Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

Bài luận văn

20,604 views

Published on

Published in: Education
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • DOANH NGHIỆP DUY PHƯƠNG


    Trong quá trình xây dựng (Cầu đường, Nhà, Xưởng, Ép cọc, Đúc cọc bê tông, Phá dỡ công trình,...) có thừa rất nhiều những đầu mẩu sắt thép (sắt cây, sắt tròn trơn, thép vuông,...) quá ngắn không thể sử dụng được trong công trình. Tuy nhiên, những mẩu sắt thép này nếu đem bán phế liệu để nấu lại sẽ không được giá, gây lãng phí lớn!



    Doanh nghiệp Duy Phương chuyên thu mua các loại sắt thép đầu mẩu đó về để tái chế lại (tuốt ra) thành sản phẩm khác có công dụng mới, không phải qua giai đoạn (nấu, đúc) nên mua được giá thành rất là cao!

    Những loại đầu mẩu sắt thép được mua giá cao cần đạt:

    - Độ dài từ 60cm trở lên;
    - Đường kính (phi) từ 10mm (thép phi 10) trở lên đến phi 42

    Đặc biệt:
    - Dù sắt thép bị Cong ... chúng tôi vẫn mua !!!!!
    - Dù bạn ở đâu, trên Toàn Quốc, chúng tôi cũng đến thu mua tận nơi.0

    Mọi thông tin vui lòng liên hệ:

    Doanh nghiệp Duy Phương
    Địa chỉ: Đa Hội - Châu Khê - Từ Sơn - Bắc Ninh
    Liên hệ: :0935.568.658 (Mr.Duy)
    Email : satthephot@gmail.com
    Yahoo :satthephot@yahoo.com
    Wedsite : satthephot.com

    www.satthephot.znn.vn

    0935.568.658 Xin Loi Vi Tin Nay Da Lam Phien Ban !
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here

Bài luận văn

  1. 1. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân LỜI MỞ ĐẦU  1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bất kì một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể hiện quyền lực của Nhà nước và là nguồn tài chính chủ yếu. Với xu thế nhất thể hóa các khu vực và toàn cầu hóa nhằm khai thác tối đa lợi thế so sánh của mỗi quốc gia nói riêng và khu vực nói chung, đã đặt các nhà hoạch định chính sách kinh tế, tài chính trước những thách thức lớn lao đòi hỏi phải cải cách toàn diện. Nghị Quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định “Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” và “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ… Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập”. Cụ thể hoá Nghị quyết đại hội Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010, trong đó đặt ra yêu cầu: “Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ trọng các nguồn thu trong nuớc cho phù hợp với tiến trình hội nhập. Mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu”. Việc ban hành kịp thời Luật này là góp phần thể chế hoá chính sách thuế của Đảng. Để đạt được mục tiêu gia nhập vào WTO, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tất cả các chính sách thuế hiện hành đều đã được thay đổi theo hướng giảm nghĩa vụ thuế. Chẳng hạn từ năm 2000 đến nay, thuế chuyển quyền sử dụng đất được giảm tới 25 lần, thuế trước bạ giảm 50%. Hiện nay ngành thuế cũng đã xóa bỏ trên 300 loại phí không cần thiết, một số loại như phí đường bộ, hàng hải.. giảm tới 30%-40%. Theo tính toán ban đầu, khi cắt giảm các loại thuế và chi phí này, Nhà nước bị thất thu trên 1.000 tỷ đồng. Hiện ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào 3 khoản thu chủ yếu gồm xuất nhập khẩu chiếm 25% ngân sách, tương đương khoảng 60.000 tỷ đồng mỗi năm. Số thu từ xuất khẩu dầu thô cũng vào khoảng 25%. Như vậy còn khoảng 50% ngân sách Nhà nước là các khoản thu nội địa, nhưng khoản thu nội địa này cũng đang một ngày giảm do chính sách thuế liên tục được thay đổi để thực hiện theo cam kết. Tính đến thời điểm này đã có tới trên 1.000 dòng thuế được cắt giảm. Chính vì thế để bù đắp cho sự giảm sút này Chính phủ cần quan tâm hơn đến thuế trực thu. Tuy nhiên, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng nên giảm dần tới mức tương ứng với các nước trong khu vực nhằm khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, chính GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 1 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  2. 2. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân phủ đã có những biện pháp đối với thuế TNCN nhằm tạo thêm nguồn thu cho ngân sách từ loại thuế này. Ở nước ta hiện nay, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng còn nhiều hạn chế kể từ việc ban hành pháp luật thuế đến tổ chức thực hiện cũng như thanh tra thuế. Nếu như chúng ta không sớm khắc phục những hạn chế này thì mục tiêu đặt ra khi ban hành luật sẽ gặp phải rất nhiều bất lợi. Chính vì thế, công tác quản lý TNCN ở Việt Nam cần phải được hoàn thiện để đáp ứng những yêu cầu trong xu thế hội nhập và phát triển nhanh chóng hiện nay. Xuất phát từ thực tế trên của Việt Nam, trên giác độ quản lý để góp phần đẩy mạnh công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân, nhằm chống lại nạn thất thu thuế thu nhập cá nhân và tăng ngân sách nhà nước, đó cũng chính lá lí do mà em chọn làm nghiên cứu đề tài: “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân” để viết luận văn tốt nghiệp cuối khóa của mình. 2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài Với mục tiêu khái quát lại các vấn đề liên quan đến thuế TNCN mà em đã được học, cũng như tìm thêm công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam trong những năm qua, những khó khăn, tồn tại chủ quan lẫn khách quan mà các cơ quan quản lí thuế gặp phải, qua đó có một số đề xuất nhằm tìm ra những tồn tại và nguyên nhân trong công tác quản lí hiện nay đồng thời đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí. Hy vọng qua bài viết này, giúp người đọc hiểu thêm về thuế TNCN cũng như công tác quản lí thuế TNCN ở Việt Nam hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài Đầu tiên người viết sẽ nên lên khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân, từ đó đi sâu nghiên cứu vào thực trạng trong công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân từ khi luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực đến nay. 4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Để thực hiện đề tài này, người viết sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích và tổng hợp, các phương pháp định tính, định lượng, các công cụ thống kê, và sưu tầm các tài liệu liên quan. 5. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục đề tài tham khảo, và phụ lục, những nội dung chính của đề tài được trình bài trong ba chương: * Chương I: Những vấn đề chung về thuế thu nhập cá nhân và công tác quản lý về thuế thu nhập cá nhân. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 2 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  3. 3. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân * Chương II: Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. * Chương III: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân ở nước ta. Để hoàn thành được luận văn này, em đã nhận được sự giúp đỡ hết sức tận tình của cô Ts.Lê Nguyệt Châu. Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô, đã hướng dẫn em trong thời gian qua. Do thời gian và vốn kiến thức còn nhiều hạn hẹp nên chắc chắn không thể tránh được những thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến từ quý thầy cô để bài viết được hoàn thiện hơn! GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 3 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  4. 4. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÍ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1.1. Khái quát chung về thuế thu nhập cá nhân 1.1.1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Thuế xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện sản phẩm thặng dư cùng với sự phân chia giai cấp, Thuế được giai cấp thống trị dùng như một công cụ để tạo ra nguồn thu chủ yếu cho mọi nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước nói chung hay của giai cấp thống trị nói riêng. Vì thế, Thuế được xem như một phạm trù vừa có tính lịch sử vừa là một tất yếu khách quan đáp ứng nhu cầu của Nhà nước trong quá trình tồn tại và phát triển của mình. Giai cấp thống trị- vua chúa sử dụng thuế như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, qua tiến trình tiến triển của lịch sử, hiện nay thuế vẫn được sử dụng với đúng mụch đích của nó nhưng bản chất của Thuế ở các nước lại không giống nhau, nó tùy thộc vào bản chất Nhà nước và cách thức sử dụng nguồn thu từ thuế. Do đó, cũng tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về thuế do quan điểm về Thuế ở các nước khác nhau như: Thuế là một khoản thu của nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội, Thuế là khoản thu có tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp theo luật định. Marx viết(1) “Thuế là cở sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước". Các nhà nguyên cứu kinh tế khác cho rằng(2) “Thuế là hình thức phân phối thu nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại”. Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về Thuế khác nhau nhưng chúng ta cũng nhận thấy những điểm tương đồng sau: Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có những điều kiện nhất định. Thuế mang tính bắt buộc và không mang tính hoàn trả trực tiếp, ngang giá. Một phần thuế nộp vào ngân sách Nhà nước được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới nhiều hình thức khác nhau như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và quỹ tiêu dùng khác. (1) Nguồn: Hệ thống chính sách thuế Việt Nam hiện hành, Tác giả- Pts Nguyễn Thị Kim Tuyển, Pts Phan Mỹ Hạnh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998.( từ trang 267-305). (2) Nguồn: Phát biểu của chủ tịch ủy ban Thuế của chính phủ Nhật bản, trên www.vibonline.com.vn GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 4 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  5. 5. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân Trên cơ sở nhưng khái niệm về Thuế, chúng ta có thể rút ra khái niệm về thuế TNCN theo pháp luật hiện hành như sau: “Thuế thu TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoảng thu nhập từ kinh doanh, đầu tư,… (3). Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt. Thuế TNCN đầu tiên được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là Anh Quốc vào năm 1799. Lúc đầu Anh Quốc đưa vào thực hiện như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng vào năm 1942, một số nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này như Ðức (1899), Hoa Kỳ (1903), Pháp (1916). Các nước Châu Á như: Thái Lan áp dụng năm 1939, Philipin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-xia năm 1949, Trung quốc năm 1984; Những nước Đông Âu thuộc các nền kinh tế chuyển đổi như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992... Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế TNCN. Ưu điểm của cách này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước. Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả, đáp ứng được sự công bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều người phụ thuộc. 1.1.2. Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân - Thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người nộp thuế cũng là người chịu thuế, người chịu thuế TNCN không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế. - Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: Thứ nhất, đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài. Thứ hai, đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú (3) Giáo trình luật tài chính 2, Ts Lê Nguyệt châu, tr. 22 GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 5 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  6. 6. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN. - Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật định. Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước. - Thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp. - Thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia. Hầu hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…). Thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế TNCN rất cao. Việc đánh thuế TNCN thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy tiến từng phần. Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội. Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao. Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế. 1.1.3. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân Trước bối cảnh đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và những sự biến đổi lớn của điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, việc ban hành Luật thuế TNCN ở nước ta là hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng về nhiều mặt. Là một bộ phận của hệ thống thuế nên thuế TNCN vừa mang vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được. 1.1.3.1 Đối với nền kinh tế- xã hội * Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước Thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước. Thuế TNCN GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 6 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  7. 7. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn. Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần. Thuế TNCN luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người. * Góp phần thực hiện công bằng xã hội Trong mỗi quốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó. Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác nhau về thu nhập của mỗi người. Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo, là sự bất bình đẳng trong xã hội. Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội. * Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm Thuế TNCN là một công cụ rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thu nhập của các tầng lớp dân cư, thực hiện công bằng xã hội và quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Để kiểm soát thu nhập dân cư, nhà nước phải sử dụng đồng thời cả hai cơ chế quản lý quỹ tiền lương, tiền công, chế độ báo cáo quyết toán kinh doanh…và cơ chế kê khai nộp thuế TNCN, tuy ban đầu có thể chưa chính xác, nhưng sẽ là căn cứ để thống kê thu nhập dân cư phục vụ chương trình mục tiêu nghiên cứu quốc gia, hoạch định chính sách phát triển phù hợp khi tính tuân thủ pháp luật, pháp chế xã hội được nâng lên. Thông qua các cơ chế và công cụ quản lý đó mà nhà nước sẽ có giải pháp tăng cường hoặc giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư làm cho tổng cầu xã hội giảm hoặc tăng, từ đó có tác dụng co hẹp hay kích thích kinh tế phát triển. Đó chính là vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thuế thu nhập cá nhân góp phần tác dụng đáng kể. * Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân... Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 7 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  8. 8. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế TNCN. 1.1.3.2 Đối với hệ thống thuế * Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau. Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này * Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Thuế TNCN còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân. Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế thu nhập doanh nghiệp. * Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập với kinh tế thế giới. Việc ban hành Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng về lĩnh vực tài chính tiền tệ đồng thời là bước đi phù hợp lộ trình cải cách thuế theo mục tiêu chiến lược Chính phủ đã hoạch định. Nhận thức đúng vai trò vị trí hiện tại cũng như hướng phát triển hoàn chỉnh của chính sách thuế TNCN, quán triệt đầy đủ nội dung yêu cầu của Luật thuế thu nhập cá nhân mới ban hành để tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế, vận động toàn dân hiểu biết, chấp hành là nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, công dân theo quy định của Luật Quản lý thuế, ban hành ngày 29/11/2006. Tóm lại, Thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước. Dù không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện phát triển chính sách thuế trực thu nói chung, thuế TNCN nói riêng chính là là việc tạo lập và phát triển nguồn thu vững chắc GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 8 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  9. 9. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân cho ngân sách nhà nước. Cùng với xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc dân đầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập cá nhân sẽ ngày càng tăng và sẽ ngày một dồi dào. Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước chậm phát triển. 1.1.4. Giới thiệu khái quát về Luật thuế thu nhập cá nhân Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) và đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Ðể cho phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 05 lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999 và lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001). Sau hơn ba năm chuẩn bị kỹ lưỡng với hàng trăm cuộc hội thảo và sau gần một năm công bố rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, ngày 20/11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hoà XHCH Việt nam khoá XII đã thông qua Luật thuế TNCN. Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009, gồm 35 điều 4 chương, là một văn bản luật được soạn thảo “công phu” nhất từ trước đến nay, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân với nhiều điểm mới so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (gồm 34 điều 8 chương) và phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay như: Quy định cụ thể về đối tượng nộp thuế là cá nhân kinh doanh đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, cá nhân có thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và một số thu nhập theo Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành sẽ được điều chỉnh theo Luật thuế thu nhập cá nhân. Ngoài ra, có bổ sung thêm với đối tượng nộp thuế là cá nhân có thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ thừa kế, quà tặng. Sự thay đổi này, trước hết đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập bởi đã là cá nhân có thu nhập chịu thuế thì dù thu nhập từ bất kì nguồn nào cũng đều được đối xử như nhau, tức là đều chịu thuế TNCN. Thêm vào đó, việc điều tiết thu nhập của cá nhân kinh doanh theo Luật thuế TNCN thực hiện theo phương pháp luỹ tiến sẽ đảm bảo điều tiết hợp lý thu nhập dân cư. Điều này rất có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ở Việt Nam vì theo quy định trước đây họ phải nộp thuế thu nhập GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 9 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  10. 10. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân doanh nghiệp với thuế suất chung bằng với các doanh nghiệp (thông thường là những đơn vị kinh doanh có quy mô lớn). Về đối tượng nộp thuế, còn một điểm mới nữa là việc định nghĩa rõ hơn đối tượng cư trú (đối tượng phải nộp thuế TNCN cho Việt Nam đối với toàn bộ thu nhập, kể cả thu nhập phát sinh ở Việt Nam và nước ngoài). Nếu như trước đây, đối tượng cư trú chỉ là cá nhân có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam thì Luật thuế TNCN đã bổ sung thêm một điều kiện nữa được coi là cư trú ở Việt Nam, đó là “cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở lại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn”(4). Quy định như vậy làm cho việc xác định đối tượng nộp thuế được thuận lợi hơn, bao quát hết các đối tượng nộp thuế và mở rộng đối tượng nộp thuế một cách hợp lý. Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập được phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên. Tuy nhiên, Pháp lệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập không thường xuyên. Do vậy, trong thực tế, việc tính thuế gặp khá nhiều khó khăn. Đồng thời, việc tính thuế đối với từng loại thu nhập không hợp lý, không phù hợp với thông lệ quốc tế. Luật thuế thu nhập cá nhân đã khắc phục được hạn chế này với việc phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập. Theo đó, thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập khác (bao gồm: thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ thừa kế, quà tặng, thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại). Đây là cơ sở để tính thuế phù hợp với từng loại thu nhập. Từ cách phân loại này, việc áp dụng thuế suất được quy định theo hai hướng: đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công thì áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần; đối với các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế luỹ tiến toàn phần. Một số khoản thu nhập trước đây không quy định (mặc nhiên được coi là thu nhập không chịu thuế) được quy định trong Luật thuế TNCN gồm: thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại, thu nhập từ quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các cơ sở kinh doanh, bất động sản hoặc tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc sử dụng (tuy nhiên, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản của cá nhận chỉ có nhà ở, đất ở duy nhất được miễn thuế), thu nhập từ casino, thu nhập từ trúng thưởng các (4) Luật thuế thu nhập cá nhân,ngày 01 tháng 01 năm 2009, điều 2 điểm b GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 10 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  11. 11. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ tính đối với trúng thưởng xổ số và khuyến mại). Tất nhiên, những khoản thu nhập này chỉ bị đánh thuế khi thu nhập phát sinh lớn (từ trên 10 triệu đồng cho một hợp đồng hoặc một lần phát sinh). Liên quan đến thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng, kế thừa, quà tặng, có một quy định đáng chú ý là Luật thuế thu nhập cá nhân quy định miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng giữa vợ với chồng; cha mẹ đẻ; cha mẹ nuôi; mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; cha chồng mẹ chồng với con dâu; cha vợ mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau. Một số khoản thu nhập trước đây tạm thời chưa thu thuế như thu nhập từ đầu tư vốn (gồm lãi cho vay, lợi tức cổ phần và thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác); thu nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán. Tuy nhiên, phần thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các quỹ tín dụng và các tổ chức tín dụng khác) và lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễn thuế thu nhập cá nhân. Việc miễn thuế này nhằm mục đích thu hút khoản tiền nhàn rỗi nhỏ lẻ trong dân cư vào các kênh tín dụng, để từ đó sử dụng vốn của nền kinh tế vào hoạt động sản xuất kinh doanh, khuyến khích sử dụng có hiệu quả mọi đồn vốn của xã hội. Trên cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNCN đã bổ sung các khoản thu nhập sau vào diện miễn thuế từ thu nhập như thu nhập từ tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn lương làm việc ban ngày, làm việc trong giờ; lương hưu; tiền thưởng cho cá nhân về việc phát hiện, khai báo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật; học bổng nhận từ ngân sách Nhà nước và từ các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của Chính phủ; thu nhập từ viện trợ, từ thiện với điều kiện các quỹ từ thiện này phải được Nhà nước cho phép thành lập hoặc công nhận hoạt động vì mục đích nhân đạo không nhằm mục đích thu lợi nhuận; thu nhập từ lãi trái phiếu chính phủ. Đối với khoản đóng góp từ thiện nhân đạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế nhưng chỉ áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh; không áp dụng đối với cá khoản thu nhập khác. Với quy định này, Luật đã khuyến khích mọi công dân trong xã hội tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo. Đồng thời, đây cũng chính là một khoản "chi tiêu qua thuế" của nhà nước, thể hiện ở chỗ một khoản thu lẽ ra được nộp về ngân sách Nhà nước bây giờ được chuyển sang cho đối tượng thụ hưởng khoản đóng góp từ thiện. Chẳng hạn như, một người có thu nhập từ kinh doanh trước thuế của một năm 360 triệu đồng GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 11 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  12. 12. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân (thu nhập bình quân tháng 30 triệu đồng) thực hiện góp quỹ ủng hộ đồng bào lụt 10 triệu đồng. Khi đó, 10 triệu đồng này được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế. Với biểu thuế như sẽ được trình bày dưới đây, số thuế nhà nước giảm thu khi cho cá nhân này giảm trừ vào thu nhập tính thuế là 2 triệu đồng. Có thể hiểu trong trường hợp này, coi như Nhà nước đã sử dụng ngân sách góp vào quỹ ủng hộ đồng bào bão lụt 2 triệu đồng, còn cá nhân này thực ra chỉ ủng hộ 8 triệu đồng. Việc bổ sung một số khoản thu nhập miễn thuế nêu trên thể hiện sự ưu đãi của nhà nước đối với một số đối tượng được hưởng thu nhập trong những trường hợp gặp khó khăn và thể hiện chính sách khuyến khích của nhà nước đối với một số hoạt động có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhằm tăng cường lao động sản xuất… Áp dụng giảm trừ gia cảnh cho bản thân đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/tháng, cho mỗi người phụ thuộc mà đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng là 1.6 triệu đồng/tháng và mở rộng áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ kinh doanh trước khi xác định nghĩa vụ thuế. Việc giảm trừ cho người phụ thuộc được thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế. Những người phụ thuộc được giảm trừ khá rộng, bao gồm: con chưa thành niên, con đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, con tàn tật không có khả năng lao động; các cá nhân khác không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng thấp hơn mức quy định của Chính phủ hoặc không có nơi nương tựa mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng (gồm cha, mẹ, vợ chồng, cô, dì, chú, bác, cháu…). Đây chính là vấn đề được ủng hộ của đông đảo nhân dân nhiều nhất, xuất phát từ cơ sở là, thay vì áp dụng mức khởi điểm chịu thuế chung cho mọi đối tượng nộp thuế (có tính riêng đối với người Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam) thì chuyển sang áp dụng giảm trừ gia cảnh, tức là có tính đến hoàn cảnh cá nhân của đối tượng nộp thuế. Điều này làm cho việc xác định nghĩa vụ thuế của mỗi đối tượng nộp thuế được công bằng hơn. Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, áp dụng chịu thuế theo thu nhập thường xuyên, tính thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần với bốn mức thuế suất, thấp nhất là 10% và cao nhất là 40%. Đối với Luật thuế thu nhập cá nhân thì áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công, mức thuế suất thấp nhất còn 5% và mức thuế suất cao nhất là 35%, với số lượng bậc thuế nâng lên thành bảy bậc áp dụng chung cho cả người Việt Nam và người nước ngoài (cụ thể như bảng 1) GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 12 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  13. 13. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân Bậc Thu nhập tính thuế/năm Thu nhập tính thuế/tháng Thuế suất (%) thuế (triệu đồng) (triệu đồng) 1 Đến 60 Đến 5 5 2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10 3 Trên 120 đến 240 Trên 10 đến 20 15 4 Trên 240 đến 420 Trên 20 đến 35 20 5 Trên 420 đến 660 Trên 35 đến 55 25 6 Trên 660 đến 960 Trên 55 đến 80 30 7 Trên 960 Trên 80 35 Bảng 1 : Biểu thuế lũy tiến từng phần. Với biểu thuế mới này, tuy việc tính toán có phức tạp hơn (do tăng số lượng bậc thuế) nhưng lại đảm bảo công bằng hơn trong điều tiết thu nhập do chênh lệch về thuế suất giữa các bậc thuế giảm đi. Việc hạ thuế suất cao nhất và thấp nhất xuống thể hiện tinh thần mở rộng diện đánh thuế nhưng mức độ điều tiết cũng giảm đi, huy động sự đóng góp của nhiều người nhưng với mức độ vừa phải. Mặc khác, việc giảm mức thuế suất cao nhất sẽ góp phần khuyến khích người lao động tích cực lao động và sản xuất, kinh doanh; khuyến khích người dân làm giầu chính đáng. Đối với các khoản thu nhập còn lại. Luật thuế thu nhập cá nhân quy định biểu thuế luỹ tiến toàn phần (như bảng 2): Loại thu nhập tính thuế Thuế suất (%) 1 Thu nhập từ đầu tư vốn 5 2 Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5 3 Thu nhập từ trúng thưởng 10 4 Thu nhập từ thừa kế, quà tặng 10 5 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản 25 Trường hợp không xác định được thu nhập tính thuế thì áp 2 dụng thuế suất tính trên gía bán 6 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn 20 Đối với chuyển nhượng chứng khoán áp dụng thu thuế theo 0.1 từng phần Bảng 2: Biểu thuế lũy tiến toàn phần. Ngoài ra, Luật còn quy định thuế suất cụ thể cho từng loại thu nhập áp dụng đối với cá nhân không cư trú với các mức thuế suất từ 0.1% đến 20% tính trên toàn bộ thu nhập phát sinh ở Việt Nam (không được trừ chi phí). Có thể nói, Luật thuế TNCN có rất nhiều điểm đổi mới phù hợp với thực tiễn và khoa học so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 13 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  14. 14. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân 1.2 Khái quát về công tác quản lý thuế 1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế thu nhập cá nhân Trước hết ta tìm hiều về quản lý thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách có tổ chức, có hướng đích nhằm đạt mục tiêu đã đề ra. Về phương thức tác động và hiệu lực thì quản lý dựa vào pháp luật và các thể chế, quy chế, nguyên tắc, mô hình đã định trước. Về nội dung chức năng, quản lý bao gồm các việc như xây dụng kế hoạch xắp xếp tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm soát tiến trình hoạt động. Về phạm vi tác động và hình thức thể hiện: quản lý là một phạm trù rộng, để tiến hành quản lý, chủ thể quản lý phải tiến hành đồng bộ rất nhiều chức năng, trong đó có chức năng lãnh đạo. Như vậy quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá nhân, để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra. 1.2.2 Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân Công tác quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của quản lý tài chính Nhà nước, Công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn bộ các công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư pháp về thuế TNCN. Nội dung của công tác quản lý thuế TNCN bao gồm : 1.2.2.1. Quản lý các đối tượng nộp thuế, tính thuế và các khoản được khấu trừ theo quy định a. Xác định đối tượng nộp thuế Thuế TNCN thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng thời là đối tượng nộp thuế. Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp. Khi tiến hành xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là “nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”. Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tại nước đó. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 14 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  15. 15. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó. Hiện nay, đa số các nước tính thuế TNCN theo tiêu thức “nơi cư trú”. Tuy nhiên, khái niệm thế nào là một cá nhân cư trú tại một nước lại được định nghĩa khác nhau trong luật thuế TNCN của các nước. Rất có nhiều nước quy định cá nhân cư trú là người định cư tại nước đó hoặc những người đến nước đó không thường xuyên nhưng tổng số ngày ở tại nước đó vượt quá 183 ngày trong một năm (năm dương lịch hay năm tài chính). Tuy nhiên, một số nước lại đưa ra những định nghĩa về cá nhân cư trú cụ thể hơn và có điểm khác với định nghĩa nêu trên. Chẳng hạn như Nhật Bản đưa ra một định nghĩa tương đối phức tạp, trong đó có 3 khái niệm khác nhau là cá nhân cư trú thường xuyên, cá nhân cư trú không thường xuyên và cá nhân không cư trú. Cụ thể là : + Cá nhân cư trú thường xuyên là cá nhân định cư thường xuyên ở Nhật Bản liên tục từ 1 đến 5 năm trở lên . + Cá nhân cư trú không thường xuyên là cá nhân không có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật nhưng có nơi thường trú ở Nhật từ 1 năm trở lên và không được quá 5 năm . + Cá nhân không cư trú là cá nhân không có nơi định cư tại Nhật Bản và sống tại Nhật Bản ít hơn 1 năm . Các cá nhân nước ngoài đến Nhật Bản sẽ được coi là có nơi cư trú tại Nhật Bản trừ khi các hợp đồng lao động hoặc các giấy tờ khác chỉ rõ rằng họ sẽ ở lại Nhật Bản ít hơn một năm. Các cá nhân cư trú thường xuyên bị tính thuế trên thu nhập từ mọi nguồn; các cá nhân cư trú không thường xuyên bị tính thuế trên thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài nhưng được trả tại Nhât Bản hoặc chuyển đến Nhật Bản. Các cá nhân không cư trú chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập có nguồn gốc từ Nhật Bản.(5) Ở Trung Quốc quy định, một cá nhân đang cư trú trong biên giới của Trung Quốc hoặc những người không cư trú, nhưng cuộc sống bên trong biên giới của Trung Quốc cho không ít hơn một năm phải nộp thuế thu nhập cá nhân trên bấc kỳ thu nhập thu được từ bên trong hay bên ngoài biên giới Trung Quốc. Một cá nhân không phải là người cư trú cũng như cuộc sống bên trong biên giới của Trung Quốc hoặc những (5) http://www2.gol.com/users/jpc/Japan/taxes.htm GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 15 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  16. 16. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân người không cư trú và sống bên trong biên giới ít hơn một năm phải nộp thuế thu nhập cá nhân trên bất kỳ thu nhập thu được từ bên trong biên giới Trung Quốc.(6) Luật thuế TNCN ở Việt Nam quy định, cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và không cư trú. Đối với cá nhân cư trú thì phải có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn, có thu nhập chịu thuế phát sinh bấc cứ trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam điều phải nộp thuế còn cá nhân không cư trú thì không đáp ứng về điều kiện nêu trên nhưng có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam cũng phải nộp thuế. Sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một đối tượng nộp thuế là rất quan trọng, để xác định đối tượng nộp thuế đó phải nộp thuế ở mức độ nào. Như vậy, có thể thấy tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước mà mỗi nước sẽ đưa ra các định nghĩa đối tượng nộp thuế sao cho phù hợp với tình hình của mình. b. Xác định đối tượng tính thuế Việc xác định đối tượng tính thuế là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu được đề cập đến trong chính sách thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Căn cứ vào đó, người ta có thể thấy rằng loại thuế thu nhập cá nhân áp dụng có công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu như thế nào cho ngân sách nước đó. Để tính được thuế TNCN phải nộp, trước tiên phải xác định được những khoản thu nhập nào là đối tượng chịu thuế, khoản thu nhập nào là đối tượng không chịu thuế và tính toán thu nhập đó như thế nào. Sau đó, căn cứ vào một số quy định khác trong chính sách thuế như các khoản miễn giảm, khấu trừ… cơ quan thuế xác định được thu nhập tính thuế. Từ thu nhập tính thuế và thuế suất sẽ xác định được thuế phải nộp, sao cho người nộp thuế chấp nhận và để luật thuế có tính khả thi cao. Có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu kinh tế, xã hội trong việc thu thuế TNCN. Theo pháp luật thuế TNCN, để xác định đối tượng tính thuế đối với người có thu nhập trước hết, chúng ta cần xác định một khái niệm cho thuật ngữ “thu nhập”. Cho đến nay, hầu hết các đạo luật về thuế TNCN ở các nước thường chỉ quy định những khoản thu nhập nào phải tính thuế. Tuy nhiên, trên thực tế cũng tồn tại một số quan niệm về thu nhập như sau: “Thu nhập là giá trị nhận được của một pháp nhân hay thể (6) http://translate.google.com.vn/translate?hl=vi&langpair=en%7Cvi&u=http://www.novexcn.com/ personal_icm_tax_99.html GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 16 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  17. 17. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân nhân nào đó trong một khoảng thời gian nhất định không phân biệt nguồn gốc phát sinh. Giá trị đó có thể được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay các giá trị vật chất, phi vật chất nhưng có thước đo chung là tiền tệ”.(7) Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng TNCN là giá trị một cá nhân kiếm được trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để tạo ra thu nhập đó. Mặc dù luật thuế TNCN quy định 10 nhóm thu nhập chịu thuế ta có thể chia thành hai nhóm: Thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên.  Thu nhập thường xuyên: Được hiểu là các khoản thu nhập phát sinh thường xuyên, có tính chất đều đặn và ổn định trong tháng, trong năm và có thể dự tính được, bao gồm: - Thu nhập từ kinh doanh: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật. - Thu nhập từ tiền lương, tiền công: Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội; Tiền thù lao dưới các hình thức; Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền; Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. (7) Theo bách khoa từ điển. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 17 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  18. 18. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân Trong đó thu nhập thường xuyên chịu thuế là tổng thu nhập của từng cá nhân, bình quân tháng trong năm nằm trong giới hạn phải nộp thuế do biểu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định.  Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập phát sinh theo từng lần, từng đợt riêng lẻ, không có tính chất đều đặn, nằm trong mức giới hạn phải nộp thuế thu nhập, được tính theo biểu thuế toàn phần bao gồm: Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm: Tiền lãi cho vay; Lợi tức cổ phần; Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ. - Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế; Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác. - Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước; Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản. - Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm: Trúng thưởng xổ số; Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại; Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino; Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác. - Thu nhập từ bản quyền, bao gồm: Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ; Thu nhập từ chuyển giao công nghệ; - Thu nhập từ nhượng quyền thương mại; - Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng; - Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng. Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng TNCN là giá trị một cá nhân kiếm được trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để tạo ra thu nhập đó. Tuy nhiên không phải nước nào cũng đưa tất cả các nguồn thu nhập ở trên vào diện thu nhậo tính thuế. c. Xác định các khoản khấu trừ để tính thuế Một trong những nguyên tắc cơ bản khi tính thuế TNCN là đối tượng tính thuế phải là thu nhập do người đóng thuế toàn quyền sử dụng theo quy định của pháp luật. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 18 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  19. 19. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân Điều đó cũng có nghĩa là đối tượng tính thuế là thu nhập đã khấu trừ đi các khoản chi phí cần thiết để tạo ra thu nhập đó với một số giới hạn nhất định. Tùy theo đặc điểm kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia mà người ta quy định những khoản khấu trừ phù hợp. Tuy nhiên, về cơ bản có một nguyên tắc chung: Tất cả các chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra thu nhập cá nhân đều được khấu trừ để xác định thu nhập thực nhận được, sau đó trừ tiếp một số khoản mang tính chất xã - hội trước khi tính thuế. Chẳn hạn như: Thu nhập từ các hoạt động thương mại, công nghiệp, dịch vụ của các hộ kinh doanh cá thể không thuộc diện tính thuế thu nhập doanh nghiệp (các chi phí cần thiết và liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để tạo ra thu nhập mà người nộp thuế đã thực hiện); Thu nhập từ tiền lương, tiền công, hưu trí, trợ cấp xã hội và các khoản tương tự (cho phép trừ ra khỏi thu nhập một mức nào đó gọi là chi phí nghề nghiệp như: ca sĩ, nhà báo, nhạc công…); Thu nhập từ lãi cổ phần, lãi cho vay, lãi tiền gửi (chi phí mua các chứng khoán có giá); Thu nhập từ thừa kế (theo quan hệ thừa kế là trực hệ, quan hệ vợ chồng hay quan hệ khác); Các khoản trả có tính chất lương như trợ cấp ốm đau, lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp thất nghiệp… được chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội do chúng là đối tượng của chính sách xã hội nên nhiêu nước không thu thuế đối với các khoản thu nhập này. Các khoản phúc lợi xã hội như sử chữa nhà cửa, thiên tai,chữa bệnh, dịch họa hoặc chi phí của người tàn tật…Thu nhập được sử dụng cho các khoản chi phí này thường được miễn thuế thu nhập. Sở dĩ như vậy là để bảo đảm bảo có sự bình đẳng với những người không phải chi những khoản chi phí này. Các khoản chi phí nuôi người phụ thuộc mang tính chất gánh nặng gia đình cũng được quy định thành một khoản khấu trừ tùy theo quy đđịnh của Nhà nước. Tất cả các khoản chi phí trên thường được các nước quy định một giới hạn khấu trừ cụ thể gọi là suất miễn thu. Các khoản chi phí cá nhân khác nhằm tái tạo sức lao động, chi phí đảm bảo điều kiện sống tối thiểu của cá nhân. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 19 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  20. 20. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân Đây là một trong những đặc điểm của thuế TNCN là có quan tâm đến sinh hoạt của đối tượng nộp thuế và tính thuế theo khả năng. Điều này cũng cho thấy thu nhập cá nhân luôn gắn với các chính sách xã hội. 1.2.2.2. Tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế Ngoài những quy định trong văn bản pháp quy có được hoàn hảo hay không thì sự thành công trong việc thực hiện các chính sách thuế, còn phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế, cũng như người nộp thuế. Để nội dung của chính sách thuế đến với mọi người dân trong xã hội, cơ quan thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách thuế.. Công tác tập huấn về tuyên truyền thuế TNCN sẽ được tổ chức theo từng cấp. Công tác này cần phải được thực hiện trước hết từ cán bộ thuế, theo đó mỗi địa phương sẽ cử một đại diện lãnh đạo Cục Thuế, một lãnh đạo phòng thuế thu nhập cá nhân hoặc một lãnh đạo phòng có kiến thức am hiểu sâu về thuế thu nhập cá nhân, có kỹ năng thuyết trình tốt. Sau tập huấn sẽ là các giáo viên để phổ biến, hướng dẫn lại cho cán bộ thuế ở địa phương; các đại biểu quốc hội trên địa bàn; các cơ quan hành chính sự nghiệp; các hiệp hội; đoàn thể; các doanh nghiệp và nhân dân…, đảm bảo cho mọi người điều nắm bắt được những nội dung cơ bản nhất của luật. Nội dung của đợi tập huấn chia làm hai phần: đầu tiên sẽ hệ thống, đánh giá lại tình hình thực hiện chính sách điều tiết về thuế TNCN. Tiếp theo là phổ biến nội dung Luật thuế TNCN với những giải thích rõ ràng, chi tiết về một số điểm cần lưu ý. Để thành công trong công tác tuyên truyền, phổ biến thuế, các cơ quan thuế cần phải phối hợp với nhau như: Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức tốt việc tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, các nội dung cơ bản của Luật, các văn bản hướng dẫn và thủ tục hành chính về thuế thu nhập cá nhân đến tất cả các cơ quan, doanh nghiệp và mọi người dân hiểu, thực hiện và giám sát việc thực hiện. Chủ động triển khai hệ thống hỗ trợ, hướng dẫn về thuế; Bộ trưởng các Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến về Luật Thuế thu nhập cá nhân trong phạm vi Bộ, ngành, địa phương mình; Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, các đài phát thanh và truyền hình ở địa phương dành thời lượng thoả đáng để tuyên truyền, phổ biến về Luật Thuế thu nhập cá nhân. Các báo của Trung ương và địa phương dành chuyên mục để phổ biến, đăng tải các ấn phẩm tuyên truyền về thuế thu nhập cá nhân, phát hành các ấn phẩm, tờ rơi, áp phích, tổ chức các cuộc GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 20 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  21. 21. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân thi tìm hiểu về thuế TNCN(8) …để nhân dân nắm bắt các quy định về đối tượng thuộc diện nộp thuế, quyền và nghĩa vụ của các đối tượng đồng thời tạo trong cán bộ và các tầng lớp nhân dân, tổ chức ý thức tự giác chấp hành quy định của Luật, ủng hộ, tự giác và đồng tình trong việc chi trả thu nhập… qua đó kịp thời biểu dương các cá nhân tự giác thực hiện và chấp hành nghiêm túc các quy định về nộp thuế; phát hiện, phê phán kịp thời những hiện tượng, hành vi vi phạm quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân cũng như bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân trong cộng đồng xã hội. 1.2.2.3. Công tác đào tạo cán bộ công chức trong quản lý thuế(9) Từ khi mới thành lập ngành thuế đã xác định công tác đào, tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho công chức thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu. Hơn 16 năm qua cơ quan thuế từ Trung ương đến địa phương đã đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhiều hình thức: vừa đào tạo chính quy vừa tăng cường tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý thuế và học hỏi các nước trên thế giới và tiến hành như sau: Thực hiện được mục tiêu trên, đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế sẽ được đào tạo, bồi dưỡng tập trung theo ba nội dung cơ bản: Một là giáo dục đạo đức, tác phong nghề nghiệp, trách nhiệm pháp luật và phương pháp giao tiếp, ứng xử. Hai là đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức kinh tế, pháp luật liên quan nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ quản lý. Ba là đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức và kỹ năng quản lý thuế theo cấp độ từ cơ bản đến chuyên sâu và nâng cao từng loại công chức thực hiện các chức năng và lĩnh vực quản lý thuế khác nhau, trước mắt tập trung vào các kỹ năng tuyên truyền pháp luật thuế và hỗ trợ người nộp thuế; thanh tra kiểm tra, kiểm tra; quản lý kê khai và kế toán thuế; quản lý nợ thuế và cưỡng chế thu nợ thuế; dự báo thu ngân sách nhà nước về thuế, quản lý thuế thu nhập cá nhân… Theo Tổng cục thuế, tổng nhu cầu đào tạo về nghiệp vụ quản lý thuế hiện nay là khoảng 264.000 (năm 2010) lượt người bình quân 66.000 lượt người/năm. Trong đó nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cho công chức lãnh đạo cấp Ban, cấp Cục Thuế khoảng 1.700 lượt người, bình quân 430 lượt người/năm. 1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN. Mỗi nhân tố đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất và trạng thái của nhân tố đó. Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước là phải (8) Chỉ thị số 22/2008/CT-TTg (9) Tập chí thuế nhà nuốc số 22 (140) tháng 6-2007 GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 21 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  22. 22. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân tìm cách hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực cũng như phát huy những ảnh hưởng tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân. 1.2.3.1. Chính sách chung của Nhà nước Thuế TNCN là sắc thuế nhạy cảm và phức tạp vào bậc nhất trong các sắc thuế ở nước ta. Thuế này trực tiếp tác động đến túi tiền của người dân trong điều kiện mức sống của đa số dân còn thấp, lại không am tường pháp luật và thủ tục thuế, cũng chưa có đủ ý thức công dân để thật thà khai báo thu nhập. Khả năng kiểm soát và chứng minh thu nhập cá nhân rất hạn chế, đặc biệt đối với khu vực hành nghề tự do và kinh doanh nhỏ. Đối tượng nộp thuế đa dạng, thu nhập tính thuế không đồng nhất, bao gồm từ tiền công, tiền lương của người lao động đến lãi của những nhà kinh doanh, nhà đầu tư... Tính nhạy cảm và phức tạp như vậy đòi hỏi phải rất thận trọng để tránh những sai sót không đáng có trong chính sách và biện pháp, có thể tạo ra những phản ứng xã hội. Một chính sách thuế được cho là công bằng, nếu không có biện pháp quản lý khả thi tất yếu sẽ dẫn tới bất công trong thực tế. Thực tế thu thuế thu nhập cá nhân hiện hành đối với những người hành nghề tự do cho thấy rõ như vậy. Để bảo đảm sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp ngay từ đầu, đòi hỏi các nhà soạn thảo luật giải trình biện pháp và Quốc hội chỉ thông qua từng chính sách khi biện pháp được giải trình có tính khả thi, trả lời được rõ ràng, cụ thể và có sức thuyết phục những câu hỏi còn vướng mắt khi áp dụng chính sách thuế Tính thuế thế nào? Chẵng hạn như: - Theo luật thuế TNCN, thu nhập chịu thuế từ kinh doanh của hộ nhỏ được xác định bằng cách lấy doanh thu trừ đi chi phí. Như vậy đối với các hộ nhỏ trước nay vẫn thu Thuế Giá trị gia tăng và Thuế Thu nhập doanh nghiệp bằng cách khoán thì cách tính doanh thu và chi phí những hộ này thế nào? - Đối với thu nhập từ lao động của những người thu nộp tại nguồn, cách thu đối với những người có thu nhập ở nhiều nơi, cách quyết toán và hoàn thuế như thế nào để bảo đảm đơn giản về thủ tục mà lại không thất thu, giải quyết nhanh gọn, không phiền hà cho người nộp thuế. Cách thu đối với những người hành nghề tự do làm sao đơn giản thủ tục nhưng đặt được thu nhập của họ vào tầm kiểm soát của cơ quan thuế. Đây là hai vấn đề về mặt biện pháp cần được giải quyết ổn thỏa. - Biện pháp thu thuế trong những trường hợp chuyển nhượng chứng khoán. Đối với những chứng khoán giao dịch qua thị trường chứng khoán, dự luật quy định thu tại nguồn, tức là qua các công ty chứng khoán. Vậy các công ty này vừa phải thường GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 22 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  23. 23. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân xuyên thu thuế khi phát sinh mỗi chuyển nhượng, vừa phải quyết toán thuế cả năm cho từng khách hàng của mình hay sao? Giải quyết ra sao khi một nhà đầu tư lại mua bán thông qua nhiều công ty chứng khoán? Những chuyển nhượng ngoài thị trường chứng khoán có thu thuế hay không và nếu thu thì dùng biện pháp nào? Có chính sách phân biệt và cách phân biệt nhà đầu tư dài hạn và nhà đầu tư ngắn hạn? - Luật quy định thu nhập chịu thuế chuyển nhượng bất động sản tính bằng cách lấy giá bán trừ giá mua hay chi phí tạo lập. Cách tính giá bán và giá mua hay chi phí tạo lập như thế nào, đặc biệt là đối với những bất động sản tạo lập đã lâu đời? - Thuế TNCN lần này có chính sách giảm trừ gia cảnh được dư luận hoan nghênh. Song về mặt biện pháp thực hiện lại không hề đơn giản. Không đòi hỏi người nộp thuế chứng minh về người phụ thuộc được giảm trừ, khó loại trừ khả năng man khai. Nếu đòi hỏi chứng minh thì vấn đề trở nên rắc rối. Trong thực tế, chứng minh quan hệ ruột thịt không khó, vì đã có nhiều giấy tờ ghi nhận hoặc có thể dựa vào xác nhận của chính quyền địa phương. Song chứng minh về quan hệ nuôi dưỡng là vấn đề tế nhị, riêng tư của từng gia đình và có rất nhiều kịch bản có thể xảy ra. Chính quyền địa phương không thể xác nhận. Vậy thủ tục cụ thể thế nào cho vừa đơn giản, không gây phiền hà, vừa chống man khai hoặc tạo được lòng tin rằng không có khai man. Đó là những câu hỏi trong nhiều câu hỏi của cuộc sống cần phải giải đáp bằng những biện pháp khả thi với những lý lẽ thuyết phục. Có vậy chính sách mới có tính khả thi. Và để trả lời được, các biện pháp cần được nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn nữa. Do đó thời gian nghiên cứu của các các cơ quan soạn thảo luật và cả của Quốc hội cần phải kéo dài hơn. 1.2.3.2 Cơ sở vật chất của ngành thuế Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế TNCN. Những quy định trong chính sách về diện thu thuế, phương thức kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế… phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành thuế. Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế. Cũng như vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng và ứng dụng các tiến bộ khoa học về tin học và mạng sẽ là một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí. Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản séc hoặc bằng thẻ ATM cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho cơ quan thuế trong việc giám sát. Phương pháp thu thuế TNCN thông qua hệ thống ngân hàng, điều này vừa giúp giảm bớt công việc và chi phí cho cơ quan thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của đối tượng nộp thuế. Chính vì vậy, sự GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 23 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  24. 24. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để có thể thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN và xây dựng mạng thông tin nội bộ và phần mềm ứng dụng để quản lý cơ sở dữ liệu sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo kiểu thủ công. 1.2.3.3 Trình độ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo cán bộ thuế Trình độ đội ngũ cán bộ thuế đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế, đặc biệt là thuế TNCN. Nhân tố này tác động vào tất cả các nội dung của công tác quản lý thuế TNCN, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới thanh tra thuế, tổ chức bộ máy quản lý thuế. Để có thể ban hành những chính sách thuế đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý thuế TNCN thì đội ngũ cán bộ thuế cấp cao, ở tầm hoạch định chính sách cần phải có trình độ cao về vấn đề thực tế cũng như cơ bản liên quan đến ngành thuế. 1.2.3.4. Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư ảnh hưởng lớn tới khâu quản lý thu thuế và thanh tra thuế. Quản lý thuế TNCN khó khăn và phức tạp chủ yếu ở khâu quản lý thu nhập của các đối tượng. Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản séc cá nhân thì sẽ rất thuận tiện cho cơ quan thuế trong việc giám sát. Bên cạnh đó, nếu phương thức thanh toán trong dân cư chủ yếu thông qua ngân hàng thì nhà nước có thể áp dụng phương pháp thu thuế TNCN thông qua hệ thống ngân hàng. Điều này vừa giúp giảm bớt công việc và chi phí cho cơ quan thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của đối tượng nộp thuế. Chính vì vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để có thể thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN. 1.2.3.5 Tính nghiêm minh của luật pháp Cơ quan luật pháp làm việc có hiệu quả, luật pháp được thực hiện nghiêm minh sẽ đảm bảo việc vi phạm luật giảm đi. Các đối tượng nộp thuế cũng như cơ quan thu thuế cũng sẽ thực hiện nghiêm túc hơn các quy định trong luật thuế bởi họ biết rằng khi vi phạm họ sẽ không tránh khỏi những hình phạt nếu bị phát hiện. Như vậy, công tác quản lý thuế TNCN sẽ đạt được hiệu quả. 1.2.3.6. Tình hình kinh tế, mức sống của người dân và trình độ dân trí của đối tượng nộp thuế GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 24 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  25. 25. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân Hiệu quả của công tác quản lý thu thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào mức độ phát triển kinh tế và đời sống của dân cư. Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu vực, số đối tượng nộp thuế thu nhập nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một đồng thuế thu được, ngược lại có ít đối tượng nộp thuế và số thuế thu được ít thì chi phí cho một đồng thuế thu được sẽ cao. Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và công tác quản lý thuế nói riêng, khi cơ sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả hơn. Trình độ của người dân tác động mạnh mẽ đến ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng, tỉ lệ thuận với ý thức và trách nhiệm nộp thuế. Khi người dân có ý thức chấp hành luật thuế tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế. Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra. Chính vì vậy, công tác quản lý thu thuế và thanh tra thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn. Tóm lại, trình độ dân trí của người dân càng cao thì ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế càng lớn, đồng thời nó cũng ảnh hưởng một phần tới công tác quản lý thuế TNCN. 1.2.4. Tổ chức bộ máy quản lý thuế Nhà nước xây dựng bộ máy quản lý thuế để quản lý thuế TNCN cũng như các sắc thuế khác. Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng nước, bộ máy quản lý thuế cũng được xây dựng một cách tương ứng. Ngày 7/8/1990, hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định số 218-HĐBT về việc thành lập ngành thuế nhà nước, hợp nhất ba hệ thống tổ chức: Thu quốc danh, thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp. Ngành Thuế nhà nước được tổ chức qua ba cấp từ tổng cục thuế, cục thuế đến chi cục thuế, được xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm và sự phân công cụ thể hợp lý giữa cơ quan thuế ngành dọc cấp trên và chính quyền từng cấp trong tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm chỉnh chính sách chế độ thuế chung cả nước và trên địa bàn lãnh thổ theo nguyên tắc “song hành lãnh đạo”. Sau một thời gian hoạt động, do nhận thấy những hạn chế trong hệ thống thuế nhà nước và để phù hợp với tình hình mới, nên Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính như sau: * Về vị trí và chức năng: GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 25 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  26. 26. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân Tổng cục Thuế là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về các khoản thu nội địa trong phạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước; tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Tổng cục Thuế có tư cách pháp nhân, con dấu có hình Quốc huy, tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước và trụ sở tại thành phố Hà Nội. * Về nhiệm vụ và quyền hạn: Tổng cục Thuế thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau: - Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định như: Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội; dự án pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về quản lý thuế; Chiến lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hành động, đề án, dự án quan trọng về quản lý thuế; Dự toán thu thuế hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước. - Trình Bộ trưởng Bộ Tài chính xem xét, quyết định các Dự thảo thông tư và các văn bản khác về quản lý thuế; Kế hoạch hoạt động hàng năm của ngành thuế. - Ban hành văn bản hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ, văn bản quy phạm nội bộ, văn bản cá biệt thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Thuế. - Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án về quản lý thuế sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt. - Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thuế. - Tổ chức hướng dẫn, giải thích chính sách thuế của Nhà nước; tổ chức công tác hỗ trợ người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật. - Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện quy trình nghiệp vụ về đăng ký thuế, cấp mã số thuế, kê khai thuế, tính thuế, nộp thuế, hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quy trình nghiệp vụ về kế toán thuế và các nghiệp vụ khác có liên quan. - Quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định việc miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, gia hạn thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, gia hạn thời hạn nộp thuế, xoá tiền nợ thuế, tiền phạt thuế. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 26 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  27. 27. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân - Bồi thường thiệt hại cho người nộp thuế; giữ bí mật thông tin của người nộp thuế; xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế khi có đề nghị theo quy định của pháp luật. - Giám định để xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. - Yêu cầu người nộp thuế cung cấp sổ kế toán, hoá đơn, chứng từ và hồ sơ tài liệu khác có liên quan đến việc tính thuế, nộp thuế; yêu cầu tổ chức tín dụng, các tổ chức và cá nhân khác có liên quan cung cấp tài liệu và phối hợp với cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế. - Ủy nhiệm cho các cơ quan, tổ chức trực tiếp thu một số khoản thuế theo quy định của pháp luật. - Ấn định thuế, truy thu thuế; thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế để thu tiền thuế nợ, tiền phạt vi phạm hành chính thuế. - Lập hồ sơ kiến nghị khởi tố các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về thuế; thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng các trường hợp vi phạm pháp luật thuế. - Thực hiện hợp tác quốc tế về lĩnh vực thuế theo phân công, phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật. - Tổ chức quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của ngành thuế; hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành thuế. - Tổ chức quản lý thông tin về người nộp thuế; xây dựng hệ thống dữ liệu thông tin về người nộp thuế; thực hiện công tác thống kê thuế và chế độ báo cáo tài chính theo quy định. - Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật thuế; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc sử dụng tài sản, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật. - Quản lý tổ chức bộ máy, biên chế; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, thi đua khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của Tổng cục Thuế theo phân cấp của Bộ trưởng Bộ Tài chính và quy định của pháp luật. - Thực hiện cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung chương trình cải cách hành chính được Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 27 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  28. 28. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân - Tổ chức và quản lý công tác thi đua - khen thưởng của ngành thuế đối với cơ quan thuế, người nộp thuế, các tổ chức, cá nhân khác có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý thuế và chấp hành nghĩa vụ thuế với ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật. - Quản lý, lưu giữ hồ sơ, tài liệu, ấn chỉ thuế và kinh phí, tài sản được giao; thực hiện cơ chế quản lý tài chính và biên chế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền. - Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Tài chính giao và theo quy định của pháp luật. * Về cơ cấu tổ chức: Chính phủ Bộ Các tổ chức hành chính: Gồm 12 Vụ; Trung ương tài chính Thanh tra và công nghệ thông tin Tổng cục Các tổ chức sự nghiệp gồm: Trường thuế Nghiệp vụ thuế; Tạp chí Thuế Cấp tỉnh Cục thuế Cấp huyện Chi cục thuế Sơ đồ 1: cơ cấu tổ chức của ngành thuế Tổng cục Thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất. - Cơ quan Tổng cục Thuế ở Trung ương: + Các tổ chức hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước gồm: Vụ Chính sách; Vụ Pháp chế; Vụ Dự toán thu thuế; Vụ Kê khai và Kế toán thuế; Vụ Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế; Vụ Quản lý thuế thu nhập cá nhân; Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn; Vụ Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Kiểm tra nội bộ; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Tài vụ - Quản trị; Văn phòng; Thanh tra; Cục Công nghệ thông tin. + Các tổ chức sự nghiệp gồm: Trường Nghiệp vụ thuế; Tạp chí Thuế. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 28 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  29. 29. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân - Cơ quan Thuế ở địa phương: + Cục Thuế ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là Cục Thuế cấp tỉnh) trực thuộc Tổng cục Thuế; + Chi cục Thuế ở các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Chi cục Thuế cấp huyện) trực thuộc Cục Thuế cấp tỉnh. Cục Thuế cấp tỉnh, Chi cục Thuế cấp huyện có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra còn có đội thuế, hội đồng tư vấn thuế được tổ chức ở cấp xã, phường, thị trấn. * Về chức năng lãnh đạo: Tổng cục Thuế có Tổng cục trưởng và không quá 03 Phó Tổng cục trưởng. Tổng cục trưởng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính bổ nhiệm, miễn nhiệm và cách chức theo quy định của pháp luật. Tổng cục trưởng là người đứng đầu Tổng cục Thuế, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Tổng cục Thuế. Các Phó Tổng cục trưởng chịu trách nhiệm trước Tổng cục trưởng và trước pháp luật về lĩnh vực công tác được phân công phụ trách. Tóm lại: Luật thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội thông qua có nhiều điểm mới, phù hợp với tiến trình đổi mới quản lý kinh tế, quá trình hội nhập kinh tế và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay. Việc ban hành Luật một cách cẩn trọng, hệ thống thuế ở Việt Nam đang tìm đến sự phù hợp với hệ thống thuế các nước và dần đến một hệ thống thuế mang tính công bằng trong điều tiết và hiện đại trong hành thu. Tuy nhiên để hoàn thiện tốt luật thuế TNCN, nhằm áp dụng một cách khả thi, được người dân hưởng ứng thì hệ thống trong công tác quản lý thuế là hết sức cần thiết, nhằm mang lại hiệu quả nguồn thu cho ngân sách nhà nước. GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 29 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm
  30. 30. Luận văn tốt nghiệp - Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 2.1. Ban hành chính sách Thuế Đây là công việc thuộc lĩnh vực lập pháp. Việc ban hành chính sách thuế TNCN sẽ tạo ra những quy định pháp luật làm cơ sở để tính và thu thuế TNCN. Đồng thời, ban hành chính sách cũng đưa ra những căn cứ để kiểm tra, thanh tra, và áp dụng các chế tài đối với quá trình tính và thu này. Để mỗi công dân sống và làm việc theo pháp luật thì chính sách thuế TNCN cần được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản như sau: Thứ nhất, việc xây dựng các văn bản pháp luật và chính sách thuế cần đảm bảo tính đơn giản, minh bạch rõ ràng và chặt chẽ.Vì loại thuế TNCN khá phức tạp nên nguyên tắc này cần được đảm bảo để hạn chế hành vi trốn thuế của các đối tượng nộp thuế. Thứ hai, quy định trong chính sách thuế TNCN phải đảm bảo được yêu cầu đặt ra trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đảm bảo tính công bằng đối với cả người nộp thuế và xã hội. Thứ ba, quy định trong chính sách thuế TNCN cũng cần đảm bảo tính công bằng đối với người nộp thuế và xã hội. Thuế TNCN đóng vai trò phân phối lại thu nhập trong xã hội, giảm bớt sự cách biệt quá lớn về mức sống giữa các cá nhân trong xã hội nhưng cũng cần động viên sự phấn đấu làm việc của người lao động. Các quy định phải đảm bảo cho thu nhập thực tế sau khi nộp thuế của các đối tượng nộp thuế tương xứng với công sức lao động và sự đóng góp của họ. Ngoài yêu cầu cơ bản trên, để đảm bảo chính sách thuế TNCN phát huy hiệu quả cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình triển khai thực hiện như: cải tiến và hoàn thiện chế độ kế toán, thống kê, thông tin, báo cáo để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý thuế TNCN, đặc biệt đối với cá nhân, hộ gia đình tự doanh. 2.2. Tổ chức thực hiện chính sách thuế thu nhập cá nhân Luật thuế TNCN đã được áp dụng hàng trăm năm nay ở các nước phát triển trên thế giới. Ở Việt Nam, thuế TNCN lần đầu tiên được ban hành vào năm 1990 dưới hình thức Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Hiện nay theo quy định hiện hành, Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực ngày 01/01/2009, được chính thức áp dụng vào đời sống nhân dân ban hành kèm theo Nghị định 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ và Thông tư 84/2008/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN. Với quy định này, việc kê khai nộp thuế thu GVHD: Ts. Lê Nguyệt Châu Trang 30 SVTH: Thạch Huỳnh Liêm

×