Project dollarization

4,529 views

Published on

international finance

Published in: Education, Technology
4 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • bạn có thể gửi qua gmail cho mình được không? mình đang cần gấp mà giờ mới thấy bài này. Gmail của mình là : nguyennga411@gmail.com.
    có bạn nào ở trên nhận được rồi thì gửi cho mình nhé.mình cảm ơn.
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • bạn ơi bạn có thể gửi cho mình bản này đc ko bạn mail cua mình là baonhienhuynhphan@gmail.com
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • bạn có thể cho mình xin bản này đc k???
    mình k down đc, cảm ơn bạn
    email cảu mình là: hanglttfb00381@gmail.com
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • ban oi co the gui cho minh mot ban duoc ko vay
    chocolate.love252@gmail.com
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
4,529
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
176
Comments
4
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Project dollarization

  1. 1. 1 Việt Nam, đất nước có trên 80 triệu dân, trên 3 triệu kiều bào sống ở hơn 104 quốc gia, mỗi năm nhận được một nguồn kiều hối dồi dào trên dưới 6 tỷ USD, được công ty hàng đầu thế giới về dịch vụ thanh toán toàn cầu - Western Union đánh giá là 1 trong 10 quốc gia nhận kiều hối hàng đầu trên thế giới. Thêm vào đó, trong những năm gần đây, Việt Nam đã không ngừng thu hút các nguồn vốn ngoại tệ, đặc biệt là USD. Đây là nguồn lực quan trọng giúp chúng ta giải quyết được phần lớn các nhu cầu về vốn, xây dựng cơ sở hạ tầng… Nhưng điều gì cũng có hai mặt của nó. Chính lượng ngoại tệ ào ạt đổ vào Việt Nam nếu không được kiểm soát và sử dụng hiệu quả sẽ là nguy cơ dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng về mặt kinh tế, kèm theo những hệ lụy về mặt chính trị, xã hội. Một trong những hậu quả đó là tình trạng ĐLH nền kinh tế. Đề tài “VIỆT NAM – NỀN KINH TẾ ĐÔLA HÓA KHÔNG CHÍNH THỨC, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP” được chúng tôi thực hiện nghiên cứu nhằm tìm ra những nguyên nhân tình trạng ĐLH của Việt Nam từ sau giai đoạn cải cách nền kinh tế 1988 đến nay. Qua đó đánh giá về mức độ nghiêm trọng của tình trạng này thông qua các chức năng của tiền tệ. Trên cơ sở này, chúng tôi kết hợp với định hướng của Đảng, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các giải pháp, ý kiến chuyên gia để đề xuất những khuyến nghị nhằm mục đích cuối cùng là kiểm soát tình trạng ĐLH, đảm bảo sự phát triển an toàn, ổn định, bền vững của nền kinh tế nước ta.
  2. 2. 2 CHƯƠNG I ĐÔLA HÓA VÀ TÍNH HAI MẶT ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ 1.1 Khái niệm Đôla hóa (tiếng Anh: dollarization) là một hiện tượng phổ biến ở khá nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước chậm phát triển, Mỹ Latinh. Ở nước ta, "ĐLH" được nhận thức là việc sử dụng USD trong giao dịch thương mại và dịch vụ song song với VND. Trên thế giới, "ĐLH" có khái niệm rộng hơn: khi dân cư một nước sử dụng rộng rãi ngoại tệ song song với đồng nội tệ hoặc thay thế đồng nội tệ. Bất kỳ một ngoại tệ nào (như đôla Mỹ, Euro, Yên Nhật) có khả năng thay thế đồng nội tệ cũng dẫn đến hiện tượng “ĐLH”. Tuy nhiên trong tình hình hiện nay, nói đến ĐLH, người ta chỉ nghĩ đến một đồng tiền duy nhất đó là Đôla Mỹ (USD). Mặc dù hiệp ước Bretton Woods đã phá sản nhưng từ lâu USD đã trở thành phương tiện thanh toán quốc tế mà không có đồng tiền nào có thể thay thế được. Theo tiêu chí của IMF đưa ra, một nền kinh tế được coi là có tình trạng ĐLH cao khi mà tỷ trọng tiền gửi bằng ngoại tệ chiếm từ 30% trở lên trong tổng khối tiền tệ mở rộng (M2); bao gồm: tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, và tiền gửi ngoại tệ. 1.2 Phân loại ĐLH 1.2.1 Căn cứ vào hình thức: ĐLH được thể hiện dưới 3 hình thức sau:  ĐLH thay thế tài sản: Thể hiện qua tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán (FCD/M2). Theo IMF, khi tỷ lệ này trên 30% thì nền kinh tế đó được cho là có tình trạng ĐLH cao, tạo ra các lệch lạc trong điều hành tài chính tiền tệ vĩ mô. Nhìn chung đối với các nền kinh tế chuyển đổi, tỷ lệ ĐLH hiện nay bình quân là 29%.  ĐLH phương tiện thanh toán: Là mức độ sử dụng ngoại tệ trong thanh toán. Các giao dịch thanh toán bất hợp pháp bằng ngoại tệ rất khó đánh giá nhất là đối với những nền kinh tế tiền mặt như Việt Nam.  ĐLH định giá, niêm yết giá: Là việc niêm yết, quảng cáo, định giá bằng ngoại tệ.
  3. 3. 3 1.2.2 Căn cứ vào phạm vi Tùy theo mức độ sử dụng rộng rãi đồng USD trong nền kinh tế và thái độ của quốc gia đó đối với việc thừa nhận hay không thừa nhận đồng Đôla mà ĐLH được chia làm 3 mức độ:  ĐLH không chính thức (non-official dollarization) là trường hợp đồng đôla được sử dụng rộng rãi trong nền kinh tế, mặc dù không được quốc gia đó chính thức thừa nhận. ĐLH không chính thức xảy ra khi giá trị của nội tệ dao động quá nhiều vì vậy ngoại tệ được sử dụng để giao dịch mua bán, tiết kiệm cá nhân và khi vay tiền vì nó đáng tin hơn. ĐLH không chính thức có thể bao gồm các loại sau: • Các trái phiếu ngoại tệ và các tài sản phi tiền tệ ở nước ngoài. • Tiền gửi bằng ngoại tệ ở nước ngoài. • Tiền gửi ngoại tệ ở các ngân hàng trong nước. • Trái phiếu hay các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ cất trong túi. Việt Nam được xếp vào nhóm những nước ĐLH không chính thức.  ĐLH bán chính thức (ĐLH từng phần) (semiofficial dollarization): là những nước có hệ thống lưu hành chính thức hai đồng tiền: đồng ngoại tệ và đồng tiền bản tệ. Bên cạnh nội tệ trong lưu thông, còn cho phép thanh toán và giao dịch tự do bằng ngoại tệ, hơn thế nữa có thể chiếm tỷ trọng lớn trong các khoản tiền gửi ngân hàng, nhưng đóng vai trò thứ cấp trong việc chi trả lương, đóng thuế và chi tiêu hàng ngày. Các nước này vẫn duy trì một ngân hàng trung ương để thực hiện chính sách tiền tệ của họ.  ĐLH chính thức (hay còn gọi là ĐLH hoàn toàn) (official dollarization) xảy ra khi đồng ngoại tệ là đồng tiền hợp pháp duy nhất được lưu hành. Nếu một quốc gia thực hiện ĐLH chính thức có nghĩa là quốc gia đó đơn phương lấy đôla Mỹ (hoặc một ngoại tệ mạnh nào đó) làm phương tiện thanh toán, tích trữ tài sản, và đơn vị tính toán thay cho bản tệ (đồng tiền riêng của nước đó). Nghĩa là đồng ngoại tệ không chỉ được sử dụng hợp pháp trong các hợp đồng giữa các bên tư nhân, mà còn hợp pháp trong các khoản thanh toán của Chính phủ. Theo đó, toàn bộ tài sản Có, tài sản Nợ, các hợp đồng giao dịch, giá cả hàng hóa và dịch vụ, tiền lương sẽ hoàn toàn (hoặc một phần) được niêm yết bằng (hoặc gán theo) đôla một cách công khai hoặc ngầm định. Thông thường các nước chỉ áp dụng ĐLH chính thức sau khi đã thất bại trong việc thực thi các chương trình ổn định kinh tế và thường chỉ chọn 1 ngoại tệ làm đồng tiền hợp pháp.
  4. 4. 4 Đôla hóa Phương tiện yết giá Phương tiện cất trữ Phương tiện thanh toán 1.3 Nguyên nhân tình trạng đôla hóa Hình 1.1: Nguyên nhân tình trạng ĐLH Thứ nhất, ĐLH là hiện tượng phổ biến xảy ra ở nhiều nước, đặc biệt là ở các nước chậm phát triển, nền kinh tế yếu kém, thể hiện qua: - Tốc độ tăng GDP thấp hơn tỷ lệ lạm phát hàng năm. - Thâm hụt ngân sách lớn, thâm hụt thương mại cao, mức 5-10% GDP đã là đáng lo ngại đối với quốc tế. - Thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai. - Nợ nước ngoài/GDP chiếm tỷ trọng lớn. - Tệ nạn tham nhũng ngày càng trầm trọng… Một nguyên nhân chính được nhiều người công nhận là do nhu cầu phòng chống rủi ro các loại, trong đó có rủi ro do lạm phát và bản tệ bị mất giá so với ngoại tệ, rủi ro sụp đổ một thể chế tiền tệ, rủi ro gắn với sự yếu kém của các cơ quan chức năng của chính phủ mà vì đó, chính phủ không thể đưa ra những cam kết về ổn định và an toàn của hệ thống và thể chế kinh tế. Để đáp ứng nhu cầu trên, người dân phải tìm đến các công cụ dự trữ giá trị khác, không đâu khác là vàng và ngoại tệ mạnh, có uy tín như USD, EURO, JPY… Với chức năng ban đầu làm phương tiện cất giữ giá trị, dần dần đồng ngoại tệ sẽ cạnh tranh với đồng nội tệ trong chức năng làm phương tiện thanh toán hay làm thước đo giá trị. Thứ hai, ĐLH bắt nguồn từ cơ chế tiền tệ thế giới hiện đại, trong đó tiền tệ của một số quốc gia phát triển, đặc biệt là đôla Mỹ, được sử dụng trong giao lưu quốc tế làm Nền kinh tế kém phát triển USD là đồng tiền quốc tế Rủi ro lạm phát và mất giá nội tệ Các chính sách của CP
  5. 5. 5 vai trò của "tiền tệ thế giới". Nói cách khác, đôla Mỹ là một loại tiền mạnh, được tự do chuyển đổi đã được lưu hành khắp thế giới và từ đầu thế kỷ XX đã dần thay thế vàng, thực hiện vai trò tiền tệ thế giới. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, hầu hết các nước đều thực thi cơ chế kinh tế thị trường mở cửa; quá trình quốc tế hóa giao lưu thương mại, đầu tư và hợp tác kinh tế ngày càng tác động trực tiếp vào nền kinh tế và tiền tệ của mỗi nước, nên trong từng nước xuất hiện nhu cầu khách quan sử dụng đơn vị tiền tệ thế giới để thực hiện một số chức năng của tiền tệ. ĐLH ở đây có khi là nhu cầu, trở thành thói quen thông lệ ở các nước. Thứ ba, các chính sách kinh tế của Chính phủ như huy động, cho vay, thuế, thanh toán bằng ngoại tệ. Các chính sách này không trực tiếp gây ra ĐLH nhưng là nguyên nhân làm cho tình trạng này trầm trọng hơn, tạo điều kiện cho ĐLH tăng. Có thể nói, đây là trường hợp của bộ ba bất khả thi, Chính phủ muốn tăng trưởng kinh tế, thu hút luồng vốn ngoại tệ vào trong nước, sẽ dẫn đến việc tăng cung ngoại tệ gây áp lực phá giá nội tệ, khi đó Chính phủ có thể phải sử dụng biện pháp tung nội tệ ra để ổn định tỷ giá. Tuy nhiên, khi đó Chính phủ lại phải đối mặt với lạm phát gia tăng. Trong các giai đoạn phát triển khác nhau thì Chính phủ các nước cân nhắc nên đặt mục tiêu nào quan trọng hơn và hài hòa các mục tiêu còn lại với nhau. Nếu đặt tăng trưởng lên hàng đầu thì có nguy cơ làm gia tăng lạm phát, nội tệ sẽ mất giá so với ngoại tệ dẫn đến ĐLH gia tăng và ngược lại. Nhưng không thể vì mục tiêu kìm hãm lạm phát, giảm ĐLH mà không chú ý đến sự tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, một số nguyên nhân khác như là lợi ích kinh tế thấp và sự bất tiện khi sử dụng đồng nội tệ về mệnh giá, về hệ thống thanh toán non kém của các ngân hàng… cũng góp phần dẫn đến tình trạng ĐLH. 1.4 Tính hai mặt của tình trạng ĐLH 1.4.1 Mặt tích cực Thứ nhất, ĐLH là một cái van kiềm hãm áp lực do lạm phát. Do có một lượng lớn ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng, sẽ là một công cụ tự bảo vệ chống lại lạm phát và là phương tiện để mua hàng hóa ở thị trường phi chính thức. Đối với các quốc gia có mức độ ĐLH cao, NHTW sẽ không còn khả năng phát hành nhiều tiền và gây ra lạm phát, đồng thời ngân sách nhà nước sẽ không thể trông chờ
  6. 6. 6 vào nguồn phát hành này để trang trải thâm hụt ngân sách, kỷ luật về tiền tệ và ngân sách được thắt chặt. Do vậy, các chương trình ngân sách sẽ mang tính tích cực hơn Thứ hai, ĐLH cũng được cho là có tác dụng thúc đẩy phát triển ngành Ngân hàng và nâng cao vai trò của nó trong nền kinh tế, phản ánh dưới góc độ tỷ trọng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng trong GDP tăng lên khi có ĐLH. Điều này có được là do người dân yên tâm với rủi ro lạm phát, gửi tiền vào ngân hàng, nhờ đó mà ngân hàng được cung cấp “nguồn dinh dưỡng” nuôi sống toàn bộ hệ thống. Với lượng ngoại tệ dồi dào, các ngân hàng sẽ có điều kiện mở rộng các hoạt động đối ngoại, thúc đẩy quá trình hội nhập của thị trường trong nước với thị trường quốc tế, hạn chế việc vay nợ nước ngoài. Thứ ba, hạ thấp chi phí giao dịch. Ở những nước ĐLH chính thức, các chi phí như chênh lệch giữa tỷ giá mua và bán khi chuyển từ đồng tiền này sang đồng tiền khác được xoá bỏ. Các chi phí dự phòng cho rủi ro tỷ giá cũng không cần thiết, các ngân hàng có thể hạ thấp lượng dự trữ, vì thế giảm được chi phí kinh doanh. Thứ tư, thúc đẩy thương mại và đầu tư. Các nước thực hiện ĐLH chính thức có thể loại bỏ rủi ro cán cân thanh toán và những kiểm soát mua ngoại tệ, khuyến khích tự do thương mại và đầu tư quốc tế. Các nền kinh tế ĐLH có thể được, chênh lệch lãi suất đối với vay nợ nước ngoài thấp hơn, chi ngân sách giảm xuống và thúc đẩy tăng trưởng và đầu tư. Ở khía cạnh khác, ĐLH giúp người ta dự đoán tỷ giá hối đoán dễ dàng, từ đó giảm bất ổn trong thương mại quốc tế do đó thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Thứ năm, thu hẹp chênh lệch tỷ giá trên thị trường chính thức và phí chính thức. Tỷ giá chính thức càng sát với thị trường phi chính thức, tạo ra động cơ để chuyển các hoạt động từ thị trường phi chính thức (bất hợp pháp) sang thị trường chính thức. Ngoài ra ĐLH cũng giúp cho đồng tiền có khả năng tự do chuyển đổi hoàn toàn ở những nước mà tiền tệ chưa có khả năng chuyển đổi. 1.4.2 Mặt tiêu cực Có thể thấy tuy ĐLH có những mặt tích cực không thể phủ nhận, tuy nhiên nhìn chung chỉ những nước ĐLH chính thức mới thực sự được hưởng lợi từ mặt tích cực của nó, đối với các nước ĐLH không chính thức thì lợi bất cập hại thể hiện qua các mặt sau đây: Thứ nhất, sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia bị ĐLH bị “cột chặt” vào đồng đôla. Điều này dẫn đến hậu quả là nền kinh tế dễ dàng bị tổn thương và bị động trước các cú sốc ngoại lai và thậm chí có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế.
  7. 7. 7 Thứ hai, hiệu quả điều hành của chính sách tiền tệ bị giảm đáng kể do bị mất tính độc lập do chịu ảnh hưởng từ diễn biến kinh tế thế giới, điển hình:  Gây khó khăn trong việc dự đoán diễn biến tổng phương tiện thanh toán, do đó dẫn đến việc đưa ra các quyết định về việc tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu thông kém chính xác và kịp thời.  Làm cho đồng nội tệ nhạy cảm hơn đối với các thay đổi từ bên ngoài, do đó những cố gắng của chính sách tiền tệ nhằm tác động đến tổng cầu nền kinh tế thông qua việc điều chỉnh lãi suất cho vay trở nên kém hiệu quả.  Tác động đến việc hoạch định và thực thi chính sách tỷ giá. ĐLH có thể làm cho cầu tiền trong nước không ổn định, do người dân có xu hướng chuyển từ đồng nội tệ sang đôla Mỹ, làm cho cầu của đồng đôla Mỹ tăng mạnh gây sức ép đến tỷ giá. Thứ tư, chức năng người cho vay cuối cùng của NHTW bị suy giảm và hoàn toàn biến mất đối với các nước ĐLH chính thức. Khu vực ngân hàng sẽ trở nên bất ổn hơn trong trường hợp ngân hàng thương mại bị phá sản và sẽ phải đóng cửa. Thứ năm, chính sách tiền tệ bị phụ thuộc nặng nề vào nước Mỹ. Tình trạng này càng trở nên nghiêm trọng đối với nước ĐLH chính thức khi mà chu kỳ kinh tế của các quốc gia rất khác nhau đòi hỏi chính sách tiền tệ cũng khác nhau. KẾT LUẬN CHƯƠNG I Qua phân loại ĐLH, phân tích nguyên nhân của tình trạng này, cùng những tác động 2 mặt của nó lên nền kinh tế, chúng tôi kết luận: Một là, ĐLH là tình trạng chung đối với các quốc gia trên thế giới Hai là, hiện tượng này có tính hai mặt tích cực và tiêu cực. Trong đó có thể thấy các nước ĐLH hoàn toàn hưởng lợi nhiều nhất nhưng ảnh hưởng tiêu cực nhiều nhất. Ba là, đây là hiện tượng không thể tránh, nhưng luôn luôn phải đề phòng, và kiểm soát. Mỗi quốc gia từng tùy thời kỳ mà cần có những chính sách phù hợp, cân đối lợi ích bộ ba bất khả thi với mục tiêu cuối cùng là hạn chế tối đa mặt tiêu cực, phối huy hết mức lợi ích từ ĐLH.
  8. 8. 8 CHƯƠNG II DIỄN BIẾN TÌNH HÌNH ĐÔLA HÓA TẠI VIỆT NAM TỪ SAU CẢI CÁCH KINH TẾ 1988 ĐẾN NAY 2.1 Thực trạng ĐLH nền kinh tế Việt Nam giai đoạn từ sau 1988 đến nay 2.1.1 Giai đoạn 1988 – 1997 Đây là giai đoạn Việt Nam bắt đầu mở cửa nền kinh tế đến trước cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực. Thời kì này nước ta chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung bao cấp và chế độ độc quyền ngoại thương. Về chính sách ngoại hối, ngày 18/10/1988, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 161-HĐBT với nội dung chủ yếu là Nhà nước ta thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về ngoại hối và kinh doanh ngoại hối. Cấm lưu thông ngoại tệ trong nước, ngoài hệ thống của Ngân hàng ngoại thương và các cửa hàng bán hàng thu ngoại tệ. Nhà nước quản lý ngoại tệ theo kế hoạch. Về tình trạng ĐLH, nhìn chung mức độ ĐLH có xu hướng giảm mạnh. Tuy nhiên trong năm 1991 tỷ lệ FCD/M2 tăng cao lên đến 41.2%, việc thanh toán bằng ngoại tệ hợp pháp và bất hợp pháp tương đối nhiều, việc định giá bằng ngoại tệ và vàng trong dân cư khá phổ biến. Bảng 2.1 Tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ/M2 ở Việt Nam từ 1989 đến 1997 Năm 1989 1990 1991 1992 1993 1995 1997 FDC/M2(%) 28,2 32,4 41,2 30,6 22,9 21 22,9 Nguồn: Tổng hợp từ IMF Report No. 10/281(Tháng 9/2010) Đánh giá về nguyên nhân chính của tình trạng ĐLH trong giai đoạn này, đó là do tình hình kinh tế chính trị xã hội diễn biến phức tạp, lạm phát vẫn duy trì ở mức 2 con số (67.5%vào năm 1991), khiến cho người dân lo ngại và mất lòng tin vào đồng nội tệ. Mặt khác, người dân vẫn ưa thích sử dụng ngoại tệ do lợi ích trong cất trữ, vận chuyển và thanh toán, vì mệnh giá VND quá nhỏ và hệ thống thanh toán còn kém phát triển. 2.1.2 Giai đoạn 1998 – 2002
  9. 9. 9 Cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế nước ta, đây là giai đoạn phục hồi và tăng trưởng khó khăn của cả đất nước. Về lĩnh vực ngoại hối, ngày 17/8/1998 đánh dấu một mốc quan trọng đối với công tác quản lý ngoại hối khi Chính Phủ ban hành nghị định 63/1998/NĐ-CP với một số điểm mới về cơ bản như: Đưa ra khái niệm mới về ngoại hối; xác định rõ khái niệm cư trú, người cư trú để thuận lợi cho quản lý ngoại hối; phân tích các giao dịch liên quan đến quản lý ngoại hối thành giao dịch vãng lai; chính thức quy định rõ quyền sử dụng ngoại tệ của cá nhân… Trong năm 2002 chính sách ngoại hối tiếp tục được sửa đổi với những nội dung chính: - Giảm tỷ lệ kết hối từ 40% xuống 30% - Mở rộng đối tượng là dịch vụ chi trả kiều hối. - Mở rộng biên độ tỷ giá từ +/-0.1% lên +/-0.25%. Về tình trạng ĐLH, theo dõi diễn biến của tỷ lệ FCD/M2 thì mức độ ĐLH trong giai đoạn này tăng hơn so với giai đoạn 1993-1997, nhưng vẫn thấp hơn mức từ năm 1993 trở về trước. Việc gia tăng này một phần do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực, làm cho niềm tin của người dân vào sức mạnh của đồng nội tệ suy giảm, cùng với việc tỷ giá VND/USD liên tục tăng, dẫn tới tâm lý tích trữ ngoại tệ trong dân chúng. Bảng 2.2: Tỷ trọng tiềngửi ngoại tệ/M2 ở Việt Nam từ 1998 đến 2002 Năm 1998 1999 2000 2001 2002 FDC/M2(%) 21,9 24,6 29,6 30 26,1 Nguồn: Tổng hợp từ vneconomy 2.1.3 Giai đoạn 2002 - nay 2.1.3.1 ĐLH định giá, niêm yết giá Theo điều 29, Nghị định 160/2006/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết Pháp lệnh Ngoại hối, trong đó trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp như các giao dịch với tổ chức tín dụng và tổ chức khác được phép cung ứng dịch vụ ngoại hối.
  10. 10. 10 Trước Nghị định này, hầu hết giá cả các mặt hàng điện tử nhập khẩu, ô tô, tại các cửa hàng siêu thị, các dự án bất động sản, vẫn yết bằng đồng USD. Cho đến nay, tình trạng này dường như không có nhiều chuyển biến. Việc yết giá bằng USD khá phổ biến. Từ những mặt hàng nhỏ như USB, chuột, loa, laptop…đến các sản phẩm dịch vụ tour du lịch, học phí (đặc biệt các trường ngoại ngữ, đào tạo liên kết du học), và những sản phẩm hàng ngày như giày, quần áo, đồ ăn tại một số nhà hàng. Trước thực trạng này, ngày 20/06/2010, Ngân hàng nhà nước có thông tin sẽ tăng cường kiểm tra việc niêm yết giá (yết bằng USD sẽ bị phạt). Một số siêu thị lớn, cửa hàng lớn đã nhanh chóng chuyển sang yết giá bằng VND. Tuy nhiên, theo thông tin từ NHNN, một số DN kinh doanh bất động sản vẫn ký kết hợp đồng, yết giá bằng USD. Kể cả dự án bất động sản không sử dụng vốn đầu tư nước ngoài cũng niêm yết và thanh toán bằng USD. Ví dụ như dự án khu đô thị Usilk City (Hà Đông), Mipec Tower (Hà Nội), Thành Công Tower… cũng được niêm yết và rao bán bằng USD với mức giá từ 1.000 USD/m2 đến 2.000 USD/m2. Bảng 2.3: Thông tin giới thiệu Khu công nghiệp Quế Võ (Bắc Ninh) của Công ty Cổ phần Phát triểnĐô thị Kinh Bắc (KBC) 9 Gía thuê đất và giá phí Giá cho thuê đất 52 – 60 USD/𝑚2 , tùy lô đất (chưa tính VAT) Giá cho thuê đất nguyên thổ NA Giá cho thuê nhà xưởng tiêu chuẩn (5000𝑚2 /căn) 3USD/𝑚2 /tháng (chưa tính VAT) Phí quản lý, vệ sinh 0,0175 USD/𝑚2 /tháng Phí bảo dưỡng cơ sở hạ tầng 0,2 USD/𝑚2 /năm Nguồn: Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Kinh Bắc (KBC) Nhìn chung, việc USD thay thế VND trong chức năng đo lường giá trị đối với những mặt hàng trên là phổ biến, và đây là vấn đề cơ bản của hiện tượng ĐLH. 2.1.3.2 ĐLH thay thế tài sản ► Tỷ lệ tiềngửi ngoại tệ trên tổng tiền gửi thanh toán
  11. 11. 11 Bảng 2.2 Tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ/M2 ở Việt Nam từ 2003- Quý I/2008 Năm 2003 2004 2005 2006 2007 2008 FDC/M2 (%) 23,6 23,89 23,05 21,6 19,18 19,87 Nguồn: Tổng hợp từ IMF Report No. 10/281(Tháng 9/2010) Từ năm 2001, tỷ lệ FCD/M2 là 31,7% đến năm 2004 đã giảm còn 23,89%, tỷ lệ này tiếp tục giảm trong những năm tiếp theo. Đây là xu hướng tích cực, cho thấy tình trạng ĐLH tài sản nợ trong hệ thống ngân hàng thương mại đang được kiềm chế một cách có hiệu quả. Người dân đã có niềm tin vào đồng tiền nội địa nhiều hơn. Tuy nhiên về số tiền gửi tuyệt đối bằng USD thì không ngừng tăng lên, năm 2005 khoảng 10 tỷ USD, đến cuối năm 2008 khoảng 20 tỷ USD, một mặt cho thấy tiềm lực nguồn vốn nhàn rỗi trong dân mà hệ thống ngân hàng có thể huy động được cho đầu tư phát triển kinh tế, những mặt khác cũng đáng quan tâm ở góc độ ĐLH. Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu, trong một cuộc trả lời báo chí đã thừa nhận: tình trạng đô la hoá nền kinh tế hiện nay đang “khá nghiêm trọng”. Từ năm 2003 đến nay, FCD/M2 của Việt Nam mặc dù có giảm nhưng vẫn trên dưới 20%. Trong khi tỷ lệ này ở các nước trong khu vực thấp hơn rất nhiều, như: Indonesia, Thái Lan, Malaysia...chỉ khoảng 7-10%. ► Tích trữ ngoại tệ trong dân chúng Một lượng USD trong nền kinh tế dạng kiều hối. Trong cơ cấu nguồn kiều hối chuyển về Việt Nam thì 80% là USD, còn lại là các loại ngoại tệ mạnh khác như EURO, AUD, CAD, GBP, JPY…Trên thực tế, lượng kiều hối gửi qua ngân hàng chỉ khoảng 1/10 lượng kiều hối về nước. Đặc biệt nền kinh tế ngầm Việt Nam hoạt động khá mạnh. Nên vấn đề đô la hóa khó có thể chỉ đánh giá theo thống kê FCD/M2. Theo nguồn tư liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), từ năm 2001 đến hết năm 2008, lượng kiều hối gửi về Việt Nam hàng năm đã tăng gấp ba lần, lên tới 7,2 tỷ USD vào năm 2008, tương đương khoảng 8% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam. Năm 2009 giảm 12,8% so với năm 2008 còn 6,283 tỷ USD. Vụ quản lý ngoại hối thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết trong 6 tháng đầu năm 2010, lượng kiều hối chuyển về Việt Nam đã đạt gần 3,5 tỷ USD. Kiều hối vẫn tiếp tục đổ về không ngừng và dự kiến có thể đạt 8 tỷ USD vào cuối năm nay, tăng 60% so với năm ngoái. Như vậy
  12. 12. 12 chưa kể lượng kiều hối không thống kê được, lượng USD trong dân cư là rất lớn. Nó có thể tích trữ hoặc trao đổi trong thị trường chợ đen. Mặt khác, những năm gần đây VND mất giá do lạm phát, USD vẫn là một trong những sự lựa chọn chính trong tích trữ của đa số người dân. Dẫn chứng Bên cạnh đó những đợt phá giá cũng góp phần làm giảm niềm tin vào đồng nội tệ. Chẳng hạn, 3 đợt phá giá trong vòng 10 tháng qua từ cuối năm 2009, đã đẩy tỷ giá tăng liên tục. Ngày 26/11/2009 , Ngân hàng nhà nước nâng tỷ giá thêm 5,44%, đồng thời hạ biên độ tỷ giá từ mức 5% xuống 3%, và từ ngày 11/2/2010 nâng tiếp từ mức 17.941 đồng đổi 1USD lên mức 18.544 đồng, các ngân hàng thương mại có quyền ấn định giá mua bán ở mức tối đa 19.100 đồng, trong khi biên độ được giữ nguyên là 3%; còn mới đây, từ ngày 18/8/2010 tỷ giá lại được điều chỉnh từ mức 18.544 VND lên mức 18.932 VND (tăng gần 2,1%), còn biên độ tỷ giá vẫn giữ nguyên ở mức 3%... Tính gộp cả 3 đợt điều chỉnh tỷ giá đó, đến nay tỷ giá USD so với VND đã tăng 10,9 %…Người dân lẫn các doanh nghiệp đều có xu hướng găm giữ và tích trữ ngoại tệ. 2.1.3.3 Đô la hóa phương tiện thanh toán Tháng 7-2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 98/2007/QĐ-TTg phê duyệt Đề án nâng cao tính chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam nhằm khắc phục hiện tượng ĐLH trong nền kinh tế. Tuy nhiên, giao dịch bằng USD thay cho VND là hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế tiền mặt như nước ta. Cũng giống như nhiều nước đang phát triển khác, các giao dịch thanh toán ngoại tệ diễn ra nhiều ở thị trường “chợ đen”, không thông qua ngân hàng… đó cũng là môi trường thuận lợi cho những giao dịch bất hợp pháp như tham nhũng, buôn lậu, rửa tiền. Trong bối cảnh VND liên tục giảm giá so với USD, người dân còn tâm lý cất trữ USD trong nhà, không phải bất kỳ ai cũng sẵn sàng gửi USD vào ngân hàng. Đồng thời, người Việt Nam thích sử dụng USD cũng vì những tiện lợi của nó, có thể sử dụng USD trong thanh toán mua bán đất đai, nhà ở, ở các cửa hàng, công ty du lịch, nhà hàng, khách sạn, các trường ngoại ngữ… Chẳng hạn, dự án cao nhất Hà Nội tính đến thời điểm hiện tại – tổ hợp Keangnam Landmark Tower trên đường Phạm Hùng (Từ Liêm, Hà Nội). Từ khi mở bán căn hộ đến nay, việc niêm yết giá cũng như 100% các giao dịch được thực hiện bằng đồng USD. Khách hàng thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam sẽ được quy đổi ra USD theo tỷ giá trên
  13. 13. 13 thị trường tự do thời điểm hiện tại. Hay đến các cửa hàng xe máy ở Phố Huế, nếu muốn mua các mẫu xe thời thượng như SH, Dylan, Piaggio… đều phải trả bằng USD. Trong khi đó, trước đây mặc dù vẫn niêm yết giá bằng USD nhưng khi mua khách hàng vẫn có thể quy đổi ra VND theo tỷ giá ngân hàng để thanh toán. Thêm vào đó, bất cứ người dân hay du khách nào cũng đều có thể sử dụng ngoại tệ mọi lúc, mọi nơi một cách thoải mái. Ở các khu thương mại cao cấp, khách đến trung tâm để mua sắm phần lớn là khách quốc tế. Nếu niêm yết giá bằng VND họ không định giá được hàng hóa do không biết hết giá trị VNĐ. Để chiều lòng khách hàng các cửa hàng phải niêm yết giá USD dù biết nhà nước cấm điều này. Cũng giống như các trung tâm mua sắm, phần lớn các khách sạn ở TP HCM đều tính phí khách sạn bằng ngoại tệ. Qua phân tích như trên, có thể kết luận rằng phương tiện thanh toán của Việt Nam bị ĐLH là điều khó tránh khỏi. Thực trạng này có nguyên nhân không chỉ xuất phát từ yếu tố khách quan do bối cảnh nền kinh tế, tập quán của người dân mà còn là từ sự quản lý yếu kém, thiếu quyết liệt của các cơ quan chức năng. 2.2 Nguyên nhân thực trạng ĐLH của nền kinh tế Việt Nam 2.2.1 Người dân tích trữ ngoại tệ do mất lòng tin vào chính sách tiền tệ Việt Nam là một quốc gia đang phát triển vì vậy cũng không nằm ngoài nguyên nhân bị ĐLH do công chúng mất niềm tin vào chính sách tiền tệ. Vì vậy người dân đã chuyển tài sản của mình sang vàng và đôla Mỹ. Việc phá giá VND vào năm 1985 và những năm 1997 – 1998 đã làm cho người giữ tiền đồng cảm thấy bị thiệt hại hơn so với giữ ngoại tệ. Do nền kinh tế còn nằm trong tình trạng nghèo nàn lạc hậu, gặp phải những sai lầm trong cải tạo các thành phần kinh tế nên lạm phát tiếp tục gia tăng, từ chỗ giá trị đồng tiền (đồng NHNN VN được đổi ngày 2/5/1978) sát với sức mua của đô la Mỹ (1,25đ/1USD) đã nhanh chóng bị dãn ra, đồng tiền NHNN VN mất giá mạnh so với đồng USD, tháng 9/1985 tỷ giá giữa tiền đồng và USD là 150đ/USD. Trước tình hình đó, 14/9/1985, NHNN tiến hành đổi tiền lần 4 theo tỷ lệ 10đ tiền NHNN cũ ăn 1đ tiền mới. Sau đổi tiền tình trạng lạm phát càng tăng cao, 1986 lạm phát đạt 774%. Tháng 3 năm 1989, Việt Nam duy trì một hệ thống tỷ giá hối đoái có nhiều mức khác nhau đều có lợi cho nhập khẩu. Để hỗ trợ hoạt động xuất khẩu, tỷ giá VND so với USD được phá giá cho các giao dịch thương mại trong khuôn khổ các kế hoạch Trung ương. Biến động tỷ giá được thể hiện qua bảng sau:
  14. 14. 14 Bảng 2.5:Tỷ giá 1988 - 2010 Năm Tỷ giá cũ Tỷ giá mới 9/1988 225 900 1989 4.000 1992 11.500 1993 10.750 1995 11.000 2000 14.157 9/2005 15.884 9/2008 16.495 9/2010 18.932 Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Chỉ số giá hàng tiêu dùng ở Việt Nam cũng rất không ổn định. Tỷ lệ lạm phát năm 1998 là 7.8%, giảm dần trong một số năm tiếp theo thậm chí nền kinh tế nằm trong tình trạng giảm phát trong năm 2000 (tỷ lệ lạm phát -1,7%), tăng đột biến đạt 9.5% năm 2004. Bảng 2.6: Chỉ số giá tiêudùng từ 2000 – 2010 tại Việt Nam 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 9/2010 CPI (%) -1,7 0,8 1,5 3 7,71 8,29 7,48 8,3 22,97 6,88 6,46 Nguồn: Tổng cục thống kê Ở khía cạnh khác, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu ở Việt Nam vẫn có thói quen găm giữ ngoại tệ do e ngại rủi ro tỷ giá, thiếu hụt nguồn cung ngoại tệ. Ở cấp độ quốc gia, bản thân mỗi nước đều có một kho dự trữ ngoại tệ khổng lồ (Trung Quốc 2000 tỷ USD), điều này nói lên rằng người dân chuyển VND sang các hình thức đầu tư cất trữ khác như ngoại tệ, bất động sản … là tất yếu. 2.2.2 Việt Nam là nền kinh tế tiền mặt Có thể nói, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế tiền mặt, rất dễ dàng cho hoạt động mua bán sử dụng ngoại tệ công khai. Hiện tượng niêm yết, quảng cáo sản phẩm bằng ngoại tệ vẫn còn phổ biến công khai, tuy NHNN đã có quy định cấm niêm yết quảng cáo bằng ngoại tệ đối với các doanh nghiệp không có thu bằng ngoại tệ (Số 985/NHNN-QLNH). Bên cạnh đó, tâm lý người dân và các doanh nghiệp thích hơn việc mua bán ngoại tệ trên thị trường chợ đen, đã làm cho một số lớn ngoại tệ chui vào túi tư nhân. Ngân hàng muốn thu mua ngoại tệ mà không được vì ba lý do:  Thứ nhất, tỷ giá hối đoái của VND/USD cố định và biên độ giao động thấp khoảng 0,25%, điều này tạo một khoảng cách giữa thị trường ngọai tệ tự do và tỷ giá
  15. 15. 15 công bố của ngân hàng thương mại nên người dân có USD thường đi đổi tại các nơi đổi tiền của tư nhân có lợi hơn là ra ngân hàng. Bảng 2.7: Tỷ giá giữa USD và VND năm 2005 (Đvt: VND/USD) Thời gian Ngân hàng Ngoại thương Thị trường tự do Hà Nội Mua vào Bán ra Mua vào Bán ra Tháng 1 15788 15790 15790 15810 Tháng 3 15822 15824 15810 15830 Tháng 5 15850 15852 15840 15860 Tháng 7 15861 15863 15870 15880 Tháng 9 15894 15896 15880 15900 Tháng 12 15915 15917 15900 15930 Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam  Thứ hai, đổi tiền tại các địa điểm tư thường dễ dàng và nhanh chóng hơn và không bị các thủ tục hành chánh phức tạp chi phối. Theo quy định hiện nay của NHNN, ở các ngân hàng, cá nhân doanh nghiệp khi mua ngoại tệ phải có mục đích rõ ràng và có các chứng từ chứng minh cho mục đích hợp pháp.  Thứ ba, NHNN hay những ngân hàng được phép kinh doanh ngoại tệ thường không đủ USD để cấp cho các doanh nghiệp có nhu cầu nhập cảng hàng hóa hay dịch vụ nên các cơ sở này phải mua USD của tư nhân. 2.2.3 Có nhiều kênh huy động ngoại tệ Bảng 2. :Lượng kiều hối về Việt Nam giai đoạn 2005 -2010 Đơn vị:Tỷ USD Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Kiều hối 4,29 6,82 10 7,2 6,283 >6 Nguồn: Số liệu tự điều tra tổng hợp Nguồn kiều hối ngày càng có xu hướng tăng mạnh với mức tăng bình quân 10%/năm và tới năm 2010 dự tính sẽ lên tới 5 tỷ USD. Lượng ngoại tệ chi tiêu ở Việt Nam của khách du lịch nước ngoài cũng tăng nhanh cùng với lượng du khách đến Việt Nam.
  16. 16. 16 Tiền lương và thu nhập của người Việt Nam làm việc trong các dự án liên doanh, dự án 100% vốn đầu tư nước ngoài, dự án quốc tế, cơ quan nước ngoài tại Việt Nam... được trả bằng ngoại tệ. Số lượng người nước ngoài đến Việt Nam làm việc, sinh sống, làm ăn, học tập v.v... ngày càng gia tăng, chi tiêu ngoại tệ tiền mặt rất lớn, nhất là tiền thuê nhà của các hộ gia đình người Việt Nam và chi trả các dịch vụ khác. Tiền viện trợ không hoàn lại, tiền của các tổ chức tài chính vi mô, tổ chức từ thiện quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài v.v... Bên cạnh đó là nguồn vốn tài trợ của các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế, Chính phủ các nước. Ngoại tệ từ các hoạt động buôn lậu và một số nguồn ngoại tệ qua các hoạt động kinh tế ngầm khác mà chính phủ Việt Nam chưa thể quản lý. 2.2.4 Tâm lý người Việt Nam Một sự thật phải thừa nhận rằng tâm lý thích sử dụng, cất trữ ngoại tệ đã ngấm sâu vào tư tưởng của một bộ phận tầng lớp dân cư. Có thể sử dụng ngoại tệ tiện lợi, gọn gàng hơn so với VND. Thực tế, nếu trong một chuyến công cán, một người cần chi tiêu khoảng 30 triệu đồng, thì người đó cần phải mang theo 60 tờ 500.000 hoặc 300 tờ 100.000. Nhưng nếu mang bằng USD chỉ cần khoảng 20 tờ 100 USD, nếu bằng EUR chỉ cần 3 tờ 500 EUR. Rất là tiện lợi, ở đâu cũng chấp nhận, cũng có thể đổi được. Tình trạng tham nhũng cũng góp phần tạo nên hiện tượng ĐLH xã hội nhất là khi đi phong bì bằng ngoại tệ vừa gọn vừa lịch sự. Đây chính là những nỗi nhức nhối bức xúc là vấn đề nan giải đối với nhà nước nếu muốn hạn chế “ĐLH” xã hội. Trước thực trạng trên, chúng ta cần phải nhận định rõ rằng: ĐLH là tình trạng khó tránh khỏi đối với những nước có xuất phát điểm thấp, đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế và từng bước hội nhập như Việt Nam. Xóa bỏ ĐLH không phải là xóa bỏ hoàn toàn và phủ định tất cả vì cũng giống như lạm phát, phải duy trì ở một mức độ phù hợp và ổn định để thúc đẩy phát triển kinh tế. Chúng ta phải chấp nhận sự hiện diện của ĐLH trên cơ sở kiềm chế, khai thác mặt lợi, hạn chế mặt tiêu cực.
  17. 17. 17 KẾT LUẬN CHƯƠNG II Qua phân tích thực trạng tình hình ĐLH của Việt Nam từ sau 1988 đến nay, cùng những nguyên nhân của nó. Chúng tôi có một số kết luận như sau: Thứ nhất, đối với nước ta để đo lường mức độ ĐLH không thể chỉ căn cứ trên chỉ số FCD/M2 như các nước ít thanh toán bằng tiền mặt, mà còn căn cứ trên tình trạng đôla hóa niêm yết giá, và ĐLH phương tiện thanh toán. Thứ hai, tuy trong những năm gần đây tỷ lệ FCD/M2 đã kiểm soát tốt hơn, tuy nhiên vẫn cao, cao hơn nhiều so với một số nước trong khu vực, đồng thời lượng tiền gửi tuyệt đối luôn trong chiều hướng tăng dần. Thứ ba, nhìn chung những nguyên nhân chung trình bày ở chương I cũng là nguyên nhân ĐLH ở Việt Nam, tuy nhiên đáng lưu ý là nước ta là nền kinh tế tiền mặt, có lượng kiều hối lớn và tình trạng tham nhũng phổ biến nên đã góp phần gia tăng tình trạng ĐLH.
  18. 18. 18 CHƯƠNG III GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT ĐÔLA HÓA ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 3.1 Định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Về quan điểm của Chính phủ và NHNN trong việc giải quyết vấn đề ĐLH thể hiện rõ ràng rằng phải xóa bỏ ĐLH trong nền kinh tế. Quyết định này là đúng đắn ít nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà nền kinh tế nước ta còn trong tình trạng kém phát triển. Tuy nhiên, việc xóa bỏ này phải thực hiện từng bước phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước, vừa sử dụng biện pháp kinh tế, vừa áp dụng biện pháp hành chính, giáo dục pháp luật, nhằm mục đích là khai thác hiệu quả mặt tích cực của ĐLH, nhưng về lâu dài tiến tới trên đất nước Việt Nam chỉ sử dụng VND, nâng cao vị thế đồng bản tệ trên trường thế giới. Một số nước đã cực đoan cấm đoán việc gửi ngoại tệ vào các ngân hàng trong nước, tạo độc quyền cho bản tệ, ít nhất là trong các giao dịch tài chính trên lãnh thổ quốc gia. Hậu quả là các nhà đầu tư trong nước bao giờ cũng và sẽ tìm được cách chuyển tài sản của mình để đầu tư ra nước ngoài, nơi mà họ tin là không bị rủi ro nhiều như trong nước, và do đó, thị trường tài chính trong nước sẽ không phát triển được. Việt Nam chúng ta đã từng phạm phải sai lầm này. Chúng ta không thể sử dụng lại các biện pháp hành chính đã từng áp dụng trong những thời gian trước đây: tăng tỷ lệ kết hối lên 100%, không cho nhận kiều hối bằng ngoại tệ, hạ thấp lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ, chỉ cho phép doanh nghiệp mở tài khoản tiền gửi tại một Ngân hàng … Những biện pháp mà qua thực hiện đã chứng tỏ là gây khó khăn cho doanh nghiệp, không khuyến khích nguồn kiều hối chuyển về nước, không phù hợp với xu hướng hội nhập với khu vực và thế giới. Như đã đề cập ở nguyên nhân tình trạng ĐLH ở nước ta, do nước ta là nền kinh tế tiền mặt, khác với các quốc gia mà hầu hết các giao dịch thanh toán thực hiện qua hệ thống ngân hàng, nên tỷ lệ FCD/M2 không phản ánh đầy đủ thực trạng ĐLH trong toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, giảm ĐLH ở nước ta không chỉ bao gồm việc kiềm chế lượng ngoại tệ gửi vào ngân hàng, mà còn ngăn chặn ĐLH trên phương diện thanh toán và niêm yết giá sản phẩm.
  19. 19. 19 Giải pháp cho thực trạng ĐLH cho đất nước ta trong bối cảnh hiện nay, thiết nghĩ, trước hết cần giảm USD ngoài xã hội, thu hút nguồn vốn ngoài tệ đó vào hệ thống nhân hàng, đẩy mạnh hoạt động đầu tư hiệu quả. Tiếp theo là tiến tới giảm ĐLH hệ thống ngân hàng. Việc làm này có thể thể hiện qua một số giải pháp được nêu sau đây. 3.2 Các nhóm giải pháp 3.2.1 Nâng cao vị thế VND  Một là, tiếp tục cơ cấu tích cực mệnh giá VND. Tăng cường, nâng cao chất lượng dịch vụ, các tiện ích ngân hàng, đặc biệt là hệ thống thanh toán không dùng tiền mặt. Đẩy mạnh tuyên truyền về sử dụng thẻ, kể cả thẻ tín dụng quốc tế.  Hai là, tỷ giá ngang giá nên gắn với một rổ tiền tệ bao gồm một số ngoại tệ mạnh thay vì chỉ gắn với USD nhằm giảm bớt sự lệ thuộc của VND vào USD.  Ba là, sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ để tác động đến điều kiện thị trường nhằm làm cho VND hấp dẫn hơn USD, chính sách lãi suất phải nhằm mục đích tạo ra và duy trì được một chênh lệch lãi suất dương giữa tiền gửi VND và USD, qua đó hạn chế xu hướng chuyển đổi từ VND sang USD.  Bốn là, thu hút tiền mặt ngoại tệ trong dân cư, thà chấp nhận ĐLH tiền gửi và dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng, Nhà nước còn quản lý chặt chẽ được, còn hơn là để trôi nổi trong dân:  Phát triển mạng lưới các quầy thu đổi ngoại tệ rộng khắp.  Từ năm 2003, Chính phủ cũng đã bắt đầu huy động thu hút nguồn vốn ngoại tệ trong xã hội bằng cách phát hành trái phiếu ngoại tệ để tập trung phát triển các công trình trọng điểm quốc gia. Đây có thể là một trong những phương pháp hữu hiệu nhất thu hút lượng ngoại tệ tiền mặt trôi nổi không quản lý được trong dân cư, giảm thiểu phải đi vay nước ngoài.  Thực hiện cơ chế tỷ giá linh hoạt được xác định trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, nhằm giảm bớt khoảng cách tỷ giá giữa thị trường chính thức và thị trường “chợ đen”.  Năm là, nâng cao tính chuyển đổi của VND và hạn chế ĐLH là hai công việc có mối quan hệ hữu cơ, qua lại lẫn nhau. ĐLH làm mất chủ quyền về tiền tệ, làm giảm vị thế độc tôn của đồng bản tệ, giảm khả năng chuyển đổi của đồng tiền. Ngược lại một đồng tiền mạnh sẽ giúp đẩy lùi nạn ĐLH. Vì vậy, việc cần thiết là phải nâng cao tính
  20. 20. 20 chuyển đổi của VND ngay trong chính quốc gia để người dân, doanh nghiệp có lòng tin vào VND. Có thể đề xuất các giải pháp sau:  Trước hết và quan trọng nhất, để người dân có niềm tin vào VND ở tầm vĩ mô cần ổn định và phát triển kinh tế bền vững, tỷ lệ lạm phát thấp.  Thu hẹp đối tượng được phép vay ngoại tệ so với hiện nay, trừ trường hợp cho vay để nhập khẩu máy móc, công nghệ, nguyên liệu, bán thành phẩm... phục vụ xuất khẩu. Hiện nay, việc cho vay ngoại tệ với những dự án thực chất chỉ cần VND không chỉ làm tăng mức độ ĐLH mà còn gây rủi ro cho tổ chức tín dụng, ngân hàng.  Khuyến khích các cá nhân tại Việt Nam nhận kiều hối bằng VND. NHNN dự kiến tỷ lệ này dự kiến năm 2010 là 30%.  Kiểm soát chặt chẽ việc niêm yết quảng cáo bán hàng bằng ngoại tệ và dần dần tiến tới cấm việc bán hàng và dịch vụ trong nước niêm yết giá và thu bằng ngoại tệ đối với tất cả mọi đối tượng trong nền kinh tế. Điều này muốn thực hiện được đòi hỏi phải có sự phối hợp tất cả các ban ngành từ công an, bộ văn hóa thông tin đến NHNN.  Về lâu dài, cần nâng cao tỷ lệ dự trữ đối với tài khoản tiền gửi bằng USD, cũng như làm giảm hiện tượng ĐLH dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng. Một khi đã thực hiện được nâng cao tính chuyển đổi của VND thì sẽ giảm lượng ngoại tệ trong xã hội do người dân tin tưởng vào VND hơn. Nhưng để nâng cao tính chuyển đổi của VND là việc làm không thể thực hiện một sớm một chiều. Do đó ở tầm vĩ mô vấn đề đặt ra là làm sao có thể thu hút tối đa vốn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng, vừa tận dụng tối đa nguồn ngoại tệ này để phát triển kinh tế. Ở Việt Nam chưa hoàn toàn tự do hóa tài chính, do đó Việt Nam cần tận dụng thời gian này để giảm tình trạng ĐLH trong xã hội, phát triển kinh tế và thiết lập dự trữ ngoại hối đủ mạnh. Với nguồn vốn ngọai tệ huy động được các tổ chức tài chính ngân hàng tiến hành cho vay đầu tư có hiệu quả cho các dự án trọng điểm, quan trọng của quốc gia, cũng như của các doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh xuất khẩu hiệu quả, điều này sẽ tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế và tạo số đông việc làm cho người lao động. 3.2.2 Tạo môi trường đầu tư trong nước có khả năng hấp thụ được số vốn ngoại tệ hiện có trong dân
  21. 21. 21  Thúc đẩy phát triển môi trường kinh tế vĩ mô, tạo môi trường cạnh tranh thực sự giữa các thành phần kinh tế trong cả sản xuất, thương mại, dịch vụ và kể cả lĩnh vực tài chính, ngân hàng.  Mở rộng các dự án đầu tư của Chính phủ: dầu khí, cầu đường, điện lực, thủy điện, bưu chính viễn thông,…, khuyến khích sự tham gia đầu tư của các thành phần kinh tế.  Phát triển các công cụ tài chính như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, đa dạng hóa các danh mục đầu tư trong nước.  Phát triển các công cụ tài chính phái sinh tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường ngoại tệ một cách công khai, dễ dàng nhằm dịch vụ hóa cao độ các nghiệp vụ hối đoái, bình thường hóa vai trò ảnh hưởng của ngoại tệ. Vì hiện nay việc kinh doanh phòng ngừa rủi ro tỷ giá vẫn chỉ thực hiện đối với các doanh nghiệp còn đối với người dân việc kinh doanh ngoại tệ yêu cầu số tiền kinh doanh khá lớn (100.000 USD) do đó thực sự chưa tạo nên kênh đầu tư hấp dẫn nhà đầu tư. Việc phát triển các công cụ tài chính phái sinh không những tạo thêm kênh đầu tư cho người dân và các doanh nghiệp, họ vừa vừa kinh doanh kiếm lợi nhuận vừa có thể phòng ngừa rủi ro tỷ giá. 3.2.3 Một số giải pháp khác Cần nhất quán chủ trương quản lý lưu hành ngoại tệ theo hướng “trên đất nước Việt Nam chỉ lưu hành VND”. Hạn chế tối đa việc lưu thông và sử dụng USD, niêm yết giá bằng USD trên thị trường Việt Nam. Đây là công việc không phải chỉ riêng của Ngân hàng nhà nước mà của của tất cả các ban ngành, phải có sự phối hợp triệt để đồng bộ mới có thể hạn chế được ĐLH. Ngăn chặn và giảm dần các hoạt động kinh tế ngầm, kiểm soát chặt chẽ tình trạng buôn lậu và phòng chống tham nhũng. KẾT LUẬN CHƯƠNG III
  22. 22. 22 Căn cứ trên bối cảnh đất nước và tình trạng ĐLH đã phân tích ở chương II, kết hợp với định hướng của Chính phủ, NHNN trong việc giải quyết tình trạng ĐLH trong những năm tiếp theo, chúng tôi đã đề xuất một số giải pháp cho thực trạng này. Qua đó nổi bật có một số điểm đáng chú ý sau: Một là, lợi ích của ĐLH chỉ là những lợi ích trước mắt chứa đựng rủi ro rất lớn, nên về lâu về dài tiến đến xóa bỏ tình trạng ĐLH, thực hiện trên toàn quốc gia chỉ sử dụng nội tệ Hai là, thực hiện từng bước nâng cao vị thế và tính chuyển đổi cho đồng Việt Nam, tiếp tục thu hút và sử dụng hiệu quả đồng vốn ngoại tệ huy động từ dân cư và DN Ba là, tạo lập môi trường đầu tư trong nước, để hấp thụ nguồn vốn ngoại tệ Bốn là, kết hợp một số biện pháp hành chính và giáo dục pháp luật, nhằm giảm bớt tình trạng niêm yết giá và thanh toán bằng ngoại tệ. Với sự mở cửa của khu vực tài chính trong những năm tới, việc kìm chế và đẩy lùi tình trạng ĐLH sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Muốn làm được cần phải có thời gian và quyết tâm cao. Điều quan trọng là những mặt tích cực mang lại lợi ích của hiện tượng ĐLH không bị xoá bỏ, nó tồn tại đan xen trong cơ chế thị trường mở cửa và hội nhập, được sử dụng như một giải pháp bổ sung trong chính sách tiền tệ tích cực của đất nước trong giai đoạn mới, còn những mặt tiêu cực của ĐLH thì cần phải được kiềm chế, đẩy lùi và xoá bỏ. Và để hạn chế giảm tình trạng ĐLH không phải có thể thực hiện trong thời gian ngắn, tuy nhiên trong bối cảnh tự do hóa tài chính và Việt Nam gia nhập WTO, thời gian này cần được rút ngắn nếu không nền kinh tế không phải lâm vào tình hình ĐLH hoàn toàn, không còn khả năng bảo vệ trước những biến cố kinh tế kinh tế, khủng hoảng kinh tế trong khu vực và thế giới.

×