Chuyên đề văn bản và soạn thảo văn bản

73,198 views

Published on

0 Comments
15 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
73,198
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
3
Actions
Shares
0
Downloads
1,111
Comments
0
Likes
15
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Chuyên đề văn bản và soạn thảo văn bản

  1. 1. ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNGCHUYÊN ĐỀVĂN BẢN VÀ SOẠN THẢO VĂN BẢNĐà Nẵng, tháng 01. 2010
  2. 2. VĂN BẢN VÀ SOẠN THẢO VĂN BẢNI. Khái niệm và chức năng của văn bảnVăn bản (VB) là gì?1 Khái niệm:- Văn bản nói chung là một loại phương tiện ghi tin vàtruyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ (hay một loại kí hiệu)nhất định. VB được hình thành trong nhiều lĩnh vực của đờisống xã hội. Tùy theo từng lĩnh vực cụ thể của đời sống XHvà QLNN (quản lý nhhà nước) mà VB có những nội dungvà hình thức thể hiện khác nhau.- Văn bản là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngônngữ ở dạng viết. Văn bản thường là tập hợp của các câu cótính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức, cótính liên kết chặt chẽ và hướng tới 1 mục tiêu giao tiếp nhấtđịnh.
  3. 3. VĂN BẢN VÀ SOẠN THẢO VĂN BẢN2. Văn bản hành chính (VBCH) là gì ?VBHC là VB của các cơ quan NN dùng để ghi chép,truyền đạt các quyết định QL (quản lý) và các thôngtin cần thiết cho hoạt động QL theo đúng thể thức,thủ tục, và thẩm quyền luật định.- Nói cách khác, Văn bản HC là phương tiện quan trọngđể đảm bảo thông tin cho QL và nó phản ánh kết quảhoạt động của QL, đồng thời nó truyền đạt ý chí, mệnhlệnh của các CQNN (cơ quan nhà nước) cho cấp dưới.VBHC là thông tin giao dịch chính thức giữa các cơ quan,tổ chức với nhau hoặc giữa NN với tổ chức và công dân.
  4. 4. VĂN BẢN VÀ SOẠN THẢO VĂN BẢNII. Chức năng của văn bản hành chính1. Chức năng thông tin:Đây là chức năng cơ bản và tổng quát nhất của VBHC nói chung:vì trong trong quá trình QL, điều hành và trong các hoạt độngcủa các CQNN thì VB là phương tiện truyền tải thông tin quantrọng nhất để điều hành bộ máy QLNN+ Thông tin về chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước liênquan đến mục tiêu và phương hướng hoạt động lâu dài của cơquan; về nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động cụ thể của từng cơ quan+ Ghi lại các thông tin quản lý+ Truyền đạt thông tin QL từ nơi này đến nơi khác trong hệthống QL hay từ CQQLNN đến quần chúng nhân dân.+ Giúp cho các CQQLNN đánh giá các thông tin thu được quacác hệ thống truyền đạt thông tin khác.
  5. 5. VĂN BẢN VÀ SOẠN THẢO VĂN BẢNII. Chức năng của văn bản hành chính (QL).2. Chức năng quản lý- VBHC là phương tiện hữu hiệu trong việc truyềnđạt các quyết định QL cho cấp dưới một cách thuậnlợi và chính xác.- VBHC giúp cho các nhà QL tổ chức, điều hành tốtcông việc QL của mình và là cơ sở để theo dõi, kiểmtra, đánh giá cấp dưới theo quy trình quản lý. Nó làcơ sở pháp lý để đề ra các quy định đảm bảo tínhpháp luật.
  6. 6. VĂN BẢN VÀ SOẠN THẢO VĂN BẢNII. Chức năng của văn bản hành chính (QL).3. Chức năng pháp lý- VBHC là phương tiện để ghi chép và truyền đạtcác quy phạm pháp luật và để điều tiết các mối quanhệ xã hội bằng hệ thống luật pháp đã được văn bảnhóa, tạo điều kiện phổ biến rộng rãi, đầy đủ chínhxác việc thực thi pháp luật và QLNN, quan hệ xã hộiđược nghiêm minh, đúng đắn và thống nhất.- Nó là cơ sở pháp lý cho các quyết định QL và cácthông tin QL khác của các CQNN từ TW đến địaphương.
  7. 7. VĂN BẢN VÀ SOẠN THẢO VĂN BẢNIII. Hệ thống VB của nước CHXHCNVN:1. Văn bản quy phạm pháp luật:L, PL, L, NQ, NQLT, NĐ, QĐ, CT, TT, TTLT.2. Văn bản cá biệt: (Quyết định, chỉ thị thành văn mang tính áp dụng phápluật do cơ quan, công chức NN có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tụcnhất định..)3. Văn bản hành chính thông thường: ( không đưa ra các quyết địnhquản lý, do đó không dùng để thay thể cho văn bản QPPL hoặc văn bản cábiệt)4.Văn bản quản lý lĩnh vực chuyên môn: (các loại hóa đơn, séc, các loạivăn bằng, chứng chỉ)5. Các loại hợp đồng: (hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, hợp đồng laođộng)6. Các văn bản chuyển đổi: (Nội quy, quy chế, quy định của từng cơ quan đơnvị trong từng lĩnh vực QL cụ thể)
  8. 8. Các loại văn bản hành chính (VBHC)* Văn bản cá biệt: (VBCB) là những quyết định QLthành văn mang tính áp dụng luật, do cơ quan, côngchức NN có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủtục nhất định nhằm đưa ra các quy tắc xử sự riêngđối với 1 hoặc 1 nhóm đối tượng cụ thể, được chỉ rõ,hay nói cách khác để giải quyết công việc cụ thể.(VD: QĐ của GĐ Bưu điện khen thưởng các đơn vị,cá nhân có thành tích cao trong công tác thi đua 6tháng đầu năm 2008)Văn bản cá biệt có 2 loại: Quyết định cá biệt và Chỉthị cá biệt.
  9. 9. Văn bản cá biệt: (VBCB)-Quyết định cá biệt: (QĐ áp dụng PL) là VB được banhành để giải quyết các công việc cụ thể đối với đốitương cụ thể. Đó là những quyết định lên lương,khen thưởng, kỷ luật, bổ nhiệm, miễn nhiệm, phêduyệt dự án …)- Chỉ thị cá biệt: là VB được ban hành để vận hành bộmáy thuộc quyền QL của đơn vị và nhằm thực hiệntốt chức năng, nhiệm vụ mà NN giao cho đơn vị, cónội dung chứa đựng các mệnh lệnh của cấp trên giaocho cấp dưới trong việc thực hiện pháp luật và cácnhiệm vụ cụ thể phát sinh trong quá trình QL
  10. 10. Văn bản hành chính thông thường: (VBHCTT)- Văn bản HCTT là loại văn bản mang tính thông tin, điềuhành nhằm thực thi các VBQPPL (văn bản quy phạmpháp luật), hoặc dùng để giải quyết các công việc cụ thể,phản ánh tình hình, giao dịch, trao đổi, ghi chép các côngviệc trong các cơ quan tổ chức. Nội dung của thông tinmang tính chất điều hành tác nghiệp hành chính.VBHCTTkhông đưa ra các quyết định QL do đó không được dùng đểthay thế cho VBQPPL hoặc VBCB- Các hình thức VBHCTT:+ VBHC không có tên loại: (công văn hành chính)+ VBHC có tên loại: Điều lệ, quy chế, quy định, kế hoạch,quy hoạch, chương trình, chiến lược, đề án, thông báo, báocáo…
  11. 11. Văn bản chuyên môn-kỹ thuật: (VBCM-KT)- Văn bản chuyên môn-kỹ thuật là loại vănbản do một cơ quan QLNN trong một línhvực nhất định, được NN ủy quyền banhành, dùng để QL một lĩnh vực điều hànhcủa bộ máy NN, loại VB này mang tính đặcthù và thuộc thẩm quyền ban hành riêngcủa từng cơ quan NN theo quy định củapháp luật.(+ Giấy khai sinh: do cơ quan Tư pháp banhành; Bệnh án: do Bộ Y tế ban hành…)
  12. 12. Sơ đồ hệ thống VBQLNNSơ đồ hệ thống VBQLNNCQLP (Đ13)QHHP,Lt, NQUBTVQHPL,NQHĐNNcác cấpNQCQHP (Đ15,16)CQHP-QLCCP: NQ,NĐCTN: L, QĐ (Đ 14)TTg: QĐ, CTCác Bộ:QĐCTTTTTLTCQHP-QLCMCQTP (Đ17)TANDTCHĐTPTANDTCNQCA.TANDTCQĐCTTTVKSNDTCVTVKSNDTCQĐCTTTUBNN các cấpQĐ. CT
  13. 13. QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢNQuy trình soạn thảo và ban hành VB là trìnhtự các bước được sắp xếp khoa học mà cơquan QLNN nhất thiết phải tiến hành trongcông tác soạn thảo và ban hành văn bản theođúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vàphạm vi hoạt động (4 bước)- Chuẩn bị- Lập đề cương, viết bản thảo- trình duyệt, ký văn bản- Hoàn thiện thủ tục hành chính để ban hànhVB
  14. 14. QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢNBước 1: chuẩn bị- Phân công soạn thảo: cơ quan đơn vị hoặc cánhân soạn thảo- Xác định mục đích ban hành VB, đối tượngvà phạm vi áp dụng của VB- Xác định tên loại VB- Thu thập và xử lý thông tin
  15. 15. QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢNBước 2: lập đề cương và viết bản thảo- Lập đề cương:+ Đề cương VB là bản trình bày những điểm cốt yếu dự định thểhiện ở nội dung VB+ Đề cương VB được xây dựng trên cơ sở những vấn đề được xácđịnh trong mục đích và giới hạn của VB+ Có thể XD đề cương chi tiết, hoặc sơ lược- Viết bản thảo:+ Dùng lời văn, câu chữ để cụ thể hóa những ý tưởng, những dựkiến được xác lập ở đề cương+ Khi viết bản thảo, cần phải bám sát đề cương, phân chia dunglượng trong từng chương, mục, đoạn cho hợp lý. Sử dụng linhhoạt các từ, cụm từ, liên kết các câu, đoạn để VB trở thành mộtthể thống nhất, trọn vẹn về nội dung và hình thức.+ Kiểm tra, rà soát bản thảo: kiểm tra bố cục nội dung: đã lôgicchưa, đầy đủ các ý cần trình bày chưa, các ý trình bày đã phù hợpvới mục đích ban hành VB hay chưa, ý trọng tâm của VB đã nổibật hay chưa.+ Kiểm tra về thể thức VB, về ngôn ngữ diễn đạt và trình bày
  16. 16. QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢNBước 3: trình duyệt, ký văn bản- Cơ quan, đơn vị soạn thảo VB trình hồ sơ trình duyệt dự thảoVB lên cấp trên (tập thể hoặc cá nhân) để xem xét thông qua.- Hồ sơ trình duyệt bao gồm các giấy tờ sau:+ Tờ trình hoặc phiếu trình dự thảo VB+ Bản dự thảo+ VB thẩm định (nếu có)+ Bản tập hợp ý kiến tham gia (nếu có)+ Các văn bản giấy tờ khác liên quan (nếu có)Trường hợp không có hồ sơ trình duyệt thì phải trực tiếp tườngtrình với thủ trưởng về VB* Đối với VB thông qua theo chế độ tập thể và QĐ theo đa số: cácthành viên dự họp phải đúng thành phần, có đủ tư cách và thẩmquyền. VB được thông qua khi đảm bảo số phiếu theo quy địnhcủa PL.* Đối với VB được thông qua theo chế độ một thủ trưởng: trên cơsở bàn bạc, tìm hiểu, thống nhất ý kiến với ban lãnh đạo, thủtrưởng xem xét ký ban hành và phải chịu trách nhiệm pháp lý vềVB mình đã ký.
  17. 17. QUY TRÌNH SOẠN THẢO VÀ BAN HÀNH VĂN BẢNBước 4: hoàn thiện thủ tục hành chính để ban hànhVB (thuộc nhiệm vụ của cán bộ văn thư)- Ghi số, ngày tháng năm ban hành VB- Vào sổ VB đi, sổ lưu VB- Kiểm tra lần cuối về thể thức VB- Nhân VB đủ số lượng ban hành- Đóng dấu cơ quan- Bao gói và chuyển giao VBVới những VB quan trọng, ban hành kèm theo phiếugửi VB, cần tiếp tục theo dõi sự phản hồi của cơquan nhận VB.
  18. 18. Phương pháp soạn thảo một số loại VBHC1. Soạn thảo quyết định cá biệt:- Về thể thức: gồm 9 thành phần cơ bản và một số thành phầnbổ sung (tên người đánh máy, số lượng ban hành). Trìnhbày theo quy định của 1 VBHC có tên loại.- Về bố cục: gồm 2 phần+ Phần mở đầu: nêu các căn cứ để ban hành quyết định+ Phần nội dung: nêu các quy định (được trình bày dưới dạngđiều: từ 2-5 điều)* Điều 1: quy định thẳng vào vấn đề chính (đã được nêu ởphần trích yếu nội dung, nhưng cần được trình bày cụ thểhơn)* Điều 2, và các điều tiếp theo quy định những hệ quả pháplý nãy sinh từ điều 1* Điều cuối cùng: quy định hiệu lực và các đối tượng thihành quyết định. (xem phụ lục I)
  19. 19. Phương pháp soạn thảo một số loại VBHC2. Soạn thảo công văna. Yêu cầu: - Mỗi công văn chỉ chứa đựng 1 chủ đềvà chỉ nêu một sự vụ nhất định- Công văn phải viết ngắn gọn, súc tích, rõ ràng, ýtưởng phản ánh sát với chủ đề.- Ngôn ngữ sử dụng trong công văn phải khoa học,lịch sự, nghiêm túc, có tính thuyết phục- Phải đúng với thể thức quy định của pháp luật, đặcbiệt phải có phần trích yếu nội dung
  20. 20. Phương pháp soạn thảo một số loại VBHC2. Soạn thảo công văn.b. Bố cục của công văn- Phải có quốc hiệu và tiêu ngữ- Tác giả ban hành (tên cơ quan chủ quản và tên cơ quan banhành văn bản)- số và ký hiệu của công văn- Địa danh và ngày tháng năm ban hành- Chủ thể nhận công văn- Trích yếu nội dung của công văn- Nội dung của công văn- chữ ký và đóng dấu, họ và tên người ký công văn- Nơi gửi công văn
  21. 21. Phương pháp soạn thảo một số loại VBHCc. Kỹ thuật soạn thảo nội dung của công văn- Viện dẫn (Phần mở đầu): phải nêu rõ lý do tại sao phảiban hành CV đó. (Lý do hoặc cơ sở để ban hành CV)- Nội dung chính: Phải nêu sát với chủ đề hoặc những vấnđề đã được nêu trong viện dẫn. Tùy theo từng loại chủđề, công văn có những cách viết cho phù hợp. Trước khiviết phải xin ý kiến của lãnh đạo để được hướng dẫn vềnội dung công văn. Sắp xếp ý nào nêu trước, ý nào nêusau để công văn thể hiện tính logic. Văn phong phải phùhợp với từng loại công việc và cần phải có lập luận chặtchẽ các vấn đề đưa ra. (CV cám ơn: nhẹ nhàng, chân tình, CV đề xuất: phảinêu lý do xác đáng, CV tiếp thu ý kiến: thể hiện sự mềm dẻo, khiêm tốn, CV từ chối: thẻhện sự lịch sự, phải có lời động viên an ủi..)- Kết thúc: phải ngắn gọn và chủ yếu để nhấn mạnh chủ đềvà xác định trách nhiệm của người thực hiện và cónhững công văn lưư ý cần phải có lời chào lịch sự
  22. 22. Phương pháp soạn thảo một số loại VBHC3. Phương pháp soạn thảo báo cáoa. Yêu cầu: khi soạn thảo báo cáo phải đảm bảo tính trungthực và chính xác, phải phản ánh trung thực và khách quan.Nêu đúng ưu, khuyết điểm, những việc cần giải quyết vànhững việc còn tồn đọng, không được thiên vị, thêm bớt,bóp méo sự thật.- Nội dung báo cáo phải cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm. Yêucầu này đặt ra vấn đề là không được viết chung chung, thuthập và xữ lý số liệu, chọn lọc tư liệu đưa vào báo cáo phảituyệt đối chính xác.- Báo cáo phải kịp thời: thể hiện ý thức tổ chức kỷ luật và tôntrọng cấp trên, có trách nhiệm với công việc, để lãnh đạonắm được thông tin một cách kịp thời và đưa ra nhữngquyết định chính xác.
  23. 23. 3. Phương pháp soạn thảo báo cáob. Phương pháp* Chuẩn bị:- Phải xác định mục đích, yêu cầu của bản báo cáo đó.- Phải xây dựng đề cương khách quan của báo cáo:+ Đánh giá tình hình, mô tả sự việc … đã xẩy ra+ Phân tích nguyên nhân, đánh giá tình hình, xác định nhữngcông việc cần phải được tiếp tục+ Đề ra phương hướng và những biện pháp tổ chức hoạt động- Thu thập số liệu để đưa vào báo cáo- Xử lý tư liệu và số liệu- Dự kiến đề xuấtPhương pháp soạn thảo một số loại VBHC
  24. 24. Phương pháp soạn thảo báo cáob. Phương pháp* Xây dựng dàn bài:- Mở đầu: Nêu điều kiện và hoàn cảnh ảnh hưởng đến việcthực hiện.- Nội dung:+ Đánh giá những việc làm được và chưa làm được+ Nêu ra những khuyết điểm trong quá trình thực hiện+ Đánh giá khái quát và rút ra những bài học kinh nghiệm- Kết luận:+ Phương hướng và những mục tiêu phấn đấu+ Những nhiệm vụ để khắc phục thiếu sót, khuyết điểm+ Các biện pháp tổ chức thực hiện+ Những ý kiến đề xuất để kiến nghị đối với cấp trên+ Nêu lên những triển vọng sắp tới
  25. 25. Phương pháp soạn thảo báo cáob. Phương pháp* Viết dự thảo báo cáo:- Nên dùng ngôn ngữ phổ thông- Cần nêu những sự kiện kèm theo số liệu đánh giá- Có thể trình bày theo kiểu mẩu, sơ đồ- Hành văn trong báo cáo phải mạch lạc, rõ ràng, lôgic, chặtchẽ, tránh hiện tượng phô trương sáo rỗng. Nếu báo cáochuyên đề phải kèm theo bản phụ lục. Nếu báo cáo quantrọng thì cần phải tổ chức lấy ý kiến thông qua* Trình lãnh đạo thông qua:- Phải có sự xét duyệt của lãnh đạo trước khi gửi báo cáo hoặctrước khi trình bày
  26. 26. Phương pháp soạn thảo một số loại VBHC4. Soạn thảo biên bảna. Yêu cầu của biên bản:- Số liệu và sự kiện phải chính xác, cụ thể.- Ghi chép phải trung thành, đầy đủ, không suy diễnchủ quan.- Ghi chép phải có trọng tâm, trọng điểm- Thủ tục phải chặt chẽ, thông tin có độ tin cậy cao,nếu có tang vật hoặc vật chứng phải kèm theo biênbản- Đòi hỏi trách nhiệm cao của người lập biên bản vànhững người ký xác nhận.
  27. 27. Phương pháp soạn thảo biên bảnb. Cách xây dựng bố cục của biên bản:- Tuân theo thể thức của một văn bản hành chính.(không có số và ký hiệu)- Tên của biên bản và trích yếu nội dung- Ngày tháng năm, giờ phút- Địa điểm- Thành phần tham dự- Nội dung: ghi đầy đủ theo trình tự- Phần kết thúc: ghi ngày, giờ kết thúc, chữ ký củangười ghi (lập) biên bản và chữ ký của người xácnhận (nhân chứng: ký nếu có)
  28. 28. THỂ THỨC VĂN BẢN1. Quốc hiệuQuốc hiệu ghi trên văn bản bao gồm 2 dòng chữ: “Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam” và “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”.2. Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản (VB)Tên cơ quan, tổ chức ban hành VB bao gồm tên của cơ quan, tổchức ban hành VB và tên của cơ quan, tổ chức chủ quản cấp trêntrực tiếp (nếu có) căn cứ quy định của pháp luật hoặc căn cứ vănbản thành lập, quy định tổ chức bộ máy của cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền, trừ trường hợp đối với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quanthuộc Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy Ban củaQuốc hội.Tên của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản được ghi đầy đủ theotên gọi chính thức căn cứ VB thành lập, quy định tổ chức bộ máy,phê chuẩn, cấp giấy phép hoạt động hoặc công nhận tư cách phápnhân của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; tên của cơ quan, tổchức chủ quản cấp trên trực tiếp có thể viết tắt những cụm từthông dụng như: uỷ ban nhân dân (UBND), Hội đồng nhân dân(HĐND).
  29. 29. 3. Số, ký hiệu của văn bảna. Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luậtSố, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật do Quốchội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan nhànước có thẩm quyền khác ở Trung ương ban hànhđược thực hiện theo quy định tại Điều 3 của Nghịđịnh số 101/CP ngày 23 tháng 9 năm 1997 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều củaLuật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật vàhướng dẫn tại Thông tư này, cụ thể như sau:
  30. 30. - Số của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm số thứ tự đăngký được đánh theo từng loại văn bản do cơ quan ban hànhtrong một năm và năm ban hành văn bản đó. Số được ghibằng chữ số ả - rập, bắt đầu từ số 01 vào ngày đầu năm vàkết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm; năm ban hànhphải ghi đầy đủ các số, ví dụ: 2004, 2005,- Ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật bao gồm chữ viếttắt tên loại văn bản theo Bảng chữ viết tắt tên loại văn bảnvà bản sao kèm theo Thông tư này (Phụ lục I) và chữ viếttắt tên cơ quan hoặc chức danh nhà nước (Chủ tịch nước,Thủ tướng Chính phủ) ban hành văn bản.- Số, ký hiệu của văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồngnhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành được thực hiện theoquy định tại Điều 7 của Luật Ban hành văn bản quy phạmpháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân số31/2004/QH11 ngày 03 tháng 12 năm 2004.
  31. 31. b. Số, ký hiệu của văn bản hành chính* Số của văn bản hành chính là số thứ tự đăng ký văn bản docơ quan, tổ chức ban hành trong một năm. Tuỳ theo tổngsố văn bản và số lượng mỗi loại văn bản hành chính đượcban hành, các cơ quan, tổ chức quy định cụ thể việc đăngký và đánh số văn bản. Số của văn bản được ghi bằng chữsố ả - rập, bắt đầu từ số 01 vào ngày đầu năm và kết thúcvào ngày 31 tháng 12 hàng năm.* Ký hiệu của văn bản hành chính- Ký hiệu của quyết định (cá biệt), chỉ thị (cá biệt) và của cáchình thức văn bản có tên loại khác bao gồm chữ viết tắttên loại văn bản theo Bảng chữ viết tắt tên loại văn bản vàbản sao kèm theo Thông tư này (phụ lục I) và chữ viết tắttên cơ quan, tổ chức hoặc chức danh nhà nước ban hànhvăn bản. Ví dụ: Quyết định (QĐ), Chỉ thị (CT)…
  32. 32. - Ký hiệu của công văn bao gồm chữ viết tắt tên cơ quan, tổchức hoặc chức danh nhà nước ban hành công văn và chữviết tắt tên đơn vị soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo công vănđó (nếu có), ví dụ:Công văn của Chính phủ do Vụ Hành chính Văn phòng Chínhphủ soạn thảo: Số:.../CP – HC;Công văn của Thủ tướng Chính phủ do Vụ Văn xã Văn phòngChính phủ soạn thảo: Số:.../TTg – VX;Công văn của Bộ Xây dựng do Cục quản lý nhà Bộ Xây dựngsoạn thảo: Số:.../BXD – QLN;Công văn của UBND tỉnh...do tổ chuyên viên (hoặc thư ký)theo dõi lĩnh vực văn hoá – xã hội soạn thảo: Số:.../ UBND– VX;Công văn của Sở Công nghiệp tỉnh...do Văn phòng Sở soạnthảo: Số:.../SCN – VP.Chữ viết tắt tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản và chữ viếttắt tên các đơn vị trong mỗi cơ quan, tổ chức phải được quyđịnh cụ thể, bảo đảm ngắn ngọn, dễ hiểu.
  33. 33. 4. Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bảna. Địa danh ghi trên văn bản là tên gọi chính thức củađơn vị hành chính (tên riêng của tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phốthuộc tỉnh, xã, phường, thị trấn) nơi cơ quan, tổ chứcđóng trụ sở, đối với những đơn vị hành chính đượcđặt tên theo tên người hoặc bằng chữ số thì phải ghitên gọi đầy đủ của đơn vị hành chính đó, cụ thể nhưsau:- Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan, tổ chứcTrung ương là tên của tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương hoặc tên của thành phố thuộc tỉnh (nếucó) nơi cơ quan, tổ chức đóng trụ sở.
  34. 34. - Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan, tổ chức cấp tỉnh:+ Đối với các thành phố trực thuộc Trung ương; là tên củathành phố trực thuộc Trung ương, ví dụVăn bản của UBND thành phố Hà Nội và của các sở, ban,ngành thuộc thành phố: Hà Nội,...; của UBND thành phốHồ Chí Minh và của các sở, ban ngành thuộc thành phố:Thành phố Hồ Chí Minh …,+ Đối với các tỉnh: là tên của thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặccủa huyện nơi cơ quan, tổ chức đóng trụ, sở- Địa danh ghi trên văn bản của các cơ quan, tổ chức cấphuyện là tên huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh- Địa danh ghi trên văn bản của HĐND, UBND và của các tổchức cấp xã là tên của xã, phường, thị trấn đó- Ngày, tháng, năm ban hành văn bản quy phạm pháp luậtkhác và văn bản hành chính là ngày, tháng, năm văn bảnđược ký ban hành.
  35. 35. 5. Tên loại và trích yếu nội dung của văn bảna. Tên loại văn bản là tên của từng loại văn bản do cơquan, tổ chức ban hành. Khi ban hành văn bản quyphạm pháp luật và văn bản hành chính, đều phải ghitên loại, trừ công văn.b. Trích yếu nội dung của văn bản là một câu ngắngọn hoặc một cụm từ, phản ánh khái quát nội dungchủ yếu của văn bản
  36. 36. 6. Nội dung văn bảna. Nội dung văn bảnNội dung văn bản là thành phần chủ yếu của một văn bản,trong đó, các quy phạm pháp luật (đối với văn bản quyphạm pháp luật), các quy định được đặt ra; các vấn đề, sựviệc được trình bàyNội dung văn bản phải bảo đảm những yêu cầu cơ bản sau:- Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phùhợp với qui định của pháp luật- Các qui phạm pháp luật, các qui định hay các vấn đề, sựvciệc phải được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, chính xác;- Sử dụnh ngôn ngữ viết, cách diễn đạt đơn giản dễ hiểu;- Dùng từ ngữ phổ thông; không dùng từ ngữ địa phương và từngữ nước ngoài nếu không thực sự cần thiết. Đối với thuậtngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung thì phải được giảithích trong văn bản;
  37. 37. b. Bố cục của văn bảnTuỳ theo thể loại và nội dung, văn bản có thể có phầncăn cứ pháp lý để ban hành, phần mở đầu và có thểđược bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản,điểm hoặc được phần chia thành các phần, mục từlớn đến nhỏ theo một trình tự nhất định.• Văn bản hành chính có thể được bố cục như sau:- Quyết định (cá biệt); theo điều, khoản, điểm; các quychế( quy định) ban hànhkèm theo quyết định; theochương, mục, điều, khoản, điểm;- Chỉ thị( cá biệt); theo khoản, điểm;- Các hình thức văn bản hành chính khác; theo phần,mục, khoản, điểm
  38. 38. 7. Chúc vụ: họ tên và chữ ký của người có thẩm quyềna/ Việc ghi quyền hạn của người ký được thực hiện như sau:- Trường hợp ký thay mặt tập thể thì phải ghi chữ viết tắt "TM" (thay mặt) vàotrước tên tập thể lãnh đạo hoặc tên cơ quan, tổ chức;- Trường hợp ký thay người đứng đầu cơ quan, tổchức thì phải ghi chữ viết tắt"KT" (ký thay) vào trước chức vụ của người đứng đầu.- Trường hợp ký thừa lệnh thì phải ghi chữ viết tắt "TL" (thừa lệnh) vào trướcchức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức;- Trường hợp ký thừa uỷ quyền thì phải ghi chữ viết tắt "TUQ" (thừa uỷ quyền)vào trước chứuc vụ của người đúng đầu cơ quan, tổ chứcb. Chức vụ của người kýChức vụ ghi trên văn bản là chức danh lãnh đạo chính thức của người ký vănbản trong cơ quan, tổ chức; chỉ ghi chức danh như Bộ trường (Bộ trưởng, Chủnhiệm), Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Giám đốc, Phó Giám đốc vv..không ghi lại tên cơ quan, tổ chức, ban hành; văn bản ký thừa lệnh, thừa uỷquyền và những trường hợp cần thiết khác do các cơ quan, tổ chức quy định cụthể.c. Họ và tên gồm họ, tên đệm (nếu có) và tên của người ký văn bản. Đối với vănbản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính, trước họ tên của người ký,không ghi học hàm, học vụ và các danh hiệu danh dự khác, trừ văn bản của cáctổ chức sự nghiệp giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, trong những trường hợpcần thiết, có thể ghi thêm học hàm, học vị
  39. 39. 8. Dấu của cơ quan, tổ chứcViệc đóng dấu trên văn bản được thực hiện theo quy định tại Nghịđịnh số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chínhphủ về công tác văn thư và quy định của pháp luật có liên quan9. Nơi nhậnNơi nhận xác định những cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân vănbản với mục đích và trach snhiệm cụ thể như để kiểm tra, giámsát; để xem xét, giải quyết; để thi hành; để trao đổi công việc; đểbiết và để lưuNơi nhận phải được xác định cụ thể trong văn bản. Căn cứ quy địnhcủa pháp luật; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơquan; căn cứ yêu cầu giải quyết công việc, đơn vị hoặc cá nhânsoạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo có trách nhiệm để xuất những cơquan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản trình người ký vănbản quyết định.Đối với văn bản chỉ gửi cho một số đối tượng cụ thể thì phải ghi têntừng cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận văn bản; đối với văn bảnđược gửi cho một hoặc một số nhóm đối tượng nhất định thì nơinhận được ghi chung
  40. 40. 10. Dấu chỉ mức độ khẩn, mậta. Dấu chỉ mức độ khẩn, mậtViệc xác định mức độ khẩn của văn bản được thực hiện nhưsau:- Tuỳ theo mức độ cần được chuyển phát nhanh, văn bản đượcxác định độ khẩn theo ba mức sau: hoả tốc, thượng khẩnhoặc khẩn;- Khi soạn thảo văn bản có tính chất khẩn, đơn vị hoặc cá nhânsoạn thảo văn bản đề xuất mức độ khẩn trình người ký vănbản quyết địnhDấu độ khẩn phải được khắc sẵn theo hướng dẫn tại điểm kkhoản 2 Mục III của Thông tư này. Mực dùng để đóng dấuđộ khẩn dùng mực màu đỏ tươi.b. Dấu chỉ mức độ mậtViệc xác định và đóng dấu độ mật (tuyệt mật, tối mật hoặcmật), dấu thu hồi đối với văn bản có nội dung bí mật nhànước được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệbí mật nhà nước.
  41. 41. 11. Các thành phần thể thức khácCác thành phần thể thức khác của văn bản bao gồm:a, Địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ E - Mail; địa chỉ trên mạng(Website); số điện thoại, số Telex, số Fax đối với công văn, côngđiện, giấy giới thiệu, giấy mời, phiếu gữi, phiếu chuyển để tạo điềukiện thuận lợi cho việc liên hệ.b, Các chỉ dẫn về phạm vi lưu hành như "Trả lại sau khi họp (hộinghị)", "xem xong trả lại", "lưu hành nội bộ" đối với những vănbản có phạm vi, đối tượng phổ biến, sử dụng hạn chế hoặc chỉ dẫnvề sự thảo văn bản như "dự thảo" hay "dự thảo lần...". Các chỉdẫn trên có thể được đánh máy hoặc dùng con dấu khắc sẵn đểđóng lên văn bản hoặc dự thảo văn bản;c, ký hiệu người đánh máy và số lượng bản phát hành đối với nhữngbản cần được quản lý chặt chẽ về số lượng bản phát hành;d, Trường hợp văn bản có phụ lục kèm theo thì trong văn bản phảicó chỉ dẫn về phụ lục đó. Phụ lục văn bản phải có tiêu đề, văn bảnphải có từ hai phụ lục trở lên thì các phụ lục phải được đánh sốthứ tự bằng số La Mã;đ. Số trang: văn bản và phụ lục văn bản gồm nhiều trang thì từtrang thứ hai trở đi phải được đánh số thứ tự bằng chữ số ả-rập;số trang củ phụ lục văn bản được đánh riêng theo từng phụ lục.
  42. 42. KỸ THUẬT TRÌNH BÀY1. Khổ giấy, kiểu trình bày và định lề trang văn bản.a. Khổ giấyVăn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính đượctrình bày trên giấy khổ A4 (210 mm x 297 mm).Các loại văn bản như giấy giới thiệu, giấy biên nhận hồ sơ,phiếu gửi, phiếu chuyển có thể được trình bày trên khổ A5(148 mm x 210 mm) hoặc trên giấy mẫu in sẵn.b. Kiểu trình bàyVăn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính đượctrình bày theo chiều dài của trang giấy khổ A4 (định hướngbản in theo chiều dài).Trường hợp nội dung văn bản có các bảng, biểu nhưngkhông được làm thành các phụ lục riêng thì văn bản có thểđược trình bày theo chiều rộng của trang giấy (định hướngbản in theo chiều rộng).
  43. 43. KỸ THUẬT TRÌNH BÀYc. Định lề trang văn bản (đối với khổ giấy A4)- Trang mặt trước:Lề trên: cách mép trên từ 20-25 mm;Lề dưới: cách méo dưới từ 20-25 mm;Lề trái: cách mép trái từ 30-35 mm;Lề phải: cách mép phải từ 15-20mm;- Trang mặt sau:Lề trên: cách mép trên từ 20-25 mm;Lề dưới : cách mép dưới từ 20-25 mm;Lề trái : cách mép trái từ 15-20 mm;Lề phải : cách mép phải từ 30-35 mm;
  44. 44. 2. Kỹ thuật trình bày các thành phần thể thức văn bản.Vị trí trình bày các thành phần thể thức văn bản trên mộttrang giấy khổ A4 được thực hiện theo sơ đồ bố trí cácthành phần thwr thức văn bản kèm theo Thông tư này (Phụlục II). Vị trí trình bày các thành phần thể thức văn bản trênmột trang giấy khổ A5 được áp dụng tương tự theo sơ đồtrên.Các thành phần thể thức văn bản được trình bày như sau :a. Quốc hiệuQuốc hiệu được trình bày tại ô số 1.Dòng chữ trên : "Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam"được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểuchữ đứng, đậm.Dòng chữ dưới : "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" được trìnhbày bằng chữ in thường, cỡ chư từ 12 đến 13, kiểu chữđứng, đậm; chữ cái đầu của các cụm từ được viết hoa, giữacác cụm từ có gạch ngang nhỏ; phía dưới có dòng kẻ ngang,nét liền, có độ dài bằng độ dài của dòng chữ.
  45. 45. b. Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản.Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản được trình bày tại ôsố 2.Tên cơ quan, tổ chức chủ quản cấp trên trực tiếp được trìnhbày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng.Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản được trình bày bằngchữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng, đậm; phíadưới có đường kẻ ngang, nét kiền, có độ dài bằng từ 1/3 đến½ độ dài của dòng chữ và đặt cân đối so với dòng chữ.c. Số, ký hiệu của văn bản.Số, ký hiệu của văn bản dược trình bày ở ô số 3.Từ "số" được trình bày bằng chữ in thường, ký hiệu bằngchữ in hoa, cỡ chữ 13, kiểu chữ đứng; sau từ "số" có dấu haichấm; giữa số, năm ban hành và kí hiệu văn bản có dâugạch chéo (/); giữa các nhóm chữ viết tắt trong kí hiệu vănbản có dấu gạch nối không cách chữ (-), ví dụ :Số: 33/2002/NĐ-CP; Số: 15/QĐ-UBND; Số: 23/BC-BNV;Số: 234/SCN-VP.
  46. 46. d. Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản.Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản được trình bày ởô só 4, bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữnghiêng ; sau địa danh có dấu phẩy.Ví dụ: Hà Nội, ngày 05 tháng 02 năm 2008đ. Tên loại và trích yếu nội dung văn bản.Tên loại và trích yếu nội dung của các loại văn bản có ghi tên loạiđược trình bày tại ô số 5a; tên loại văn bản (nghị định, nghị quyết,kế hoạch, báo cáo, tờ trình và các loại văn bản khác) được đặtcanh giữa (cân đối ở giữa dòng) bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 14 đến15, kiểu chữ đứng, đậm; trích yếu nội dung văn bản được đặtcanh gữa, ngay dưới tên loại văn bản, bằng chữ in thường, cỡ chữ14, kiểu chữ đứng, đậm; bên dưới trích yếu có đường kẻ ngang,nét liền, có độ dài bằng từ 1/3 đến 1/2 độ dài của dòng chữ và đặtcân đối với dòng chữ.Trích yếu nội dung công văn được trình bày tại ô só 5b, sau chữviết tắt "V/v" (Về việc) bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 12 đến 13,kiểu chữ đứng.
  47. 47. e. Nội dung văn bản.Nội dung văn bản được trình bày tại ô số 6.- Phần nội dung (văn bản) được trình bày bằng chữ inthường, cõ chữ từ 13 đến 14; khi xuống dòng, chữ đầu dòngcó thể lùi vào từ 1 cách mạng đến 1,27 cách mạng (1defaulttab); khoảng cách giữa các đoạn văn (paragraph) đặt tốithiểu là 6pt; khoảng cách giữa các dòng hay hay cách dòng(line spacing) chọn tối thiểu từ cách dòng đơn (single linespacing) hoặc từ 15pt (exactly line spacing) trở lên.- Đối với những văn bản qui phạm pháp luật và văn bản hànhchính có phần căn cứ pháp lý để ban hành thì sau mỗi căncứ phải xuống dòng có dấu chấm phẩy, riêng căn cứ cuỗicùng kết thúc bằng dấu phẩy.
  48. 48. g. Chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền- Quyền hạn, chức vụ của người ký được trình bày tạiô số 7a; Chức vụ khác của người ký được trình bàytại ô số 7b; các chữ viết tắt "TM"; "KT"; "TL","TUQ" hoặc "Q" (quyền), quyền hạn và chức vụ củangười ký được trình bày bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ13 đến 14, kiễu chữ đứng, đậm.- Họ tên của người ký văn bản và học làm, học vị(nếu có) được trình bày tại ô số 7b; bằng chữ inthường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiễu chữ đứng, đậm.- Chữ ký của người có thẩm quyền được trình bày tạiô số 7c.
  49. 49. h, Dấu của cơ quan, tổ chứcDấu của cơ quan tổ chức được trình bày tại ô số 8I, Nơi nhậnNơi nhận được trình bày tại ô số 9a và 9b.Phân nơi nhận tại ô số 9 a (chỉ áp dụng đối với văn bản hànhchính) được trình bày như sau:- Từ "kính gữi và tên các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nhậnvăn bản được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ 14, kiểuchữ đứng;- Sau từ" kính gửi" có dấu hai chấm; nếu công văn gửi chomột cơ quan, tổ chức hoặc một cá nhân thì từ "kính gửi" vàtên cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được trình bày trên cùngmột dòng; trường hợp công văn gửi cho hai cơ quan, tổchức hoặc cá nhân trở lên thì tên mỗi cơ quan, tổ chức, cánhân hoặc mỗi nhóm cơ quan, tổ chức, cá nhân được trìnhbày trên một dòng riêng, đầu dòng có gạch ngang, cuốidòng có dấu chấm phẩy, cuối dòng cuối cùng có dấu chấm.
  50. 50. Phần nơi nhận tại ô số 9b (áp dụng chung đối với công vănhành chính và các loại văn bản khác) được trình bày nhưsau:- Từ "nơi nhận" được trình bày trên một dòng riêng, sau đó códấu hai chấm, bằng chữ in thường, cỡ chữ 12, kiểu chữnghiêng, đậm;- Phần liệt kê các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận vănbản được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ 11, kiểu chữđứng; tên mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân hoặc mỗinhóm cơ quan, tổ chức, đơn vịnhận văn bản được trình bàytrên một dòng riêng, đầu dòng có gạch ngang, cuối dòng códấu chấm phẩy; riêng dòng cuối cùng bao gồm chữ "lưu"sau đó có dấu hai chấm, tiếp theo là chữ viết tắt "VT"( vănthư cơ quan, tổ chức), chữ viết tắt tên đơn vị (hoặc bộ phận)soạn thảo văn bản và số lượng bản lưu (chỉ trong nhữngtrường hợp cần thiết) được đặt trong ngoặc đơn, cuối cùnglà dấu chấm.
  51. 51. k. Dấu chỉ mức độ khẩn, mậtMẫu dấu độ mật (tuyệt mật, tối mật hoặc mật) và dấuthi hồi đối với văn bản có nội dung bí mật nhà nướcđược thực hiện theo quy định của pháp luật về bảovệ bí mật nhà nước. Dấu độ mật được đóng vào ô số10a, dấu thu hồi được đóng vào ô số 11. dấu độ khẩuđược đóng vào ô số 10b. Con dấu các độ khẩn cóhình chữ nhật, trên đó, các từ "hoả tốc“,"thượng khẩn" hoặc "khẩn" được trình bày bằng chữin hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm vàđược đặt cân đối trong khung chữ nhật viền đơn, cókích thước tương ứng là 30mmx8mm, 40mmx8mmvà 20mm x 8mm
  52. 52. 3. Các thành phần thể thức khácCác thành phần thể thức khác được trình bày như sau:- Các chỉ dẫn về phạm vi lưu hành được trình bày tại ô số 11; cáccụm từ "trả lại sau khi họp (hội nghị)", "xem xong trả lại" , “lưuhành nội bộ" được trình bày cân đối trong một khung hình chữnhật viền đơn, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữđứng, đậm- Chỉ dẫn về dự thảo văn bản được trình bày tại ô số 12; từ "dựthảo" hoặc cụm từ "dự thảo lần…” được trình bày trong mộtkhung hình chữ nhật viền đơn, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến14, kiểu chữ đứng, đậm;- Ký hiệu người đánh máy và số lượng bản phát hành được trìnhbày tại ô số 13; ký hiệu bằng chữ in hoa, số lượng bản bằng chữ sốả - rập, cỡ chữ 11, kiểu chữ đứng;- Địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ E-Mail; địa chỉ trên mạng(Website); số địên thoại, số Telex, số Fax được trình bày trêntrang đầu của văn bản, tại ô số 14, bằng chữ in thường, cỡ chữ từ11 đến 12, kiểu chữ đứng, dưới một đường kẻ nét liền kéo dài hếtbề ngang của vùng trình bày văn bản;
  53. 53. - Phụ lục văn bản: phụ lục kèm theo văn bản được trình bàytrên các trang giấy riêng; từ "phụ lục" và số thứ tự của phụlục (trường hợp có từ hai phụ lục trở lên) được trình bàytrên một dòng riêng, canh giữa, bằng chữ in thường, cỡ chữ14, kiểu chữ đứng đậm, tiêu đề (tên) của phục lục được trìnhbày canh giữa, bừng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểuchữ đứng, đậm;- Số trang của văn bản: được trình bày tại chính giữa trên đầutrang giấy (phần heaher) hoặc tại góc phải, ở cuối trang giấy(phần footer) bằng chữ số ả - rập, cỡ chữ bằng cỡ chữ củaphần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng- Mẫu chữ và chi tiết trình bày các thành phần thể thức vănbản được minh hoạ tại Phụ lục IV- Mẫu chữ và chi tiết trìnhbày thể thức văn bản và thể thức bản sao keo theo- Phông chữ: VnTime đối với chữ in thường và VnTimeH đốivới chữ in hoa. (hoặc Times New Roman)
  54. 54. 1ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆULUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬTI. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUYPHẠM PHÁP LUẬTLuật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 đã được sửa đổi, bổsung năm 2002 là công cụ trực tiếp xác lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động lậppháp nhờ đó, công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam ngàycàng có nhiều tiến bộ, cải thiện hệ thống pháp luật cả về số lượng các văn bảnquy phạm pháp luật và chất lượng của hệ thống pháp luật. Việc triển khai thựchiện các luật này, một mặt, đã giúp đẩy nhanh quá trình xây dựng hệ thống phápluật và mặt khác, đã tạo sự chuyển biến một bước về chất trong hệ thống vănbản quy phạm pháp luật nói chung và trong hoạt động xây dựng văn bản quyphạm pháp luật nói riêng; cơ bản đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu xây dựngNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dântheo đường lối, chính sách của Đảng.Bên cạnh những thành tựu nêu trên, trong công tác xây dựng, ban hành vănbản quy phạm pháp luật hiện nay vẫn còn những tồn tại, hạn chế lớn như sau:Thứ nhất, về việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnhVề nguyên tắc, việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là giaiđoạn hết sức quan trọng, cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, nhằm xác định nhu cầuxã hội, chính sách pháp luật phù hợp để giải quyết các vấn đề kinh tế, xã hộiphát sinh, cũng như để điều chỉnh công tác quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên,hiện nay việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhìn chung còn chưathực sự khoa học, thiếu những định hướng chính sách pháp luật, làm cho quátrình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật ít nhiều gặp khó khăn, lúng túng,ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng soạn thảo văn bản. Một số luật, pháp lệnhđược ban hành thiếu tính khả thi hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụquản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội, gây lãng phí các nguồn lực.Mặt khác, việc lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cũng chưa quantâm đúng mức đến việc xác định thứ tự ưu tiên của văn bản, dẫn đến trên thực tếcó văn bản thực sự cần thiết lại chưa được ban hành hoặc có văn bản cần banhành trước, nhưng lại được ban hành sau.Thứ hai, về việc soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật- Chưa có sự phân công thật rành mạch và hợp lý giữa các cơ quan trongquá trình soạn thảo, chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan liên quantrong quá trình đó, dẫn đến tình trạng chờ đợi, dựa dẫm nhau, làm chậm tiến độsoạn thảo và giảm chất lượng của văn bản (ví dụ: chưa quy định hợp lý tráchnhiệm của cơ quan trình, cơ quan chủ trì soạn thảo, ban soạn thảo, ...).
  55. 55. 2- Còn thiếu các quy định bảo đảm việc soạn thảo văn bản quy phạm phápluật phải dựa trên những nghiên cứu, đánh giá khoa học, đánh giá ảnh hưởng dựkiến của những chính sách pháp luật hoặc những quy định của pháp luật sẽ đượcban hành; các kết quả nghiên cứu, đánh giá đã có cũng chưa được công bố rộngrãi hoặc cung cấp đầy đủ cho các cơ quan có thẩm quyền như Chính phủ, Quốchội khi xem xét, thảo luận, thông qua văn bản.- Quy trình soạn thảo văn bản chưa phát huy triệt để sự tham gia của cáctổ chức, cá nhân liên quan. Việc lấy ý kiến của nhân dân, của đối tượng chịu sựtác động trực tiếp của văn bản còn hình thức; thiếu cơ chế đề cao trách nhiệmcủa cơ quan soạn thảo trong việc nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý dự thảo.- Chưa có cơ chế giải quyết tốt mối quan hệ giữa luật, pháp lệnh với việcsoạn thảo các văn bản quy định chi tiết thi hành theo hướng bảo đảm cho luật,pháp lệnh đi vào cuộc sống đúng vào thời điểm có hiệu lực.Thứ ba, về quy trình thảo luận, xem xét, thông qua dự thảo văn bản củaQuốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hộiVai trò của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự thảo luật, pháplệnh chưa được quy định đúng mức, đầy đủ trong việc bảo vệ, giải trình trướcQuốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự thảo, nhất là trong trường hợp dựthảo luật, pháp lệnh được xem xét, thông qua tại hai kỳ họp, hai phiên họp, dẫnđến việc hướng dẫn thi hành và triển khai thi hành một số văn bản gặp khó khănnhất định và trong một số trường hợp dẫn đến sự không rõ ràng về trách nhiệmtrong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật.Thứ tư, về vấn đề áp dụng văn bản quy phạm pháp luậtQuy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành còn nhiềuchồng chéo, trùng lắp, mâu thuẫn do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đangrất phức tạp, nhiều tầng nấc, nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành với nhiềuhình thức văn bản quy phạm pháp luật khác nhau; thiếu quy định ràng buộctrách nhiệm của các cơ quan trong việc hợp nhất, pháp điển hoá văn bản quyphạm pháp luật, càng làm cho việc tra cứu, áp dụng pháp luật gặp khó khăn hơn.Mặt khác, việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế cũng chưathống nhất, bởi thiếu một số quy định có tính nguyên tắc về áp dụng pháp luật,dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về áp dụng văn bản.Do những tồn tại, hạn chế lớn nêu trên, năm 2002, đồng thời với việcphải khẩn trương sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luậtnăm 1996, tập trung vào đổi mới quy trình thông qua luật, pháp lệnh và việcminh bạch hoá quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đáp ứng yêucầu hội nhập kinh tế quốc tế, Quốc hội đã giao Chính phủ tiếp tục nghiên cứuđể trình Quốc hội xem xét sửa đổi Luật này một cách toàn diện hơn. Do vậy,việc tiếp tục sửa đổi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật lần này là cầnthiết, nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế và vướng mắc phát sinh trongthực tiễn thi hành Luật, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc xây dựng vàhoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005
  56. 56. 3của Bộ Chính trị và các cam kết của nước ta khi gia nhập WTO.Ngày 02 tháng 6 năm 2008 tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XII đã thôngqua Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 thay thế Luật banhành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002.II. NHỮNG QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VIỆC XÂY DỰNG, BANHÀNH LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬTLuật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 được xây dựng, banhành dựa trên các quan điểm chỉ đạo sau đây:- Thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về đổimới quy trình lập pháp, lập quy, về hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm tăng cườngdân chủ, công khai, minh bạch trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm phápluật;- Bảo đảm sự phù hợp của Luật với Hiến pháp và tính thống nhất của Luậttrong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật;- Bảo đảm tính kế thừa, luật hoá một số quy định của các văn bản dướiluật liên quan đến hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã được thựctiễn kiểm nghiệm; giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quy trình banhành văn bản quy phạm pháp luật;- Thể hiện tinh thần cải cách hành chính thông qua việc phân định rõ hơntrách nhiệm của các cơ quan tham gia vào quá trình xây dựng, ban hành văn bản,đơn giản hoá các hình thức văn bản quy phạm pháp luật;- Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm phápluật, nhằm đẩy nhanh tiến độ soạn thảo, ban hành văn bản, nhưng vẫn phải bảođảm chất lượng của văn bản; tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tham mưutrong việc bảo đảm chất lượng của dự thảo, cũng như kỹ thuật soạn thảo văn bảnđể Chính phủ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Quốc hội dành nhiều thời gian tậptrung vào thảo luận, biểu quyết những chính sách lớn, những vấn đề lớn của dựthảo văn bản.III. BỐ CỤC CỦA LUẬTLuật gồm 12 chương, 95 điều được bố cục như sau:Chương I - Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 10), gồm cácquy định về khái niệm văn bản quy phạm pháp luật; hệ thống văn bản quy phạmpháp luật; các nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật vàmột số quy định chung khác.Chương II - Nội dung văn bản quy phạm pháp luật (từ Điều 11 đếnĐiều 21) quy định về nội dung điều chỉnh của mỗi hình thức văn bản quy phạmpháp luật, gồm nội dung của Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; nội dungcủa pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;...Chương III - Quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp
  57. 57. 4Với mục đích nâng cao hiệu quả của công tác xây dựng, ban hành văn bảnquy phạm pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, tăng cường hộinhập kinh tế quốc tế và nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, Luật đãluật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội (từ Điều 22 đến Điều 57).Chương này gồm 6 mục: Mục 1 - Lập chương trình xây dựng luật, pháplệnh. Mục 2 - Soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyếtcủa Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Mục 3 - Thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, dựthảo nghị quyết. Mục 4 - Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến về dựán luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội. Mục 5 - Thảo luận, tiếp thu, chỉnh lývà thông qua dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết. Mục 6 - Công bố vănbản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.Chương IV, V, VI và VII từ Điều 58 đến Điều 74 quy định quy trình xâydựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủtướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Hội đồng thẩmphán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởngViện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước và văn bản quyphạm pháp luật liên tịch.Chương VIII - Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theoquy trình rút gọn (từ Điều 74 đến Điều 77), quy định các trường hợp xâydựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn; hồ sơtrình dự án, dự thảo và việc xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản quyphạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn.Chương IX - Hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật và nguyên tắcáp dụng, công khai văn bản quy phạm pháp luật (từ Điều 78 đến Điều 84)trong đó quy định cụ thể thời điểm có hiệu lực và việc đăng Công báo văn bảnquy phạm pháp luật, vấn đề hiệu lực trở về trước, ngưng hiệu lực, những trườnghợp văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, hiệu lực về không gian và đốitượng áp dụng và việc đăng tải, đưa tin văn bản quy phạm pháp luật.Chương X - Giải thích văn bản quy phạm pháp luật (Điều 85 và Điều86) gồm các quy định về thẩm quyền giải thích luật, pháp lệnh; xây dựng, banhành dự thảo nghị quyết giải thích luật, pháp lệnh.Chương XI - Giám sát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật,hợp nhất văn bản và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (từĐiều 87 đến Điều 93), quy định việc kiểm tra, giám sát, nội dung kiểm tra, giámsát văn bản quy phạm pháp luật, xử lý và thẩm quyền xử lý văn bản quy phạmpháp luật có dấu hiệu trái pháp luật, việc hợp nhất, rà soát, hệ thống hóa, phápđiển hệ thống quy phạm pháp luật.Chương XII - Điều khoản thi hành (Điều 94 và Điều 95) quy định thờiđiểm có hiệu lực thi hành của Luật, kinh phí xây dựng văn bản quy phạm phápluật.IV. MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT BAN HÀNH VĂN BẢN QUYPHẠM PHÁP LUẬT
  58. 58. 5sửa đổi một cách toàn diện quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạmpháp luật từ khâu lập dự kiến chương trình, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra vàthông qua văn bản theo hướng tăng cường trách nhiệm của các cơ quan thammưu trong việc soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý dự thảo, cơ quan banhành chỉ tập trung vào việc thảo luận và quyết định chính sách. Bên cạnh đó,Luật cũng bổ sung các quy định nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảmhệ thống pháp luật có chất lượng, công khai, minh bạch, dễ tiếp cận và có tínhkhả thi cao.Sau đây là một số điểm mới quan trọng của Luật ban hành văn bản quyphạm pháp luật :1. Thu gọn các loại văn bản quy phạm pháp luậtTheo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996,hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của nước ta bao gồm hơn 20 loại văn bản,do nhiều cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành; mỗi cơ quan ban hành từ2 đến 3 loại văn bản. Điều này làm cho hệ thống văn bản quy phạm pháp luật rấtphức tạp, việc theo dõi, áp dụng và xác định thứ bậc hiệu lực của văn bản quyphạm pháp luật gặp không ít khó khăn, đặc biệt là khó xác định được khi nào, vềvấn đề gì thì cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức nào.Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, đơn giản hóa hệ thống văn bản quyphạm pháp luật, Điều 2 của Luật quy định một số cơ quan có thẩm quyền banhành văn bản chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới một hình thứcvăn bản. Theo đó, Chính phủ chỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dướihình thức nghị định, thay vì nghị quyết và nghị định; Thủ tướng Chính phủchỉ ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức quyết định, thay vìchỉ thị và quyết định; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Viện trưởngViện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao chỉ banhành văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức thông tư, thay vì quyết định,chỉ thị, thông tư như trước đây.Tuy nhiên, để phù hợp với quy định của Luật Kiểm toán, Luật ban hànhvăn bản quy phạm pháp luật năm 2008 bổ sung thẩm quyền của Tổng Kiểmtoán Nhà nước trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật dưới hìnhthức quyết định.2. Văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành phải được ban hànhđể có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản, điều, khoản, điểmđược quy định chi tiếtĐể khắc phục tình trạng luật, pháp lệnh chờ nghị định, nghị định chờthông tư…, cũng như tình trạng hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh một cáchtràn lan, thậm chí sao chép lại các quy định của luật, pháp lệnh, các quy định củaLuật đặt ra các yêu cầu cụ thể:- Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định trực tiếp nội dung cần điềuchỉnh, không quy định chung chung (khoản 2 Điều 5 của Luật).
  59. 59. 6- Văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định cụ thể để khi văn bảnđó có hiệu lực thì thi hành được ngay, chỉ trường hợp văn bản có nội dung liênquan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, những vấn đề chưa có tính ổn định caothì có thể giao cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết. Cơ quan đượcgiao ban hành văn bản quy định chi tiết không được uỷ quyền tiếp (khoản 1Điều 8 của Luật).- Xác định trách nhiệm của cơ quan ban hành khi ban hành văn bản quyphạm pháp luật mới phải đồng thời sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ văn bản,điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái vớiquy định của văn bản mới (dù là văn bản luật, pháp lệnh hay là văn bản quy địnhchi tiết); có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ văn bản, điều, khoản,điểm của văn bản đã ban hành trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luậtmới trước khi văn bản, điều, khoản, điểm mới đó có hiệu lực (khoản 2 Điều 9của Luật).- Văn bản quy định chi tiết phải quy định cụ thể, không lặp lại nội dungcủa văn bản được quy định chi tiết và phải được ban hành để có hiệu lực cùngthời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết(khoản 2 Điều 8 của Luật).- Trong trường hợp một cơ quan được giao ban hành quy định chi tiết vềnhiều nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật thì có thể ban hành một vănbản để quy định chi tiết nhiều nội dung của một văn bản hoặc các nội dung củanhiều văn bản khác nhau (khoản 3 Điều 8 của Luật)- Quy định cơ quan chủ trì soạn thảo dự án luật, pháp lệnh có trách nhiệmkiến nghị việc phân công cơ quan soạn thảo văn bản quy định chi tiết thi hànhcác điều, khoản, điểm của dự thảo (khoản 8 Điều 33 của Luật).- Áp dụng kỹ thuật "một văn bản sửa nhiều văn bản", theo đó, một vănbản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷbỏ, bãi bỏ nhiều văn bản do cùng một cơ quan ban hành...(khoản 3 Điều 9 củaLuật)Như vậy, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đặt ra yêucầu văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định chi tiết, cụ thể, rõ ràng đểkhi có hiệu lực thì thi hành được ngay, hạn chế tình trạng giao Chính phủ banhành quá nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết và bỏ quy định giao Chính phủ banhành nghị định để hướng dẫn toàn bộ nội dung của luật, pháp lệnh một cáchchung chung. Các nội dung cần được quy định chi tiết phải được giới hạn cụ thểhơn và việc uỷ quyền ban hành văn bản quy định chi tiết phải tuân theo nguyêntắc cơ quan đã được giao ban hành văn bản quy định chi tiết phải ban hành vănbản, không được phép uỷ quyền tiếp cho cơ quan khác ban hành văn bản quyđịnh chi tiết. Đồng thời, với yêu cầu việc ban hành văn bản quy định chi tiếtphải được thực hiện trước khi văn bản, điều, khoản, điểm được quy định chi tiếtcó hiệu lực để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều,khoản, điểm được quy định chi tiết, sẽ hạn chế được tình trạng văn bản quy định
  60. 60. 7chi tiết được ban hành chậm, việc soạn thảo kéo dài làm ảnh hưởng đến hiệu lựccủa văn bản được hướng dẫn.Ngoài ra, nhằm hạn chế tình trạng một cơ quan được giao nhiệm vụ quyđịnh chi tiết nhiều nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật phải ban hànhnhiều văn bản để quy định chi tiết các nội dung đó, Luật quy định theo hướngtrừ trường hợp cần phải quy định trong nhiều văn bản khác nhau, cơ quan đượcgiao quy định chi tiết soạn thảo, ban hành một văn bản để quy định chi tiết cácnội dung cần hướng dẫn thi hành. Trong trường hợp một cơ quan được giao quyđịnh chi tiết các nội dung ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau thì cóthể ban hành một văn bản để quy định chi tiết (khoản 3 Điều 8).3. Áp dụng kỹ thuật “một văn bản sửa nhiều văn bản”Quy trình lập pháp, lập quy chặt chẽ, nhiều công đoạn là nhằm mục đíchbảo đảm có sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức, công dân, bảo đảm tráchnhiệm của các cơ quan đối với chất lượng của dự án, dự thảo. Do vậy, việc cắtbỏ một khâu nào trong quy trình này khi xây dựng một văn bản sửa đổi, bổ sungmột văn bản đều khó thuyết phục mặc dù giữa việc soạn thảo một văn bản hoàntoàn mới với việc sửa đổi một vài điều hoặc chỉ rất ít điều, thậm chí 1 hoặc 2điều là có sự khác nhau. Với trình tự soạn thảo, ban hành văn bản được quy địnhchặt chẽ, khi soạn thảo văn bản, mỗi Ban soạn thảo hoặc cơ quan chủ trì soạnthảo chỉ quan tâm đến việc soạn thảo hoặc sửa đổi, bổ sung một dự án, dự thảo.Việc sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật thường áp dụng theo trình tựxây dựng, ban hành văn bản mới.Việc nghiên cứu, sửa đổi đồng thời một lúc nhiều văn bản cho phép tuânthủ các bước tối thiểu của quy trình xây dựng, ban hành văn bản mà vẫn bảođảm đúng chức năng, thẩm quyền của các cơ quan, đồng thời khắc phục được sựmâu thuẫn của hệ thống pháp luật, khắc phục được sự lãng phí về thời giannghiên cứu, thời gian tổ chức soạn thảo, thông qua văn bản cũng như tiết kiệmkinh phí nghiên cứu, soạn thảo, ban hành văn bản.Chính vì lý do trên, Khoản 3 Điều 9 của Luật quy định “Một văn bảnquy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thaythế, hủy bỏ, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùngmột cơ quan ban hành”. Như vậy, trong trường hợp có nhiều văn bản cần phảisửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ do cùng một cơ quan ban hành, cơquan đó chỉ cần ban hành một văn bản để sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãibỏ tất cả các nội dung đó mà không cần phải ban hành nhiều văn bản để sửa đổi,bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ từng văn bản.4. Trách nhiệm xây dựng báo cáo đánh giá tác độngNhằm tiết kiệm thời gian, công sức, kinh phí và tăng cường hiệu quả củaviệc xây dựng và thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và chươngtrình xây dựng nghị định, tránh tình trạng đưa vào chương trình cả những vănbản mà tính thực tế, tính khả thi và tính hợp lý còn thấp, Luật ban hành văn bảnquy phạm pháp luật năm 2008 quy định đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, nghị
  61. 61. 8định phải được gửi kèm báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản (Khoản 1Điều 23, Khoản 1 Điều 59 của Luật).Để cung cấp thêm thông tin cho cơ quan có thẩm quyền cũng như các đốitượng liên quan trong việc xem xét, thảo luận, thông qua văn bản, đồng thời,nhằm nâng cao trách nhiệm của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo phải bảo đảmchất lượng của dự thảo, Luật quy định cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo vănbản có trách nhiệm xây dựng báo cáo đánh giá tác động của văn bản. Nội dungbáo cáo phải nêu rõ được các vấn đề cần giải quyết và các giải pháp đối với từngvấn đề đó, chi phí, lợi ích của các giải pháp, so sánh chi phí- lợi ích của các giảipháp (Khoản 2 Điều 33 và Khoản 2 Điều 61 của Luật).Đánh giá tác động pháp luật (viết tắt Tiếng Anh là RIA)1là một tập hợpcác bước lôgíc hỗ trợ cho việc chuẩn bị các đề xuất chính sách. Nó bao gồm việcnghiên cứu sâu các hoạt động đi kèm với quá trình xây dựng chính sách và chínhthức hóa các kết quả nghiên cứu bằng một bản báo cáo độc lập. Tiến hành RIAbao gồm việc trả lời một số câu hỏi chủ yếu sau: Đâu là bản chất, mức độ và sựphát triển của vấn đề? Đâu là các mục tiêu mà quốc gia theo đuổi? Đâu là cáctác động về môi trường, xã hội và kinh tế của các lựa chọn chính sách? Đâu làưu và nhược điểm của các lựa chọn chính sách chính? Việc giám sát và đánh giávề sau được tổ chức như thế nào?Thực hiện RIA là bảo đảm, thu hút sự tham gia của công chúng vào quátrình hoạch định chính sách. Quá trình thực hiện RIA giúp cơ quan soạn thảo cócái nhìn tổng thể, toàn diện về vấn đề sẽ được giải quyết trong văn bản, trong đóbao gồm những đánh giá mặt được và mặt hạn chế của các phương án đưa ra; từđó tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền hướng giải quyết đúng và sát thựchơn. Về phía cơ quan ban hành, RIA chính là nguồn cung cấp thông tin đầy đủ,toàn diện về các phương án lựa chọn, không lựa chọn – làm cơ sở để các thànhviên Chính phủ, đại biểu Quốc hội, thảo luận, quyết định phương án giải quyếtvấn đề một cách phù hợp, hiệu quả và kinh tế.Đứng về mặt ban hành chính sách mang tính vĩ mô, RIA mang lại nhữngkết quả sau đây:Thứ nhất: giảm bớt rủi ro các lỗi về chính sách, vì các cơ quan có thẩmquyền đã:- Xác định được mục tiêu của việc ban hành văn bản;- Đánh giá tác động đầy đủ sự thay đổi dự kiến;- Xác định và đánh giá các phương án lựa chọn để đạt được mục tiêu;- Đảm bảo tính hài hoà, thống nhất với các phương án đang sử dụng;- Biết trước là liệu lợi ích có lớn hơn chi phí hay không;- Đảm bảo quá trình xây dựng chính sách có sự tham gia của người dân vàđảm bảo tính minh bạch của việc xây dựng chính sách;1(Regulatory Impact Assesment )
  62. 62. 9Vì vậy, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 quy địnhtrong quá trình soạn thảo, toàn văn dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phảiđược đăng tải trên Trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan, tổchức chủ trì soạn thảo trong thời gian ít nhất là 60 ngày để cơ quan, tổ chức, cánhân có thời gian tiếp cận, chủ động nghiên cứu, tham gia ý kiến (khoản 1 Điều35, khoản 2 Điều 61, khoản 1 Điều 62, khoản 2 Điều 67, khoản 2 Điều 68,khoản 2 Điều 69, khoản 2 Điều 70, khoản 2 Điều 71, khoản 2 Điều 72, khoản 3Điều 73 và khoản 3 Điều 74 của Luật); cơ quan tổ chức lấy ý kiến có tráchnhiệm nghiên cứu các ý kiến góp ý để tiếp thu, chỉnh lý dự thảo văn bản. Ngoàira, Luật cũng quy định rõ thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luậtphải được quy định ngay trong văn bản nhưng không sớm hơn 45 ngày, kể từngày công bố hoặc ngày ban hành để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thời gian- Tính đến bảo đảm tuân thủ các thoả thuận quốc tế.Thứ hai: cải thiện tình hình lạm phát về văn bản quy phạm pháp luật, vìvăn bản chỉ được ban hành sau khi đã cân nhắc tương đối đầy đủ các tác độngkinh tế - xã hội và thấy lợi ích của việc thi hành lớn hơn chi phí.Về nguyên tắc, cơ quan nào đề xuất các biện pháp thực hiện thì cơ quanđó chịu trách nhiệm thực hiện RIA. Điều này không hạn chế quyền thuê các chủthể khác đánh giá ở một số công đoạn nhất định, nhưng cơ quan đề xuất phải làngười chịu trách nhiệm về nội dung đánh giá.RIA là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, từ lúc đề xuất xây dựngchương trình cho đến khi ban hành văn bản. Tuy nhiên, ở giai đoạn đề xuất đưavào chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (tức là giai đoạn đánhgiá để giúp xác định liệu có đưa vào chương trình xây dựng văn bản quy phạmpháp luật không), thì việc đánh giá chỉ dừng ở mức độ sơ bộ.Trong quá trình soạn thảo văn bản, cơ quan được giao soạn thảo chịutrách nhiệm thực hiện RIA tổng thể (đánh giá tổng thể). Nội dung của bản đánhgiá phải luôn luôn được bổ sung cùng với quá trình chỉnh lý dự thảo. Đặc biệt làsau giai đoạn thẩm định, giai đoạn trình, giai đoạn thẩm tra.5. Công khai, minh bạch trong xây dựng, ban hành văn bản quyphạm pháp luật và công bố, công khai văn bản quy phạm pháp luậtCông khai, minh bạch của hệ thống pháp luật nói chung cũng như trongxây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là vấn đề được đặc biệt quantâm trong việc sửa đổi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật lần này. Việccông khai, minh bạch từ khâu soạn thảo cho đến khâu ban hành không nhữnggiúp cho người dân sớm biết được định hướng chính sách, pháp luật trong tươnglai để chuẩn bị các điều kiện cho việc thực hiện mà còn là một trong những kênhđể người dân có thể tham gia vào hoạt động xây dựng thể chế, làm cho pháp luậtphản ánh được sát hơn ý chí, nguyện vọng của nhân dân... Đây cũng là một nộidung quan trọng nhằm thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dânkiểm tra” đã được đề ra trong nhiều Nghị quyết của Đảng. Đồng thời, cũng là đểthực hiện các cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới(WTO).
  63. 63. 01Quy trình soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy địnhcủa Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (đã được sửa đổi, bổsung năm 2002) là rất chặt chẽ, phải qua nhiều bước để bảo đảm chất lượng củavăn bản. Tuy nhiên, quy trình này, nếu áp dụng cho tất cả các văn bản, thì sẽchuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện (đoạn 1 khoản 1 Điều 78 của Luật);văn bản quy phạm pháp luật không đăng Công báo thì không có hiệu lực, trừtrường hợp văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước và văn bản ban hànhtrong tình trạng khẩn cấp, văn bản được ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầuphòng chống thiên tai, dịch bệnh; văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Côngbáo là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản gốc (khoản 2 Điều 78 củaLuật).Bên cạnh đó, Luật quy định trách nhiệm của cơ quan ban hành văn bảnquy phạm pháp luật trong thời hạn chậm nhất là hai ngày làm việc, kể từ ngàycông bố hoặc ký ban hành, phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo để đăngCông báo; trách nhiệm của cơ quan Công báo phải đăng toàn văn văn bản quyphạm pháp luật trên Công báo chậm nhất là mười lăm ngày, kể từ ngày nhậnđược văn bản (khoản 2 Điều 78 của Luật).6. Quy định trách nhiệm của các Bộ, cơ quan, tổ chức hữu quan trongviệc phát biểu ý kiến về những vấn đề của dự án luật, pháp lệnh, dự thảonghị quyết liên quan đến ngành, lĩnh vực do mình phụ tráchNhằm nâng cao chất lượng dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết vàtạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền có thêm cơ sở thuyết phục khi xemxét, đánh giá các quy định của dự án, dự thảo, Luật quy định các cơ quan, tổchức hữu quan có trách nhiệm góp ý kiến bằng văn bản về dự án, dự thảo, trongđó, Bộ Tài chính có trách nhiệm góp ý kiến về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ cótrách nhiệm góp ý về nguồn nhân lực, Bộ Tài nguyên và Môi trường có tráchnhiệm góp ý kiến về tác động đối với môi truờng, Bộ Ngoại giao có trách nhiệmgóp ý kiến về sự tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (Khoản 3 Điều 35 của Luật).Cũng với mục đích nâng cao chất lượng của dự án, dự thảo văn bản quyphạm pháp luật, Luật bổ sung quy định về chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật, pháplệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và dự thảonghị định của Chính phủ trước khi trình Chính phủ. Theo đó, trong trường hợpcòn có ý kiến khác nhau giữa các bộ, cơ quan ngang bộ về những vấn đề lớnthuộc nội dung của dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định thì Bộtrưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ triệu tập cuộc họp gồm đại diện lãnhđạo cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quanđể giải quyết trước khi trình Chính phủ xem xét, quyết định. Căn cứ vào ý kiến tạicuộc họp này, cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với các cơ quan có liên quantiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện dự án, dự thảo để trình Chính phủ (Điều 38 và Điều65 của Luật).7. Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủtục rút gọn
  64. 64. 11cứng nhắc và thiếu hiệu quả, vì trên thực tế có những văn bản có nội dung sửađổi, bổ sung đơn giản, là do hệ quả, tác động của các văn bản quy phạm phápluật khác nhằm bảo đảm thống nhất với nội dung của các văn bản đã được banhành trước đó; hoặc có những văn bản cần được ban hành trong trường hợpkhẩn cấp, nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu quản lý nhà nước, bảo đảm lợi íchchung.Vì vậy, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã bổ sungmột chương (Chương VIII, từ Điều 75 đến Điều 77 của Luật) quy định về xâydựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo trình tự, thủ tục rút gọn. Theođó, việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn chỉ được thực hiện trong trường hợpkhẩn cấp hoặc cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luậtmới được ban hành. Đồng thời, thủ tục rút gọn cũng chỉ áp dụng đối với việcxây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Uỷ ban thườngvụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Thẩm quyềnquyết định áp dụng thủ tục rút gọn được quy định như sau: Uỷ ban thường vụQuốc hội quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, banhành pháp lệnh, nghị quyết của mình và trình Quốc hội xem xét quyết định việcáp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành luật, nghị quyết củaQuốc hội; Chủ tịch nước quyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trongxây dựng, ban hành lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủquyết định việc áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn trong xây dựng, ban hành nghịđịnh của Chính phủ và quyết định của mình. Bên cạnh đó, quy định rõ các bước,các khâu có thể được rút gọn khi áp dụng trình tự, thủ tục này (Điều 76 và Điều77 của Luật). Tuy nhiên, để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất,khả thi của văn bản, dù là soạn thảo theo quy trình rút gọn thì vẫn phải tiến hànhthẩm định, thẩm tra dự thảo trước khi trình cơ quan có thẩm quyền.8. Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luậtTrong thực tế, có nhiều văn bản được sửa đổi, bổ sung nhiều lần hoặc cónhững văn bản được sửa đổi, bổ sung khá nhiều nội dung so với văn bản gốc.Điều này gây khó khăn cho quá trình thực hiện khi cùng một lúc phải có sự sosánh, đối chiếu trên nhiều văn bản để áp dụng cho một vấn đề.Do vậy, để tạo điều kiện cho việc áp dụng, tra cứu văn bản được thuận lợi,tăng thêm tính minh bạch của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tính rõ ràngcủa pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 bổ sungquy định về hợp nhất văn bản (Điều 92 của Luật). Hợp nhất văn bản quy phạmpháp luật là việc đưa các nội dung của văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổsung vào văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung nhằm bảo đảm sựtoàn vẹn về hình thức và nội dung của văn bản sau khi được sửa đổi, bổ sung.Việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật sau khi sửa đổi, bổ sung không đượclàm ảnh hưởng đến nội dung và hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luậtđược hợp nhất. Như vậy, việc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật sau khi sửađổi, bổ sung là một hoạt động thuần tuý có tính kỹ thuật, không tạo ra quy phạmpháp luật mới và cũng không tạo ra văn bản quy phạm pháp luật mới.
  65. 65. 12Theo quy định tại Điều 92 của Luật, văn bản sửa đổi, bổ sung một số điềucủa văn bản quy phạm pháp luật phải được hợp nhất về mặt kỹ thuật với văn bảnđược sửa đổi, bổ sung. Những vấn đề cụ thể của việc hợp nhất văn bản quy phạmpháp luật, Luật giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định.9. Pháp điển hệ thống quy phạm pháp luậtỞ nước ta, có nhiều cơ quan được ban hành văn bản quy phạm pháp luật,và trên thực tế, các văn bản hướng dẫn thường được quan tâm hơn là văn bảnđược hướng dẫn vì các văn bản hướng dẫn thường gắn với thẩm quyền quản lýcủa một cơ quan hoặc hệ thống cơ quan cụ thể cũng như quy định những nội dungcụ thể mà các đối tượng thi hành văn bản phải tuân thủ. Trong khi đó, hệ thốngquy phạm pháp luật hiện nay chưa được tập hợp theo từng chủ đề nên gây rấtnhiều khó khăn cho công tác tra cứu và áp dụng, nhất là khó có thể biết được quyphạm pháp luật có còn hiệu lực hay không. Việc pháp điển hệ thống quy phạmpháp luật không những tạo điều kiện thuận lợi cho người dân dễ tra cứu, thực hiệnpháp luật mà còn giúp cho cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm vụ, áp dụngđược chính xác các quy định của pháp luật; đồng thời, qua đó cũng phát hiện rađược các quy định của pháp luật còn chồng chéo để đề xuất tiến hành sửa đổi, bảođảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, vớimục đích là tạo thuận lợi cho mọi đối tượng trong việc tra cứu, trích dẫn và ápdụng pháp luật, việc pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật theo chủ đề thànhnhững bộ pháp điển đã và đang được nhiều nước áp dụng.Tuy nhiên, do đây là vấn đề mới, Việt Nam lại chưa có nhiều kinh nghiệmnên trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 chỉ quy địnhmột số nguyên tắc tạo cơ sở pháp lý cho công tác pháp điển hoá và giao Ủy banthường vụ Quốc hội quy định cụ thể việc pháp điển hệ thống quy phạm phápluật (khoản 2 Điều 93 của Luật).V. TỔ CHỨC THỰC HIỆNLuật có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2009. Để các quy định củaLuật có thể đi ngay vào cuộc sống khi Luật có hiệu lực, các cơ quan có liên quanđã và đang triển khai các hoạt động sau đây:- Xây dựng văn bản quy định chi tiết thi hành Luật. Theo quy định củaLuật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội được giao ban hành văn bản để quy định vềviệc hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật và pháp điển hệ thống quy phạmpháp luật (Điều 92 và Điều 93 của Luật); Chính phủ cần khẩn trương ban hànhvăn bản quy định chi tiết một số điều của Luật.Bên cạnh đó, các Bộ, cơ quan ngang Bộ cần căn cứ vào những nguyên tắcđã được Luật quy định để ban hành quyết định quy định cụ thể và đầy đủ cơ chếxây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền cũng nhưxây dựng các văn bản được giao chuẩn bị để trình cơ quan nhà nước cấp trên.- Tổ chức tập huấn, giới thiệu các quy định của Luật đến các cơ quan, tổchức và nhân dân: đây là công việc quan trọng, thiết thực nhằm đưa các quyđịnh của Luật đi vào cuộc sống, nâng cao ý thức, trách nhiệm của từng người
  66. 66. dân cũng như các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các quy định của Luật,tham gia tích cực và có hiệu quả vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống phápluật, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.- Củng cố tổ chức, lực lượng cán bộ, công chức tham gia xây dựng vănbản.- Cần bảo đảm tốt hơn các điều kiện về kinh phí, cơ sở vật chất bảo đảmcho công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.13

×