Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

HàNh HươNg Theo BướC ChâN ThầY

776 views

Published on

Published in: Education, Sports
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

HàNh HươNg Theo BướC ChâN ThầY

  1. 1. HÀNH HƯƠNG THEO BƯỚC CHÂN THẦY<br />10985568580<br />§1 <br />Hành Hương Theo Bước Chân Thầy<br />Từ Đất Kangaroo mà đi Đất Thánh vào cuối tháng Bẩy quả là một liều lĩnh: khách hành hương phải kinh qua hai thái cực của Đông và Hạ. Nhưng đối với bản thân tôi, khó còn con đường nào khác. Đất Thánh nằm trong mơ ước đã từ rất lâu. Và từ cuối 2004, lúc vừa về hưu, việc đầu tiên tôi nghĩ tới là đi Đất Thánh để có dịp được theo bước chân Thầy, như kiểu nói của H.V. Morton (1). Nhưng các biến động quân sự cũng như chính trị tại Do Thái từ những năm đầu của Thiên Niên Kỷ Thứ Ba với những intifada liên tiếp xẩy ra và chính sách cứng rắn của Ariel Sharon khiến cho viễn tượng tới Đất Thánh gần như trở thành viển vông. Năm 2005, tôi có tham gia một cuộc hành hương gọi là theo bước chân Môsen, Thánh Gia và các Tông Đồng Phaolô, Gioan, Phêrô và Giacôbê, tới Cairô, Núi Xinai, Compostella, Smiếcna, Êphêsô, Patmos, Côrintô, Nhã Điển và Rôma. Nhưng Đất Thánh đúng nghĩa thì vẫn nằm ngoài bước chân mình. Cuộc tông du của Đức Bênêđíctô XVI tới Đất Thánh vào tháng Năm vừa qua không những mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp cho mối liên hệ giữa Tòa Thánh, Nhà Nước Do Thái và Thẩm Quyền Palestine, cũng như cho các liên hệ đầy hứa hẹn giữa ba niềm tin lớn của nhân loại là Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Kitô Giáo, mà còn hé mở cho thấy cả người Do Thái lẫn người Palestine đều rất cần các khách hành hương, bởi du lịch vẫn là nguồn lợi kinh tế quan trọng cho cả hai. Mặt khác, cuối năm 2008, từ Việt Nam, ít nhất cũng đã có 2 phái đoàn hành hương tới Đất Thánh, một do Đức Hồng Y Phạm Minh Mẫn cầm đầu, và một do Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn hướng dẫn. Cả hai phái đoàn đều có những phản hồi tích cực. Và tại Sydney, hai phái đoàn, một Việt, một Úc, cũng đã dự tính lên đường tới Đất Thánh vào đầu tháng Bẩy và đầu tháng Chín, năm 2009. Tất cả những biến cố ấy khiến mộng ước tới Đất Thánh của tôi trở thành hết sức chín muồi, không thực hiện, nó sẽ rơi rụng và thối rữa mất. Do Thái tại Hồng KôngVợ chồng tôi quyết định tham gia một phái đoàn hành hương khởi hành từ Sài Gòn vào cuối tháng Bẩy, thay vì cùng đi với phái đoàn do Cha Văn Chi hướng dẫn, khởi hành từ Sydney vào cuối tháng Sáu. Một phần vì đàng nào, chúng tôi cũng phải về Sài Gòn để dự lễ cưới và lễ hỏi của hai đứa cháu, con người anh em cột chèo, vào đầu tháng Tám. So ra, về phương diện chi phí, không khác nhau bao nhiêu: kể cả vé máy bay khứ hồi từ Sydney về Sài Gòn và chi phí cho trọn chuyến đi về Đất Thánh, mỗi người chúng tôi chỉ phải trả chưa tới bốn nghìn Úc Kim. Đường đi tất nhiên có dài hơn và do đó, vất vả hơn một chút. Trước nhất, chúng tôi phải dừng chân tại phi trường Singapore từ nửa đêm tới sáng hôm sau mới có chuyến bay về Sài Gòn. Ở đấy chưa đầy một ngày, đã phải khăn gói ra phi trường Tân Sơn Nhất để đáp chuyến bay Cathay Pacific đi Hồng Kông. Lần đầu tiên được đặt chân tới phi trường Hồng Kông, khách hành hương khá phấn khích. Đó là một phi trường lớn. Đi hoài không hết. Một phần, vì anh hướng dẫn viên không thông thạo đường đi nước bước ở đây, nên cả gần một giờ sau, đoàn mới tìm ra quầy “check-in” của Hãng Hàng Không El Al của Do Thái. Hồn phách chưa ổn định, khách hành hương đã phải giáp mặt với bộ máy an ninh nghiêm nhặt của Nhà Nước Israel ngay trên mảnh đất cựu thuộc địa của Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị. Có thể nói: Nhà Nước ấy đã thiết lập cả một bộ máy an ninh thu nhỏ ngay tại đây. Họ phỏng vấn từng khách hành hương, hỏi han về những người cùng đi, đồ đoàn mang theo bị họ lục lọi không sót một món, kể cả những món đã được gửi đi trước. Ngay cuốn Sách Hành Hương, gồm các bài đọc Thánh Lễ, các bài thánh ca, các trích đoạn Thánh Kinh, và nhiều hướng dẫn du lịch khác bằng tiếng Việt, cũng được nhân viên an ninh Do Thái kiên nhẫn rở từng trang khám xét. Bất cứ một đề nghị giúp bạn hành hương nào trong khả năng tiếng Anh cũng bị nhân viên Do Thái bác bỏ. Đoàn hành hương của chúng tôi chỉ có 15 người mà thời gian phỏng vấn và khám xét kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Vào được phòng chờ đợi chỉ còn biết tìm chỗ đặt tạm chiếc lưng xuống nằm nghỉ, chờ giờ máy bay cất cánh. Rất may, thời gian chuyển tiếp từ Cathay Pacific qua El Al khá dài: hơn 5 tiếng đồng hồ. Khởi đầu, chỉ có đoàn hành hương chúng tôi, sau có thêm sự hiện diện của đoàn “ô sin” người Phi Luật Tân, rồi lần lượt xuất hiện những người thuộc dòng giống được chúng tôi đoán là Do Thái, vì đa số họ đội mũ chỏm (kiểu mũ giám mục, nhưng mầu đen) hay mũ rộng vành cũng mầu đen. Người đội mũ chỏm có thể ăn vận bất cứ loại trang phục gì, nhưng người đội mũ rộng vành thường mặc quần dài đen, áo sơ-mi trắng và áo vét đen. Họ có phải là “rabbi” cả không? Cậu thiếu niên Do Thái 18 tuổi trả lời: không hẳn, họ chỉ là người “tôn giáo”. Không biết cậu ta có ý nói gì khi bảo họ là người “tôn giáo”. Sau này trên máy bay, tôi có hỏi một thương gia Do Thái ngồi bên cạnh, ông ta cũng cho biết “họ chỉ là người tôn giáo”. Phải chăng không phải người Do Thái nào cũng là người tôn giáo? Và như thế, có những người Do Thái không phải là người tôn giáo? Dù sao, thì cậu thiếu niên Do Thái 18 tuổi kia, người đang thi hành nghĩa vụ quân sự trong ba năm, cũng rất ghét “những người tôn giáo” đang nhởn nhơ trước mặt cậu tại phòng chờ của phi trường Hồng Kông này. Cậu bảo: bọn họ không thi hành nghĩa vụ quân sự, không đóng thuế như tôi. Và khi thấy nhóm người tôn giáo ấy bắt đầu đứng lên, hướng về Giêrusalem cầu nguyện, cậu bảo: thôi đi, về Giêrusalem mà thi hành nghĩa vụ quân sự và đóng thuế như tôi đi mấy cha nội!Hình ảnh nhóm người “tôn giáo” Do Thái đứng cầu nguyện ngay tại phi trường Hồng Kông khiến người ta phải chú ý. Họ “bất cần” thiên hạ. Tâm trí họ hoàn toàn mất hút vào lời cầu nguyện, đầy tính cộng đoàn. Và họ cầu nguyện bằng cả con người của họ, khiến ta nhớ tới lối cầu nguyện của Môsen, của Miriam chị gái ông, với trống với phách, với ca hát nhẩy múa hân hoan trước mặt Giavê. Người nào cũng có một Sách Cầu Nguyện loại bỏ túi, họ vừa đọc, vừa tiến lên phía trước, lùi lại phía sau, quay qua bên trái, quay qua bên phải, cúi đầu, dang tay, có khi xoay cả người một vòng. Điều đáng lưu ý, không một bóng phụ nữ nào trong nhóm họ. Cậu thiếu niên 18 tuổi cho hay: còn lâu họ mới ghét phụ nữ; họ là người không cần biết gì tới kế hoạch hóa gia đình, có những tay có tới hàng tá con. Bọn tôi nuôi chúng chứ họ có phải nuôi đâu!Tôi bước vào chuyến bay của hãng hàng không El Al để đi Tel Aviv với nhiều hình ảnh khá độc đáo về đất nước và con người Do Thái: một đất nước khá ý thức về sự mỏng dòn của nền an ninh riêng và những con người không đơn khối như người ta vốn nghĩ. Ngồi trên máy bay, cảm nghĩ về ý thức an ninh kia càng lớn thêm lên: Từ Hồng Kông đến Tel Aviv, nếu bay theo đường thẳng, chắc chắn chỉ mất chừng 7 tiếng đồng hồ là tới nơi. Nhưng El Al bay lên phía Bắc, vào hẳn không phận của Nga, bay ngang Biển Caspian rồi mới bay xuống phía dưới, vào không phận Thổ Nhĩ Kỳ, rồi vòng qua Địa Trung Hải mà vào Tel Aviv, gần như đi hết một nửa vòng tròn, mất khoảng 10 tiếng đồng hồ mới tới nơi. Tuy nhiên, tới Tel Aviv, khách hành hương gặp một bộ mặt khác hẳn. Thủ tục chỉ bao gồm việc kiểm soát giấy thông hành và sau khi lãnh hành lý, khách hành hương được tự do lên xe rời phi trường thoải mái. Không một bóng cảnh sát, không một bóng nhân viên quân sự như tại phi trường Hồng Kông. Ấn tượng đẹp trước đây về Hồng Kông có chăng chỉ còn trong trí tưởng tượng. Thực tế, nó là một khu vực có trần thấp nặng nề, tìm một vòi nước uống công cộng không có, không có những tiệm bán thức ăn “nhanh” như phi truờng Singapore, mua đồ bằng mỹ kim, bị thối bằng tiền Hồng Kông. Không lớn bằng Hồng Kông và vì chúng tôi không có nhu cầu ăn uống như lúc ngồi chờ hàng mấy tiếng đồng hồ tại Hồng Kông, phi trường Tel Aviv tránh được việc không bị khách hành hương chỉ trích, ít nhất cũng cho chuyến tới. Núi TaborĐáp xuống Tel Aviv sớm, trời còn lãng đãng sương, chúng tôi được đưa thẳng về Nadarét, một thị trấn cách Tel Aviv chừng 2 giờ xe buýt. Và sau khi nhận phòng khách sạn, chúng tôi lên đường tham quan ngay. Thánh điểm đầu tiên là Núi Tabor. Vừa băng qua Làng Nain, nơi Chúa Giêsu cho người con trai duy nhất của một bà goá sống lại, một quãng, nhìn về tay trái đã thấy sừng sững ngọn núi Tabor xanh đậm, mờ nhạt phía xa. Tới gần, cảnh trí ngọn núi khá nên thơ với cây rừng xanh rờn và nhà cửa san sát dưới sườn núi, xa xa các thị trấn quanh vùng trùng điệp xuất hiện. Xe buýt phải dừng lại lưng chừng núi. Khách hành hương một là phải leo bộ tiếp lên tới đỉnh, theo con một con đường ngoằn ngoèo mà có tài liệu cho rằng gồm 4,300 bậc được xây từ thế kỷ thứ 4 dành cho các khách hành hương Kitô giáo (có lẽ tính từ dưới chân núi). Hai là đón taxi. Đoàn chúng tôi chọn giải pháp sau để lên tận đỉnh theo một con đường tân lập khá vòng vèo. Trời Galilê vào mùa này khá nóng, nhưng trên đỉnh Tabor, không khí dịu hẳn lại và tươi vui hẳn lên vì những khuôn mặt tươi trẻ, đủ mầu đủ sắc của các sinh viên đại học tới từ tổng giáo phận Paris. Họ không phải là 15 người như chúng tôi, mà là 1,700 người và 1,700 người này hành động như một đoàn người cùng có chung một cảm thức, một động thái. Cũng như các thanh thiếu niên chúng tôi gặp năm 2005 tại cánh đồng Marienfeld ở Cologne nhân Ngày Giới Trẻ Thế Giới, các sinh viên đại học Paris tại Núi Tabor này là hình ảnh trung thực của những người hành hương Kitô giáo muôn thuở: họ tới đây tìm vết chân Thầy bằng cách thực sự sánh bước với Người cả theo nghĩa vật lý (cuốc bộ từ chân núi) lẫn theo nghĩa thiêng liêng (vừa đi vừa đọc và suy niệm Lời Người). Quả là một kinh nghiệm nâng cao tâm hồn khi ngắm nhìn họ tiến bước và suy niệm, nhất là được trò truyện với họ. Đẹp thay những bước chân chim, nhún nhẩy sánh bước với Thầy.Chúng tôi được giới thiệu tượng bán thân của Đức Phaolô VI ngay tại đường dẫn vào Nhà Thờ Hiển Dung. Ngài từng tới đây năm 1964 và dâng thánh lễ tại thánh điểm này. Gần nhà thờ hơn chút nữa là khuôn mặt bằng đồng của Kiến Trúc Sư Antonio Barluzzi. Ông là người thiết kế và xây dựng phần lớn các ngôi nhà thờ của Giáo Hội Công Giáo tại Đất Thánh, trong đó phải kể tới Nhà Nguyện (Latinh) Canvariô trong Nhà Thờ Mộ Thánh tại Giêrusalem, Vương Cung Thánh Đường Diệtsimani tại Núi Cây Dầu, Nhà Thờ Thánh Ladarô tại Bêthania; Nhà Nguyện Chăn Chiên tại Bêlem, Nhà Thờ Chúa Chiên Lành tại Giêricô, Nhà Thờ Thăm Viếng tại En Karem, Vương Cung Thánh Đường Tabor, Nhà Thờ Bát Phúc tại Galilê… H.V. Morton ca tụng nét độc đáo và tính đa dạng trong các thiết kế của Barluzzi, không do văn phong hay truyền thống kiến trúc nào cho bằng do lòng đạo hạnh của nhà sáng tạo. Vì mọi đền thờ của Barluzzi đều nhằm mục đích nói lên một đáp ứng xúc cảm đối với trình thuật Phúc Âm. Người ta nên so sánh nét ảm đạm uy nghiêm của Vương Cung Thánh Đường Diệtsimani ở Núi Cây Dầu với nét hân hoan đầy tính thánh ca Giáng Sinh của Nhà Nguyện Chăn Chiên tại Bêlem. Người ta cũng thấy cùng một nét tương phản như thế giữa Nhà Thờ Thăm Viếng tại Ain Karem và Vương Cung Thánh Đường Tabor; và giữa hai thánh đường này với Nhà Thờ Bát Phúc tại Galilê. Đức Hồng Y Celso Constantini, người qua đời trước Barluzzi hai năm, khi viếng Đất Thánh đã viết mấy dòng lưu niệm như sau: “Cơ Quan Trông Coi Đất Thánh đã khôn ngoan và may mắn chọn làm giám đốc các công trình nghệ thuật của mình tại Palestine nhà kiến trúc sư lỗi lạc người Rôma là Antonio Barluzzi. Được phú bẩm một bén nhậy sâu sắc về nghệ thuật tôn giáo, nhà kiến trúc sư này đã hiểu được nhu cầu phải làm sống lại thảm kịch Kitô giáo ngay tại chỗ này (in situ), và đã rút tỉa được cảm hứng cho các thiết kế nghệ thuật của mình từ tiếng nói của Chúa Kitô đang vang vọng từ những chỏm núi này, thung lũng kia và Mặt Hồ Genezaret này”.Cuộc đời Barluzzi là một cuộc đời đáng tưởng niệm. Khi Thế Chiến Thứ Nhất chấm dứt, dù lúc ấy đã trở thành một kiến trúc sư có hạng, Barluzzi có ý định đi tu làm linh mục. Nhưng thay vì ơn gọi ấy, cha giải tội khuyên ông qua Đất Thánh để tái tạo các thánh đường. Ông vâng lời ra đi, sống với các tu sĩ Phanxicô như một tu sĩ Phanxicô chính hiệu, hoàn toàn tuân giữ luật Dòng. Không màng chi tiền tài hay danh vọng, ông chỉ một lòng dùng gỗ đá và bàn tay con người tạo nên những công trình đầy chất nghệ thuật để thay mặt Giáo Hội ca tụng Thiên Chúa giữa một thế giới càng ngày càng ra xa lạ với niềm tin Công Giáo. Các công trình của ông, cộng với niềm tin dai dẳng, trì chí, đầy kiên nhẫn “bám trụ” của người Palestine Công Giáo, chính là những viên đá sống động sẽ hiện diện hết sức lâu dài tại Đất Thánh, bất chấp mọi thoả hiệp chính trị có thể có từ bất cứ phe phái nào. Ngày nay, khó có thể có một sức mạnh nào đó dám phá đổ những viên đá sống động này. Xin ngả mũ chào nhà sáng tạo đạo hạnh, biết nhìn xa trông rộng, trồng ngay ngắn cây hiện diện Công Giáo giữa lòng một xã hội đang tìm mọi cách thu gọn sự hiện diện ấy. Một mình ông đã thực hiện được hầu hết công trình của mười mấy thập tự chinh thuở nào. Morton hy vọng ông được người đời biết đến. Tuy nhiên cho đến hiện nay, cuộc đời ông hầu như đã bị đẩy vào quên lãng, rất ít người viết về ông và ông đã lặng lẽ qua đời tại Rôma năm 1960, sau một cơn nhồi máu cơ tim khiến ông bị điếc não (cerebral deafness) và khí thũng (pulmonary emphysema), mất hết trí nhớ và mù loà, gây ra do cơn xúc động bị nhà chức trách bác bỏ dự án xây dựng ngôi vương cung thánh đường mới cho Nadarét vào năm 1958. Morton, gặp ông mấy tuần trước khi ông lâm chung, nhận xét rằng: trước đây ông vốn là một ông già quắc thước, cao, gầy với mái tóc hoa râm, nhưng đau khổ đã biến ông “thành một ông thánh đang sinh thì, giống hệt các bức tranh của El Greco hay Ribera”. Morton không thể hiểu được tại sao một Kitô hữu đạo hạnh từng đem lại cho Đất Thánh một nét đẹp chưa từng có như thế lại kết thúc đời mình trong một hoàn cảnh bi thương như vậy. Nhưng thực ra, đó là cuộc đời của Antonio Barluzzi. Vì theo Canon Peter C Nicholson (2), Barluzzi sống cuộc sống của một tu sĩ Phanxicô đích thực, đơn giản và thánh thiện, hoàn toàn tránh xa sự dòm ngó của thế gian. Ông làm mọi sự chỉ để vinh danh Thiên Chúa và không bao giờ quan tâm tới danh tiếng bản thân. Ông là đầy tớ trung thành của Thầy Chí Thánh và mọi sự ông làm đều vì một mục đích duy nhất là để tôn vinh Thầy. Cha Pacifico Gori thuộc Christian Information Centre ở Giêrusalem, từng viết: Barluzzi từ bỏ mọi lợi điểm mà nghề nghiệp của ông có thể mang tới, và chỉ muốn sống và chết như một người nghèo với các tu sĩ Phanxicô tại Đất Thánh. Đối với nhiều người từng biết, từng qúy trọng và từng yêu mến ông, quả là cảm kích khi nghĩ rằng con người từng hiến cả cuộc đời mình một cách cao thượng để tôn kính và vinh danh Giêrusalem dưới thế không thể nào lại không được Chúa Cha mời gọi để trở thành viên đá sống động trên Giêrusalem thiên quốc”. Điều đáng tiếc: người phiên dịch cho đoàn hành hương của chúng tôi, dù rất thông thạo Thánh Kinh và khoa khảo cổ, vì đã học 4 năm tại Pháp và hiện đang theo học tại Viện Thánh Kinh và Khảo Cổ Pháp ở Giêrusalem này, tỏ ra không biết gì tới Barluzzi. Phía trên cửa vào Vương Cung Thánh Đường, người ta đọc được trích đoạn Phúc Âm Mátthêu 17:1-8 khắc vào tường đá, nói về việc Chúa Giêsu Biến Hình hay Hiển Dung. Nhưng cả ba Phúc Âm Nhất Lãm (Mc 9:2-8; Lc 9:28-36), khi tường thuật lại biến cố Hiển Dung, đều chỉ nhắc tới “một ngọn núi cao”, chứ không nhắc chi tới tên ngọn núi. Bởi lẽ đó, có người, cho đến bây giờ, vẫn cho ngọn núi cao này là Núi Hermon, chứ không phải Tabor, vì so với Hermon, Tabor chỉ là một ngọn đồi cao khoảng 500 thước, trong khi Hermon cao tới 2,700 thước. Tabor đích danh chỉ được nhắc tới trong Sách Thủ Lãnh (Tl 4: 6-7) khi đề cập đến trận chiến quyết định giữa Barak của Israel và Sisera, thống lãnh đoàn quân Jabin, trong đó đoàn quân Sisera bị triệt hạ toàn bộ, Sisera phải bỏ trốn và chết dưới tay một thiếu phụ tên Jael. Và Sách Thánh Vịnh (Tv 89:13) đã nhắc đến Tabor cùng một lúc với Hermon: “Người sáng tạo phương trời Nam Bắc; núi Tabor cùng với đỉnh Hermon hò reo kính danh Người”.Tuy nhiên, năm 348, Giám Mục Giêrusalem là Cyril cho rằng Núi Tabor mới chính là thánh điểm nơi Chúa đã hiển dung trước mặt ba môn đệ và đến cuối thế kỷ thứ 4, đã có một nhà thờ tại ngọn núi này. Đến năm 570, ba nhà thờ theo kiểu Byzantine đã được ghi chú là hiện diện tại nơi đây hay đúng hơn một nhà thờ lớn với ba nhà nguyện dâng kính Chúa Kitô, Môsê và Êlia. Vào khoảng cuối thế kỷ thứ 7, đã có một đan viện kiên cố cuả các đan sĩ người Armenian trên đỉnh Tabor. Qua thế kỷ thứ 9, người ta có nhắc tới một vị giám mục Hy Lạp tại thánh điểm này. Núi Tabor là một thánh điểm quan trọng thời Thập Tự Chinh và rất nhiều vị ẩn tu đã tới đây tu tập tại các hang động trên sườn núi. Khoảng năm 1099, một đan viện phụ Latinh đã được đề cử tới đây và lúc đó, ngôi nhà thờ lớn với ba nhà nguyện nói trên vẫn còn tồn tại tại thánh điểm này. Năm 1631, Fakhr al-Din cho phép các tu sĩ Phanxicô sống trên đỉnh Tabor và phép này được chế độ Ottoman xác nhận nhiều lần trong các thế kỷ 17 và 18. Các tu sĩ này phần lớn sử dụng các phòng ốc cũ của lâu đài hoang phế cho đến khi họ tái khám phá ra ngôi nhà thờ đổ nát của Thập Tự Chinh vào năm 1858 và bắt đầu tái thiết nó. Năm 1924, ngôi nhà thờ hiện nay được hoàn tất, xây trên chính ngôi nhà thờ của thế kỷ 12, do kiến trúc sư A. Barluzzi thực hiện. Bất kể lai lịch của nó ra sao, Tabor đã trở thành thánh điểm hành hương của Kitô hữu từ thế kỷ thứ 4. Lúc chúng tôi bước vào nhà thờ, đoàn hành hương của các sinh viên đại học Paris đang cử hành Thánh Lễ với sự đồng tế của hơn 7 vị linh mục. Bàn Thờ rực rỡ ánh sáng, đóng khung sau một cầu vồng muôn sắc, với phía cộng đoàn chìm trong một thứ ánh sáng lờ mờ, quả đã đưa chúng tôi trở lại với khung cảnh Hiển Dung ngày nào khiến Phêrô ngây ngất, hồn ra khỏi xác, nói như mơ: chúng con sẽ làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia. Những ba chìm bầy nổi của thừa tác vụ rao giảng sau đó đã làm Ông quên khuấy lời nói đó. Nhưng hậu thế Ông không quên và hiện nay ngôi nhà thờ chính và hai nhà nguyện kính Môsê và Êlia vẫn sừng sững trên đỉnh Tabor và đã được nâng lên hàng Vương Cung Thánh Đường. (còn tiếp)Ghi Chú(1) In The Steps Of The Master, Methuen, 1934(2) The Churches of Anttonio Barluzzi, compiled for McCabe Foundation Trust<br />§2 <br />Hấp hônBỏ núi Tabor, đoàn hành hương chúng tôi tới Cana, nơi Chúa làm phép lạ đầu tiên biến sáu chum nước đầy thành rượu ngon cho một đám cưới. Biến cố này được duy nhất Phúc Âm Thánh Gioan thuật lại tại chương 2. Địa danh Cana còn được Phúc Âm này nhắc tới hai lần nữa nhân đề cập đến việc Chúa chữa lành đứa con của một sĩ quan cận vệ của nhà vua (4:46-54) và việc Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các môn đệ ở Biển Hồ Ti-bê-ri-a (Galilê) trong đó có Na-tha-na-en, quê ở Cana (21:1-2). Ngoài ra, địa danh này không được một tài liệu nào khác nhắc đến. Theo Từ Điển Bách Khoa Công Giáo, ấn bản 1914, người ta không tìm được dấu chỉ nào chắc chắn cho biết nơi chốn của Cana, ngoại trừ nó không xa Nadarét hay Ca-phác-na-um và du khách muốn đi từ Giêrusalem tới Nadarét phải băng qua nó hay đi qua gần nó. Căn cứ vào đó, mặc dù có đến ba nơi khác là Kenet-el-Jalil, Ain Kana (thuộc Israel) và Qana (thuộc Lebanon) cũng cho mình là Cana “dấu lạ”, truyền thống có từ thế kỷ thứ 8 vẫn cho nơi đó chính là Kafr Kanna hiện nay, cách đông bắc Nadarét chừng 7 cây số. Ngày nay, Cana đã thành một thị trấn náo nhiệt. Vào thời Thập Tự Chinh, đã có một nhà thờ được xây tại địa điểm người ta tin là Chúa đã làm phép lạ hóa nước thành rượu. Địa điểm này hiện nay thuộc quyền sở hữu của Dòng Phanxicô. Dòng này đã xây một nhà thờ mới lớn hơn, trên nền nhà thờ cũ. Chính trong nhà thờ này, hai cặp vợ chồng trong đoàn chúng tôi (già có, sồn sồn có) đã được “hấp hôn” trong một nghi thức đơn giản do một vị tuyên úy Việt Nam cùng đi với đoàn chủ sự, trước sự chứng kiến và hợp nguyện của cả đoàn. Được nghe lại đoạn Phúc Âm Thánh Gioan mô tả “dấu lạ” đầu hết của Chúa Giêsu xẩy ra ngay tại địa điểm này gần hai ngàn năm trước mà biểu tượng còn kia với sáu chiếc chum xếp ngay ngắn phía đàng sau bàn thờ và được vị linh mục rẩy nước thánh trên đôi bàn tay đang nắm lấy nhau, dù già như bọn tôi cũng vẫn là một ấn tượng sâu sắc, ít nhất cũng sâu sắc hơn tấm giấy đã được đóng dấu sẵn của Custodia Di Terra Santa mà người tiếp nhận phải tự điền tên vào, chứng nhận chúng tôi đã “lặp lại lời thế hứa kết hôn tại nơi thánh này”. Và chắc chắn đậm đà hơn mùi rượu Cana mà sau đó chúng tôi có mua đem về khách sạn đãi bạn bè. Truyền TinTừ Cana, chúng tôi trở lại Nadarét, cách đó không xa. Cựu Ước không hề nhắc chi tới Nadarét. Nó vô danh đến độ có người cho rằng nó không hiện hữu, cho mãi tới thế kỷ thứ hai công nguyên. Họ nghĩ như thế, vì mặc dù nhà khảo cổ trứ danh dòng Phanxicô là cha Belarmino Bagatti, trong những cuộc khai quật ở đây trong các năm 1955 đến 1965, từng khám phá ra nhiều đồ gốm có từ Giữa Thời Đại Đồ Đồng (từ năm 2,200 đến năm 1500 trước công nguyên) và các đồ xứ, các vựa lúa và cối xay từ Thời Đại Đồ Sắt (từ năm 1,500 tới năm 586 trước công nguyên), nhưng đối với các thời Assyri, Babilon, Ba Tư, Hy Lạp và đầu thời Rô Ma, cha không khám phá được gì về phương diện khảo cổ. Rất có thể khu vực này hết người định cư từ năm 720 trước công nguyên, lúc người Assyri tàn phá nhiều thị trấn trong khu vực này. Tuy nhiên, cả bốn Phúc Âm lẫn Tông Đồ Công Vụ đều nêu đích danh Nadarét đến 29 lần như là quê hương của Chúa Giêsu. Chính Philatô, Tổng Trấn Rôma, cũng đã cho viết tấm bảng “Giêsu Nadarét, Vua Dân Do Thái” đóng vào thập giá của Người. Hiển nhiên, Nadarét phải hiện hữu vào thời Chúa Giêsu. Theo ước đoán của cha Bagatti, lúc ấy, cùng lắm, Nadarét chỉ là một khu nông nghiệp nhỏ với chừng 20 gia đình. Hai nhà khảo cổ James Strange và John Dominic Crossan cũng cùng một ước đoán như thế. Các ước đoán này khá ăn khớp với lời nhận định của Na-tha-na-en khi nghe Phi-líp-phê nhắc tới Nadarét lần đầu tiên: “Từ Nadarét, làm sao có được điều gì hay ho?” (Ga 1:46). Đầu thế kỷ 20, khi đến Nadarét, Morton chỉ thấy đó là một thị trấn có những ngôi nhà mầu trắng như tuyết, những hàng bách nhọn hoắt như mũi đòng, thật nhiều vườn vả và ôliu và cảm giác khó chịu khi bị các em bé chìa tay bên vệ đường xin bố thí (baksheesh) và những người đàn bà níu kéo chào hàng. Tuy có nhắc đến nhiều thánh điểm, nhưng Morton chỉ nói đến Suối Đức Mẹ, cho đó là nơi duy nhất có sức thuyết phục và vẫn còn là nguồn cung cấp nước duy nhất cho Nadarét, và Nhà Thờ Thánh Gabriel. Ngày nay, Nadarét đã thay đổi nhiều, trở thành một thành phố hiện đại, thủ phủ và là thành phố lớn nhất miền Bắc Do Thái với dân số sấp sỉ 70, 000 người mà phần đông là công dân Ả Rập của Do Thái, trong đó, 31.3% là Kitô hữu, 68.7% theo Hồi Giáo. Việc buôn bán đã trở thành qui củ, và cảnh xin ăn ngoài phố không còn như thời Morton đến thăm. Nhà cửa san sát, vẫn còn những hàng bách cao vút và thỉnh thoảng đây đó những vườn ôliu xanh rờn. Người dân Nadarét không hẳn hiếu khách, nhưng có tác phong kinh doanh hơn xưa. Địa điểm đầu tiên tại Nadarét được chúng tôi tới thăm là Nhà Thờ Thánh Gabriel của anh em Chính Thống Giáo. Danh xưng chính thức của nhà thờ này là Nhà Thờ Chính Thống Giáo Thánh Gabriel hay Nhà Thờ Chính Thống Giáo Truyền Tin. Theo Giáo Hội Chính Thống, chính tại đây, khi đi kín nước giếng, Đức Mẹ đã được thiên thần Gabriel hiện ra báo tin Ngài sẽ thụ thai Chúa Giêsu. Ngôi thánh đường này đã có từ thời Byzantine, nhưng cấu trúc còn đến ngày nay được xây cất năm 1769, trên ngay một con suối mà vào thời ấy vốn là nguồn cung cấp nước duy nhất cho Nadarét đã từ mấy ngàn năm trước. Nước suối vẫn còn chẩy bên trong hậu cung Nhà Thờ hiện nay và cung cấp nước cho chiếc giếng cách đó chừng 140 thước, thường được gọi là Giếng Đức Mẹ. Chúng tôi được dịp viếng cả hai cấu trúc ấy. Giếng Đức Mẹ là một cấu trúc tân thời. Rất tiếc, chúng tôi chỉ đi băng qua nó, nên không thấy tình trạng nước non ra sao. Riêng suối nước nằm cuối một chiếc hang thấp hình vòm được Thập Tự Chinh xây từ thế kỷ 12 thì luôn có nước róc rách nghe rất vui tai. Khách hành hương liệng bạc cắc xuống khá nhiều, chắc là để cầu may mắn, kiểu “giếng ước” (wishing well), khiến suối nước tăng vẻ lóng lánh nhờ ánh sáng phản chiếu từ các đồng bạc cắc ấy. Tường của hang được trang trí bằng gạch của người Armenian và có một đường nhỏ dẫn xuống suối giúp người ta có thể dùng gáo nhỏ bằng kim khí để múc nước. Chúng tôi không được hân hạnh ấy. Nhưng thực ra, các bích họa tỉ mỉ vẽ cùng khắp trên tường và trần Nhà Thờ lôi cuốn chúng tôi nhiều hơn. Và theo truyền thống Chính Thống Giáo, bàn thờ chính được che bằng một tấm màn ảnh thánh gọi là “iconostasis”. Bởi vì Giáo Hội anh em này thường nhấn mạnh tới khía cạnh mầu nhiệm của các Bí Tích. Mọi đồ thánh, đồ trang trí và con người trong một ngôi nhà thờ Chính Thống đều toát ra một nét mầu nhiệm nào đó. Bình hương, vâng bình hương cùng khắp, không những được treo lủng lẳng bằng ba sợi dây tượng trưng cho Ba Ngôi Thiên Chúa như Công Giáo chúng ta, mà còn gồm cả 12 quả chuông nhỏ tượng trưng cho 12 Tông Đồ, rồi ảnh thánh, hình dáng ngôi nhà thờ, các linh mục mặc áo đen, ca những khúc ca lạ, để râu dài, nhà thờ thiếu sưởi ấm, các cây nến và cả âm nhạc nữa … tất cả đều nhắc các tín hữu Chính Thống nhớ tới tính mầu nhiệm của Đạo và nhà thờ bao giờ cũng được xây theo chiều hướng ấy (3).Giống như phần lớn các nhà thờ Chính Thống khác, Nhà Thờ Thánh Gabriel khá nhỏ về kích thước, mục đích là để dễ đem người ta vào việc thờ phượng chung, mặc dù việc thờ phương chung này không hoàn toàn giống như việc thờ phượng chung trong các giáo hội Phương Tây. Chính Thống Giáo quan niệm rằng việc thờ phượng đó đưa tín hữu vào việc cùng tham dự một công việc thánh để rồi sau đó lại tách rời họ ra và nhắc họ nhớ rằng điều thánh thiện ở bên trong, còn điều không thánh thiện thì ở bên ngoài kia. Nhà thờ thường mờ mờ ảo ảo và thường không có hệ thống sưởi ấm để nhắc tín hữu nhớ rằng ánh sáng và sức nóng duy nhất của Chúa phát xuất từ cây nến và tư tưởng bạn phải tập trung quanh cây nến ấy. Địa điểm Truyền Tin của anh em Chính Thống được chọn như trên vì dựa vào bản văn Kitô Giáo thuộc thế kỷ thứ hai, tức phúc âm ngoại thư gọi là Phúc Âm Đầu Hết của Giacôbê (Jacobi Protevangelium). Theo phúc âm này, Đức Mẹ là một trong bẩy trinh nữ được chọn từ dòng dõi Đavít để đan một tấm màn mới cho Nơi Cực Thánh trong Đền Thờ Giêrusalem. Một ngày kia, khi đang đi kín nước tại suối nước trong thành Nadarét, ngài nghe có tiếng phát ra: “Kính chào, cô đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng cô, cô có phúc hơn mọi người nữ”. Ngài nhìn qua bên phải và tìm xem tiếng chào đó từ đâu mà tới và bắt đầu run sợ. Rồi ngài trở về nhà, đặt vò nước bên cạnh, ngồi xuống, lấy sợi ra và bắt đầu đan. Lúc ấy, một thiên thần hiện ra với ngài…”. Trình thuật của Luca (1:26-38) chỉ nhắc đến tên thành Nadarét, chứ không nhắc chi tới địa điểm xẩy ra biến cố Truyền Tin, mặc dù các bản văn Tân Ước tiếng Việt đều dịch là “sứ thần vào nhà trinh nữ” hay “vào nơi trinh nữ ở”. Truyền thống Công Giáo và Tin Lành nói chung vẫn cho là sứ thần Gabriel truyền tin cho Thánh Nữ Đồng Trinh tại nhà ngài như lời dịch của bản văn tiếng Việt. Và địa điểm Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin hiện nay đã trở thành thánh điểm hành hương từ thế kỷ thứ 4, như là nơi Đức Mẹ được chính thức mời gọi làm Mẹ hạ sinh Chúa Cứu Thế. Vương Cung Thánh Đường này là một tòa kiến trúc tân thời do Giáo Hội Công Giáo xây trên các tàn tích cũ của các nhà thờ thời Byzantine và Thập Tự Chinh. Hang Truyền Tin trong các nhà thờ này đã được nhìn nhận là địa điểm truyền tin từ thế kỷ thứ 4. Người ta không rõ nhà thờ đầu tiên được xây ở đấy năm nào, nhưng một bàn thờ đã được nhắc đến vào năm 384 và đến năm 570, người ta có nhắc tới một ngôi nhà thờ tại đó. Ở bên dưới nhà thờ hiện nay, khảo cổ đã đào được một nhà thờ theo kiểu Byzantine, đã có từ thế kỷ thứ 4 hay thế kỷ thứ 5. Nó có ba cánh, một hậu cung kéo dài và một tiền đình lớn. Một đan viện nhỏ được xây ở phía nam nhà thờ. Năm 680, một người hành hương tên Arculf cho hay đã thấy hai nhà thờ tại Nadarét, một ở tại Suối Đức Mẹ, một tại địa điểm hiện nay. Nhà thờ Byzantien tại địa điểm Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin hiện nay tồn tại tới cuối hế kỷ thứ 9, lúc 12 đan sĩ có liên hệ tới nhà thờ này được nhắc tới trong Bản Tưởng Niệm năm 808. Nhà thờ này sau đó có lẽ đã bị hủy hoại trước hoặc trong thời Thập Tự Chinh; Năm 1106-1108, đan viện trưởng Daniel ghi lại rằng nó bị bỏ hoang và đã được Tancred (lãnh tự Thập Tự Chinh đầu tiên) và người Franks tái thiết toàn diện. Nhà thờ do Thập Tự Chinh xây lớn hơn nhà thờ Byzantine. Nhà thờ này có ba cánh và sáu gian. Một đền thánh nhỏ ở cánh phía bắc chứa Ngôi Nhà Đức Mẹ ở phía dưới. Về phía nam của nhà thờ, người ta thấy nhiều cơ sở của một đan viện, và về phía bắc, là toà giám mục. Sau trận đánh năm 1187, cư dân Kitô Giáo của Nadarét vào trú ẩn trong nhà thờ này nhưng tất cả đều bị sát hại. Nhà thờ do đó bị phạm thánh, nhưng vẫn được để yên. Năm 1192, Salah al-Din cho phép một số giáo sĩ được trở lại và cho phép Kitô hữu lui tới nhà thờ. Vua Thánh Louis đã tới hành hương tại đây năm 1251. Tuy nhiên, vào năm 1263, một tiểu vương Baybars tấn công Nadarét và phá bình địa ngôi nhà thờ này. Kitô hữu vẫn được phép viếng hang truyền tin, mà chính người Hồi Giáo cũng tôn kính, tuy nhiên họ không được phép tái thiết nhà thờ. Qua thế kỷ 14, muốn vào Hang Truyền Tin, khách hành hương phải trả lệ phí vào cửa cho người Hồi Giáo canh hang. Cũng trong thế kỷ này, các tu sĩ dòng Phanxicô thiết lập một tu viện tại Nadarét và dường như đã kiểm soát được thánh điểm này trong một thời gian vào giữa thế kỷ thứ 16. Họ tái thiết và chiếm giữ tòa giám mục cũ và bắt đầu sửa chữa lại ngôi nhà thờ vào năm 1620. Tuy nhiên, suốt trong các thập niên 1600, họ bị trục xuất nhiều lần. Cuối cùng, vào năm 1730, các tu sĩ này hoàn tất được ngôi thánh đường mới và thánh đường này được nới rộng vào năm 1871. Nhà thờ trên được phá năm 1955 để xây dựng ngôi thánh đường hiện nay, trên nền các ngôi thánh đường có trước, như trên đã nói. Ngôi thánh đường mới, được thánh hiến năm 1969, là ngôi thánh đường lớn nhất tại cả vùng Trung Đông, là nhà thờ xứ cho 7,000 người Công Giáo tại Nadarét và là thánh điểm hành hương chính của các khách hành hương Công Giáo và Thệ Phản. Đỉnh Vương Cung Thánh Đường là một mái vòm vĩ đại cao 55 thước, có hình dáng Bông Huệ Đức Bà, trùm phủ lên chính hang truyền tin cổ truyền. Từ khắp các ngả Nadarét, người ta có thể nhìn thấy Vương Cung Thánh Đường này. Nó gồm hai nhà thờ, giống như Nhà Thờ Lộ Đức, nhà thờ trên và nhà thờ dưới. Nhà thờ trên được trang trí bằng các tranh ghép Đức Mẹ do các cộng đồng khắp thế giới dâng tặng. Nhà thờ dưới vây quanh Hang hay Động Truyền Tin, nơi thiên thần Gabriel báo tin cho Đức Mẹ và đó chính là cao điểm của Vương Cung Thánh Đường này.Khi chúng tôi bước vào nhà thờ dưới, thì một bầu khí thờ phượng thực sự đang diễn ra: các sinh viên đại học Paris đang hàng hàng lớp lớp ngồi quanh Hang Truyền Tin, đắm mình vào chiêm niệm. Lặng lẽ bước qua các hàng ngũ sinh viên này, chúng tôi tiến sát gần Hang, lúc ấy được đóng kín bằng một hàng song sắt kiên cố. Nhìn vào trong thấy một bàn thờ có hàng chữ “Verbum caro hic factum est” (Ngôi Lời Đã Thành Nhục Thể Tại Đây). Bản thân tôi cứ mải miết hướng vào hàng chữ ấy mà quay mà chụp, dù bên tai, tiếng người hướng dẫn bảo tôi: chụp phiến đá ở phía dưới bàn thờ mới đúng. Lúc say mê nhìn ngắm các bức tranh ghép tại nhà thờ trên, một bản đồng ca của các sinh viên đại học Paris từ nhà thờ dưới vọng lên qua mái vòm vĩ đại đang tỏa sáng khắp nơi, khách hành hương như sống lại biến cố truyền tin ngày nào, trong đó, một thiếu nữ rất trẻ “dám” trao cả cuộc đời trinh nguyên cho một lời báo tin vô cùng sửng sốt vì đột ngột. Nhờ thế, mà muôn đời ngả mũ kính chào Cô, trong đó có đoàn hành hương bé nhỏ chúng tôi, một đoàn hành hương với thật nhiều tâm tình hỗn tạp.Đến với Đất Thánh, Morton bảo rằng ông cố gắng loại bỏ tâm thức như lúc còn ở Anh. Vì ở đấy, mỗi lần nghĩ tới Chúa Kitô hay Mẹ Thánh Người, ông chỉ có thể nghĩ đến các Đấng Thiêng Liêng đang ở trên thiên đàng, sẵn sàng nghe lời ông tâm sự, trò truyện, chứ không phải các Đấng Làm Người từng sống, từng ăn, từng ngủ, từng lo âu mệt mỏi, từng lê bước trên những con đường bụi bặm, gập ghềnh. Và bởi thế, có những lúc ông thấy bối rối vì hàng thế kỷ đạo hạnh đã cạnh tranh nhau để xác định cho bằng được chỗ nào là chỗ các Ngài đã bước chân qua, hòn đá nào, ngóc ngách nào các Ngài từng đặt chân tới. Cuối cùng, Morton kết luận: “Nhưng đối với tôi, xem ra không quan trọng bao nhiêu việc có phải thực sự là con đường này, hay nơi kỷ niệm kia. Điều quan trọng là đã có hàng bao nhiêu người đàn ông đàn bà dấn thân trên những nẻo đường này, vào những nơi kỷ niệm kia và đã bắt gặp cái nhìn của Chúa Kitô”. Tâm thức của Morton cũng là tâm thức của tôi khi đứng tại nhà thờ trên của Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin, sau khi thăm Nhà Thờ Chính Thống Giáo Thánh Gabriel, và được chứng kiến lòng đạo ở cả hai nơi. Lòng đạo ấy càng ngày càng tìm được nhiều biểu thức mới lạ hơn, như các bức tranh đại biểu cho mọi dân tộc trên thế giới đang trang hoàng các bờ tường bao quanh Vương Cung Thánh Đường, trong đó có cả bức tranh Đức Mẹ Việt Nam. Điều đáng tiếc là các bức tranh này phần lớn không mô tả biến cố truyền tin mà chỉ vẽ hình Đức Mẹ bồng con. Thiển nghĩ chắc vì biến cố ấy siêu việt quá, khó lòng dùng cây cọ hay bất cứ phương tiện gì để lột tả. Không lạ gì, chính Hang hay Động Truyền Tin cũng chỉ bao gồm một bàn thờ đơn giản với hàng chữ chân phương “Ngôi Lời Đã Thành Nhục Thể Tại Đây” để chỉ người biết chiêm niệm mới nắm bắt được chút gì của biến cố mầu nhiệm này. Bỏ Nhà Thờ Truyền Tin, chúng tôi đi theo một sân dài, dọc tu viện Phanxicô mà bên dưới ngổn ngang các đồ vật do khảo cổ khai quật từ ngôi làng Nadarét nguyên thủy, tới nhà thờ Thánh Giuse, nằm song song với Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin, để cử hành Thánh Lễ trong ngày. Theo truyền thuyết, Nhà Thờ Thánh Giuse được xây trên xưởng mộc của Thánh Gia. Nhưng truyền thống sau đó cho rằng nó được xây trên chính ngôi nhà của Thánh Giuse và Thánh Gia. Cái hang bên dưới nhà thờ được các cư dân thời Đế Quốc La Mã sử dụng làm chỗ chứa nước và lương thực, một lối sắp xếp khá tiêu biểu cho các căn hộ vào thời ấy. Nơi này vào thời Byzantine, đã được biến thành nơi thờ phượng. Thời Thập Tự Chinh, nghĩa là thế kỷ 12, một nhà thờ khác đã được xây trên nhà thờ thời Byzantine. Đó chính là nhà thờ Nuôi Dưỡng hay Nhà Thánh Giuse. Nhà thờ này sau đó bị người Ả Rập phá hủy vào năm 1263 sau khi đánh bại Thập Tự Quân. Năm 1745, tức dưới thời đế quốc Thổ (Ottoman), các tu sĩ Phanxicô mua lại nhà thờ Thập Tự Quân đã đổ nát và xây ở đấy một nhà nguyện vào năm 1754. Ngôi nhà thờ mới hiện nay được các tu sĩ Phanxicô tái thiết năm 1914 bên trên các nhà thờ và hang trước đây. Trong nhà thờ, có nhiều tranh và kính mầu vẽ các sinh hoạt của Thánh Gia, trong đó có khung kính mầu diễn tả lễ cưới của Thánh Giuse và Đức Mẹ. Nhưng khung kính mầu cảm động nhất là cảnh Thánh Giuse hấp hối trong tay Đức Mẹ và Chúa Giêsu lúc ấy đã trưởng thành. Một tay đỡ lấy tay phải dưỡng phụ, tay kia Chúa đưa lên chúc phúc cho ngài. Đức Mẹ thì một tay đặt lên vai chồng mình, tay kia nắm lấy tay trái của ngài, mắt không rời người chồng thân yêu đang sắp xa lìa hai mẹ con. Không còn cảnh nào nhân bản bằng cảnh chia ly này. Dĩ nhiên phải có tranh mô tả Chúa Giêsu học nghề thợ mộc với Thánh Giuse. Lúc tới Nadarét vào đầu thế kỷ 20, Morton cho hay ông thấy cả một dẫy phố những tay thợ mộc mà phần đông đều là Kitô hữu gốc Ả Rập, đang bận rộn cùng cưa cùng bào, mà sản phẩm phổ thông nhất là những chiếc nôi bằng gỗ, đu đưa được, thường sơn mầu xanh, một mầu người ta tin có thể xua được ma qủy. Khi đứng trong các cửa tiệm đó, ông tự hỏi: thực ra Chúa Giêsu có làm nghề thợ mộc hay không. Thánh Máccô gọi Người là “thợ mộc” (6:3), nhưng Thánh Mátthêu chỉ gọi Người là “con bác thợ mộc” (13:55). Chỉ dựa vào các ví von của Chúa Giêsu để chứng tỏ Người là một bác thợ mộc chuyên nghiệp quả là việc khó. Thí dụ, Người từng ví con đường cứu rỗi như “chiếc cổng hẹp”, khuyên ta nên “xây nhà trên đá” chứ không xây trên cát, cho rằng “ách” của Người nhẹ nhàng, hay nói về người chủ vườn nho dựng tháp canh cho vườn nho, hoặc ông vua xây tháp mà không chịu ngồi tính toán phí tổn… tất cả cho thấy Người rất quen thuộc với công việc của một người thợ mộc. Nhưng những ví von ấy không đủ để chứng tỏ Người hành nghề thợ mộc, vì Người cũng có những hiểu biết như thế về nhiều ngành nghề khác và từng đem những hiểu biết ấy vào các giáo huấn của Người. Ngày nay, không còn một con phố nào ở Nadarét dành riêng cho các bác thợ mộc. Và những chiếc cưa, chiếc bào, chiếc đục cổ truyền có chăng chỉ còn trong Khách Sạn Thánh Gia gần Đền Thờ Hồi Giáo và khu chợ chính của Nadarét, nơi chúng tôi dùng bữa trưa ngày đầu tiên trên Đất Thánh. Chú thích(3) Experiencing the Orthodox Church: Mystify, Mystify Me by Polina Slavcheva, SofiaEcho.com, 4/25/2006.<br />§3 <br /> Biển nhiều tênTại Nadarét, trước khi viếng Vương Cung Thánh Đường Truyền Tin, chúng tôi rẽ qua viếng Nhà Thờ Hội Đường, do Giáo Hội Công Giáo Melkite Hy Lạp sở hữu, nằm về phía cuối Chợ Chính. Theo Phúc Âm Luca, được vị tuyên úy đọc lớn tiếng giữa căn phòng, chính tại Hội Đường này, Chúa Giêsu đã mở sách Isaia mà cho người đồng hương biết rằng mình là Đấng Được Xức Dầu. Nhưng họ chỉ biết Người là “con ông Giuse” và vì quá tức giận, họ đã đem Người “lên tận đỉnh núi” dự tính xô Người xuống vực thẳm. Núi ấy được truyền thống nhận dạng là Núi Vực Thẳm (Mount Precipice hay Mount Kedumim), tọa lạc ở bên ngoài Nadarét, khá xa với Nhà Thờ Hội Đường (ít ra cũng khoảng 3 cây số). Lúc đi viếng Núi Tabor, đoàn hành hương chúng tôi có đi qua núi này, nhưng không dừng lại. Triền ngọn núi quả dựng đứng, không giống các ngọn đồi trong nội thành Nadarét. Bị xô xuống đó, người bị xô chết là phần chắc. Nhưng Chúa đã thoát được. Điều đáng ghi nhận là trong chuyến tông du gần đây của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, Núi Vực Thẳm đã được chọn làm địa điểm nghênh đón ngài tại Nadarét và chính tại đây ngài đã đọc bài diễn văn kết thúc Năm Gia Đình. Như thế, chúng tôi đã viếng hầu hết các nơi thánh tại Nadarét, ngoại trừ Vương Cung Thánh Đường Chúa Giêsu Niên Thiếu, do các cha Salêdiêng quản lý, và Nhà Thờ Chúa Kitô do Giáo Hội Anh Giáo sở hữu.Ngày hôm sau, chúng tôi đi viếng các thánh điểm quanh vùng Hồ Galilê. Khối nước ngọt khổng lồ dài 22 cây số, rộng 12 cây số này được người Kitô giáo biết nhiều nhất dưới cái tên vừa kể, một cái tên mà Morton cho là dịu dàng bậc nhất và dù tách biệt nó khỏi thừa tác vụ của Chúa Giêsu, nó vẫn là một từ ngữ đáng yêu vì chỉ cần nghe ba vần của nó, người ta cũng đã như thể nghe thấy tiếng nuớc hồ vỗ vào bờ. Nó êm ru không như tên Giuđêa cứng cỏi, nó dịu dàng không như Giuđêa hung dữ. Không cần viếng Đất Thánh, người ta cũng thấy được cái cứng cỏi đất đá của Giuđêa và nghe được tiếng nước rơi từ các mái chèo trên Galilê. Ngoài tên Hồ hay Biển Galilê ra, Tân Ước còn dùng tên Hồ hay Biển Tiberias để gọi khối nước này (Ga 6:1), có lẽ vì nó gần thị trấn Tiberias, do Vua Hê-rô-đê An-ti-pa thiết lập và đặt tên theo Hoàng Đế Rô-ma Tiberius. Phúc âm Luca (5:1) thì gọi nó là Hồ hay Biển Gennesaret, theo một bình nguyên mầu mỡ nằm về phía tây. Cựu Ước, trái lại, gọi nó là Biển Chinnereth hay đọc là Kinnereth (Ds 34:11; Gs 13:27). Tên này có thể phát xuất từ chữ kinnor trong tiếng Hi Bá Lai, có nghĩa là cây đàn harp hay cây đàn lyre vì hình thù của Biển rất giống hai loại nhạc cụ này. Trên đường từ khu Kibbutz Ginosar xuống thuyền trên Biển Galilê, chúng tôi có thấy người ta trưng bày hai loại nhạc cụ này. Điều trên cho thấy, đối với người Do Thái, họ thích dùng tên Kinneret hơn. Sở dĩ như thế, vì người Do Thái vốn không ưa những gì dính dáng tới Tân Ước. Mặt khác cái tên Galilê cũng không được họ thích nghe. Vì Galilê vốn có nghĩa là “vòng đai hay vùng dân ngoại”, nó chưa bao giờ có tính Do Thái hoàn toàn, ngay từ thời xa xưa. Salômôn từng hiến 10 thành thuộc Galilê cho Hiram, Vua của Tyre, để trả một phần món nợ xây đền thờ Giêrusalem. Những thời kỳ tiếp theo cũng đã xẩy ra nhiều cuộc xâm lấn của Dân Ngoại. Nên người Do Thái Giáo Chính Thống tại Giêrusalem luôn nhìn người Galilê với con mắt khinh miệt và từng cười nhạo giọng nói địa phương của họ, như câu truyện “chối Chúa” của Phêrô đã chứng tỏ. Nhưng vùng ấy là vùng thân thiết của Chúa Giêsu, quê hương Nadarét của Người không xa nơi này bao nhiêu, và nơi này là địa bàn rao giảng của Người, nó là thửa đất mầu mỡ cho lời của Người từ một hạt cải nhỏ xíu trở thành cây cao nhiều cành. Morton bảo mỗi lần nghe tiếng Galilê, tâm trí ông đều gợi lên hình ảnh Người, không phải hình ảnh Đức Kitô như trong lời giảng của Phaolô, mà là hình ảnh Chúa Giêsu thân thiết nhất với tâm hồn ta, Đấng đã để trẻ em tới với mình và rao giảng một phúc âm đầy yêu thương và lân tuất cho người khiêm hạ, đơn sơ và trĩu nặng. Địa điểm đầu tiên của vùng Biển Galilê mà chúng tôi tới thăm là Tagbah. Đây không phải là một thành phố mà là một khu vực nhỏ ở bờ tây bắc, không xa Caphácnaum. Thời xưa, Tagbah cũng được biết dưới tên Heptapegon có nghĩa là Chốn Bẩy Nguồn, vì có tới bẩy con suối cung cấp nước ấm, làm gia tăng lượng tảo (algae) cho vùng biển này, mà tảo thì rất lôi cuốn đối với cá. Chính vì thế, các ngư phủ kéo nhau tới Bẩy Nguồn cả hàng mấy ngàn năm nay. Đến thế kỷ thứ 4 sau Chúa Giáng Sinh, Bẩy Nguồn trở thành địa điểm quen thuộc để khách hành hương thời Byzantine nghỉ ngơi và dùng bữa ăn ngoài trời, nhờ nó có nhiều bóng cây và nhiều cá mú ngon miệng. Nên không phải là tình cờ mà hai trong ba thánh điểm hành hương tại vùng này có liên hệ tới thực phẩm dư thừa: phép lạ hóa bánh trong thừa tác vụ Galilê của Chúa Giêsu và bữa sáng với cá bên hồ sau khi Chúa sống lại. Ngọn đồi bên trên hai nơi đó chính là Núi Bát Phúc, nơi Chúa Giêsu giảng bài giảng bất hủ trong lịch sử nhân loại. Nhà Thờ Hóa Nhiều Bánh và Cá (cũng gọi là Nhà Thờ Hóa Nhiều) là một nhà thờ hiện đại, nhưng được xây trên địa điểm một nhà thờ có từ thế kỷ thứ 4 và thứ 5. Nó duy trì được một tranh ghép rất tuyệt diệu của Kitô Giáo sơ khai cũng như viên đá truyền thống trên đó bữa ăn lạ lùng đã được dọn ra. Bữa ăn này được thuật lại trong Máccô 6:30-44. Chúa Giêsu đã cho năm ngàn đàn ông và chắc chắn nhiều hơn thế các đàn bà và trẻ em ăn trưa bằng năm chiếc bánh và hai con cá được Người hóa ra nhiều, nhiều đến nỗi đám đông ăn no nê mà vẫn dư tới 12 thúng đầy bánh và cá vụn. Theo Egeria, một nhà hành hương người Tây Ban Nha thuộc thế kỷ thứ 4, phiến đá trên đã trở thành một bàn thờ và tín hữu đến kính viếng thường đục lấy những mẩu đá nhỏ đem về lấy hên. Có lẽ vì thế nay phiến đá chỉ còn vào khoảng 1 x 0.60 x 0.14m, nằm dưới một bàn thờ mà phía trước có một tranh ghép rất đẹp, mới được phục hồi, mô tả hai con cá nằm hai bên một giỏ bánh. Không ai được phép đục đẽo nó nữa. Đoàn hành hương chúng tôi chỉ được phép chụp hình và hôn kính nó mà thôi. Một phiến đá thứ hai cũng được nhận dạng từ lâu là phiến đá trên đó Chúa Giêsu Phục Sinh dọn bữa sáng cho các môn đệ bên bờ hồ Galilê. Hôm ấy, thấy Chúa Giêsu Phục Sinh trong ánh lửa bập bùng của buổi sáng tinh mơ, không một môn đệ nào dám lên tiếng hỏi xem người dọn bữa cho họ là ai. Vì còn là ai khác “chịu” giúp họ bắt được nhiều cá và còn dọn bữa sáng với đủ cả cá và bánh (lại cá và bánh nữa) cho họ một cách thân tình đến thế, ngoài Thầy mình (Ga 21). Phiến đá này, nằm trong Nhà Thờ Thánh Phêrô Tối Thượng Quyền, cũng thuộc Tagbah, to hơn phiến đá trong Nhà Thờ Hóa Nhiều và vì thế nằm choán phía trước một bàn thờ nhỏ, trông có phần “sạch sẽ” hơn, được đặt tên hẳn hòi là Mensa Christi (Bàn ăn của Chúa Kitô). Gọi là Nhà Thờ Tối Thượng Quyền là để nhấn mạnh đoạn cuối câu truyện trong đó, Chúa Giêsu trao quyền chăm sóc các chiên và chiên con của Người cho Thánh Phêrô, sau khi hỏi ông có yêu Người không ba lần. Nhà hành hương Egeria nhắc tới thánh điểm này khi cho biết: gần Nhà Thờ Hóa Nhiều Bánh và Cá, “là một số bậc đá mà Chúa Giêsu đã đứng trên đó”. Có lẽ bà muốn nhắc tới những bậc bằng đá nằm về phía Hồ của Nhà Thờ. Người ta không rõ những bậc đá này có từ bao giờ, nhưng rất có thể đã có từ thế kỷ thứ 2 hoặc thứ 3 lúc người ta khai thác hầm đá vôi ở đây. Điều lý thú là bên dưới các bậc đá này có sáu hàng cột đôi hình trái tim được đặt tên là Mười Hai Tòa. Có lẽ chúng được lấy từ một tòa nhà hoang phế, đem về đây để tưởng niệm Mười Hai Tông Đồ, theo câu nói của Chúa Giêsu trong Phúc Âm Luca “Để các con được đồng bàn ăn uống với Thầy trong Vương Quốc của Thầy, và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en” (Lc 22:30). Egeria không nhắc gì tới ngôi nhà thờ nào tại đây. Nhưng từ cuối thế kỷ thứ 4, đã có một nhà thờ tại thánh điểm này. Đến thế kỷ thứ 9, ngôi nhà thờ tại đây được nhắc đến dưới tên Nhà Thờ Than Hồng với Mười Hai Tòa đã được đặt ở đó để tưởng niệm Mưới Hai Tông Đồ. Ngôi nhà thờ nhỏ hiện nay do Dòng Phanxicô xây năm 1933, bằng đá xám, tại ngay bờ tây bắc của Hồ Galilê. Tại chân tường nhà thờ về phía tây, người ta còn thấy rõ các bức tường của nhà thờ thế kỷ thứ 4. Morton nhận định rằng: Dòng Phanxicô luôn có cái nhìn khảo cổ chính xác và giá trị, không như phần lớn các nhà thờ của Chính Thống Giáo tại vùng này. Khách hành hương sau khi viếng Nhà Thờ, có thể tản bộ và ngâm chân dưới làn nước mát của Biển Hồ Galilê đang lăn tăn gợn sóng không xa. Thánh điểm thứ ba tại Tagbah là Núi Bát Phúc, có ngôi nhà thờ bát giác nổi tiếng của Barluzzi, mà không một khách hành hương nào bỏ qua. Đoàn hành hương chúng tôi tới đó để dâng Thánh Lễ trong ngày. Phúc âm hôm đó dĩ nhiên là Mátthêu 5: 1-12: Bài Giảng Trên Núi hay Hiến Chương Nước Trời, đề cập tới tám mối phúc thật. Tám mối phúc này được in bằng tiếng Latinh, trên tám tấm kính mầu, gắn tại tám góc của mái vòm nhà thờ. Từ thế kỷ thứ 4, khách hành hương đã tuốn đến đây để tưởng niệm Bài Giảng Trên Núi, như lời tường thuật của Egeria. Sau khi nhắc tới Nhà Thờ Hóa Nhiều Bánh và Cá, bà cho hay: “Gần đấy, trên núi cao, có một cái động được Chúa Cứu Thế leo lên và giảng Các Mối Phúc”. Vết tích ngôi nhà thờ nhỏ thuộc thế kỷ thứ 4 đã được tìm thấy ở chân đồi phía dưới nhà thờ hiện nay, có cả vết tích của một đan viện nữa. Còn nhà thờ hiện nay được xây dựng năm 1938. Đó là một ngôi nhà thờ, tuy nhìn bên ngoài khá cao và lớn, nhưng có nội cung nhỏ. Chính vì thế, chúng tôi không được cử hành Thánh Lễ trong đó, mà được chỉ thị rước cha từ trong nhà thờ tiến lên một bàn thờ ngoài trời ở trên đồi để cử hành. Từ bàn thờ này, chúng tôi được chiêm ngưỡng toàn bộ khung cảnh nhà thờ trên tấm phông xanh ngát của Biển Hồ Galilê, giữa một khung cảnh mát rượi của cây cao bóng cả. Khung cảnh này quả thích hợp để dân chúng tụ tập nghe bài giảng vô cùng độc đáo của Thầy Chí Thánh. Các nhà nghiên cứu cho rằng đó cũng là động lực khiến các khách hành hương “tái khám phá” ra nơi Chúa giảng này để vừa vang vọng lời của Người vừa ngắm toàn diện khung cảnh những nơi Người từng sống và giảng dạy (4). Con thuyền GiêsuTuy nhiên, cao điểm trong ngày phải kể là cuộc đi thuyền trên Biễn Hồ Galilê. Đoàn hành hương chúng tôi băng qua khu Kibbutz Ginosar để lên riêng một chiếc thuyền gỗ tương đối còn mới và sạch sẽ có khoảng bốn người phục vụ. Thuyền mang cờ Do Thái và người đàn bà trưởng toán nói tiếng Anh rất thành thạo. Bà hãnh diện cho rằng thuyền của bà là một mô phỏng Con Thuyền Giêsu thuộc thế kỷ thứ nhất mà hai anh em Moshe và Yval Lufan, vốn là các ngư phủ thuộc thế hệ thứ hai của Kibbutz này, mới tìm ra năm 1986. Tiếc rằng chúng tôi không được vào Bảo Tàng Viện Yigal Allon nằm ngay trong khu Kibbutz Ginosar, nơi trưng bày Con Thuyền Giêsu này, nên không kiểm nghiệm được lời nói của người trưởng toán chiếc thuyền gỗ đưa chúng tôi lênh đênh trên Biển Hồ từng là nơi diễn ra khá nhiều phép lạ của Chúa Giêsu, được Người dùng làm phương tiện đào tạo các môn đệ của Người. Tại đây, Người từng dẹp yên sóng gió (Mt 8:23-27), bước đi trên nước (Mt 14:24-33), giúp các môn đệ thu hoạch mẻ cá lạ (Ga 21:6) và từng ngồi thuyền để dạy dỗ dân chúng (Mc 4:1-2). Khác thuyền của các môn đệ ngày xưa, thuyền chở chúng tôi chạy bằng động cơ, với tay lái đặt ở một khoang thuyền trên cao, đứng ở đó, người điều khiển có thể bao quát cả vùng chung quanh. Nhưng điều ấy vẫn không tránh được một tai nạn suýt xẩy ra với một toán đua xe máy nước cận kề. Rất may, chiếc thuyền thắng kịp. Thuyền đưa khách hành hương đi một vòng, đủ thì giờ cho chúng tôi cùng nhau đọc và suy niệm đoạn phúc âm Chúa dẹp yên sóng gió và suy niệm về những can thiệp của Chúa trong cuộc đời mình. Phải nhận một điều: cũng đoạn phúc âm đã được đọc và suy niệm nhiều lần này nay vang lên một âm sắc thật đặc biệt như ru hồn khách hành hương trở lại với gần hai ngàn năm trước để cùng đồng hành với Thầy Chí Thánh và các môn đệ của Người, những người ngư phủ tầm thường và xoàng xĩnh, đến sóng gió vật lý cũng run sợ, nhưng được Thầy vừa huấn luyện vừa ban sức mạnh cho, đã đủ can đảm vượt bất cứ thứ trùng khơi nào sau này, kể cả trùng khơi chính trị và tôn giáo, để xây dựng Nước của Người. Chúng tôi còn ở rất xa lý tưởng ấy. Và vì bụng bắt đầu đói, nên người trưởng đoàn đã dẫn chúng tôi vào một nhà hàng gần đó. Dường như nhà hàng này là nhà hàng duy nhất trong vùng cung cấp bữa ăn đặc biệt trong đó bắt buộc phải có món Cá Phêrô. Hầu hết các đoàn hành hương đều đổ dồn về đây để dùng bữa. Lúc chúng tôi tới, hầu như các dẫy bàn của nhà hàng đều đã có người chiếm dụng. Họ thuộc đủ các quốc tịch và ngôn ngữ khác nhau và ai cũng hân hoan thưởng thức nguyên một con Cá Phêrô, được chiên dòn, sắp sẵn trên một chiếc dĩa lớn. Phục vụ trong nhà hàng toàn là nam giới. Họ rất thành thạo, và không khách hành hương nào phải chờ đợi lâu trước khi con Cá Phêrô được bưng lên thơm phức. Loại cá này hiển nhiên có rất nhiều trong vùng. Lúc chúng tôi ăn ở đó, ít nhất số thực khách cũng phải là 200 người và còn nhiều đợt khác nữa. Ngày này qua ngày nọ, tháng này qua tháng nọ, chưa hề nghe có ai tới Hồ Galilê lại không ăn Cá Phêrô. Thực ra, tại biển Galilê có đến ba loại cá. Cá mòi (sardine) có lẽ là loại cá nhỏ mà cậu bé trong Phúc Âm cung cấp để Chúa Giêsu hóa nhiều, nuôi hơn 5,000 người. Loại cá thứ hai là loại cá dầy có râu mép tiếng Anh gọi là barbel. Loại cá thứ ba chính là Cá Phêrô trông giống như cá rô nhưng to và dẹp hơn, có con nặng tới 1 ký rưỡi, tiếng Anh gọi là musht. Không hiểu tại sao, người ta gọi loại cá này là Cá Phêrô. Nhưng nếu Thánh Phêrô chuyên môn đi lùng loại cá này mà đánh, thì hẳn ngài phải phát đạt lắm, vì loại cá này ai ăn cũng khoái. Người nào trong chúng tôi cũng cho rằng bữa trưa hôm nay là bữa trưa ngon nhất trên Đất Thánh. Tại vùng Biển Hồ Galilê, chúng tôi còn tới viếng thánh điểm Caphácnaum mà ngày xưa vốn là địa bàn hoạt động của Chúa Giêsu và các môn đệ. Khu chúng tôi tới thăm nằm ngay bên cạnh Biển Hồ Galilê, về phía bắc, được rào chung quanh, có tấm biển trên cổng ra vào viết hàng chữ “Caphácnaum của Chúa Giêsu”. Điều ấy quả không ngoa, vì Mátthêu 9:1 và Máccô 2:1 gọi nó là “thành của Người”. Ở đấy, Người thực hiện rất nhiều phép lạ. Dù sao, nó cũng là thành của hai môn đệ đầu tiên: Phêrô và Anrê (Mc 1: 29). Tại đây, Người cũng kêu gọi anh em Giacôbê và Gioan (Mc 1:16), rồi Mátthêu (Mc 2:13). Tuy nhiên, cũng như Nadarét, Caphácnaum từng bị Chúa nguyền rủa: “Vào ngày chung thẩm, Xôđôm sẽ được xử khoan hồng hơn ngươi” (Mt 11:23-24).Tại khu khảo cổ này, chúng tôi được viếng Nhà Thờ Caphácnaum. Nhà thờ này được xây trên địa điểm truyền thống vẫn cho là nhà của Thánh Phêrô. Đây là một căn nhà nằm gần bãi biển, thuộc khu nghèo nàn vì tường làm bằng đá đen basan, có mái nhẹ và không cửa sổ (nên phải đục mái để hạ người bất toại xuống, xem Mc 2:1-2). Có bằng chứng cho thấy từ giữa thế kỷ thứ nhất, một phòng của căn nhà đã được để riêng ra cho công chúng sử dụng và khi Egeria tới đó năm 381, bà cho hay, căn nhà của “thủ lãnh các tông đồ đã được biến thành một nhà thờ, với các tường nguyên thuỷ vẫn còn đấy”. Qua thế kỷ thứ 5, một nhà thờ lớn hơn, hình bát giác thay thế nhà thờ cũ. Và năm 570, nhà hành hưoơg người Piacenza cho hay “nhà Thánh Phêrô nay là một vương cung thánh đường”. Sau thời gian này, Caphácnaum hầu như bị bỏ hoang, đến cả Thập Tự Chinh cũng không lưu ý tới. Một du khách vào thế kỷ 13 cho hay thị trấn này chỉ còn khoảng bẩy căn nhà của các ngư phủ nghèo nàn. Phải chờ đến thế kỷ 19, các tu sĩ Dòng Phanxicô mới tới đây mua đất đai, dựng hàng rào, trồng cây cối làm nơi dừng chân cho khách hành hương. Và họ bắt đầu các công trình khai quật và trùng tu trong các năm từ 1905 tới 1926. Nhà Thánh Phêrô được họ khám phá năm 1968. Ngôi nhà này chắc chắn là nhà của Thánh Phêrô, nơi Chúa Giêsu từng cư ngụ, vì có bằng chứng nó được tôn kính và được công chúng sử dụng rất sớm (từ giữa thế kỷ thứ nhất). Mặt khác, sự nhận diện này không hề mâu thuẫn với bất cứ điều gì đã được khai quật và thực sự phù hợp với những chi tiết Thánh Kinh. Năm 1990, Dòng Phanxicô cho xây một nhà thờ tân tiến có hình dáng hết sức đặc biệt, ngay trên địa điểm căn nhà trên. Nhà thờ hình sáu cạnh, trông giống con thuyền vũ trụ, dựng trên cột cao, có nền bằng kính để khách hành hương có thể nhìn thấy ngôi nhà thờ nguyên thủy ở bên dưới. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có tới đây năm 2000. Ngoài nhà thờ này, chúng tôi cũng được thấy tàn tích của một hội đường Do Thái, chỉ cách nhà thờ một dẫy nhà đã có từ các thế kỷ thứ nhất tới thế kỷ thứ sáu. Khác với nhà Thánh Phêrô, hội đường này được xây bằng đá vôi trắng, vốn không có trong vùng, trên một thế đất cao và được trang hoàng hết sức mỹ thuật. Phía sau hội đường là một dẫy nhà có tới mấy chục căn, dĩ nhiên đã đổ nát, chỉ còn lại những bức tường phân cách các phòng. Tiếp nối dẫy nhà này và song song với hội đường là nơi thu góp rất nhiều các tảng đá được đẽo gọt và khắc rất tinh xảo đủ hình từ ngôi sao Đavit tới chân nến bẩy ngọn. Các cây cọ (palm) và khuynh diệp Úc Châu mà các tu sĩ Phanxicô trồng ngày nào là bóng mát qúy giá đối với chúng tôi giữa cái nắng chói chang của trời Caphácnaum đang hạ. Hàng trăm sinh viên đại học Paris đang im lặng suy niệm dưới bóng những hàng cây ấy khiến người ta nhớ lại việc Chúa Giêsu từng giảng dạy tại hội đường này.Đoàn chúng tôi cũng thuận đường xuống cực nam Biển Hồ Galilê để viếng Yardenit, nơi người ta tin Chúa Giêsu được Thánh Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho. Yardenit vốn có nghĩa là Yarden Nhỏ. Mà Yarden là tiếng Do Thái chỉ Sông Gióc-đan. Yardenit, nằm trong khuôn viên Kibbutz Kineret, là một địa điểm hành hương rất sầm uất của Kitô giáo thế giới: hàng năm, nó đón tiếp ít nhất nửa triệu người đến thăm, riêng năm 2000, số du khách tới đây là hơn một triệu. Lúc chúng tôi tới nơi, rất nhiều đoàn hành hương đang ở dưới sông. Có đoàn với đồng phục trắng toát đang cử hành nghi thức rửa tội bằng cách dìm hẳn người xuống nước, trong khi đồng đạo ca hát trong điệu thánh vũ nhịp nhàng. Cả một bầu khí đạo hạnh và vui tươi xuất hiện dưới làn nước trong xanh, giữa một khung cảnh thơ mộng của trời, của mây, của cây, của đá, của công trình nhân bản và công trình thiên nhiên hòa lẫn. Đoàn chúng tôi chọn địa điểm rửa tội yên tĩnh ở cuối khúc sông, ngay chỗ Gióc-đan rẽ để chẩy về Biển Chết cách đó gần 100 cây số. Ở đấy, chúng tôi cùng cầu nguyện và tham dự nghi thức đổ nước trên đầu, với chính làn nước đã từng được đổ lên đầu Thầy Chí Thánh. Quả không còn phương tiện nào cảm kích hơn để tưởng nhớ bí tích Rửa Tội đã tiếp nhận từ hồi tấm bé. Lên bờ, chúng tôi còn có dịp đọc lại đoạn trích Phúc Âm Thánh Máccô 1: 9-11 bằng tiếng Việt, được đoàn hành hương của Giáo Xứ Mẹ Việt Nam ở Washington D.C., do Đức Ông Peter Nguyễn Thanh Long hướng dẫn, ghi trên một bảng đá lớn gắn lên bờ tường bao quanh khu Yardenit vào ngày 15 tháng 11 năm 2007. Trong giây phút rất nhanh, chúng tôi có cảm giác như quê hương Việt Nam đang hiện diện đâu đó rất gần. Chú thích(4) Jerome Murphy O'Connor, Oxford Archaeological Guides: The Holy Land, tr.280) <br />§4 <br />Lên Đền<br />Ở Nadarét hai ngày, hôm 26 tháng Bẩy, đoàn hành hương chúng tôi lên đường đi Giêrusalem. Nói theo người hướng dẫn đoàn, chúng tôi Lên Đền. Động từ “lên” quả có nhiều ý nghĩa. Vùng Giuđêa nơi có kinh thành Giêrusalem vốn ở thế đất cao. Tuy ở phiá đông vùng này, có nơi thấp hơn mặt biển tới 400 thước, nhưng ở phía nam và tây nam, thế đất cao tới 1,020 thước so với mặt biển. Dù sao, thánh điện Giêrusalem, xây trên một nền cao, vốn là đỉnh điểm diễn ra việc thờ phượng của cả dân tộc Do Thái từ ngàn xưa và hiện giấc mơ muôn thuở của dân tộc này vẫn là được tái thiết lại đền thánh ấy. Giấc mơ Lên Đền vì thế vẫn là giấc mơ của họ lúc này. Và của cả đoàn hành hương bé nhỏ chúng tôi. Đến Đất Thánh mà không lên Giêrusalem thì chắc chắn chưa tới Đất Thánh.<br />Morton kể lại câu truyện cảm động về một nông dân Kitô hữu tới Giêrusalem vào đầu thế kỷ 20. “Tôi gặp một nông dân già, lưng gù, quần áo tả tơi, chân mang đôi giầy nỉ to tướng. Ông là người Bảo Gia Lợi, tới đây trên một chuyến tầu hành hương, như người Nga vốn làm, và có lẽ ông đã phải chắt bóp cả một đời dành dụm để có được giây phút này.<br />Ông đang qùy bên phiến đá hoa cương, hôn lấy hôn để, nước mắt dàn dụa qua những nếp nhăn sâu trên mặt chẩy xuống phiến đá. Hai bàn tay sần sùi thô kệch, các móng nứt nẻ và đen ngòm vì lao nhọc, đang âu yếm nhẹ nhàng vuốt ve phiến đá hoa cương; rồi ông chắp tay lại trong một thế cầu nguyện, và làm dấu Thánh Giá. <br />Ông cầu nguyện lớn tiếng, miệng run rẩy, nhưng tôi không hiểu ông đang cầu nguyện những gì. Rồi lấy từ túi ra mấy mẩu giấy bẩn thỉu và một dải ruy-băng, ông nhẹ nhàng chà chúng trên Mồ, sau đó cất chúng vào túi áo. <br />Nghĩ rằng có thể có đủ chỗ cho mình, nên tôi cúi đầu, bước vào Mồ. Vị đan sĩ Hy Lạp, người nông dân đang qùy, và tôi vừa choán hết cái không gian nhỏ xíu này. Thực ra, nếu ông cứ tiếp tục qùy thì cũng chẳng sao, nhưng có lẽ thấy phiền vì thấy tôi bước vào, nên ông đứng lên, nước mắt vẫn dàn dụa, và thì thào với tôi điều gì đó. Thế là chúng tôi đứng đối diện với nhau, ngực gần như chạm vào nhau. Khi nhìn vào mắt ông, tôi nhận thấy mình đang được chiêm ngắm niềm hạnh phúc đích thực. <br />Đây là giấc mơ cả đời của ông. Tôi chưa bao giờ được thấy một niềm hạnh phúc nào chân thật như thế trước đây. Cả đời, tôi chưa bao giờ được chiêm ngưỡng sự bình an và hài lòng nào được in rõ đến thế trên khuôn mặt một con người”. <br />Matilde Serao, nhà báo Ý, gốc Hy Lạp, nổi tiếng vào đầu thế kỷ 20, trong tác phẩm “In the Country of Jesus” nói nhiều hơn tới các khách hành hương Kitô giáo tại Giêrusalem. “Bạn dễ dàng nhận ra khách hành hương người Nga qua nét nghèo nàn và khiêm nhường của ông, qua cung cách làm Dấu Thánh Giá kỳ cục, khá rộng và chậm chạp; và trên hết, qua cách ông ném cái thân hình kềnh càng, nặng nề xuống đất. Áo khoác của ông rách như bươm và chiếc quần vá bạc thếch; đầu ông khi cúi xuống lộ ra những lọn tóc quăn xinh xắn, đôi mắt ông mờ đi vì những dòng lệ âm thầm đang lăn qua má nhiễu xuống nền Mồ. Bàn tay ông run lên nắm lấy chiếc mũ lông thú cũ kỹ. Bạn cũng dễ dàng nhận ra vị linh mục người Malta nhờ mầu da bánh mật, hàng mi rậm, nét mặt mệt mỏi, quần áo tả tơi, và cái bái quỳ lâu dài của ngài. Ngài đã phải ăn xin cho chuyến đi từ hòn đảo quê hương, du hành hạng ba, và cử hành Thánh Lễ hàng ngày tại mọi làng mạc và thị trấn dọc theo duyên hải. Bạn cũng dễ dàng nhận ra người đàn bà Ba Lan nghèo nàn nhờ đôi mắt sáng nói lên niềm hạnh phúc bên trong, người từng lặn lội suốt ba tháng ròng, lội bộ xuyên qua Syria, sống nhờ bố thí của các tu viện, nhà trú ẩn và khách qua đường, hôn tay mọi người, không biết nói bất cứ thứ ngôn ngữ nào ngoài tiếng mẹ đẻ. Bất chấp bệnh tật và mệt mỏi, bà tiếp tục sống, chỉ mong sao thấy được, rờ được Mộ Thánh; và khi thấy được Mộ, bà vui đến ngất lịm. Bạn cũng nhận ra người nông dân Hy Lạp nghèo nàn qua bàn tay rám nắng vì cầy sâu cuốc bẫm. Bàn tay ấy run lên khi chạm tới phiến đá trắng, một phiến đá ông từng mơ ước bao nhiêu năm nay và với biết bao khó khăn ông mới với tới được…”. <br />Qumran và Biển Chết<br />So với những người hành hương này, chúng tôi kém công lao hơn nhiều, tuy xuất phát từ những vùng xa xôi hơn họ. Lòng đạo thì không dám so sánh, nhưng về háo hức, thiển nghĩ hẳn giống nhau. Người hướng dẫn xem chừng muốn kìm hãm cái háo hức ấy, nên căn dặn chúng tôi phải canh chừng nhiều điều khi tới Giêrusalem: an toàn bản thân, tình hình căng thẳng với binh lính trang bị đầy mình, người chính thống giáo có khi dùng cả bạo lực nếu mình không tôn trọng giờ giấc thờ phượng của họ… <br />Không biết mỗi lần phải Lên Đền, Thánh Gia cũng như người dân Nadarét xưa dùng con đường nào. Phần chúng tôi, đi theo lộ 90, dần dần bỏ lại phía sau mầu xanh của Galilê, để bắt gặp cảnh đồng điệu của khí hậu và mầu sắc sa mạc. Còn chăng chỉ là những đồn điền trồng chà là ngay ngắn, thỉnh thoảng làm dịu đôi mắt mệt mỏi vì phải nhìn mãi những đồi trọc, những hàng rào điện tử phân cách Israel và Jordan và những lô cốt, đồn canh trơ trọi. Trước khi tới Đền Thánh, chúng tôi dừng lại thăm Qumran, nơi phái Essenes, sống cùng thời với Chúa Giêsu, chôn dấu các sách cuộn thời danh từ thế  kỷ thứ nhất trong các hang động thuộc một địa điểm hoàn toàn hoang sơ, thiếu cả bóng cây, và mãi năm 1947, người ta mới tình cờ tìm lại được. <br />Sách Thánh không nhắc gì tới nhóm Essenes. Người đầu tiên nhắc tới họ và lối sống cộng đoàn của họ (không lập gia đình, sống độc thân, sống chung với nhau, chia sẻ tiền bạc, nhà ở, tài sản, thực phẩm cà cả quần áo nữa) chính là nhà triết học Do Thái tên Philo thành Alexandria (khoảng năm 20-54 công nguyên). Văn sĩ La Mã là Pliny, tục gọi là Pliny Trưởng Lão (chết khoảng năm 79 công nguyên) và Flavius Josephus, trong Chiến Tranh Do Thái (khoảng năm 75 công nguyên) cũng có nhắc tới nhóm này. Họ trở nên nổi tiếng từ lúc Các Sách Cuộn Biển Chết được tìm thấy vào năm 1947 tại Qumran.<br />Ngày nay, trừ mấy bóng cây ở khu đón tiếp, Qumran là một vùng đồi trọc, toàn một mầu đá đỏ. Nơi chúng tôi tới thăm là Hang Số Bốn (có tất cả 11 hang), là hang nổi tiếng nhất. Hơn 15,000 mẩu giấy từ hơn 200 sách cuộn đã được tìm thấy tại hang này trong đó có 122 sách cuộn thánh kinh hay các mẩu của chúng, dĩ nhiên thuộc Cựu Ước.  Tại đây, người ta dựng lên mấy lều vải lớn để che nắng. Đứng trong các lều này, nhìn qua tay trái, khách hành hương có thể thấy mầu xanh nhạt của Biển Chết, và con đường xe chạy dọc theo Biển ấy. Nhìn về phía trước, là một dẫy hang đá đỏ, thỉnh thoảng mới thấy một lỗ hang, phía gần đỉnh. Cùng một khung cảnh ấy xuất hiện bên cánh phải. Quay lưng lại, khách hành hương được thấy nhà ăn cộng đồng, nhà bếp, phòng kho, nơi làm việc của cộng đoàn Qumran ngày xưa. Nắng tiếp tục gay gắt trên toàn vùng núi và đất đỏ, khiến những tia hơi nước phả từ cao xuống trên đầu du khách tại khu tiếp tân làm chúng tôi tỉnh cả người. Đây có lẽ là hệ thống làm mát ngoài trời duy nhất trên toàn lãnh thổ Đất Thánh.<br />May một điều, liền sau đó, chúng tôi được tham quan Biển Chết. Chỉ nghe đến tên thôi, ai cũng cảm thấy e ngại. Người trưởng đoàn còn bồi thêm nhiều lời căn dặn làm tăng thêm nổi e ngại ấy: đừng để nước vào miệng nhất là vào mắt, rất nguy hiểm. Mà nguy hiểm thật. Tuy nước Biển Chết nâng mình lên, không làm mình chìm, nhưng nó vẫn là nước biển với sóng luôn lay động làm mình mất thăng bằng. Không khéo, người có thể bị lật sấp, nước vào mắt và vào miệng chắc chắn hết sức khó chịu. Chỉ cần vô tình bị một hột nước thôi, miệng đã đắng nghét rồi và mắt thì cay sè khốn khổ. Tuy nhiên, cái hứng khởi được nằm ngửa trên nước đọc báo như hình quảng cáo khích lệ làm cho ai trong đoàn hành hương chúng tôi cũng xuống biển và ngả lưng trên làn nước xanh biếc của nó. Nhiều người lượm được cả những cục muối to bằng quả cau từ dưới lòng biển. <br />Điều lạ là Biển Chết nối với Biển Galilê bằng con sông Gióc-đan. Nhưng Biển Galilê thì nước ngọt nhiều cá mú mà Biển Chết thì mặn đắng, không một sinh vật nào sống được. Hai biển này vì thế có thật nhiều khác biệt. Biển Chết nằm dưới mặt biển tới 422 mét và bờ của nó là điểm thấp nhất của bề mặt trái đất tính về đất khô. Nó sâu tới 378 mét, là biển siêu mặn  sâu nhất trên thế giới. Nó cũng là một trong những khối nước mặn nhất thế giới, với độ muối lên tới 33.7%, mặn hơn nước đại dương tới 8.6 lần. Biển chết dài 67 kilômét va chỗ rộng nhất lên tới 18 kilômét. Nó từng thu hút du khách từ các vùng quanh Địa Trung Hải cả hàng nghìn năm nay. Theo Thánh Kinh, nó là nơi trú ẩn của Vua Đavít. Nó cũng là nơi nghỉ ngơi chữa bệnh đầu tiên của thế giới (ít nhất cũng đối với Hêrốt Đại Vương) và là nguồn cung cấp khá nhiều sản phẩm khác nhau, từ dầu ướp xác Ai Cập tới bồtạt làm phân bón. Người ta cũng dùng muối và các khoáng chất của nó để tạo ra mỹ phẩm và các bao dược thảo. Phần lớn anh chị em trong đoàn hành hương chúng tôi không thoả mãn với hơn nửa giờ ngâm mình trong nước Biển Chết, nên đã mua về mỗi người cũng đến 5 hay 6 gói muối của vùng này để “ngâm chân” sau khi đã trét đầy mình với bùn của Biển này. Nhiều người thuộc giống dân Cô-ca-diêng còn ngồi phơi nằng cả nửa giờ đồng hồ với chất bùn đen đó trên người. <br />Cây Sung Giêricô<br />Bỏ Biển Chết, đoàn chúng tôi ghé Giêricô, nơi Chúa Giêsu thấy Giakêu trên cây sung. Cây sung hình như khác với cây vả. Cây vả bị Chúa nguyền rủa không chịu sinh trái. Chứ cây sung là cây ban phước vì đã giúp Giakêu nhìn thấy Chúa Giêsu và giúp Chúa Giêsu khám phá ra Giakêu, một người tuy lùn nhưng tấm lòng không lùn chút nào. Không biết tại Giêricô hiện nay có bao nhiêu cây sung (sycamore), nhưng ngoài đoàn chúng tôi ra, nhiều đoàn khác cũng tới viếng cùng một cây sung ở ngã ba một con đường trong nội thành Giêricô này. Và mảnh vườn này cũng chỉ duy nhất một cây sung này mà thôi. Có thể vì tuổi đời của nó cao, nên người ta tin nó là cây sung đã được Giakêu trèo lên để thấy rõ Chúa Giêsu khi Người đi qua đây chăng? Cha Vincent Mai Văn Kính, vị tuyên úy khả kính đang theo học tại Đất Thánh này, không chắc chắn đây là cây sung, nhưng ngài cũng tạm dùng chữ sung mà dịch cây sycamore cho tiện. Hình như lá sycamore không hoàn toàn giống như là cây sung ở quê hương Bắc Việt của tôi. Trái của nó xem ra không được lớn bằng nhưng cách nó mọc từ cành và thân cây, khiến người ta lại thấy nó giống trái sung. <br />Giêricô là một thành ở phía tây Sông Gio-đan, dưới mực biển 250 thước, cách cực bắc Biển Chết khoảng 8 cây số. Suối nước ngọt của Giê-ri-khô làm nó trở thành một ốc đảo giữa sa mạc bao quanh, ‘một thị thành của chà là’. Thành này bảo vệ các nhánh của Sông Gióc-đan, qua đó, Giô-suê đã phái đi các thám tử của mình. Nó được bảo vệ kiên cố và là chướng ngại chính đầu tiên cản trở bước tiến quân của người Ít-ra-en. Giô-suê gặt hái được chiến thắng đầu tiên tại mảnh đất này khi Giê-ri-cô thất thủ. Thời các Thủ Lãnh, Ê-hút giết vua Éc-lon của Mô-áp tại Giê-ri-cô. Thời Ê-li-a và Ê-li-sa, nó là quê hương của khá nhiều tiên tri. Khi từ lưu đày trở về, người Giê-ri-cô đã giúp tái thiết các bức tường của Giê-ru-sa-lem.      <br />Trong Tân Ước, chính tại Giê-ri-cô, Chúa Giê-su đã chữa mắt cho Ba-ti-mê, và Gia-kêu đã trở thành con người mới hẳn. Câu truyện người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu cũng xẩy ra trên đường từ Giê-ru-sa-lem đi Giê-ri-cô. Giê-ri-cô có một lịch sử lâu dài. Thị trấn đầu tiên được xây dựng ở đây khoảng năm 6000 trước CN. Thời Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp, sinh hoạt tại Giê-ri-cô là một sinh hoạt đầy văn minh. Trong các ngôi mộ vào khoảng năm 1600 trước CN, người ta đã tìm ra nhiều đồ gốm, bàn ghế bằng gỗ, giỏ và hộp đựng với những chạm trổ đẹp đẽ. <br />Hiện nay, trong các khai quật tại Tell-es-Sultan, các nhà khảo cổ đã khám phá ra dấu vết của hơn 20 cuộc định cư liên tiếp tại Giêricô, mà cuộc định cư đầu tiên đã xẩy ra cách nay 11,000 năm, tức năm 9,000 trước Chúa Giáng Sinh. Nó được coi là một trong những thành phố có người ở liên tục lâu đời nhất trên thế giới. Như trên đã nói, nó được Cựu Ước gọi là “Thành của Chà Là”. Quả không ngoa, tới Giêricô, bạn sẽ được thấy những hàng chà là chi chít trái chín thơm ngon. Nhiều con suối trong thành và chung quanh thành là lý do khiến cho con người tìm về đây rất sớm để định cư. <br />Trước đây, Giêricô vốn là lãnh thổ của Jordan. Nhưng trong cuộc Chiến Sáu Ngày năm 1967, Do Thái đã chiếm thành phố này cùng với toàn bộ Bờ Phía Tây. Nhưng năm 1994, nó là một trong những thành phố đầu tiên được trao cho Thẩm Quyền Palestine kiểm soát, theo Hiệp Ước Oslo. Hiện nay, nó thuộc quyền cai trị của người Palestine. Tại đây có một phủ thống đốc. Cuộc sống của người dân Palestine tại thành phố này có nhiều hạn chế về kinh tế. Cảnh xin ăn thường xẩy ra cùng với nạn nài ép mua bán những sản phẩm rẻ tiền. Tiếng quen thuộc hay được nghe thấy là “one dollar” bất luận người bán muốn bán gì. Đến ông từ nhà thờ Chúa Chiên Lành, nơi chúng tôi chờ cử hành thánh lễ trong ngày, cũng tỏ ra muốn được “one dollar” của khách hành hương. <br />Ở Giêricô, chúng tôi được đứng từ xa, ngắm nhìn Núi Cám Dỗ cao chót vót có nhiều công sự truyền tin trên đỉnh. Tương truyền đó là nơi Chúa Giêsu bị ma qủy cám dỗ sau khi ăn chay 40 ngày đêm trong hoang địa. Lưng chừng Núi, cheo leo một tu viện của chính thống giáo Hy Lạp, có tên là Đan Viện Cám Dỗ. Nhìn xa, tu viện như bám toòng teng vào vách núi trơ trụi. Từ địa điểm Nhà Hàng Cám Dỗ, nơi chúng tôi dùng bữa trưa, có hệ thống xe cáp treo đưa du khách lên thăm Núi này. Có lẽ vì không đủ thì giờ, ban tổ chức chuyến hành hương của chúng tôi đã bãi bỏ việc thăm Núi ấy. Nhưng tiện đường, chúng tôi đã được thăm Dòng Suối Êlisa, nơi tương truyền nhà tiên tri này đã liệng muối xuống, biến nước đang độc thành lành (Các Vua 2 2:19-22). <br />§5 <br />Giêrusalem về đêmCử hành thánh lễ tại Nhà Thờ Chúa Chiên Lành xong, chúng tôi từ giã Giêricô, lên đường đi Giêrusalem. Đây mới đúng là lên Đền. Giêricô nằm ở một thế đất dưới mặt biển 260 mét, trong khi Giêrusalem nằm trên một thế đất cao hơn mặt biển tới gần 600 mét. Độ cao như thế cách nhau gần một kilô mét, trong khi đường dài cách nhau chỉ khoảng 27 kilô mét. Không lạ gì, khi bình luận đoạn phúc âm Thánh Luca (10: 29-37) nói về người Samaritanô nhân hậu, đến chỗ “tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy”, vị tuyên úy của cộng đoàn tôi cho rằng: không hẳn là đi xuống mà là lao xuống, lao xuống như bay, nếu đi xe (mà các vị tư tế thì đi xe là cái chắc, đâu có đi lừa như anh chàng quê mùa xứ Samaria!) vì từ Giêrusalem mà xuống Giêricô, đường rất giốc. Chắc vị tuyên úy của tôi muốn giảm khinh cho thầy tư tế này chăng, vì lao xuống như bay thì làm sao thắng kịp, thôi tránh qua bên kia mà đi cho rồi!Chúng tôi đi theo chiều ngược với thầy tư tế, nhưng cho dù xe chở chúng tôi không phóng như bay, có gặp người mắc nạn dọc đường, chúng tôi cũng bắt chước thầy mà thẳng đường, chứ không cần “tránh qua bên kia” mà tới Giêrusalem. Thầy tư tế nghĩ bổn phận của thầy chỉ là việc phụng sự ở Đền Thờ. Hết việc phụng sự ấy là hết bổn phận. Chúng tôi phải lên Đền, chú mục của chúng tôi lúc này là lên Đền, mong sao cho chóng tới lúc được thấy Đền. May mắn, đường không xa lắm, chỉ một loáng, đã thấy bảng chỉ đường mang tên Giêrusalem, một tên mà từ tấm bé, chúng tôi từng được nghe nhắc tới, lúc thì đủ âm đủ vần như trên, lúc thì đọc tắt Gia Liêm nghe cho có vẻ địa danh Việt Nam. Thực thế, không thành phố nào được người khắp thế giới biết tới ngay từ hồi tấm bé bằng Giêrusalem. Nó được Thánh Kinh nhắc tới 632 lần, trong đó, Tân Ước nhắc tới 145 lần, với đủ âm sắc của thất tình: hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố,dục. Lần đầu tiên, nó được nhắc tới dưới tên tắt Salem là trong trình thuật Menkixêđê, vị quân vương kiêm tư tế, chúc phúc cho tổ phụ Ápraham (St 14: 18-20). Dưới tên đầy đủ, nó được nhắc tới lần đầu trong sách Giôsuê 10:1 khi nhắc tới Ađôni Xeđéc, vua Giêrusalem, được tin Giôsuê chiếm thành Ai… Lần chót, nó được nhắc tới là trong Khải Huyền 21:10 “Rồi đang khi tôi xuất thần, thì người đem tôi lên một ngọn núi cao hùng vĩ, và chỉ cho tôi thấy Thành Thánh, là Giêrusalem, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống”. Cả ba hình ảnh khởi đầu và kết thúc ấy về Giêrusalem đều là điềm rất tốt cho chuyến hành hương đầy mong đợi của chúng tôi. Có điều tự thân nó, Giêrusalem là một thành phố có thân phận thật long đong. Theo từ nguyên, nó vốn có nghĩa là hòa bình, hoà hợp, toàn bộ. Mà thực tế, nó là hiện thân của chiến tranh, của mâu thuẫn, tranh chấp, chia rẽ dọc dài từ ngày hiện hữu. Nó từng bị hủy diệt hai lần, bị bao vây 23 lần, bị tấn công 52 lần và bị chiếm đóng và chiếm lại 44 lần. Có lúc, như dưới triều Hoàng Đế Hadrian của La Mã (thế kỷ thứ hai công nguyên), nó đã bị đổi tên thành Aelia Capitolina mà dân Israel bị ngăn cấm không được lai vãng, tới tận thế kỷ thứ 7. Và ngày nay, dù nằm trọn dưới quyền kiểm soát của Nhà Nước Israel, nó vẫn là miếng mồi tranh chấp chưa biết sẽ ngả ngũ ra sao, giữa hai thẩm quyền Israel và Palestine.<br />Rồi những ngọn đồi với những toà nhà bám vào sườn đầy cây dần dần xuất hiện, tạo nên một cảm giác nhẹ nhõm cho đôi mắt sau khi cứ phải nhìn mãi một mầu đất sa mạc độc điệu. Nhìn qua tay phải, khách hành hương đã thấy thung lũng toàn một mầu xanh phân chia Núi Cây Dầu với Thành Thánh đúng nghĩa. Nhìn lên, đã thấy tường thành cũ và mái vòm vàng ươm lóng lánh dưới ánh mặt trời của Đá Tảng (Dome of The Rock). Khí hậu mát mẻ của Giêrusalem thật tương phản với Giêricô. Chúng tôi vội vàng làm thủ tục nhận phòng tại khách sạn The Olive Tree trên đường St George, tắm rửa, ăn cơm chiều xong, là vội đi thăm Giêrusalem về đêm. Giêrusalem là thành phố quốc tế, nên sinh hoạt về đêm của nó hết sức đa dạng, nhiều mặt. Nhưng mặt quan trọng nhất của nó vẫn là tôn giáo và là mặt được cha tuyên úy Mai Văn Kính quan tâm và được đại đa số chúng tôi biểu đồng tình. Dù sao, sau khi chiếm được Giêrusalem của người Giơvút, việc đầu tiên Vua Đavít làm là rước Hòm Bia Thiên Chúa về đó. Và kể từ ngày đó, Giêrusalem trở thành Thành Thánh của Thiên Chúa. Dù ngày nay, người theo chủ thuyết Sion (Zionism) có bất cần sự kiện và ý nghĩa lịch sử ấy, và chỉ dựa vào lực lượng và thực tế chính trị để giải quyết các vấn đề của Giêrusalem nói riêng và của cả Israel nói chung ra sao thì ra, nhưng giải pháp có thực phải bao gồm mặt tôn giáo này. Do đó, trạm đầu tiên trong cuộc tham quan Giêrusalem về đêm của chúng tôi là nhà thờ chính tòa St George của Giáo Hội Anh Giáo, toạ lạc tại đường Nablus, khá gần với khách sạn nơi chúng tôi cư ngụ. Trái với dự đoán, nhà thờ này đã được xây dựng theo lối tân Gô-tích vào cuối thế kỷ 19 và là tòa của Giám Mục Giêrusalem thuộc Giáo Hội Anh Giáo miền Giêrusalem và Trung Đông. Nhà thờ khá lớn, đứng từ khách sạn The Olive Tree, đó là nhà thờ dễ nhìn thấy nhất. Không biết số giáo dân Anh Giáo tới đây tham dự các buổi phụng vụ có đông không, nhưng người quản thủ là một người Palestine theo Công Giáo La Mã. Anh ta khá ngạc nhiên khi nghe tại Việt Nam, số người Công Giáo lên đến hơn 7 triệu. Bỏ nhà thờ St George, chúng tôi tiếp tục hướng về phía Cổ Thành, băng qua nhiều nhà trọ nổi tiếng như YMCA. Điều ngạc nhiên là Tòa Tổng Lãnh Sự của Mỹ cũng nằm tại khu vực này mà không cần kín cổng cao tường cũng như lực lượng an ninh cùng khắp như Sài Gòn thuở nào. Vấn đề an ninh trên đất Israel không như báo chí và truyền thông quốc tế tô vẽ. Rồi tường thành Giêrusalem sừng sững xuất hiện dưới màn trời đêm, lúc chúng tôi băng qua một số sạp hàng bán lẻ của người Palestine. Mùi thịt nướng thơm phức khiến nhớ tới Sài Gòn và những quán ăn cùng khắp. Cổng Đamát đen ngòm nằm dưới kia, người qua lại khá đông. Chúng tôi tiếp tục đi trên vỉa hè đường Sultan Sulaiman để tới cổng Hêrốt đang sửa chữa. Băng qua đường, chúng tôi đi dọc theo thung lũng Kít-rôn chìm lỉm trong một mầu đen thăm thẳm, nơi Chúa Giêsu và các môn đệ thường băng qua để tới Vườn Diệtsimani. Băng qua cây cầu trên đường Lion, chúng tôi tới nhà thờ Các Dân Tộc mà tên chính thức gọi là Nhà Thờ Hấp Hối. Lúc ấy nhà thờ đã đóng cổng và cửa, nên chúng tôi chỉ biết đứng ngoài chụp hình và cố mở to hai mắt để đọc những hàng chữ viết bên dưới một bức bích họa vẽ cảnh Chúa hấp hối một mình: “sustinete hic et vigilate mecum” (anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy, Mt 26:38). Trời Giêrusalem về đêm khá lạnh, nhưng chúng tôi vẫn nán lại trước Nhà Thờ Hấp Hối một lúc. Quay lưng lại nhà thờ, chúng tôi thấy thấp thoáng những ngôi mộ của Nghĩa Trang Hồi Giáo và bức tường Cổ Thành. Mái Vòm của Đền Thờ Đá Tảng chìm hẳn vào bóng đêm. Xe cộ không nhiều, thỉnh thoảng dăm, ba chiếc chạy vượt qua. Chúng tôi theo đường Lion, tiến qua Cổng Sư Tử, vào hẳn trong Cổ Thành. Đi bộ ngoài đường phố, chỉ có đoàn chúng tôi giữa trời đêm xe lạnh của Giêrusalem. Nhưng bên trong Cổ Thành, nhất là từ chỗ bắt đầu Đường Thánh Giá, người Palestine vẫn sinh hoạt tấp nập. Cũng một con đường, ở ngoài tường thành là Lion, mà bên trong mang tên Mujahidin, nơi có nhà Đức Mẹ Sinh Ra và nhà thờ Thánh Anna, thân mẫu của Ngài. Nối dài chính là nơi bắt đầu Đường Thánh Giá (Via Dolorosa) với nhà thờ Đánh Đòn. Đường khá hẹp, lát đá gồ ghề, hai bên là những tòa nhà và ngôi nhà liền nhau với tường gần như được xây bằng cùng một loại đá giống nhau. Bộ hành và xe cộ đủ loại cùng chia sẻ một mặt đường nhỏ hẹp ấy. Cuộc tham quan đêm nay mang tính thăm dò, nên chúng tôi chỉ đi một phần của Đường Thánh Giá, để sau đó, rẽ vào đường Al-Wad, nơi có nhiều cửa hàng sầm uất, bán đủ mọi mặt hàng, nhưng phần lớn vẫn là đồ kỷ niệm. Người đi lại ở chỗ này đông hơn ở khúc Đường Thánh Giá và cũng chính tại đây, chúng tôi được thấy sự hiện diện của 2 binh sĩ Do Thái với súng ống và trang bị đầy đủ. Họ từ chối không đứng chụp hình chung với chúng tôi, nhưng chỉ hai nhân viên bán quân sự đang từ phía Đường Thánh Giá bước tới và cho hay: chúng tôi có thể chụp hình chung với hai người đó. Hai nhân viên bán quân sự này chỉ đeo sơ sài một dùi cui bên hông, đầu không đội nón, và trang phục rất gọn nhẹ. Cũng tại đây, chúng tôi được chứng kiến phong cách một người “tôn giáo” Do Thái với phẩm phục toàn đen, kể cả nón rộng vành, đi thật nhanh để băng qua Al-Wad giữa rừng người mà chúng tôi đoán không thuộc cùng chủng tộc với ông ta, hay ít nhất, cũng không “thánh” như giòng giống ông ta. Ông ta cố gắng hết sức để không đụng vào ai và dùng chiếc nón rộng vành của mình che một bên mặt, không biết để người ở một bên Al-Wad không nhìn thấy ông ta, hay để ông ta khỏi phải nhìn họ. Hình ảnh này khiến chúng tôi nghĩ tới người Biệt Phái và học lý khắc nghiệt của họ về sự thánh, nơi thánh và người thánh. Không ngờ mấy ngàn năm, học lý khắc nghiệt ấy vẫn còn sống nguyên vẹn.Đường Al-Wad dẫn thẳng ra C

×