Tổng quan về thuế final

1,031 views

Published on

Published in: Economy & Finance
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
1,031
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
4
Actions
Shares
0
Downloads
24
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Tổng quan về thuế final

  1. 1. 1 MỤC LỤC I. LỊ CH SỬHÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG THUẾ VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI 1.1. Thế giới 1 1.2. Việt Nam 1.2.1. Thời phong kiến đến nửa cuối thế kỉ IXX 2 1.2.2. Thời Pháp thuộc 3 1.2.3. Sau cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1985 3 1.2.4. Giai đoạn từnăm 1986 đến nay 5 II. TỔNG QUAN VỀ THUẾ 2.1. Các quan niệm về thuế 7 2.2. Mục tiêu 9 2.3. Đặc điểm của thuế 9 2.4. Chức năng của thuế 11 2.5. Vai trò của thuế 13 III. LIÊN HỆ THỰC TẾ THUẾ VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 3.1. Thuế Việt Nam 16 3.2. Một số thông tin về thuế tại nước ngoài 21 IV. ĐỀ XUẤT 4.1. Kết cấu hệ thống thuế 24 4.2. Nội dung các sắc thuế 25 4.3. Tổ chức quản lý thu thuế 38 4.4. Các giải pháp hỗ trợ 42
  2. 2. 2 I. Lị ch sử hình thành và phát triển của hệ thống thuế Việt Nam và Thế giới 1.1. Thế giới. Hệ thống thuế đầu tiên được biết đến là ở Ai Cập cổ đại khoảng năm 3000-2800 trước Công nguyên trong triều đại đầu tiên của Vương quốc Old . Hình thức sớm nhất và phổ biến nhất của thuế c lao động khổ sai và thuế thập phân . Lao động khổ sai là lao động cưỡng bức được cung cấp cho nhà nước bởi nông dân quá nghèo để trả các hình thức thuế (lao động trong Ai Cập cổ đại là một từ đồng nghĩa với các loại thuế). Từ các tài liệu vào thời điểm đó các Pharaoh đã tiến hành một tour du lị ch vương quốc hai năm một lần, thu thuế thập phân của người dân. Theo hồ sơ ghi lại khác là biên lai vựa lúa trên mảnh đá vôi và giấy cói .Loại thuế sớm nhất cũng được mô tả trong Kinh Thánh. Trong cuốn “Chúa sáng tạo ra thế giới” (chương 47 , câu 24 - phiên bản quốc tế mới), nó nói "Nhưng khi vụ mùa đến, nộp một phần năm cho Pharaoh . Bốn phần năm khác có thể giữ làm giống cho vụ khácvà làm thức ăn cho bản thân, gia đình và các con của bạn " . Joseph đã dạy người dân Ai Cập cách phân chia cây trồng của họ , cung cấp một phần cho các Pharaoh . Một phần tương đương khoảng 20% lượng cây trồng là thuế. Trong Đế chế Ba Tư , một hệ thống thuế được điều chỉ nh đã được giới thiệu bởi Đại đế Darius I vào 500 năm trước Công nguyên ; hệ thống thuế Ba Tư đã được điều chỉ nh thành mỗi Satrapy (khu vực cai trị bởi một phó vương hay thống đốc tỉ nh). Vào những thời điểm khác nhau , có từ 20 đến 30 Satrapy trong đế quốc và từng nơi được đánh giá theo năng suất giả đị nh của nó . Đó là trách nhiệm của phó vương để thu thập số lượng đo và gửi nó cho hoàng đế, sau khi trừ chi phí của mình. Lượng cầu từ các tỉ nh khác nhau đã đưa ra một bức tranh sống động về tiềm năng kinh tế của họ. Ví dụ, Babylon được đánh giá có số tiền cao nhất và lượnghàng hóa phongphú; nộp1.000 ta-lăngbạc và bốn tháng cung cấp thực phẩm cho quân đội. Ấn Độ , một vùng nổi tiếng trong truyền thuyết về vàng,phải cung cấp bụi vàng tương đương với giá trị của một lượng
  3. 3. 3 lớn 4680 ta -lăng bạc . Ai Cập được biết đến với sự giàu có của các loại cây trồng . Nó đã là vựa lúa của đế quốc Ba Tư (và sau đó là của Đế chế La Mã) và được yêu cầu cung cấp 120.000 đơn vị đo lường ngũ cốc cộng thêm 700 ta-lăng bạc.Thuế này đã được độc quyền thu ở các Satrapy dựa trên đất đai của họ, năng lực sản xuất và mức độ cống nộp. 1.2. Việt Nam Nước ta, dù đã hình thành từ rất lâu nhưng cho đến tận thuế kỷ XI, đời vua Trần Thái Tông (1225 – 1237) thì việc đánh thuế mới được hình thành một cách có tổ chức quy củ và có hệthống. 1.2.1. Thời phong kiến (từ thời nhà Trần) đến nửa cuối thế kỷ IXX Vào thời nhà Trần, sử sách ghi nhận có 2 loại thuế chính được áp dụng: thuếthân và thuế điền. - Thuế thân: phụ thuộc vào diện tích ruộng. Ai có một hai mẫu ruộng thì phải đóng một năm một quan tiền; ai có bốn mẫu, thì đóng hai quan; ai có năm mẫu trở lên thì đóng ba quan.Ai không có mẫu nào thì không phải đóng thuế. - Thuế điền (thuế ruộng): Đóng bằng thóc. Một mẫu ruộng tư thì chủ điền phải đóng 100 thăng thóc. Còn ruộng công thì: đối với ruộng quốc khố: hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế 6 thạch (80 thăng), hạng nhì mỗi mẫu 4 thạch; hạng ba mỗi mẫu 3 thạch; đối với thác điền (ruộng thưởng cho quan lại có công): hạng nhất mỗi mẫu đánh thuế 1 thạch thóc; hạng nhì 3 mẫu lấy 1 thạch; hạng ba 4 mẫu lấy 1 thạch. Với ruộng ao thì mỗi mẫu lấy 3 thăng thóc thuế.Ruộng muối thì phải đóng bằng tiền. Việc đóng thuế kể từ lúc đó đã thành lệ và hầu như không có gì thay đổi đáng kể vào thời nhà Hồ, nhà Lê, ngoài việc quy đị nh lại ngạch thuế, đặt thêm thuế đất bãi trồng dâu nuôi tằm.Đến thời Trị nh – Nguyễn phân tranh, ngoài việc duy trì các loại thuế như trước, Chúa Trị nh ởmiền Bắc còn đặt ra thêm thuế tuần ty (đánh vào thuyền buôn), thuế muối, thuế thổ sản.Còn ởmiền Nam, ngoài thuế điền, thuế mỏ chúa Nguyễn đặt ra thêm thuế xuất cảng, nhập cảng (đánh vào các tàu buôn nước ngoài cập bến và rời khỏi cảng nước ta).Dưới thời nhà Nguyễn, bên cạnh việc quy đị nh lại các loại thuế đinh, thuế điền, vua Gia Long còn đặt ra các loại thuế mới như thuế sản vật (đánh vào việc khai thác quế ở rừng), thuế yến (đánh vào việc khai thác yến sào), thuế hương liệu, thuế đánh vào các tàu bè ngoại quốc ra vào buôn bán, thuế mỏ,… Chế độ thuế có từ thời vua Gia Long tiếp tục được duy trì đến thời vua Tự Đức và dấn sâu thêm
  4. 4. 4 bước đáng kể về tính chất phản động với việc có thêm loại thuế nha phiến đánh vào việc bán thuốc phiện. Sử sách đã ghi nhận một số triều đại được coi là tiến bộ (Lý, Trần, Lê Sơ): Ngoài việc giữ nước, mở mang kinh tế, phát triển dân trí và xây dựng một nền văn hóa có bản sắc dân tộc còn theo đuổi một số chính sách thuế hợp lòng dân, nêu được các mẫu mực về việc sử dụng chi tiêu công theo quan điểm phục vụ quốc kế dân sinh, ích nước lợi nhà. Tựu trung lại, hệ thống thuế trong các triều đại phong kiến ở nước ta có đặc điểm chung là thiếu những chuẩn mực về đạo lý và pháp lý cần thiết, đáp ứng về cơ bản và lâu dài ý chí và lợi ích của nhân dân. Việc thu thuế và sử dụng công quỹ trong rất nhiều trường hợp lại do các bậc vuachúa toàn quyền quyết đị nh không phải dựa trên các suy nghĩ chín chắn mà xuất phát từ ý thích hoặc tính khí thay đổi rất thất thường của mình. Bên cạnh chế độ trung ương tập quyền rất gò bó, lị ch sử còn ghi nhận tình trạng “Phép vua thua lệ làng” đã hình thành từ rất lâu ở các đị a phương mà hậu quả tất yếu là đẻ ra một chế độ thuế hà khắc, một tầng lớp quan lại nhũng nhiễu cho nhân dân trong hàng ngàn năm qua. Kết cục bi thảm nhưng đầy logic đã xảy ra như là một tất yếu lị ch sử không thể đảo ngược: chế độ phong kiến suy tàn vào cuối thế kỷ XIX, để lại một đất nước kém mở mang rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực dân Pháp. 1.2.2. Thời Pháp thuộc Cơ chế tài chính do Pháp thiết lập ở Đông Dương đầu thế kỷ XX không nằm ngoài mục đích bao trùm là vơ vét của cải của thuộc đị a. Dưới thời Pháp thuộc, thuế được huy động vào hệ thống ngân sách thuộc đị a gồm nhiều tầng nấc, nhưng chúng lại không được chuyển về chính quốc, theo đúng mục tiêu của chủ nghĩa thực dân. Hệ thống ngân sách của nhà nước thuộc đị a bao gồm: - Ngân sách Đông Dương và các ngân sách phụ thuộc của nó là: ngân sách đặc biệt về tiền vay nợ và ngân sách riêng của sở hỏa xa. - Ngân sách các xứ bên trong liên bang: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, Cao miên, Ai lao và Quảng Châu Văn (một vùng đất Trung Quốc dưới quyền ủy trị của Pháp trong 99 năm). - Ngân sách các tỉ nh và thành phố. - Ngân sách xã ỡ các làng.
  5. 5. 5 Trên thực tế, một hệ thống ngân sách như vậy đã thể hiện như một hệ thống cực kỳ phản động, mang tính chất bóc lột và vơ vét. Nhưng chính nó đã tạo tiền đề quan trọng dẫn đến cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945, chấm dứt ách đô hộ của chế độ thực dân Pháp trong gần 100 năm. 1.2.3. Sau cách mạng tháng 8/1945 đến năm 1985 a. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 đến năm 1954: thời kì đầu chưa có chính sách thuế chính thức dưới chính quyền cách mạng Sau khi dành được chính quyền, Chính phủ ta chủ trương một số biện pháp như: bãi bỏ thuế thân, thuế thổ trạch ở thôn quê và một số tạp thuế vô lý; miễn thuế điền thổ cho vùng bị lụt và giảm thuế điền 20% trong toàn quốc; đình chỉ thu thuế ở miền Nam (Nam trung bộ và Nam bộ).… Sau năm 1946, khi đã ổn đị nh được tình hình, nhà nước, một mặt, bắt đầu cải tiến chế độ thuế, tăng thuế suất nhiều lại thuế; mặt khác, vẫn tiếp tục dựa vào những đóng góp mới như: Quỹ“Tham gia kháng chiến” năm 1949, Quỹ “Công lương” năm 1950 và bắt đầu chuyển hướng thu một vài thứ thuế bằng hiện vật (thóc gạo) như Quỹ “Công lương” và thuế điền thổ. Mặt khác, Chính phủ cũng động viên nhân dân cho nhà nước vay dưới các hình thức công phiếu và công trái, đồng thời còn dựa vào nguồn phát hành tiền tệ. Đến năm 1951, bên cạnh việc thống nhất quản lý tài chính nhà nước, chính phủ còn ban hành chính sách thuế mới được xây dựng trên nguyên tắc: công bằng, thích hợp với hoàn cảnh kinh tế– xã hội và điều kiện chiến tranh. Chính sách thuế thống nhất gồm 7 thứ thuế là: thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp, thuế hàng hóa, thuế xuất nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ, thuế tem. Trong số các loại thuế này thì thuế nông nghiệp giữ vai trò quan trọng.Tuy vậy, các loại thuế này vẫn chưa được cấu trúc thành một hệ thống hoàn chỉ nh và cũng chưa có tác dụng đáng kể. b. Từ năm 1954 đến năm 1965: sau khi có hệ thống chính sách thuế mới dưới chính quyền cách mạng Đây là thời kỳ mà nền tài chính đứng trước nhiều thuận lợi và thử thách mới.Một mặt, Việt Nam đã đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi bờ cõi một cách vĩnh viễn, nhưng mặt khác, đất nước lại bị chia cắt. Sau hiệp đị nh Genève, Chính phủ chỉ lần lượt ban hành các loại thuế mới trên cơ sở sửa đổi, bổ sung các chế độ đã ban hành từ năm 1951 ở vùng
  6. 6. 6 tự do cũ để áp dụng thống nhất. Trong thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa, thuế công thương nghiệp được sửa đổi đáng kể: từ một hệthống thuế suất tương đối ít chuyển sang một hệ thống và nhiều hình thức thuế khác nhau, áp dụng trên nhiều khâu của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hóa, sử dụng nhiều loại thuế suất khác nhau (cả thuế suất tỷ lệ, thuế suất lũy tiến lẫn thuế suất cố đị nh) có sự phân biệt giữa các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, phân biệt kinh tế tập thể và tư nhân và nhiều biện pháp ưu đãi khác nhau. Trong thời kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, nhà nước đã áp dụng thí điểm chế độ thu mới gọi là thu quốc doanh. Mức thu quốc doanh được xác đị nh riêng cho từng mặt hàng tuỳ theo giá cả nhà nước quy đị nh và chỉ thu ở khâu sản xuất. Năm 1962, nhà nước còn ban hành chế độtrích nộp và sử dụng lợi nhuận của các xí nghiệp. Theo chế độ này, lợi nhuận của các xí nghiệp quốc doanh phải trích nộp một phần vào Ngân sách Nhà nước (NSNN); phần lợi nhuận còn lại, xí nghiệp được dùng để lập quỹ xí nghiệp, bổ sung kinh phí chuyên dùng, đầu tư một phần vào việc kiến thiết cơ bản mở rộng của xí nghiệp và bổ sung vốn lưu động. Các xí nghiệp công tư hợp doanh trong thời kỳ này được chuyển sang làm nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như các xí nghiệp quốc doanh, có nghĩa là phải nộp thu quốc doanh và lợi nhuận chứ không phải nộp thuế như trước. Chế độ thuế này được duy trì ở miền Bắc cho đến ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. c. Giai đoạn 1966 – 1985: xây dựng CNXH,thống nhất đất nước  Thời kỳ 1967 – 1975:thời kỳ cải tạo và xây dựng CNXH ở miền Bắc Trong thời kỳ này, miền Bắc vẫn tiếp tục thực hiện hệ thống thu và thuế cũ, có sửa đổi cho phù hợp với tình hình mới. Còn miền Nam thì có áp dụng một số các thuế cũ của chính quyền Sài Gòn trên cơ sở xóa bỏ một số sắc thuế phản tiến bộ và sửa đổi bổ sung để thích ứng với điều kiện cả nước thống nhất.  Thời kỳ 1976– 1985: thời kỳ thống nhất đất nước – trước cải cách hệ thống chính sách thuế Trong thời kỳ này, cả nước áp dụng hệ thống thu và thuế thống nhất, nhưng hệ thống thuế hiện hành ngày càng tỏ ra có nhiều nhược điểm, cản trở sự phát triển các yếu tố của nền kinh tế thị trường đang nảy sinh với các đặc điểm: - Sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế. Xí nghiệp quốc doanh thì thực hiện chế độ thu quốc doanh, thu trích nộp lợi nhuận
  7. 7. 7 cùng với các hình thức thu khác, trong khi các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác lại chị u sự tác động của thuế. - Thu quốc doanh đã bộc lộ nhiều nhược điểm căn bản. Về thực chất, đây là một loại thuế đa thuế suất, lên tới hàng trăm thuế suất; điều này đặc biệt gây khó khăn cho việc quản lý và hành thu. 1.2.4. Giai đoạn từ năm 1986 đến nay: thời kì đổi mới Từ giữa những năm 80, cùng với công cuộc đổi mới và mở cửa nền kinh tế, hệ thống thuế Việt Nam đã được nghiên cứu và đến năm 1990 một hệ thống thuế mới được hình thành bao gồm hệthống chính sách thuế và hệ thống quản lý thuế. Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự hình thành một hệ thống thuế hoàn chỉ nh nhất từ trước đến nay, bao gồm 9 sắc thuế: Thuế nông nghiệp; Thuế doanh thu; Thuế tiêu thụ đặc biệt; Thuế lợi tức; Thuế xuất, nhập khẩu (mậu dị ch và phi mậu dị ch); Thuế tài nguyên; Thuế thu nhập; Thuế nhà đất; Thuế vốn (khoản thu do việc sử dụng vốn NSNN). Ngoài ra còn một số phí và lệ phí.Tuy có nhiều loại thuế nhưng mỗi doanh nghiệp chỉ áp dụng phổ biến từ 2 đến 3 loại thuế. Đến nay, trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung trong khuôn khổ cuộc cải cách thuế bước 2 (bước 1 được tiến hành từ giữa những năm 80 đến năm 2000 như đã nêu trên), hệ thống pháp luật về thuếbao gồm: 1. Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp 2. Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất 3. Luật thuế giá trị gia tăng 4. Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 5. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 6. Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 7. Pháp lệnh thuế tài nguyên 8. Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao 9. Pháp lệnh thuế nhà đất 10. Chế độ thu sử dụng vốn ngân sách nhà nước 11. Các quy đị nh về phí, lệ phí
  8. 8. 8 Tuy nhiên, hệ thống thuế trên cũng còn rất nhiều bất cập mà nhiều trong số đó bắt nguồn bản thân quan điểm về kinh tế thị trường và việc sử dụng các công cụ vĩ mô của nhà nước Việt Nam. Cụ thể là: 1. Chính sách thuế được cải cách và đổi mới trong khi các cơ chế kinh tế khác chậm đổi mới, chưa thích ứng kị p thời làm giảm hiệu quả của chính sách mới ban hành. 2. Việc hướng dẫn luật thuế do máy móc, thiếu thực tế nên có trường hợp chồng chéo, không rõ ràng làm cho người chấp hành gặp khó khăn, hoặc làm cho thuế có các tác động trái ngược nhau đến hoạt động kinh tế. 3. Nhiều khi công cụ thuế sử dụng được một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc kết hợp với các chính sách đầu tư, thương mại… không đúng đắn đã làm cho môi trường kinh doanh trởnên thiếu lành mạnh. 4. Sử dụng công cụ thuế phục vụ quá nhiều các chính sách xã hội làm mất tính trung lập của thuế. 5. Tính khả thi, tính hợp lý của một luật thuế còn hạn chế nên xét trên giác độ từng sắc thuếthì dẫn đến sau thời gian thực hiện phải sửa đổi, bổ sung. 6. Hệ thống chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế và chưa đảm bảo được tính tương thích với các nền kinh tế thị trường khác trong khu vực. 7. Trong thời gian qua các sắc thuế vẫn chưa đạt được mục tiêu đơn giản, rõ ràng. II. Tổng quan về thuế Hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng: thuế là một khoản đóng góp bắt buộc đối với các thể nhân và pháp nhân, được nhà nước quy đị nh thông qua hệ thống pháp luật. Sự ra đời của thuếgắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của nhà nước. Thuế đã có quá trình phát triển lâu đời. Từ thời nhà nước chiếm hữu nô lệ đã xuất hiện các khoản thu (đảm phụ) bằng hiện vật, các khoản này cộng với các nguồn thu từ việc cưỡng bức lao động, bóc lột, nô dị ch và chinh phục các dân tộc khác đã tạo ra mâu thuẫn xã hội và chính sự
  9. 9. 9 đấu tranh chống lại mâu thuẫn đó làm cho xã hội ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển của các quan hệ hàng hóa – tiền tệ, thuế cũng có những phát triển đáng kể so với ngày đầu hình thành: từ chỗmang hình thức hiện vật, thuế đã dần dần chuyển sang hình thức tiền tệ. 2.1. Các quan niệm về thuế Thuế luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, song quan niệm về thuế và việc sử dụng công cụ thuế mỗi thời lại khác - Theo Joseph E. Stiglitz (1 trong những nhà kinh tế xuất sắc nhất thế giới theo đánh giá của rePEc) trong cuốn” kinh tế cộng đồng” cho rằng: “Cá nhân cung cấp trực tiếp các dị ch vụ cho chủ thái ấp đây là thuế nhưng chưa được tiền lệ hóa”Theo Joseph thì thuế được hình thành từ rất lâu đời, bằng hình thức cung cấp dị ch vụ cho người cai quản, đây là một trong những hình thức đơn giản, đầu tiên của thuế và sau này được tiền lệ hóa trở thành những nghĩa vụ nộp thuế bằng nhiều hình thức, nhưng cao nhất là bằng tiền. - Bàn về mối liên hệ giữa thuế và Nhà nước Mác đã viết : “Thuế là có sở kinh tế của bộ máy nhà nước là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của dân dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước”. Ang-ghen cũng đã viết: “để duy trì quyền lực công cộng, cần có sự đóng góp của nhân dân cho Nhà nước, đó là thuế má ”. Do lúc này do nhà nước chỉ thu thuế để phục vụ nhu cầu của nhà nước, và là phương pháp hữu hiệu nhất để tác động tới đời sống kinh tế xã hội mà chưa có sự quan tâm tới việc thực hiện phụ vụ đời sống nhân dân. Do đó cả Mác và Ang-ghen đều chỉ đề cập tới vai trò đóng thuế của nhân dân như một sự bóc lột và coi đó là “thủ đoạn đơn giản” của Nhà nước. - Theo G. Jege trong cuốn” tài chính công” cho rằng: “Thuế là 1 khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác đị nh, không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho Nhà nước trông qua con đường quyền lực nhằm bù đặt những chi phí của Nhà nước”. Đây là khái niệm cổ nhất và nổi tiếng nhất về thuế.Nhưng thuế không phân đị nh thuế được bù đắp vào công việc gì và trong nhiều trường hợp, thuế không chỉ để bù đáp chi tiêu mà còn dung để phát triển kinh tế, xã hôi. Do đó sau này quan niệm này được thay đổi như sau: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác đị nh, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho Nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội của Nhà nước”. - Trên góc độ phân phối thu nhập, người ta đưa ra quan niệm thuế như sau: “thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã
  10. 10. 10 hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành lên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước( Quỹ ngân sách nhà nước) để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. - Trên góc độ người nộp thuế thì thuế được quan niệm là: “ Thuế là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước theo luật đị nh để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Người đóng thế được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại”. - Trên góc độ kinh tế học: “ Thuế là biện pháp đặc biệt theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của nhà nước”. - Ởkhía cạnh nguyên cứu thuế với tư cách một nội dung điều chỉ nh của luật pháp các chuyên gia về luật thuế đã nhận đị nh:“ Thuế là một trật tự đã được thiết lập hòa bình giữa chính phủ với cộng đồng trong sự tôn trọng thực hiện nghĩa vụ thu, nộp vào ngân sách. Thuế không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào giữa các bang hay vùng lãnh thổ.” Ngoài ra ở VN có nhiều quan niệm khác nhau về thuế, tùy thuộc vào các lĩnh vực, góc độ nghiên cứu khác nhau.: - Theo các tác giả Giáo trình Luật thuế, Đại học Luật Hà Nội thì “thuế là khoản thu nộp mang tính bắt buộc mà các tổ chức và cá nhân phải nộp cho nhà nước khi có đủ các điều kiện nhất đị nh” - Giáo trình Quản lý Tài chính công của học viện tài chính quan niệm rằng “thuế là một hình thức động viên bắt buộc của nhà nước theo luật đị nh, thuộc phạm trù phân phối, nhằm tập trung một bộ phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước và phục vụ lợi ích công cộng” Tuy nhiên có thể thống nhất một khái niệm chung về thuế như sau: “Thuế là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế bằng sức mạnh của Nhà nước mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải nộp vào ngân sách Nhà nước khi có đủ những điều kiện nhất đị nh. Các khoản thu này không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế”. 2.2. Mục tiêu
  11. 11. 11 Bất cứ một quốc gia nào, ở vào một thể chế chính trị nào cũng cần phải xây dựng một hệ thống thuế khóa hoàn chỉ nh và hợp lý, tức là phải xác đị nh rõ mục tiêu và nhiệm vụ của chính sách thuế ở vào giai đoạn đó vì mỗi chính sách thuế có vị trí lị ch sử trong một giai đoạn nhất đị nh, và nó chỉ có thể đáp ứng mục tiêu kinh tế - xã hội và chính trị ở giai đoạn đó, nếu kéo dài hệ thống thuế đó sẽ trở thành lạc hậu và gây trì trệ cho nền kinh tế. - Mục tiêu chính của hệ thống chính sách thuế khóa là phải đảm bảo được công bằng và hợp lý giữa các tần lớp nhân dân giàu và nghèo. - Mục tiêu thứ hai là hệ thống chính sách thuế phải tạo được nguồn thu quan trọng cho Ngân sách Nhà nước, chế độ thuế cần phải giản dị , dễ hiểu. Phương thức quản trị sắc thuế đơn giản, ít tốn kém, ai cũng hiểu và được dễ dàng số thuế phải nộp. - Mục tiêu thứ ba là hệ thống chính sách thuế phải ảnh hưởng trực tiếp tới cơ cấu kinh tế, kiểm soát được chi tiêu xa xỉ như đánh thuế nặng một số hàng nhập khẩu để nâng đỡ hàng hóa nội, đánh thuế tiêu thụ nặng vào rượu, thuốc lá… để làm nản sự tiêu thụ hàng xa xỉ và có tính chất độc hại. Nói khác đi, thuế khóa và phát triển kinh tế có một sự lien hệ mật thiết: kinh tế phát triển đem them tài nguyên cho thuế khóa, ngược lại thuế khóa phải tạo điều kiện thuận lợi cho nên kinh tế phát triển. 2.3. Đặc điểm  Thứ nhất, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách. Vì không ai tự nguyện từ bỏ quyền lợi của mình để nộp thuế cho Nhà nước nữa, để Nhà nước tồn tại nguồn thu từ thuế phải thường xuyên và ổn đị nh. Nếu tự nguyện nộp thì không thể thường xuyên và ổn đị nh được. Tính bắt buộc được thể hiện dưới 2 khía cạnh sau: Đối với các cơ quan thu thuế: Thu thuế là nghĩa vụ bắt buộc đối với cán bộ, cơ quan thu thuế. Cán bộ cơ quan thu thuế không được quyền lựa chọn đối tượng nộp thuế, đối tượng chị u thuế, căn cứ tính thuế… Khoản 1 Điều 8 Luật Quản lí Thuế quy đị nh: Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế là “ Tổ chức thực hiện thu thuế theo quy đị nh của pháp luật, lấy pháp luật làm căn cứ duy nhất để thực hiện”. Đối với người nộp thuế: Đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có đủ điều kiện do pháp luật thuế quy đị nh mà không phải quan hệ thanh toán trong hợp đồng hay ngoài hợp đồng. Dù được thực hiện dưới hình thức nào, thuế vẫn thể hiện tính chất bắt buộc, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn đị nh hay thỏa thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan Nhà
  12. 12. 12 nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy đị nh của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế. Đây là điểm khác biệt giữa thuế với các khoản đóng góp mang tính chất tự nguyện.  Thứ hai, thuế gắn với yếu tố quyền lực.Thuế do Quốc hội lập ra dưới hình thức là một đạo luật – là hình thức văn bản có tính pháp lý cao nhất do cơ quan quyền lực cao nhất, cơ quan lập pháp đặt ra. Đây là một điểm giúp phân biệt thu thuế và các khoản phí, lệ phí. Tuy cũng là những khoản thu có tính chất bắt buộc nhưng phí và lệ phí được thực hiện dựa theo các văn bản dưới luật. Có thể thấy, thuế và quyền lực Nhà nước là hai phạm trù không thể tách rời. Nhà nước là chủ thể duy nhất đặt ra các khoản thuế và ngược lại thuế là phương tiện vật chất chủ yếu để duy trì quyền lực Nhà nước. Bằng quyền lực chính trị , Nhà nước tạo ra cho thuế tính cố đị nh, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế. Vì vậy, chỉ gắn với yếu tố quyền lực Nhà nước, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho Nhà nước. Theo quy đị nh của pháp luật, thuế được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế: nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính hoặc cưỡng chế hình sự (quy đị nh tại Điều 161 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009). Qua đó nhà nước đã gián tiếp đảm bảo tính ổn đị nh trong việc xác đị nh nguồn thu nhập tài chính của nhà nước và đảm bảo tính ổn đị nh của thuế.  Thứ ba, thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp. Khác với khoản vay, phí và lệ phí, thuế không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế (tuy nhiên, một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các khoản phúc lợi xã hội, phúc lợi công cộng). Sự không hoàn trả trực tiếp được thể hiện ở cả trước và sau khi thu thuế. Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dị ch vụ nào cho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Bởi vì kết quả của việc sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công (những lợi ích không thể xác đị nh chính xác được theo giá trị vật chất). Thuế được thu nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, nên thuế không có đối khoản cụ thể. Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy đị nh gắn với mục đích chi tiêu chụ thể nào cả mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Vì thế, khi xem xét khái niệm thuế cũng phải hiểu thuế
  13. 13. 13 trên hai góc độ: thuế vừa công cụ huy động nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và thuế vừa là công cụ giúp Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội hay công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế.  Thứ tư, thuế có phạm vi áp dụng rộng. So với phí, lệ phí thì thuế có phạm vi áp dụng rộng hơn. Phạm vi áp dụng của thuế không có giới hạn, khác biệt giữa các đị a phương, vùng lãnh thổ. Hầu như mọi đối tượng hàng hóa dị ch vụ (được phép lưu thông hợp pháp), mọi tổ chức, cá nhân (có tư cách chủ thể) đề chị u sự điều chỉ nh của thuế. Bởi vì thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc đối với tất cả các tổ chức, cá nhân khi có đủ những điều kiện nhất đị nh. Như vậy, từ việc nghiên cứu các đặc điểm trên của thuế, chúng ta có thể phần nào hiểu được bản chất của thuế, có thể phân biệt được thuế và các khoản thu khác có tính chất bắt buộc vào ngân sách như phí và lệ phí cũng như các khoản thu có tính chất tự nguyện. Còn trên phương diện điều chỉ nh pháp luật, việc nghiên cứu các đặc điểm này của thuế giúp cho các nhà làm luật lựa chọn sự điều chỉ nh pháp luật một cách phù hợp đối với thuế, mặt khác giúp cho các đối tượng có lien quan thực hiện đầy đủ chức trách và nhiệm vụ của mình. 2.4. Chức năng của thuế. Chức năng của một sự vật hay một hiện tượng là sự thể hiện công dụng vốn có của nó. Ðối với một phạm trù kinh tế - xã hội thì chức năng phản ánh sự tác động của nó - là một phương thức đặc biệt biểu hiện những thuộc tính vốn có của phạm trù. Cũng như bản chất, chức năng cũng có tính ổn định tương đối của nó trong suốt thời gian tồn tại của sự vật hay đối tượng. Thuế là một phạm trù tài chính, nó biểu hiện những thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính. Tuy nhiên thuế cũng có những đặc trưng, hình thức vận động và các chức năng riêng bắt nguồn từ tổng thể các mối quan hệ tài chính. Căn cứ vào nội dung cùng với qúa trình ra đời, tồn tại và phát triển của thuế, chúng ta thấy rằng thuế thực hiện các chức năng sau đây:  Chức năng phân phối và phân phối lại: là chức năng cơ bản, đặc thù của thuế. Ngay từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).Về mặt lịch sử, chức năng huy động nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế.Thông qua chức năng này, các qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước. Bằng chính chức năng này, Nhà nước tiến hành
  14. 14. 14 tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong xã hội. Chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập của thuế là sự huy động một bộ phận thu nhập quốc dân dưới hình thức tiền tệ vào ngân sách Nhà nước. Phần lớn thuế đánh trên hàng hóa và thu nhập. Người có thu nhập cao và sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế nhiều hơn. Số tiền này sau đó laiỷ được Nhà nước chi nhằm thực hiện chính sách kinh tế-xã hội, tạo ra tính công bằng tương đối cho xã hội.Trong một chừng mực nhất định, chức năng phân phối và phân phối lại đã tạo điều kiện cho sự ra đời và phát huy tác dụng chức năng điều tiết của thuế. Chức năng phân phối và phân phối lại có vị trí ngày càng quan trọng. Ðiều này được giải thích bởi sự phát triển, mở rộng các chức năng của Nhà nước và việc thực hiện nhiều chính sách khác nhau, trong đó có việc can thiệp của Nhà nước vào các qúa trình kinh tế.  Chức năng điều tiết đối với nền kinh tế Chức năng điều tiết của thuế được nhận thức và sử dụng rộng rãi từ những năm đầu của thế kỷ XX và gắn liền với vai trò điều chỉnh của Nhà nước đối với nền kinh tế. Việc tăng cường vai trò kinh tế - xã hội của Nhà nước dẫn đến tốc độ chi tiêu của Nhà nước ngày càng tăng lên và hậu qủa tất yếu là đòi hỏi Nhà nước phải mở rộng qũy tài chính Nhà nước, hình thành chủ yếu từ việc thu thuế. Nhu cầu về nguồn tài chính càng lớn thì Nhà nước cần phải tăng cường các chức năng của thuế để tác động một cách có hiệu qủa đến nền kinh tế quốc dân. Chính trong qúa trình đó chức năng phân phối và phân phối lại và chức năng điều chỉnh của thuế đã được sử dụng một cách hiện thực. Ðiều đó có nghĩa là nội dung điều tiết theo một mục tiêu nào đó đã được dự liệu trước vào trong qúa trình huy động tập trung nguồn tài chính. Bằng cách sử dụng nó để kích thích hoặc kìm hãm tốc độ tăng trưởng, tăng cường hoặc làm yếu đi sự tích lũy tiết kiệm, mở rộng hoặc thu hẹp nhu cầu có khả năng thanh toán của dân cư, đẩy nhanh hoặc làm chậm lại chu kỳ khủng hoảng kinh tế, Nhà nước đã thực hiện điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội trong phạm vi quốc gia. Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp thuế. Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào qũy đạo chung của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội. Trong điều kiện chuyển sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay càng được nâng cao. Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân. Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh.
  15. 15. 15 Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điểu tiết. Nhưng chức năng điều tiết của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập. Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới qúa trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại. Sự thống nhất nội tại của các chức năng hoàn toàn không loại trừ các mâu thuẩn nội tại trong mỗi chức năng và giữa hai chức năng. Sự tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên. Ðiều đó có nghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế xã hội. Mặc khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại một cách qúa mức làm tăng gánh nặng thuế và hậu qủa là làm giảm động lực phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng điều tiết. Ðó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực. Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định, xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội nhất định. 2.5. Vai trò của thuế Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước mà thuế còn gắn liền với các vấn đề về sự tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn đị nh xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đề của tài chính và ngân sách nhà nước, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản của nó là: tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, kích thích tăng trưởng kinh tế và điều chỉ nh thu nhập.  Tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước: Là vai trò đầu tiên của thuế. Mỗi một loại thuế mà nhà nước ban hành đều nhằm vào mục đích là tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường vai trò này của thuế càng nổi bậc bởi thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Vai trò tạo nguồn thu của thuế xuất phát từ yêu cầu và quyền lực của nhà nước đối với xã hội. Nhà nước với quyền lực chính trị có thể ban hành các loại thuế với các mức thuế suất tuỳ ý. Tuy nhiên, khi xét về mục
  16. 16. 16 đích lâu dài khi đị nh ra các loại thuế, thuế suất, đối tượng chị u thuế chính phủ không chỉ đơn thuần thỏa mãn nhu cầu tăng thu của ngân sách nhà nước, mà phải thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉ nh thu nhập. Việc đáp ứng cả ba yêu cầu đó đòi hỏi chính phủ phải tính toán, cân nhắc kỹ lưỡng khi ban hành các loại thuế, bởi vì nguồn thu của thuế bắt nguồn từ thu nhập quốc dân, khả năng động viên của thuế phụ thuộc chủ yếu vào phát triển của sản xuất, hiệu quả của sản xuất. Như vậy, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là vai trò cơ bản của thuế. Tuy nhiên để phát huy tốt vai trò này cần phải đặt thuế trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, bởi vì chính sự tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội là cơ sở tồn tại và phát triển của thuế.  Vai trò ổn đị nh nền kinh tế vĩ mô Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ. Sự thành công hay thất bại của việc quản lý Nhà nước, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, người ta thường xác đị nh 4 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi. Bốn mục tiêu đó là: + Đảm bảo thúc đấy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý. + Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động. + Ổn đị nh giá cả, tiền tệ, chống lạm phát. + Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức quan trọng nhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực. Cụ thể:
  17. 17. 17 + Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm: Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan trọng mà nhà nước sử dụng là chính sách thuế. Nội dung điều tiết của thuế gồn hai mặt: Kích thích và hạn chế. Nhà nước đã sử dụng chính sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất đị nh, bằng việc tác động vào cung- cầu nhằm điều chỉ nh chu kỳ kinh doanh- một đặc trưng vốn có của nền kinh tế thị trường. Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và tiêu dùng đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và khuyến khích tiêu dùng. Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng sản xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào sản xuất. Bằng việc giảm thế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu dùng. Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào đầu tư, có thể tăng thuế đánh vào thu nhập về tiền gửi tiết kiệm và thu nhập về tài sản dự trữ, từ đó sẽ khuyến khích việc đưa vốn vào đầu tư, sản xuất kinh doanh. Khi nền kinh tế hưng thị nh, để ngăn chặn nguy cơ một nền kinh tế “nóng” phát triển dẫn đến lạm phát và khủng hoảng thừa thì nhà nước dùng thuế để giảm tốc độ đầu tư ồ ạt và giảm bớt mức tiêu dùng của xã hội. Song việc tăng thuế phải được xem xét trong một giới hạn cho phép để đảm bảo vừa tăng nguồn thu cho NSNN vừa điều chỉ nh cơ cấu ngành nghề hợp lý. Như vậy, có thể thấy sự tác động của thuế có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế, đến việc điều tiết kinh tế thị trường của Nhà nước. Thông qua thuế, Nhà nước thực hiện đị nh hướng phát triển sản xuất. Chính sách thuế có đị nh hướng phân biệt, có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành, các khu vực, các thành phần kinh tế, làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát, sự ổn đị nh nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm, lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững là hướng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh, đưa giá cả về mức ổn đị nh. + Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát:
  18. 18. 18 Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng. Thuế được sử dụng để điều chỉ nh lạm phát, ổn đị nh giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nước dùng thuế để điều chỉ nh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn. Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu. Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động. + Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới: Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nước tránh khỏi sự cạnh tranh khốc kiệt từ bên ngoài được coi là hết sức cần thiết đối với các nước. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu. Để kích thích sản xuất trong nước phát triển, kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu, nhà nước đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu. Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô. Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước chưa sản xuất được và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nước đã sản xuất được hoặc hàng hoá tiêu dùng xa xỉ . Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong khu vực và trên thế giới. Sự ưu đãi, các hiệp đị nh về thuế, tính thông lệ quốc tế của chính sách thuế có thể làm gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số quốc gia với khu vực và cộng đồng quốc tế. Trước sự đổi mới mạnh mẽ của cơ chế thị trường đòi hỏi hàng loạt các chính sách kinh tế, tài chính phải thay đổi cho phù hợp, trong đó có chính sách thuế khoá. Kỳ họp thứ XI Quốc hội khoá IX nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam đã thông qua hai luật thuế quan trọng là Luật thuế Giá trị gia tăng và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp có hiệu lực từ ngày 01/01/1999 thay thế cho Luật thuế doanh thu, lợi tức. Vấn đề đặt ra là ngành thuế cũng như các đối tượng sản xuất kinh doanh phải nắm vững và thực hiện nghiêm chỉ nh 2 luật thuế này giúp cho Thuế ngày càng có sức khả thi, hiệu quả hơn trong nền kinh tế thị trường. + Điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội:
  19. 19. 19 Trong nền kinh tế thị trường, nếu không có sự can thiệp của nhà nước, để thị trường tự điều chỉ nh thì sự phân phối của cải và thu nhập sẽ mang tính tập trung rất cao tạo ra hai cực đối lập nhau: một thiểu số người sẽ giàu có lên nhanh chóng, còn cuộc sống của đại bộ phận dân chúng ở mức thu nhập thấp. Thực tế, sự phát triển của một đất nước là kết quả nỗ lực của cả một công đồng, sẽ không công bằng nếu không chia xẻ thành qủa phát triển kinh tế cho mọi người. Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước vào qúa trình phân phối thu nhập, sự can thiệp này đặc biệt hiệu qủa bằng cách sử dụng công cụ thuế. Với các sắc thuế như: Thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập… theo hướng thuế đánh cao vào những hàng hóa dị ch vụ cao cấp, người có thu nhập cao nhằm điều tiết bớt thu nhập của các doanh nghiệp, cá nhân có thu nhập cao. Đồng thời thuế đánh thấp vào những hàng hóa dị ch vụ cần thiết cho đại bộ phận dân chúng. (Ví dụ: thuế tiêu thụ đặc biệt thuế suất 75% đối với rượu từ 40 độ trở lên, thuế suất 15% đối với rượu thuốc. Bia chai, bia hộp, bia tươi thuế suất 75% trong khi bia hơi thuế suất là 30% …). Như vậy, việc qui đị nh về đối tượng chị u thuế, thuế suất từng ngành hàng như trên bên ngoài như là một sự cưỡng chế nhưng bên trong nhằm điều chỉ nh những quan hệ xã hội nhất đị nh. Mặt khác, những nhà doanh nghiệp cũng không thể suốt đời phục vụ cho mục đích tăng trưởng kinh tế nếu thu nhập của họ bị chia xẻ một cách vô lý. Đây là mâu thuẩn cơ bản trong nền kinh tế thị trường mà chính sách thuế của chính phủ phải giải quyết. Thực ra, vẫn có một mối quan hệ phụ thuộc để tồn tại giữa nhà kinh doanh và người lao động. Tức là, có một giới hạn phân phối lại mà ở đó độ nhạy cảm về tăng trưởng bị hạn chế, các nhà kinh doanh sẳn sàng đóng góp một phần thu nhập cho xã hội mà không làm suy giảm sự tăng trưởng của họ. Chính sách thuế phải xác đị nh được khung giới hạn đó thông qua phản ứng của doanh nghiệp đối với thuế suất từng loại thuế và có sự điều chỉ nh cho phù hợp. III. Liên hệ thực tế thuế Việt Nam và trên thế giới 3.1. Thuế Việt Nam  Nộp thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân Mọi nguồn thu từ thuế và lệ phí ở Việt Nam đều do Quốc hội Việt Nam hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt ra bằng luật và pháp lệnh, và được thu bởi Tổng cục Thuế Việt Nam thông qua các cơ quan thu của nó là các cục thuế, chi cục thuế, phòng thuế, đội thuế, bởi Tổng cục Hải quan Việt Nam thông qua các cơ quan của nó là cục hải quan, chi cục hải quan, và các cán bộ chuyên môn
  20. 20. 20 được ủy quyền khác ở khắp các địa phương trong cả nước. Đối với các phí và lệ phí, các cơ quan thu thuộc các bộ, ngành, chính quyền địa phương có liên quan được ủy quyền thu. Thuế là một trong những khoản thu ngân sách quan trọng nhất của nhà nước. Nộp thuế là trách nhiệm và nghĩa vụ của mội người dân và các tổ chức xã hội khác. Hiện nay, các Nhà nước thông qua việc thuế để điều tiết một phần thu nhập của người giàu, nhằm góp phần giảm khoảng cách giàu nghèo đang ngày một nới rộng. Đối với Việt Nam, nguồn ngân sách NN được tài trợ chủ yếu bằng thuế và lệ phí. Tuy nhiên nguồn tài trợ này đang bị thất thoát đáng kể thông qua hoạt động trốn thuế và tránh thuế của các doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, trong quá trình mở cửa nền kinh tế, hội nhập càng sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam đã thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thông qua các công ty đa quốc gia (TNCs) đến từ nhiều nước trên thế giới. Thuế chiếm một tỉ trọng lớn, từ 60-70% tổng thu trong nguồn thu NSNN. Hệ thống pháp luật thuế của Nhà nước ta hiện nay bao gồm các loại thuế chủ yếu như sau: Loại thuế Luật, sắc lệnh Thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 Thuế xuất-nhập khẩu Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12 Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 Thuế từ dầu khí Nghị định số 05/2009/NĐ-CP Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12, Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 Thuế thu nhập cá nhân Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 Thuế chuyển lợi nhuận ra nước Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số
  21. 21. 21 ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí 14/2008/QH12 Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12 Thuế nhà, đất Pháp lệnh số 34/L/CTN, Thông tư 71/1002/TT-BTC Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí Nghị định số 05/2009/NĐ-CP Nghị định số 75/2002/NĐ-CP Thuế môn bài Thông tư số 42/2003/TT-BTC Thuế chuyển quyền sử dụng đất Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 Thuế sử dụng đất nông nghiệp Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, Nghị quyết số 15/2003/QH11 Điều 161 bộ luật hình sự 2009 chỉ rõ: “1. Người nào trốn thuế với số tiền từ một trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm. 2. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ ba trăm triệu đồng đến dưới sáu trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. 3. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ sáu trăm triệu đồng trở lên hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm. 4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến ba lần số tiền trốn thuế.” Quốc Hội ban hành luật quản lí thuế vào 29/11/2006 sửa đổi, bổ sung vào 20/11/2012 nhằm quy định việc quản lý các loại thuế, các khoản thu khác thuộc ngân sách Nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật.
  22. 22. 22 Ngành Thuế triển khai nhiệm vụ công tác thuế năm 2013 trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn và thách thức, bên cạnh đó, việc thực thi các luật thuế mới và miễn, giảm, giãn thuế để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp đã làm giảm thu ngân sách và tăng số tiền nợ thuế. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, sự chỉ đạo điều hành quyết liệt và linh hoạt của Chính phủ, Bộ Tài chính, sự nỗ lực vượt qua khó khăn, thách thức của các doanh nghiệp và sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp cùng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn ngành, kết quả thu NSNN năm 2013 do ngành Thuế quản lý ước đạt 676.696 tỷ đồng, bằng 105% so với dự toán. Rất nhiều doanh nghiệp đóng góp khoản thuế lớn vào ngân sách nhà nước, điều này cho thấy mức độ kinh doanh hiệu quả cũng như vai trò lớn của khối này trong việc đóng góp ngân sách quốc gia. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, nhiều vụ việc gian lận thuế, trốn thuế đã bị phát giác và xử lí theo quy định của pháp luật.Những phi vụ chuyển giá hàng nghìn tỷ đã bị phanh phui. Tập đoàn Keangnam Vina- chủ sở hữu tòa nhà cao nhất Việt Nam hiện nay chuyển giá hơn 1220 tỷ đồng, số thuế bị truy thu 95,2 tỷ đồng. Hay như một liên doanh khác trong ngành dệt đến từ Malaysia- Đài Loan.. cũng bị buộc phải nộp hơn 78 tỷ đồng với tổng giá trị chuyển giá gần 1.200 tỷ. Danh sách đen 122 vị doanh nghiệp FDI chuyển giá, bị truy thu hơn 214 tỷ đồng cũng đang dần đưa ra ánh sáng. Cùng đó, hàng loạt
  23. 23. 23 những ông chủ hàng tiêu dùng nổi tiếng toàn cầu như Adidas, Metro, Cocacola cũng đang trong tầm ngắm xem xét việc chuyển giá. Thế nên, một đợt thanh tra, kiểm tra của ngành thuế chỉ mới tính đến tháng 9/2013, đã cho ra kết quả, thu hồi hơn 9.600 tỷ đồng cho ngân sách. Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng không thoát tai tiếng về nộp thuế. Số thuế bị phát giác khai thiếu không lớn, chỉ hơn 1 tỷ đồng tiền thuế nhập khẩu điện. Lỗi chính bắt nguồn từ việc, EVN đã không báo trước cho hải quan việc tính sản lượng điện mua của Trung Quốc hồi năm 2007 chỉ là tạm thời. Gần đây nhất là vụ lợi dụng việc miễn thuế nhập khẩu, thuế giá trị tăng của ô tô đối với Việt Kiều khi hồi hương, một số nhà giàu ở Việt Nam đã “lách” luật bằng cách mua “suất” Việt kiều hồi hương để nhập xe siêu sang về Việt Nam, trốn thuế gần 400 000 USD (8 tỷ đồng) cho mỗi chiếc xe siêu sang. Tính đến ngày 30-5-2013 đã có 178 xe ôtô nhập khẩu đã qua sử dụng nhưng không đáp ứng điều kiện được chuyển về Việt Nam và đang lưu giữ tại các cảng để chờ xử lý. Số tiền thuế thất thu có thể lên đến 71 triệu USD. Qua thực tế ở trên, chúng ta có thể thấy được rằng thuế được đảm bảo thu bằng sức mạnh quyền lực của Nhà nước. Các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có hành vi trốn thuế hay gian lận thuế đều bị truy thu và xử lí theo quy định của pháp luật.  Thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp. Đầu tư công ở Việt Nam hiện có vai trò quan trọng trong việc phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế và xã hội, tạo động lực thúc đẩy phát triển đất nước. Phần vốn này được Nhà nước giao cho các bộ, ngành và các địa phương, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị và chính trị - xã hội quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật.Chúng ta hưởng lợi từ việc đóng thuế qua chính cuộc sống thường ngày. Khi tham gia giao thông, chúng ta được sử dụng cầu đường, điện chiếu sáng; tập thể duc, chúng ta có công viên; đi làm thủ tục hành chính, chúng ta đến các cơ quan Nhà nước,… Đầu năm 2012, để giải quyết bài toán ùn tắc giao thông tại các nút giao trọng điểm, Hà Nội đã quyết định đầu tư và xây dựng thí điểm hàng loạt cầu vượt nhẹ bằng thép. Hiện 6 cây cầu đã được đưa vào hoạt động và một cầu sắp được khánh thành, dự kiến thông xe vào ngày 10/10 với tổng kinh phí đầu tư cho 7 cây cầu này là gần 2.000 tỷ đồng. Từ khi những cây cầu vượt nhẹ bằng kết cấu thép đưa vào hoạt động, đã phát huy được hiệu quả, vào những giờ cao
  24. 24. 24 điểm tại các nút giao có cầu vượt đi qua, tình trạng ùn tắc không còn thường xuyên diễn ra như trước đây. Đầu tháng 1/2014, UBND Thành phố Hồ Chí Minh giao Sở Giao thông Vận tải xây dựng 11 nhà vệ sinh với đẳng cấp 4-5 sao để phục vụ cho nhu cầu cho người dân và du khách. Đặc biệt nhà vệ sinh sẽ kèm máy ATM với yêu cầu đảm bảo môi trường, mỹ quan đô thị và bố trí các mảng xanh che chắn xung quanh, đủ ánh sáng hoạt động 24/24. Được biết, Nhà nước sẽ không tốn đồng nào và người dân sẽ được sử dụng hoàn toàn miễn phí. Bởi việc xây dựng các công trình này được thực hiện theo hình thức xã hội hóa, với số vốn đầu tư khoảng 800 triệu đồng mỗi nhà vệ sinh. 3.2. Một số thông tin về thuế tại nước ngoài  Nộp thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân Giống với Việt Nam, tại nước ngoài việc nộp thuế là điều bắt buộc.Ở Mỹ, tất cả mọi người đi làm, dài hạn hoặc ngắn hạn đều phải nộp thuế cho tiểu bang và liên bang. Làm nhiều đóng nhiều, làm ít đóng ít. Đóng thuế bao nhiêu phần trăm là đã định sẵn. Tất cả mọi người đều đóng như nhau. Làm có tiền lời là phải đóng thuế, bất kể nhiều hay ít Trừ ai làm dưới mức lương quy định thì miễn thuế vì quá nghèo. Nhà nào có con thì được bớt thuế. Chính phủ dùng tiền thuế để chi tiêu cho công trình xã hội, xây trường học, đường xá, trả tiền cho cảnh sát, nếu cảnh sát làm thêm giờ thì phải trả tiền phụ trội, an ninh, quốc phòng... Khi thất nghiệp, chính phủ cho một phần lương trong 6 tháng hay một năm mà thôi. Sau đó thì tự lo lấy. Nhưng phải đóng thuế thất nghiệp đó. Qua Mỹ mà coi, toàn là thuế. Mua áo quần, có tiểu bang phải đóng thuế. Đất đai cũng đóng thuế. Tuy nhiên mức thuế suất của nước ngoài so với Việt Nam lại sai khác nhiều, ví dụ ở Việt Nam VAT là 10%, TNDN là 25%, thu nhập cá nhân tùy từng mức mà còn được giảm trừ gia cảnh...còn tại nước ngoài, ví dụ năm 2012, Đan mạch đã áp dụng mức thuế suất 60.2%, mức thuế thu nhập cá nhân cao nhất trong 34 quốc gia OECD- hiệp hội các quốc gia đã và đang phát triển.Mức thuế 60.2% này được áp dụng cho thu nhập trên 55,000 dolla.. Tiếp tục với ví dụ về bang Califonia, năm 2012 thuế TNCN 43,6% và tăng lên 47,6% trong năm nay tác động vào những mức thu nhập trên
  25. 25. 25 400,000 dollars, bang này đã áp dụng mức thuế giá trị gia tăng là 7,25% trong năm 2012( thực phẩm và thuốc được miễn thuế) Mặt khác SINGAPO là nước có tỷ lệ nộp thuế thấp nhất Singapore có hệ thống thuế thu nhập cá nhân tương đối hoàn thiện. Mọi công dân trong diện nộp thuế đều phải kê khai thu nhập với cơ quan thuế trước ngày 15-4 hàng năm như ở Mỹ . Tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân của Singapore từ 0% đến 22%, bao gồm: thu nhập kiếm được tại Singapore và thu nhập nước ngoài gửi về cho công dân Singapore. Thu nhập phải nộp thuế bao gồm tiền lương, cổ tức và lợi tức. Trong đó, tiền lương bao gồm tiền công, hoa hồng, phụ cấp kỳ nghỉ … Thu nhập nước ngoài chuyển đến cho người không thường trú tại Singapore không phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Singapore cũng khấu trừ thuế cho những trường hợp như phải nuôi dưỡng bố mẹ, học thêm để nâng cao kiến thức chuyên môn, mua bảo hiểm nhân thọ hoặc phải nuôi ba con trở lên. Theo ước đoán, hàng năm Hoa Kỳ thất thu thuế khoảng 337 tỷ USD Ngày 22/5 : Apple bị cáo buộc trốn thuế 74 tỷ USD. Tiểu ban thường trực của Thượng viện Mỹ báo cáo Apple đã không trả số tiền thuế ít nhất là 74 tỷ USD đối với những thu nhập ở nước ngoài. Apple đã sử dụng một mạng lưới các chi nhánh ở nước ngoài để giảm thuế suất xuống còn 0,05%. Các công ty con của Apple ở nước ngoài hoàn toàn không có nhân viên hay hoạt động kinh doanh nào, và mục đích dựng lên chỉ để làm “bình phong” giấu bớt lợi nhuận cho công ty mẹ là Apple. 19/12 : Viện Công tố Milan khởi tố vụ án đối với hai ông Dolce và Gabbana về tội trốn thuế rất lớn, có thể là “lớn nhất thế kỷ ”. Tuy nhiên, cho đến nay vụ án vẫn chưa đi đến hồi kết. Vụ án trốn thuế gần 1 tỉ euro (1 euro = 27.551 đồng) của hai ông Domenico Dolce (54 tuổi) và Stefano Gabbana (50 tuổi), chủ Công ty Dolce & Gabbana, đã bị cảnh sát tài chính thuộc Bộ Kinh tế và Tài chính Ý điều tra từ năm 2008.  Thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp. Tổng thu nhập quốc nội tại Mỹ dự kiến sẽ đạt 15,6 nghìn tỷ đôla trong năm 2012, đưa quốc gia này trở thành nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới, chỉ tính riêng thuế TNCN chiếm tới 47% tổng thu nhập quốc dân Mỹ ( tương đương 2.300 tỷ USD)
  26. 26. 26 Tổng số chi tiêu ước tính 2014 là 6.3 triệu USD Lương hưu 1.2 triệu USD Chăm sóc sức khỏe 1.3 triệu USD Giáo dục 1 triệu USD Quốc phòng 0.8 triệu USD Phúc lợi 0.5 triệu USD Thuế chi trả cho những dị ch vụ mà chính phủ liên bang cung cấp cho người dân ở nước Mỹ . Một số ví dụ về những dị ch vụ này là: • Gìn giữ đất nước chúng ta an toàn và vững chắc. • Chữa bệnh và ngăn ngừa các loại bệnh tật thông qua những cuộc nghiên cứu. • Bảo vệ tiền gởi của chúng ta trong ngân hàng bằng bảo hiểm. • Giáo dục cho trẻ em và người lớn. • Xây dựng và bảo quản đường xá và xa lộ. • Cung cấp những dị ch vụ y tế cho người nghèo và các vị cao niên. •Trợ giúp khẩn cấp khi có những thảm hoạ thiên nhiên, như bão, lụt hoặc động đất. IV. Đề xuất Các giải pháp hoàn thiện hệ thống thuế Việt Nam theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế Để hoàn thiện hệ thống thuế hiện hành theo đầy đủ mục tiêu, yêu cầu cơ bản trên, cần thiết phải có thời gian nhất định để nghiên cứu, khảo sát đầy đủ. Đồng
  27. 27. 27 thời tạo lập dần trong thực tiễn những điều kiện tiền đề cho việc thực hiện. Cơ quan thuế cũng cần hình thành kế hoạch đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ, đạo đức tác phong của đội ngũ cán bộ thuế, cải tiến các biện pháp quản lý có hiệu quả…Từ đó, có điều kiện thực hiện đúng đắn các Luật thuế mới, cả với các đối tượng trong diện nộp thuế và cán bộ quản lý thu thuế. Tuy nhiên, trước mắt cũng cần có sự tổng kết, đánh giá một cách khoa học, toàn diện những ưu, khuyết điểm trong việc thực hiện chính sách thuế thời gian qua. Từ đó, từng bước nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung kịp thời những đặc điểm cơ bản quá bất hợp lý, không còn phù hợp, thậm chí gây tác động không tốt về mặt tài chính - kinh tế- xã hội, từng bước khắc phục dần khuyết, nhược điểm, nhằm góp phần đảm bảo hoàn thành định hướng hoàn thiện hệ thống thuế theo xu hướng hội nhập quốc tế. 4.1. Về kết cấu hệ thống thuế Cần nghiên cứu, thảo luận, phân tích kỹ lưỡng, cả về mặt lý luận và thực tiễn ở nước ta để xác định những tiêu chuẩn cơ bản về phân loại thuế, lệ phí và phí. Đây không chỉ là vấn đềhọc thuật, ngôn ngữ mà mang một nội dung quan trọng về pháp lý kinh tế- tài chính - xã hội. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một hệ thống thuế hoàn thiện, bao gồm cả thuế, phí, lệ phí, để khai thác thế mạnh của từng loại thuế trong từng thời kỳ. Cụ thể, trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, cần ưu tiên phát triển thuế trực thu để đảm bảo cân bằng xã hội, bù đắp thâm hụt Ngân sách do cắt giảm mạnh thuế nhập khẩu. Định hướng hệ thống thuế hoàn thiện bao gồm các loại thuế, phí và lệ phí như sau: (1) Luật thuế giá trị gia tăng (Sửa đổi, bổ sung) (2) Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (Sửa đổi, bổ sung) (3) Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (Sửa đổi, bổ sung) (4) Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (Sửa đổi, bổ sung) (5) Luật thuế thu nhập cá nhân (Thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, chuyển đối tượng đánh thuế Chuyển quyền sử dụng đất vào đối tượng đánh thuế Thu nhập cá nhân và bãi bỏ sắc thuế này) (6) Luật thuế nhà đất (Thay thế cho Pháp lệnh thuế nhà đất và Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp)
  28. 28. 28 (7) Luật thuế đăng ký tài sản (Thay thế cho Lệ phí trước bạ) (8) Pháp lệnh thuế bảo vệ môi trường (ban hành mới) (9) Luật thuế tài nguyên (Thay thế cho Pháp lệnh thuế tài nguyên) (10) Luật thuế cố định (ban hành mới) (11) Pháp lệnh phí và lệ phí ( sửa đổi - trong đó đổi tên “thuế môn bài” thành “lệ phí kinh doanh” ) Sau đây, xin đề xuất các giải pháp nhằm sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện nội dung của một số sắc thuế chủ yếu, căn bản như đã đề cập ở trên, qua đó góp phần hình thành nên một hệ thống thuế hoàn thiện hơn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. 4.2. Về nội dung các sắc thuế 4.2.1. Thuế giá trị gia tăng  Điều chỉnh các đối tượng chịu thuế và không chịu thuế giá trị gia tăng : - Thuế GTGT có đặc điểm là mang tính lũy thoái, dẫn đến việc áp dụng các trường hợp không chịu thuế GTGT là điều không tránh khỏi nhằm hạn chế tính lũy thoái của nó. Đây là điều được xem là hợp lý. Tuy nhiên, đối với các hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT, thật ra cũng không tránh khỏi tác động của thuế GTGT hoàn toàn vì giá trị của chúng không được phép khấu trừ khi tính thuế GTGT, từ đó tạo ra sự chồng chéo và các biến động không dự kiến được về thuế suất đối với thuế GTGT vốn được thiết kế nhằm khắc phục tình trạng đánh chồng thuế. Điều này cho thấy rằng việc mở rộng quá mức hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT có thể tạo ra những lệch lạc quan trọng. Ở Việt Nam, theo Luật thuế GTGT đã ban hành và ngay cả Luật đã sửa đổi, bổ sung vừa mới ban hành vẫn còn quy định đối tượng không chịu thuế vẫn còn quá rộng. Do đó trong thời gian tới, cần điều chỉnh như sau : - Vẫn tiếp tục áp dụng không chịu thuế GTGT đối với các loại hình dịch vụ tài chính như: tín dụng, quỹ đầu tư, hoạt động kinh doanh chứng khoán...nhằm khuyến khích sự phát triển của thị trường tài chính và đảm bảo phù hợp với thông lệ các nước trên thế giới. Loại bỏ các loại hình dịch vụ bảo hiểm khỏi diện không chịu thuế GTGT.
  29. 29. 29 - Các loại hàng hóa, dịch vụ khác như dịch vụ y tế công cộng, hoạt động dạy học, dạy nghề; dịch vụ tưới tiêu thủy lợi ; hoạt động văn hóa ; xuất bản báo chí ; phát thanh; truyền hình ; dịch vụ quốc phòng an ninh ; dịch vụ công ích ; chuyển quyền sử dụng nhà đất ; nhà của Nhà nước bán cho người tiêu dùng ...hiện vẫn chưa có tên trong danh sách chịu thuế GTGT là chưa thật sự công bằng đối với tất cảcác hàng hóa, nên sắp tới cần phải tiến hành đưa vào danh mục chịu thuế GTGT, tạo sự công bằng và hợp lý.  Về thuế suất : Thuế suất là linh hồn của thuế, cho nên việc quy định mức thuế suất hợp lý sẽ có tác động tích cực về nhiều mặt như kích thích sản xuất phát triển, tăng thu Ngân sách và ngược lại dẫn đến sự thất bại nặng nề của một chính sách thuế. Ở nước ta, chế độ đa thuế suất đang làm méo mó phần nào tác dụng của thuế GTGT, dẫn đến làm hạn chế tác dụng điều tiết vĩmô của cả hệ thống chính sách thuế đối với nền kinh tế. Thời gian tới, kiến nghị nên thay đổi như sau : Ngoài mức thuế suất 0% đang áp dụng, nên thống nhất áp dụng một mức thuế suất là 10% cho tất cả các hàng hóa, dịch vụ. Như thế, sẽ phù hợp với đặc tính của thuế GTGT là một loại thuế thực, là loại thuế không dựa vào khả năng của người nộp thuế, hơn nữa sẽ đảm bảo được sự công bằng giữa các ngành nghề sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, tính đơn giản như thế của thuế suất rất phù hợp với điều kiện nước ta vốn chưa có nhiều kinh nghiệm về thuế GTGT và xu hướng chung của các nước trên thế giới, phù hợp với đặc điểm của thuế GTGT là loại thuế đánh vào tiêu dùng.  Về phương pháp tính thuế: - Hiện nay chính sách thuế GTGT ở nước ta đang áp dụng hai phương pháp tính thuế GTGT là phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp là rất phù hợp với điều kiện kinh tế còn kém phát triển. Nhưng trên thực tế, khi triển khai thực hiện Luật thuế GTGT cho thấy sự tồn tại của hai phương pháp tính thuế như thế là bất cập, không hợp lý. Bởi vì : + Sẽ tạo ra sự không bình đẳng, công bằng giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh. + Phần lớn các đối tượng tính thuế GTGT trực tiếp khi xác định thuế GTGT phải nộp đều dựa trên doanh thu tính thuế ấn định sau đó nhân với tỷ lệ GTGT trên do Cục thuế quy định. Điều này không khác gì so với thuế doanh thu trước đây.
  30. 30. 30 + Tạo khe hở cho sự xuất hiện cơ chế chuyển giao hàng hóa, dịch vụ giữa các đối tượng nộp thuế theo hai phương pháp trên thông qua hình thức hợp thức hóa bằng các hóa đơn, chứng từ giả. Do đó, kiến nghị như sau : nên bỏ hai dạng trung gian là nộp thuế theo phương pháp trực tiếp và nộp thuế trực tiếp trên doanh thu. Thống nhất là phạm vi áp dụng thuế GTGT chỉ bao gồm đối tượng đủ điều kiện tính thuế theo phương pháp khấu trừ, có đủ sổ sách, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định (bao gồm các loại hình doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh và hộ cá thể đủ điều kiện), từ đó chỉ áp dụng một phương pháp tính thuế GTGT - phương pháp khấu trừ thuế, không còn qui định miễn thuế đối với hộ có thu nhập thấp. Tất cả các cá nhân, hộ kinh doanh cá thể không đủ điều kiện áp dụng thuế GTGT sẽ chuyển sang áp dụng thuế cố định (hay thuế khoán).  Về hoàn thuế: - Nên thu hẹp đối tượng hoàn thuế, chỉ nên áp dụng cơ chế này cho các đối tượng là các cơ sở kinh doanh hàng xuất khẩu được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% ; cơ sở có đầu tư tài sản cố định phục vụ sản xuất kinh doanh phát sinh số thuế đầu vào của tài sản lớn. - Cần phải quy định rõ hơn vềviệc hoàn thuế đểquản lý chặt chẽ hơn và hạn chế tình trạng gian lận để hoàn thuế GTGT nhiều như hiện nay, làm thất thu Ngân sách Nhà nước hàng chục tỷ đồng. - Tăng cường công tác kiểm tra trước, trong và sau khi hoàn thuế nhằm kịp thời phát hiện các trường hợp sai phạm, giảm thiểu thiệt hại do gian lận hoàn thuế gây ra.  Về kê khai nộp thuế: Mởrộng việc kê khai nộp thuế tập trung trên nguyên tắc kê khai đúng, đủ, nộp kịp thời. Số thuế phải nộp, doanh nghiệp có thể nộp tập trung hoặc cho tính phân bổ theo doanh thu để chuyển nộp về các địa phương nơi có chi nhánh kinh doanh bán hàng tránh biến động nguồn thu Ngân sách địa phương. Qui định này thuộc thẩm quyền của Bộ tài chính nhưng cần thực hiện trong điều kiện Luật Ngân sách phải sửa đổi quy định về điều tiết Ngân sách cho các địa phương.  Về đổi mới công tác quản lý thu thuế GTGT : - Cải tiến quy trình thu - khấu trừ- hoàn thuế và hệ thống hóa đơn chứng từ để ngăn chặn tình trạng móc nối tiêu cực giữa cán bộ ngành thuế, hải quan với doanh nghiệp.
  31. 31. 31 - Cần tăng cường quản lý chặt chẽ việc sử dụng hóa đơn, chứng từ thuế GTGT đầu vào, đầu ra để hạn chế tình trạng trốn lậu thuế, gian lận trong hoàn thuế GTGT, gây tổn hại cho Ngân sách Nhà nước như trong thời gian qua. Cụthể: + Có thể xây dựng hệ thống mạng quản lý hóa đơn, nối kết 64 tỉnh thành trong cả nước thông qua máy chủ đặt tại Tổng cục thuế và mỗi Cục thuế là một mạng quản lý nhỏ kết nối với các Chi cục thuế. Như thế, sẽ không còn hiện tương xuất hóa đơn mà không kê khai hay xuất khống hóa đơn. Hơn nữa, hiện tương xuất hóa đơn qua nhiều địa phương khác nhau cũng không còn. + Khuyến khích doanh nghiệp sử dụng hóa đơn tự in, sẽ vừa thuận tiện cho doanh nghiệp, vừa giảm được những tiêu cực như tình trạng mua bán hóa đơn, in hóa đơn giả... + Khuyến khích mọi người dân có thói quen mua hàng phải lấy hóa đơn bằng nhiều hình thức như: Xổ số hóa đơn ; Giảm thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao khi cá nhân mua hàng tiêu dùng đến một giá trị nhất định nào đó ; Giảm thuế GTGT cho người mua hàng khi lấy hóa đơn ; Tuyên truyền, giáo dục cho người dân biết về thuế, quyền lợi và nghĩa vụ của việc nộp thuế, lợi ích của việc lấy hóa đơn khi mua hàng. - Tất cả các doanh nghiệp phải mở tài khoản và thanh toán qua ngân hàng, điều này sẽ giúp cho việc theo dõi hoạt động của doanh nghiệp sẽ hiệu quả hơn nhằm ngăn chặn các hành vi gian dối, lừa đảo, qua mặt cơ quan pháp luật. -Thường xuyên tiến hành kiểm tra, thanh tra thuế. 4.2.2. Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế TTĐB là loại thuế gián thu thu vào một số hàng hóa, dịch vụ Nhà nước cần điều tiết thu nhập và hạn chế hướng dẫn tiêu dùng, phù hợp với thông lệ quốc tế; Góp phần bảo đảm ổn định nguồn thu khi cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết quốc tế. Hướng hoàn thiện là: mở rộng đối tượng chịu thuế TTĐB, điều chỉnh thuế suất thuế TTĐB cho phù hợp với mục tiêu điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng. Tiến tới xóa bỏ miễn, giảm thuế TTĐB để đảm bảo công bằng bình đẳng về nghĩa vụ thuế và nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng sản xuất trong nước và nhập khẩu. Cụthể:
  32. 32. 32  Mở rộng đối tượng chịu thuế TTĐB : Thuế TTĐB đã được sửa đổi mở rộng diện chịu thuế từ đầu năm 1999. Tuy nhiên, so với đa số các nước đang phát triển và các nước trong khu vực ASEAN thì diện chịu thuế TTĐB hiện nay ở nước ta còn hạn hẹp. Hơn nữa, đặt trong điều kiện thuế GTGT sẽ được sửa đổi theo hướng thu hẹp các mức thuế suất, nếu thuế TTĐB không mở rộng diện chịu thuế sẽ làm cho hệ thống thuế gián thu ngày càng lũy thoái ở cấp độ cao hơn. Điều đó sẽ vi phạm nguyên tắc công bằng và không thực hiện được mục tiêu hướng dẫn tiêu dùng. Vì vậy, cần thiết phải đưa một số hàng hóa, dịch vụ khác vào diện chịu thuế TTĐB như: mỹ phẩm, nước hoa, vàng bạc đá quý, dịch vụ khách sạn, xe máy...Đây là một cách bù thu hiệu quả trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO - khi mà nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm đáng kể.  Về giá tính thuế: Sửa đổi quy định về giá tính thuế thuế TTĐB đối với các sản phẩm có cồn được sản xuất trong nước. Việc tính thuế TTĐB đối với các sản phẩm có cồn được sản xuất trong nước phải dựa trên tổng giá cả mà không loại trừ giá trịvật chất chứa đựng để đảm bảo nguyên tắc đãi ngộ quốc gia của WTO. Trường hợp muốn giảm gánh nặng thuế TTĐB đối với các sản phẩm này, giải pháp tiên tiến hơn và có hiệu quả hơn là giảm thuế suất thuế TTĐB.  Về thuế suất : Cần điều chỉnh thuế suất các mặt hàng cho phù hợp hơn và đồng bộvới các Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu, GTGT cũng như phù hợp với thông lệ quốc tế. Hướng sửa đổi là áp dụng một thuế suất thống nhất cho một nhóm sản phẩm, không phân biệt thuế suất theo tính chất, nguồn nguyên liệu hình thành, hình thức sản phẩm để hạn chế tối đa các trường hợp lợi dụng lách thuế giữa các mức thuế suất của cùng một loại sản phẩm, gây mất công bằng giữa các đối tượng nộp thuế và tạo môi trường cạnh tranh không lành mạnh. Bên cạnh đó, việc không phân biệt theo nguồn nguyên liệu (nội địa hay nhập khẩu) còn tạo điều kiện để chính sách thuế TTĐB phù hợp với thông lệ quốc tế. Mức thuế suất thuế TTĐB đối với một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn cần được điều chỉnh thuế suất theo sát với sự điều chỉnh thuế suất của thuế xuất khẩu, nhập khẩu và thực hiện nguyên tắc “sân sau”. Theo đó, thuế suất thuế TTĐB phải được điều chỉnh tăng hoặc giảm tùy thuộc vào điều chỉnh giảm hoặc tăng của thuế suất thuế nhập khẩu theo một hệ số tương quan phù hợp với từng ngành hoặc loại hàng hóa nhất định. Nghiên cứu áp dụng định mức thuế theo định hướng tuyệt đối trên một đơn vị sản phẩm chịu thuế để đơn giản về cách tính mức thuế phải nộp đối với một số mặt hàng trong điều kiện giá cả không có sự biến động lớn. - Nâng mức thuế suất thuế TTĐB đối với các sản phẩm xăng. Trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO, khi mà nguồn thu từ thuế nhập khẩu giảm,
  33. 33. 33 việc nâng mức thuế suất thuế TTĐB đối với các sản phẩm dầu mỏ, đặc biệt là xăng không chỉ là biện pháp bù thu hiệu quả mà còn là một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ mục tiêu. - Xóa bỏ sự phân biệt mức thuế suất thuế TTĐB đối với sản phẩm bia tươi và bia hơi để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng của chính sách thuế theo quy định của WTO. - Loại bỏ các trường hợp miễn, giảm thuế TTĐB không đúng với tính chất của thuế gián thu và không phù hợp với các quy định quốc tế như: các trường hợp miễn, giảm thuế đối với cơ sở sản xuất và lắp ráp ôtô trong nước...Việc miễn, giảm thuế(nếu có) nên được quy định theo thông lệ, tức là bằng một tỷ lệ phần trăm tính trên số thuế phải nộp mà không nên phức tạp hóa một cách không cần thiết bằng cách quy định giảm thuế suất như Luật thuế hiện hành. 4.2.3. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu : Định hướng sửa đổi trong giai đoạn sắp tới : - Tiếp tục thực hiện theo CEPT/AFTA để năm 2010 có 80% dòng thuế có thuế suất 0%. - Tiếp tục thực hiện các cam kết quốc tế khác đã ký kết. - Thu gọn mức thuế nhập khẩu xuống khoảng 6 mức, trong đó: các mức thuế suất thấp (0-10%) áp dụng cho những hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục cắt giảm thuế theo cam kết quốc tế; Các mức thuế suất cao (15-30%) áp dụng cho những hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục hạn chế nhập khẩu liên quan đến an ninh quốc gia, chính trị- xã hội đất nước...; - Xóa bỏ hoàn toàn việc miễn, giảm thuế nhập khẩu. 4.2.4. Thuế thu nhập doanh nghiệp  Về đối tượng nộp thuế TNDN : Cần thống nhất nguyên tắc “cư trú”, “nguồn thu nhập” và “cơ sở thường trú” để thích ứng với thương mại điện tử và tự do di chuyển vốn, lao động. Bên cạnh đó, cần có những quy định thật rõ ràng về các tiêu thức xác định thân phận cư trú của các công ty phù hợp với những điều kiện quốc tế và hội nhập kinh tế hiện nay.
  34. 34. 34 Đối tượng nộp thuế bao gồm thể nhân và pháp nhân kinh doanh. Nên chuyển đối tượng là cá nhân kinh doanh sang đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân. Để phù hợp với Bộ luật dân sự, cần phân biệt rõ đối tượng nộp thuế là cá nhân hay pháp nhân, hơn nữa, nên đổi tên thuếTNDN thành thuế thu nhập công ty cho tương đồng, với các nước trên thế giới, đúng tính chất của sắc thuế chỉ áp dụng với các công ty có tư cách pháp nhân.  Về căn cứ tính thuế: Theo đà phát triển kinh tế đất nước, sự hoạt động mạnh mẽ của thị trường chứng khoán và sự hình thành ngày càng nhiều các công ty cổ phần, thì các khoản thu nhập từ đầu tưtrong xã hội ngày càng tăng. Do đó, trong thời gian tới, Luật thuếTNDN phải được bổ sung các quy định về các khoản thu nhập từ lợi tức cổ phần, thu nhập môi giói chứng khoán, lãi tiền vay, thu nhập phát sinh từ các giao dịch tiền tệ và các công cụ tài chính phái sinh để áp dụng chế độthu thuế phân biệt đối với các khoản thu nhập này.  Về thuế suất : Áp dụng mức thuế suất phổ thông là 25% và mức thuế suất ưu đãi là 20%, 15%, 10% không phân biệt doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là phù hợp với mục tiêu khuyến khích đầu tư, đổi mới công nghệ nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Về điều kiện ưu đãi, chỉ áp dụng đối với các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu, dự án đầu tư công nghệ cao, dự án đầu tư vào địa bàn kinh tế- xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Thay việc ưu đãi, miễn giảm thuếTNDN cho các dự án khác bằng việc áp dụng phương pháp khấu hao nhanh, hoặc khấu trừ một tỷ lệ trên vốn đầu tư thay cho khấu hao.  Về xác định các khoản chi phí hợp lý : Các chi phí hợp lý phải thỏa mãn những yêu cầu sau : Các chi phí này phải có liên quan đến các hoạt động tạo ra thu nhập của doanh nghiệp ; Các chi phí này phải có hóa đơn, chứng từ hợp lý ; Mức chi phí phải ở mức hợp lý là mức cần thiết trung bình xã hội. Cụ thể: + Đối với các khoản chi phí mang tính chất lương, cần có quy định cụ thểhơn trong việc sử dụng sốlượng lao động sao cho phù hợp với với quy mô hoạt động của doanh nghiệp nhằm chống hiện tượng khai báo gian lận gây thất thu thuế.  Về chuyển lỗ:Rút ngắn thời gian cho phép chuyển lỗ từ 5 năm xuống còn 2-3 năm để tạo động lực, buộc các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả phải nỗlực phấn đấu.
  35. 35. 35  Về vấn đề chống chuyển giá : Đây là vấn đề mới mẻ, vô cùng phức tạp, khó khăn, thách thức to lớn đối với cơ quan thuế nước ta. Tuy nhiên, cũng xin đề xuất một vài ý kiến để góp phần hạn chế tình trạng này là : + Đội ngũ cán bộ thuế quản lý các công ty đa quốc gia phải có trình độ kếtoán và kiểm toán quốc tế và được chuyên môn hóa quản lý theo từng sắc thuế. + Triển khai hình thức thỏa thuận định giá trước được thiết lập giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp. + Phải tin học hóa cao công tác quản lý thuế. + Tổ chức thực hiện phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế và các Bộ, ngành, cơ quan quản lý có liên quan. 4.2.5. Thuế thu nhập cá nhân : Thuế TNCN là một sắc thuế cơbản, giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thuế của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở các nước phát triển, thuế TNCN chiếm 30-40% số thu ngân sách một số nước (Nhật Bản, Na Uy, Đan mạch) áp dụng thuế suất rất cao động viên từ 50-55% thu nhập chịu thuế. Đối với Việt Nam, đòi hỏi phải hoàn thiện Luật thuế TNCN theo thông lệ quốc tế, đưa sắc thuế này lên đúng tầm trong hệ thống thuế(nâng tỷ trọng trong tổng thu Ngân sách Nhà nước từ 2,1% hiện nay lên khoảng 20% vào năm 2020). Tuy nhiên, cũng như đối với doanh nghiệp, trình độ kinh tế, nguồn thu nhập của đại bộ phận dân cư đang còn ởmức thấp. Vì vậy, hướng hoàn thiện thuế TNCN là ban hành Luật thuế TNCN thay cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, đảm bảo vừa khuyến khích làm giầu hợp pháp vừa mở rộng diện động viên một phần thu nhập của mọi cá nhân vào Ngân sách Nhà nước góp phần thực hiện công bằng xã hội, đặc biệt là điều tiết vào phần thu nhập cao do việc phân hóa thu nhập trong xã hội và từng bước nâng cao vị trí của sắc thuế này trong hệ thống chính sách thuế. Cụ thể kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau :  Thứ nhất, mở rộng đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế trên cơ sở bổ sung đối tượng và thu nhập tăng thêm từ những hộ kinh doanh, những người hành nghề độc lập, những người có tài sản cho thuê, những người có thu nhập từ cho vay vốn, từ lãi cổ phần bằng cách hạ mức khởi điểm chịu thuếvà thuế suất, thuế suất bổsung. Tiêu thức tiến hành đánh thuế phải dựa vào hai cơ

×