GIÁO TRÌNH VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

8,878 views

Published on

Giáo trình văn học dân gian các dân tộc thiều số Việt Nam. Tác giả: TS. Nguyễn Việt Hương (Chủ biên), GS.TSKH Phan Đăng Nhật, PGS.TS Nguyễn Thị Huế, TS. Phạm Việt Long.

Published in: Education
1 Comment
4 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và THẠC SỸ (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ. DỊCH VỤ LÀM SLIDE POWERPOINT:10.000VNĐ/1SLIDE
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
8,878
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
28
Actions
Shares
0
Downloads
122
Comments
1
Likes
4
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

GIÁO TRÌNH VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ

  1. 1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI TS.NGUYỆN THỊ VIỆT HƯƠNG (Chủ biên), GS.TSKH PHAN ĐĂNG NHẬT PGS.TS. NGUYỄN THỊ HUẾ, TS. PHẠM VIỆT LONG VĂN HỌC DÂN GIANCÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM (Giáo trình Đại học) 2
  2. 2. Lời nói đầu Văn hoá nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam là một bộ phận đặc biệtquan trọng cấu thành văn hoá Việt Nam, làm nên bản sắc của văn hoá Việt Nam -đa dạng mà thống nhất. Vì vậy, nghiên cứu văn hoá Việt Nam không thể khôngnghiên cứu văn hoá nghệ thuật các dân tộc thiểu số. Trong kho tàng văn hoá nghệ thuật phong phú đó, văn học dân gian có thểđược xem là thành tố tiêu biểu nhất chuyển tải cả đời sống vật chất, tinh thần lẫnlịch sử phát triển của các dân tộc. Đối với các dân tộc thiểu số, do đặc thù của điềukiện sinh hoạt, vai trò chuyển tải này càng được thể hiện rõ rệt hơn. Cho tới ngàynay, khi mà văn hoá truyền thống nói chung đang phải chịu nhiều tác động tiêucực từ mặt trái của kinh tế thị trường, đồng thời văn học cũng đang phải chia sẻvai trò của mình với những phương tiện thông tin khác, thì văn hoá truyền thốngcác dân tộc thiểu số vẫn còn được bảo lưu khá nguyên vẹn trong văn học dân gian,nó vẫn là kênh thông tin không chỉ giúp chúng ta tìm hiểu về quá khứ các dân tộcanh em, mà còn là thành tố giới thiệu toàn cảnh cuộc sống đương đại các dân tộcthiểu số Việt Nam. Cũng chính bởi vai trò, giá trị và đặc điểm đó nên nghiên cứu văn học dângian các dân tộc thiểu số sẽ gặp những khó khăn nhất định. Khó nhất vẫn là vấn đềngôn ngữ. Văn học là nghệ thuật của ngôn từ, do vậy, tìm hiểu văn học dân gian cácdân tộc thiểu số thông qua bản dịch sẽ không thể tránh khỏi việc thẩm định chưa hếtgiá trị nội hàm của thông tin phía sau hàng rào ngôn ngữ. Bên cạnh đó là khó khăn vềquan điểm đánh giá. Cho dù tôn trọng nguyên tắc cao nhất trong thẩm định văn họcdân gian là phải đặt chúng trong môi trường diễn xướng, thì người nghiên cứu cũngkhó có thể có được sự đồng cảm tuyệt đối đối với cơ sở hình thành văn học dân giancủa cả 53 dân tộc. Điều này rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng chủ quan, thậm chí áp đặttrong đánh giá. Bên cạnh đó, do xuất phát từ chính tính đa dạng của 53 sắc thái vănhoá nên khi nhóm tác giả muốn đưa ra những nhận định mang tính tổng quan và hệ 3
  3. 3. thống - một yêu cầu cần thiết đối với giáo trình giảng dạy - cũng gặp phải một số khókhăn nhất định. Với những khó khăn như vậy, việc biên soạn giáo trình Văn học dân giancác dân tộc thiểu số Việt Nam được thực hiện chủ yếu xuất phát từ yêu cầu thựctế của việc giảng dạy, khó có thể đáp ứng đầy đủ các tiêu chí khoa học cần phảiđạt. Nhóm tác giả thực hiện phần biên soạn của mình dựa trên tài liệu Văn họcdân gian các dân tộc thiểu số của Võ Quang Nhơn, có điều chỉnh phù hợp vớiquan điểm phân loại văn học dân gian đương đại, đồng thời mở rộng phần môitrường diễn xướng để giúp sinh viên ngành Văn hoá Dân tộc thiểu số có thể tiếpcận văn học dân gian một cách gần gũi với chuyên môn hơn. Với mục tiêu nêu trên, giáo trình xác định nhiệm vụ môn học là cung cấpnhững kiến thức cơ bản về nội dung, nghệ thuật của các thể loại văn học dân giancác dân tộc thiểu số Việt Nam trong quan hệ với cơ sở ra đời của nó. Kết thúc mônhọc, sinh viên sẽ có cái nhìn đầy đủ hơn về giá trị của văn học dân gian các dântộc thiểu số trong đời sống xã hội nói chung, trong các hoạt động văn hoá nghệthuật nói riêng, biết vận dụng những hình thức diễn xướng phù hợp vào việc tổchức các hoạt động văn hoá ở cơ sở. Các thể loại văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam khá phong phú.Tuy nhiên, trong khuôn khổ giáo trình của ngành Văn hoá dân tộc thiểu số, chúngtôi chỉ tập trung vào một số thể loại tiêu biểu. Kết cấu giáo trình, vì vậy sẽ cónhững nội dung sau: Chương 1. Khái quát về văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam Chương 2. Thần thoại Chương 3. Truyện cổ tích Chương 4. Sử thi Chương 5. Truyện thơ Chương 6. Dân ca Nhóm tác giả rất mong sẽ nhận được góp ý của các nhà chuyên môn vànhững người quan tâm để công trình của chúng tôi ngày một hoàn thiện hơn. Xin trân trọng cám ơn. 4
  4. 4. Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAMI. KHÁI NIỆM1. Định nghĩa Văn học dân gian ra đời sớm nhất trong lịch sử văn học, gắn liền với kháiniệm folklore.1.1. Folklore Thuật ngữ này được nhà nhân chủng học người Anh là Wiliam Thoms (bútdanh Mectơn) đưa ra lần đầu tiên trong bài báo Folklore (đăng trên tạp chíAtheneum số 982 ngày 22 tháng 8 năm 1846) dùng để chỉ những di tích của nềnvăn hoá vật chất và chủ yếu là những di tích văn hoá tinh thần của nhân dân cóliên quan với nền văn hoá vật chất như: "phong tục, đạo đức, việc cúng tế, dịđoan, ca dao, cách ngôn... của các thời đại trước". Do được ghép bới 2 từ: folk(dân chúng, dân gian) và lore (trí tuệ) nên khi thuật ngữ này lan toả ra khỏi biêngiới nước Anh, nó được các nhà khoa học của những ngành tiệm cận như dân tộchọc, văn hoá học, văn học dân gian... sử dụng và giải thích theo quan điểm riêng củamình. Theo GS. Đinh Gia Khánh, cho tới nay, có 3 khuynh hướng giải thích thuậtngữ này với những nội hàm khác nhau. Thứ nhất: Khuynh hướng nhân loại học Anh- Mỹ Khuynh hướng này hiểu Folklore theo nghĩa rộng và không phân biệt rạchròi giữa nghiên cứu Folkore với dân tộc học hoặc nhân học. Các đại diện như:Harthland, Lang, Frazer, Botkin... đều cho rằng: Folklore là một khoa học vềtruyền thống nói chung của nhân loại ở khắp nơi trên thế giới. Cách hiểu này cho thấy khái niệm Foklore sẽ bao gồm toàn bộ đời sống vậtchất và tinh thần của các tầng lớp dân chúng, tương đương với thuật ngữ Folk - 5
  5. 5. culture. Thứ hai: Khuynh hướng xã hội học phương Tây (Pháp) Đây cũng là một khuynh hướng hiểu khái niệm Folklore theo nghĩa rộng: làtruyền thống của các tầng lớp dân chúng. Tuy nhiên khuynh hướng này đã nhấnmạnh sự khác nhau giữa dân tộc học và Foklore khi khu biệt rằng: trong xã hội cógiai cấp, dân tộc học nghiên cứu mọi hiện tượng được lưu truyền qua chữ viết, cònFoklore nghiên cứu mọi hiện tượng văn hoá lưu truyền qua cửa miệng (truyền khẩu)của các giai cấp, các nhóm xã hội khác nhau. Cũng theo xu hướng này, Folklore là sản phẩm của số đông, tức là tầng lớpnhân dân lao động để phân biệt với số ít, là tầng lớp thượng lưu phong kiến. Đại diệntiêu biểu là các học giả: Saintyves, Marinus, Espinoza... Nhược điểm của quan niệm rất rộng này là không phân định được ranh giớirõ rệt giữa các ngành khoa học gần gũi nhau. Thứ ba: Khuynh hướng ngữ văn học Nga Khuynh hướng này lại đi theo hướng đối lập với hai khuynh hướng trên khithu rất hẹp nội hàm khái niệm Folklore, coi Folklore là nghệ thuật ngôn ngữ củadân chúng. Quan điểm này có cơ sở từ thực tế nghiên cứu văn bản những tác phẩmFolklore nổi tiếng của những quốc gia có chữ viết ra đời sớm. Khi được văn bảnhoá, những tác phẩm Folklore bị tách khỏi phần diễn xướng của nó để chỉ còn làngôn ngữ thuần tuý. Tuy nhiên, vào cuối những năm 60, nhiều học giả Liên xô đã vượt lên quanđiểm ngữ văn học truyền thống để gắn ngôn ngữ với các thành tố khác trong mộtchỉnh thể văn hoá dân gian. Cho dù nặng về nghiên cứu ngôn ngữ song rõ ràngkhuynh hướng này đã khắc phục được nhược điểm của hai khuynh hướng trên khikhẳng định Folklore là một nghệ thuật. Khẳng định đặc trưng này, Folklore đãkhông giống với dân tộc học song cũng không thể hoàn toàn giống với nghệ thuậtngữ văn. Sách Bách khoa toàn thư Xô - viết xuất bản năm 1971 nhận định: 6
  6. 6. "Folklore là sáng tác dân gian, là hoạt động nghệ thuật của nhân dân lao động.Đó là thơ ca, âm nhạc, múa hát, kiến trúc, nghệ thuật trang trí thực hành, hội hoạ,được nhân dân sáng tạo ra và sống trong nhân dân". Quan điểm này thực sự đã khắc phục được sự khu biệt quá hẹp và quá khôcứng của trường phái ngữ văn học, đồng thời phân định đựơc đối tượng độc lậpcủa Folklore qua việc khẳng định tính nghệ thuật như một đặc trưng tiêu biểu1. Như vậy, thuật ngữ Folklore đã từng được dịch sang tiếng Việt là văn họcdân gian (mang dấu ấn của trường phái nghiên cứu ngữ văn học Nga), văn nghệdân gian (mang dấu ấn của trường phái xã hội học Tây Âu), và hiện nay là vănhoá dân gian (theo cách quan niệm của khuynh hướng nhân loại học Anh - Mỹ).Thực tế, khái niệm văn học dân gian có liên hệ mật thiết với thuật ngữ folklorenhưng không phải là đồng nhất.1.2. Văn học dân gian Đây là thuật ngữ bao gồm hai vế: văn học và dân gian. Văn học chỉ bộ phận sáng tạo nghệ thuật bằng chất liệu ngôn từ. Trên phươngdiện này, văn học dân gian và văn học thành văn có sự tương đồng. Theo Từ điển tiếng Việt: - Văn học là Nghệ thuật dùng ngôn ngữ và hình tượng để thể hiện đời sống và xã hội con người (Tr.1079). - Ngôn ngữ là 1. Hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng mà những người cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau. Ví dụ: Tiếng Nga và tiếng Việt là hai ngôn ngữ rất khác nhau. 2. Hệ thống ký hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo. Ví dụ: Ngôn ngữ điện ảnh. Ngôn ngữ hội hoạ. Ngôn ngữ của loài ong. 3. Cách thức, nghệ thuật hay trình độ sử dụng ngôn ngữ có tính riêng. Ví dụ: Ngôn ngữ Nguyễn Du. Ngôn ngữ trẻ em. Ngôn ngữ báo chí (Tr.683). - Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dưới hình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức1 Đinh Gia Khánh: Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian. NXB Khoa học xã hội, H 7
  7. 7. trực tiếp bằng cảm tính. Ví dụ: Hình tượng nghệ thuật (Tr.443). - Ngôn từ là ngôn ngữ được nói hay viết thành văn (nói khái quát). Ví dụ: Ngôn từ trong sáng, giản dị (Tr.683). Dân gian đóng vai trò như là tính từ chỉ tính chất, đặc trưng loại biệt của loạivăn học này. Thuật ngữ văn học dân gian ở Việt Nam mới xuất hiện khoảng những nămthuộc nửa sau thế kỷ XX. Đến nay, nội hàm của thuật ngữ văn học dân gian vẫn chưa được xác định rõràng. Có một thời, dòng văn học này còn được gọi là văn chương bình dân, vănhọc truyền miệng. Các nhà nghiên cứu (trong đó đa số là các nhà giáo ở các trườngtrung học) thường bóc tách cái lõi nghệ thuật ngôn từ để làm đối tượng nghiêncứu, phân tích, giảng giải. Sự phân biệt giữa những tác phẩm này với các sáng tácthành văn chỉ là ở chỗ tính khiếm khuyết tên tác giả (khuyết danh). Cách nhậnthức này về cơ bản đặt văn học dân gian trong sự chi phối của quỹ đạo văn họcthành văn và rõ ràng là xa lạ với bản chất nguyên hợp của văn học dân gian. Từ khi thành lập Hội Văn nghệ dân gian (22/11/1966) và Viện Văn hoá dângian Việt Nam (9/9/1983), bộ phận ngôn từ đã được nghiên cứu trong mối quan hệtổng hoà với các loại hình nghệ thuật khác như âm nhạc, vũ đạo, võ đạo, tạo hìnhvà môi trường diễn xướng (lễ hội). Do vậy, có thể hiểu về văn học dân gian nhưsau: Văn học dân gian là thuật ngữ dùng để chỉ những thể loại sáng tác dângian trong đó thành phần nghệ thuật ngôn từ (tức thành phần văn học) chiếmvị trí quan trọng, song bao giờ cũng có mối quan hệ hữu cơ với các thành phầnnghệ thuật và phi nghệ thuật khác. Tuy vậy, cần chú ý: Tỷ lệ và vai trò của thành phần ngôn từ trong từng thểloại không phải là đồng đều như nhau trong tương quan với các thành phần nghệthuật và phi nghệ thuật khác. Như diễn xướng trong truyện cổ tích thì thành phầnngôn từ đóng vai trò chủ yếu, nhưng trong dân ca nghi lễ thì tỷ lệ và vai trò của 8
  8. 8. các loại hình nghệ thuật khác như vũ đạo, âm nhạc, tạo hình và các yếu tố nghi lễ,phong tục, tín ngưỡng... tham gia nhiều hơn. Mặt khác, các yếu tố phi ngôn từ vàphi nghệ thuật bằng cách này hay cách khác cũng thấm sâu vào cấu trúc của tácphẩm nghệ thuật ngôn từ (ví dụ: cấu trúc đối đáp, lối so sánh ví von, lối gieo vần,ngắt nhịp trong ca dao có thể hình dung được phương thức sinh hoạt và cả môitrường diễn xướng của nó). Khởi thuỷ, văn học dân gian hình thành và tồn tại trong tổng thể văn hoá dângian. Trong quá trình phát triển, bộ phận nghệ thuật ngôn từ đóng vai trò quantrọng với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hiện thực đời sống thôngqua sự hư cấu nghệ thuật. Ở bất kỳ một dân tộc, một quốc gia nào, khi chưa có văn học viết thì văn họcdân gian là bộ phận chính của nền văn học và văn hoá của mỗi dân tộc. Khi vănhọc viết xuất hiện thì văn học dân gian không phải vì thế mà bị triệt tiêu. Hai dòngvăn học này vẫn tồn tại và phát triển song hành, có sự tác động tương hỗ. Trong xãhội hiện đại, văn học dân gian vẫn giữ nguyên sức sống. Với các dân tộc thiểu số ởViệt Nam, văn học dân gian hầu như là toàn bộ phần chủ yếu trong toàn bộ giá trịsáng tạo văn học của họ. Với bất kì một nền văn học nào, một quốc gia, một dân tộc nào, văn học dângian cũng là một công trình sáng tạo để đời. Văn học dân gian là một thành tốquan trọng cấu tạo văn hoá, là một phức hợp giá trị văn hoá văn học - lịch sử - triếthọc ngôn ngữ - tôn giáo - đạo đức của mối dân tộc. Văn học dân gian được sáng tạo ra theo quy trình sáng tạo văn hoá và lại làcơ sở chuyển tải các giá trị văn hoá, là phương tiện lưu giữ các giá trị văn hoá. Vớimỗi dân tộc, văn học dân gian là tấm gương soi hình bóng của dân tộc mình. Từđây có thể khám phá ra tính cách dân tộc, những đặc điểm về tâm lý, tình cảm, tâmthức dân tộc.2. Những đặc trưng cơ bản Là một thành tố cơ bản của văn hoá dân gian nên ngoài những đặc điểmriêng mang tính phân biệt với các thành tố khác, văn học dân gian thể hiện rất rõ 9
  9. 9. những đặc trưng cơ bản của văn hoá dân gian. Những đặc trưng chung đó là: tínhnguyên hợp, tính diễn xướng và tính tập thể.Tính nguyên hợp: Thuật ngữ nguyên hợp tương đương với thuật ngữ quốc tế Syncretisme.Trước đây người ta thường dịch thuật ngữ này với nghĩa là tính hỗn hợp. Hỗn hợpcũng phản ánh sự bao hàm nhiều thành tố trong một chỉnh thể nhưng những thànhtố đó không nhất thiết phải có mối quan hệ với nhau, thậm chí, các thành tố hoàntoàn xa lạ với nhau. Trong khi đó thì thuật ngữ Syncretisme bao hàm nhận thức cótính chất tổng thể về hiện thực, nhận thức ban đầu, nhận thức sơ khai. Trong nhậnthức ban đầu này, người ta chưa phân tích tổng thể hiện thực ra từng thành tố khácnhau. Về mặt bản chất, nó giống như khái niệm Syncretisme trong tâm lý học, khinói về nhận thức của trẻ thơ đối với thế giới, ở đó chưa có sự can thiệp của mộtquá trình nhận thức lý tính cao. Quá trình nhận thức sẽ ngày một được hoàn thiệnhơn theo hướng đi sâu phân tích bản chất các thành tố cấu thành. Sự phân tích lýtính càng sâu sắc, hiện thực được nhận diện càng đầy đủ và rõ rệt hơn. Đến một giaiđoạn phát triển cao hơn của tư duy, lý tính sẽ lại giúp con người đặt những thành tốđã được khám phá, phân tích đó trong mối tương quan tác động và ảnh hưởng qua lạilẫn nhau. Hiện thực lại được nhận thức dưới dạng kết hợp tổng thể các yếu tố nhưngkhông phải dạng kết hợp tự nhiên nguyên sơ ban đầu mà là sự kết hợp một cách cóchủ đích. Sự kết hợp đó là sản phẩm của lối tư duy tổng hợp. Do vậy, theo giáo sư Đinh Gia Khánh, khi khẳng định Folklore có tínhnguyên hợp, chúng ta hiểu rằng Folklore khi phản ánh thế giới luôn luôn là mộtnhận thức nguyên hợp về tổng thể vốn có của thế giới. Tuy nhiên trong quá trìnhsáng tạo Folklore không chỉ dừng lại ở tính chất nguyên hợp mà cũng trải quanhững bước phân tích và tổng hợp, tính nguyên hợp chỉ là tính chất cơ bản củaFolklore chứ không phải là duy nhất.Tính nguyên hợp của văn hoá dân gian được thể hiện trên ba phương diện 10
  10. 10. Mối quan hệ chặt chẽ giữa tính nghệ thuật và thực tiễn Trong đại đa số các hiện tượng văn hoá dân gian, chúng ta đều nhìn thấy mốiquan hệ này. Nếu tách khỏi cơ sở xuất phát là tính thực tiễn, nhiều hiện tượng vănhoá dân gian sẽ mất đi giá trị đích thực của nó, bởi lẽ, nếu chỉ thuần tuý xét trêngóc độ nghệ thuật, chúng ta khó có thể đánh giá công bằng giá trị của hiện tượngvăn hoá dân gian trong tương quan với một loại hình nghệ thuật chuyên nghiệpkhác. Hoạt động thực tiễn luôn bao hàm một sự vươn lên phía trước để ngày mộthoàn thiện, cho nên nó luôn là hoạt động sáng tạo. Sự sáng tạo nhằm hướng tớimục đích là tìm thấy sự hài hoà tuyệt đối giữa con người và môi trường, một sựhài hoà lý tưởng, nên hoạt động thực tiễn lúc đầu vốn chỉ nhằm mục đích ích dụngthì về sau tất yếu đưa tới yêu cầu thẩm mỹ. Như vậy thì xu thế vươn lên cái đẹp rõràng là có tính tất yếu trong hoạt động thực tiễn của con người. Hình thành tronghoạt động thực tiễn, xu thế vươn lên ấy gắn với mục đích ích dụng của hoạt độngthực tiễn. Văn hoá dân gian, với tính chất là một nghệ thuật nguyên hợp, bao gồm nhữngsáng tạo nảy sinh trong quá trình hoạt động thực tiễn của đông đảo những ngườilao động. Ở trong những sáng tạo ấy, giá trị thẩm mỹ đã được hình thành một cáchtự nhiên, nó kết hợp một cách nguyên hợp với giá trị ích dụng ngay trong một hiệntượng văn hoá dân gian. Ví dụ: a. Sự phát triển của nhạc cụ gõ cho dù có thể và thực tế là đã trở thành mộtloại hình nghệ thuật với tính thẫm mỹ cao thì trước tiên nó đã đáp ứng được nhữngnhiệm vụ cụ thể của đời sống xã hội như: - Nhạc cụ gõ đã gắn với phương thức sản xuất và sinh hoạt xã hội xa xưanhất như: hiệu lệnh của tập hợp cộng đồng, hiệu lệnh báo động nguy hiểm, hiệulệnh mở đầu hay reo mừng thành quả của cuộc săn... - Nhạc cụ gõ đã gắn với những sinh hoạt nghi lễ sớm nhất để thoả mãn nhu 11
  11. 11. cầu tâm linh của con người như: cầu phồn thực (cầu mưa thuận gió hoà, cầu sinhsôi nảy nở, cầu an dân thịnh vật...), cầu siêu thoát (tiếng trống trong nghi lễ đưalinh)... Trong quá trình thực hiện chức năng ích dụng ấy, quy luật về sự biến đổi âmthanh được nhận thức ngày một rõ rệt hơn, nó là cơ sở để hình thành nghệ thuậtâm nhạc mang tính thẩm mỹ cao. b. Những điệu hò chèo thuyền, kéo gỗ... có thể vươn tới trình độ thẩm mỹcao nhưng bao giờ (và trước hết là) cũng gắn với mục đích làm giảm nhẹ sự vất vảvà nâng cao hiệu quả bằng việc điều tiết nhịp điệu lao động tập thể. c. Các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết có vẻ như xa lạ với tính íchdụng hơn khi nó hoàn toàn mang dáng dấp của những tác phẩm văn học. Một tácphẩm văn học thì yêu cầu thẩm mỹ nghệ thuật thường được nhìn nhận và đánh giácao hơn những yêu cầu khác, song thần thoại, truyền thuyết dân gian lại khôngxuất phát từ thông lệ chung này. Đó trước hết không phải là sáng tạo nghệ thuậtcủa dân gian mà là nơi bộc lộ những khám phá của người xưa về thế giới. Trongquá trình tác động vào thực tiễn, người xưa đã giải thích các hiện tượng tự nhiênxung quanh bằng tư duy cảm tính của mình. Giải thích bằng cách đó tuy không tìmra bản chất các hiện tượng một cách khoa học nhưng lại tạo ra sự huyền ảo lunglinh kỳ diệu. Đó là giá trị nghệ thuật vốn cũng không phải là mục đích đầu tiênphải thực hiện của người xưa. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, nhiều hiện tượng văn hoá dân gian đãngày một có xu hướng xa dần giá trị ích dụng ban đầu để vươn tới giá trị thẩm mỹcao hơn. Quy luật tất yếu này không làm mất đi bản chất của văn hoá dân gian bởi,cho dù những hiện tượng đó ngày một thiên về xu hướng đề cao giá trị thẩm mỹthì người ta vẫn nhìn thấy mối tương liên của nó với cơ sở ích dụng ban đầu. Sự khác biệt của văn hoá dân gian và bác học không phải ở chỗ có haykhông có tính ích dụng và tính thẩm mỹ mà chính là ở sự kết hợp mang tínhnguyên hợp và trực tiếp hai yếu tố này trong văn hoá dân gian. Mối quan hệ giữa các thời đại khác nhau và các địa phương khác nhau 12
  12. 12. trong sáng tạo văn hoá dân gian Do đặc thù của quy trình sáng tạo và tiếp nhận văn hoá dân gian là mangtính tập thể nên các hiện tượng văn hoá dân gian không thể bất biến. Hiện tượngvăn hoá dân gian có thể được tập thể này chấp nhận nhưng chưa chắc đã phù hợpvới quan điểm sáng tạo và tiếp nhận của nhóm người khác, trong những môitrường không gian và thời gian khác nhau. Mỗi thời đại có những vấn đề nổi bật,đó chính là trung tâm chú ý và chi phối sáng tạo tập thể. Tương tự, mỗi vùngkhông gian, do đặc điểm địa văn hoá khác nhau cũng góp phần làm nên những yêucầu khác nhau trong sáng tạo và hưởng thụ văn hoá. Đây là nguyên nhân căn bảnkhiến cho sự tái tạo không ngừng diễn ra, qua mỗi thời đại, mỗi vùng địa văn hoá,sự tái tạo lại được hình dung giống như quá trình bồi tụ của các lớp phù sa lên bềmặt cơ tầng văn hoá cốt lõi. Sự bồi tụ này diễn ra một cách tự nhiên, không nhằmphủ định người trước mà chỉ thuần tuý là thoả mãn những quan điểm của tập thểvề hiện tượng văn hoá mà họ quan tâm. Sự bồi tụ này phải được gọi là sự kết hợpmang tính nguyên hợp, tức là sự kết hợp một cách nguyên sơ, không chủ định giữadấu ấn không gian và thời gian lên một hiện tượng văn hoá dân gian. Ví dụ: Tìm hiểu tục thờ Bà Chúa kho trong thế giới hiện tại sẽ thấy rất rõ dấu ấncủa từng chặng thời gian lên hiện tượng văn hoá dân gian rất phổ biến hiện naynày. Tục thờ Bà Chúa kho hiện nay được hiểu là thờ bà chúa kho tiền khi ngườita tìm đến nơi đây để vay xin hoặc trả nợ. Đây là vấn đề được quan tâm đặc biệttrong thời đại của kinh tế thị trường. Ở thời đại này, do vòng quay khắc nghiệt củacơ chế kinh tế mới, đồng tiền ngày càng chi phối nhiều mặt xã hội. Đồng tiềntrong thời kỳ kinh tế thị trường lại có những biến đổi mạnh mẽ đến mức người tatin rằng có một lực lượng siêu phàm đã đứng sau để điều tiết sự ảnh hưởng của nó.Những biến đổi đột ngột về kinh tế theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực được mộtsố người giải thích bằng thái độ thưởng công hay trách tội của bà chúa cai quảnkho tiền. Lực lượng siêu nhiên này đã được tìm thấy trong một biểu tượng của quá 13
  13. 13. khứ: bà Chúa kho lương thực. Đây là nhân vật nữ nổi tiếng của thời kỳ phong kiếngắn với nhiệm vụ nặng nề và vinh quang là coi sóc phần quan trọng nhất của cuộcsống con người thời đó. Trong bối cảnh mà người ta luôn phải đối diện với cái đóithì vấn đề lương thực lại nổi lên hàng đầu, đặc biệt là trong điều kiện chiến tranh.Bóc tiếp lớp văn hoá sớm hơn, người ta tìm thấy tục thờ này có cơ sở từ tục thờMẫu vốn rất phổ biến trong tâm thức người Việt. Xa hơn, tục thờ Bà Chúa kholương đã có thể có chung gốc từ tục thờ Mẹ Lúa vốn không phải chỉ là sinh hoạt tínngưỡng của riêng người Việt mà còn là của chung cư dân gốc Indonêsia bản địa. Điều này cho thấy, mỗi hiện tượng văn hoá dân gian còn lưu truyền tới đờisau đều đã trải qua một số phận lịch sử riêng để in dấu ấn thời gian rõ nét. Giải mãcác hiện tượng văn hoá dân gian là bóc tách cho được những lớp văn hoá đã trùmlên cái lõi truyền thống ấy. Những giá trị thẩm mỹ của văn hoá dân gian còn được lưu truyền từ địaphương này sang địa phương khác. Tác phẩm văn hoá dân gian có thể và cần thayđổi để thích ứng được với môi trường xã hội, một môi trường luôn biến đổi vàhướng lên phía trước. Quá trình chọn lựa, mài giũa tác phẩm dân gian khi nó lưuhành trong không gian cũng tương tự như quá trình diễn ra trong thời gian. Nếunhư tác phẩm dân gian được tái tạo để thích nghi với từng thời đại thì nó cũngđược tái tạo để thích nghi với từng địa phương. Cũng với tục thờ Bà Chúa Kho như đã nói ở trên. Tục thờ Bà Chúa Khohiện vẫn còn phổ biến ở cả Bắc Ninh và Hà Nội. Điều thú vị chính là ở chỗ nếuđền thờ ở Bắc Ninh mang ý nghĩa như thờ một Bà Chúa kho tiền như đã phân tíchthì ở làng Giảng Võ (Hà Nội ) người ta vẫn thờ bà nguyên nghĩa là một vị Thànhhoàng với nhiệm vụ thiêng liêng là che chở và định đoạt phúc hoạ cho cả làng. Tính chất nguyên hợp của tác phẩm dân gian thể hiện ở chỗ trong tác phẩmdân gian, những sáng tạo của nhiều người thậm chí của nhiều thời đại, của nhiềuđịa phương đã kết hợp với nhau một cách tự nhiên theo những quy luật của sự tiếpbiến văn hoá (acculturation). Và như vậy, phân tích sâu sắc tác phẩm thì có thểtách bóc nhiều tầng lớp văn hoá chồng chất lên nhau hoặc kết dính với nhau, ở đó 14
  14. 14. có cả dấu ấn của thời gian, cả không gian và thường là sự kết hợp của cả hai yếu tốnày.Sự gắn bó hữu cơ giữa các thành tố tạo nên một hiện tượng văn hoá dân gian Sân khấu chèo là một ví dụ rõ rệt về mối quan hệ nguyên hợp này. Sân khấuchèo phải đi từ đơn vị cơ bản đầu tiên là tích truyện (ngữ văn). Cốt truyện nàyđược các diễn viên trình diễn theo những quy cách nhất định (diễn xướng) với sựtrợ giúp của giai điệu và nhạc cụ (âm nhạc), trang phục và đạo cụ phù hợp (nghệthuật tạo hình). Những yếu tố ấy được hình thành và chỉnh lý có phần ngẫu hứngqua môi trường diễn xướng mang đậm tính giao lưu giữa người diễn và người xemnên hiệu quả tác động là rất lớn, người xem luôn có cảm giác gần gũi với những gìđang diễn ra. Sân khấu chèo hiện đại cũng có sự góp mặt của nhiều thành tố nhưngsự độc lập tương đối của các thành tố tham gia đã tạo cho các thành tố của sânkhấu chèo hiện đại một kiểu kết hợp không giống sân khấu chèo truyền thống. Nếunhư sự kết hợp các thành tố trong chèo truyền thống là rất chặt chẽ và mang tínhchất quy định nhau thì điều này trong sân khấu chèo hiện đại là không cần thiết.Một số khâu của sân khấu chèo truyền thống đã được lược bỏ như trong tích tròQuan Âm Thị Kính là Thiện Sĩ đã đến nhà Mãng Ông, người diễn tuy cùng đứngtrong chiếu chèo nhưng phải làm động tác mở cổng mới được xem như là đã nhìnthấy nhau thì với sự trợ giúp của đạo cụ, sân khâu chèo hiện đại đã không cần thaotác này. Do vậy có thể thấy sự gắn bó giữa các thành tố trong văn hoá dân gianmang tính quy định và chi phối nhau trong một tổng thể chung là làm nổi bật giátrị tác phẩm. Sự quy định lẫn nhau này cũng có thể tìm thấy rất rõ trong lễ hộitruyền thống khi yếu tố truyền thuyết sẽ đóng vai trò chi phối hành vi nghi lễ, lễvật và tiến trình tổ chức lễ hội. Hiện tượng kết hợp mang tính nguyên hợp các thành tố trong một hiệntượng văn hoá dân gian nói trên cũng xuất phát từ chính sự nhận thức mang tínhchỉnh thể về hiện thực. Hiện thực được cảm nhận bằng mọi giác quan trong mốiquan hệ chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng trực tiếp tới việc tái hiện thế giới qua sáng tạonghệ thuật. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, các thành tố sẽ dần dần được chú ý 15
  15. 15. ở những mức độ khác nhau để mang những vai trò khác nhau, đến mức, một sốthành tố sẽ mang vai trò chủ đạo và hoàn toàn có thể tách khỏi chỉnh thể như mộtloại hình nghệ thuật riêng. Quá trình đó đã đưa bản chất nguyên hợp trong sự kếthợp nhiều thành tố của một hiện tượng văn hoá dân gian sang quá trình phân tích,tạo điều kiện cho sự phản ánh thế giới một cách tổng hợp với sự can thiệp của tưduy lý tính cao hơn. Như vậy, khẳng định nguyên hợp là đặc trưng cơ bản của văn hoá dân giansẽ luôn phải bao hàm nhận thức mở về khái niệm này, theo đó, bản chất nguyênhợp tất yếu sẽ đi theo quy trình phát triển của mình để mang dấu ấn lý tính caohơn. Tuy nhiên, đối với sáng tạo văn hoá dân gian, dấu ấn lý tính cao đó khôngphá vỡ và không làm mất đi xu hướng chủ đạo là tính nguyên hợp điển hình trongvăn hoá dân gian.Tính tập thể và diễn xướng Nảy sinh trong quá trình khám phá và cải tạo thế giới, văn hoá dân gian làkết quả của sự sáng tạo và tái tạo không ngừng. Quá trình đó lại xảy ra trong bốicảnh chữ viết chưa có hoặc chưa được phổ biến đến đại bộ phận nhân dân laođộng nên chỉ có thể tồn tại và lưu truyền nếu hiện tượng văn hoá dân gian đó phùhợp với quan điểm chung của toàn thể cộng đồng. Tiêu chí này trở thành yếu tốđiều chỉnh lực lượng sáng tác. Khi lực lượng sáng tác là tập thể, là số đông, khảnăng được chấp nhận là cao hơn bởi hiện tượng văn hoá dân gian ấy được xemnhư đã thông qua một lần chọn lọc . Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý tiếp nhận các hiện tượng văn hoá dângian nên những sáng tạo văn hoá dân gian thường theo hướng “tập thể hoá” nhữngý tưởng cá nhân. Truyền thuyết về các nhân vật được phụng thờ trong lễ hội luônđược bồi phủ bởi những hình thức phổ biến như “nghe các cụ xưa truyền lạirằng…, mọi người kể là…”. Điều đó tiếp tục được áp dụng với quy trình tổ chứclễ hội. Một ý tưởng cá nhân dễ được chấp nhận hơn nếu như nó được đưa ra bằnghình thức: “mọi nguời nói là ngày xưa thường làm thế này….”. Như vậy, cả trong 16
  16. 16. sáng tạo lẫn trong tiếp nhận, yếu tố tập thể luôn đóng vai trò quan trọng chi phốimột hiện tượng văn hoá dân gian, nó là nguyên nhân khiến mỗi hiện tượng vănhoá dân gian lại có một đời sống riêng rất phong phú. Tính tập thể trong sáng tạo có thể gặp trong văn hoá hiện đại, văn hoá báchọc nhưng rõ ràng là mang màu sắc khác. Tập thể sáng tạo trong văn hoá hiện đạiluôn có nhu cầu khẳng định phong cách riêng biệt, độc đáo của nhóm, thậm chíkhẳng định rõ tên tuổi của nhóm như: Ngô gia văn phái (viết Hoàng Lê nhất thốngchí), Đoàn ca nhạc Việt Bắc, Đoàn nghệ thuật Tây nguyên... nhưng tập thể sángtạo trong văn hoá dân gian có vẻ như không thiên về nhu cầu này. Trong mỗi hiệntượng văn hoá dân gian có in dấu rất rõ tính địa phương, môi trường làm việcnhưng không với mục đích nhấn mạnh sự độc đáo, nét khác biệt. Môi trường nhưlà một sự thể hiện tất yếu trong một chỉnh thể nguyên hợp của văn hoá dân gian,người nghệ sĩ dân gian đã đặt cái tôi cá nhân dưói những vấn đề chung của tập thể,thoả mãn quan điểm của tập thể và được chính tập thể ấy chỉnh lý trong quá trìnhtồn tại. Tính vô danh về phương diện tác giả của văn hoá dân gian không bao giờđồng nghĩa với việc vô tác giả, thậm chí dù vô danh, người ta vẫn nhận thấy vaitrò rất quan trọng của cá nhân trong việc sáng tạo, hiệu đính hay chỉnh lý văn hoádân gian. Các cá nhân hay tập thể sáng tạo ấy khi sáng tạo ra tác phẩm văn hoádân gian đã chịu ảnh hưởng của quan điểm tập thể và trong quá trình lưu truyền lạiđược thời đại hay chính là tập thể thẩm định, màng lọc này sẽ loại bỏ những tácphẩm không phù hợp với quan điểm chung của cộng đồng. Đến lượt mình, tính vô danh trong tác phẩm văn hoá dân gian lại tạo ra mộthiện tượng rất thú vị, đó là tính dị bản. Dị bản tưởng như là hiện tượng chỉ gặptrong văn học nhưng thực chất nó là hiện tượng dễ gặp trong hầu hết các hiệntượng văn hoá dân gian. Một diễn xướng lễ hội cùng thờ một nhân vật nhưng tạimỗi vùng, nó lại được tập thể của nơi đó thay đổi cho phù hợp với những vấn đềcủa địa phương. Tập thể trong văn hoá dân gian được cụ thể thành những cộng đồng sáng tạovà cảm thụ. Khái niệm Cộng xuất hiện khá phổ biến trong nghiên cứu văn hoá dân 17
  17. 17. gian. Cộng cư là khái niệm chỉ những người cùng sống trên một địa bàn. Tươngtự, cộng mệnh, cộng cảm, cộng lợi là khái niệm để chỉ nhũng nhóm người có cùngchung nhau những ràng buộc khác về quyền lợi, số phận, sở thích... Như vậy, tính tập thể có thể được xem là một đặc trưng quan trọng của vănhoá dân gian khi nó lý giải những hiện tượng mà văn hoá bác học không có. Đặctrưng này vừa được coi là nguyên nhân vừa có thể xem là hệ qủa của tính nguyênhợp khi chúng gắn bó rất chặt chẽ với nhau. Là hệ quả của tính tập thể, nói tới diễn xướng là nói tới môi trường tạo dựngvà tồn tại của văn hoá dân gian. Như đã phân tích trong tính nguyên hợp, khôngthể có hiện tượng văn hoá dân gian nào được coi là đầy đủ ý nghĩa và giá trị thẩmmỹ khi bị tách khỏi môi trường diễn xướng của nó. Những năm gần đây, thuật ngữ diễn xướng (performance) được sử dụngrộng rãi trong các ngành khoa học xã hội bởi tính phổ biến và cách tiếp cận khoahọc của thuật ngữ này được mở rộng hơn trước. Thuật ngữ performance không chỉ còn là những hình thức nghiên cứu sânkhấu, nhảy múa âm nhạc đơn thuần với những yêu cầu đòi hỏi của sự trình diễncác kỹ năng hay biểu diễn những động tác qua sự tập luyện thể chất của con ngườinhư khái niệm performing art mà nó mang ý tưởng bao trùm, được tiếp cận trênmột phạm vi rộng trong các lĩnh vực xã hội bao gồm các hành động ứng xử nhưnghi lễ, nghi thức xã hội, lời hay ý đẹp... các hoạt động trình diễn: trình bày, diễuhành, sân khấu... Nói cách khác, chúng ta có thể nghiên cứu tất cả các hoạt độngxã hội như là một hình thức diễn xướng. Khái niệm diễn xướng như vậy là rất rộng và nó trở thành môi trường tồn tạicủa các hiện tượng xã hội nói chung chứ không phải chỉ riêng văn hoá hoặc vănhoá dân gian. Vấn đề là ở chỗ các hiện tượng văn hoá nói chung có thể đã đạt tớimức độ độc lập tương đối để tồn tại trong dạng tách biệt cũng không ảnh hưởngnhiều tới giá trị thẩm mỹ. Hơn nữa, bản thân môi trường diễn xướng không phải lànhân tố quan trọng tạo ra hiện tượng văn hoá hiện đại. Một bài hát hiện đại khôngnhất thiết phải ra đời trong môi trường là một sinh hoạt cụ thể như dân ca. Ca khúc 18
  18. 18. hiện đại hoàn toàn có thể chỉ dựa trên ý tưởng chủ quan của chủ thể sáng tác. Mặtkhác, khi ra đời, ca khúc hiện đại có thể xuất hiện trong những sinh hoạt diễnxướng nhưng thuộc tính này là không bắt buộc. Tính diễn xướng như một đặctrưng của văn hoá dân gian là khái niệm được hiểu theo nghĩa hẹp hơn khi diễnxướng là "có diễn (có hành động, có sự việc) và có xướng (nói năng ca hát) nhưngthông thường người ta vẫn hiểu hai yếu tố đó gắn bó với nhau. Diễn tuy không cólời nhưng lời câu vẫn là một cách thông báo. Xướng tuy không có hành độngnhưng vẫn gây cảm giác về một hành động"1. Hiểu theo nghĩa hẹp như vậy, diễn xướng như một đặc trưng của văn hoádân gian khi nhấn mạnh tính chỉnh thể của văn hoá dân gian trong tương quan vớicác thành tố khác. Trong tổng thể này, văn hoá dân gian ra đời và cũng chính trongtổng thể này văn hoá dân gian thực sự mang đầy đủ giá trị và ý nghĩa thẩm mỹ. *** Bên cạnh những đặc trưng chung như các thành tố văn hoá dân gian khác, vănhọc dân gian còn mang những nét khác biệt so với nghệ thuật tạo hình dân gian,nghệ thuật biểu diễn dân gian… đó là: Văn học dân gian, nghệ thuật ngôn từ Nghệ thuật ngôn từ là đặc trưng chung của văn học, không phải riêng có củavăn học dân gian. Tuy nhiên, nghệ thuật ngôn từ của văn học dân gian mang nétkhác biệt so với nghệ thuật ngôn từ của văn học viết, ở đó, ngôn từ không cần bắtbuộc đặt trong tương quan với những yếu tố khác. Nói cách khác, những đặc trưngcủa văn hoá dân gian đã chi phối vai trò ngôn từ trong tác phẩm văn học dân gian. Trước hết, tính nguyên hợp đã khiến cho văn học dân gian luôn bao hàmnhiều yếu tố. Điều này được nhận thấy rõ rệt trên hai phương diện: vai trò của vănhọc dân gian cũng như sự hình thành của các thể loại. Về phương diện vai trò: Theo quan điểm của nhân dân, văn học dân gianluôn giữ vai trò rộng hơn nghệ thuật, nó là cả khoa học, triết học, mỹ học, đạo đứchọc... Trong giai đoạn mà xã hội chưa có sự chuyên môn hoá trong lao động, điều1 Vũ Ngọc Khánh: Kho tàng diễn xướng dân gian Việt nam. NXB Văn hóa thông tin, H 1997, tr13. 19
  19. 19. này là hoàn toàn dễ hiểu, bởi lẽ khi đó ngôn từ là công cụ quan trọng để con ngườithể hiện suy nghĩ, nhận thức của mình về thế giới. Thế giới trong sự nhận thức đócòn ở dạng nguyên khối, chưa có sự chia tách thành nhiều lĩnh vực chuyên biệt,văn học dân gian vì thế trở thành thông điệp chuyển tải những vấn đề về bản thểluận – nguồn gốc trái đất, vấn đề cơ bản của khoa học triết học sau này; chuyển tảinhững vấn đề trong quy luật tình cảm của con người mà tâm lý học sẽ đi sâu giảiquyết... Chúng ta có thể tìm thấy trong văn học dân gian đối tượng nghiên cứu củacác các khoa học chuyên biệt. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ: liệu khi xã hội đã có sựchuyên môn hoá trong lao động, kiến trúc thượng tầng đươc phân tích sâu hơn,mang tính tách bạch hơn thì văn học dân gian còn mang vai trò rộng hơn nghệthuật đó không? Câu trả lời là có. Bởi lẽ, tham gia vào quá trình chuyên môn hoátrong lao động phải là những người được đào tạo, họ sẽ là lực lượng chịu ảnhhưởng quan điểm của giai cấp thống trị. Trong khi đó, đại đa số dân chúng bị loạikhỏi quy trình này, họ vẫn có nhu cầu khám phá thế giới và bộc lộ những suy nghĩcủa họ về mọi lĩnh vực của cuộc sống, họ gửi những tâm tư đó vào thế giới ngôntừ trong quá trình giao tiếp của họ, nó chảy song song với các lĩnh vực đượcnghiên cứu chuyên sâu. Văn học dân gian tách biệt và khác các lĩnh vực đượcnghiên cứu chuyên sâu căn bản ở chỗ, nó chuyển tải quan điểm của các tầng lớpdân chúng. Những quan điểm này cũng có thể bị ảnh hưởng quan điểm của giaicấp thống trị nhưng nhiều khi là sự phản kháng, cố tình đối lập lại với quan điểmchính thống. Sự đối lập quan điểm này trước hết là một sự phản ứng, phản ứngvới những điều bất hợp lý do chế độ phong kiến đưa ra để duy trì trật tự xã hội.Trong trường hợp đó, dưới danh nghĩa tập thể, yếu tố dân gian trở thành chiếc vanan toàn cho người dân thể hiện sự đối kháng với giai cấp thống trị. Tuy nhiên,trong nhiều trường hợp, cũng có thể thấy, sự khác bịêt này chỉ để thoả mãn tâm lýcào bằng của người nông dân, theo đó, phủ định giai cấp thống trị là để ngườinông dân có thể có được vị trí ngang bằng trong chốc lát. Đây không phải là mụctiêu nhưng rõ ràng là không thể phủ nhận hoàn toàn trong tâm lý sáng tạo văn họcdân gian của người dân. 20
  20. 20. Thực hiện vai trò rộng hơn nghệ thuật đó, văn học dân gian thể hiện sự cảmnhận thế giới của người dân dưới mọi giác quan, ở dạng nguyên hợp như vốn khinó tồn tại trong hiện thực. Văn học dân gian vì thế trở thành một loại hình nghệthuật đặc biệt, nó “huy động” cùng một lúc nhiều thành tố tham gia biểu đạt nhưngôn từ, vũ đạo, nhịp điệu... Trong tổng thể này, văn học dân gian mới thể hiệnđầy đủ nhất ý nghĩa của nó. Các thành tố thể hiện luôn được đặt trong mối quan hệchặt chẽ và chi phối lẫn nhau. Tuy nhiên, khi tư duy lý tính can thiệp sâu hơn vàoquá trình hình thành văn hoá dân gian, các thành tố văn hoá dân gian có nhiều khảnăng phát triển độc lập hơn thì văn học dân gian được nhận diện rõ rệt nhất quatiêu chí ngôn từ. Nó là yếu tố cốt lõi, tiêu biểu để nhận diện, phân biệt văn học dângian với các thành tố văn hoá dân gian khác. Vai trò tiêu biểu, cốt lõi chứ khôngphải là duy nhất của ngôn từ trong văn học dân gian đã làm nên nét khác biệt sovới nghệ thuật ngôn từ của văn học viết. Văn học dân gian, nghệ thuật truyền miệng gắn liền với sinh hoạt thựctiễn của nhân dân Cũng giống như đặc trưng nghệ thuật ngôn từ, văn học viết và văn học dângian đều gắn liền với sinh hoạt thực tiễn trong vai trò điều chỉnh hành vi của conngười. Tuy nhiên, nếu như văn học viết tác động đến hành vi của con người phảithông qua sự nhận thức của người đọc, tức là khả năng tác động gián tiếp, thì vănhọc dân gian không cần phải thông qua quá trình này. Nảy sinh từ nhu cầu củathực tiễn lao động và sinh hoạt, văn học dân gian khi được hình thành lại trực tiếptham gia trở lại các hoạt động thực tiễn như một phần của hoạt động thực tiễn đó,góp phần làm cho hoạt động đó trở nên hiệu quả hơn. Một bài ca dao ru con ra đờitrước hết xuất phát từ nhu cầu ru đứa trẻ vào giấc ngủ. Yêu cầu này của thực tiễnđã điều tiết ngôn từ và giai điệu của ca dao ru con, khiến cho ca dao ru con luôndùng thể lục bát quen thuộc, nhẹ nhàng, mượt mà, phù hợp với yêu cầu và mụcđích sử dụng. Ngược lại, khi ca dao ru con ra đời, nó trực tiếp tham gia vào quátrình ru trẻ ngủ, như là một phần của cuộc sống sinh hoạt. Tương tự như vậy vớicác bài hò lao động, sử thi, truyền thuyết... 21
  21. 21. Là nghệ thuật ngôn từ được hình thành trực tiếp trong sinh hoạt thực tiễn củanhân dân lao động, văn học dân gian được nhân rộng thông qua truyền khẩu. Quátrình này thường được thể hiện dưới hình thức: truyền thống và ứng tác. Truyềnthống là cách mà người lưu truyền sử dụng những bài, những câu có sẵn để kể hoặchát lại. Tuy nhiên quá trình này thường khó đảm bảo tính tuyệt đối chính xác do việcngười kể kết hợp với sự ứng tác của cá nhân.Việc ứng tác phụ thuộc vào hoàn cảnh,mục đích, từ đó người kể sẽ tạo nên những tác phẩm hoặc một phần tác phẩm mới.Quá trình trình diễn cũng là quá trình sáng tác tại chỗ, người sáng tác và người biểudiễn là một. Chính đặc điểm này khiến cho văn học dân gian là loại hình văn hoá dângian có nhiều dị bản hơn cả.II. NHỮNG TIỀN ĐỀ VĂN HOÁ XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM Văn học dân gian các dân tộc thiểu số là sản phẩm tinh thần của các dân tộc,có quan hệ mật thiết với vấn đề dân tộc và văn hoá dân gian, cho nên đó sẽ lànhững tiền đề quan trọng nhất ảnh hưởng trực tiếp tới văn học dân gian các dântộc thiểu số Việt Nam Theo tài liệu của Tổng cục Thống kê, đại gia đình các dân tộc Việt Nam có53 dân tộc thiểu số và một dân tộc đa số (dân tộc Kinh hoặc Việt). Xét ở góc độdân số tộc người, chúng ta thấy có mấy đặc điểm sau đây: - Thứ nhất: Nước ta là một quốc gia trung bình về dân số, nhưng có một sốlượng lớn các dân tộc (54). Người ta thường giải thích đặc điểm này bằng vị tríngã tư đường của Việt Nam, nơi quy tụ các luồng di cư Bắc - Nam, Đông - Tây,hải đảo - lục địa và ngược lại. - Thứ hai: Trong số 54 dân tộc thì người Việt chiếm tỷ lệ dân số cao tuyệt đối(87,34%)(1). 35 dân tộc có dân số dưới 15% tổng số dân, 5 dân tộc có dân số dưới500 người (Si la, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ Đu, Brâu), riêng dân tộc Brâu chỉ còn 95người, trong đó lực lượng sinh đẻ để bảo đảm cho sự tồn tại của dân tộc chỉ thuhẹp trong số 25 nữ.(1) Khổng Diễn: Dân số và dân tộc người ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, H 1995. 22
  22. 22. - Thứ ba: Các dân tộc nước ta (nhất là ở phía Bắc) thường sống xen kẽ.Thông thường mỗi dân tộc có mặt ở rất nhiều huyện xã. Tuy nhiên miền Bắc thìngược lại, trong một huyện, tỉnh, thậm chí trong một xã, cũng có nhiều dân tộc (4,5, 6 cho đến 7 dân tộc cùng chung sống trong một xã). Tình trạng sống xen kẽ quásâu như trên, đem đến kết quả là sự ảnh hưởng qua lại về văn hóa rất lớn. Văn hóadân gian vốn đã có sự giao lưu mạnh mẽ, tình trạng trên càng khiến việc phân biệtsản phẩm văn hóa của từng dân tộc trở nên khó khăn hơn. Do đó, nhiều khi phảichấp nhận sự phân định một cách tương đối, không thể quá rạch ròi. Những tiền đề dân tộc trên đã dẫn tới những đặc điểm về văn hoá như sau:1. Sự đa dạng về ngôn ngữ Dựa theo các đặc trưng về sinh hoạt văn hóa, ngôn ngữ và ý thức tự giác dântộc, theo tư liệu của Tổng cục Thống kê có thể chia 54 dân tộc theo các nhómngôn ngữ sau đây. 1.1. Nhóm Việt - Mường. Nhóm này có người Việt, người Mường, ngườiChứt, người Thổ. Địa bàn cư trú chính của người Mường là tỉnh Hòa Bình, miềnTây Vĩnh Phú, miền Tây Nghệ An. 1.2. Nhóm Tày - Nùng - Thái. Trong nhóm này đông nhất là người Tày, tiếpđến người Thái, sau là người Nùng. Ngoài ra còn có một số dân tộc khác như Lào,Lự, Giấy. Nhóm Tày - Nùng - Thái cư trú chủ yếu ở địa bàn Việt Bắc - Tây Bắc. 1.3. Nhóm Mông - Dao. Nhóm này bao gồm người Mông và người Dao.Người Dao chủ yếu cư trú ở vùng rẻo giữa (khoảng 700 - 800m) ở vùng HàTuyên, Bắc Thái. Người Mông cư trú ở vùng rẻo cao (từ 1000m trở lên) từ tỉnhYên Bái cho đến Lai Châu, Sơn La, miền Tây Thanh Hóa và miền Tây Nghệ Tĩnh. 1.4. Nhóm Hoa. Nhóm này gồm người Hoa, người Sán Dìu, người Ngái. Địabàn cư trú của nhóm này chủ yếu ở vùng Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Thái và TP.Hồ Chí Minh. 1.5. Nhóm Tạng Miến. Nhóm này bao gồm người Lô Lô, người Hà Nhì,người La Hủ, người Cống, cư trú chủ yếu ở các vùng Lai Châu, Cao Bằng, LạngSơn, Hà Giang, Tuyên Quang. 23
  23. 23. 1.6. Nhóm Môn - Khơme. Nhóm các dân tộc này rải rác từ Bắc cho đến Namchia theo hai khu vực. - Ở miền Bắc: gồm các dân tộc Khơmú, người Kháng, người Xing Mun,người Mãng, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, Sơn La. - Ở miền Nam: gồm các dân tộc Bru - Vân Kiều (ở miền Tây Quảng Bình,Quảng Trị), Cơ Tu (miền Tây Thừa Thiên Huế và miền Tây Quảng Nam), các dântộc Xơ Đăng, Bana (ở Gialai và Kontum), người Mnông (ở Đắc Lắc), người Mạ(Lâm Đồng), người Xtiêng (Sông Bé), người Khơme (ở vùng đồng bằng sông CửuLong). 1.7. Nhóm Nam Đảo (còn gọi là Malayô - Pôlinêdi). Nhóm này gồm cóngười Chăm (Ninh - Bình Thuận và Châu Đốc An Giang), người Chăm Hơroi(miền Tây Nghĩa Bình), người Raglai (miền Tây Phú Khánh), người Giơrai (ở tỉnhGia Lai), người Êđê (Đắc Lắc), người Churu (Lâm Đồng). * Sự phong phú các nhóm người nói các ngôn ngữ khác nhau trên đất nước ratạo nên sự đa dạng về văn hóa, văn học, nghệ thuật, phong tục, tập quán. Điều đặcbiệt đáng quan tâm là ngôn ngữ của một số dân tộc lại đồng thời là ngôn ngữ chínhcủa các nước láng giềng ở Đông Nam Á. Ví dụ: như tiếng Thái là ngôn ngữ quantrọng ở Thái Lan, Lào; tiếng Miến là ngôn ngữ quan trọng ở Miến Điện; tiếngNam Đảo là ngôn ngữ quan trọng ở Malayxia và Inđônêxia... Như vậy, các dân tộcthiểu số ở nước ta xét về mặt hệ ngôn ngữ và văn hóa có hai điều thuận lợi trongquan hệ đối ngoại đối với các nước Đông Nam Á. Thứ nhất, họ là dây nối quan trọng tạo nên quan hệ gần gũi giữa các nướcĐông Nam Á và Việt Nam. Thứ hai, các dân tộc nước ta là một bức tranh toàn cảnh xét về mặt dân tộchọc và văn hóa học của các nước Đông Nam Á. Ở đây có thể tìm thấy nhiều giá trịvăn hóa, nhiều phong tục tập quán Đông Nam Á. Hơn nữa, theo quy luật hóa thạchngoại biên (peripheral fossilization, fossilisation périphérique) nhiều giá trị vănhóa, lịch sử phong tục quý và lâu đời đã bị mất đi ở các vùng thuộc về trung tâm 24
  24. 24. văn hóa của dân tộc, lại được lưu giữ ở vùng ngoại biên văn hóa là các dân tộcthiểu số nước ta. Như vậy, vùng các dân tộc thiểu số nước ta trở thành một bảotàng sống vô giá về văn hóa của một số nước Đông Nam Á. Đặc điểm về nhiều hệ ngôn ngữ tạo nên sự phong phú đa dạng, sự khác nhauvề văn hóa, tiếng nói, phong tục. Nhưng ở Việt Nam các dân tộc ở xen kẽ trongmột địa bàn rất nhỏ, có khi ngay trong một bản cũng có hai ba dân tộc, ở một xã,một huyện, một tỉnh cùng cư trú khá nhiều dân tộc. Tình hình xen kẽ đó tạo nên sựgần gũi, giao hòa giữa văn hóa nghệ thuật, phong tục tập quán, tạo nên sự thốngnhất trên địa bàn cư trú, tạo nên những vùng văn hóa với những đặc điểm chungvà xét về toàn quốc có sự thống nhất thành văn hóa quốc gia, văn hóa Việt Nam. Xét về mặt chính trị, sự gần gũi, chan hòa về văn hóa nghệ thuật, phong tụctập quán, là một trong những nhân tố tạo nên sự đoàn kết nhất trí hòa hợp dân tộctrong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.2. Sự đa dạng về các loại hình văn hóa Về mặt xã hội 54 dân tộc nước ta, cho đến thời kỳ cận đại, không thuộc mộttrình độ thống nhất, ít nhất chúng ta có thể phân ra ba loại hình xã hội: - Xã hội chưa hình thành giai cấp. Ví dụ: các dân tộc Tây Nguyên. - Xã hội bắt đầu hình thành giai cấp. Ví dụ: các dân tộc Mường, Thái. - Xã hội giai cấp phát triển. Ví dụ: người Kinh. Và tương ứng với các loại hình xã hội đó có 3 loại hình văn hóa: - Văn hóa của thời kỳ tiền giai cấp. - Văn hóa của thời kỳ giai cấp mới hình thành. - Văn hóa của thời kỳ giai cấp phát triển. Ba loại hình văn hóa này do xuất phát từ những giai đoạn lịch sử khác nhaunên có những đặc điểm riêng và vì vậy tạo nên những màu sắc đa dạng trong nềnvăn hóa của các dân tộc Việt Nam. Sau đây chúng ta lần lượt giới thiệu các loại hìnhvăn hóa vừa nêu, với những đặc điểm cơ bản của chúng, mà các đặc điểm này đãlàm nên tính đa dạng của văn hóa các dân tộc Việt Nam. 2.1. Hình thái văn hóa tiền giai cấp (tạm gọi là Văn hóa buôn - plây) 25
  25. 25. Trong thời kỳ này chỉ có văn hóa dân gian, chưa có văn hóa bác học. Trướchết cũng như văn hóa dân gian của một số dân tộc anh em khác, trong văn hóa dângian chưa có sự tách biệt giữa sáng tác, biểu diễn và thưởng thức. Trong một cuộchát dân ca, quá trình trình diễn được tiến hành đồng thời với quá trình sáng tác.Trong sinh hoạt văn hóa dân gian không phân biệt sáng tác, thưởng thức và lưutruyền. Đó là tình hình chung của mọi chế độ phân phối về văn hóa dân gian.Riêng ở loại hình tiền giai cấp, điểm nổi bật là tính cộng đồng. Tính cộng đồng tồn tại trong các sinh hoạt văn hóa dân gian chung được tổchức bởi toàn thể làng buôn và vì toàn thể, như các lễ cúng bến nước, cúng cầumưa, cúng trừ dịch bệnh. Ở đây, mọi công việc đều do tất cả mọi người chung logánh vác, không phân biệt người đi xem và người tổ chức hội. Phần hưởng thụchia đều không thiếu một ai. Rượu thịt tất cả mọi người đều hưởng một phần bằngnhau, không có người nhiều, người ít. Trẻ con trong bụng mẹ cũng được một phầnbằng người lớn. Người ốm yếu không đi dự lễ, được đem phần đến tận nhà, dầumột miếng thịt nhỏ cũng không thiếu. Tính cộng đồng còn chi phối các sinh hoạt riêng của từng người trong giađình. Một người qua đời tất cả buôn đều khóc lóc, mở rượu (mở chum rượu cần)chia buồn và tiễn đưa. Một người có cúng lễ cả buôn đều vui mừng góp công sức,lao động, chiêng trống, đàn sáo. Tất cả mọi người thực bụng vì hạnh phúc, sứckhỏe và sự giàu sang của một người, một gia đình. Và ngược lại một nhà, mộtngười sẵn sàng chia niềm vui cho mọi nhà và mọi người. Tính cộng đồng còn biểu hiện ở những sinh hoạt văn hóa dân gian nhỏ béhàng ngày khi một gia đình đón khách mở rượu, giết lợn gà, hát chúc mừng, bất kỳai đi qua nhà nghe tiếng hát, không cần mời đều có thể lên sàn tham dự buổi tiệcđón khách ăn uống, hát xướng với tình cảm coi khách của một nhà cũng là kháchcủa cả buôn làng. Chủ nhà tự hào sung sướng khi được nhiều người tham dự. Mọingười đều chan hòa, người ta không phân biệt rạch ròi "của anh" và "của tôi". "Córượu mọi người cùng uống, có thịt mọi người cùng ăn" (Dân ca). Tinh thần cộng đồng còn được ghi lại đậm nét trong nội dung hệ thống các sử 26
  26. 26. thi khan: Khinh Dú, Đăm Xăn, Đăm Di, Mdrông Đăm, Hdung Ythu, MHiêng... ởđây nhân vật anh hùng không phải là anh hùng cá nhân mà là người của toàn thểcộng đồng. Tóm lại tính chất cộng đồng, tinh thần dân chủ cao là đặc điểm cơ bản của sựphân phối văn hóa trong loại hình văn hóa tiền giai cấp. Tính chất này là sản phảmcủa xã hội, đồng thời chính nó tác động trở lại để củng cố và phát triển tính chấtdân chủ, công bằng nguyên thủy của xã hội. Một hệ quả dẫn đến là văn hóa được phổ cập rộng rãi do nó kích thích sựsáng tạo mạnh mẽ của mọi tầng lớp xã hội. Ngay cho đến nay, đi vào buôn plâynào chúng ta cũng có thể thấy tính phổ cập toàn dân của văn hóa dân gian dân tộc.Mặc dầu tính chất này đã bị mất mát và đang bị phá hủy nghiêm trọng. 2.2. Hình thái văn hóa thời kỳ bắt đầu có giai cấp (tạm gọi là văn hóa bản -mường) Văn hóa chiếm lĩnh toàn bộ xã hội vẫn là văn hóa dân gian nhưng đã biến đổikhác với loại hình văn hóa tiền giai cấp, đặc biệt là về mặt phân phối văn hóa vàphần nào về tác giả. + Cùng với việc xây dựng vị trí chính trị của mình, tầng lớp trên đã có ý đồxây dựng một vốn liếng về văn hóa nghệ thuật riêng, nhưng chưa đủ trình độ vàđiều kiện để xây dựng nên một dòng văn hóa hoàn toàn độc lập (văn hóa bác họcnhư về sau). Họ dựa vào vốn văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc thông quanhững nghệ nhân dân gian mà họ tìm cách chi phối nhiều hoặc ít để xây dựng dầnthành một vốn liếng văn hóa hướng vào việc chiếm lĩnh văn hóa toàn dân. + Tính cộng đồng và dân chủ cao giữa tác giả và công chúng không còn nhưở hình thái tiền giai cấp. Bắt đầu xuất hiện những người chuyên làm nghề giáodục, phổ biến văn hóa tri thức, sáng tạo văn hóa nghệ thuật, kiêm cả chữa bệnh bằngcây cỏ và bùa phép. Họ là các ông bà mo, then, mỡi, ậu. Nói đúng hơn, họ hoạtđộng bán chuyên nghiệp, không dựa hẳn vào hoạt động văn hóa nghệ thuật để sinhsống. Họ vẫn là những người lao động dựa vào nông nghiệp để sống. Khi có ngườimời, họ mang túi đồ nghề đi (đồ nghề gọi là khánh khót), bỏ khánh khót họ lại cầm 27
  27. 27. cuốc, cầm dao. Nói chung họ không có đặc quyền đặc lợi gì ngoài quà biếu của cácgia chủ lấy từ vật dâng cúng ra. (Trừ một số ông mo - không phải số đông - đượctầng lớp trên cấp cho một ít ruộng). Ngoài ra, có một số nghệ nhân dân gian không làm nghề văn hóa tổng hợp(như trên đã nêu). Họ tham gia các sinh hoạt giao duyên, đối đáp và các sinh hoạtkhác, họ có tài, được hâm mộ, hoàn toàn không chuyên và không có quà cáp. Trên cơ sở toàn bộ văn hóa dân gian lẻ tẻ đã xuất hiện những nghệ nhân đặcbiệt xuất sắc bắt đầu chuyển hóa thành tác giả, tiêu biểu ở người Thái là Ngần VănHoan, có thể kể thêm Hoàng Đức Hậu (Tày). Hiện tượng này tuy lẻ tẻ nhưng rấtcó ý nghĩa. Đó là dấu hiệu của khuynh hướng: sự ra đời của văn học thành văn từvăn học dân gian. Ở đây, chúng ta có thể chỉ ra quá trình diễn tiến này với các yếutố: - Từ vần vè đến việc ổn định vần điệu hình thành thể thơ và sự ra đời thơ dângian. - Từ phương pháp khái quát tổng loại đi đến phương pháp lựa chọn điển hìnhcá thể. - Từ chỗ tác phẩm mang dấu ấn chung của cộng đồng, tộc người của vùngđến chỗ mang phong cách, cá tính của tác giả. - Từ chỗ nghệ nhân dân gian ẩn mình trong tập thể tác giả đến chỗ cá nhânnổi lên có lai lịch tên tuổi rõ rệt. - Từ chỗ truyền miệng gắn liền với các sinh hoạt của đời sống đến chỗ có ghichép và độc lập tương đối với các hoạt động đó (trong đó có yếu tố chữ viết). Tóm lại, văn hóa dân gian thời kỳ này, tính cộng đồng không cao bằng thờikỳ trước. Văn hóa dân gian vẫn có vai trò quan trọng trong xã hội và chiếm lĩnh hầuhết đời sống tinh thần của công chúng cũng như tầng lớp trên. 2.3. Hình thái văn hóa thời kỳ giai cấp đã phát triển (tạm gọi là văn hóa xómlàng). Hình thái văn hóa thời kỳ này có những đặc điểm sau đây: 28
  28. 28. + Xu hướng xây dựng một dòng văn hóa riêng của tầng lớp trên đã được pháttriển và văn hóa bác học đã được hình thành trở thành một dòng quan trọng trongnền văn hóa dân tộc. Nó có xu hướng vươn lên thành văn hóa đại diện cho dân tộc.Hướng phát triển của nó là: Đối với văn hóa dân gian vừa hạn chế những phần bất lợi cho giai cấp thốngtrị (ví dụ: nhà Lê chống điệu Lý Liên, nhà Nguyễn chống truyện Nôm), vừa chiếmlĩnh những phần có ích và cần thiết. Đối với văn hóa bác học nước ngoài thì tiếp thu để làm mẫu cho việc xâydựng nền văn hóa thống trị. + Các nghệ nhân dân gian phát triển thành tác giả thơ dân tộc ngày càngnhiều. Họ là người tiến hành một cách có hiệu quả và nhuần nhuyễn việc pháttriển văn hóa nghệ thuật bác học từ văn hóa dân gian. Nhiều nhà thơ được đào tạotừ nền giáo dục khoa cử, nhưng vẫn gắn bó với văn hóa dân gian nên nền văn hóachuyên nghiệp và bác học còn nhiều tính chất folklore về các mặt lưu truyền, diễnxướng, đề tài và điều này làm nên tính Folklore trong văn hóa bác học, ví dụ: HồXuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu... Trong kiến trúc, điêu khắc, âm nhạc, hội họatruyền thống thì càng rõ tính folklore và khó phân biệt giữa folklore và chuyênnghiệp. + Không có sự tiêu diệt văn hóa nghệ thuật tín ngưỡng dân gian như ở cácquốc gia mà ở đó diễn ra tình trạng tôn giáo độc tôn. Ở châu Âu, do sự độc tôn củaGia tô giáo mà gây nên tình trạng tàn sát cái gọi là dị giáo. Riêng ở thế kỷ 16 và17, hàng chục ngàn phụ nữ theo tín ngưỡng sa man bị tra tấn, đem ra xét xử, bịchặt đầu, bị ném vào vạc nước sôi hoặc bị thiêu sống vì tội duy nhất là theo tà đạo(khác với chính đạo Gia tô). + Dù trong hoàn cảnh nào, văn hóa dân gian vẫn tồn tại và phát triển nhằmđáp ứng nhu cầu văn hóa của đông đảo công chúng không biết chữ, không đượcđến nơi công sở, đô hội, nơi cung cấm. Chính nó góp phần thực hiện các nhiệm vụtrọng đại của lịch sử: làm ruộng, bảo vệ đất nước, bảo vệ văn hóa, chống đồnghóa. 29
  29. 29. Tóm lại, xét về phương diện lịch đại, nền văn hóa đa dân tộc nước ta đã chochúng ta quan sát thấy hình ảnh của cả một tiến trình của lịch sử của văn hóa màloài người đã trải qua từ thời cổ sơ cho đến cận, hiện đại. Sơ đồ các hình thái văn hóa các dân tộc nước ta Tên gọi Đặc điểm kinh tế - Tính folklore trong văn hóa hình thái xã hội văn hóaVăn hóa - Nương rẫy là chủ yếu - Chỉ có văn hóa dân gian, chưa có văn hóa bác họcbuôn pley - Cơ bản chưa có giai - Toàn cộng đồng sở hữu, sáng tạo và thưởng thức văn cấp hóa. - Chưa có người làm văn hóa bán chuyên nghiệpVăn hóa - Kinh tế ruộng nước - Văn hóa dân gian là chủ yếu. Bắt đầu có văn hóabản mường có nương rẫy của tầng lớp trên đi theo hướng chuyên nghiệp hóa - Bắt đầu có tầng lớp dần dần. trên. - Bắt đầu chia sẻ sở hữu văn hóa của dân tộc, một bộ phận nhỏ văn hóa thuộc về tầng lớp trên. - Xuất hiện người làm văn hóa bán chuyên nghiệp (mo, then, tào...). - Bắt đầu lẻ tẻ hình thành một bộ phận văn hóa bác học (văn học thành văn, người làm thơ dân gian).Văn hóa - Nông nghiệp ruộng - Tách ra hai dòng văn hóa dân gian và bác họcxóm làng nước, dùng trâu bò chuyên nghiệp, tồn tại song song. kéo. - Hình thành thực sự một dòng văn học cung đình - Giai cấp phong kiến được triều đình chăm sóc quản lý và hưởng thụ, theo ra đời và thống trị toàn 2 nguồn: xã hội về các mặt. + Triều đình thu thập các nghệ nhân giỏi về kinh đô. + Đào tạo các nhà văn, nhà thơ theo quy chuẩn của triều đình, học tập nước ngoài. - Vẫn tồn tại tính folklore trong văn hóa bác học (chưa kể tinh thần yêu dân, yêu nước) 30
  30. 30. Kết luận rút ra từ sơ đồ: 1. Văn hóa các dân tộc Việt Nam là một di sản đa dạng hiếm có xét về lịchđại, là một bộ sách sống hiện tồn về lịch sử văn hóa dân tộc và thế giới, là tài sảnquý hiếm cho những ai ham mê tìm hiểu về lịch sử văn hóa. 2. Là minh chứng hùng hồn cho nguyên lý "Văn hóa dân gian là văn hóa mẹ"(Cù Huy Cận) 3. Văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số (DTTS) là dây nối giữa văn hóa ViệtNam và văn hóa các nước Đông Nam Á. - Các nước láng giềng Đông Nam Á là trung tâm cư trú của các dân tộc cùngnói các thứ ngôn ngữ với các dân tộc nước ta: Thái (Thái Lan, Lào, Mianma, NamTrung Quốc...), Mã Lai (Malaysia, Indonesia, Philipin...) - Văn học dân gian (VHDG) các DTTS là bảo tàng sống của văn hóa nhiềunước Đông Nam Á. - VHDG các DTTS là cơ sở thuận lợi cho việc giao lưu văn hóa, thực hiệnchủ trương mở cửa, làm bạn với mọi người. - Các hiện tượng văn hóa tiêu biểu là: Trống đồng, nhà sàn, cồng chiêng, lụâttục, sử thi...3. Tính thống nhất Sự hình thành gia đình các dân tộc Việt Nam là một quá trình lâu dài vàkhông đơn giản. Trong 54 dân tộc, có một bộ phận là dân tộc bản địa có cùng mộtcội nguồn lịch sử từ thời xa xưa, một bộ phận mới gia nhập trong các thế kỷ về saunày. Có những dân tộc gia nhập nhiều đợt. Ví dụ: người Thái. Từ đời Tần Hán(222 TCN) cho đến Tuỳ Đường (602 - 618) Tây Bắc Việt Nam cùng với ThượngLào, Vân Nam là nơi cư trú của tổ tiên người Thái. Trong thời gian này, ngườiThái mới có một số lượng rất ít. Đến thế kỷ 11, 12, người Thái đen chuyển cư đến Tây Bắc và trở thành cưdân chiếm đa số ở đây. Thế kỷ 13, người Thái trắng đến làm chủ Mường Lay. Thế kỷ 14, một bộ phận người Thái đến Mộc Châu, Sơn La, Thanh Hóa. 31
  31. 31. * * * Theo các cứ liệu khảo cổ học đã phát hiện được, chúng ta biết rằng từ thời rấtxa xưa những tập đoàn người cổ đã để lại những sáng tạo vật chất trên khắp miềncủa lãnh thổ Việt Nam, phần lớn là miền núi. Đó là văn hóa Hoà Bình, ở vùng Hoà Bình (vùng đồng bào Mường hiện nay)với những dụng cụ bằng đá đẽo thuộc thời đại đồ đá giữa, cách đây khoảng 1 vạnnăm. Và tiếp theo đó là nền văn hóa Bắc Sơn ở Thái Nguyên (vùng đồng bào Tàyhiện nay) với các dụng cụ bằng đá mài, đặc biệt có loại rìu mài tứ giác nổi tiếng,thuộc thời đại đồ đá mới, cách ta khoảng 8 nghìn năm. Văn hóa Bắc Sơn lại mớiđược phát hiện thêm ở vùng Thẩm Khương huyện Tuần Giáo tỉnh Lai Châu (vùngcư trú của đồng bào Thái hiện nay). Ở miền núi Quảng Trị, chúng ta đã phát hiện được di chỉ đồ đá mới, cách ta 8nghìn năm, thuộc vùng dân tộc Pa Cô cư trú ở A Lưới. Ở làng Ndut Liêng Krak, thuộc huyện Lắc, phía Nam Đắc Lắc, vùng cư trúcủa đồng Mnông hiện nay, đã phát hiện được hiện vật khảo cổ đàn đá. Tiếp theo nền văn hóa đồ đá là nền văn hóa đồng thau. Đây là thời đại vănhóa đã phát triển khá cao dẫn đến việc hình thành nước Văn Lang của các vuaHùng, cách đây mấy nghìn năm. Thời đại đồng thau gắn liền với nền văn hóaĐông Sơn nổi tiếng với hiện vật khảo cổ rất có giá trị là trống đồng Đông Sơn.Chúng ta đã phát hiện được nhiều di chỉ của nền văn hóa Đông Sơn ở vùng đồngbào Mường cư trú hiện nay, từ Vĩnh Phú đến Hòa Bình, Nghệ An. Vùng đồng bàoThái cư trú hiện nay cũng phát hiện thấy nhiều di chỉ thuộc nền văn hóa Đông Sơnnhư Phù Yên (tỉnh Sơn La), Mộc Châu, Yên Châu (Sơn La), Thẩm Khương, TuầnGiáo (tỉnh Lai Châu), làng Vạc (miền núi Nghệ An). Ở miền núi tỉnh Quảng Bình và vùng Đắc Lây (tỉnh Kontum), vùng dân tộcBana cũng phát hiện được trống đồng. Trên trống đồng ghi lại hình ảnh các sinh hoạt mà chúng ta thấy phổ biến ởmiền núi như: 32
  32. 32. - Đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy. - Giã gạo bằng chày tay dài. - Nhà sàn. - Người thổi khèn. - Người hóa trang chim. Tóm lại, qua các di chỉ khảo cổ trên đây, có thể tin rằng từ thời đồ đá cho đếnthời đồ đồng, từ cách đây 1 vạn năm cho đến 8.000 năm và 4.000 năm, vùng miềnnúi nước ta đã liên tục có người sinh sống. Đồng thời cũng có thể tin rằng nhiềudân tộc trên đất nước ta đều cùng là những dân tộc bản địa lâu đời, cùng một cộinguồn lịch sử, do đó cùng có chung một gia tài văn hóa. Trải qua hàng nghìn nămlịch sử với bao nhiêu đổi thay, cho đến thời kỳ cận hiện đại các dân tộc có thể dichuyển đến những vùng xa nhau, tiếng nói, phong tục tập quán từng nơi có nhữngkhác biệt. Nhưng tìm tòi trong hành trang mà họ mang đi và giữ lại được trongcuộc di chuyển lâu dài của lịch sử, chúng ta vẫn tìm thấy những bộ phận của giatài chung đó. Có thể lấy trường hợp đầu váy Mường làm một ví dụ tiêu biểu. Từ Chi, nhàdân tộc học nổi tiếng, đã nghiên cứu hoa văn trên đầu váy của người Mường rấtcông phu và đi đến kết luận: "Qua những phát hiện cho đến nay, người ta mớithấy có đầu váy Mường là giữ được hầu như toàn bộ cấu trúc trang trí của hoavăn trên trống đồng loại I (cổ nhất). Mà chỉ có cấu trúc ấy mới nói lên được trongmột chừng mực nhất định tinh thần nghệ thuật trang trí Đông Sơn"(1) Đầu váy Mường (tiếng Mường là klôộc Wăl) là tấm trang trí bằng hoa văndệt, được mang vào phần trên của váy để che thân người phụ nữ từ hông lên đếnnách. Bản thân nó gồm 3 tấm nhỏ hơn, dệt riêng rẽ, rồi can vào nhau. Hoa văn chính ở tấm trên cùng là những ngôi sao tám cánh đứng san sát cạnhnhau. Ở tấm thứ hai gồm nhiều dải ngang nhỏ chồng lên nhau, mỗi dải chứa mộtmô típ động vật, được nhân lên thành nhiều con đồng nhất nối đuôi nhau quanhdải (hươu, gà, chim, rồng, rắn hai đầu). Lưu ý, nếu những con vật trên dải nhỏ thứ nhất nối đuôi nhau đi về hướng tay(1) Theo sách: Người Mường với văn hóa cổ truyền Mường Bi (Nhiều tác giả). Sở văn hóa Hoà Bình, 1988, tr355. 33
  33. 33. phải của người mặc váy thì trên dải thứ hai tiếp theo ngay phía đuôi, các động vậtđi về hướng tay trái, trên giải thứ ba tiếp dưới nữa chúng lại đi về hướng tay phải...và cứ thế tiếp tục. Tấm cuối cùng không được bố cục thành dải ngang mà thành những dải dọchẹp không chứa hoa văn. Xen vào các dải hẹp ấy thỉnh thoảng có một ô chữ nhật,chứa một mô típ hình học đơn giản. Hãy trở về với trang trí trên mặt trống đồng Đông Sơn loại I (theo phân loạicủa F.Heger). Ở đây, trang trí lan từ trung tâm mặt trống ra toàn bộ mặt trống,xuống tang trống rồi xuống chân trống. Đầu váy Mường đã cơ bản trả lại cho ta những nét chính của cấu trúc trang tríĐông Sơn: - Vòng tròn chứa một ngôi sao ở trung tâm mặt trống sẽ chuyển thành dảingang chứa nhiều ngôi sao san sát. - Các vành trống đồng tâm chứa hình động vật và bao quanh vòng tròn nóitrên thì chuyển thành những dải ngang chứa hình động vật và chống lên nhau ởbên dưới dải ngôi sao. - Các vòng tròn hoa văn hình học ở tang trống và chân trống được chuyểnthành những dải hoa văn hình học ở đầu váy Mường. Tóm lại, qua vận động chuyển vị trí, cấu trúc trang trí trên mặt trống ĐôngSơn loại I được chuyển qua đầu váy gần như nguyên vẹn, trên trống đồng thì từtrung tâm mặt trống ra ngoài rồi xuống tang trống và chân trống; trên đầu váy thìtừ trên xuống dưới chân của người phụ nữ(1). Ngoài hoa văn trên thổ cẩm Mường, chúng ta có thể kể đến các giá trị vănhóa khác như ngôn ngữ, thần thoại, sử thi, âm nhạc, nghi lễ... ở đó có nhiều chứngtích cho phép chúng ta kết luận rằng, nhiều dân tộc nước ta có một cội nguồn lịchsử chung từ những thời kỳ văn hóa khảo cổ xa xưa, do đó có một gia tài văn hóachung. Và chính gia tài văn hoá chung cổ xưa này tạo nên sự thống nhất sâu sắctrong sự phong phú, đa dạng làm cho nền văn hóa các dân tộc Việt Nam trở thành(1) Xem Trần Từ (tức Từ Chi): bài Cạp váy mường, trong sách Người Mường ở Hòa Bình, Hội Khoa học lịch sử ViệtNam xuất bản, H.1996, tr.87-179. 34
  34. 34. "một vườn hoa nhiều hương sắc".III. HỆ THỐNG THỂ LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN CÁC DÂN TỘC THIỂUSỐ Giống như văn học dân gian của tất cả các khu vực khác, văn học dân gianViệt Nam nói chung và văn học dân gian các dân tộc thiểu số nói riêng không tồntại dưới dạng một sự vật đơn nhất mà bao giờ cũng tồn tại ở dạng tác phẩm thuộcthể loại này hay thể loại khác.Các tiêu chí phân loại văn học dân gian cũng rấtphong phú, đa dạng và đều có những ưu nhược điểm nhất định. Việc phân loại vănhọc dân gian khó khăn chính là bởi tính nguyên hợp điển hình của nó. Trong quátrình hình thành và phát triển, các hình thức sáng tạo văn học dân gian không đượcchủ định định hình từ trước, nên ranh giới khác biệt giữa chúng là do các nhànghiên cứu sau này muốn tách riêng để so sánh và đánh giá. Việc phân biệt tuyệtđối chính xác ranh giới các thể loại là không thể thực hiện được với văn học dângian. Ở đây, chúng tôi sử dụng quan điểm phân loại của tác giả Chu Xuân Diêntrong cuốn Văn học dân gian, xuất bản năm 1992. Theo chúng tôi, đây là quanđiểm phân loại hợp lý hơn cả. Tuy nhiên, ngay cả sự phân chia này cũng phải chấpnhận sự giao thoa rất mạnh giữa các thể loại văn văn học dân gian. Hệ thống thể loại văn học dân gian nói chung, văn học dân gian các dân tộcthiểu số nói riêng sẽ được gọi thành các danh pháp khác nhau theo 3 cấp: loại,nhóm thể loại và thể loại. Dưới các thể loại còn có các biến thể của thể loại, cáctiểu loại. Điều này sẽ được làm rõ trong quá trình đi sâu vào từng thể loại cụ thể. Dưới cấp độ phân chia rộng nhất là LOẠI, văn học dân gian có thể chiathành 3 loại, ứng với 3 phương thức phản ánh cuộc sống của ngôn từ là:tự sự, trữtình và kịch. Phương thức tự sự sẽ bao gồm các hình thức truyện kể, thơ ca kể, cáccâu chuyện và lời nói vần vè... Phương thức trữ tình sẽ bao gồm các hình thức cadao, dân ca. Phương thức phản ánh cuộc sống dưới hình thức kịch sẽ bao gồm cakịch và các trò diễn dân gian. Ở cấp độ hẹp, các loại sẽ được thể hiện qua các NHÓM THỂ LOẠI. Loại tựsự sẽ bao gồm 3 nhóm thể loại là: a) Văn xuôi tự sự, b) Thơ ca tự sự, c) Câu nói 35
  35. 35. vần vè. Loại trữ tình bao gồm: a) Thơ ca trữ tình nghi lễ, b) Thơ ca trữ tình phinghi lễ. Loại phương thức kịch thì sẽ được tồn tại dưới các dạng thể loại cụ thể dotính chất khá riêng biệt giữa chúng với nhau (điều này có thể hiểu là do dạng thứckịch được hình thành muộn hơn, tính chất tổng hợp đã khá rõ để tách dần ranh giớithể loại, khác với các hình thức phản ánh cuộc sống ban đầu, mang đậm tínhnguyên hợp hơn). Ở cấp độ hẹp hơn nữa, các nhóm thể loại sẽ được phân chia thành các THỂLOẠI, tương ứng với các danh pháp khác nhau. Nhóm thể loại văn xuôi tự sự sẽgồm: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười. Nhóm thơ catự sự sẽ gồm: các dạng thức vè (vè lịch sử, vè thế sự, vè than thân...), sử thi, truyệnthơ. Nhóm câu nói vần vè gồm các thể loại: tục ngữ, câu đố, câu phù chú. Nhómthơ ca trữ tình nghi lễ sẽ chia thành các thể loại: bài ca nghi lễ lao động (lịch tiết,khẩn nguyện, xuống đồng...), bài ca nghi lễ sinh hoạt (hôn lễ, tang lễ...), bài canghi lễ tế thần. Nhóm thơ ca trữ tình phi nghi lễ cũng sẽ gồm: bài ca lao động (hò),bài ca sinh hoạt (gia đình, xã hội), bài ca giao duyên. Phương thức kịch sẽ bao gồm các thể loại có mức độ phát triển khá cao như:chèo, tuồng, những trò diễn có tích truyện khác... Phân chia hệ thống thể loại như vậy, chúng tôi muốn chi tiết hoá các dạngthức phản ánh cuộc sống, làm rõ sự phong phú của văn học dân gian. Tuy nhiên,khi đi sâu phân tích từng thể loại, trong một chừng mực nhất định, chúng tôi vẫnphải gộp chúng lại để đặt chúng trong một sự so sánh hẹp.Ví dụ: khi tìm hiểu vềdân ca, chúng tôi sẽ chỉ phân chia chúng thành các nhóm dân ca như: dân ca laođộng, dân ca nghi lễ, dân ca giao duyên.. nhưng khi phân tích ca dao lao động cóthể sẽ nhắc tới những bài ca nghi lễ trong lao động, khi nói tới dân ca trong hôn lễ(dân ca nghi lễ), chúng tôi lại đặt nó trong quan hệ với phần hát giao duyên củađám cưới... Điều này lại một lần nữa nhấn mạnh sự giao thoa giữa các thể loạitrong văn học dân gian. Hệ thống thể loại trong văn học dân gian nói chung, văn học dân gian cácdân tộc thiểu số nói riêng có thể được hình dung đầy đủ theo bảng phân loại sau 36
  36. 36. đây: CẤP DANH PHÁP LOẠI Tự sự Trữ tình Kịch (truyện kể, thơ ca kể, lời nói vần vè..) (ca dao, dân ca) (ca kịch, trò diễn) Nhóm Văn xuôi tự sự Thơ ca tự sự Câu nói Thơ ca trữ Thơ ca trữ thể (kể) (ca) vần vè tình nghi lễ tình phi loại nghi lễ Thể Thần thoại Vè lịch sử Tục ngữ Nghi lễ lao Bài ca lao Chèo loại Sử thi Sử thi Câu đố động động Tuồng đồ Truyềnthuyết Vè thế sự Câu phù Nghi lễ Bài ca Những trò Cổ tích Vè than chú sinh hoạt sinh hoạt diễn có tích Ngụ ngôn thân Nghi lễ tế Bài ca truyện Truyện cười Vè trẻ em thần giao Truyện thơ duyên Việc phân chia ranh giới các thể loại văn học dân gian như trên chủ yếugiúp người đọc hình dung đầy đủ về tổng thể văn học dân gian. Một số thể loại tuyđược đặt trong hệ thống phân loại nhưng khi cần nhấn mạnh hơn để làm rõ, chúngtôi cũng sẽ tách riêng để đi sâu. Mặt khác, cũng là định danh tên gọi như vậynhưng có thể thể loại này rất phát triển trong văn học dân gian người Việt lại khóphát triển trong văn học dân gian các dân tộc thiểu số và ngược lại, nên chúng tôichỉ đi sâu vào những thể loại khá phát triển và có ảnh hưởng sâu đến đời sống vănhoá của đồng bào. Trường hợp Truyền thuyết - Sử thi, Ca dao - Dân ca là nhữngví dụ tiêu biểu. ** Trên cơ sở những tiền đề văn hoá xã hội đặc thù, văn học dân gian các dântộc thiểu số Việt Nam đã ra đời. Trải qua quá trình rất dài phản ánh lịch sử và tâmhồn dân tộc, văn học dân gian các dân tộc thiểu số đã góp phần không nhỏ vàoviệc hình thành bản sắc văn hoá Việt Nam. Có thể nói một cách khách quan rằng:văn học dân gian các dân tộc thiểu số đã chứng minh được giá trị, sự phong phú đa 37
  37. 37. dạng của mình, trong một chừng mực nhất định, còn góp phần giới thiệu văn hoáViệt Nam với thế giới nhiều hơn văn học dân gian của người Việt. Thực tế này cónguyên nhân từ chính cuộc sống ít bị xâm lấn bởi các nền văn minh khác. Tấtnhiên, điều đó cũng là một hạn chế trong cuộc sống và văn hoá của đồng bào dântộc thiểu số nhưng nó chính là môi trường bảo lưu quan trọng để chúng ta còn cóthể có được một kho tàng văn học dân gian các dân tộc thiểu số khá phong phú. CÂU HỎI ÔN TẬP VÀ THẢO LUẬN 1. Trình bày hiểu biết của anh chị về tính nguyên hợp của văn hoá dân gian 38
  38. 38. nói chung, sự thể hiện của nó trong văn học dân gian nói riêng.2. Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian3. Sự đa dạng về ngôn ngữ có tác động như thế nào đối với văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam.4. Sự đa dạng các hình thái xã hội có tác động như thế nào đến văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Đinh Gia Khánh: Đại cương về tiến trình văn hoá Việt Nam (trong: Các vùng văn hoá Việt Nam: Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận chủ biên), Nxb Văn học, Hà Nội 1995.2. Đinh Gia Khánh: Trên dường tìm hiểu văn hoá dân gian, Nxb Khoa học xã hội.3. Hoàng Nam: Bước đầu tìm hiểu văn hoá tộc người, văn hoá Việt Nam. Nxb Văn hoá Dân tộc, H 1998. Chương 2 THẦN THOẠI 39

×