Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.
Lời nói đầuNền kinh tế phổ biến hiện nay là nền kinh tế nâu, là nền kinh tế gắn liền với khai thác và sử dụng tàinguyên hó...
3. Xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững         QUY HOẠCH BỀN VỮNG         Quy hoạch bền vững là một chiến lược được đề ra để x...
hơn, sạch hơn, và được coi là nơi có môi trường làm việc, sinh sống và vui chơi thân thiện với môitrường. Hiệu quả của nhữ...
Nguồn lợi thiên nhiên hoặc các dịch vụ đa dạng từ cùng một hệ sinh thái đều có những mức độnhạy cảm khác nhau đối với sự c...
( Tỉ lệ chết sớm do ô nhiễm không khí, Hàng triệu người sống trong khu vực ô nhiễm nguồn nước, phầntrăm mối đe dọa về đa d...
đổi trong các dịch vụ hệ sinh thái. Hơn nữa, hệ sinh thái là nguồn cung chủ yếu các nguyên liệu phục vụcho phát triển kinh...
Ở Đức, lĩnh vực công nghệ môi trường có thể sẽ phát triển gấp 4 lần và chiếm 16% ngành sản xuấtcông nghiệp từ nay đến năm ...
Như vậy Việt nam sẽ đẩy mạnh “Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng” trong thời gian sắptới. Đây là cơ hội để...
- Về cơ chế chính sách, trên cơ sở cương lĩnh định hướng Chiến lược phát triển kinh tế-xã Việt nam giaiđoạn 2011-2015 và t...
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Những vấn đề cơ bản về tăng trưởng xanh odt

5,306 views

Published on

  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và THẠC SỸ (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ. DỊCH VỤ LÀM SLIDE POWERPOINT:10.000VNĐ/1SLIDE
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here

Những vấn đề cơ bản về tăng trưởng xanh odt

  1. 1. Lời nói đầuNền kinh tế phổ biến hiện nay là nền kinh tế nâu, là nền kinh tế gắn liền với khai thác và sử dụng tàinguyên hóa thạch. Tuy cũng tạo được phát triển tăng trưởng nhất định nhưng nền kinh tế nâu lại là mộtnền kinh tế không bền vững. Đó là do hai yếu tố môi trường và xã hội không được quan tâm. Với nềnkinh tế nâu chúng ta phải đối mặt với những hiểm họa về môi trường do ô nhiễm gây ra như biến đổi khíhậu, nóng lên toàn cầu, … Để khắc phục biện pháp này, Chương trình môi trường liên hợp quốc đưa ramô hình kinh tế xanh. Là mô hình kinh tế bền vững. Bài viết này nói về tăng trưởng xanh là con đường đểtiến tới kinh tế xanh. I/ Tăng trưởng xanh là gì?Tăng trưởng xanh là một thuật ngữ để mô tả con đường tăng trưởng kinh tế sử dụng nguồn tài nguyênthiên nhiên một cách bền vững. Nó được sử dụng trên toàn cầu để cung cấp khái niệm thay thế cho tiêuchuẩn tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng xanh đơn giản là tăng trưởng kinh tế có tính đến thiệt hại về môitrường. Tăng trưởng xanh là công cụ cần thiết để hướng tới kinh tế xanh. II/ Nội dung của tăng trưởng xanh 1. Sản xuất và tiêu dùng bền vững. 2. Xanh hoá kinh doanh và thị trường Sự cần thiết cho kinh doanh xanhGiá thị trường hiện nay không phản ánh được đầy đủ các chi phí chế biến của đầu vào ( ví dụ như tàinguyên thiên nhiên ) và kết quả đầu ra ( ví dụ như chất thải, nước và khí thải). Như vậy cần phải có mộtkhoản chi phí sinh thái cho việc sử dụng tài nguyên trước và sau vào giá của hàng hoá. Điều này nghĩa làcác hoạt động giao dịch thị trường sẽ không có chi phí môi trường, xã hội. Hê quả của nó là sẽ phải mấtmột mức thâm hụt- thâm hụt sinh thái. Khi thâm hụt sinh thái sâu sắc thì sẽ dẫn đến nguy cơ về thảm hoạmôi trường.Chính phủ phải đi đầu và khuyến khích xanh hóa kinh doanh trong tất cả các cấp độ của nền kinh tế, để: 1) tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc làm xanh; 2) thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu; 3) hỗ trợ các thị trường mới cho các sản phẩm bền vững; 4) cải thiện việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên 5) giảm suy thoái môi trường gây ra bởi các hoạt động kinh doanh.Các phương pháp tiếp cận toàn bộ hệ thống theo hướng xanh hóa kinh doanh Phát triển công nghiệp sinh thái và các hệ thống nền kinh tế trònSinh thái công nghiệp (STCN – Industrial Ecology) được biết đến vài năm trước đây, đặc biệt từ khi xuấthiện bài báo của Frosch và Gallpoulos phát hành theo số báo đặc biệt của tờ Scientific American (Froschvà Gallpoulos, 1989).Khái niệm STCN thể hiện sự chuyển hóa mô hình hệ công nghiệp truyền thống sangdạng mô hình tổng thể hơn – hệ STCN (industrial ecosystem). Trong đó, chất thải hay phế liệu từ quytrình sản xuất này có thể sử dụng làm nguyên liệu cho quy trình sản xuất khác.Trong khu công nghiệpsinh thái cơ sở hạ tầng công nghiệp được thiết kế sao cho chúng có thể tạo thành một chuỗi những hệ sinhthái hòa hợp với hệ sinh thái tự nhiên trên toàn cầu.Hệ STCN được tạo thành từ tất cả các khâu sản xuất,chế biến, tiêu thụ, kết hợp cả sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Bốn thành phần chính của hệ STCNbao gồm: Cơ sở sản xuất nguyên vật liệu và năng lượng ban đầu, Nhà máy chế biến nguyên liệu, Nhà máyxử lý/tái chế chất thải và Tiêu thụ thành phẩm. Một hệ STCN sẽ tận dụng nguyên vật liệu và năng lượngthải bỏ của các nhà máy khác nhau trong hệ thống và cả các thành phần không phải là cơ sở sản xuất.Bằng cách này, lượng nguyên liệu và năng lượng tiêu thụ cũng như lượng chất thải phát sinh sẽ giảm dochất thải/phế phẩm được sử dụng để thay thế một phần nguyên liệu và năng lượng cần thiết.
  2. 2. 3. Xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững QUY HOẠCH BỀN VỮNG Quy hoạch bền vững là một chiến lược được đề ra để xây dựng và bảo trì hệ thống cơ sở hạ tầngbền vững. Quy hoạch bền vững tạo ra tiềm năng cao cho việc làm “xanh”, góp phần bảo vệ và giữ gìn môitrường và góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi để tăng trưởng xanh.Để có một đồ án quy hoạch tốt,đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị hiện nay, không phải là đơn giản. Theo kinh nghiệm của một số nước đitrước, đặc biệt ở Úc thì quy hoạch bền vững phải đáp ứng 4 tiêu chí: xã hội, tự nhiên, kĩ thuật, tài chính. Bền vững về xã hội: Đây là tiêu chí quan trọng nhất. Quy hoạch đô thị ảnh hưởng sâu rộng đếnnhiều người từ nhiều sắc tộc khác nhau, nhiều nền văn hóa khác nhau. Để đồ án sống được theo thời gianvới đầy đủ ý nghĩa mong muốn, đồ án đó phải vì con người, nghĩa là phải mang tính nhân văn, phải cânbằng được mọi giá trị văn hóa, tôn giáo, phải bảo đảm đầy đủ các yếu tố xã hội như giáo dục, y tế, việclàm, thu nhập, giao thông và các dịch vụ cần thiết khác, đó là những yếu tố tạo nên tính bền vững xã hội. Bền vững về tự nhiên: Đây là tiêu chí quan trọng thứ hai. Tiêu chí này dựa trên nguyên tắc cơ bảnlà tất cả mọi cấu phần của đồ án quy hoạch phải tồn tại thân thiện với môi trường sinh thái. Người ta thiếtlập một thứ tự ưu tiên để phân tích tác động của đồ án đến môi trường. Ưu tiên thứ nhất là nguồn nước.Nếu một đồ án quy hoạch có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồnnước mà không thể khắc phụ được thì bị từ bỏ ngay. Ưu tiên thứ hai là những khoảng không gian xanh. Cây xanh ở Úc cũng có quyền pháp lý và đượcbảo vệ như những công dân. Mỗi cây đều có hồ sơ lý lịch và được quản lý bằng máy vi tính. Canberra củaÚc được coi là một trong những thành phố xanh nhất thế giới với tỷ lệ ba cây xanh trên một đầungười.Nếu đồ án quy hoạch ảnh hưởng xấu cho khoảng không gian xanh cũng bị từ bỏ ngay. Ưu tiên thứ ba là tài nguyên và thổ nhưỡng. Tài nguyên khoáng sản của Úc khá phong phú đượcbảo vệ và gìn giữ như “của để dành” cho thế hệ mai sau.Nếu dưới vùng đất định quy hoạch có khoáng sảnthì trước hết người ta sẽ sơ bộ lập phương án khai thác, xem xét tình hình biến động của loại khoáng sảntrên thị trường thế giới để tiên đoán thời gian cạn kiệt mà Úc phải khai thác (có khi là cả trăm năm sau),và vào thời điểm đó thì khai thác như thế nào. Đồ án quy hoạch không được ảnh hưởng đến việc khai thácsau này. Bền vững về kỹ thuật: là tiêu chí quan trọng thứ ba. Đồ án quy hoạch được coi là bền vững kỹthuật khi tích hợp được mọi yêu cầu hạ tầng kỹ thuật một cách đầy đủ và đồng bộ với các phương án hợplý bảo đảm cho cuộc sống văn minh lâu dài.Ví dụ khi quy hoạch một tuyến đường, người ta đưa tất cả cáccông trình phụ trợ cần thiết như điện, nước, thoát nước, viễn thông, cây xanh, chiếu sáng v.v... vào chungmột dự án. Tiến độ thi công cũng được lập rất cụ thể chi tiết và đồng bộ, xây trước, xây sau nhịp nhàng vàhợp lý. Không đào đi đào lại gây lãng phí.Khi dự án hoàn thành, các công trình phụ trợ sẽ được bán lạicho nhà cung cấp dịch vụ tương ứng. Những công trình như cấp thoát nước, môi trường, cây xanh, chiếusáng v.v... không thu được vốn từ nhà cung cấp dịch vụ thì chi phí được tính vào giá đất. Bền vững về tài chính: là tiêu chí quan trọng cuối cùng. Công tác phân tích kinh tế - xã hội và tàichính được thực hiện rất nghiêm ngặt ở giai đoạn ba - quy hoạch sơ bộ - và thẩm định lại ở giai đoạn cuốicùng, nhằm tính toán mọi chi phí cần thiết để đầu tư, vận hành, bảo dưỡng, và quản lý.Người ta lập môhình tài chính đầy đủ cho toàn bộ vòng đời của công trình. Thậm chí là chi phí để phá dỡ sau khi côngtrình hoàn thành sứ mệnh tồn tại (có khi cả trăm năm sau) cũng được dự toán rất chi tiết. TOÀ NHÀ XANH Các toà nhà hiện nay ở các nước phát triển, sử dụng rất nhiều nguồn nguyên liệu, và tiêu tốn rấtnhiều các nguồn tài nguyên để xây dựng. Kéo theo nó là cả một quá trình xây dựng phát thải cao và ônhiễm. Vì thế toà nhà xanh là đối tượng quan trọng trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững. Khái niệm „Tòa nhà xanh” được hiểu là những tòa nhà đạt chuẩn về sử dụng năng lượng hiệu quả,giảm sự tỏa hơi do hiệu ứng nhà kính, bảo toàn nguồn nước, chống ô nhiễm tiếng ồn, nguồn nước, khôngkhí, đất và ánh sáng. Chủ đầu tư đã đưa thêm những giải pháp để giúp cho công trình của họ được an toàn
  3. 3. hơn, sạch hơn, và được coi là nơi có môi trường làm việc, sinh sống và vui chơi thân thiện với môitrường. Hiệu quả của những tòa nhà xanh là giúp làm giảm mức tiêu thụ điện do sử dụng năng lượng tựnhiên, nguồn nước tưới tiêu, giảm rác thải do quá trình tái chế và tái sử dụng cũng như các chất gây ônhiễm.Các toà nhà xanh đã được xây dựng: - Toà nhà xanh tại Mỹ (trụ sở hội đồng bảo vệ tài nguyên thiên nhiên - Trung tâm Thương mại Xanh CII-Sohrabji Godrej ở Hyderabad tại Ấn Độ - … 4. Áp dụng thuế xanh Thuế xanh (còn gọi là "thuế môi trường" hoặc "thuế ô nhiễm") là loại thuế đặc biệt đánh trên việctiêu thụ các chất gây ô nhiễm môi trường hoặc hàng hoá có sử dụng sản xuất các chất ô nhiễm. Lý thuyếtkinh tế cho rằng đánh thuế đối với lượng khí thải gây ô nhiễm môi trường sẽ làm giảm tác hại môi trườngtheo cách thức ít tốn kém nhất, bằng cách khuyến khích thay đổi hành vi của những doanh nghiệp và hộgia đình có thể làm giảm ô nhiễm của họ với chi phí thấp nhất. Thuế môi trường thuần túy nhằm mục đích đảm bảo rằng gây ô nhiễm phải đối mặt với chi phí bằng cách thu phí đối với các thiệt hại gây ra cho người khác. Thuế trực tiếp nhằm hạn chế ô nhiễm của người gây ô nhiễm. Thuế gián tiếp, tức là đánh thuế vào các hàng hóa hay dịch vụ liên quan mà khi sử dụng ít sẽ ít gây ô nhiễm. 5. Đầu tư vào vốn tự nhiên Khái niệm vốn tự nhiên chỉ những nguồn tài nguyên hữu sinh, vô sinh cung cấp nguyên liệu phụcvụ nền kinh tế nhân loại hoặc cung cấp những dịch vụ duy trì các chu trình địa-hóa-sinh và sự sống.Vốntự nhiên là các nguồn cung tài nguyên hoặc các dịch vụ có nguồn gốc từ thiên nhiên. Rừng, các mỏkhoáng sản, nguồn lợi thủy sản và đất đai màu mỡ là một số ví dụ về nguồn vốn thiên nhiên. Khả năng lọckhông khí và làm sạch nước cũng là hai trong số nhiều dịch vụ sinh thái bắt nguồn từ thiên nhiên.Có bốnloại hình dịch vụ được cung cấp bởi vốn thiên nhiên, mỗi loại cần được xem xét về mức độ quan trọng: DV dự trữ DV điều hòa DV văn hóa Sản phẩm thu được từ hệ sinh Lợi ích thu được từ việc điều Các giá trị phi vật chất thu được thái hòa các quy trình của hệ sinh từ hệ sinh thái thái Tinh thần và tín ngưỡng Thức ăn Điều hòa khí hậu Giải trí và du lịch sinh Nước ngọt Hạn chế dịch bệnh thái Củi Điều hòa nguồn nước Thẩm mĩ Sợi tự nhiên Lọc nước Cảm hứng Các hợp chất sinh học Thụ phấn Giáo dục Nguồn gen Tình yêu đất nước Di sản văn hóa DV hỗ trợ Các DV cần thiết để duy trì các chức năng khác của hệ sinh thái Kiến tạo đất Luân chuyển dinh dưỡng Sản xuất sơ cấp
  4. 4. Nguồn lợi thiên nhiên hoặc các dịch vụ đa dạng từ cùng một hệ sinh thái đều có những mức độnhạy cảm khác nhau đối với sự can thiệp từ bên ngoài. Khi rừng bị mất đi một khối lượng gỗ nào đó thìcác dịch vụ sinh thái như khả năng giữ nước và sự đa dạng sinh học của môi trường sống sẽ bị ảnh hưởngtheo các mức độ khác nhau. Có trường hợp sự xâm hại vượt qua ngưỡng giới hạn khiến một hay nhiều dịch vụ sinh thái củarừng không thể tự phục hồi thậm chí trong khi vẫn tiếp tục bị khai thác. Khi giới hạn bền vững bị vượtqua ở một mức độ nào đó, giá gỗ trên thị trường không biểu hiện hết được những tổn thất của các dịch vụsinh thái. Cả nguồn vốn và nguồn lợi thiên nhiên mà các dịch vụ sinh thái mang lại có thể bị tàn phá khicác nguồn lực tài chính tiếp tục phát triển, thậm chí chỉ trong một thời gian ngắn.Phá hủy các dịch vụ sinhthái là phá hủy sự bền vững. Giới hạn bền vững của một dịch vụ sinh thái bị phá vỡ khi mức độ khai thác tài nguyên khiếnnguồn vốn thiên nhiên giảm khả năng cung cấp một nguồn lợi thiên nhiên tương tự trong tương lai như đãtừng mang lại trong quá khứ.Bất kể quá trình trao đổi diễn ra với tiền bạc hay nguồn vốn thiên nhiên, khitỉ lệ khai thác vượt quá khả năng phục hồi, lượng tài nguyên sẵn có cũng sẽ giảm dần về số không khiếntính bền vững bị phá hủy.Tư duy về giới hạn bền vững buộc chúng ta tập trung nhiều hơn vào các dịch vụsinh thái và nguồn lợi thiên nhiên mà chúng đem lại, ít nhất là ngang bằng sự quan tâm dành cho bản thâncác nguồn tài nguyên.Bởi nguồn vốn thiên nhiên bị loại ra khỏi các lý thuyết cũng như thực tiễn kinh tế,những nguồn hỗ trợ quan trọng của nguồn lợi thiên nhiên, vốn rất cần thiết cho sự phát triển bền vững,thường bị coi là không có giá trị trên thị trường và thường chịu lãng quên. Có ba đặc điểm chính làm cho các chức năng hoặc dịch vụ sinh thái có tầm quan trọng rất lớn:- Tính không thể thay thế: Không dịch vụ hoặc chức năng khác, tự nhiên hay nhân tạo, có thể thay thếnhững dịch vụ và chức năng hiện tại (chẳng hạn như chức năng bảo vệ bức xạ mặt trời hay khả năng điềuhòa khí hậu…)- Tính không thể phục hồi: nghĩa là nếu bị phá hủy ở một mức độ nào đó, nó sẽ không thể phục hồi nhưnguyên trạng (mất cân bằng đa dạng sinh học, chất thải độc hại,…)- Nguy cơ cao: những tổn thất của hệ sinh thái tiềm tàng một nguy cơ lớn đối với sự phồn vinh của loàingườiCác hoạt động đầu tư vào vốn tự nhiên: Phát triển nguồn năng lượng tái tạo, các nguồn năng lượng sạch như gió, địa nhiệt, thủy điện, năng lượng mặt trời,... Trồng rừng, phục hồi các khu rừng nguyên sinh Khai thác tài nguyên hiệu quả, tái chế và xử lý chất thải Xây dựng và bảo vệ các khu sinh thái III/ Tăng trưởng xanh là một xu thế Thế giới đang đối mặt với hai thách thức: mở rộng cơ hội kinh tế cho một dân số toàn cầu ngàycàng tăng, và giải quyết các áp lực môi trường.Chiến lược tăng trưởng xanh là cần thiết bởi vì các tácđộng hoạt động kinh tế trên các hệ thống môi trường đang tạo ra sự mất cân bằng và đặt tăng trưởng kinhtế và phát triển có nguy cơ. Nỗ lực gia tăng để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu và mất đa dạng sinh họclà cần thiết để giải quyết những rủi ro.Trong thế kỉ 20, dân số thế giới tăng 4 lần, sản lượng kinh tế tăng22 lần và tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch 14 lần (UNEP, 2011). Khả năng phục hồi của một loạt các hệthống môi trường đang được thách thức bởi yêu cầu của dân số thế giới ngày càng tăng nhanh và tăngmức độ hoạt động kinh tế. Ví dụ như đáp ứng các nhu cầu năng lượng và thực phẩm của 9 tỷ người năm2050, nguồn nước dưới áp lực ngày càng tăng và không có hành động chính sách mới thêm 1 tỷ ngườisống trong các khu vực ô nhiễm nước nghiêm trọng vào năm 2030. ( xem biểu đồ bên dưới)
  5. 5. ( Tỉ lệ chết sớm do ô nhiễm không khí, Hàng triệu người sống trong khu vực ô nhiễm nguồn nước, phầntrăm mối đe dọa về đa dạng sinh học, khí thải gây hiệu ứng nhà kính).Như vậy thế giới phải đối mặt với hai thách thức: mở rộng cơ hội kinh tế cho dân số toàn cầu ngày càngtăng và giải quyết các áp lực môi trường. Lúc này giải pháp “phát triển trước, xử lý hậu quả sau” khôngcòn hữu hiệu nữa trên cơ sở nguồn lực tự nhiên hạn chế và dân số tăng nhanh. Vấn đề là phải tìm ra conđường phát triển khác.Tăng trưởng xanh đáp ứng được hai thách thức đó: Đó là thúc đẩy tăng trưởng kinhtế và phát triển trong khi đảm bảo các vấn đề về môi trường để tiếp tục cung cấp các nguồn lực cần thiết.1. KT xanh giúp phát triển bền vững Như đã trình bày ở trên kết quả cuối cùng của Tăng trưởng xanh chính là Kinh tế xanh. Hãycùng xem nền KT xanh làm được những gì??? Trong nền kinh tế xanh , thay vì bị coi như là nơi hấp thụ chất thải tạo ra bởi các hoạt động kinh tếmột cách thụ động, môi trường được xem là nhân tố có tính quyết định đến tăng trưởng kinh tế, cải thiệnchuỗi giá trị, đem lại sự ổn định và thịnh vượng lâu dài. Nói cách khác, nhân tố môi trường thực sự đóngvai trò như là chất xúc tác cho tăng trưởng và đổi mới trong nền kinh tế xanh. Trong nền kinh tế xanh, nhân tố môi trường có khả năng tạo ra tăng trưởng kinh tế và phúc lợi xãhội. Ngoài ra, khi mà sinh kế của một bộ phận người dân có mức sống dưới mức nghèo khổ phụ thuộcnhiều vào tự nhiên, hơn nữa họ là những đối tượng dễ bị tổn thương do tác động của thiên tai cũng như sựbiến đổi khí hậu, việc chuyển đổi sang nền kinh tế xanh cũng góp phần cải thiện sự công bằng xã hội, vàcó thể được xem như là một hướng đi tốt để phát triển bền vững. Kinh tế xanh bảo vệ sự đa dạng sinh học như thế nào? Suy giảm đa dạng sinh học làm giảm phúc lợi của một bộ phận dân số thế giới, trong khi một bộphận dân số khác gặp phải những vấn đề trầm trọng hơn vì đói nghèo. Nếu tình trạng này tiếp tục, nó cóthể gây ảnh hưởng đến sự hoạt động của các hệ sinh thái điều hoà khí hậu trong dài hạn và có thể dẫn đếnnhững biến đổi không thể lường trước và có thể không đảo ngược trong hệ thống trái đất và những thay
  6. 6. đổi trong các dịch vụ hệ sinh thái. Hơn nữa, hệ sinh thái là nguồn cung chủ yếu các nguyên liệu phục vụcho phát triển kinh tế. KT xanh nhằm giảm những hệ quả tiêu cực do các yếu tố bên ngoài gây ra bởi việc khai thácnguồn tài nguyên thiên nhiên. Ví dụ, đầu tư vào bảo vệ rừng không những duy trì một loạt các ngành vàsinh kế của con người mà còn bảo tồn 80% các loài trên cạn. Bằng cách thúc đẩy đầu tư vào lâm nghiệpxanh, Kinh tế Xanh sẽ góp phần ổn định đời sống kinh tế của hơn một tỷ người hiện đang sinh sống bằngcác sản phẩm từ gỗ, giấy và chất xơ, với tổng thu nhập chỉ chiếm 1% GDP toàn cầu. Kinh tế xanh có thể giúp xóa đói giảm nghèo như thế nào? Công nghệ năng lượng tái tạo, như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và các chính sách hỗ trợnăng lượng hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể cho việc cải thiện đời sống và sức khỏe cho một bộ phận ngườidân có thu nhập thấp, đặc biệt là cho những người hiện đang không có khả năng tiếp cận với năng lượng.Chẳng hạn như cung cấp các nguồn năng lượng có khả năng hỗ trợ cho 1,4 tỷ người hiện đang thiếu điệnvà cho hơn 700 triệu người khác hiện đang không được tiếp cận với các dịch vụ năng lượng hiện đại. Kinh tế xanh có thể tạo ra việc làm như thế nào? Nền kinh tế xanh có khả năng tạo ra việc làm trong một loạt các lĩnh vực mới nổi và nhiều tiềmnăng, chẳng hạn như nông nghiệp hữu cơ, năng lượng tái tạo, giao thông công cộng, cải tạo các khu côngnghiệp, tái chế... Một công việc tốt được hiểu như là công việc có năng suất lao động cao, cùng với hiệuquả về cải thiện môi trường sinh thái và ổn định lượng khí thải ra ở mức thấp, sẽ góp phần tăng thu nhập,thúc đẩy tăng trưởng và giúp bảo vệ môi trường - khí hậu. Đã có rất nhiều những việc làm xanh như vậyđược tạo ra, đặc biệt là trong ngành năng lượng tái tạo như Kỹ thuật điện, hiệu quả năng lượng, CN môitrường, năng lượng mặt trời, năng lượng gió. Hay như trong lĩnh vực xây dựng với việc thiết kế và xâydựng những công trình tiết kiệm điện, thân thiện với môi trường,…Người ta thống kê rằng đã có 2,3 triệungười đã tìm được việc làm trong lĩnh vực năng lượng tái sinh những năm gần đây. Và sẽ có thêm 20 triệuviệc làm từ nay đến năm 2030, chủ yếu là trong ngành năng lượng từ vật liệu hữu cơ và năng lượng mặttrời. Khoảng 2-3,5 triệu người sẽ tìm được việc làm ở Mỹ và châu Âu khi các công trường xây dựng lớn ởđây sử dụng năng lượng sạch.2. Thực trạng tăng trưởng xanh trên TG Từ năm 2008, Hàn Quốc đã dành 80% trong gói kích cầu kinh tế khoảng 38,1 tỷ USD để dùng chosự chuyển dịch từ nền kinh tế nâu sang nền kinh tế xanh.Mới đây, tại hội chợ Barcelona, Hãng Samsungtrình làng mẫu điện thoại di động đầu tiên trên thế giới sử dụng năng lượng mặt trời, báo hiệu công nghệxanh được ứng dụng sang các sản phẩm đời sống số. Hàn Quốc còn đầu tư gần 40 tỉ USD trong 4 năm tớinhằm phát triển lĩnh vực công nghiệp và kỹ thuật xanh cùng công nghiệp mũi nhọn tổng hợp. Chính phủcũng đã cho xây dựng hệ thống “vận tải xanh”, bao gồm đường sắt thải ít khí cacbon và 3.000km đườngxe đạp quanh bốn con sông xanh. Khoảng 2 triệu ngôi nhà xanh và văn phòng làm việc sử dụng ít nănglượng và điện sẽ được xây dựng. Tại các nước trong khu vực, ví dụ như Lào cũng đang trong quá trình xây dựng một lộ trình tăngtrưởng xanh quốc gia. Campuchia cũng đang nỗ lực xây dựng một kế hoạch hành động chi tiết sau khiban hành lộ trình tăng trưởng xanh quốc gia. Để tăng trưởng xanh, Trung Quốc cũng tiến hành nhữngcuộc cách mạng sạch, cách mạng xanh, cách mạng công nghệ cao... Chỉ riêng trong lĩnh vực tái chế vànăng lượng tái tạo, mỗi năm, Trung Quốc đã kiếm được 17 tỷ USD và tạo công ăn việc làm cho 10 triệungười. Mỹ cũng tung ra các chính sách phát triển thể chế “kinh tế xanh” với 80 tỉ USD được dùng để thựchiện các dự án xanh, trong đó có 20 tỉ USD chi cho năng lượng tái sinh, 22 tỉ USD cho việc sử dụng hiệuquả hơn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng.Chính quyền Washington còn dành 15 tỉ USD mỗi năm, từnăm 2012, phát triển công nghệ năng lượng sạch như gió và mặt trời, tăng gấp đôi nguồn cung năng lượngtái sinh. Người Mỹ sẽ nhận khoảng 63 tỉ USD tiền cắt giảm thuế và sự hỗ trợ khác để chuyển sang sửdụng công nghệ năng lượng sạch.
  7. 7. Ở Đức, lĩnh vực công nghệ môi trường có thể sẽ phát triển gấp 4 lần và chiếm 16% ngành sản xuấtcông nghiệp từ nay đến năm 2030. Đáng chú ý là nó sẽ mang lại nhiều việc làm hơn cả lĩnh vực sản xuấtxe hơi và máy móc - hai ngành công nghiệp mũi nhọn của Đức - cộng lại. Tại Hội nghị Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) bế mạc ngày13/11/2011 quyết định 45% c ... Ngân hàng Thế giới đã tính toán:148 tỉ USD đã được đầu tư vào các ngành công nghệ sạch vàonăm 2007, tức tăng 60% so với năm 2006. Ở Mỹ, những ngành công nghệ tốt cho môi trường đứng hàngthứ ba trong các lĩnh vực được ưu tiên đầu tư, sau viễn thông và công nghệ sinh học.Thị trường sản xuấtvà dịch vụ môi trường ước tính mỗi năm mang lại 1.370 tỉ USD. Con số này sẽ tăng gấp đôi từ nay đếnnăm 2020, nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng Xanh như xây dựng, năng lượng, vận tải ở các nướcđang phát triển có thể lên tới 563 tỷ USD vào năm 2030 cùng với 100 tỷ USD để thích nghi với biến đổikhí hậu. Những dữ liệu thực tế này cho thấy, gieo mầm Kinh tế Xanh, tạo nên tăng trưởng xanh là chiếnlược cho phát triển bền vững ở tương lai.Tăng trưởng xanh là tăng trưởng cần thiết trong thời gian khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng sinh tháitrên toàn TG, như một phương thức tối ưu mà các nhà kinh tế, môi trường... nghĩ đến để ngăn chặn nhữngthách thức của biến đổi khí hậu đang ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống con người, được nhiềuquốc gia lựa chọn là mô hình phát triển mới để giải quyết đồng thời những vấn nạn đang tiếp diễn phứctạp: tài nguyên trên thế giới đang dần cạn kiệt, đa dạng sinh học bị suy giảm, ô nhiễm môi trường tiếp tụcgia tăng, biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét. IV/ Tăng trưởng xanh ở Việt NamHoàn cảnh:Việt nam Là một quốc gia đang phát triển nhưng tài nguyên chưa được coi là nguồn lực đặcbiệt quan trọng, vai trò, giá trị của tài nguyên còn chưa được nhận thức đầy đủ, sử dụng tài nguyên bị lãngphí, thất thoát nghiêm trọng bên cạnh cạnh các vấn nạn ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên bức xúctrong bối cảnh tác động biến đổi khí hậu tăng nhanh và diễn biến hết sức phức tạp vì thế việc lựa chọnchiến lược phát triển xanh là rất thích hợp, đóng góp vào cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu .Tuynhiên sự lựa chọn này cần phải nhìn nhận rõ những cơ hội và thách thức để định hướng cho phát triển. Về cơ hội.- Hiện nay sự quan tâm lớn nhất của cộng đồng thế giới là “Biến đổi khí hậu”. Nhằm giảm thiểu và thíchứng với biến đổi khí hậu, các quốc gia đang có nhiều nỗ lực, trong đó phát triển kinh tế cac bon thấp, tăngtrưởng xanh đang là những xu hướng mới trong lộ trình tiến tới “Nền kinh tế xanh”. Việt nam sẽ đón nhậnđược sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia và các tổ chức quốc tế trên thế giới trong nỗ lực chung giảmthiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu trên cơ sở hướng tới “Nền kinh tế xanh”.- Việt nam đang có những thay đổi cơ bản sau 24 năm “Đổi mới và mở cửa”, hoàn thiện thể chế kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hướng tới một sự phát triển vì con người, những yếu tố đó đượcthực hiện trong một môi trường chính trị ổn định là cơ hội tốt cho triển khai thực hiện “Nền kinh tế xanh”.- Tiếp tục triển khai, thực hiện chiến lược phát triển Kinh tế-Xã hội giai đoạn 2011-2015 . Hội nghị lầnthứ 3 BCHTW Đảng Cộng Sản Việt nam đã khẳng định: đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinhtế theo hướng nâng cao chất lượng, đảm bảo phúc lợi và an sinh xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường.
  8. 8. Như vậy Việt nam sẽ đẩy mạnh “Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với mô hình tăng trưởng” trong thời gian sắptới. Đây là cơ hội để Việt Nam hướng tới “Nền Kinh tế xanh” và “Tăng trưởng xanh”.- Kinh tế Việt nam liên tục tăng trưởng trong những năm vừa qua tạo ra nội lực bên trong cho một xu thếphát triển mới. Những vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường và suy giảm tài nguyên trong thời gian pháttriển vừa qua đối với đất nước. Hướng tới một nền kinh tế xanh sẽ được sự đồng thuận cao của xã hội.Sau một thời gian phát triển từ khi đổi mới và mở cửa, người dân đã nhận thức được sự trả giá của môhình phát triển của nền “kinh tế nâu”.- Với lợi thế nằm trong khu vực nhiệt đới, gió mùa Đông Nam Á, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào,năng lượng gió phong phú, sinh vật tăng trưởng nhanh là cơ hội cho Việt nam tham gia vào các chươngtrình mục tiêu thiên niên kỷ để hướng tới “Nền kinh tế xanh”. Thách thức.- Trước hết, về nhận thức, hiểu thế nào là một nền “kinh tế xanh” hiện nay ở Việt nam vẫn còn hết sứcmới mẻ, đòi hỏi phải có những nghiên cứu và phổ biến rộng rãi kiến thức trong tầng lớp lãnh đạo, các nhàhoạch định chính sách, các doanh nghiệp và người dân. Nếu không nhận thức đầy đủ, tính đồng thuậntrong xã hội sẽ không đạt được, do vậy sẽ khó thực hiện.- Thứ hai, về cách thức tiến hành, so với nền kinh tế truyền thống-“Nền kinh tế nâu”, xây dựng mô hìnhmới-“Nền kinh tế xanh”, thay đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế có sự khác biệt như thế nàovà bắt đầu từ đâu trong bối cảnh phát triển kinh tế Việt nam hiện nay.- Thứ ba, nền kinh tế xanh gắn với sử dụng năng lượng tái tạo, cac bon thấp, tăng trưởng xanh, đầu tưkhôi phục hệ sinh thái, giải quyết sinh kế gắn với phục hồi môi trường…. Thực tế công nghệ sản xuất ởViệt nam hiện nay so với thế giới phần lớn là công nghệ cũ, tiêu hao năng lượng lớn, việc thay đổi côngnghệ mới phù hợp với nền kinh tế xanh là thách thức không nhỏ nếu không có trợ giúp của các nước cócông nghệ cao trên thế giới. Nhiều vùng nông thôn và khu vực miền núi, sinh kế người dân còn gặp nhiềukhó khăn.- Thứ tư, về huy động nguồn vốn cho thực hiện mục tiêu “Xây dựng nền kinh xanh”, mặc dù Việt nam đãthoát khỏi ngưỡng của nước nghèo nhưng tích luỹ quốc gia so với các nước đã phát triển còn quá thấp,điều này ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình triển khai hướng tơi “Nền kinh tế xanh”.- Thứ năm, Cơ chế chính sách hướng tới thực hiện “Nền kinh tế xanh” ở Việt nam hiện nay gần như chưacó, trong khi trên thế giới cũng mới đề xuất hướng tiếp cận. Việc rà soát lại cơ chế chính sách liên quanvà sửa đổi bổ sung cho phù hợp với mô hình phát triển mới theo hướng cơ cấu lại ngành kinh tế và hướngtới nền “kinh tế xanh” là thách thức không nhỏ. Thành tựu - Tăng trưởng xanh thúc đẩy tạo việc làm và thu nhập cho người dân thông qua đầu tư của Nhà nước và tư nhân - Thúc đẩy phát triển các ngành nghề thân thiện với môi trường và - các dịch vụ sinh thái . - Góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống con người và công bằng xã hội, - Giảm đáng kể những rủi ro về môi trường và những tác động tiêu cực về sinh thái do hoạt động của con người. - Nâng cao hiệu quả, tính cạnh tranh của nền kinh tế, giảm phát thải khí nhà kính và ứng phó có hiệu quả với những tác động của biến đổi khí hậu. Định hướng thực hiện nền kinh tế xanh ở Việt nam.
  9. 9. - Về cơ chế chính sách, trên cơ sở cương lĩnh định hướng Chiến lược phát triển kinh tế-xã Việt nam giaiđoạn 2011-2015 và tầm nhìn 2020, Việt nam cơ bản trở thành nước công nghiệp. Cơ chế chính sách cầntập trung vào tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới mô hình tăng trưởng, trọng tâm là cơ cấu lại ngành nghề,ưu tiên phát triển các ngành có công nghệ cao, công nghệ thân thiện môi trường; Sử dụng tiết kiệm nănglượng và tài nguyên; Không gây ô nhiễm môi trường; Phục hồi tài nguyên và hệ sinh thái.- Về nhận thức, tập trung tuyên truyền, giáo dục định hướng thay đổi nhận thức trước đây của xã hội từnền “Kinh tế nâu” sang nền “Kinh tế xanh” để tạo ra một sự đồng thuận cao trong xã hội từ lãnh đạo đếnngười dân và doanh nghiệp, từ đó thay đổi quan niệm và nhận thức về một “Nền kinh tế xanh”. Trong hệthống giáo dục chuyên nghiệp, đổi mới giáo trình, bài giảng theo hướng tiếp cận phát triển “Nền kinh tếxanh”. Nâng cấp nội dung “Kinh tế môi trường” và “Kinh tế tài nguyên thiên nhiên” truyền thống theohướng giảng dạy “Kinh tế xanh” .- Đầu tư cho phát triển khoa học công nghệ trong nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các lĩnh vực ngành nghềtrong nội hàm của “Nền kinh tế xanh” như sử dụng năng lượng tái tạo, công nghệ sản xuất tiết kiệm tàinguyên, tiêu hao ít năng lượng, công nghệ giảm thiểu phát thải khí nhà kính; hạn chế tối đa gây ô nhiễmmôi trường; Phục hồi hệ sinh thái tự nhiên.- Đổi mới quy hoạch sử dụng đất cho phát triển đô thị, phát triển giao thông, khu công nghiệp, khu chếxuất, các công trình phúc lợi xã hội theo hướng dành quỹ đất đủ cho phát triển cây xanh, hồ nước và cáccông trình hạ tầng kỹ thuật môi trường theo quy định tiêu chuẩn quốc tế.- Cải cách lại hệ thống thuế tài nguyên và xem xét lại thuế môi trường hướng tới phát triển nền kinh tếxanh được điều chỉnh thông qua công cụ tài chính và thuế khóa nhằm khuyến khích tiết kiệm và sử dụnghiệu quả tài nguyên, nhất là tài nguyên quý hiếm, bảo vệ môi trường.- Rà soát, xem xét lại cơ chế chính sách đã có liên quan đến dịch vụ hệ sinh thái và đầu tư cho phát triểnrừng thời gian vừa qua, gắn phát triển rừng với xóa đói giảm nghèo trên cơ sở phát huy hiệu quả thể chế“Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, những ưu thế của công cụ kinh tế liên quan đến chi trả dịch vụmôi trường rừng, bổ sung và hoàn thiện công cụ này triển khai trong cả nước.- Dựa vào tiêu chí quốc tế như đã dự tính của UNEP, đầu tư công toàn cấu 2% GDP cho phát triển kinh tếxanh, tổng kết thời gian vừa qua mức độ đầu tư cho môi trường ở Việt nam còn thiếu hụt bao nhiêu đểtiếp tục bổ sung và hoàn thiện phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.- Tích cực hợp tác quốc tế trong nỗ lực xây dựng “Nền kinh tế xanh” ở Việt nam, huy động các nguồn lựchỗ trợ của quốc tế, nhất là nguồn vốn đầu tư 2% GDP toàn cầu

×