VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG

7,675 views

Published on

email: luanvan84@gmail.com website: http://luanvan.forumvi.com
Đề tài: VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN

Published in: Education
2 Comments
2 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và CAO HỌC (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ. DỊCH VỤ LÀM SLIDE: 10.000VNĐ/1SLIDE
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • NHẬN LÀM SLIDE GIÁ RẺ CHỈ VỚI 10.000Đ/1SLIDE. DỊCH VỤ NHANH CHÓNG HIỆU QUẢ LIÊN HỆ: ĐT (0985.916872) MAIL: yuht84@gmail.com
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
7,675
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
10
Actions
Shares
0
Downloads
1
Comments
2
Likes
2
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƯƠNG

  1. 1. 1 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ---------------------------------------------------- Vƣơng Thị Vân VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Thái nguyên, năm 2009Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  2. 2. 2 ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ------------------------------------------ VƢƠNG THỊ VÂN VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ LƢƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 60- 31- 10 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: T.S. ĐỖ ANH TÀI THÁI NGUYÊN - 2009Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  3. 3. 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõnguồn gốc. Tác giả luận văn Vƣơng Thị VânSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  4. 4. 4 LỜI CẢM ƠN Sau hơn 3 năm phấn đấu vƣợt qua nhiều khó khăn để học tập với sựủng hộ động viên của gia đình, bạn bè và đặc biệt là sự quan tâm tạo điều kiệnthuận lợi của đồng chí, đồng nghiệp ở cơ quan, của nhà trƣờng và sự dạy bảotận tình của thầy cô, tôi đã hoàn thành chƣơng trình cao học kinh tế nôngnghiệp và luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Khoa Sauđại học, ban chủ nhiệm lớp cùng các thầy cô Trƣờng đại học kinh tế và quảntrị kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hƣớng dẫn, tạo điều kiện vềmọi mặt để tôi thực hiện đề tài này. Đặc biệt tôi xin cảm ơn TS. Đỗ Anh Tài,đã hƣớng dẫn chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoànthành luận văn tốt nghiệp.Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban, ngành,đoàn thể gồm: Hội LHPN tỉnh Thái Nguyên, Huyện uỷ Phú Lƣơng, UBNDhuyện Phú Lƣơng, Ban Dân vận Huyện uỷ Phú Lƣơng, Phòng LĐ-XH huyệnPhú Lƣơng, Phòng Thống kê huyện Phú Lƣơng, Các tổ chức hội đoàn thểhuyện Phú Lƣơng, Ngân hàng NN&PTNT huyện Phú Lƣơng, UBND và hộiphụ nữ các xã Cổ Lũng, Ôn Lƣơng, Yên Trạch. Tuy đã có nhiều cố gắng nhƣng luận văn này không trách khỏi nhữngthiếu sót, kính mong quý thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp chỉ bảo, giúpđỡ để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn. Thái Nguyên, ngày 02 tháng 10 năm 2009 Tác giả luận văn Vƣơng Thị VânSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  5. 5. 5 MỤC LỤC TrangLời cam đoanLời cảm ơnMục lụcDanh mục các bảngDanh mục các biểu đồ, đồ thịPhần Mở đầu 11. Tính cấp thiết của đề tài 12. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3 2.1. Mục tiêu chung 3 2.2. Mục đích cụ thể 33. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu 3 3.2. Phạm vi nghiên cứu 34. Ý nghĩa khoa học và thực tiến của đề tài 45. Bố cục luận văn 4Chƣơng 1. Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu 51.1. Cơ sở khoa học 5 1.1.1. Giới tính và Giới 5 1.1.2. Phát triển kinh tế nông thôn 8 1.1.3. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 10 1.1.4. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 14 1.1.5. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 211.2. Phƣơng pháp nghiên cứu 28 1.2.1. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  6. 6. 6 1.2.2. Phƣơng pháp chọn điểm nghiên cứu 29 1.2.3. Phƣơng pháp thu thập số liệu 30 1.2.4. Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích số liệu 31 1.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 31Chƣơng 2. Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong pháttriển kinh tế huyện Phú Lƣơng 322.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Phú Lƣơng, tỉnh TháiNguyên 32 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 32 2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 372.2. Thực trạng vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tếhuyện Phú Lƣơng 45 2.2.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bànhuyện 45 2.2.2. Thực trạng vai trò phụ nữ trong các hộ nghiên cứu 54 2.2.3. Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai tròphụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế 69Chƣơng 3. Quan điểm, phƣơng hƣớng và những giải pháp nhằmnâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tếhộ huyện Phú Lƣơng 743.1. Quan điểm về việc nâng cao vai trò của phụ nữ 743.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữnông thôn trong phát triển kinh tế 75Phần Kết luận và kiến nghị 82Tài liệu tham khảo 86Phụ lục 90Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  7. 7. 7 DANH MỤC CÁC BẢNG Trang2.1 Diện tích đất phân theo loại đất và theo xã, thị trấn của huyện Phú Lƣơng năm 2008 342.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2006- 2008 362.3 Tình hình dân số huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2006-2008 382.4 Lao động huyện Phú Lƣơng chia theo giới tính và khu vực giai đoạn 2006-2008 402.5 Diện tích, năng suất, sản lƣợng một số cây trồng chính của huyện từ năm 2006-2008 412.6 Nữ trong các nhóm tuổi từ năm 2006-2008 452.7 Phụ nữ trong độ tuổi tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008 462.8 Trình độ của cán bộ hội đoàn thể nhiệm kỳ 2006-2011 482.9 Phụ nữ tham gia cấp uỷ Đảng nhiệm kỳ 2005-2010 512.10 Phân loại hộ khu vực nông thôn huyện Phú Lƣơng theo chuẩn mới và mức sống dân cƣ giai đoạn 2006- 2008 532.11 Phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể tại các xã vùng nghiên cứu 542.12 Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động cộng đồng ở các điểm nghiên cứu 552.13 Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý hộ 562.14 Phân công lao động sản xuất nông nghiệp trong các hộ ở các điểm nghiên cứu năm 2008 582.15 Phân công lao động trong hoạt động khác ở 3 cụm xã vùng nghiên cứu 592.16 Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ ở điểm nghiên cứu 632.17 Tỷ lệ tiếp cận kiến thức của phụ nữ và nam giới ở các điểm nghiên cứu 642.18 Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 652.19 Tình quản lý tài chính của hộ tại các vùng nghiên cứu 662.20 Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới và công cuộc phát triển 72Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  8. 8. 8 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ Trang2.1 Cơ cấu sử dụng đất huyện Phú Lƣơng năm 2008 352.2 Tốc độ tăng dân số huyện Phú Lƣơng theo giới tính giai đoạn 2006- 2008 392.3 Cơ cấu kinh tế huyện Phú Lƣơng năm 2008 432.4 Biến động cơ cấu kinh tế huyện Phú Lƣơng trong giai đoạn 2006-2008 432.5 Cơ cấu phụ nữ tham gia sinh hoạt đoàn thể năm 2008 472.6 Trình độ văn hoá của lao động nữ huyện Phú Lƣơng năm 2008 492.7 Phụ nữ là đại biểu hội đồng nhân dân 2 cấp nhiệm kỳ 2004- 2009 522.8 Tình hình sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ vùng nghiên cứu trong một năm 622.9 Trình độ văn hoá của nam, nữ trong độ tuổi ở vùng nghiên cứu 672.10 Tỷ lệ ngƣời ốm trong các hộ đƣợc chăm sóc, chữa trị tại nhà ở các vùng nghiên cứu 682.11 Tỷ lệ các hộ sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình ở vùng nghiên cứu 69Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  9. 9. 1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀIPhụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những ngƣời lao độngtrong xã hội. Bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu choxã hội, làm phong phú cuộc sống con ngƣời. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò củamình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt độngvật chất, phụ nữ là một lực lƣợng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sốngcon ngƣời. Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất racon ngƣời để duy trì và phát triển xã hội. Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần,phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại. Nền văn hoá dân gian củabất cứ nƣớc nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức củađông đảo phụ nữ [31]. Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nƣớc, họ tham gia vàotất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng vàcàng ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội. Trong suốtchặng đƣờng đấu tranh dựng nƣớc, giữ nƣớc và xây dựng đất nƣớc, lịch sửViệt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ. Trong công cuộcđổi mới đất nƣớc của Đảng, họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thầnyêu nƣớc, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vƣơnlên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọilĩnh vực. Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là ngƣời con dâu, ngƣời vợ, ngƣờimẹ, ngƣời thầy của các con, ngƣời thầy thuốc của gia đình. Đảng và Nhà nƣớc ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữtrong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnhvực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…Ở khu vực nông thôn,cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗiSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  10. 10. 2phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong pháttriển kinh tế xã hội, ổn định an ninh quốc phòng địa phƣơng làm thay đổi diệnmạo khu vực nông thôn Việt Nam. Phú Lƣơng là một huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, với 50,5%dân số là phụ nữ [41]. Lực lƣợng này đã và đang có những đóng góp to lớnvào sự phát triển kinh tế- xã hội của toàn huyện. Tuy nhiên, sự đóng góp củaphụ nữ lại chƣa đƣợc ghi nhận một cách xứng đáng, chƣa tƣơng xứng với vịtrí, vai trò của họ trong nền kinh tế, trong các quan hệ xã hội và trong đờisống gia đình. Đặc biệt trong nền kinh tế thị trƣờng, ngƣời phụ nữ phải "nặnggánh hai vai", vừa phải làm tốt công việc xã hội, vừa đảm nhiệm vai trò làmvợ, làm mẹ trong khi quỹ thời gian của họ cũng chỉ có nhƣ mọi ngƣời, sứckhoẻ lại hạn chế... Để cố gắng làm tốt, họ phải nỗ lực và hy sinh, nhƣngquyền lợi về mọi mặt của họ lại chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Qua quá trình công tác và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến phụnữ, nhiều câu hỏi đƣợc đặt ra cho bản thân, cho các cấp hội phụ nữ và chúngta: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay nhƣ thếnào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiệnnay ra sao? giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng caonăng lực cho phụ nữ? Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thônmiền núi huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên trong việc phát triển kinh tếđƣợc đặt ra nhƣ một yêu cầu cấp bách, từ đó đề xuất một số giải pháp có tínhkhả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lƣợng này, qua đó thúc đẩy sựphát triển nông nghiệp nông thôn theo xu hƣớng đẩy mạnh công nghiệp hoá,hiện đại hoá nhƣ mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra. Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về nhữngtiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quátrình đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  11. 11. 3“Vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bànhuyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên”. 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2.1. Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng hoạt động của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộnông thôn, đƣa ra giải pháp và kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huytiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sốnggia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội huyện Phú Lƣơng. 2.2. Mục đích cụ thể - Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trongphát triển kinh tế hộ nông thôn miền núi. - Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triểnkinh tế hộ nông thôn tại huyện Phú Lƣơng. - Tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng đóng góp của phụ nữtrong phát triển kinh tế hộ nông thôn. Qua đó, đề xuất các giải pháp chủ yếunhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn miền núitrên địa bàn Phú Lƣơng. 3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là phụ nữ trong các hộ gia đình trên địa bànhuyện Phú Lƣơng tỉnh Thái Nguyên. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong pháttriển kinh tế nông thôn. - Về không gian nghiên cứu: đề tài đƣợc thực hiện tại một số cơ quan,tổ chức kinh tế chính trị xã hội, một số nhóm hộ sản xuất nông, lâm nghiệp,dịch vụ trong nông nghiệp trên địa bàn huyện Phú Lƣơng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  12. 12. 4 - Về thời gian nghiên cứu: tổng quan về vai trò của phụ nữ đƣợc phântích thông qua số liệu của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị kinh tếxã hội trong thời gian gần đây, chủ yếu từ năm 2006 đến năm 2008. Các sốliệu điều tra thực hiện trong năm 2008. 4. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực,là một kênh thông tin để Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện tham mƣu giúpBan chấp hành Đảng bộ huyện Phú Lƣơng xây dựng giải pháp thực hiệnchƣơng trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện nhằm năng caovai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế, góp phần thực hiện hiệu quả Đề ánphát triển kinh tế - xã hội của huyện Phú Lƣơng giai đoạn 2010 - 2015. 5. BỐ CỤC LUẬN VĂN Luận văn gồm 2 phần và 3 chƣơng Phần mở đầu Chương 1: Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nôngthôn huyện Phú Lƣơng. Chương 3: Quan điểm, định hƣớng và những giải pháp nhằm nâng caovai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn huyện Phú Lƣơng. Phần kết luậnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  13. 13. 5 CHƢƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC 1.1.1. Giới tính và Giới 1.1.1.1. Khái niệm Giới tính và Giới *Giới tính: chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mangtính toàn cầu và không thay đổi [44]. Các đặc trƣng của giới tính bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tựnhiên, di truyền. Ví dụ, ngƣời nào có cặp nhiệm sắc thể giới tính XX thì thuộcvề nữ giới, ngƣời nào có cặp nhiễm sắc thể giới tính XY thì thuộc về namgiới. Nữ giới vốn có chức năng sinh lý học nhƣ tạo ra trứng, mang thai, sinhcon và cho con bú bằng bầu sữa mẹ. Nam giới có chức năng tạo ra tinh trùng.Về mặt sinh lý học, nữ giới khác với nam giới. *Giới: chỉ sự khác biệt về xã hội và quan hệ (về quyền lực) giữa trẻ emtrai và trẻ em gái, giữa phụ nữ và nam giới, đƣợc hình thành và khác nhaungay trong một nền văn hoá, giữa các nền văn hoá và thay đổi theo thời gian.Sự khác biệt này đƣợc nhận thấy một cách rõ ràng trong vai trò, trách nhiệm,nhu cầu, khó khăn thuận lợi của các giới tính [44]. Khái niệm về "Giới" đƣợc xuất hiện ban đầu là các nƣớc nói tiếng Anh,vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX... Ở Việt Nam, khái niệm này mớixuất hiện vào khoảng thập kỷ 80. “Giới” là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đếnvai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. "Giới"đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia: nguồn lực và lợi íchgiữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  14. 14. 6 "Giới" là yếu tố luôn biến đổi cũng nhƣ tƣơng quan về địa vị trong xãhội của nữ giới và nam giới, không phải là hiện tƣợng bất biến mà liên tụcthay đổi. Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể. "Giới"là sản phẩm của xã hội, có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trongquan hệ nam và nữ. Đây là cơ sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảmbảo công bằng trong xã hội. 1.1.1.2. Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới: * Đặc điểm về giới: - Không tự nhiên mà có - Học đƣợc từ gia đình và xã hội - Đa dạng (khác nhau giữa các vùng miền) - Có thể thay đổi đƣợc * Nguồn gốc giới: - Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ đƣợc đối xử tuỳ theo nólà trai hay gái. Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà,bố mẹ, anh chị. Đứa trẻ đƣợc dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theogiới tính của mình. - Trong nhà trƣờng, các thầy cô giáo cũng định hƣớng theo sự khác biệtvề giới cho học sinh. Học sinh nam đƣợc hƣớng theo các ngành kỹ thuật, điệntử, các ngành cần có thể lực tốt. Học sinh nữ đƣợc hƣớng theo các ngành nhƣmay, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ. * Sự khác biệt về giới: Phụ nữ đƣợc xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ làthành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình. Thiên chức của phụnữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới vàcũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  15. 15. 7 Nam giới đƣợc coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình. Họ cứng rắn hơnvề tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc. Đặc trƣng này chophép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràngbuộc bởi con cái và gia đình. Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cáchkhác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội. Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhauđể tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độkhác nhau để tham gia vào các chƣơng trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắmbắt các thông tin xã hội. Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện vàcơ hội đƣợc học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình,ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tƣ tƣởng,phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau. 1.1.1.3. Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới * Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất pháttừ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới. Nếu những nhucầu này đƣợc đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình [1]. Nhu cầu giới thực tế là những nhu cầu đƣợc hình thành từ những điềukiện cụ thể mà phụ nữ trải qua. Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trongphân công lao động theo giới, cùng với lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tạicủa con ngƣời. Khác với nhu cầu chiến lƣợc, chúng đƣợc chính phụ nữ đƣa ratừ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài. Vì vậy nhu cầugiới thực tế thƣờng là sự hƣởng ứng đối với sự cần thiết đƣợc nhận thức ngaydo phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể. *Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu củaphụ nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ. Nhữnglợi ích này khi đƣợc đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theohƣớng bình đẳng [1].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  16. 16. 8 * Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới đƣợc coi trọng nhƣ nhau, cùngđƣợc công nhận và có vị thế bình đẳng [1]. Nam giới và phụ nữ đƣợc bình đẳng về: - Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng. - Các cơ hội để tham gia đóng góp, hƣởng lợi trong quá trình phát triển. - Quyền tự do và chất lƣợng cuộc sống. 1.1.1.4. Vai trò của giới - Vai trò sản xuất: đƣợc thể hiện trong lao động sản xuất dƣới mọi hìnhthức để tạo ra của cải vật chất, tinh thần cho gia đình và xã hội. - Vai trò tái sản xuất sức lao động: bao gồm các hoạt động nhằm duy trìnòi giống, tái tạo sức lao động. Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuấtsinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lƣợng lao động chohiện tại và tƣơng lai nhƣ: nuôi dạy con cái, nuôi dƣỡng các thành viên tronggia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu nhƣ của ngƣời phụ nữ. - Vai trò cộng đồng: thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ởmức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiệncác nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng. 1.1.2. Phát triển kinh tế nông thôn 1.1.2.1. Khái niệm về phát triển và phát triển kinh tế *Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sựtăng thêm về quy mô sản lƣợng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằmnâng cao chất lƣợng cuộc sống [19]. Phát triển kinh tế: có thể hiểu là quá trình lớn lên về mọi mặt của nềnkinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm vềquy mô sản lƣợng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội [12].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  17. 17. 9 1.1.2.2.Khái niệm về nông thôn: Nông thôn là phần lãnh thổ của mộtnhà nƣớc hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trƣờngtự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị vàdân cƣ chủ yếu làm nông nghiệp [29]. 1.1.2.4.Khái niệm, đặc điểm hộ gia đình, kinh tế hộ nông dân, kinh tếnông thôn * Hộ gia đình: có ba tiêu thức chính thƣờng đƣợc nói đến khi địnhnghĩa khái niệm hộ gia đình: - Có quan hệ huyết thống và hôn nhân - Cùng cƣ trú - Có cơ sở kinh tế chung [55]. Theo một số từ điển chuyên ngành kinh tế, từ điển ngôn ngữ thì hộđƣợc hiểu là: tất cả những ngƣời cùng sống trong một mái nhà, bao gồmnhững ngƣời có cùng huyết tộc và những ngƣời làm công [55]. Về phƣơng diện thống kê, các nhà nghiên cứu Liên hợp quốc cho rằnghộ là những ngƣời cùng sống chung dƣới một mái nhà, cùng ăn chung và cóchung một ngân quỹ [55]. Đại đa số các hộ ở Việt Nam đều gồm những ngƣời có quan hệ hônnhân, quan hệ huyết thống. Vì vậy khái niệm hộ thƣờng đƣợc hiểu đồng nghĩavới gia đình, nhiều khi đƣợc gộp thành khái niệm chung là hộ gia đình. * Kinh tế hộ nông dân: Theo Frank Ellis (1988) thì kinh tế hộ nông dân là: Các nông hộ thuhoạch các phƣơng tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trongsản xuất nông trại, nằm trong hệ thống kinh tế rộng hơn, nhƣng về cơ bảnđƣợc đặc trƣng bằng việc tham gia một phần trong thị trƣờng, hoạt động vớimột trình độ không hoàn chỉnh cao [55].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  18. 18. 10 Kinh tế hộ nông dân đƣợc phân biệt với các hình thức kinh tế kháctrong nền kinh tế thị trƣờng bởi các đặc điểm sau: - Đất đai: nghiên cứu hộ nông dân là nghiên cứu những ngƣời sản xuấtcó tƣ liệu sản xuất chủ yếu là đất đai. - Lao động: lao động sản xuất chủ yếu là do các thành viên trong hộ tựđảm nhận. Sức lao động của các thành viên trong hộ không đƣợc xem là laođộng dƣới hình thái hàng hoá, họ không có khái niệm tiền công, tiền lƣơng. - Tiền vốn: chủ yếu do họ tự tạo ra từ sức lao động của họ. Mục đích chủ yếu của sản xuất trong hộ nông dân là đáp ứng cho nhucầu tiêu dùng trực tiếp của hộ, sau đó phần dƣ thừa mới bán ra thị trƣờng. 1.1.3. Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 1.1.3.1. Vị trí của phụ nữ trong gia đình và xã hội Trên toàn thế giới, phụ nữ đóng vai trò then chốt trong gia đình về khảnăng sản xuất và tái sản xuất. Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; sốgiờ lao động của họ chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2trong tổng sản lƣợng nông nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việckhác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các ngành côngnghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng đƣợc nâng cao [56]. Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trƣớc cho biết: Phụ nữlà ngƣời tạo ra phần lớn lƣơng thực tiêu dùng cho gia đình. 1/4 số hộ gia đìnhtrên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vàothu nhập của lao động nữ [5]. Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rấtnhiều nƣớc trên thế giới. Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ nữ bị hạn chếvề mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc tồi tàn, địa vị trong xã hộithấp. Trong số hơn 1,3 tỷ ngƣời trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thìcó đến 70% là nữ. Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng vềmang thai, sinh đẻ…Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  19. 19. 11 Ở Việt Nam ngày nay, phụ nữ chiếm trên 50% dân số và gần 50% lựclƣợng lao động xã hội, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết cáclĩnh vực của đời sống xã hội và giữ những chức vụ quan trọng trong bộ máyNhà nƣớc. Hiện có tới 27,3% đại biểu nữ trong Quốc hội (cao nhất ở Châu Ávà là một trong những nƣớc có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới);tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sỹ 33,95%; tiến sỹ 25,69% [58]. Tuy nhiên, so với con số trung bình theo quy định của Quốc tế tỷ lệ laođộng nữ là đại biểu Quốc hội của Việt Nam chƣa đạt và có xu hƣớng giảmdần. Theo số liệu của Văn phòng Quốc hội thì tỷ lệ nữ Việt Nam tham gia vàoQuốc hội giai đoạn 1975 – 1976 là 32%; 1976 – 1981 là 27%; 1992 – 1997chỉ còn 18,5%; 2002 - 2007 tăng lên là 27,31% [58]. Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình vàxã hội. Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ đƣợcthực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định vàphát triển lâu dài của đất nƣớc. Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trongcác lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội. Điều đó cho thấy phụ nữngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội. 1.1.3.2. Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn Phụ nữ luôn là ngƣời đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năngsản xuất và tái sản xuất. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hộinguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển. Vai trò của phụ nữtrong sự phát triển kinh tế nông thôn thể hiện nhƣ sau: - Trong lao động sản xuất: phụ nữ là ngƣời làm ra phần lớn lƣơng thực,thực phẩm tiêu dùng cho gia đình. Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếudựa vào kết quả làm việc của phụ nữ. - Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho giađình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng ngƣời vợ, ngƣời mẹ. Họ phải làm hầuSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  20. 20. 12hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọngđối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội. - Trong sinh hoạt cộng đồng: phụ nữ tham gia hầu hết các hoạt độngcộng đồng tại xóm, thôn bản. Nhƣ vậy, dù đƣợc thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống vànhững gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình,trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bƣớc tiến của nhân loại.Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần đƣợc chia sẻ,thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần cónhững trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình. 1.1.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong pháttriển kinh tế nông thôn * Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một sốnước Á Đông: phụ nữ trƣớc hết phải lo việc gia đình, con cái. Dù làm bất kỳcông việc gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệmngự trị ở nƣớc ta từ nhiều năm nay. Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọngnam khinh nữ đã kìm hãm tài năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiếncủa họ cho xã hội và cho gia đình. Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dƣỡng connhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai ngƣời phụ nữ. Đây là trở ngạilớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt độngchính trị, xã hội. Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năngđộng sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội.Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vàoquá trình phát triển kinh tế [9]. * Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữcòn nhiều hạn chế: Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phƣơng tiện thông tinnghe nhìn và sách báo đến với ngƣời dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  21. 21. 13lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọtcòn gặp nhiều khó khăn. Ngoài thời gian lao động sản xuất, ngƣời phụ nữdƣờng nhƣ ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hƣởng thụ văn hoá tinhthần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớnthời gian còn lại cho công việc gia đình. Do vậy, phụ nữ bị hạn chế về kỹthuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội. Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trìnhđộ chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% [43]. Theothông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệungƣời bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ emkhông đƣợc đi học thì có tới 70% là trẻ em gái. Còn ở Việt Nam, theo thốngkê cho thấy tỷ lệ lao động nữ không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90%tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nƣớc; chỉ có 0,63 % công nhânkỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46%. Tỷ lệ laođộng nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới) [22]. Điều đó cho thấy trình độ học vấn vàchuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới. Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặpkhông ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìmkiếm thị trƣờng, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật vào sản xuất và đời sống. Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất laođộng của họ thấp. *Yếu tố về sức khoẻ: với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừaphải thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con búbằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sứckhoẻ của họ bị giảm sút. Điều này không những ảnh hƣởng đến khả năng laođộng mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng nhƣ trong việc pháttriển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  22. 22. 14 * Khả năng tiếp nhận thông tin: do phụ nữ phải đảm nhận một khốilƣợng công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt độngcộng đồng để nắm thông tin rất hiếm. Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánhngƣời dân còn chƣa hề đƣợc tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tảithông tin khác. * Các yếu tố chủ quan: một yếu tố khác không thể không nhắc đến đólà nguyên nhân chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệchlạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó.Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…làviệc của phụ nữ. Họ tỏ ra không hài lòng về ngƣời đàn ông thạo việc bếp núc,nội trợ. Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộcthêm trách nhiệm cho mình. Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuấtcàng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần. Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trongsự phát triển của nhân loại. Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộcủa họ trong cuộc sống. Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác độngkhông tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩnquẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng. Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bìnhđẳng đối với nữ trên toàn thế giới. Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức laođộng xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại. 1.1.4. Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam 1.1.4.1. Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ ở một số nước trênthế giới Tại châu Phi, Châu Á và Thái Bình Dƣơng, trung bình một tuần phụnữ làm việc nhiều hơn nam giới 12-13 giờ và có ít thời gian để nghỉ ngơi hơn.Hầu hết mọi nơi trên thế giới, phụ nữ đƣợc trả công thấp hơn nam giới chocùng một loại công việc. Thu nhập của phụ nữ bằng khoảng 50%-90% thunhập của nam giới [7].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  23. 23. 15 * Phụ nữ chiếm một tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động: Tỷ lệ nữtham gia hoạt động kinh tế theo các nhóm tuổi rất cao. Một số tài liệu thốngkê sau đây sẽ chứng minh cho nhận định đó: - Bangladesh: có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lƣợng lao độngso với 82,5% nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp 2 lần phụ nữthành thị (28,9%). Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lƣợng lao động nhiềunhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là các nhóm tuổi 25-29, 50-54. Đáng chú ý rằng,gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lƣợng lao động,cao gần gấp 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc biệt phụ nữ nôngthôn trên 65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lƣợng lao động [9]. - Trung Quốc: nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực lƣợng lao động caonhất từ 20-29 tuổi, tiếp đó là nhóm 30-39 tuổi, và giảm dần theo các nhómtuổi cao hơn. Giống nhƣ ở Bangladesh, ở nông thôn Trung Quốc phụ nữ ở độtuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lƣợng lao động, con số này cao gấp 2lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi [9]. * Trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp: nhìn chung, trình độ chuyên mônkỹ thuật của lao động nữ nông thôn ở các nƣớc đang phát triển còn rất thấp. Ởcác nƣớc đang phát triển cho đến nay có tới 31,6% lao động nữ không đƣợchọc hành, 5,2% mới chỉ học xong phổ thông và 0,4% mới tốt nghiệp cấp hai.Vì ít có điều kiện học hành nên những ngƣời phụ nữ này không có điều kiệntiếp cận một cách bài bản với các kiến thức về công nghệ trồng trọt và chănnuôi theo phƣơng thức tiên tiến, những kiến thức họ có đƣợc chủ yếu là do tựhọc từ họ hàng, bạn bè hay từ kinh nghiệm của những ngƣời thân của mình.Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm đƣợc truyền đạt theo phƣơng phápnày thƣờng ít khi làm thay đổi đƣợc mô hình, cách thức sản xuất của họ [9]. * Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến: Bất bình đẳng giới tồn tại ởhầu hết các nƣớc đang phát triển. Điều đó trƣớc hết bắt nguồn từ tình trạngSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  24. 24. 16phụ nữ có trình độ học vấn thấp. Một nguyên nhân khác không kém phầnquan trọng là những định kiến xã hội không coi trọng phụ nữ đã đƣợc hìnhthành ở hầu hết các nƣớc đang phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằngcấp cao và kỹ năng tốt thì những công việc họ làm vẫn không đƣợc ghi nhậnmột cách xứng đáng. Đấu tranh để đạt đƣợc sự bình đẳng thực sự giữa nam và nữ trong xãhội ta nói riêng và trên thế giới nói chung là vấn đề lâu dài và còn nhiều khókhăn, thử thách. Đây là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, cái tiến bộ vàlạc hậu. Đất nƣớc ta đã trải qua hàng ngàn năm phong kiến, tƣ tƣởng “Trọngnam khinh nữ” vẫn còn ăn sâu trong tiềm thức của một bộ phận dân chúng,nhất là ở những vùng, miền còn nặng nề về hủ tục lạc hậu… Ngay tại các bộ,ngành và những đơn vị hành chính, kinh tế lớn, vấn đề bình đẳng giới vẫn còngặp những khó khăn nhất định. Việc bồi dƣỡng phát triển cán bộ nữ có lúc, cónơi còn bị hạn chế, một số đơn vị kinh tế thậm chí không muốn nhận lao độngnữ… Nhƣ vậy, mặc dù đã đạt đƣợc những thành quả nhất định nhƣng vấn đềbình đẳng về giới vẫn còn những bất cập mà chúng ta còn phải tiếp tục phấnđấu để đạt đƣợc mục tiêu bình đẳng thật sự. 1.1.4.2. Thực trạng phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữtrong phát triển kinh tế nông thôn * Thực trạng phụ nữ Việt Nam: là một nƣớc có nền công nghiệp chƣaphát triển, Việt Nam hiện có khoảng gần 80% số ngƣời trong độ tuổi lao độngsống ở nông thôn, trong đó phụ nữ chiếm trên 50%, nhƣng họ là nhóm ngƣờiyếu thế và thiệt thòi nhất trong xã hội, không đƣợc nhƣ đội ngũ công nhân, tríthức, phụ nữ nông thôn bị hạn chế bởi trình độ nhận thức. Nhƣng họ lại là lựclƣợng chính tham gia vào hầu hết các khâu trong sản xuất nông nghiệp nhƣ:cấy lúa, nhổ mạ, chăm sóc cây lúa, sát gạo… [8].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  25. 25. 17 Hiện tƣợng tăng tƣơng đối của lực lƣợng lao động nữ nông thôn nhữngnăm gần đây là do một số nguyên nhân chính sau: - Do sự gia tăng tự nhiên số ngƣời trong độ tuổi lao động, hiện nayhàng năm nƣớc ta có khoảng 80 - 90 vạn ngƣời bƣớc vào tuổi lao động, trongđó: lao động nữ chiếm 55% [10]. - Do quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, sắp xếp lại cơ cấu tổchức của các ngành doanh nghiệp, đa số lao động nữ ở các cơ quan, xí nghiệpbị giảm biên chế, không có việc làm phải quay về nông thôn làm việc. - Do sự tan rã của thị trƣờng Đông Âu, Nga vào đầu những năm 90,khiến cho các nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Việt Nam mất nguồntiêu thụ hàng hoá, đa số phụ nữ làm nghề này lại chuyển về làm nghề nôngnghiệp. - Ngoài ra, trong cơ chế thị trƣờng, do sức cạnh tranh yếu nên nhiềuhợp tác xã thủ công nghiệp trên địa bàn nông thôn cũng lâm vào tình trạngphá sản. Kết quả là công nhân chủ yếu là nữ công nhân thuộc các hợp tác xãthủ công này phải trở về nghề nông. *Vai trò và những đóng góp của phụ nữ Việt Nam trong phát triển kinhtế- xã hội: Dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, vấn đề giải phóngphụ nữ luôn gắn với sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổquốc. Quyền bình đẳng của phụ nữ đã đƣợc ghi trong Điều 36 Hiến pháp ViệtNam năm 1946, Hiến pháp năm 1992 (đã đƣợc sửa đổi và bổ sung năm 2002)một lần nữa khẳng định: "Công dân nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặtchính trị, kinh tế, xã hội và gia đình. Nhà nƣớc và xã hội tạo điều kiện để phụnữ nâng cao trình độ mọi mặt, không ngừng phát huy vai trò của mình trongxã hội". Trên tinh thần đó, các tầng lớp phụ nữ đã tích cực học tập, lao độngsáng tạo, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực và giữ vị trí quan trọng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  26. 26. 18 Phụ nữ trong hệ thống dân cử: Đảng và Nhà nƣớc ta luôn quan tâm của phụ nữ trong xã hội và trongquản lý Nhà nƣớc. Chỉ thị 37- CT/TƢ ngày 16/5/1994 khẳng định "nâng caotỷ lệ nữ tham gia quản lý Nhà nƣớc, quản lý kinh tế là một yêu cầu quan trọngđể thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là điều kiện để phát huytài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị của phụ nữ" [2]. Nƣớc ta đƣợc đánh giá làcó số đại biểu nữ cao trong Quốc hội, đứng đầu Châu Á và đứng thứ hai khuvực Châu Á - Thái Bình Dƣơng và xếp thứ 9/135 các nƣớc trên thế giới.Trong chặng đƣờng 60 năm, Quốc hội nƣớc ta đã trải qua 12 nhiệm kỳ, độingũ cán bộ nữ trƣởng thành cả về số lƣợng và chất lƣợng. Tính đến nhiệm kỳ2002- 2007, 1.038 nữ đại biểu đƣợc bầu vào Quốc hội. Khoá I có 3% đại biểunữ thì đến khoá XI đã tăng lên 27,31%, cán bộ nữ giữ chức chủ nhiệm, phóchủ nhiệm các uỷ ban của Quốc hội chiếm 25%. Nhiệm kỳ 1999-2004, số nữđại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh chiếm 22,33%, cấp huyện chiếm 20,12%,cấp xã chiếm 16,56%. Tuy nhiên so với nam giới tỷ lệ này vẫn thấp. [20] Phụ nữ tham gia các cấp uỷ Đảng: Trong các kỳ đại hội Đảng gầnđây, tỷ lệ phụ nữ trong các cấp uỷ tăng lên không đáng kể. So với các cấp, sốlƣợng phụ nữ tham gia Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng chiếm tỷ lệ thấpnhất, khoá VII có 12 đồng chí, khoá VIII tăng lên là 18 đồng chí nhƣng đếnkhoá IX lại còn 12 đồng chí. Phụ nữ tham gia các cấp uỷ địa phƣơng có từ 10-11%, trong đó uỷ viên ban thƣờng vụ trở lên đạt từ 3% đến 8%. Phần lớn cácchị em trong ban thƣờng vụ cấp uỷ thƣờng đƣợc phân công làm công tác kiểmtra và dân vận [20]. Phụ nữ tham gia các cấp chính quyền: Trong những năm gần đây, tỷ lệ lãnh đạo nữ ở cấp Trung ƣơng thấp.Năm 2008, tỷ lệ phó chủ tịch nƣớc là 25%, bộ trƣởng 4,55%, tƣơng đƣơng bộSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  27. 27. 19trƣởng là 11,43%, thứ trƣởng 2,75%, tƣơng đƣơng thứ trƣởng là 9,21%, vụtrƣởng và tƣơng đƣơng là 20,74% [20]. Tỷ lệ nữ là chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp tỉnh/thành nhiệm kỳ 1999-2004 chỉ có 1,64%, đến nhiệm kỳ 2004-2009 tăng lên là 3,12%, nhƣng ở cấphuyện lại có xu hƣớng giảm, từ 5,27% ở cả 2 cấp giảm xuống còn 3,62% [20]. Trong các doanh nghiệp: Trong hơn 300 nghìn doanh nghiệp hoạtđộng theo Luật doanh nghiệp, có 15% phụ nữ đứng đầu hoặc nắm cƣơng vịchủ chốt. Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanh nghiệp ở một số ngành dệt, maymặc, giầy dép, thực phẩm…chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông, vận tải,xây dựng, khai khoáng… chiếm 20%. Trong 900 nghìn hộ kinh doanh giađình có 27% phụ nữ điều hành [20]. Bên cạnh việc tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, phụ nữViệt Nam còn luôn cố gắng làm tròn nhiệm vụ ngƣời vợ, ngƣời mẹ gánh váccông việc nội trợ. Trong hoàn cảnh còn thiếu thốn, phụ nữ nông thôn phải locho gia đình đủ cơm ăn, con cái đƣợc học hành và khoẻ mạnh. Ngƣời phụ nữcòn là ngƣời giữ gìn, truyền thụ những giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc ta từthế hệ này sang thế hệ khác, gia đình Việt Nam đến nay vẫn giữ đƣợc truyềnthống tốt đẹp là do công lao to lớn của ngƣời phụ nữ. * Đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với phụnữ: sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng đến việc giải phóng phụnữ. Bác nhấn mạnh: “Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóngđƣợc một nửa loài ngƣời”. Ngƣời cho rằng, muốn giải phóng phụ nữ trƣớc hếtphải giải phóng họ ra khỏi sự trói buộc của tƣ tƣởng trọng nam khinh nữ, rakhỏi sự bất công trong gia đình mình cũng nhƣ xã hội, đồng thời nâng cao vịthế của họ trong xã hội. Thế nên, Ngƣời đã yêu cầu các ngành, các địaphƣơng phải tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia vào mọi lĩnh vực của cuộcsống, để phụ nữ phát huy quyền và khả năng công dân của mình.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  28. 28. 20 Tiếp tục kế thừa và phát huy tƣ tƣởng của ngƣời, Đảng và Nhà nƣớc tađã ban hành và thực hiện không ít những quyết sách mang tính chiến lƣợc đốivới vấn đề phụ nữ nhƣ: Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 12/4/1993 của BộChính trị “Về đổi mới và tăng cƣờng vận động phụ nữ trong tình hình mới”;Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 16/5/1994 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng khoáVII “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”. Năm 1995,Tại Hội nghị lần thứ IV về phụ nữ của Liên Hợp Quốc tổ chức tại Bắc Kinh(Trung Quốc), các quốc gia đã nhất trí thông qua Cƣơng lĩnh hành động vì sựtiến bộ của phụ nữ đến năm 2000, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ và tăng cƣờngquyền lực cho phụ nữ trên toàn thế giới. Mỗi quốc gia xây dựng chiến lƣợccủa nƣớc mình nhằm thực hiện Cƣơng lĩnh Bắc Kinh. Tại Hội nghị này,Chính phủ Việt Nam đã công bố chiến lƣợc phát triển vì sự tiến bộ của phụnữ Việt Nam đến năm 2000 với 10 mục tiêu. Tiếp đó, Thủ tƣớng Chính phủđã ban hành Quyết định số 19/2002/QĐ-TTg, ngày 21/01/2002 về phê duyệtChiến lƣợc và kế hoạch hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ ViệtNam giai đoạn 2001- 2010 với mục tiêu là: “Nâng cao chất lƣợng đời sốngvật chất và tinh thần của phụ nữ; tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quảcác quyền cơ bản và phát huy vai trò của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đờisống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội”. Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ IX (tháng 4/2001) cũng đã khẳng định: đối với phụ nữ thựchiện tốt pháp luật và chính sách bình đẳng giới, bồi dƣỡng, đào tạo nghềnghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia ngày càngnhiều vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp, các ngành; chăm sóc vàbảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em; tạo điều kiện để phụ nữ làm tốt nhiệm vụcủa ngƣời vợ, ngƣời mẹ, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Cùng phụ nữ cả nƣớc, phụ nữ nông thôn đang đóng góp sức lực, trí tuệcho phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Sự ra đời của Ban vì sự tiến bộSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  29. 29. 21của phụ nữ các cấp đã giúp đỡ, khuyến khích động viên phụ nữ thực tốt vaitrò, vị trí của mình. 1.1.5. Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 1.1.5.1. Về vấn đề sức khoẻ Sức khoẻ là một tài sản hết sức quan trọng đối với con ngƣời, đối vớiphụ nữ thì sức khoẻ lại càng quan trọng, vì nó không chỉ làm tăng khả nănglao động của phụ nữ mà còn cải thiện chất lƣợng cuộc sống của họ và cácthành viên trong gia đình. Những bà mẹ khoẻ mạnh sẽ sinh ra những đứa conkhoẻ mạnh. Vì thế, quan tâm và cải thiện sức khoẻ cho phụ nữ là một phƣơngtiện cho phát triển kinh tế và phát triển con ngƣời. Mặc dù những năm qua,Việt Nam đã đạt đƣợc những kết quả khả quan trong lĩnh vực chăm sóc sứckhoẻ, nhƣ nhận xét của các chuyên gia quốc tế: “Đến năm 1992 Việt Nam đãđứng hàng thứ hai về tỷ lệ ngƣời lớn biết chữ và là một trong những nƣớcđứng đầu về tiếp cận dịch vụ y tế và đứng đầu về tiếp cận an toàn trong cácnƣớc ASEAN” [39]. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề đặt ra về sức khoẻ củaphụ nữ nông thôn. - Về sức khoẻ thể chất: Qua kết quả khảo sát mức sống dân cƣ ViệtNam (2000) cho thấy tình trạng đau ốm theo giới tính nhƣ sau: 68% (nữ) và64% (nam). Tình trạng đau ốm của phụ nữ cao hơn nam giới trong nghiên cứutrên đã phản ánh một thực tế: sức khoẻ phụ nữ là một vấn đề đáng lo ngại đặcbiệt là sức khoẻ của phụ nữ ở các vùng nông thôn. So với phụ nữ ở đô thị, phụnữ ở nông thôn có tỷ lệ đau ốm cao hơn: 69,2% và 63,7%. Điều tra mức sốngdân cƣ lần 2 (2000) cho thấy: tỷ lệ đau ốm của ngƣời dân khá cao, nông thôncao hơn thành thị, phụ nữ đau ốm nhiều hơn nam giới (45% và 38%). Nếu xéttheo nhóm tuổi trong độ tuổi lao động thì ở một vài nhóm tuổi đƣợc xem là“sung sức” hơn cả nhƣ: 25 - 29; 30-34; 40-44 thì tỷ lệ đau ốm của phụ nữ vẫnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  30. 30. 22cao hơn nam giới từ 10% đến 12% [53]. Theo chúng tôi sức khoẻ của phụ nữnông thôn chịu ảnh hƣởng của một số yếu tố sau đây: + Lao động vất vả: phụ nữ đảm nhận khối công việc nhiều hơn namgiới. Thời gian làm việc của phụ nữ dài hơn và căng thẳng hơn. Bên cạnh đó,phụ nữ nông thôn thƣờng lao động vất vả trong thời gian mang thai, trong thờigian này họ vẫn lao động bình thƣờng, thậm trí vẫn lao động nặng trongnhững tháng cần phải chú ý giữ gìn để đảm bảo an toàn cho thai nhi. + Môi trƣờng ô nhiễm: Với phụ nữ, ảnh hƣởng của môi trƣờng ô nhiễmcàng nhiều vì thời gian phụ nữ lao động hàng ngày trên ruộng đồng nhiều hơnnam giới nên dễ bị nhiễm độc bởi các hoá chất. Ở nhiều vùng nông thôn ViệtNam có nhiều hồ, ao tù. Đây là nguồn nƣớc chủ yếu của ngƣời dân ở nôngthôn (tắm, giặt giũ...) đồng thời cũng tạo điều kiện cho muỗi, ký sinh trùngsinh sôi nảy nở [11]. + Lấy chồng sớm, sinh đẻ nhiều: có một điều dễ nhận thấy là ở ViệtNam còn có hiện tƣợng tảo hôn. Những năm gần đây, ở các vùng nông thônhiện tƣợng tảo hôn, lấy chồng sớm có xu hƣớng gia tăng bởi nhiều nguyênnhân văn hoá - xã hội, trong đó có nguyên nhân muốn xây dựng gia đình đểtách hộ nhận ruộng khoán, nếu kết hôn muộn sẽ không có cơ hội nhận ruộngvì chính sách giao ruộng dài hạn (15 đến 20 năm). Lấy chồng sớm dẫn đến hệquả là bên cạnh việc chƣa đƣợc chuẩn bị tốt cả về thể chất, tâm lý để làm dâu,làm vợ, làm mẹ lẫn kiến thức nuôi dạy con... Sự thiếu hiểu biết về dân số - kếhoạch hoá gia đình nên dẫn đến mang thai và sinh nở, nạo hút thai nhiều. + Dinh dƣỡng không đảm bảo: năm 1995, một cuộc khảo sát quốc giavề mức độ thiếu vitamin A và suy dinh dƣỡng do thiếu Pprotein đã phát hiện41% tổng số phụ nữ bị suy dinh dƣỡng: 26% suy dinh dƣỡng hạng 1 (chỉ sốvề khối lƣợng cơ thể (BMI) giữa 17,0 và 18,49), 15% độ II và độ III (BMIdƣới 17,0). Thiếu máu cũng là hiện tƣợng phổ biến, một nghiên cứu quy môSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  31. 31. 23nhỏ ở Việt Nam kiểm tra lƣợng Hemoglobin ở phụ nữ có thai cho thấy: 49%phụ nữ nông thôn có lƣợng Hb dƣới tiêu chuẩn của Tổ chức y tế thế giới,[49]. Suy dinh dƣỡng ở phụ nữ không chỉ làm tăng tỷ lệ đẻ khó, tai biến thaisản có thể dẫn đến tử vong mẹ mà còn ảnh hƣởng đến sức khoẻ con cái. Hiệnnay, 35% trẻ em Việt Nam bị suy dinh dƣỡng. * Sức khoẻ về tinh thần: Đời sống văn hoá nghèo nàn: Sự đơn điệu trong đời sống văn hoá, thiếunơi vui chơi giải trí, hội họp sinh hoạt, thiếu thông tin thời sự chính trị, vănhoá, khoa học kỹ thuật và kinh tế và hiện tƣợng dễ thấy ở nhiều vùng nôngthôn hiện nay. Đời sống văn hoá ở nông thôn nghèo nàn là một lý do thúc đẩythanh niên rời bỏ nông thôn [21]. Do vậy, xoá bỏ sự nghèo nàn trong đời sốngvăn hoá ở nông thôn là một yêu cầu bức thiết của sự công nghiệp hoá nôngthôn, làm điều đó cũng chính là đẩy mạnh việc truyền bá kiến thức khoa học -kỹ thuật, công nghệ mới, đồng thời nâng cao nhận thức của ngƣời dân nôngthôn về pháp luật, lối sống văn hoá. Hơn nữa, còn ngăn chặn và loại bỏ nhữngcác tật xấu nhƣ: mê tín, cờ bạc, số đề, bói toán... 1.1.5.2. Về chuyên môn kỹ thuật Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hƣớng thị trƣờng trong nhữngnăm gần đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nôngthôn thoát ra khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhƣngchƣa thực sự giải phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán củanền kinh tế truyền thống, cùng với những thiếu hụt cả về năng lực và điềukiện của lao động nữ trong sản xuất, kinh doanh. Sự nghiệp công nghiệp hóanông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu ngƣời dân ở nông thôn chỉcó kinh nghiệm đƣợc tích luỹ theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về khoa học,kỹ thuật và công nghệ mới.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  32. 32. 24 Với phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họcó một ƣu điểm nổi bật là sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạtchủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi ngƣời, số thành công do đƣợchọc hành, đào tạo chƣa nhiều. Nhƣợc điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏtrong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để phát triển nông thôn. 1.1.5.4. Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định Cho dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giớinhƣng vẫn phải thừa nhận rằng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại ở ViệtNam - đây là lực cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên. Cũng nhƣ nhiều nƣớc trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của bấtbình đẳng giới là: sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực sảnxuất đất đai, các dịch vụ khuyến nông và tín dụng. Phụ nữ ít đƣợc tham giatrong các lĩnh vực, các cấp, ít có tiếng nói quyết định trong nhiều lĩnh vực củađời sống gia đình, xã hội, ít nhiều còn bị phân biệt trong tiếp cận các phúc lợivề y tế, giáo dục [1]. * Về vấn đề tiếp cận đất đai: Đối với ngƣời dân Việt Nam, nhà cửa, đất đai bao giờ cũng có giá trịlớn và có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, tronggiai đoạn hiện nay, điều này là đặc biệt quan trọng, khi mà gần 80% dân cƣsống ở nông thôn, chủ yếu làm nông nghiệp và đất đai là tƣ liệu sản xuấtchính của họ. Việc xem xét ngƣời đứng tên giấy tờ sở hữu nhà, giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất là cần thiết để có thể phân biệt rõ về ngƣời tiếp cận vàquản lý nguồn lực trong hộ gia đình hay nói cách khác đi là quyền của mỗingƣời nam và nữ trong gia đình. Về mặt pháp luật, ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳngvề tài sản, điều đó thể hiện qua Hiến pháp và những bộ luật liên quan đếnSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  33. 33. 25quyền sở hữu nhƣ Luật đất đai (1993, 2003), Bộ luật dân sự (1995), Luật hônnhân và gia đình (2000). Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có lúc, có nơichƣa đảm bảo theo đúng quy định. Ví dụ: việc thực hiện quyền sử dụng đất đã đƣợc quy định trong Luậtđất đai; Luật này quy định hộ gia đình, cá nhân đƣợc nhà nƣớc giao đất cóquyền chuyển đổi, chuyển nhƣợng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụngđất. Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi đầy đủ tên của cả vợvà chồng. Nhƣng trong thực tế, hầu nhƣ các giấy chứng nhận quyền sử dụngchỉ ghi tên một ngƣời (chủ yếu là ngƣời chồng). Vì thế từ vị trí đồng sử dụngvới ngƣời chồng, ngƣời vợ đã rơi xuống vị trí ngƣời thừa hành, không cóquyền quyết định. Ngƣời chủ hộ (nam giới) có quyền lực pháp lý và kinh tếhơn các thành viên khác trong gia đình. Việc không đứng tên giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất đã hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và một số quyền hạnkhác của ngƣời phụ nữ nhƣ chuyển nhƣợng, thừa kế. Việc không có quyềntƣơng đƣơng với nam giới đối với đất đai - một tài sản chủ chốt, một tƣ liệusản xuất quan trọng của hộ gia đình nông thôn, ảnh hƣởng rất lớn đến địa vịkinh tế và xã hội của phụ nữ so với nam giới. Cho dù pháp luật quy định về quyền thừa kế nhƣ nhau của con trai vàcon gái, nhƣng theo truyền thống thì chủ yếu ngƣời con trai trong gia đình cóquyền thừa kế về nhà cửa, đất đai. Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chỉ cóquyền sử dụng đất trong mối liên hệ với đàn ông. Khi còn nhỏ, ngƣời con gáicó phần đất đƣợc giao trong gia đình bố mẹ đẻ, khi lấy chồng, hầu nhƣ khôngthể mang theo quyền sử dụng đất phần đất, trừ khi họ lấy chồng cùng làng.Sau khi kết hôn, ngƣời vợ về cƣ trú bên bố mẹ chồng và khi ra ở riêng có thểđƣợc gia đình bố mẹ chồng chia sẻ một phần đất canh tác. Song, nếu nhƣ cuộchôn nhân này bị đổ vỡ thì hầu nhƣ khó đảm bảo quyền sử dụng đất đai củangƣời phụ nữ sau khi li dị.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  34. 34. 26 Ngƣời phụ nữ goá cũng không gặp không ít rắc rối về việc đƣợc đứngtên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì nếu trong gia đình có ngƣờicon trai lớn thì nhiều khả năng tên của ngƣời con trai sẽ đƣợc ghi vào giấychứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải tên của ngƣời phụ nữ. * Tiếp cận về vốn: Cung cấp tín dụng không chỉ là một phƣơng tiện quan trọng để xoá đóigiảm nghèo mà là phƣơng tiện để tăng thu nhập và phát triển kinh tế nôngthôn lâu dài. Tuy vậy, phần lớn tín dụng hiện nay là do khu vực phi chínhthức, và phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với các khoản vay chính thức hơn so vớinam giới. 2/3 số ngƣời vay vốn là nam giới. Đối với phụ nữ chỉ có 18% sốvốn vay đƣợc cung cấp thông qua khu vực chính thức, còn lại nguồn tín dụngphổ biến nhất là từ họ hàng và các cá nhân khác. Việc vay vốn từ nguồn cácnhân dẫn tới việc chịu lãi xuất cao và đối với phụ nữ điều này cũng phản ánhhọ thiếu khả năng tiếp cận với những khoản vay thế chấp. Trong khi 41% sốkhoản vay của nam giới dựa trên thế chấp tài sản, thì khoản vay của phụ nữchỉ chiến 27% [38]. * Vấn đề tiếp cận giáo dục, đào tạo: Số liệu Tổng điều tra dân số năm 1999 cho thấy 12% em gái trong độtuổi từ 5 tuổi trở lên chƣa bao giờ đƣợc đi học, trong khi đó tỷ lệ này chỉ 7,5cho bé trai. Trong các gia đình nghèo nhất, các em gái đi học ít hơn các emtrai. Năm 1998, khoảng cách giữa em trai và em gái tiếp cận cấp tiểu học lớnhơn 20% đối với các gia đình nghèo nhất so với toàn bộ dân số [38]. Mặc dù phụ nữ đóng vai trò then chốt trong sản xuất nông lâm nghiệpnhƣng sự tiếp cận của họ với kỹ thuật từ các hoạt động khuyến nông còn thấpvà chƣa đầy đủ. Trong năm 1999 chỉ có hơn 3% trên tổng số phụ nữ nôngthôn trên 13 tuổi có trình độ kỹ thuật chuyên môn [5].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  35. 35. 27 * Về vấn đề việc làm và thu nhập của phụ nữ: Năm 2005, lao động nữ chiếm khoảng 21,14 triệu ngƣời trong tổng sốlao động của nền kinh tế quốc dân (48,6% so với 43,45 triệu lao động), đến8/2007 đã tăng lên khoảng 22,77 triệu ngƣời (49,4% so với tổng số trên 46,11triệu lao động). Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho trên 1,33 triệungƣời, trong đó, lao động nữ là 835 nghìn ngƣời [34]. Theo đánh giá tổngquan, nếu mức độ ảnh hƣởng của suy thoái kinh tế toàn cầu là thấp, khả năngđến cuối năm 2010, lao động nữ sẽ đạt và vƣợt chỉ tiêu 50% lực lƣợng laođộng của cả nƣớc. Tuy nhiên, vấn đề quan tâm hiện nay là chất lƣợng côngviệc của lao động nữ vì chủ yếu các chị em vẫn chiếm số đông ở những lĩnhvực không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp và việc làm bấpbênh, độ rủi ro cao. Trong các ngành nghề đã có sự chuyển dịch lớn về cơ cấulao động, nhƣng vẫn thể hiện sự bất bình đẳng về giới, thể hiện qua tỷ lệ laođộng nữ trong khu vực nông- lâm- ngƣ nghiệp dù có chiều hƣớng giảm nhƣngxét về cơ cấu giới thì vẫn còn rất cao [34]. Nhiều nghiên cứu hiện nay về vai trò của nam và nữ trong kinh tế thịtrƣờng phản ánh thực tế là ở cả 2 khu vực lao động đƣợc trả lƣơng và khôngđƣợc trả lƣơng, phụ nữ đều có thu nhập thấp hơn nam giới. Mặc dù pháp luật quy định “Công việc nhƣ nhau, tiền công ngangnhau” nhƣng trong khu vực có lƣơng do thƣờng làm lao động giản đơn nêntiền công trung bình trả cho lao động nữ chỉ bằng 72% so với nam. Nguyênnhân chủ yếu là do lao động nữ tập trung vào khu vực ngành nghề không đòihỏi tay nghề, kỹ thuật cao, năng suất lao động thấp và bị trả lƣơng thấp. Trừkhu vực dịch vụ và may mặc, còn ở hầu hết các ngành khác lƣơng của phụ nữthấp hơn lƣơng của nam giới do không làm quản lý. Trong công việc tiềncông bình quân của phụ nữ chỉ bằng 62% tiền lƣơng của nam giới [5].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  36. 36. 28 Trong khu vực không trả lƣơng phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới.Việc phân công lao động trong nội bộ gia đình ở nông thôn đang đặt gánhnặng lên vai ngƣời phụ nữ. Ngoài công việc sản xuất trên đồng ruộng phụ nữcòn chăn nuôi và các công việc khác thuộc về gia đình và phục vụ gia đình. *Về vấn đề ra quyết định: tìm hiểu vấn đề ai là ngƣời có tiếng nói quyếtđịnh đối với những vấn đề quan trọng của gia đình nhƣ mua sắm tài sản đắttiền, xây dựng nhà cửa, những khoản chi lớn liên quan đến thành quả laođộng của gia đình ta thấy có nhiều bất cập. Phụ nữ đƣợc tham gia ý kiến vàbàn bạc chung với tƣ cách là ngƣời giữ tiền của gia đình “tay hòm chìa khoá”trong những quyết định quan trọng nhƣng trên thực tế họ không có quyềnquyết định việc chi tiêu. * Vấn đề tham gia các hoạt động cộng đồng: phụ nữ không có thời giangiành cho các hoạt động xã hội, hoặc cho việc học tập kinh nghiệm từ ngƣờikhác. Đặc biệt phụ nữ các dân tộc thiểu số rất ít có cơ hội tham gia các lớphọc văn hoá buổi tối thậm chí các lớp học đó đã có sẵn và thích hợp với họ.Kết quả là phụ nữ không thể tham dự các buổi họp thôn bản cộng với việc ítcó điều kiện tiếp cận các nguồn lực và khả năng tạo thu nhập kém, không cótiếng nói trong các quyết định quan trọng của đời sống gia đình dẫn đến địa vịkinh tế, xã hội của phụ nữ thấp hơn so với nam giới. Đó là những yếu tố hạnchế khả năng tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong cộng đồng vàở cấp quốc gia. 1.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.2.1. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu - Tiếp cận nghiên cứu xã hội học (giới): nhằm nghiên cứu đặc tính củagiới, sự khác nhau và các yếu tố ảnh hƣởng đến giới.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  37. 37. 29 - Tiếp cận nghiên cứu kinh tế hệ thống: nhằm nghiên cứu các hệ thốngsản xuất kinh doanh các loại hình cây trồng, vật nuôi, các yếu tố trong nềnkinh tế của địa phƣơng, của hộ. 1.2.2. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 1.2.2.1. Chọn vùng nghiên cứu Theo vị trí địa lý, địa hình, địa mạo đất đai của huyện Phú Lƣơng, dựatrên vùng sinh thái, đồng thời căn cứ vào sự phát triển kinh tế của các vùng,tôi tiến hành lựa chọn 3 cụm xã: cụm phía Bắc, cụm xã Trung tâm và cụmphía Nam để nghiên cứu. Tiếp đó, căn cứ vào tỷ lệ nữ làm chủ hộ, tỷ lệ nữtham gia quản lý sản xuất của hộ, tham gia lãnh đạo chính quyền đoàn thể củađịa phƣơng, tham gia hoạt động cộng đồng, tôi lựa chọn 3 xã đại diện chotừng cụm xã để điều tra, gồm: - Xã Yên Trạch ( thuộc cụm xã phía Bắc): giáp với huyện Định Hoá vàChợ Mới- Bắc Cạn, ngƣời dân chủ yếu là ngƣời tày, nùng, số hộ nghèo chiếmtrên 65,21% tổng số hộ (năm 2008) [40], kinh tế kém phát triển, sản xuấtnông lâm nghiệp là chủ yếu, những năm gần đây dựa trên thế mạnh của vùngđã phát triển thêm nghề mây tre đan, mành cọ. - Xã Ôn Lƣơng (thuộc cụm xã Trung tâm): là một xã có các đồng bàodân tộc thiểu số sinh sống, chủ yếu là ngƣời tày, chiếm 80% tổng số dân trongvùng [40]. Đây là xã có nhiều con em đƣợc đào tạo tại các trƣờng dạy nghề,cao đẳng, đại học và trên đại học. Nơi đây có nền kinh tế phát triển chủ yếudựa trên sản xuất nông, lâm nghiệp và nghề mây tre đan, mành cọ. - Xã Cổ Lũng (thuộc cụm xã phía Nam): là một trong những xã có quốclộ 3 chạy qua, số hộ nghèo chỉ chiếm 12,31% (năm 2008) [40], kinh tế đangphát triển bên cạnh sản xuất nông nghiệp, trồng chè, các dịch vụ, sản xuấtgạch ngói, nuôi cá giống...đã đem lại thu nhập ổn định cho ngƣời dân trongvùng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  38. 38. 30 1.2.2.2. Chọn hộ nghiên cứu Hộ nghiên cứu phải nằm trong các xã đã đƣợc chọn, đồng thời mangtính đại diện cho các hộ trong vùng. Số mẫu điều tra đƣợc chọn ngẫu nhiêndựa theo danh sách hộ và đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm hộ: nghèo, trungbình và khá. Kết quả chọn mẫu đƣợc trình bày trong bảng sau: Bảng 1: Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra Số hộ Phân theo mức sống Tên xã điều tra Nghèo Trung bình kháXã Ôn Lƣơng 44 14 19 11Xã Yên Trạch 60 28 17 15Xã Cổ Lũng 62 8 39 15 166 50 75 41 1.2.3. Phương pháp thu thập số liệu 1.2.3.1. Số liệu thứ cấp * Nguồn số liệu: Đƣợc thu thập số liệu thống kê, báo cáo sơ tổng kếthàng năm, nhiệm kỳ của: - Một số bộ, ngành có liên quan - Ban vì tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ tỉnh Thái Nguyên - Phòng thống kê, phòng LĐ-TBXH, LĐLĐ huyện Phú Lƣơng - Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ, Hội phụ nữ huyện Phú Lƣơng - Văn phòng UBND-HĐND huyện, Huyện uỷ, Ban Dân vận, Ban Tổchức Huyện uỷ - 10 Đề án phát triển kinh tế xã hội của huyện Phú Lƣơng - Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đếnvấn đề vai trò phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn. * Phương pháp thu thập: thông qua ghi chép, thống kê các dữ liệu cầnthiết cho đề tài với các chỉ tiêu đƣợc chuẩn bị sẵn. 1.2.3.2.- Số liệu sơ cấp * Nguồn số liệu: Thông tin sơ cấp đƣợc thu thập qua phỏng vấn sâumột số tổ chức, cá nhân am hiểu lĩnh vực. Điều tra 166 mẫu hộ nông dân đểSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  39. 39. 31đánh giá trách nhiệm, vị trí, vai trò và năng lực của phụ nữ trong gia đình theonội dung trong mẫu điều tra . * Phương pháp: điều tra hộ bằng phiếu và phỏng vấn trực tiếp. 1.2.4. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 1.2.4.1. Phương pháp phân tổ thống kê Đƣợc sử dụng để phân loại thu nhập và tiêu dùng theo các mức khácnhau: hộ giầu, khá, trung bình, nghèo, theo ngành nghề, theo lứa tuổi, vănhoá, theo phân cấp quản lý cán bộ... 1.2.4.2. Phương pháp thống kê so sánh Có đƣợc các chỉ tiêu nghiên cứu tổng hợp thành các bảng số liệu, tôitiến hành bằng các chỉ số khác nhau để thấy đƣợc có sự khác nhau về thunhập, tiêu dùng, giữa các nhóm hộ. 1.2.4.3. Phương pháp phân tích SWOT Để phân tích các yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò củaphụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn địa bàn nghiên cứu. 1.2.5. Hệ thống các chỉ tiêu phân tích * Dân số hoạt động kinh tế: là lực lƣợng lao động bao gồm toàn bộnhững ngƣời từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làmnhƣng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc * Dân số không hoạt động kinh tế: Là toàn bộ những ngƣời từ 15 tuổitrở lên không tham gia lực lƣợng lao động nhƣng đang đi học, đang làm việcnội trợ gia đình, ốm đau, tàn tật không đủ khả năng lao động, ngƣời già. * Các chỉ tiêu khác: - Thu nhập bình quân/ngƣời/năm - Tỷ lệ tăng dân số - Bình quân khẩu/hộ - Bình quân khẩu nông nghiệp/hộ nông nghiệp - Lao động/tổng dân số - Lao động nông nghiệp/tổng lao động - Lao động nữ/tổng lao động...Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  40. 40. 32 CHƢƠNG II THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ HUYỆN PHÚ LƢƠNG 2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Phú Lƣơng, tỉnh TháiNguyên 2.1.1. Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý Phú Lƣơng là một huyện miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh TháiNguyên, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 21km về phía Bắc, cóQuốc lộ 3 đi qua suốt chiều dài của huyện khoảng 46 km, phía Đông giáphuyện Võ Nhai, phía Tây giáp huyện Đại Từ và huyện Định Hoá, phía Namgiáp thành phố Thái Nguyên và huyện Đồng Hỷ, phía Bắc giáp huyện ChợMới (tỉnh Bắc Cạn). Huyện Phú Lƣơng có 14 xã, 02 thị trấn, gồm có 274xóm, bản. Thị trấn Đu là trung tâm chính trị- kinh tế- văn hoá của huyện. Với vị trí địa lý nhƣ vậy, Phú Lƣơng rất thuận lợi cho quá trình tổ chứcsản xuất theo quy mô vừa và lớn, có điều kiện thông thƣơng, trao đổi hànghoá với các vùng lân cận trong và ngoài tỉnh. Đặc biệt với 12.348,8 ha đấtdùng cho sản xuất nông nghiệp đã tạo ra khối lƣợng nông sản lớn cung cấpcho thị trƣờng thành phố Thái Nguyên. 2.1.1.2. Địa hình địa mạo Phú Lƣơng có địa hình phức tạp, mang đặc điểm điển hình của huyệnmiền núi, bề mặt không bằng phẳng, bao quanh nhiều đồi núi thấp, núi đá vànúi đá vôi, tạo thành các ô trũng bậc thang. Huyện có sông Cầu chảy qua 04xã: Phú Đô, Vô Tranh, Tức Tranh, Sơn Cẩm; sông Đu chảy dọc huyện quacác xã Phú Đô, Yên Lạc, Đu, Phấn Mễ, Giang Tiên; hệ thống suối, ao, hồ,đầm tự nhiên nhiều. Do có địa hình nhƣ trên, huyện Phú Lƣơng đã tạo ra 3tiểu vùng kinh tế sinh thái khá rõ nét: - Vùng phía Bắc và Tây Bắc (vùng cao) gồm 05 xã: Yên Trạch, YênNinh, Yên Đổ, Yên Lạc, Phú Đô, có lợi thế sản xuất lâm nghiệp, chăn nuôiđại gia súc. Hiện nay, Huyện đang đầu tƣ để phát triển cây chuối thƣơngphẩm, mở ra một hƣớng sản xuất triển vọng cho vùng. - Vùng phía Đông (vùng giữa) gồm 06 xã, thị trấn: Ôn Lƣơng, Phủ Lý,Hợp Thành, Động Đạt, Phấn Mễ, Đu có thế mạnh về sản xuất lâm nghiệp, câySố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn
  41. 41. 33chè, cây ăn quả do tính chất đất chủ yếu là đất Feralit màu vàng đỏ, đặc biệtcác vùng ô trũng là thế mạnh để phát triển sản xuất các vùng giống lúa, ngô... - Vùng phía Nam (vùng thấp) gồm 05 xã Sơn Cẩm, Cổ Lũng, TứcTranh, Giang Tiên, Vô Tranh chủ yếu là vùng đất bằng phẳng có lợi thế vềsản xuất cây lƣơng thực, cây chè, cây cảnh, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuấtgạch ngói và phát triển các loại hình dịch vụ. 2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn Khí hậu có đặc điểm nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hƣởng lớn của giómùa Đông Bắc, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21,2 độ đến 21,9 độ C, độẩm không khí trung bình từ 81,4% đến 84,5%; đặc biệt chú ý là có sƣơng mùxuất hiện từ tháng 11 năm trƣớc đến tháng 2 năm sau, và cứ 3 đến 5 năm lạixuất hiện một đợt sƣơng muối. Lƣợng mƣa trung bình hàng năm từ 1.500mm đến 2.100mm, lƣợngmƣa bình quân cao nhất trong ngày từ 90mm đến 120mm, lƣợng bốc hơi từ96 - 98 mm. Hƣớng gió thổi theo 2 chiều: gió Đông Nam và gió Đông Bắc với tốcđộ từ 13-15m/s. Ngày nắng bình quân là từ 22-25 ngày, ngoài ra còn cónhững cơn bão tràn vào từ khoảng tháng 5 đến tháng 9 theo hƣớng Đông hoặchƣớng Nam. Mực nƣớc thuỷ văn: huyện Phú Lƣơng có mật độ sông, suối lớn, trữlƣợng thuỷ văn cao, tập trung ở một số sông lớn: Sông Đu, Sông Cầu và mộtsố phụ lƣu Sông Cầu. Hầu hết các xã đều có các sông suối chảy qua, kháthuận thiện cho công tác thuỷ lợi, vận chuyển lâm sản. 2.1.1.4. Tình hình phân bố, sử dụng đất Phú Lƣơng là huyện có diện tích thấp của tỉnh, theo số liệu thống kêcủa huyện năm 2008, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 36.896,7 ha[40], phân theo địa giới hành chính thì diện tích lớn nhất thuộc về xã Yên Lạclà 4.297,6 ha chiếm 12,78 %, đơn vị có diện tích đất thấp là thị trấn Đu gồm212,9 ha chiếm có 0,57 % tổng diện tích trong toàn huyện. 08 xã, thị trấn códiện tích đất tự nhiên dƣới 2.000 ha và 08 đơn vị có diện tích trên 2.000 ha.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.Lrc-tnu.edu.vn

×