để bảo lưu và pháttriển nền văn học dân gian trong đó có truyện thơ. Chương 2 NGƯỜI PHỤ NỮ THÁI QUA TRUYỆN THƠ 2.1. Khái quát về truyện thơ của dân tộc Thái2.1.1. Khái niệm“Truyện thơ” Trong lịch sử văn học Việt Nam, từ trước đến nay khi nói đến thể loạitruyện thơ, các nhà nghiên cứu biên soạn thường nói nhiều đến mảng “truyệnnôm khuyết danh” (hoặc “truyện thơ bình dân”) của người Việt, ít người nóiđến thể loại truyện thơ trong văn học các dân tộc ít người. Trong cuốn giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, tác giả Nguyễn ThịBích Hà đã đưa ra định nghĩa về truyện thơ như sau: “Truyện thơ là những Phạm Thị Huyền 30 Lớp: DT14A
  31. 31. Khóa luận tốt nghiệptruyện kể bằng thơ có số lượng câu chữ lớn, có sự kết hợp chặt chẽ giữa yếutố tự sự và yếu tố trữ tình, phản ánh số phận của những người nghèo khổ vàkhát vọng đấu tranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh cho tình yêu tự do, chochính nghĩa”. [8, 288.] Trong các tài liệu chuyên khảo về văn học dân gian các dân tộc thiểusố, “truyện thơ” được các nhà nghiên cứu định nghĩa như sau: 1. Truyện thơ dân gian là sản phẩm tinh thần của các dân tộc ít người,là những sáng tác dân gian truyền miệng đậm bản sắc văn hóa, giàu phong tụctập quán, phản ánh tâm hồn các dân tộc trong đó. [14, 170] 2. “Truyện thơ các dân tộc thiểu số là một thể loại văn học dân gianthuộc loại hình tự sự, bao gồm những tác phẩm có hình thức văn vần, đượckể, được hát, được ngâm, đọc (kể cả trước khi được ghi chép) và thường cónội dung thể hiện thân phận con người và cuộc sống lứa đôi”. [12, 15] Như vậy, có thể khái quát: Truyện thơ là một thể loại văn học dân gianđặc sắc của các dân tộc thiểu số. Đó là những truyện kể bằng thơ thường cónội dung phản ánh số phận của những người nghèo khổ và khát vọng đấutranh chống áp bức bóc lột, đấu tranh cho tình yêu tự do, cho chính nghĩa”. 2.1.2. Đặc trưng của truyện thơ Truyện thơ có sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình Truyện thơ là những truyện kể dài bằng thơ, có cốt truyện, có nhân vật,có những tình tiết phong phú phản ánh tư tưởng, tình cảm, quan điểm củacộng đồng các dân tộc. Phần lớn cốt truyện của truyện thơ lấy từ truyện cổtích, có tình tiết, nhân vật cụ thể. Chẳng hạn: Khun Lú – Nàng Ủa là truyệnthơ Thái mượn ở truyện cổ tích Kháng cùng tên. Truyện thơ cũng sử dụng nhiều câu ca dao, nhiều bài dân ca nói lên tâmtình, ước vọng của nhân dân, nhất là thanh niên các dân tộc. Ví dụ như truyệnthơ Xống chụ xôn xao lấy rất nhiều từ Tản chụ xiết xương và Tản chụ xốngxương là những lời dân ca của người Thái Phạm Thị Huyền 31 Lớp: DT14A
  32. 32. Khóa luận tốt nghiệp Nghệ thuật tự sự kết hợp với trữ tình khiến cho truyện thơ vừa có khảnăng phản ánh sâu sắc đời sống, vừa thấm đẫm tâm trạng, tình cảm, tâm hồncon người các dân tộc trong đó. Bên cạnh đó, các mối quan hệ giữa con ngườivới con người trên nền xã hội phân hóa giai cấp và việc giải quyết các mốiquan hệ đó theo quan điểm đạo đức lý tưởng của nhân dân cũng được trìnhbày khá rõ nét trong truyện thơ Truyện thơ đậm tính chất văn hóa các dân tộc Khác với truyện thơ của dân tộc Kinh có văn bản bằng chữ Nôm, đượccoi là thể loại của văn học viết, truyện thơ các dân tộc thiểu số chủ yếu làsáng tác truyền miệng, phần lớn không phải để đọc mà để hát kể hoặc kể gầnvới ngâm. Diễn xướng truyện thơ vì vậy gần gũi và trở thành món ăn tinhthần không thể thiếu của đồng bào dân tộc thiểu số. Truyện thơ tham gia nhiều hoạt động văn hóa, phong tục tập quán, tínngưỡng của đồng bào dân tộc thiểu số. Xét về bộ phận văn hóa dân gian,truyện thơ như là một bộ phận không thể tách rời, những phong tục dàng chongười chết, phong tục ở rể, những kiêng kị…đều được thể hiện trong truyệnthơ. Người dân tộc có ý thức hoặc ngẩu nhiên đã đưa vào truyện thơ khánhiều nét sinh hoạt văn hóa dân giã của cộng đồng mình, khiến truyện thơnhư một bách khoa toàn thư về sinh hoạt văn hóa cộng đồng dân tộc. Kết cấu của truyện thơ Các truyện thơ mang đậm tính tự sự, có kết cấu tương tự kết cấu truyệncổ tích. Nếu kết cấu của truyện cổ tích là: Gặp gỡ - tai biến – đoàn tụ, thì cốttruyện phổ biến của truyện thơ là: Gặp gỡ - tai biến – chia li (hoặc cùng chết).Kết thúc có hậu, nhân vật sau bao gian nan cách trở lại trở về sống hạnh phúcbên nhau là kết thúc phổ biến trong truyện cổ tích thì lại vô cùng hiếm trongtruyện thơ các dân tộc. truyện thơ các dân tộc thường kết thúc bằng cái chếtcủa cả hai người. Chie riêng truyện thơ Tiễn dặn người yêu là có kết thúcđoàn tụ, hai người sau bao trắc trở lại trở về sống hạnh phúc bên nhau Phạm Thị Huyền 32 Lớp: DT14A
  33. 33. Khóa luận tốt nghiệp Nhân vật trong truyện thơ Nhân vật trong truyện thơ không nhiều, khác với truyện cổ tích nhânvật phần lớn có tính chất phiếm chỉ thì nhân vật trong truyện thơ có tên tuổi,địa chỉ, hoàn cảnh xuất thân khá rõ ràng. Nhân vật trong truyện thơ không cónhững yếu tố biến hóa kì ảo như nhân vật trong truyện cổ tích, cũng không cótầm vóc hay hành trạng hoàng tráng như trong sử thi mà nó gần gũi với nhữngngười bình thường trong sinh hoạt xã hội, sinh hoạt cộng đồng làng bản củacác dân tộc. Đó cũng là nét khác biệt giữa truyện thơ với các thể loại khác. 2.1.3. Truyện thơ trong kho tàng văn học dân gian của dân tộcThái Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa, văn học nghệ thuật của riêngmình, tuy có sự khác nhau về bề dày, về trình độ phát triển nhưng đều thểhiện bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ, phong tục tập quán, cách tổ chức lễ hội,cưới xin, ma chay, cách ứng xử giữa người với người….Dân tộc Thái cũng cóvốn văn hóa, nghệ thuật phong phú và đặc sắc - đây là một bộ phần quantrọng cấu thành nên nền văn hóa Việt Nam, làm nên bản sắc riêng của vănhóa Việt Nam - đa dạng mà thống nhất. Trong kho tàng văn học nghệ thuậtphong phú đó, văn học dân gian có thể xem là thành tố tiêu biểu nhất chuyểntải cả đời sống vật chất, tinh thần lẫn lịch sử phát triển của dân tộc. Truyện thơ Thái ra đời do nhu cầu lịch sử - xã hội của thời đại của nó.Lúc bấy giờ trong xã hội Thái có sự phân chia giàu nghèo, giai cấp, từ đó đãxuất hiện nhiều mâu thuẫn xã hội trong đó có mâu thuẫn giữa những ngườinghèo khổ và kẻ giàu sang, mâu thuẫn giữa chính nghĩa và phi nghĩa, mâuthuẫn giữa tình yêu chân chính của lứa đôi với những đòi hỏi khắt khe, lạnhlùng, nhiều khi tàn bạo của gia đình và xã hội. Lúc này vấn đề thân phận conngười được đặt ra và đòi hỏi phải đáp ứng thỏa đáng. Với nhu cầu như vậy,các loại hình như cổ tích, dân ca… không đủ sức đáp ứng, do đó tất yếu phảicó một thể loại mới ra đời đó là truyện thơ. Phạm Thị Huyền 33 Lớp: DT14A
  34. 34. Khóa luận tốt nghiệp Có thể nói, dân tộc Thái có một kho tàng truyện thơ phong phú và đadạng về số lượng cũng như đề tài, dựa vào đề tài thì truyện thơ Thái có thểchia làm các loại:- Truyện thơ về tình yêu : kể về tình yêu thiết tha và ngang trái của các chàngtrai, cô gái dân tộc Thái cùng khát vọng đấu tranh cho đấu tranh cho tình yêutự do, cho hạnh phúc. Tiêu biểu là các truyện: Tiễn dặn người yêu, Chàng Lú– Nàng Ủa, Hiến Hom – Cầm Đôi, Tào Hủn Lu – Náng Ông Piềm- Truyện thơ về người nghèo khổ: kể về thân phận hẩm hiu, đau khổ củanhững người lao động nghèo bị áp bức bóc lột và khát vọng có một cuộc sốngsung túc, bình yên.- Truyện thơ về chính nghĩa: kể về cuộc đấu tranh giữ đất, giữ mường củangười đồng bào dân tộc Thái. Tiêu biểu là truyện Khăm Panh Mỗi đề tài đều xây dựng kiểu nhân vật mang đặc trưng riêng của nó,song dù thuộc đề tài nào, chúng ta vẫn thấy ẩn hiện trong đó là bóng dáng củanhững người phụ nữ. Người phụ nữ có khi là trung tâm của câu chuyện, cũngcó khi làm nền cho câu chuyện, nhưng dù ở vị trí nào thì qua sự miêu tả củacác tác giả dân gian, chúng ta có thể thấy hình ảnh người phụ nữ rất rõ nét cảvề diện mạo, tài năng, tính cách, phẩm chất…2.2. Người phụ nữ được miêu tả trong truyện thơ của dân tộc Thái2.2.1. Chân dung của người phụ nữ2.2.1.1. Ngoại hình và tài năng Người Thái quan niệm: Người phụ nữ phải có vẻ đẹp dịu dàng, nhânhậu, phải thành thạo, khéo léo trong công việc nội trợ gia đình, phải biết thêuthùa, may vá… Đó mới là người phụ nữ đẹp, người phụ nữ tốt . Trong truyệnthơ cũng vậy, hầu hết các nhân vật nữ đều được miêu tả là những cô gái vừacó vẻ đẹp ngoại hình, vừa có vẻ đẹp tâm hồn và tài năng. Có thể thấy điều đó qua nhân vật “em yêu” trong truyện thơ Tiễn dặnngười yêu; nhân vật Nàng Ủa trong truyện thơ Chàng Lú – Nàng Ủa và nàng Phạm Thị Huyền 34 Lớp: DT14A
  35. 35. Khóa luận tốt nghiệpHiến Hom trong Hiến Hom – Cầm Đôi, nàng Mứn trong truyện thơ KhămPanh, nàng Ỏn La trong truyện thơ Chim yểng, Náng Ông Piềm trong truyệnthơ Tào Hủn Lu – Náng Ông Piềm. Trong truyện thơ Khăm Panh, nàng Mứnđược miêu tả là một người phụ nữ đẹp, từ khuôn mặt, mái tóc, đôi mắt, nướcda, giọng nói, dáng đi đều được so sánh với những gì đẹp nhất: Nàng đi đẹp như nai lượn Nàng nói vui hơn suối reo Tóc nàng dài, bước mỗi bước, tóc leo lên gót Tóc nhảy theo chân váy phập phồng Khuôn mặt hình lá trầu không Lá trầu không còn thua mềm mỏng Da cổ trắng rơi nước bọt vào còn thấy bọt Nàng Mứn được miêu tả là một thiếu nữ rất đỗi dịu dàng. Vẻ đẹp và sựdịu dàng của nàng có thể khiến cho mọi vật đều dừng lại, ngơ ngẩn: Nàng đến bên suối, suối bỏ đường đi, Nàng đến bên lửa, lửa quên reo cháy”. Nàng vào rừng nai quên chạy tìm đàn Hoẵng thôi chạy lang thang Gấu lạc rừng quấn quýt bên chân cô gái Nàng mở miệng hát bên núi Voi đội ngà đến nghe Nàng hát bên khe đá con, đá mẹ Cá khếnh quên bơi Cá trôi bỏ đàn vơ vẩn Nàng đến hát bên rừng Để chim quên ăn trái xanh trái chín Môi nàng đỏ tựa máu cây phang Không những đẹp, nàng Mứn còn giỏi giang, khéo léo lo toan mọi việc: Phạm Thị Huyền 35 Lớp: DT14A
  36. 36. Khóa luận tốt nghiệp Khăm Panh. Giao cho nàng việc khó Đặt cho nàng Mứn việc hay Việc khéo tay, khéo chân mới đủ Bụng biết lo xa Lòng biết nghĩ điều lành, điều tốt Đó là việc cầm quân đi vỡ đất Khai phá rừng rậm trồng lúa, trỉa ngô Người trong mường kéo về đủ một xen Nàng Mứn còn dạy cả mường vỡ ruộng, làm nương, làm đăng, làm đó: Mứn tôi được mở lời Muốn ăn cơm xôi, cơm lam thì lo vỡ ruộng Muốn có gạo ăn tháng ăn năm ta lo làm nương Muốn ăn cá ốt treo ta phải làm đăng làm đó Muốn ăn cá pộc, cá pui lại nên quăng chài úp nơm …. Nàng Ỏn La trong truyện thơ Chim Yểng cũng được miêu tả là mộtngười phụ nữ rất đẹp và có tài năng lại cần cù, chăm chỉ: Nhìn đằng sau, xinh tựa bạc năm Trông đằng trước, đẹp như bạc sáu Mắt sáng trong như trăng mồng ba Sáng long lanh, càng ngắm càng đẹp Tấm lưng eo và khuôn ngực nở Đôi mắt ướt và bắp chân tròn Nàng Ỏn La biết nấu cơm, dệt vải, thạo các công việc ngoài ruộng, trênnương: Chị Ỏn La đi cấy ruộng Hở Buộc Chị còn đi làm cỏ rẫy núi cao Trưa nghe tiếng nàng về lanh canh vòng bạc Phạm Thị Huyền 36 Lớp: DT14A
  37. 37. Khóa luận tốt nghiệp Nàng bày mâm dọn ăn Bữa trưa, ăn món cá “tết” nén trong ống nứa Món chua cá “mọn”, cá “khỉnh” ướp trong ống luồng Ăn rồi, nàng nhai trầu Nàng ngồi vào khung cửi dệt tơ Dệt chăn, nàng dệt sắp xong Vẻ đẹp của Náng Ông Piềm trong truyện thơ Tào Hủn Lu – Náng ÔngPiềm đã làm cho Tào Hủn Lu phải thốt lên: Náng Ông Piềm ơi! Náng Ông Piềm hỡi! Sao mày đẹp như hoa cánh kiến? Sao mày đẹp như ngà voi? Sao mày đẹp như con chim trĩ? Tao đã ngất ngây Náng Ông Piềm này. Náng Ông Piềm còn là người giỏi việc: Náng Ông Piềm hái bông trồng kê Tay nhanh như con thoi dệt cửi Không những thế, nàng còn là người biết ứng xử. Khi biết mẹ Hủn Lucưới nàng Nầu Hặc cho chàng, nhưng chàng không thích và kiên quyết lấynàng làm vợ, lúc đó náng Ông Piềm đã không nghĩ cho bản thân mình mà đãnghĩ cho Nầu Hặc, và nàng đã lặng lẽ ra đi, trả lại tổ ấm cho Nầu Hặc Náng Ông Piềm nghĩ: Nầu Hặc cũng là con cu mái Ta phá cái tổ là ta làm hại Ta phải đi thôi. Ta đi Nầu Hặc hè! …… Và Náng hóa thành con chim bay mất. Phạm Thị Huyền 37 Lớp: DT14A
  38. 38. Khóa luận tốt nghiệp Trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu, “Em yêu” được miêu tả từ khicòn ở trong bào thai đến khi lớn lên thành một thiếu nữ xinh đẹp như “gốc cảixanh, như tàu rong mượt” - đó là một vẻ đẹp khỏe mạnh, tươi tắn, làm baochàng trai say đắm và muốn lấy làm vợ. Không những thế, em còn là ngườirất khéo léo, tài năng, từ bé đã được tiếp xúc với công việc gia đình: Tuổi còn thơ ôm cổ mẹ chăn gà Bám vai mẹ chăn lợn Đeo cổ bác ăn cơm Đòi hái dâu theo mẹ …. Mười hai tuổi em đã lớn thành gái Mười ba em biết bắt cá suối Biết may áo che vú Biết dành tóc làm độn Nàng Ủa trong truyện thơ Chàng Lú – Nàng Ủa, khi vừa mới sinh ra đãđược miêu tả là một người rất xinh đẹp: Một vẻ hình hài muôn vạn trong sáng.. Mặt hồng tươi như vừa đúc khuôn Thời gian trôi qua, nàng Ủa đã trở thành một nàng thiếu nữ xinh đẹp,thông minh “mưu giỏi nghề hay không hề chịu kém” Nàng lớn lên mười bốn đến thời Như hoa đào rộ nở đẹp tươi Rằng chọn kén người tình lịch sự Song chẳng ai sánh nổi với nàng Trong, tinh thông mọi đường khôn ngoan Ngoài, mưu giỏi nghề hay không hề chịu kém Nàng Hiến Hom, một cô gái thường dân xinh đẹp, nết na như hoa thơmtỏa khắp Mường. Tuổi 14, Hiến Hom đã biết giúp mẹ lo toan mọi việc trong Phạm Thị Huyền 38 Lớp: DT14A
  39. 39. Khóa luận tốt nghiệpnhà, biết tập ra sàn khuống, biết quay sa kéo sợi…Trai khắp vùng tìm đến vâyquanh. “Trai bản xa ướm nàng làm vợ Trai cùng mường cũng ngỏ lời thương” Như vậy, qua các truyện thơ Thái về người phụ nữ ta có thể thấy, ngườiphụ nữ trong xã hội xưa không những xinh đẹp về diện mạo mà còn rất tàinăng, khéo kéo, biết ứng xử, thành thạo công việc nội trợ gia đình, biết thêuthùa, khâu vá, làm nương, hái củi, họ còn có thể làm được cả những công việccủa đấng nam nhi như: cầm binh đánh giặc như nàng Mứn…Đây là một nétrất đáng quý của người phụ nữ Thái mà qua truyện thơ chúng ta có thể thấyđược. 2.2.1.2. Phẩm chất Thủy chung, son sắt là một phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam từxưa đến nay. Đây cũng chính là phẩm chất nổi bật nhất của người phụ nữThái được thể hiện qua truyện thơ. Qua những câu chuyện tình yêu - một đềtài đặc sắc trong truyện thơ của dân tộc Thái, những người phụ nữ Thái đãđược xây dựng với những biểu hiện tuyệt vời nhất của lòng chung thủy. Trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu, lòng chung thủy của cô gái đãđược họ thề nguyện và chứng minh: Đôi ta yêu nhau, duyên bản duyên đừng úa Tình mường tình chớ phai Rẽ đi và qua lại Cùng sánh vai vòng đi và thẳng tới …… Đôi ta yêu nhau tình Lú - Ủa mặn nồng Lời đã trao thương không lạc mất Như trâu bán ngoài chợ Như thu lúa muôn bông Phạm Thị Huyền 39 Lớp: DT14A
  40. 40. Khóa luận tốt nghiệp Lòng ta thương nhau trăm lớp nghìn trùng Bền chặt như vàng như đá Yêu nhau, yêu trọn đời gỗ cứng Yêu nhau, yêu trọn kiếp đến già Ta yêu nhau tàn đời gió, không rung không chuyển Người xiểm xui không ngoảnh, không nghe Họ yêu nhau: Đã yêu nhau xin chớ phụ tình Đôi ta yêu nhau, yêu đến khi tóc ngả hoa râm Yêu đến khi đầu bạc Họ thề nguyện: Không lấy được nhau mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông Không lấy được nhau lúc trẻ ta sẽ lấy nhau lúc góa bụa vềgià Và trong suốt những năm dài đằng đẵng sống xa nhau, họ vẫn luôn gìngiữ ngọn lửa tình yêu được nồng đượm và tìm mọi cách để được về với nhau. Trong truyện thơ Khun Lú – Nàng Ủa, chàng Lú và nàng Ủa yêu nhautừ thưở nhỏ và họ thề nguyện: Bằng phải xa nhau muôn dặm nghìn ngày Mỗi kẻ mỗi nơi chín phương trời đất Đôi ta yêu nhau xin chớ quên tình nặng nghĩa đầy ….. Khi Lú và Ủa phải xa nhau, đôi trai gái đau buồn chia ly và hẹn ướcmãi mãi chung thủy: Bữa sáng, bữa chiều em đừng quên gọi vọng tên anh Đừng vui cùng quan mường khác phụ tình Lời hẹn thương tự xa kia còn nhỏ Thực dạ yêu anh, xin đừng sai lỡ Phạm Thị Huyền 40 Lớp: DT14A
  41. 41. Khóa luận tốt nghiệp Mùa ban rộ, vông tươi chi chít Dưới gầm trời, muôn vật sống đua kêu Chớ lấy cảnh chòng mình đeo thêm bối rối Đợi anh em ơi, đợi anh tới kết lứa vui đôi …. Càng xa nhau, càng bền chắc một lòng em ạ Em yêu anh chớ để rơi quên, dù là chút xíu, em ơi Tình đôi ta dẫu bằng dây tơ nhện cũng đừng sai, em nhé ….. Dù ruổi mường xa hơn hai mươi ngày dặm dài Đôi ta không thành bạn thì, em ơi, ta tự chết cả hai Không được ở bên chàng Lú, nàng Ủa đau đớn và đã thắt cổ tự vẫn,mong được cùng chàng Lú sum họp nơi mường Trời Chàng tạo trai, chồng hỡi em chào Chàng chết theo em nhé, khi tin vừa tới Đừng chần chừ lâu, em lầm quên mặt nhau Ta lên trời tâu với Then cao, chàng nhỉ Then sinh thành chẳng gây oán trái đâu Trong truyện thơ Hiến Hom – Cầm Đôi, đôi trai gái yêu nhau xuất pháttừ tình yêu chân thành, thủy chung. Họ yêu nhau sáu năm ròng mà không aihay biết, nàng Hom phải ôm mối tình trong câm lặng, bao niềm thương nổinhớ chàng Đôi đành phải dấu kín trong lòng. Rồi thời gian cứ thế trôi qua,“lại mấy mùa hoa nở hoa tàn”, Hiến Hom mỗi ngày thêm lớn, bao chàng traitrong mường hò hẹn nhưng Hiến Hom vẫn mãi chối từ. Lời thề nguyện vớiCầm Đôi xưa nàng vẫn còn giữ nguyên vẹn chẳng mờ phai: “Em vẫn một lòng sắt son đợi” Và cứ thế, Hiến Hom đã đợi người thương hết mùa chơi khuống nàyđến mùa chơi khuống khác, thời gian “đến nay đúng bốn mùa măng mọc tre Phạm Thị Huyền 41 Lớp: DT14A
  42. 42. Khóa luận tốt nghiệpgià”, các bạn của mình nhiều người đã thành lứa thành đôi. Rồi cái gì đếncũng sẽ đến, Hiến Hom đã mang thai với Cầm Đôi, nàng đã phải đấu tranhvới bản thân, âm thầm chịu đựng bao điều tiếng bên ngoài, giữ vững niềm tinvào mối tình đã bao năm cùng Cầm Đôi vun đắp: Bạn cùng lứa nói em nhẹ dạ Người trong mường chê em không biết xấu mặt Chính lòng chung thủy, tình yêu mãnh liệt đối với Cầm Đôi đã giúpnàng có thêm niềm tin trước hiện thực cuộc đời và miệng lưỡi thế gian: Yêu nhau thật lòng, ai bảo xấu anh nhỉ Ai chê mặc họ chê Ai cười mặc họ cười Con ta khôn lớn sẽ là người chứng giám Nhưng rồi không chịu được sự dè bửu của thế gian, nàng Hom phải tựvẫn. Xác nàng Hom vẫn bám chặt vào chõng chờ Cầm Đôi về cũng do quayêu Cầm Đôi mà nàng đã phải chết lần thứ hai. Trong truyện thơ Khăm Panh, lòng thủy chung của nàng Mứn lại đượcbiểu hiện ở một khía cạnh khác. Đó là khi Khăm Panh chết, chính nàng Mứnđã tập hợp anh em, quân sĩ giết giặc Khun Ha giữ đất giữ Mường và trả thùcho người chồng của mình. Rồi nàng chết, hồn nàng tìm đến Khăm Panh hóathành đôi bướm bay đi, tìm được nàng dâu thứ tư và dẫn đường cho nàng ẩnnấp. Khi Khăm Khoong khôn lớn chính nàng Mứn đã báo mộng cho quầnchúng vô danh tìm đến cháu mình, nàng đã đi khắp các khe động , kêu gọinhân dân quy tụ dưới cờ Khăm Khoong. Cuối cùng thì họ cũng đã giết đượctên giặc Khun Ha, giành lại được đất, được mường. Qua truyện thơ chúng ta thấy, người phụ nữ khi họ đã yêu thì rất trongsáng, thủy chung và thật lòng. Có những cô gái mãi mãi không được ở bênngười mình yêu như nàng Ủa, Náng Ông Piềm, có những cô gái đã phải mấtđi cuộc sống con người ở thế giới trần tục của mình như nàng Hiến Hom, Phạm Thị Huyền 42 Lớp: DT14A
  43. 43. Khóa luận tốt nghiệpnàng Mứn nhưng trái tim họ vẫn luôn hướng về người mà họ yêu thương, traocho người mình yêu những tình cảm thiêng liêng, cao quý nhất. Đó là nhữngnét rất đáng quý của người phụ nữ Thái được thể hiện trong truyện thơ. Một điều cần lưu ý khi nghiên cứu truyện thơ Thái về người phụ nữ đólà quan niệm về sự trinh tiết của người phụ nữ rất khác với lội suy nghĩ truyềnthống. Nhiều trường hợp hợp hai người yêu nhau từ khi còn trinh trắng, dohoàn cảnh họ không lấy được nhau, nhưng khi đến được với nhau họ khônghề băn khoăn việc người yêu mình đã trải qua một, hai đời chồng/vợ. Lúcnày, tình yêu, lòng chung thủy là quan trọng hơn hết, họ không quan tâm đếnsự trinh tiết nữa. Nói cách khác, chính lòng chung thủy của người phụ nữđược coi là sự trinh tiết, thay thế cho lối nghĩ về trinh tiết có tính chất khuônmẫu của chế độ phong kiến. Tiêu biểu là trong truyện thơ Tiễn dặn người yêu,cô gái do bị cha mẹ ép duyên nên đã phải rời xa người yêu để đi lấy chồng,nhưng sau khi bị gia đình chồng bán đi, cô gặp lại người yêu cũ, với tình yêuchung thủy bấy lâu nay, hai người không suy nghĩ đến chuyện đã qua, khônghề coi trọng hay quan tâm đến sự trinh tiết của cô gái hay việc cô gái đã đi lấychồng, hai người lại cùng đoàn tụ và sống hạnh phúc bên nhau. Trong truyện thơ Khun Lú – Nàng Ủa, chàng Lú đã được cha mẹ cướinàng Mành làm vợ nhưng vẫn ngày đêm thương nhớ nàng Ủa, nàng Ủa đã bịgả cho tạo mường Khun Chai nhưng vẫn không thôi nghĩ đến chàng Lú.Không hề suy nghĩ việc mình đã có chồng hay có vợ, hai người vẫn lén hẹnhò nhau trên hạn khuống và lén chung chăn gối với nhau. Nàng Ủa đã thắt cổtự vẫn để mong được cùng chàng Lú sum họp nơi mường Trời, chàng Lú đaubuồn thương nhớ nàng Ủa và cũng cứa cổ chết theo nàng. Như vậy, có thể nói rằng, các chàng trai cô gái trong truyện thơ, mộtkhi đã yêu nhau họ không quan tâm đến sự trinh tiết của người phụ nữ, khôngcoi trọng hai người đã có vợ hoặc chồng, đối với họ sự thủy chung trong tìnhyêu mới là sự trinh tiết dù cho họ không được sống bên nhau. Phạm Thị Huyền 43 Lớp: DT14A

×