Tòa Án Hôn Phối & Tháo Gỡ Hôn Nhân
Nguồn : buiductien.com



Thân tặng những anh chị em đang sống trong những hoàn cảnh gi...
Như chúng ta đang thấy, bên cạnh sự đau khổ về việc gia đình tan vỡ, những người vợ, những
người chồng kém may mắn này còn...
tòa án của Giáo Hội. Tuy nhiên, theo Ðức Giáo Hoàng Innocentê III, cho đến năm 1198, nhiều giáo
phận vẫn chưa áp dụng nhữn...
đã không đạt được nhiều kết quả. Lý do là vì những qui định của Giáo Luật quá khó khăn, không
thực tế. Ngày 15/8/1936, Tòa...
HÔN NHÂN TRONG Ý CHÚA


  Trên bất cứ một thiếp mời dự lễ cưới hay tiệc cưới nào, ngoài những chi tiết cần thiết của một
t...
Con người và con người.

Tiếp tục dụ ngôn, Thiên Chúa phán: "Không tốt, nếu người đàn ông chỉ có một mình, Ta sẽ làm cho
 ...
Trong lãnh vực khoa học tâm lý, người ta khám phá ra rằng, con người chỉ tìm được một sự thoải
 mái hoàn toàn nơi người kh...
tín, bất trung nào đều làm cho tình yêu của hai người và chính hai người bị tổn thương. Nếu sự bất
tín, bất trung chỉ là v...
Không thể giải thích bằng lý luận được, hoàn cảnh một người sau khi gia đình thứ nhất của họ tan
vỡ, họ kết hôn lần thứ ha...
NHỮ NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SỰTAN VỠGIA ÐÌNH
   NG




Giáo hội qua điều luật 1055 về Bí Tích Hôn Phối qui định rằng: "Do giao...
như họ yêu nhau. Ðôi lúc, họ cũng đã đối diện với những nguy hiểm, nhưng cuối cùng, những nguy
hiểm này chỉ là những áng m...
Nếu nghĩ rằng chúng ta có thể thay đổi, cảm hóa một người cho thành hoàn toàn, hoặc hoàn toàn
theo { chúng ta thì chúng ta...
Khi hai người yêu nhau, họ nghĩ họ sẽ là tình nhân của nhau suốt đời để yêu thương chiều chuộng,
làm vừa lòng nhau. Mặc dù...
- Cử hành hôn lễ chỉ vì muốn dọn ra khỏi mái nhà đang sống.

- Chỉ vì trốn một thất bại trong đường tình ái, hoặc chỉ vì m...
Ðiều quan trọng những vợ chồng phải nhìn thấy, chấp nhận và vượt qua là trong đời sống chung sẽ
có những khó khăn. Sự khó ...
thu xếp, điều hành tài chánh. Một điều không chối cãi được, đó là trong suốt thời gian trưởng
thành, một người cũng đã biế...
bạn tốt là một người bạn, khi nhận thấy sự hiện diện của mình tạo nên sự mất hài hoà của gia đình
bạn, họ biết âm thầm rút...
Những xung đột này có thể nhận thấy trong những lãnh vực: phương pháp giáo dục con cái không
được bàn luận, đồng ý một các...
tính nhất.




Nhưng dần dà trong đời sống chung gia đình, những đáp ứng tâm linh từ hai người yêu nhau giảm
cường độ và c...
Do đó, những hành động âu yếm, những khắng khít là những cử chỉ, hành động tự nhiên phát xuất
do tình yêu của hai người ph...
Làm thế nào để sống "Bình thường" sau khi gia đình đã tan vỡ?


Người ta có thể diễn tả việc tan vỡ của một gia đình bằng ...
lại được thời gian, cải đổi được những biến cố...



4. Giai đoạn chán chường và buông xuôi: Thế là hết, bao nhiêu mộng đẹ...
Trong lúc tâm thần bất định như thế, họ vẫn buộc lòng phải quyết định nhiều vấn đề hệ trọng và
 kinh nghiệm cho thấy có nh...
VIỆC TÁI HÔN.


  Một điều không lấy gì làm lạ, đó là hầu hết những người đã li dị sau đó đều lập gia đình một lần
 nữa. C...
chuẩn bị gì cả, thật là một sai lầm nguy hiểm. Lần lập gia đình thứ hai là với một người khác chứ
không phải là người trướ...
Những trường hợp hôn phối đã được tháo gỡ

                                         Ghi chú của tác giả:

  Những trường h...
Lodge và tại đây, hai người sống chung với nhau đêm đầu tiên. Sáng hôm sau, tổ chức đưa hai
 người tới khách sạn Shellborn...
nói lên lời ưng thuận đồng ý kết hôn. Những chứng cớ được thu thập từ Henry, mẹ chàng và cha
                        mẹ củ...
với một nhóm người trong tổ chức "Thế Giới Mới". Tổ chức này quan niệm rằng trẻ con là nguồn
sinh ra ô nhiễm trong thế giớ...
Là người tốt, Paul đề nghị lấy Monica làm vợ và hứa sẽ coi đứa con sắp sinh như con của mình và
 Paul cũng yêu Monica nữa....
Lễ cưới của hai người diễn ra trang trọng trong nhà thờ và tưng bừng nơi tiệc cưới. Họ đi hưởng
                     tuần ...
Hai người gượng vui làm đám cưới, cười cười, nói nói trong lễ cưới và tiệc cưới, nhưng trong lòng
                        ...
Sandra 30 tuổi, xuất thân từ một gia đình nghiêm khắc, đạo giáo. Sandra học hành giỏi dang, tốt
nghiệp ngành thương mại, đ...
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
TòA áN HôN PhốI
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

TòA áN HôN PhốI

3,867 views

Published on

Published in: Education, Sports
  • Be the first to comment

TòA áN HôN PhốI

  1. 1. Tòa Án Hôn Phối & Tháo Gỡ Hôn Nhân Nguồn : buiductien.com Thân tặng những anh chị em đang sống trong những hoàn cảnh gia đình đáng thương, tội nghiệp. Chúa vẫn gửi đến anh chị em cùng một phép lành Chúa gửi đến những người khác. bđt. Tập sách này được thực hiện với hai mục đích: 1. Trình bày một lối thoát có thể, cho những người Công Giáo đang bị vướng mắc trong những hoàn cảnh hôn phối tan vỡ không còn hy vọng hàn gắn. 2. Giúp cho những người Công Giáo đang âu lo sống trong các "gia đình thứ hai", một cách thế có thể, để thực hiện Bí Tích Hôn Phối một lần khác. Giới thiệu Tòa án Công Giáo là tòa án thành lập bởi Giáo Hội theo Giáo Luật để phân xử những tranh tụng liên can đến những việc thiêng liêng hay những vấn đề liên hệ với những việc thiêng liêng. (c.1401) Một trong những sự phân xử này là việc tháo gỡ dây hôn phối giữa những người Công Giáo, nghĩa là "cho phép" hai người sau khi đã thực hiện hôn phối trong nhà thờ được tự do kết hôn một lần nữa dù vợ hay chồng họ vẫn còn sống. Sẽ có nhiều người không đồng ý với tác giả về đề tựa và nội dung của tập sách này. Ðiều đó tác giả đã ước đoán và chuẩn bị để chấp nhận. Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề, tác giả mong ước được chia sẻ những khổ tâm, những cay đắng và những chịu đựng với các thành viên của những gia đình tan vỡ, cũng như với phụ huynh và những người thân thuộc của họ, vì dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Giáo Hội cũng không bỏ quên họ. Tác giả muốn họ hiểu rằng: Giáo Hội qua hệ thống Tòa A¨n Hôn Phối có thể giúp đỡ họ giải quyết vấn đề khúc mắc gia đình họ đang có bằng việc tháo gỡ hôn phối họ đang vướng mắc và bận tâm. Những người không đồng ý với tác giả sẽ có lý do riêng của họ: giả như họ cho rằng việc tháo gỡ hôn phối dù bằng cách nào đi nữa, sẽ làm mất giá trị cao vời của yếu tố vĩnh hôn trong Giáo Hội Công Giáo từ ngàn xưa; họ cũng có thể cho rằng nếu một người "làm" được thì rồi nhiều người cũng sẽ làm được, như thế, cuối cùng hôn nhân Công Giáo cũng không khác gì các cuộc hôn nhân khác... Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 1
  2. 2. Như chúng ta đang thấy, bên cạnh sự đau khổ về việc gia đình tan vỡ, những người vợ, những người chồng kém may mắn này còn phải chịu đựng thêm những khổ đau khác: mặc cảm thua kém, tội lỗi vì đã không tạo được một gia đình hạnh phúc, vì đã làm mất tình yêu "Chúa định" cho họ trong hôn nhân v.v... Chưa kể những cấm đoán của luật lệ cho những người "phạm luật" và sự xa lánh của những người chung quanh. Tập sách này trình bày một cách ngắn gọn về cơ cấu tổ chức của tòa án, về cách phân xử, về những thủ tục cần thiết cho một vụ tranh tụng hôn nhân. Bên cạnh đó, tác giả cũng thêm một vài chia sẻ thiêng liêng, cũng như { nghĩa của đời sống hôn phối với các đôi bạn và với những ai đang muốn tìm hiểu thêm về khế ước hôn nhân trước khi thực sự dấn thân vào đời sống gia đình. Tác giả mong ước được các vị cao niên, trưởng thượng và các nhà chuyên môn góp ý trong phương thức trình bày và nội dung của tập sách này. Xin Chúa chúc lành cho chúng ta. oooOOOooo ÐÔI DÒNG LỊCH SỬ Ngay từ khởi thủy, trong sinh hoạt chung như một cộng đồng xã hội, Giáo Hội đã đóng vai trò hòa giải những xung đột không thể tránh được, xảy ra giữa những tín hữu sống chung với nhau. Một trong những loại xung đột đó là loại xung đột liên hệ đến vấn đề hôn phối. Trong thư Thánh Phaolô gửi cho tín hữu Corintô đã đề cập đến một trường hợp hôn phối loạn luân (incestuous) và quyết định trục xuất người đàn ông đó ra khỏi cộng đồng Giáo Hội (1Cor.5,1-13). Trường hợp đã được đề cập này, chắc chắn không phải là trường hợp duy nhất Giáo Hội đã phải đứng ra hòa giải. Cho nên, năm 314, Công Ðồng Chung Ancyra đã ra một đạo luật trừng trị nghiêm khắc những người liên hệ trực tiếp vào những trường hợp hôn phối loạn luân. Gratian, một luật gia nổi tiếng của Giáo Hội, đã lưu lại trong Bộ Luật của ông nhiều trường hợp hôn phối đã được các Ðức Giáo Hoàng và các Thánh Giáo Phụ phân xử. Nhiều trường hợp hôn phối cũng đã được các tòa án hôn phối giải quyết trong lãnh vực địa phương. Ðến thế kỷ XII, đã có những nguyên tắc rõ ràng qui định những giai đoạn cần thiết để phân giải một trường hợp hôn phối tại Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 2
  3. 3. tòa án của Giáo Hội. Tuy nhiên, theo Ðức Giáo Hoàng Innocentê III, cho đến năm 1198, nhiều giáo phận vẫn chưa áp dụng những qui luật này. Năm 1311, Ðức Giáo Hoàng Clementê V, trong sắc lệnh Dispendiosam đã truyền rằng: Các trường hợp hôn phối phải được xét tại tòa án một cách đơn giản và mau lẹ, tránh những rườm rà, phức tạp của thủ tục pháp lý (simpliciter et de plano, ac sine strepitu judicii et figura) Vào thế kỷ thứ XVI, Công Ðồng Chung Trentô ấn định rằng các Linh Mục giáo phận (dean) và các Phó Giáo Chủ (archdeacon) từ nay không được tự mình xét các trường hợp hôn phối nữa. Tất cả những trường hợp hôn phối nếu có phải được chấp hành qua một thủ tục pháp lý và Bản Quyền địa phương là người phán quyết kết quả sau cùng của những tranh tụng hôn phối đó. Dù đã được ấn định phải qua một thủ tục pháp lý, nhưng chính thủ tục pháp l{ đó không rõ ràng, cho nên xảy ra quá nhiều lạm dụng, thậm chí có những người đã được tháo gỡ hôn phối tới lần thứ ba, lý do là vì không có người Bảo Hệ (defender of the bond), cũng không có Tòa Kháng A¨n (Appelate court) để duyệt xét quyết định của các Thẩm Phán. Hiến Chế Dei miseratione, do Ðức Giáo Hoàng Benedictô XIV ban hành ngày 3/11/1741 chấm dứt tình trạng hỗn loạn này. Hiến Chế qui định rằng mỗi giáo phận phải chỉ định một người Bảo Hệ để bênh vực cho dây hôn phối và chính người Bảo Hệ này phải xét lại quyết định của Tòa A¨n xét ở cấp thứ nhất quyết định tháo gỡ một trường hợp hôn phối. Một thế kỷ sau đó, Thánh Bộ Công Ðồng phát hành một Bản Dẫn Giải Cum Moneat, giải thích, hướng dẫn áp dụng Hiến Chế Dei miseratione. Một bản dẫn giải khác Causa Matrimoniales được ban hành bốn năm sau, năm 1884, hai bản dẫn giải này có giá trị cho đến khi Bộ Giáo Luật đầu tiên của Giáo Hội ra đời: năm 1917. Ðiều luật 1576 của Bộ Giáo Luật 1917 qui định rằng: Một trường hợp hôn phối phải được thẩm định do ba thẩm phán. Tất cả những qui định trái với điều luật này đều phải được bãi bỏ. Những qui định về Cơ cấu, thẩm quyền Tòa A¨n, quyền tố tụng của các nguyên cáo, cách thức thu thập chứng cớ v.v...đều được xác định rõ ràng. Năm 1936, sau gần 20 năm áp dụng, Tòa Thánh nhận thấy hoạt động của các Tòa A¨n địa phương Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 3
  4. 4. đã không đạt được nhiều kết quả. Lý do là vì những qui định của Giáo Luật quá khó khăn, không thực tế. Ngày 15/8/1936, Tòa Thánh phát hành một bản dẫn giải Provida Mater giải thích 33 điều luật trong Bộ Luật 1917 (từ điều 1960 đến điều 1992) về cơ cấu, thẩm quyền, nhân sự, cách áp dụng luật khi phải phán xử những trường hợp hôn phối để giúp các Thẩm Phán đang làm việc tại các Tòa A¨n địa phương. Thoạt nhìn qua thì Bản Dẫn Giải khá thực tế, nhưng khi đi vào việc áp dụng thì Bản Dẫn Giải quá cứng nhắc và phức tạp. Như thế, thay vì trợ giúp, Bản Dẫn Giải lại ngăn cản, giới hạn thẩm quyền của các Thẩm Phán tại các Tòa A¨n địa phương. Cả ngàn những trường hợp hôn phối đã bị bỏ quên vì những khó khăn này. Giáo Hội tại Hoa Kz đã đi tiên phong trong việc hóa giải các khó khăn này bằng cách trở lại với Sắc Lệnh Dispendiosam (1311): Ðơn giản hóa các thủ tục Tòa A¨n bằng Ðạo Luật American Procedural Norms. Kết quả đã được nhìn thấy rõ ràng: Thập niên 1960, tại Hoa Kz có khoảng 5 triệu người công giáo li dị, nhưng chỉ có khoảng vài trăm trường hợp được giải quyết do Tòa A¨n Hôn phối. Ðến thặp niên 1970 (sau khi American Procedural Norms được ban hành), Hoa Kz có khoảng 6 triệu người công giáo li dị mà Tòa A¨n đã giải quyết được khoảnh 30,000 trường hợp. Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI, ngày 28/3/1971 đã ban hành Tông Thư Causas Matrimoniales cho toàn thể Giáo Hội. Mặc dù Tông thư không có những qui định đơn giản và quá dễ dãi như American Procedural Norms của Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kz, nhưng cũng đã đơn giản hóa thủ tục Tòa A¨n Hôn phối của Giáo Hội trong những lãnh vực thẩm quyền, số thẩm phán trong một vụ kiện và đặc biệt là thủ tục ngắn gọn của Tòa Chống Án. Tông Thư Causas Matrimoniales này đã được đưa vào Bộ Giáo Luật 1983. Tuy nhiên, bên cạnh từ ngữ Tố Tụng, Ủy Ban soạn thảo Bộ Giáo Luật còn nhấn mạnh vai trò mục vụ của các Thẩm Phán khi hành xử năng quyền, thẩm định về các trường hợp hôn phối trong các Tòa Án Hôn phối địa phương. Lm.Jos.Bùi-đức-Tiến, Thẩm Phán Tòa Án Hôn Phối Miền, (Tổng Giáo Phận Melbourne & Tổng Giáo PhậnTasmania.) Australia. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 4
  5. 5. HÔN NHÂN TRONG Ý CHÚA Trên bất cứ một thiếp mời dự lễ cưới hay tiệc cưới nào, ngoài những chi tiết cần thiết của một thiếp mời với ngày giờ, tên họ của hai người hôn phu và hôn thê, người ta đều thấy có in thêm câu Kinh Thánh: "Sự gì Thiên Chúa liên kết, loài người không được phân ly". Câu Kinh Thánh này được trích từ Phúc Âm Thánh Matthêu chương 19. Bối cảnh của câu chuyện xảy ra như sau: Những người Biệt phái đến thử Chúa Giêsu và họ hỏi: "Người ta có được phép li dị vợ mình, bất cứ vì l{ do gì chăng?". Chúa Giêsu đã trả lời họ bằng đoạn văn trích từ Sách Sáng thế K{: "Các ông há không đọc thấy rằng, từ đầu tiên Thiên Chúa đã tác tạo nên họ cả nam và nữ ư? và Thiên Chúa đã phán dạy rằng: Bởi lẽ đó người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắng khít người vợ của mình, và cả hai sẽ nên một huyết nhục. (Stk 1,27; 2,24). Như thế họ không còn phải là hai nhưng là một. Vậy điều gì Thiên Chúa liên kết, con người không được phân ly." Theo lịch sử về Kinh Thánh, đoạn văn từ Sách Sáng Thế K{ trên đây đã được viết hàng ngàn năm trước thời Chúa Giêsu. Tác giả đã được Chúa Thánh Thần soi dẫn để diễn tả về hôn nhân của con người trong ý Thiên Chúa quan phòng. Nếu đọc kỹ đoạn văn Cựu Ước này, người ta thấy rằng, đây không phải là một trình thuật về công trình sáng tạo của buổi ban đầu, nhưng là một câu chuyện tương tự như các câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu vẫn thường dùng sau này trong Tân Ước. Qua dụ ngôn Cựu Ước này, người ta có thể tìm thấy, suy diễn được mối liên hệ phải có giữa con người và Thiên Chúa, giữa con người và con người. Con người và Thiên Chúa. Nhìn lại đoạn văn trên, chúng ta thấy từ ngữ 'huyết nhục' được dùng để diễn tả một mạng người có xương có thịt và có hơi của sự sống: "Giavê Thiên Chúa đã nắn hình người với bụi lấy từ đất, Người truyền hơi của sự sống vào mũi nó và con người đã trở thành mạng sống." (Stk 2,7) Hành động sáng tạo của Thiên Chúa được trình thuật ở đây, là một hành động diễn tả tình yêu: Tình yêu của Thiên Chúa đối với các thụ tạo vừa được tạo dựng, đặc biệt là con người. Một tình yêu luôn luôn phải được đáp lại bằng một tình yêu. Do đó, tình yêu được coi là ơn gọi đầu tiên của một con người có hơi của sự sống: Hơi của sự sống đây chính là thần khí của Thiên Chúa, là linh hồn nơi con người. Thiên Chúa yêu thương chúng ta và Người muốn chúng ta đáp trả lại tình yêu này. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 5
  6. 6. Con người và con người. Tiếp tục dụ ngôn, Thiên Chúa phán: "Không tốt, nếu người đàn ông chỉ có một mình, Ta sẽ làm cho nó cái gì trợ giúp tương đối với nó. Và Giavê Thiên Chúa đã nắn ra từ đất mọi thứ dã thú và mọi giống chim trời, và Người dẫn đến cho người đàn ông để xem nó gọi tên chúng làm sao. Con người đã đặt tên cho mọi thú vật và mọi chim trời cùng mọi dã thú." (Stk 2,18-19). Ðặt tên cho một đồ vật hay sinh vật là dấu hiệu của chủ quyền trên đồ vật hay sinh vật ấy. Vì vậy, con người có chủ quyền trên các thụ tạo, các sinh vật khác. Con người từ đó làm bạn với các sinh vật. Nhưng nơi các sinh vật không có thần khí hay linh hồn (hơi của sự sống từ nơi Thiên Chúa). Con người yêu thương các sinh vật, các sinh vật quyến luyến con người, nhưng các sinh vật không đáp trả lại được tình yêu thương con người trao tặng. "Con người vì vậy vẫn không tìm được sự trợ giúp nào tương đối" (Stk 2,20) nơi các sinh vật, mà chỉ tìm thấy tình yêu và trợ lực nơi một mình Thiên Chúa, Ðấng Sáng tạo. Ðộng lực chính vẫn là tình yêu từ nơi Thiên Chúa: "Thiên Chúa đã giáng xuống trên con người một giấc tê mê và nó đã ngủ thiếp đi. Và Người đã rút lấy một xương sườn của nó, đoạn lấy thịt lấp vào xây thành người đàn bà, đoạn dẫn đến với người đàn ông. Người đàn ông khi nhìn thấy người đàn bà đã thốt lên: Phen này, nàng là xương tôi và thịt tôi, nàng sẽ đội danh là đàn bà vì đã được rút từ đàn ông (Stk 2,21-23). Người đàn ông đã không đặt tên cho người đàn bà, nhưng gọi người đàn bà bằng chính tên của mình (đội danh). Từ nguyên thủy, người đàn ông đã không có chủ quyền trên người đàn bà như có chủ quyền trên các sinh vật thụ tạo khác. Nàng có xương, thịt và thần khí như xương thịt và thần khí nơi người đàn ông, người đàn ông tìm được sự đáp trả tình yêu và trợ lực nơi người đàn bà, một đáp trả mà ông ta đã không tìm thấy từ các sinh vật thụ tạo khác. Do đó, trong { của Thiên Chúa, người đàn bà bình đẳng trong mọi lãnh vực với người đàn ông. (bởi vì họ có cùng một xương thịt và thần khí) Sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà, hai sinh vật có thần khí của Thiên Chúa vừa được tạo dựng, diễn tả liên hệ toàn vẹn giữa con người và con người. Hai người không chỉ liên kết trong thần khí, cũng không chỉ liên kết trong xác thịt, nhưng trong toàn thể của một con người được Thiên Chúa sáng tạo, với xương thịt và thần khí. Khía cạnh thân xác (tình dục) của hai người cũng đã được diễn tả: "Cả hai người đều trần truồng, người đàn ông và vợ, nhưng họ không hổ ngươi với nhau." (Stk 2,25). Qua diễn tả này, người ta hiểu được { nghĩa tiềm ẩn trong cuộc sống chung của hai người: trao tặng nhau trọn vẹn. Họ có thể xấu hổ, ngại ngùng khi trần truồng trước sự hiện diện của mọi người khác, nhưng không xấu hổ, ngại ngùng trước mặt vợ hay chồng mình. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 6
  7. 7. Trong lãnh vực khoa học tâm lý, người ta khám phá ra rằng, con người chỉ tìm được một sự thoải mái hoàn toàn nơi người khác, do người khác. Người khác đây chính là tha nhân chung quanh họ. Hôn nhân đưa hai người nam và nữ đang yêu thương nhau, đến với nhau, liên kết với nhau ở một mức độ cao nhất, sâu xa nhất. Tình yêu này chính là tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Hôn nhân với một tình yêu như thế, có thể được gọi là một cuộc hành trình đi tìm cõi vô tận, vô biên của tình yêu. Thời gian chung sống, không là yếu tố làm cho người đi tìm mệt mỏi, trái lại, càng có thời gian tìm hiểu người mình yêu, càng khám phá ra cái vô tận của tình yêu. Nếu hai người nam và nữ quan niệm hôn nhân chỉ là làm sao để cử hành một lễ cưới cho trang nghiêm, tổ chức một đám cưới cho linh đình thôi, thì hai người sẽ không đạt được tình yêu này. Các nghi thức, lễ lạc không phải là động lực đưa đến tình yêu, nó không tạo ra được tình yêu. Nghi thức, lễ lạc bên ngoài chỉ là những dấu chỉ có tính cách xã hội, đánh dấu ngày tình yêu chính thức lên đường. Tình yêu đưa hai người đến hôn nhân chứ hôn nhân không thể đưa hai người đến tình yêu. Thiên Chúa chúc lành cho con người. Người không chúc lành cho một người, nhưng Người chúc lành, trao trách nhiệm cho sự liên kết giữa hai người trong cuộc sống chung: "Và Thiên Chúa chúc lành cho chúng: Hãy sinh sôi, nẩy nở và hãy nên đầy dẫy trên đất, Và hãy làm bá chủ nó, hãy thống trị trên cá biển, chim trời và mọi loài sinh vật. (Stk 2, 28) Ba yếu tố quan trọng trong hôn nhân. 1. Ðơn hôn: Thiên Chúa tôn trọng phẩm giá của từng cá nhân. Thiên Chúa cũng không bắt buộc người này phải lập gia đình với người kia. Tình yêu của người này hướng về người kia chính là tình yêu hướng về chính Thiên Chúa đang hiện diện trong người ấy. Trong cái vô biên của Thiên Chúa, có cái hạn hữu của đời sống con người. Tình yêu hai người hướng về nhau là tình yêu vừa có tính cách thiêng liêng vừa có tính cách nhân loại. Thiên Chúa hiện hữu sâu thẳm trong tạo vật thụ tạo. Nếu hiểu tình yêu giữa hai người là một trợ lực để giúp hai người nam nữ tìm thấy Thiên Chúa, và yêu thương Thiên Chúa trong nhau, thì trợ giúp này phải là một trợ giúp liên tục không tùy thuộc nơi không gian và không giới hạn trong thời gian. Do đó, tình yêu vợ chồng phải vững chắc trong sự trung thành và chung thủy. Bất cứ một bất Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 7
  8. 8. tín, bất trung nào đều làm cho tình yêu của hai người và chính hai người bị tổn thương. Nếu sự bất tín, bất trung chỉ là việc tìm thỏa mãn những đòi hỏi dục tình thì đây là một sự dối trá. Sự liên hệ xác thịt sẽ chỉ là một dối trá, trừ khi sự trao thân cho nhau được coi là một cách thế diễn tả tình yêu trọn vẹn trong hôn nhân, hoàn toàn cho tình yêu, hoàn toàn hòa nhập trong vĩnh cửu của Thiên Chúa với khả năng giới hạn của con người. Tình dục ngoài hôn phối và ngoại tình không được chấp nhận vì nó hàm chứa sự dối trá này. 2. Vĩnh hôn: Có người cho rằng có những người sống chung với nhau không có hôn phối vẫn yêu thương nhau, vẫn có con cái, vẫn trung thành chung thủy với nhau suốt đời và họ có thể lý luận rằng sự trung thành chung thủy của những người này mới là thật sự, vì những người này không bị bó buộc với nhau bằng các nghi lễ, luật lệ rườm rà của con người. Nếu nhìn sâu xa hơn, người ta có thể nói rằng trong cách sống này (không có hôn phối), hai người là vợ, là chồng vẫn luôn luôn hiểu ngầm rằng họ không bị ràng buộc với nhau, họ có tự do của riêng họ, để họ muốn chấm dứt đời sống vợ chồng nào cũng được tùy ý. Như thế, ngay trong tiềm thức, và ngay từ ban đầu, họ đã không thật sự dấn thân toàn vẹn cho người họ yêu, họ vẫn có ý rằng khi không thích thì sẵn sàng chấm dứt. Trong tình yêu của họ, họ vẫn yêu họ hơn yêu người yêu. Một tình yêu thật sự, mỗi người đều phải nhận chân một điều là họ đã dấn thân, đã chấp nhận, thì từ chối nhau dù bất cứ trong thời điểm nào, là từ chối chính tình yêu có cho nhau và một tình yêu như thế sao có thể được gọi là tình yêu chân thật? Tình yêu của những người này là tình yêu có điều kiện: Nếu chúng tôi vẫn còn yêu, chúng tôi sẽ tiếp tục sống chung, bằng không . . . Không thể có tình yêu thật nếu trong tình yêu đó có một giới hạn, bất cứ về phương diện nào. Dù giới hạn đó chỉ xuất hiện cách lờ mờ trong tiềm thức. Nhiều người muốn yêu chân thật. Nhưng họ luôn luôn lo sợ rằng thời gian sẽ làm nhạt nhòa tình yêu chân thật ấy, họ không muốn bị tổn thương khi mất mát, họ vẫn yêu họ hơn yêu người yêu, vì khi họ mất mát, tổn thương, thì người họ yêu sẽ ra sao? Quyết định kết hôn với một lo sợ vẩn vơ về sự tan vỡ như một ý tưởng tiên tri, thì lúc nào cũng nằm trong trạng thái hồi hộp, chờ đợi sự việc không hay xảy ra. Khi một khó khăn xuất hiện, họ liền chụp lấy cơ hội, rồi cho rằng sự gì phải đến đã đến. Các vợ chồng trẻ hãy ý thức, vượt qua những tư tưởng thụ động quan niệm rằng những đụng chạm đưa đến tan vỡ đời sống chung, phải xảy ra như một định mệnh. Không, chúng đến từ những thiếu xót, sơ xẩy của hai người trong đời sống chung, và chỉ với một chút cố gắng, hai người sẽ vượt qua dễ dàng. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 8
  9. 9. Không thể giải thích bằng lý luận được, hoàn cảnh một người sau khi gia đình thứ nhất của họ tan vỡ, họ kết hôn lần thứ hai với những lời thề thốt tương tự: "Tôi nhận em N. làm vợ, và hứa sẽ yêu thương và kính trọng em mọi ngày trong suốt đời tôi". Nếu những lời lẽ này đã một lần thề hưá với một người khác, rồi đã không được tôn trọng, thì liệu lần hứa này có đáng tin cậy không? Ðón nhận và giáo dục con cái. Tình yêu của Thiên Chúa đã đơm hoa kết quả nơi các thụ tạo qua công trình sáng tạo, trong số các thụ tạo đó có con người. Giờ đây, tình yêu tuyệt vời của hai người trong đời sống hôn phối cũng sẽ lập lại sự đơm hoa kết quả đó. Hai vợ chồng được mời gọi trong tình yêu để cộng tác với Thiên Chúa trong việc tiếp nối sự vô tận của tình yêu sáng tạo. Cảm giác nào của người cha, người mẹ có thể có, khi ôm đứa con đầu tiên vào lòng? Họ không thể hiểu hay hiểu mà không diễn tả được nguồn ơn vô giá Thiên Chúa đã ban cho họ. Trong tình yêu, họ đã làm được công việc mà nếu không có tình yêu, sự việc không bao giờ xảy ra. Sự việc ngoài khả năng con người bình thường. Qua hình ảnh đứa con, họ nhìn thấy tình yêu vô hình của họ thể hiện cách hữu hình, và tình yêu của họ được con cái họ tiếp nối, có thể tới vô cùng tận, Qua con cái, hai người vợ chồng yêu thương, kính trọng nhau hơn. Yêu thương kính trọng nhau trong lời mời gọi của Thiên Chúa, qua việc cộng tác vào chương trình sáng tạo, tạo dựng và duy trì công trình này đến vô cùng vô tận. "Hãy sinh sản đầy dẫy." là một lời chúc lành chứ không phải là một lệnh truyền bắt buộc. Lời chúc lành này không có nghĩa là hai vợ chồng bắt buộc phải có nhiều con cái. Kèm theo lời chúc lành là việc trách nhiệm, bổn phận làm cha mẹ trong lãnh vực giáo dục con cái. Chúa tạo dựng nên con người, Ngài chăm sóc, thương yêu con người thì cha mẹ sau khi sinh sản con cái, yêu thương, dưỡng dục là cần yếu, cha mẹ có bổn phận phải chu toàn cách xứng đáng. Cha mẹ phải trả lẽ về trách nhiệm này trước mặt Thiên Chúa, trước mặt nhau, trước gia đình họ thành lập, trước xã hội và cuối cùng, trước những đứa con mà họ đã được trao năng quyền qua việc cộng tác với Thiên Chúa trong việc sáng tạo. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 9
  10. 10. NHỮ NGUYÊN NHÂN GÂY NÊN SỰTAN VỠGIA ÐÌNH NG Giáo hội qua điều luật 1055 về Bí Tích Hôn Phối qui định rằng: "Do giao ước hôn phối, người nam và người nữ tạo nên một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc sống. Tự bản tính, giao ước hôn phối hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái. Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn phối giữa những người đã chịu phép rửa tội lên hàng Bí Tích." Tiêm nhiễm bởi giáo huấn của giáo hội và theo luật tự nhiên, bất cứ một người bình thường nào, khi thật sự có ý muốn lập gia đình, cũng đều ý thức và hoạch định sẽ thành lập một gia đình đầm ấm, hạnh phúc với một vợ, một chồng và với những đứa con kháu khỉnh, ngoan ngoãn. Họ có ngờ đâu, một ngày nọ, họ phải dẫn nhau đến cửa công, đành tâm chấp nhận sự tan vỡ dở dang. Mỗi hoàn cảnh mỗi khác: Gia đình này tan vỡ vì những l{ do này, gia đình khác lại tan vỡ vì những lý do khác, gần như không có một hoàn cảnh nào giống hoàn cảnh nào. Tác giả với những kinh nghiệm làm việc trong Tòa A¨n Hôn Phối muốn chia sẻ với những gia đình đang trong hoàn cảnh khó khăn, bằng cách trình bày những yếu tố, những lý do có thể đưa đến cho hai vợ chồng trong một gia đình đang đầm ấm vui vẻ, những rạn nứt, những xung đột và cuối cùng phải tan vỡ. 1. Tình yêu và thực tế Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ giống hình ảnh Ngài và Thiên Chúa muốn họ sống đời sống của chính Ngài, Ngài là tình yêu: "Thiên Chúa là tình yêu, chúng ta hãy yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta". Khi một người yêu và được yêu, họ cảm thấy hạnh phúc, họ tưởng rằng với hạnh phúc đang có trong tình yêu đó, họ có thể vượt qua mọi trở ngại lớn nhỏ trong đời sống. Trong tình yêu, họ nghĩ rằng những khó khăn, vấn đề chỉ là những yếu tố bên ngoài, chưa bao giờ họ có thể tưởng nghĩ được rằng những khó khăn, vấn đề sẽ đến từ người họ yêu thương. Khi hai người yêu nhau, họ nghĩ rằng thế giới sẽ được chinh phục với tình yêu của họ. Họ cho rằng những người li dị nhau sau một thời gian chung sống đã không biết yêu, đã chưa bao giờ yêu nhau Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 10
  11. 11. như họ yêu nhau. Ðôi lúc, họ cũng đã đối diện với những nguy hiểm, nhưng cuối cùng, những nguy hiểm này chỉ là những áng mây mờ trong tình yêu của họ. Một vài lần giận dỗi, một vài lúc hiểu lầm, rồi xong. Họ cảm thấy những khó khăn nếu có, sẽ được giải quyết giống như những lần hiểu lầm, giận dỗi này. Nhìn vào đời sống của cha mẹ, những anh chị, những người lớn tuổi đang sống trong đời sống gia đình, đang vất vả với công ăn việc làm, đang bận bịu với con cái, cháu chắt, họ có cảm tưởng rằng những người này đã bị mất đi thời tuổi trẻ vì những người này đã chẳng bao giờ biết yêu, ít là yêu như họ đang yêu. Ðời sống đáng yêu quá, đáng sống quá. Họ chỉ cần có nhau, và có nhau đã là đủ cho họ, tất cả những yếu tố khác chỉ là phụ thuộc. Có những người trẻ đang yêu nhau, một cách rất thành thật, họ lo lắng cho tương lai gia đình họ sắp thành lập. Sự lo lắng này thúc đẩy họ tìm hiểu, theo dõi các lớp dự bị hôn nhân. Qua các lớp dự bị hôn nhân này, họ chỉ thực sự chấp nhận những gì đúng với ý của họ đang nghĩ, những phần khác ý còn lại, họ cho rằng những người hướng dẫn đôi khi quá đáng, thổi phồng những vấn nạn gia đình. Yêu là ước muốn điều tốt cho người mình yêu. Càng hiểu biết nhiều về nhu cầu, ao ước, yếu điểm và ưu điểm của người mình yêu càng dễ dàng cho tình yêu phát triển, có nghĩa là đáp ứng nguyện vọng trong đời sống của người mình yêu. Hãy nhớ rằng những người lị dị sau một thời gian chung sống, họ đã từng yêu nhau như chính chúng ta đang yêu nhau. Hãy nhớ rằng gia đình là một đời sống thực tế, trong đó hai vợ chồng chung vai sát cánh nâng đỡ chia sẻ những khó khăn ngọt bùi với nhau. Tình yêu ban đầu vẫn còn đó trong đời sống gia đình, nhưng những vấn nạn, khó khăn đồng thời cũng xuất hiện và nếu không thực tế, chúng ta sẽ vấp ngã một cách đau đớn. 2. Những khác biệt giữa hai vợ chồng (cá tính và hoàn cảnh) Nếu phải tìm được một người hoàn toàn chúng ta mới lấy làm chồng làm vợ thì có lẽ thời gian của một đời sống không đủ để đi tìm. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 11
  12. 12. Nếu nghĩ rằng chúng ta có thể thay đổi, cảm hóa một người cho thành hoàn toàn, hoặc hoàn toàn theo { chúng ta thì chúng ta nghĩ sai. Nếu nghĩ rằng chúng ta có thể chiều chuộng, đáp ứng và chịu đựng được mọi nhu cầu, tính ý của người chúng ta yêu thì chúng ta cần phải xét lại. Hai người là hai thế giới riêng biệt, với hai gia đình cha mẹ khác nhau, với anh em chị em, bạn bè khác nhau, với hai hoàn cảnh khác nhau và với hai tính tình, ý muốn khác nhau. Một cách hết sức thực tế, người ta có thể hài hòa những khác biệt này trong một khoảnh khắc nào đó, nhưng chỉ trong một khoảnh khắc mà thôi. Sự hài hòa không thể kéo dài trong suốt cuộc đời với những thăng trầm của kiếp sống, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi có thể có. Những câu hỏi trong lãnh vực này có thể đặt ra trước ngày cưới, và ngay cả sau ngày cưới trong đời sống gia đình là: (cho cả hai người) - Liệu tôi có thật lòng chấp nhận một cách vui vẻ, thoải mái gia đình, anh em bạn bè của người tôi yêu không? - Nếu không chấp nhận, tôi sẽ có thái độ nào? Liệu thái độ đó có làm tổn hại đến tình yêu của hai người không? - Người tôi yêu có hiểu mọi vấn đề như chính tôi hiểu không? - Tôi nghĩ gì về những thói quen (tốt và không được tốt) của người tôi yêu? Tôi chia sẻ thế nào trong những thói quen này? - Tôi có độc tài quyết định những vấn đề đời sống và ép buộc người khác phải theo không? Dĩ nhiên sẽ còn cả trăm ngàn câu hỏi khác về những khía cạnh khác, tùy theo hoàn cảnh, cá tính và điều kiện sống của hai người đang yêu nhau đang muốn thành lập một gia đình hạnh phúc. 3. Ý thức về đời sống gia đình. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 12
  13. 13. Khi hai người yêu nhau, họ nghĩ họ sẽ là tình nhân của nhau suốt đời để yêu thương chiều chuộng, làm vừa lòng nhau. Mặc dù họ đang chuẩn bị ngày cưới và ngay cả khi vừa cử hành hôn phối với nhau xong, họ vẫn chưa thật sự có ý thức rõ ràng về vai trò làm vợ và làm chồng: Họ vẫn nghĩ họ chỉ là hai tình nhân. Thật sự, khi chưa có con cái, trong những ngày tháng đầu tiên của cuộc sống chung, họ chưa có những vấn đề phải giải quyết trong thực tế của đời sống gia đình. Một vài câu hỏi gợi ý cho những người đang yêu nhau, đang dự tính thành lập gia đình: - Trong gia đình cha mẹ tôi, những vấn đề nào khiến cha mẹ tôi lo lắng và dành nhiều thời gian để lưu tâm nhất? Liệu tôi có thể cáng đáng, giải quyết những vấn đề này không? - Trong những trường hợp này, vai trò người vợ hay chồng là vai trò nào, hợp tác ra sao? - Những gia đình tôi quen biết, mẫu gia đình nào tôi sẽ bắt chước theo? Bằng cách nào? - Nếu có những bất thuận, xung đột trong gia đình tôi, tôi sẽ có thái độ nào? Thái độ của tôi có phải là thái độ đúng không? 4. Ðộng lực kết hôn. Thông thường, khi hai người quyết định kết hôn, động lực chính là tình yêu của họ. Nhưng cũng không thiếu những trường hợp gia đình được thành lập do những lý do khác hơn là tình yêu, hoặc tình yêu chỉ là một yếu tố kém quan trọng so với những yếu tố khác, khiến họ quyết định kết hôn, thành lập gia đình. Thật đáng buồn, đó là chỉ khi mất hạnh phúc do những xung đột không thể hàn gắn được nữa, người ta mới kiểm điểm lại l{ do đã khiến họ cử hành hôn phối, lập gia đình. Những yếu tố được liệt kê sau đây có thể là những điểm căn bản khiến một gia đình tan vỡ: - Cử hành hôn lễ chỉ vì đã lỡ trao thân cho nhau. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 13
  14. 14. - Cử hành hôn lễ chỉ vì muốn dọn ra khỏi mái nhà đang sống. - Chỉ vì trốn một thất bại trong đường tình ái, hoặc chỉ vì muốn chứng tỏ mình thắng cuộc trên trận chiến tình cảm với người khác. - Chỉ vì thương hại, thay vì yêu thương. - Chỉ vì sự hấp dẫn của thân xác. - Chỉ vì tiền bạc hay nơi nương thân, tiến thân. 5. Việc giao tiếp giữa vợ chồng trong gia đình Khi cử hành hôn phối, cả hai người đã thay phiên nhau nói lên lời ưng thuận kết hôn và hứa sẽ yêu thương và kính trọng nhau mọi ngày trong đời sống. Yêu thương và kính trọng. Cả hai quan niệm xưa và nay của Ðông và Tây đều thái quá: Chồng chúa vợ tôi của một vài quốc gia A¨ Châu hay "lady first" của một số quốc gia Tây Phương. Quan niệm trước coi người chồng như chủ, như Chúa. Trong vai trò làm chủ, làm Chúa, người chồng lãnh đạo, điều khiển những người trong gia đình, với họ, vợ con chỉ đóng vai trò phụ thuộc là nghe theo, là vâng lời. Trong quan niệm thứ hai, người vợ coi như mình được hưởng những qui định, bênh vực của một "cơ cấu xã hội mới", người đàn ông phải phục tùng, nhường nhịn, đóng vai trò thứ yếu trong những sinh hoạt của đời sống, ngay cả trong đời sống gia đình. Quan niệm, hay đôi khi được coi là giáo huấn của một số quốc gia vùng A¨ Châu, do Khổng tử xướng xuất là một quan niệm lạc hậu, không thích hợp cho định nghĩa gia đình trong một xã hội văn minh của thế giới hôm nay: "Huynh đệ như thủ túc, phu thê như y phục". Theo quan niệm này, cha mẹ, anh em như thể tay chân, không thể cắt lìa; còn vợ chồng như thể quần áo, muốn thay đổi lúc nào tùy ý. Như thế, nếu cần trong một hoàn cảnh nào đó, phải theo cha mẹ anh em mà bỏ vợ hay bỏ chồng. Tất cả những điều được gọi là quan niệm như trên, có thể một phần đóng góp vào việc xây dựng hạnh phúc gia đình, đồng thời cũng có thể góp phần như những động lực làm một gia đình tan vỡ. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 14
  15. 15. Ðiều quan trọng những vợ chồng phải nhìn thấy, chấp nhận và vượt qua là trong đời sống chung sẽ có những khó khăn. Sự khó khăn đôi khi rất nhẹ nhàng và đôi lúc khác rất tàn nhẫn. Giao tiếp trong cuộc sống chung vợ chồng là việc gặp gỡ, hàn huyên, chia sẻ những sinh hoạt cá nhân cũng như những biến cố của gia đình. Freud, một tâm sinh lý gia người Ðức khi đề cập đến cuộc sống chung của vợ chồng trong đời sống gia đình, ông đã khuyên hai vợ chồng không những coi nhau như vợ, như chồng, nhưng hai người phải coi nhau như hai người bạn thân để hàn huyên, tâm sự, chia sẻ với nhau. Những vợ chồng, con cái có quá ít thời giờ gặp gỡ nhau dễ rơi vào tình trạng thiếu thông cảm. Họ lý luận rằng họ bận bịu nhiều với công việc làm ăn, họ lo vật chất cho gia đình. Nhưng họ phải ý thức rằng vật chất trong đời sống gia đình quan trọng thật, nhưng hạnh phúc, sự thông cảm và sinh hoạt chung giữa vợ chồng, con cái trong gia đình còn quan trọng hơn. Họ hối hận nhưng đã muộn khi nhìn thấy ngân quỹ của gia đình dồi dào, nhưng hạnh phúc, sự thân mật vui vẻ, và thông cảm trong gia đình không còn như trước nữa. Hạnh phúc thay những gia đình biết nối kết, chia sẻ tình yêu giữa những người cùng sống dưới một mái ấm gia đình, dù trong một vài hoàn cảnh, vật chất tuy có eo hẹp, nhưng hạnh phúc thì tràn đầy. Ngược lại, những vợ chồng, con cái có quá nhiều thì giờ để gặp nhau, thay vì không có đủ thời giờ thông cảm, chia sẻ họ lại có quá nhiều cơ hội khiến niềm vui bên nhau trở thành gánh nặng chịu đựng nhau. Bên cạnh đó, chắc chắn khi có quá nhiều thời giờ gặp nhau như thế, vật chất của gia đình sẽ không được dồi dào. Cả hai yếu tố thiếu thốn về vật chất và sự chịu đựng lẫn nhau sẽ có thể là động lực làm gia đình rạn nứt. 6. Tiền bạc. Khi yêu nhau, người ta không kể đến vấn đề tiền bạc. Có những người còn cho rằng tiền bạc không nên chen vào tình yêu. Qua đời sống gia đình, người ta học hỏi được nhiều tài khéo. Một trong những tài khéo đó là việc Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 15
  16. 16. thu xếp, điều hành tài chánh. Một điều không chối cãi được, đó là trong suốt thời gian trưởng thành, một người cũng đã biết thế nào là tiền bạc, thế nào là dư dả và thế nào là thiếu thốn. Nhưng trong đời sống chung vợ chồng, một người có thể chứng tỏ khả năng của họ trong lãnh vực này, thể hiện qua việc điều hành ngân quỹ gia đình. Những danh ngôn liên hệ có thể kể như sau: - Tiền bạc không mua được mọi sự, nhưng không có tiền thì không mua được gì cả. - Hạnh phúc không mua được bằng tiền. - Tiền bạc đi vào bằng cửa trước, hạnh phúc chạy ra bằng lối sau. Sau đây là những câu hỏi gợi ý về vấn đề tài chánh nên được những vợ chồng chia sẻ: - Thái độ của mỗi người về vấn đề tiền bạc: Hà tiện, dè xẻn hay hoang phí? - Tiền bạc là của chung của hai vợ chồng hay mỗi người đều giữ riêng? - Chương trình xây dựng gia đình trong lãnh vực tài chánh như thế nào? Ai là người giữ tiền? Ai là người quyết định trong việc chi tiêu? Hai người có thỏa thuận vui vẻ trong những quyết định này không? - Hai người có tin nhau trong lãnh vực tiền bạc không? 7. Những người chung quanh. a. Bạn bè: Phải nhận thức được một điều là người chồng hay người vợ có thể thích hay không thích một số những người bạn của vợ họ hay chồng họ. L{ do để thích hay không thích, ưa hay không ưa là những lý do có thể nói ra, chia sẻ được, nhưng cũng có thể là những lý do không tiện đề cập đến. Hạnh phúc của hai người trong gia đình là cần thiết nhất. Nếu vì một hay những người bạn mà hạnh phúc của hai vợ chồng bị ảnh hưởng thì hai người nên bàn hỏi, chia sẻ với nhau. Một người Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 16
  17. 17. bạn tốt là một người bạn, khi nhận thấy sự hiện diện của mình tạo nên sự mất hài hoà của gia đình bạn, họ biết âm thầm rút lui. Câu chuyện giết chó khuyên chồng thật có { nghĩa trong trường hợp này. b. Bà con họ hàng: Cha mẹ, anh em, họ hàng riêng của hai người là những người đã từng sống chung, chia sẻ với họ trong suốt thời gian niên thiếu. Họ hiểu biết, thông cảm và yêu thương những người thân của họ. Nhưng những vợ chồng nên biết điều này, đó là họ yêu thương mình theo cách thế của họ. Trong nhiều trường hợp, những cách thế này không thích hợp cho hạnh phúc của một gia đình khác. Một người thân thật sự thương yêu mình, là người biết tự ẩn mình đi, khi biết rằng sự xuất hiện của họ là đầu mối hay góp phần vào sự mất vui của gia đình người họ yêu thương. c. Xã hội:Xã hội chúng ta đang sống là một xã hội với những đổi thay nhanh chóng không ngờ. Sự đổi thay xảy ra khi một bè phái chính trị thắng cuộc. Sự đổi thay xảy ra khi người ta tranh nhau những nguồn lợi kinh tế. Tất cả những đổi thay này ảnh hưởng trên đời sống gia đình, ảnh hưởng đến tình yêu của vợ chồng. Trong một xã hội, những qui định, áp dụng của luật pháp là những nguyên tắc chung cho tất cả mọi người. Ðành rằng luật pháp được đặt ra để bênh vực cho mỗi công dân, mỗi cá nhân. Nhưng trong nhiều trường hợp, sự bênh vực cho người này là một bản án cho người khác. Pháp luật không xét về tình cảm, mà đời sống của một gia đình hoàn toàn được xây dựng trên tình cảm. Do đó, khi một gia đình đã phải nhờ luật pháp can thiệp là lúc gia đình đó đã nằm trên bờ hố thẳm của sự tan vỡ, khó lòng hàn gắn. Gia đình là một liên kết tình cảm, dù đông bao nhiêu, nhưng vẫn được điều hành, hướng dẫn do hai người trưởng thành. Hai người trưởng thành là vợ là chồng này có nhiệm vụ phải dung hoà những xung đột, bất hoà trong gia đình (nếu có), và chỉ nên giải quyết trong lãnh vực gia đình mà thôi trong sự trưởng thành của hai người lớn. 8. Con cái. Con cái thể hiện hạnh phúc gia đình. Một hôn phối chỉ được coi là một gia đình đúng nghĩa khi có con cái sinh ra. Con cái củng cố, phát triển tình yêu của cha mẹ, nhưng trong một vài trường hợp, con cái cũng đã là l{ do đưa đến những xung đột. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 17
  18. 18. Những xung đột này có thể nhận thấy trong những lãnh vực: phương pháp giáo dục con cái không được bàn luận, đồng ý một cách nhất trí giữa hai cha mẹ; tình yêu của cha mẹ hay của một người cha mẹ dành cho những đứa con không đồng đều. 9. Vấn đề tôn giáo. Người ta thường lý luận rằng khi yêu nhau, người ta chỉ cần hai người, và trong tình yêu, mọi khía cạnh khác đều là phụ thuộc. Một tình yêu thật là một tình yêu không phân biệt giai cấp, màu da, chủng tộc, ngôn ngữ hay tôn giáo. Trong những khía cạnh vừa kể, tôn giáo là vấn đề quan trọng, vì tôn giáo thuộc lãnh vực tâm linh. Khi yêu, người ta không những muốn có được vóc dáng, thân xác của người yêu mà còn muốn có được cả phần tư tưởng, những điều suy nghĩ của người yêu nữa. Nói một cách khác là khi yêu người ta muốn mọi sự của người yêu đều mang tính cách chung, thuộc về mình trong cả hai chiều hướng tâm lý: Nam giới muốn chinh phục tất cả và nữ giới muốn dâng hiến tất cả. Hơn nữa, trong đời sống gia đình với những hoạt cảnh nhân sinh, không phải lúc nào chúng ta cũng có thể vượt qua được hết những khó khăn hay trở ngại gây nên do cuộc sống chung. Có những vấn nạn chúng ta có thể giải quyết bằng khả năng riêng tư. Có những vấn nạn khác chúng ta phải nhờ đến những khả năng ngoại tại. Có những vấn nạn mà những khả năng ngoại tại trần thế không giúp được gì, chúng ta phải nhờ đến các thần linh, đến Thượng đế, đến Thiên Chúa, tùy theo niềm tin tôn giáo của mỗi người. Ðây cũng chính là nguồn gốc sự xuất hiện của các tôn giáo: Nhu cầu tâm linh. Nhu cầu tâm linh rất cần thiết cho con người, và càng cần thiết hơn cho đời sống chung của những cá nhân đang sống trong một gia đình. Tốt nhất là hai người cùng có chung một niềm tin. Ở giai đoạn đầu của tình yêu, phần lớn những nhu cầu tâm linh, được đáp ứng từ chính những cá nhân yêu nhau. Do đó, trong giai đoạn này, họ không cảm thấy những đáp ứng tâm linh từ bên ngoài là cần thiết, đôi khi họ có cảm tưởng rằng họ đã đủ cho nhau và tình yêu tuyệt vời của họ phải được Thượng đế hay Thiên Chúa chấp nhận, dù là một Thượng đế hay một Thiên Chúa khó Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 18
  19. 19. tính nhất. Nhưng dần dà trong đời sống chung gia đình, những đáp ứng tâm linh từ hai người yêu nhau giảm cường độ và có khi mất hẳn. Lúc này là lúc nhu cầu tâm linh trở thành một thứ nhu yếu phẩm cho hạnh phúc gia đình. Làm sao hai người có thể hòa nhập được những nhu cầu tâm linh khi hai người chạy đến với hai hay nhiều Thượng đế khác nhau trong lúc họ đang đi trên cùng một con đường? 10. Vấn đề tình dục Tình dục đóng một vai trò quan trọng trong đời sống hôn nhân. Mặc dù quan trọng, nhưng tình dục không phải là yếu tố duy nhất khiến cho hôn phối tan vỡ hay khiến cho hôn nhân hạnh phúc. Trong nhiều trường hợp, qua sinh hoạt tình dục của vợ chồng, người ta có thể phán đoán được một phần nào hạnh phúc hay không hạnh phúc của gia đình họ. Nói một cách khác, sinh hoạt tình dục diễn tả mức độ tình yêu của hai vợ chồng. Nhiều người nghĩ rằng đời sống tình dục của vợ chồng chỉ là động tác giao hợp của hai vợ chồng đó. Nếu nghĩ như thế, hoặc nặng hơn, nếu thực hiện { nghĩ này, sớm muộn gì, trong đời sống vợ chồng, người này sẽ trở thành một đối tượng cho người kia thỏa mãn nhu cầu thân xác khi bị đòi hỏi. Ðừng lầm lẫn đời sống tình dục của vợ chồng với sự ham mê sắc dục, hành động tà dâm. Tình dục trong đời sống gia đình được diễn tả trong Kinh Thánh: "Bởi lẽ đó, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắng khít với vợ mình" (Stk.2,23). Lời cầu nguyện của Tobia trong hôn lễ của ông với Sarah: "Chúa biết rằng không phải vì lý do sắc dục mà tôi lấy Sarah đây làm vợ" (Tb.8,7). Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Côlôsê đã đề cập đến lãnh vực này như sau: "Nguyện xin bình an của Ðức Kitô làm chủ trong lòng anh em, sự bình an mà anh em đã được kêu gọi tới để làm nên một thân thể" (Col.3,15). Những từ ngữ 'khắng khít', 'làm nên một thân thể', diễn tả một cuộc sống chung, một kết hợp không bị chia sẻ. Sự hiện diện bên cạnh nhau, diễn tả những hành động âu yếm, bày tỏ tình yêu và cuối cùng là tâm điểm 'làm nên một thân thể' của chính tình yêu của hai người. Hành động này là hành động được Thiên Chúa trao phó, ủy thác và chúc phúc trong ý hướng cộng tác với Ngài: "Hãy sinh sôi nẩy nở và hãy nên đầy dẫy trên trái đất" (Stk.1,28) Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 19
  20. 20. Do đó, những hành động âu yếm, những khắng khít là những cử chỉ, hành động tự nhiên phát xuất do tình yêu của hai người phải có cho nhau, nếu họ có tình yêu, nếu họ yêu nhau. Dĩ nhiên, những hành động cử chỉ này nếu được vợ chồng ý thức để diễn tả một cách khéo léo, nó sẽ không trở thành nhàm chán và chịu đựng. Nhưng cũng cần lưu ý, xã hội ngày nay đang lạc đường, nhấn mạnh một cách quá đáng các phương thế, kỹ thuật tạo khoái cảm tình dục. Nếu không khôn khéo, người ta dễ rơi vào việc ham mê sắc dục hay tà dâm thay vì diễn tả tính yêu vợ chồng. Hết Chương Hai ************ Một vài câu hỏi sau đây có thể có ích lợi trong vấn đề: - Quan niệm của tôi về tình dục vợ chồng như thế nào? Có bình thường không? Và người phối ngẫu của tôi? - Tôi có cảm thấy thoải mái trong việc diễn tả hay đón nhận những diễn tả tình dục của vợ hay chồng tôi không? - Tôi có bàn thảo về vấn đề tình dục giữa vợ chồng với vợ hay chồng tôi một cách thoải mái không? Nếu không thì tại sao? - Có nhiều khác biệt hay xung đột trong hành động diễn tả tình dục giữa hai vợ chồng tôi không? Nếu có, phải làm sao? - Quan niệm của tôi và của vợ hay chồng tôi về vấn đề chung thủy trong lãnh vực tình dục như thế nào? ***** Ðời sống gia đình mang lại rất nhiều hạnh phúc. Tuy nhiên, có nhiều vấn đề cần được lưu tâm một cách nghiêm trang, đúng đắn, phải được hai người đồng tâm chấp nhận và thực hiện. Ngược lại, thái quá trong bất cứ lãnh vực nào đều đưa tới những rạn nứt và cuối cùng là sự tan vỡ không tránh khỏi. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 20
  21. 21. Làm thế nào để sống "Bình thường" sau khi gia đình đã tan vỡ? Người ta có thể diễn tả việc tan vỡ của một gia đình bằng những từ ngữ khác nhau, tùy theo mức độ bi thảm xảy ra của hoàn cảnh: Ly thân, phân ly, chia tay, biệt ly và bình dân nhất, dửng dưng nhất là "thôi nhau rồi". Dù diễn tả bằng bất cứ từ ngữ nào, những người liên hệ là vợ, là chồng trong hoàn cảnh các gia đình tan vỡ đó, vẫn phải trải qua những giây phút sững sờ và đau khổ, dù họ có cho rằng việc tan vỡ, chia tay nhau là giải pháp cuối cùng, duy nhất để giải quyết tình trạng gia đình trong lúc đó đi nữa, sự đau lòng vẫn không tránh khỏi. Sự tan vỡ của một gia đình đưa đến việc ly biệt vợ chồng có nhiều điểm có thể so sánh với cái chết của một trong hai người. Tuy nhiên, với cái chết, nỗi tiếc thương về sự biệt ly, mất mát dù có phần nặng nề, nhưng không có phần cay đắng. Trong hoàn cảnh biệt ly, chia tay vợ chồng, con cái của một gia đình tan vỡ, có hiện diện của sự cay đắng vì sau khi chia tay rồi, biệt ly rồi, người kia vẫn còn đó và mình vẫn còn đây, cay đắng vì con vì cái, cay đắng vì thua thiệt, thiếu khả năng trong việc duy trì gia đình, để gia đình mình không được như các gia đình khác... Dĩ nhiên, trong vấn đề gia đình tan vỡ, gần như không có hoàn cảnh nào giống hoàn cảnh nào, nhưng tựu chung cho những trường hợp sự tan vỡ xảy đến một cách đột ngột, ta có thể đưa ra một mẫu số chung cho những diễn tiến tình cảm cá thể của những người liên hệ, nhất là những người đứng trong thế thụ động, phải đón nhận hoàn cảnh, không được dự phần chủ động: Có thể tạm chia những diễn tiến tình cảm cá thể ra làm bốn giai đoạn như sau: 1. Giai đoạn sững sờ: Vào một giây phút nào đó, chợt nhận thấy gia đình mình đang tuột dốc xuống bờ vực thẳm, sẽ kết thúc bằng sự tan vỡ, phân ly, không còn cách cứu vãn, người ta bàng hoàng, sững sờ, không còn suy tính, suy nghĩ và quyết định gì được nữa. 2. Giai đoạn nghi ngờ: Họ lý luận và không tin rằng làm sao một việc như thế có thể xảy ra cho gia đình họ được. Những gia đình khác thì có thể, nhưng gia đình tế kinh hoàng của sự tan vỡ có lẽ chỉ là một giấc mơ nhất thời, không phải là thực tế, xâm chiếm họ trong những giây phút đau khổ khi nghĩ tới việc phân ly. 3. Giai đoạn hối tiếc, tự trách mình: Họ cảm thấy việc tan vỡ gia đình này một phần lớn do lỗi lầm của họ: Ðúng ra tôi đã phải làm điều này hay đúng ra tôi đã không được làm điều nọ; giá mà tôi kéo Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 21
  22. 22. lại được thời gian, cải đổi được những biến cố... 4. Giai đoạn chán chường và buông xuôi: Thế là hết, bao nhiêu mộng đẹp xây dựng lúc ban đầu, ao nhiêu dự tính đều tan vỡ, tương lai không còn, cuộc sống thiếu lý tưởng, tình cảm trong họ thay đổi bất chợt, không kềm hãm được những xúc động nhất thời... Thật ra, những giai đoạn kể trên không xảy ra theo thứ tự vừa kể, có thể phân biệt được bằng một mốc thời gian nào đó, nhưng chúng xen kẽ vào nhau, lẫn lộn vào nhau để tạo nên một tình trạng chán chường, bi thảm trong con người, trong đời sống của người trong cuộc. LÀM THẾ NÀO ÐỂ VƯỢT QUA? Nếu không có một giai đoạn thứ năm thêm vào những giai đoạn kể trên thì thật là một thiếu sót. Ta có thể gọi giai đoạn này là giai đoạn làm thế nào để vượt qua tình trạng chán nản, bi thảm của hoàn cảnh: Một chỗ ở, một người để chia sẻ, một nâng đỡ về lãnh vực tài chánh có lẽ phải là những ưu tiên nhất trong hoàn cảnh này. Sau nhiều năm sống trong đời sống gia đình, có vợ, có chồng, có con cái, nay một người phải chấp nhận một đời sống khác, chưa kể đến những vấn đề có thể xảy ra đó là phải di chuyển đi một nơi khác, từ chối hay chọn lựa một số bạn bè giới hạn. Nhiều lúc họ cảm thấy cô độc và cô đơn trong hoàn cảnh mới, hoàn cảnh xảy ra khiến họ không chỉ mất gia đình của chính họ, nhưng một phần của xã hội chung quanh và bạn bè. Những người chung quanh là những gia đình quen biết, họ mặc cảm khi nhìn thấy người khác có vợ có chồng và sống với nhau dường như rất hạnh phúc. Ðiều nặng nề nhất họ phải chịu đựng, đó là mặc cảm phạm tội mỗi khi nhìn vào hoàn cảnh tôn giáo của chính họ. Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là bây giờ đi đâu và ở đâu? Ai chấp nhận và thông cảm cho một người "bỏ vợ hay bỏ chồng"? Trong suốt thời gian này lại còn những vấn đề liên hệ khác như lo liệu giấy tờ ly thân, li dị, chưa kể đến những phức tạp trong việc liên lạc với chính những ngừơi trong gia đình như người chồng, người vợ hay con cái của họ. Việc ly thân và ly dị ngày nay không còn là một khó khăn phức tạp nữa mà chỉ là việc kết thúc những thủ tục về hành chánh. Nhưng phần chọn lựa và lo lắng nằm trong lãnh vực quyết định cá nhân và luật pháp như ai sẽ là người nuôi nấng dạy dỗ con cái? gia tài, của cải sẽ phân chia như thế nào? Xã hội và Giáo Hội sẽ xử đối với họ ra sao? Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 22
  23. 23. Trong lúc tâm thần bất định như thế, họ vẫn buộc lòng phải quyết định nhiều vấn đề hệ trọng và kinh nghiệm cho thấy có nhiều quyết định đã được đặt căn bản trên tự ái, mất thăng bằng trong giây phút xao động tình cảm. Chúng ta đang đề cập đến khía cạnh khúc mắc của vấn đề, tuy nhiên cũng cần phải trình bày rõ ràng về vấn đề này vì xã hội chúng ta đang sống cũng cần được báo động về những khó khăn mà những người ly thân và ly dị đang phải đương đầu và cần trợ giúp. Xa hơn nữa, xã hội cũng cần phải được chuẩn bị để đương đầu với những vấn đề đang phát triển với một tốc độ khá nhanh. Số ly thân và ly dị trong một xã hội đánh giá mức độ cao thấp của xã hội đó và khi đề cập đến xã hội không thể không nói đến những vấn đề này. Có một số người đề nghị nghiên cứu về ly thân và li dị và xếp loại chúng như một kinh nghiệm phải trải qua về đời sống, một bước tiến phải vượt qua trong tiến trình đời sống con người, một người trứơc khi trưởng thành phải trải qua. Thật đau lòng khi phải đối diện với những đề nghị tắc trách như vậy. Ly dị là một đau khổ, một đau khổ nặng nề và dai dẳng. Nếu một người không thực sự yêu thương, không thực sự có ý muốn thành lập một gia đình, không thực sự đặt bất cứ một kz vọng nào vào cuộc sống lứa đôi thì ly dị đối với họ chỉ là một rắc rối phải vượt qua bằng thời gian. Mặc dù vậy, những điều đã đề cập trên chưa hẳn là tất cả những gì một người phải đương đầu nếu họ rơi vào tình trạng li dị. Không phải tất cả những người ly thân, li dị đều phải trải qua những đau khổ giống như nhau. Không phải tất cả đều bị khước từ như nhau. Có những bài học kinh nghiệm về đời sống được thu thập, người ta có thể học được kinh nghiệm qua những đau khổ của cuộc sống mặc dù không ai tình nguyện học những đau khổ này. Ðối với người Kitô Giáo, đây có thể được kể là một cảm nghiệm về sự chết và sự tái sinh. Hôn nhân không phải là con đường duy nhất dẫn người ta đến với Chúa. Thánh Giá trong đời sống là những đau khổ có thể là không cùng trong một vài trường hợp, dẫn đưa con người tới gần Núi Cavariô. Có một người trưởng thành trong đau khổ của hoàn cảnh ly dị đã thốt lên: "Nếu có toàn quyền lựa chọn, tôi đã không bao giờ chọn con đường tôi đang đi, nhưng tôi phải cảm tạ Chúa về những đau khổ tôi đã vượt qua được trong thời gian qua." Cũng có nhiều người trong hoàn cảnh ly dị, ly thân đã dồn hết tình yêu cho những đứa con của họ, những trẻ không may mắn có đủ cha mẹ như trong những đời sống gia đình bình thường. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 23
  24. 24. VIỆC TÁI HÔN. Một điều không lấy gì làm lạ, đó là hầu hết những người đã li dị sau đó đều lập gia đình một lần nữa. Có thể là họ tìm được trong lần tái hôn này những giải đáp cho những khó khăn họ đang phải đương đầu, có thể là họ phải tìm một cơ hội khác để chứng minh rằng mình có khả năng tạo lập một gia đình. Tuy nhiên trái với những điều nhiều người nghĩ, cảnh sống của những gia đình thành lập lần thứ hai này lại còn gặp nhiều khó khăn hơn cảnh sống của những gia đình được thành lập lần thứ nhất, như thế có lẽ chúng ta nên nhìn vào chính những khó khăn này hơn là đánh gía trị của họ như là lần đầu hay lần thứ mấy. Ðầu tiên có lẽ chúng ta nên nhìn vào nguyên nhân gây nên những khó khăn trong việc tái hôn: chắc không phải vì họ còn quá trẻ để bị cho rằng thiếu kinh nghiệm để lập gia đình, nhưng họ tái hôn có thể chỉ vì họ muốn tìm quên, tìm một nơi ẩn náu để tránh những khó khăn, phiền phức đã gây ra từ lần đổ vỡ trước, hoặc chỉ vì cô đơn và chán nản, hoặc chỉ vì trở lại đời sống độc thân gặp quá nhiều khó khăn... Nếu một hay nhiều trong những nguyên nhân chúng ta vừa kể là động lực thúc đẩy họ kết hôn lần thứ hai thì phải coi chừng, vì những điều kể trên không phải là những yếu tố khiến một người quyết định kết hôn. Thứ đến, có thể nguyên nhân đã đưa đến sự tan vỡ của gia đình lần trước sẽ chính là nguyên nhân làm tan vỡ gia đình thứ hai. Thí dụ như sự hoang phí quá đáng của một người đã là nguyên nhân làm cho gia đình trước đó tan vỡ, và nay vẫn chưa được sửa đổi thì chính nó sẽ làm tan vỡ gia đình thứ hai này. Có thể trong lần thứ nhất, trong giấy tờ ly dị, một lầm lỗi nào đó đã được ghi nhận, nhưng nhiều người cho rằng đó chỉ là gán ghép cho có lệ, và để chứng minh điều này, họ thường cho người khác thấy lầm lỗi của người kia, chính lầm lỗi này mới là nguyên nhân của sự tan vỡ, họ nói như thế...Họ cho rằng lầm lỗi duy nhất của họ đó là họ chọn sai người, nếu họ đã chọn đúng người thì sự việc đã không xảy ra. Trong một vài trường hợp, điều này đúng, nhưng đây là một thái độ hết sức nguy hiểm. Thường sự tan vỡ của một gia đình do cả hai người gây nên, chỉ có khoảng 1% là do lỗi hoàn toàn của một bên. Phải nhìn thấy và chấp nhận lầm lỗi do mình gây ra, đừng vì quá xấu hổ hay đau lòng mà trốn tránh. Nếu chấp nhận ly dị là một bài học thì phải tìm xem mình đã học được những gì? Nếu tự mình không tìm được thì cần sự giúp đỡ của các nhà chuyên môn. Chưa tìm ra nguyên nhân khiến gia đình của mình tan vỡ thì khuyên đừng nên bao giờ lập gia đình một lần khác. Những người đã ly dị thường lớn tiếng khuyên những người còn độc thân hãy chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi dấn thân vào hôn nhân, còn chính họ, họ tự cho rằng họ đã có kinh nghiệm nên không cần Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 24
  25. 25. chuẩn bị gì cả, thật là một sai lầm nguy hiểm. Lần lập gia đình thứ hai là với một người khác chứ không phải là người trước kia và mọi thứ đều khác xa với những kinh nghiệm họ tưởng họ có thể áp dụng được. Cuối cùng, phải nhìn thấy có một vài tương tự khi so sánh ly dị với việc một người phối ngẫu qua đời. Ngừơi vừa góa vợ hay góa chồng vội vàng đi tìn người thay thế cũng nguy hiểm không kém gì người vừa ly dị. Niềm đau mất mát vì sự ra đi của người bạn đời cũng cần thời gian để nguôi ngoai và người còn lại cũng cần thời gian để chuẩn bị một đời sống khác với một người khác, không phải là người đã từng chia sẻ kinh nghiệm sống với mình trước kia. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 25
  26. 26. Những trường hợp hôn phối đã được tháo gỡ Ghi chú của tác giả: Những trường hợp sau đây là những trường hợp có thật đã được các Tòa Án Hôn Phối trên thế giới phân xử. Tuy nhiên, vì tính cách kín đáo, bí mật của Tòa Án, tác giả đã đổi tên, đổi họ và đổi ngay cả các chi tiết quan trọng khiến người trong cuộc có thể nhận diện ra hoàn cảnh của mình. Tác giả chỉ ghi lại 12 trường hợp điển hình. Dĩ nhiên trên đây chỉ là một số những trường hợp điển hình đã được tháo gỡ. Mỗi hoàn cảnh mỗi khác nhau, mỗi nguyên cớ một khác. Tác giả không thể trình bày mọi hoàn cảnh như những thí dụ. Những thắc mắc về hoàn cảnh của hôn phối của mình phải được trình bày diện đối diện với nhân viên Tòa Án, nếu cần được tham khảo hay thắc mắc. Trường hợp 1. Diwata sinh ngày 26/5/1938, rửa tội ngày 30/3/1941 tại Manila. Albert sinh ngày 29/7/1934, rửa tội ngày 30/12/1934 tại Manila. Hai người cử hành hôn phối tại nhà thờ Santa Cruz, Manila ngày 1/8/1959 trong hoàn cảnh như sau: Tháng Năm năm 1959, Diwata ghi tên tham dự cuộc tuyển lựa hoa hậu do Hội Hồng Thập Tự Quốc tế tại Manila bảo trợ. Với sự "can thiệp" của một tổ chức du đãng có thế lực, Diwata được chọn. Alberto lúc đó là một trong những anh chị trong tổ chức và là người lãnh đạo công tác giúp Diwata thành hoa hậu. Anh thú nhận với người cầm đầu là anh đã đem lòng thương yêu và muốn cưới Diwata làm vợ. Người cầm đầu do đó phác họa một chương trình để giúp Albert đạt được ước nguyện. Ngày 15/7/1959, sau giờ làm việc, tổ chức mời Hoa hậu Diwata dự bữa cơm tối tại nhà hàng Bulakena. Sau bữa cơm tối, Diwata được chở tới khách sạn Eastern Hotel. Tại khách sạn, tổ chức triệu tập một buổi họp kín với sự tham dự của Hoa hậu Diwata và buộc Diwata phải chọn một trong hai đề nghị: ký hôn thú với Albert hay sẽ bị giam giữ. Diwata đồng ý ký giấy hôn thú. Việc thu xếp hoàn tất ngay sau đó và giấy hôn thú được ký do Albert và Diwata ngày 15/7/1959. Sau khi ký giấy hôn thú, Diwata được trả tự do ra về. Ngày 16/7/1959, Albert nghĩ rằng Diwata đã là vợ mình nên tỏ ý muốn gặp Diwata. Do dự một lúc, Diwata nhận lời vì nghĩ rằng dù sao Albert cũng là người đã giúp cô trở thành hoa hậu. Khi hai người tới nhà hàng Bulakena, tổ chức lại đã có mặt đầy đủ. Họ đưa hai người tới khách sạn Airport Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 26
  27. 27. Lodge và tại đây, hai người sống chung với nhau đêm đầu tiên. Sáng hôm sau, tổ chức đưa hai người tới khách sạn Shellborne Hotel và giữ hai người tại đây hai tuần lễ cho đến ngày hôn lễ tại nhà thờ Santa Cruz 1/8/1959. Trong khi đó, gia đình của Diwata báo cáo với cảnh sát là con gái họ bị bắt cóc. Tổ chức sợ rằng họ sẽ gặp nhiều rắc rối nên đặt điều kiện với Diwata :"hoặc Diwata phải nhận rằng thương yêu và muốn lập gia đình với Albert, hoặc gia đình cô sẽ bị tàn sát". Vì biết thế lực của tổ chức và vì lo cho an ninh của gia đình, Diwata chấp nhận điều thứ nhất, cử hành hôn lễ với Albert tại nhà thờ Santa Cruz và trở thành nô lệ của tổ chức từ đó. Hai người sống chung với nhau đến năm 1970, sau đó họ ly thân. Diwata đứng đơn trình Tòa Án Hôn Phối Tổng Ðịa Phậm Manila ngày 15/4/1979 và hôn phối này được tuyên bố vô hiệu ngày 6/3/1980. Trường hợp 2. Henry là một sinh viên nghèo, mới tốt nghiệp Ðại học vài năm và được nhận vào làm việc tại một công ty lớn. Vì giỏi dang và siêng năng, Henry được đề cử vào chức vụ Giám đốc một chi nhánh của công ty. Một bữa tiệc mừng được tổ chức tại nhà của ông Tổng Giám Ðốc, tại đây Henry gặp Sonia, con gái ông. Hai người bị tiếng sét ái tình với nhau. Qua thời gian tìm hiểu, Henry nhận thấy vì Sonia được gia đình nuông chiều quá đáng nên tỏ ra hách dịch và cô giao thiệp với rất nhiều bạn trai. Mẹ của Sonia còn hách dịch hơn cả cô nữa. Nhận thấy Henry trẻ có tương lai, bà mẹ của Sonia muốn bắt làm rể, nên đề nghị hai người làm đám cưới. Bà đứng ra lo liệu việc đính hôn và tổ chức đám cưới. Henry thật tâm không muốn mặc dù anh có yêu Sonia, nhưng vì e ngại chức vụ của mình trong công ty sẽ bị đe dọa nên chấp nhận. Khi được tin, gia đình của Henry vui mừng và cũng muốn Henry làm đám cưới với Sonia vì tương lai của chàng. Henry cho gia đình biết rằng chàng không yêu thương Sonia nhiều lắm và tính nết của nàng không thích hợp với chàng. Gia đình chàng buồn bã ra mặt. Suy đi tính lại, vì tương lai của chính mình, vì gia đình khuyến khích. Henry xúc tiến việc đám cưới. Lễ cưới và tiệc cưới diễn tiến bình thường, vui vẻ. Ngay trong tuần trăng mật, hai người đã có những xích mích và hơn một năm sau đó, họ chia tay nhau. Sonia đệ đơn nơi Tòa Án Hôn phối xin tháo gỡ hôn nhân với lý do Henry không thật lòng khi Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 27
  28. 28. nói lên lời ưng thuận đồng ý kết hôn. Những chứng cớ được thu thập từ Henry, mẹ chàng và cha mẹ của Sonia. Tòa Án đã tháo gỡ hôn phối của họ. Trường hợp 3. Peter và Mary, cả hai người đều 17 tuổi lúc họ gặp nhau. Mary là con nuôi trong một gia đình khá giả. Tuy nhiên, tình cảm giữa Mary và bà mẹ nuôi không được tốt đẹp lắm. Mary luôn cho rằng vì cô là con nuôi nên không thể nào có được tình thương như con ruột. Gặp Peter, lúc ban đầu hai người rất thâm mật với tình yêu thương đậm đà, nhưng dần dần tình yêu phai lạt, hờ hững. Cuối cùng hai người chia tay nhau. Hai tháng sau, Mary mới biết mình đã mang thai với Peter. Cô liên lạc lại với anh và hai người đồng { cho hai bên gia đình biết. Hai gia đình buồn rầu ra mặt, nhưng sự thể đã lỡ làng biết giải quyết thế nào, họ để tùy hai người trẻ quyết định. Nếu hai người muốn làm đám cưới, hai bên gia đình sẵn sàng đứng ra lo liệu, nhược bằng họ quyết định chia tay, bên gia đình ba má nuôi Mary sẽ cáng đáng việc thai nghén, sanh đẻ của Mary. Mary quyết định làm đám cưới, nhưng không tỏ lộ sự sốt sắng hay rộn rã của một người con gái sắp về nhà chồng. Dù ngại ngùng, nhưng hai gia đình vẫn thu xếp hôn phối của hai người khá tươm tất với lễ cưới, tiệc tùng v.v... Sau đám cưới, ngoại trừ một vài lần miễn cưỡng ưng thuận, Mary từ chối không chung chạ với chồng. Cô tuyên bố cô sẽ ở với Peter cho đến khi sanh, để khi sanh, con cô là đứa con có cha và để cho mọi người chung quanh khỏi dị nghị. Sau khi sanh, cô ở lại với Peter được vài tháng, sau đó dọn về nhà cha mẹ nuôi và cuối cùng dọn ra riêng ở một mình với đứa con nhỏ. Peter nộp đơn ra Tòa Án hôn phối xin tháo gỡ hôn nhân giữa anh và Mary. Dựa trên căn bản việc Mary chỉ ưng thuận nói lên lời kết hôn vì đứa con sắp sinh, vì lời dị nghị của người chung quanh chứ không phải vì yêu thương Peter và muốn sống với Peter suốt đời. Chứng cớ được thu thập từ những nhân chứng, Tòa Án hôn phối tuyên bố hôn nhân giữa Peter và Mary không thành sự. Trường hợp 4. Ðầu năm, Cecilia đính hôn với Richard, họ dự định làm lễ cưới vào cuối năm. Cecilia thường hội họp Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 28
  29. 29. với một nhóm người trong tổ chức "Thế Giới Mới". Tổ chức này quan niệm rằng trẻ con là nguồn sinh ra ô nhiễm trong thế giới ngày nay, do đó, nếu có lập gia đình thì không nên có con cái. Richard không đồng ý với quan niệm này. Cuối cùng trong một cuộc tranh luận, khi hai người đề cập đến vấn đề con cái, họ cãi nhau kịch liệt và hủy bỏ đám cưới vì lý do Cecilia không muốn có con, nhưng Richard lại muốn có. Một năm sau Cecilia quen với Anthony. Cecilia không muốn sự việc xảy ra như lần trước với Richard, nên cô không nói chuyện này với Anthony. Hai người yêu thương nhau và thực hiện hôn phối. Cecilia tránh không đề cập tới vấn đề con cái khi được thẩm vấn. Ðám cưới diễn ra bình thường. Hai người sống với nhau như những vợ chồng bình thường khác, ngoại trừ việc Cecilia xử dụng các phương tiện ngừa thai và ngay cả một lần phá thai. Anthony hoàn toàn không biết gì về việc này. Sau sáu năm chung sống, Cecilia sợ các phương pháp ngừa thai sẽ gây nên hậu quả ung thư sau này nên cô thú thật với Anthony và đề nghị Anthony đi bác sĩ cột ống dẫn tinh. Anthony nổi giận khi biết vợ mình đã tránh né việc có con cái trong suốt thời gian chung sống, dứt khoát quyết định bỏ nhà ra đi. Không lâu sau đó, Anthony biết được nguyên do tại sao đám cưới giữa Cecilia và Richard bị hủy bỏ. Anthony trình bày hoàn cảnh của mình nơi Tòa Án hôn phối.Tòa Án Hôn Phối sau khi thu thập đủ chứng cớ, tuyên bố hôn phối giữa Cecilia và Anthony bất thành sự. Trường hợp 5. Monica rửa tội sau ngày sinh một tuần lễ, nhưng khi lớn lên bỏ bê việc đạo đức, không siêng năng, sốt sắng giữ đạo, chơi bời giao du với những bạn bè không tốt và tập tành nhiều thói xấu. Paul là một thanh niên ngoan đạo, có đời sống nhân đức. Hai người gặp nhau, quen nhau. Từ khi quen Paul, nghe lời khuyến dụ của Paul, Monica bắt đầu siêng năng đi lễ, đi nhà thờ, bỏ dần dần các thói quen xấu, từ giã các bạn trai đã quen trước đó. Trong lần từ giã nọ với một người bạn trai, Monica đã không giữ mình được và ngã vào vòng tay của người bạn trai đó. Monica mang thai. Khi được tin Monica mang thai, gã bạn trai nọ quất ngựa truy phong, dọn nhà đi tiểu bang khác trốn biệt tích. Monica trình bày sự việc với Paul để chia sẻ và nâng đỡ. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 29
  30. 30. Là người tốt, Paul đề nghị lấy Monica làm vợ và hứa sẽ coi đứa con sắp sinh như con của mình và Paul cũng yêu Monica nữa. Monica không đồng ý, cô nói rằng chả thà phá thai, còn hơn là làm đám cưới với người mình không thương yêu. Nhưng khi nói chuyện với ba má, Monica lại nói rằng Paul là cha của đứa nhỏ cô đang cưu mang và cô sắp làm đám cưới với Paul. Với bạn bè của cô, khi được hỏi về đám cưới, cô nói rằng lập gia đình với Paul chỉ là vì bị 'tai nạn', khi tai qua nạn khỏi, nếu vui, hạnh phúc thì tiếp tục, bằng không chấm dứt lúc nào cũng được. Paul hoàn toàn không nghe biết được những chuyện này. Ðám cưới diễn ra tưng bừng vui vẻ. Năm tháng sau đứa bé chào đời. Paul thật sự coi đứa nhỏ như con, nâng đỡ, chia sẻ chiều chuộng Monica hết mực. Monica lại coi những tình cảm và cử chỉ của Paul là bố thí, là thương hại và cô tự ái. Tự ái này đã đưa Monica đến việc bỏ nhà ra đi một mình để lại đứa nhỏ cho Paul nuôi. Paul chân tình nuôi nấng đứa nhỏ không phải con của mình chờ đợi ngày Monica trở lại. Năm năm sau, không còn sức chờ đợi nữa, Paul trình bày hoàn cảnh của mình nơi Tòa Án Hôn Phối. Sau khi điều tra, thâu thập chứng cớ từ Paul, Monica và các nhân chứng đáng tin cậy. Tòa Án tuyên bố hôn phối của hai người không thành sự lúc cử hành, dựa trên căn bản Monica đã không thật sự có ý chung thủy trong đời sống hôn phối. Trường hợp 6. Albert là tài xế xe vận tải hạng nặng chạy xuyên bang. Natalie là cô bán hàng trong một siêu thị. Hai người đã quen nhau hai năm mới làm lễ cưới. Sau sáu năm chung sống có hai mặt con, họ thôi nhau. Theo sự yêu cầu của Natalie, lễ cưới của họ đã được Tòa Án Hôn Phối tháo gỡ sau hơn một năm điều tra thu thập chứng cớ từ những nhân chứng đáng tin cậy. Câu chuyện hôn phối của họ như sau: Trong suốt thời gian quen nhau, họ chỉ gặp nhau vào những ngày Albert lái xe chở hàng trở về tiểu bang họ đang sống. Tại một tiểu bang khác, nơi Albert thường lui tới, anh lại quen thêm một cô gái khác và chung sống với cô này mỗi lần hai người gặp nhau. Ngay cả sau thời gian anh đã đính hôn với Natalie cũng vậy, cuộc tình vụng trộm vẫn tiếp tục, anh còn hứa cả với cô ta là khi thu xếp mọi chuyện xong hai người sẽ lấy nhau. Albert không cho vợ sắp cưới biết về cô gái nọ và cũng không cho cô gái nọ biết anh đã đính hôn và sắp cưới vợ. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 30
  31. 31. Lễ cưới của hai người diễn ra trang trọng trong nhà thờ và tưng bừng nơi tiệc cưới. Họ đi hưởng tuần trăng mật một tuần lễ tại bãi biển đẹp nhất nước. Sau tuần trăng mật, hai vợ chồng trở lại cuộc sống bình thường: Natalie đi làm tại siêu thị còn Albert tiếp tục lái xe xuyên bang, tiếp tục gặp gỡ, chung chạ vụng trộm với người tình phương xa. Anh không hề kể cho người tình này biết gì về đám cưới của anh cả. Cô gái vẫn kiên nhẫn, âm thầm chờ ngày Albert thu xếp xong công chuyện để làm đám cưới. Bị thúc dục nhiều lần, cuối cùng, Abert bèn phải đính hôn với cô ta cho có lệ qua một thủ tục đơn giản và một chiếc nhẫn kim cương. Một ngày kia, cô gái phương xa nọ nghi ngờ Albert ngoại tình bèn chú tâm theo dõi. Khăn gói lên đường xuyên bang, cô ta bắt gặp Albert và một cô gái trẻ sống chung với nhau (cô gái này chính là Natalie - vợ anh). Thế là cô ta làm ầm lên, xỉ vả anh ta và Natalie không tiếc lời. Kết quả là Natalie gào lên khóc lóc thảm thiết cuốn gói bỏ nhà ra đi không bao giờ trở lại. Trường hợp 7. Roger là một bác sĩ y khoa trẻ khá nổi tiếng về nghề nghiệp cũng như về sinh hoạt chính trị. Anh có hoài bão sau này sẽ trở thành người lãnh đạo lớn. Roger gặp Penelope, con gái của một chính trị gia, đồng thời cũng là một nhà triệu phú. Penelope sau khi tốt nghiệp trung học, được gửi sang Thụy sĩ theo học một trường Ðại học nổi tiếng của Âu Châu. Hai người thật xứng đôi vừa lứa, nhưng thật ra hai người chỉ là bạn với nhau mà thôi. Roger đã có tình với một người con gái khác là Candida. Trong một lần tiễn chân Penelope lên đường sang Thụy sĩ sau kz hè, nhà triệu phú tổ chức một bữa tiệc tiễn chân con gái, Roger cũng được mời tham dự. Có lẽ vì cả hai người đều quá chén chăng, nửa đêm ông triệu phú bắt gặp Roger và con gái yêu của mình đang làm chuyện tồi bại trong phòng ngủ của con gái ông. Ðùng đùng nổi giận, ông bắt Roger và Penelope phải lấy nhau, ông là người thủ cựu, không quan niệm khác được. Khi hai người nhận lỗi và phản đối việc cưới hỏi, ông tuyên bố rằng ông sẽ làm ầm ỹ lên và tương lai của cậu bác sĩ chính trị gia sẽ chỉ là đống bọt ngoài bãi biển, và tương lai của con gái ông là sẽ không được ghi tên trong bản di chúc của ông sau này, nghĩa là mất phần gia tài kếch sù của ông để lại. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 31
  32. 32. Hai người gượng vui làm đám cưới, cười cười, nói nói trong lễ cưới và tiệc cưới, nhưng trong lòng thì tan nát dở dang. Một năm sau, hôn nhân tan rã. Roger nộp đơn xin tháo gỡ. Tòa Án tuyên bố hôn phối vô hiệu dựa trên căn bản của việc sợ hãi và cưỡng ép khi nói lời ưng thuận kết hôn. Trường hợp 8. Rosa là một cô gái nhà quê, sống trong một làng đánh cá ven biển. Rosa gặp thủy thủ Simon, năm cô 18 tuổi. Dù đã 18 tuổi, nhưng Rosa rất đơn sơ vì sống trong một gia đình nhà quê mộc mạc, chân lấm tay bùn. Những hẹn hò với người tình thủy thủ luôn luôn có người chung quanh hiện diện và cũng không được thường xuyên lắm. Trước ngày cưới, mẹ Rosa cũng đã rỉ tai cho con gái những điều cần thiết phải biết, nhưng vì hoàn cảnh và vì thói quen giáo dục của gia đình, Rosa cũng chỉ ậm ừ cho có lệ. Từ một hoàn cảnh như thế, Rosa tin tưởng rằng nếu cô đắp chiếc mền của chồng cô thì cô sẽ mang thai, còn chuyện chung chạ là "chuyện mấy người đàn ông thường làm", cô không từ chối, nhưng kệ họ. Mỗi lần thủy thủ Simon đi công tác xa, Rosa lấy chiếc mền của anh quấn vào người với hy vọng sẽ mang thai. Cô không hề có một ý niệm mong manh nào về liên hệ giữa việc chung chạ vợ chồng và vấn đề có con cái. Và vì thế, sau một thời gian chung sống Rosa cảm thấy bực mình về "chuyện mấy người đàn ông thường làm". Ban đầu là chuyện chống đối không hợp tác, sau là từ chối luôn, không chung chạ với người chồng thủy thủ nữa. Nhiều lần bị ép buộc, Rosa bỏ nhà về nhà bố mẹ và không chịu trở về với chồng, với l{ do cô không đồng ý và tán thành "chuyện mấy người đàn ông thường làm" mà thủy thủ Simon thường thực hiện với cô. Simon chán nản sống chung với một người con gái khác, mặc cảm tội lỗi đã đưa Simon đến Tòa Án Hôn Phối trình bày sự việc và xin giúp đỡ. Sau khi điều tra, thu thập chứng cớ, Tòa Án tuyên bố hôn phối giữa Simon và Rosa không thành sự khi cử hành, dựa trên căn bản Rosa không biết gì về nhiệm vụ và hành động phải có của vợ chồng trong việc hợp tác với tạo hóa sinh sản con cái. Trường hợp 9. Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 32
  33. 33. Sandra 30 tuổi, xuất thân từ một gia đình nghiêm khắc, đạo giáo. Sandra học hành giỏi dang, tốt nghiệp ngành thương mại, được bổ nhiệm làm phụ tá giám đốc xuất bản tại chi nhánh của một nhà in lớn. Mặc dù cô đã lớn tuổi, nhưng vì có nhan sắc nên nhiều người theo đuổi. Trong số những người theo đuổi đó, Sandra có cảm tình với Stephen nhất, nhưng đồng thời cô cũng biết rằng Stephen không phải là người chồng lý tưởng cho cô trong đời sống, anh đẹp trai, hào hoa nhưng phóng đãng. Trong nhóm người theo đuổi cô có anh Terry là người si tình cô nhất, anh sẵn sàng hy sinh mọi sự để đạt được Sandra. Sandra rất dè dặt trong việc giao thiệp với bạn bè nam giới. Với một thái độ rất cẩn trọng, đôi khi cô nhận lời mời của Stephen và đôi khi khác cô nhận lời mời của Terry. Trong một bữa tiệc sinh nhật của bạn bè, Stephen cố tình phục rượu cho Sandra. Sandra say lúy túy và khi thực sự tỉnh dậy, cô thấy mình đã thất thân với Stephen. Stephen hứa đủ thứ chuyện, nào là đám cưới, nào là nhà cửa xe cộ v.v...Một tháng sau đó, Sandra thấy cơ thể của cô khác lạ, đi chẩn bệnh, bác sĩ cho biết cô đang mang thai. Tin được báo cho Stephen. Thay vì vui mừng đón nhận, Stephen tỏ ra lạnh nhạt và còn hỏi những câu hỏi đau đớn: Không biết bào thai có phải do chính anh tạo ra không, và xa hơn nữa, Stphen còn đề nghị phá bỏ lấy lý do là vì hai người chưa thể lập gia đình ngay lúc này được... Hoảng hốt với bào thai một tháng trong người, Sandra hẹn gặp Terry, cô phục rượu cho Terry và cố tình thất thân với anh. Sau một vài tuần lễ, ngập ngừng, Sandra tỏ cho Terry biết cô đã mang thai. Vui mừng khôn tả, Terry tưởng chính anh là tác giả, anh đề nghị hai người làm đám cưới. Ðầu tiên Sandra giả vờ chống đối, nhưng sau đó vì Terry cố thuyết phục, nên cô chấp thuận. Ðám cưới diễn ra rình rang vui vẻ. Hai tháng sau ngày cưới, Sandra bị sẩy thai, cô cho đó là một điều vui mừng vì từ nay không phải lo lắng, bối rối về điều cô đã cố tình lừa dối Terry. Cô bắt đầu thương yêu, săn sóc Terry để đền bù lại những gì cô đã làm. Họ sống khá hạnh phúc trong năm đầu tiên sau ngày cưới. Trong một dịp tình cờ nọ, Terry gặp Stephen và một số bạn bè. Sau một hồi bàn luận chuyện thời tiết, chính trị, họ đem chuyện cưới hỏi của Terry ra làm đề tài. Terry nghe biết chuyện, đau khổ không ít, anh cố gắng quên, tha thứ cho Sandra. Nhưng càng cố gắng bao nhiêu thì anh lại càng khổ tâm, gắt gỏng bấy nhiêu. Ðời sống gia đình bắt đầu lục đục. Khi đã biết chồng khám phá ra sự lừa dối bí mật của mình, Sandra bỏ nhà ra đi. Hối hận về việc đã làm, Sandra trình bày với Tòa Án Hôn Gioan_hung@yahoo.de (suu tam) Trang 33

×