Luan van thac si kinh te (2)

927 views

Published on

Published in: Education
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Nick: dvluanvan ( Hãy add nick yahoo để đươc chúng tôi hỗ trợ ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • co download ve dc ko vay ban oi?
    Co cach nao khong? minh muon tham khao voi! Thanks ban!
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here

Luan van thac si kinh te (2)

  1. 1. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ------------------------------------------------ LÝ VĂN TOÀN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Thái Nguyên, năm 2007Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  2. 2. ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH LÝ VĂN TOÀN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp Mã số: 60 - 31 - 10 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Ngô Xuân Hoàng Thái Nguyên, năm 2007Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  3. 3. i Lời cam đoan Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàntoàn trung thực, và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp đỡcho việc hoàn thành luận văn đều đã được cám ơn. Các thông tin, tài liệu trình bàytrong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Lý Văn ToànSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  4. 4. ii Lời cảm ơn Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sựgiúp đỡ quý báu của tập thể và các cá nhân. Trước hết tôi xin chân thànhcám ơn các giảng viên khoa Kinh tế, khoa Sau Đại học trường Đại họcKinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, đặc biệt là sự hướng dẫncủa Tiến sỹ Ngô Xuân Hoàng trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các đồng chílãnh đạo và chuyên viên sở Tài chính; sở Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn; sở Kế hoạch và Đầu tư; sở Tài nguyên và Môi trường; sở Lao độngthương binh và Xã hội; sở Y tế; sở Giao thông Vận tải; sở Giáo Dục và đàotạo; Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn phòng thống kê các huyện; thành phố;thị xã thuộc tỉnh Thái Nguyên; các quý Ông, Bà lãnh đạo các huyện; thànhphố; thị xã trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện, góp ý và giúp đỡtôi hoàn thành đề tài này. Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo sở Tài chính, lãnh đạo cácphòng, ban trong sở cùng các đồng nghiệp, bạn bè, và gia đình đã cổ vũ động viêntạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện Luận văn này. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Lý Văn ToànSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  5. 5. iii MỤC LỤC TrangTrang phụ bìaLời cam đoan iLời cảm ơn iiMục lục iiiDanh mục các chữ viết tắt vDanh mục các bảng trong Luận văn viMở đầu. 11-Tính cấp thiết của đề tài 12- Mục tiêu nghiên cứu 33-Đối tượng và Phạm vi nghiêncứu. 34-Những đóng góp mới của luậnvăn 45- Bố cục của Luận văn. 4Chương 1:Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu 51.1-Một số vấn đề cơ bản về trang trại 51.1.1-Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại 51.1.2-Những tiêu chí xác định KTTT 71.1.3-Những đặc trưng của KTTT trong nền kinh tế thị trường 91.1.4- Yếu tố ảnh hưởng tới phát triển trang trại và KTTT 161.1.5-Ý nghĩa kinh tế- xã hội- môi trường của Trang trại 211.2-Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước và Việt Nam 261.2.1-Tình hình phát triển KTTT ở một số nước trên thế giới 261.2.2- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam 291.3- phương pháp nghiên cứu 351.3.1-Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 351.3.2. Phương pháp thu thập số liệu 351.3.3-Phương pháp sử lý số liệu 351.3.4-Hệ thống chỉ tiêu đánh giá và phương pháp phân tích 35Chương 2: Thực trạng phát triển KTTT ở tỉnh Thái Nguyên 402.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 402.1.1 Điều kiện tự nhiên. 402.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội. 43Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  6. 6. iv2.1.3- Những thuận lợi và khó khăn của địa bàn nghiên cứu đối 45 với phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên2.2- Khái quát về kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên 462.2.1-Lao động và chuyên môn của chủ trang trại 472.2.2-Tình hình sử dụng đất của trang trại 482.2.3- Vốn và tài sản của trang trại 512.3-Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên 552.3.1-Phân bố trang trại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 552.3.2-Loại hình trang trại tỉnh Thái Nguyên 562.3.3-Đất đai sử dụng trong TT của tỉnh Thái Nguyên 572.3.4- Lao động trong trang trại của tỉnh Thái Nguyên 572.3.5-Kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại 582.3.6-Hiệu quả sản xuất của trang trại 602.3.7-Thực trạng kinh tế trang trại ở ba vùng 622.4-Đánh giá phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KTTT 682.4.1-Phân tích các yếu tố bên trong trang trại 682.4.2-Phân tích các yếu tố bên ngoài của trang trại 73Chương 3: Giải pháp chủ yếu để phát triển KTTT ở tỉnh 78 Thái Nguyên3.1- Phương hướng mục tiêu 783.1.1-Phương hướng phát triển kinh tế trang trại 843.1.2-Mục tiêu phát triển kinh tế trang trại 853.2-Giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thái 87 Nguyên3.2.1-Giải pháp chung: 873.2.2-Giải pháp cụ thể cho từng loại hình trang trại: 903.2.3-Giải pháp cụ thể cho từng vùng 93Kết luận 95Danh mục tài liệu tham khảo 97Phụ lục 100 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮTSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  7. 7. vSTT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ1 KTTT Kinh tế trang trại2 TT Trang trại3 WTO Tổ chức thương mại thế giới4 HTX Hợp tác xã5 KD Kinh doanh6 CNH-HĐH Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá7 KQSXKD Kết quả sản xuất kinh doanh8 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn9 SL Số lượng10 SP Sản phẩm11 SXKD Sản xuất kinh doanh12 SXKDTH Sản xuất kinh doanh tổng hợp13 NN Nông nghiệp14 CC Cơ cấu15 ATK An toàn khu16 BQ Bình quân17 LĐ Lao động18 NLNTS Nông lâm nghiệp thuỷ sản19 Tr. Đ Triệu đồng20 Ng đ Ngìn đồng Việt Nam21 đ Đơn vị tính đồng Việt nam22 HĐND Hội đồng nhân dân23 UBND Uỷ ban nhân dân24 LĐGĐ Lao động gia đình25 DTBQ Diện tích bình quân26 TTNDN Thuế thu nhập doanh nghiệp27 XDCB Xây dựng cơ bản28 VAC Vườn ao chuồng DANH MỤC CÁC BẢNGSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  8. 8. vi TrangBảng 1.1 -Trang trại trên địa bàn toàn quốc 13Bảng 1.2- Tốc độ tăng % của trang trại năm 2001 với 2006 14Bảng 1.3- Diện tích bình quân trên TT của một số nước trên thế giới. 28Bảng 1-4-Cơ cấu sản xuất Của các trang trại vùng Đồng và Tây bắc, tính đến 31 01/7/2006Bảng 1.5- các loại hình trang trại khu vực đồng bằng sông Hồng và sông Cửu 32 Long thời điểm 01/7/2006Bảng 1.6- các loại hình trang trại khu vực Bắc trung bộ và duyên hải nam 33 trung bộ thời điểm 01/7/2006Bảng 1.7 –Các loại hình trang trại Phía Nam và Đông Nam bộ thời điểm 34 01/7/2006Bảng 2.1- Tình hình lao động, và chuyên môn của chủ TT. 47Bảng 2.2- tình hình sử dụng đất bình quân của Trang trại 50Bảng 2.3- tình hình vốn và huy động vốn của trang trại trên địa bàn tỉnh Thái 52 Nguyên năm 2006Bảng 2.4-Tình hình trang bị TS bình quân của trang trại năm 2006 54Bảng 2.5: Phân bố TT trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên năm 2006 55Bảng 2.6- Loại hình trang trại tỉnh Thái Nguyên năm 2006 56Bảng 2.7-Đất đai của trang trại tỉnh Thái Nguyên năm 2006 57Bảng 2.8- Lao động của TT tỉnh Thái Nguyên năm 2006 57Bảng 2.9- Kết quả SXKD của TT tỉnh Thái Nguyên năm 2006 59Bảng 2.10- Một số chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của TT trên địa bàn tỉnh Thái 61 Nguyên năm 2006Bảng 2.11-Thực trạng hiệu quả KTTT ở vùng núi cao tỉnh TN năm 2006 63Bảng 2.12- Thực trạng hiệu quả KTTT ở vùng thấp tỉnh TN năm 2006 65Bảng 2.13- Thực trạng hiệu quả KTTT ở vùng giữa tỉnh TN năm 2006 67 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  9. 9. viiBảng 2.14 - ảnh hưởng của một số nhân tố đến thu nhập của TT năm 2006 69Bảng 2.15- ảnh hưởng của một số nhân tố đến thu nhập của TT năm 2006 71Bảng 2.16- ảnh hưởng của một số nhân tố đến thu nhập của TT năm 2006 73Bảng 3.1- dự kiến phát triển KTTT Tỉnh Thái Nguyên Giai đoạn 2006-2010 86 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  10. 10. 1 MỞ ĐẦU1-Tính cấp thiết của đề tài Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất quan trọng của nền sảnxuất hàng hoá. Trong gần hai thế kỷ qua, nền nông nghiệp thế giới đã có nhiều hìnhthức tổ chức sản xuất khác nhau. Cho đến nay qua thử thách của thực tiễn, một sốnơi các hình thức sản xuất theo mô hình tập thể, và quốc doanh, cũng như xí nghiệptư bản nông nghiệp tập trung quy mô lớn, không tỏ ra hiệu quả. Trong khi đó, hìnhthức tổ chức sản xuất theo mô hình kinh tế trang trại phù hợp với đặc thù của nôngnghiệp nên đạt hiệu quả cao, và ngày càng phát triển ở hầu hết các nước trên thếgiới. So với nền kinh tế tiểu nông thì kinh tế trang trại là một bước phát triển củakinh tế hàng hoá. Việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại là một quá trìnhchuyển đổi từ kinh tế hộ nông dân chủ yếu, mang tính sản xuất tự cấp, tự túc sangsản xuất hàng hoá có quy mô từ nhỏ tới lớn. Trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay ở nước ta,sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, với quy mô ngày cànglớn và mang tính thâm canh, chuyên canh, phân vùng đang là một yêu cầu tấtyếu khách quan. Sự phát triển kinh tế trang trại đã, đang và sẽ đóng góp to lớnkhối lượng nông sản được sản xuất, đáp ứng nhu cầu nông sản trong nước,mặt khác nó còn đóng vai trò cơ bản trong tiến trình hội nhập với kinh tế quốctế, với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu hàng năm đều tăng trưởng tích cựcvà ổn định, thì sự đóng góp của các trang trại là rất lớn, không những đem lạilợi nhuận cho trang trại, mà còn cải thiện đáng kể thu nhập của những ngườilao động trong các trang trại. Việt Nam tham gia tổ chức thương mại lớn nhấthành tinh, đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế nước ta nóichung, ngành nông nghiệp nói riêng. Thách thức lớn nhất mà nông nghiệp củaViệt Nam sẽ phải đối mặt, đó là mở cửa để cho hàng hoá nông sản của cácnước, trong tổ chức WTO được lưu thông mà chúng ta không thể áp đặt mãiSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  11. 11. 2thuế nhập khẩu với thuế suất cao để bảo hộ hàng trong nước. Do đó, hàng hoánông sản của ta sẽ bị cạnh tranh khốc liệt, những sản phẩm sản xuất theo kiểutruyền thống theo mô hình tự cung, tự cấp chắc chắn không thể cạnh tranh nổivới nông sản ngoại nhập, cho nên giải pháp nào cho sản xuất hàng hoá nôngsản Việt Nam? Nghiên cứu để đề ra giải pháp phát triển trang trại trên địa bàn tỉnh TháiNguyên, không những chỉ đơn thuần giải quyết vấn đề thực tiễn trang trạiđóng góp về kinh tế cho địa phương, mà chúng tôi còn nhận thức vai trò tolớn của trang trại trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệpnông thôn theo một tư duy mới, tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp theohướng vận dụng một cách đầy đủ các quy luật của nền kinh tế thị trường, đưasản xuất nông nghiệp của nước ta tiến dần tới trình độ phát triển của các nướctrong khu vực và các nước trong tổ chức Thương mại Thế giới, tạo ra nănglực cạnh tranh trên thị trường Quốc tế. Những lý giải và kiến nghị của luậnvăn không những hệ thống hoá lý luận, mà nó còn tổng kết thực tiễn phát triểntrang trại của nhiều nước, của các vùng trên cả nước, nó là kinh nghiệm quýbáu phục vụ cho các nhà lý luận và thực tiễn trong việc chỉ đạo, định hướngphát triển kinh tế trang trại trong giai đoạn hiện nay. Ở nước ta trong những năm gần đây, kinh tế trang trại phát triển mạnh mẽcả về số lượng và quy mô, nên đã cải thiện về thu nhập cho nhiều hộ nông dân,làm thay đổi bộ mặt của nhiều vùng nông thôn, giải quyết công ăn việc làm cho395.878 người, trong đó lao động của hộ chủ trang trại là 291.611 người, laođộng thuê mướn là 104.267 người, đưa số lao động bình quân thường xuyên củatrang trại lên 3,5 người [23]. Đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và ở tỉnh Thái Nguyên nóiriêng, kinh tế trang trại đã đem lại thu nhập cho nhiều gia đình, góp phần xoáđói, giảm nghèo cho nhiều hộ nông dân. Phát triển kinh tế trang trại là hướng điđúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  12. 12. 3 Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp chủ yếu nhằmphát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”2-Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trang trại,và phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam và một số nước trên thế giới. Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên, tìm ranhững nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phát riển kinh tế trang trại ở địa phương. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại ởtỉnh Thái Nguyên.3-Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu3.1-Đối tƣợng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng về kinh tế trang trại ở tỉnhThái Nguyên, để từ đó đề xuất những giải pháp, nhằm phát triển kinh tếtrang trại ở tỉnh Thái Nguyên.3.2-Phạm vi nghiên cứu3.2.1-Về không gian và địa điểm Đề tài nghiên cứu chủ yếu về trang trại trên địa bàn toàn tỉnh TháiNguyên, đặc biệt chú trọng nghiên cứu theo vùng; cụ thể được chia làm cácvùng khác nhau mang tính chất chung của từng vùng đó như khí hậu, lượngmưa hàng năm; giao thông; mật độ dân số; trình độ dân trí … đó là: -Vùng cao: Có địa hình phức tạp, mật độ dân số thấp giao thông khókhăn như các huyện Võ Nhai; Định Hoá; Phú Lương và huyện Đồng Hỷ. -Vùng giữa: có địa hình tương đối ổn định hơn thuộc vùng có đồi núithấp, dân cư đông đúc, trình độ dân trí cao đó là thành phố Thái Nguyên. -Vùng thấp: Có địa hình tương đối bằng phẳng, giao thông thuận tiện,mật độ dân số đông, trình độ dân trí tương đối cao như: huyện Phú Bình; PhổYên; Thị xã Sông Công.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  13. 13. 43.2.2- Thời gian nghiên cứu Số liệu tập trung thu thập chủ yếu từ năm 2004-2006. Ngoài ra thamkhảo số liệu từ năm 2001-2006.3.2.3-Nội dung nghiên cứu Đề tài chủ yếu nghiên cứu về thực trạng của kinh tế trang trạitại tỉnh Thái Nguyên.4-Những đóng góp mới của luận văn Hệ thống hoá làm rõ một số vấn đề giữa lý luận và thực tiễn về trang trại ởtỉnh Thái Nguyên, để từ đó phân tích đánh giá tình hình hoạt động của trang trại,để đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại.5-Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 phần chính: Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế trang trạivà phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Thái Nguyên.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  14. 14. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU1.1-Một số vấn đề cơ bản về trang trại Trong lịch sử loài người, trải qua các phương thức sản xuất đã hình thànhnhiều loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp khác nhau, dựa trên cơ sở chiếm hữutư liệu sản xuất quan trọng (đất đai). Xét về quan hệ sở hữu các nhà kinh tế học đãkhái quát thành năm hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp cơ bản nhất đó là:Điền trang lớn. Nông nghiệp đồn điền. Trang trại cộng đồng. Nông nghiệp tậpthể hoá. Trang trại gia đình. “Kinh tế trang trại là một tổ chức cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, mụcđích chủ yếu là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặcquyền sử dụng của mỗi người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy môvà tất cả các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với các tổ chức quản lý tiếnbộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” [14].1.1.1-Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại1.1.1.1- Khái niệm về trang trại và kinh tế trang trại *Khái niệm về trang trại: “Trên thế giới người ta thường dùng cácthuật ngữ: Ferme (Tiếng Pháp), Farm (tiếng Anh).....vv, được hiểu chung lànông dân- chủ trang trại gia đình. Các thuật ngữ trên được hiểu chung lànông dân, chủ trang trại gia đình, người nông dân gắn với ruộng đất, vớiđất đai nói chung”[24]. Theo Mác; trong sản xuất nông nghiệp, vai trò hết sức quan trọng của trangtrại là mang lại hiệu quả kinh tế cao “Ngay ở nước Anh với nền công nghiệpphát triển, hình thức sản xuất có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nôngnghiệp quy mô lớn, mà là các trang trại gia đình sử dụng lao động làm thuê” [6]. *Khái niệm về kinh tế trang trại: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chứcsản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình,Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  15. 15. 6nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt,trồng rừng, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụnông, lâm, thuỷ, hải sản” [10]. Còn rất nhiều tác giả ở các góc độ khác nhau, đã đưa ra nhiều khái niệmkhác nhau, nhưng tựu chung vẫn thống nhất cho rằng, trang trại là một hìnhthức tổ chức sản xuất hàng hoá ở mức cao hơn kinh tế hộ về cả quy mô, lẫnhình thức quản lý. Hơn nữa các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh khác ởcác hộ gia đình thì mục đích chủ yếu là tự sản tự tiêu, nhưng mục đích củangười chủ trang trại lại chủ yếu là sản xuất hàng hoá đáp ứng nhu cầu thịtrường, có quan hệ chặt chẽ và phản ứng nhanh nhạy với thị trường. Còn mộtphần nhỏ sản phẩm làm ra phục vụ ngược trở lại cho sản xuất và tiêu dùng.1.1.1.2-Phân loại trang trại -Theo các hình thức tổ chức quản lý: +Trang trại gia đình độc lập: Là trang trại mà độc lập một gia đình thànhlập, và điều hành quản lý. +Trang trại liên doanh: Là trang trại có từ hai hay nhiều gia đình cùngnhau thành lập và điều hành quản lý. +Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Là trang trại kết hợp hai hay nhiềuloại hình sản xuất kinh doanh và cùng nhau góp vốn theo hình thức cổ phần hóa. +Trang trại uỷ thác: Là loại hình trang trại mà người sáng lập, thành lậpnên ủy quyền cho một hay một nhóm người nào đó điều hành quản lý. -Theo cơ cấu sản xuất: +Trang trại kinh doanh tổng hợp: Trang trại loại này là loại hình kinhdoanh là chủ yếu, và các mặt hàng kinh doanh đều nhằm phục vụ cho kinhtế trang trại. +Trang trại sản xuất chuyên môn hoá: Là loại hình chuyên môn sản xuấtmột sản phẩm nông nghiệp nào đó mang tính sản xuất hàng hóa lớn.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  16. 16. 7 -Theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất +Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất: Là loại hình trang trạimà toàn bộ vốn tài sản của trang trại thuộc quyền sở hữu của chủ trang trại. +Chủ trang trại sở hữu một phần tư liệu sản xuất và phải đi thuê một phần: Làloại hình trang trại mà trong đó toàn bộ vốn và tài sản của trang trại không thuộcquyền sở hữu của riêng chủ trang trại mà còn có của một hay nhiều sở hữu khác. +Chủ trang trại thuê hoàn toàn tư liệu sản xuất: Là loại hình trang trại màtoàn bộ phần tư liệu sản xuất và tài sản cố định không thuộc quyền sở hữu củachủ trang trại, mà đó là đi thuê còn chủ trang trại chỉ bỏ chi phí lưu động đểsản xuất kinh doanh.1.1.2-Những tiêu chí xác định kinh tế trang trại Thông tư số 74/2003/TT-BNN, ngày 04/7/2003 của Bộ nông nghiệp vàphát triển nông thôn; về việc thay thế Thông tư liên tịch số62/2003/TTLT/BNN-TCTK. Qua đó đưa ra tiêu chí để xác định kinh tếtrang trại như sau: - Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xácđịnh là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá;dịch vụ bình quân một năm, hoặc quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượttrội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế. - Đối với hộ sản xuất, kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hànghoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chí để xác địnhtrang trại là giá trị sản lượng hàng hoá, dịch vụ bình quân một năm.1.1.2.1-Giá trị sản lượng hàng hóa dịch vụ bình quân 1 năm: -Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền trung từ 40 triệu đồng trở lên. -Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên.1.1.2.2-Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nônghộ tương ứng với từng ngành sản xuất và vùng kinh tế.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  17. 17. 8a-Đối với trang trại trồng trọt -Trang trại trồng cây hàng năm +Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung. +Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên. - Trang trại trồng cây lâu năm +Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung. +Từ 5 ha đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên. +Trang trại trồng hồ tiêu từ 0,5 ha trở lên. -Trang trại lâm nghiệp +Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nướcb- Đối với trang trại chăn nuôi -Chăn nuôi đại gia súc, trâu, bò.... +Chăn nuôi sinh sản lấy sữa có thường xuyên từ 10 con trở lên. +Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên. - Chăn nuôi gia súc: lợn, dê,.... +Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên, đối vớidê, cừu từ 100 con trở lên. +Chăn nuôi lợn thịt có thường xuyên từ 100 con trở lên (Không kể lợnsữa) dê thịt từ 200 con trở lên (Không tính con dưới 7 ngày tuổi).c- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản -Diện tích mặt nước để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (Riêng đốivới nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1ha trở lên)d-Đối với các loại sản phẩm nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có tính chấtđặc thù như: trồng hoa cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ đặc sản,thì tiêu chí xác định là giá trị hàng hoá (tiêu chí 1)[4].Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  18. 18. 91.1.3-Những đặc trưng của kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường Một là: mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông sảnphẩm hàng hoá theo nhu cầu thị trường. Sản xuất nông nghiệp theo kiểu truyền thống tự cung, tự cấp chỉ giảiquyết nhu cầu của chính người sản xuất, lượng sản phẩm dư thừa đem bán trênthị trường chiếm một tỷ trọng rất nhỏ so với khối lượng nông sản mà họ sảnxuất ra. Các hộ nông dân cũng cố gắng bán bất kỳ thứ nông sản nào do chínhbản thân họ sản xuất ra – giai đoạn này gọi là thương mại hoá sản phẩm. Sauđó, hộ nông dân sản xuất hàng hoá theo yêu cầu của thị trường - đó là giai đoạnsản xuất hàng hoá của hộ đã đạt tới một trình độ cao để thích ứng với nhu cầucủa thị trường. Tới khi sản xuất hàng hoá khu vực nông thôn đã đạt đến mộtcấp độ cao hơn, một bộ phận hộ nông dân đã phát triển đến hình thức sản xuấttheo mô hình trang trại. Đến giai đoạn này, tôi xin nêu trên ba khía cạnh:a. Số lượng hàng hoá: được sản xuất nhiều hơn, tỷ trọng hàng hoá trong tổngkhối lượng nông sản chiếm tỷ trọng lớn, nghĩa là nông sản được tiêu thụ vớiquy mô lớn hơn. Quá trình sản xuất này đã phân hoá một số hộ đã tích tụruộng đất, đầu tư mua sắm tư liệu sản xuất thay vì tự túc. Với những nông hộcó chăn nuôi, quy mô đàn cũng lớn hơn nhiều.b. Chất lượng hàng hoá: tốt hơn, đảm bảo cả về sự an toàn, vệ sinh trongnông sản, chất lượng dịch vụ cung cấp nông sản cũng tốt hơn, đạt tới quátrình marketing sản phẩm, chứ không còn là giai đoạn thương mại hoá nôngsản, là giai đoạn người sản xuất cố gắng bán bất cứ thứ gì mà họ sản xuấtđược, chứ không bán loại nông sản do yêu cầu thị trường.c. Cơ cấu sản phẩm: nông sản được cung cấp theo hướng chuyên môn hoátheo vùng sản xuất, bởi vì ngoài tác động của thông tin thị trường, sản phẩmnông nghiệp còn chịu ảnh hưởng rất lớn bởi điều kiện tự nhiên, chính vì thế,các trang trại sản xuất cũng phải tuân thủ điều kiện tự nhiên của vùng. Tuyvậy, họ cố gắng lựa chọn những nông sản được coi là thế mạnh của vùng màSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  19. 19. 10họ đang tiến hành sản xuất. Sự lựa chọn này tạo cho các trang trại lợi thế,được gọi là lợi thế so sánh. Vì vậy muốn sản xuất hàng hoá phải đi sâu vàochuyên môn hoá, nhưng phải kết hợp với phát triển tổng hợp mới khai thácđược mọi nguồn lực của vùng, đồng thời còn hạn chế được các rủi ro nhưthiên tai, dịch bệnh, sự biến động của thị trường. Hai là: Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyềnsử dụng của một người chủ độc lập. Lý thuyết kinh điển Mác-Lê Nin về điều kiện để sản xuất hàng hoáđã nêu rõ: Có sự phân công lao động xã hội. Có những hình thức sở hữu khácnhau về tư liệu sản xuất. Rõ ràng, về điều kiện sản xuất hàng hoá của trangtrại thoả mãn điều kiện để sản xuất hàng hoá. Người chủ trang trại là ngườinắm giữ quyền sở hữu về tài sản, nếu như nắm quyền sử dụng tài sản, thì tàisản này có thể được hình thành dưới hình thức vốn góp hoặc đi thuê tài sản tàichính, như vậy xét dưới góc độ là tài sản của trang trại, thì những tài sản nàydù được hình thành bằng cách nào, nó vẫn thuộc quyền sử dụng của trang trại,có thể tạo ra lợi ích về kinh tế trong tương lai. Đứng trên khía cạnh của quanhệ sản xuất, người chủ trang trại là người có quyền định đoạt việc phân phốisản phẩm do trang trại mình sản xuất ra. Ba là: Trong các trang trại, các yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất đượctập trung tới quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hoá. Sự phát triển kinh tế trang trại gắn liền với quá trình tích tụ vốn và tậptrung đất. Nông hộ phải tập trung đất đai với quy mô nhất định, mới có điềukiện sản xuất hàng hoá và một lượng vốn nhất định. Việc phân phối, giao đấtcho người sử dụng sẽ khắc phục được tình trạng đất đai phân tán, manh mún.Thông qua chuyển đổi ruộng đất, sẽ dẫn đến tích tụ tập trung để sản xuất ngàycàng nhiều sản phẩm và sản phẩm hàng hoá xuất khẩu, sẽ tích luỹ tái sản xuấtmở rộng nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và khai thác tối đa lợi thế của vùng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  20. 20. 11 “Khái niệm dồn điền đổi thửa ( Rergrouping of land, trong tiếng Anh,hay Remenberment, trong tiếng Pháp) là việc tập hợp, dồn đổi các thửaruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn, trái ngược với việc chia các mảnh ruộng tothành các mảnh ruộng nhỏ” [12]. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, khôngthể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Trong giai đoạn những năm 80 củathế kỷ trước, ruộng đất được chia dựa trên lao động của hộ gia đình, tìnhtrạng ruộng đất được chia theo lối bình quân ở nhiều địa phương, hộ nàocũng có ruộng tốt, ruộng xấu, chỗ gần, chỗ xa, cho nên có những hộ ruộnghàng chục mảnh, mà tổng diện tích của nó chỉ vào khoảng một đến vài nghìnm2. Với cách làm như thế, không thể tạo ra sự thay đổi trong phương thứcsản xuất đáp ứng nhu cầu thị trường. Thực trạng này hiện nay vẫn phổ biếnở nhiều nơi, nhưng với nền nếp làm ăn nhỏ tiểu nông, vẫn chưa thể đưa việcdồn điền đổi thửa tiến triển một cách nhanh chóng, nó đòi hỏi phải có sự canthiệp một cách mạnh mẽ từ phía Nhà nước. “Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.Nhà nước giao quyền sử dụng ổn định, lâu dài đồng thời được quyền chuyểnđổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê” [17]. Nghị quyết Hộinghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã vạch ra nhữnghạn chế của pháp luật về đất đai trong thời gian qua, chỉ rõ nguyên nhân và đềra các biện pháp khắc phục. Một trong những biện pháp cần phải thực hiện làđổi mới chính sách, pháp luật về đất đai phù hợp với đường lối phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” [16].Đồng thời thể chế hóa các quan điểm đó được xác định trong Nghị quyết Hộinghị lần thứ VII Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX về “Tiếp tục đổi mớichính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước”.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  21. 21. 12 Trên cơ sở những điều, luật định Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợicho quá trình tích tụ, và tập trung ruộng đất một cách hợp lý để tạo ra nhữngđiều kiện tiền đề, góp phần vào việc đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại. Bốn là: kinh tế trang trại có cách thức tổ chức và quản lý sản xuấttiến bộ dựa trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiếnbộ kỹ thuật, thực hiện hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thườngxuyên tiếp cận thị trường. Dưới góc độ kỹ thuật canh tác: trang trại là đơn vị sản xuất hàng hoá ápdụng một cách tích cực những tiến bộ của khoa học công nghệ để thâm canh,tăng năng suất cây trồng, vật nuôi; nhờ đó, sản phẩm sản xuất ra mới đảm bảotiêu chuẩn mà khách hàng yêu cầu, thoả mãn nhu cầu thị trường, từ đó tăngnăng lực cạnh tranh sản phẩm, từ đó làm cho năng suất lao động của trang trạicao hơn hẳn so với phương thức sản xuất của các hộ. Cụ thể tính đến ngày 5/5/2003 cả nước đã có gần 72.000 trang trại, tạora giá trị hàng hoá dịch vụ trên 7.000 tỷ đồng [1]. Nhưng tính đến thờiđiểm 01/7/2006 thì cả nước đã có tới 113.730 trang trại, thu hút được395.878 lao động, sử dụng 663.359 ha đất và mặt nước các loại, đã huyđộng được 29.320.841 triệu đồng cho hoạt động kinh tế trang trại, mỗinăm có doanh thu từ hoạt động kinh tế trang trại là 19.826.040 triệu đồng,với số thu nhập là 6.979.257 triệu đồng, bình quân cho một trang trại là61,4 triệu đồng, đây quả là con số không nhỏ.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  22. 22. 13 Bảng 1.1 Trang trại trên địa bàn toàn quốc năm 2006STT Tỉnh, Thành phố Số TT STT Tỉnh, Thành phố Số TT 1 Hà nội 491 33 Đà Nẵng 327 2 Vĩnh Phúc 689 34 Quảng Nam 933 3 Bắc Ninh 1 788 35 Quảng Ngãi 322 4 Hà Tây 1 574 36 Bình Định 993 5 Hải Dương 717 37 Phú Yên 2 735 6 Hải Phòng 1 418 38 Khánh Hòa 2 498 7 Hưng Yên 2 185 39 Kon Tum 417 8 Thái Bình 2 892 40 Gia Lai 2 128 9 Hà Nam 547 41 Đăk lăk 802 10 Nam Định 927 42 Đăk Nông 4 647 11 Ninh Bình 635 43 Lâm Đồng 791 12 Hà Giang 154 44 Ninh Thuận 930 13 Cao Bằng 55 45 Bình Thuận 1 883 14 Bắc Kạn 21 46 Bình Phước 4 440 15 Tuyên Quang 77 47 Tây Ninh 2 053 16 Lào Cai 213 48 Bình Dương 1 876 17 Yên Bái 319 49 Đồng Nai 3 219 18 Thái Nguyên 588 50 Bà Rịa Vũng Tầu 658 19 Lạng Sơn 27 51 Thành Phố 1808 Hồ Chí Minh 20 Quảng Ninh 1 379 52 Long An 2 982 21 Bắc Giang 1 401 53 Tiền Giang 2 213 22 Phú Thọ 470 54 Bến Tre 3 479 23 Điện Biên 127 55 Trà Vinh 2 601 24 Lai Châu 117 56 Vĩnh Long 361 25 Sơn La 92 57 Đồng Tháp 4 319 26 Hòa Bình 186 58 An Giang 6 180 27 Thanh Hóa 3 384 59 Kiên Giang 9 056 28 Nghệ An 954 60 Cần Thơ 305 29 Hà Tĩnh 403 61 Hậu Giang 51 30 Quảng Bình 796 62 Sóc Trăng 6 270 31 Quảng Trị 741 63 Bạc Liêu 13 252 32 Thừa Thiên Huế 478 64 Cà Mau 3 356 Tổng số trang trại 113.730 Nguồn: Tổng cục thống kê, 2006Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  23. 23. 14 Nếu so sánh giữa năm 2001 và năm 2006 về số lượng trang trại ta thamkhảo (bảng 1.2) dưới đây. Bảng 1.2 Tình hình trang trại giai đoạn 2001-2006 Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2006 So sánh 2006/2001 SL CC% SL CC% Số % tăngTổng số 61017 100 113730 100 52713 1869.41.TT nông nghiệp 40093 65.7 72237 63.51 32144 180.2-TT trồng cây hàng năm 21754 36.6 32611 28.67 10857 149.9-TT trồng cây lâu năm 16578 27.1 22918 20.15 6340 138.2-TT chăn nuôi 1761 2.9 16708 14.69 14947 948.82. TT lâm nghiệp 1668 2.73 2661 2.33 993 159.53. TT nuôi trồng TS 17016 27.88 34202 30.07 17186 201.04.TT sản xuất KDTH 2240 3.67 4630 4.07 2390 206.7 Nguồn: Tổng cục thống kê, 2006 Ta thấy cơ bản về cơ cấu trang trại là không thay đổi nhiều lắm, chỉ códuy nhất loại hình trang trại chăn nuôi là cơ cấu tăng cao từ 4,4% tăng lên23,1%. Nhưng về mức độ tăng số lượng trang trại lên tới 186,4%. Đây là consố tăng khá lớn, bởi vì theo các tiêu chí mới về kinh tế trang trại thì một sốtrang trại cũ không được xếp hạng, nếu vẫn theo tiêu chí cũ để đánh giá thì sốlượng trang trại còn tăng cao hơn nhiều. Việc đẩy mạnh quá trình tích tụ, tập trung sản xuất đòi hỏi các trang trạiphải phát triển theo hướng công nghiệp hoá, thâm canh hoá để tăng năng suất laođộng và tăng năng xuất cây trồng, vật nuôi. Việc thực hiện nội dung trên phải tuỳđiều kiện của từng trang trại để lựa chọn thích hợp, đồng thời các trang trại phảikết hợp với nhau để thực hiện nội dung này. Mỗi trang trại không thể tự mìnhSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  24. 24. 15công nghiệp hoá, thâm canh hoá sản xuất mà phải có sự hỗ trợ của Nhà nướcbằng việc ban hành các chính sách như chính sách hỗ trợ về kỹ thuật, quản lý,chính sách về vốn và xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất… Năm là: Chủ trang trại là người có ý chí, có năng lực tổ chức quản lý, có kiếnthức và kinh nghiệm sản xuất, đồng thời có hiểu biết nhất định về kinh doanh. Trước hết, xin nói về công tác điều hành, kế hoạch hoá, tổ chức kiểm tra,đánh giá hoạt động sản xuất được các chủ trang trại chú ý, hoạt động sản xuấthàng hoá của trang trại không thể theo một tư duy sản xuất theo kiểu tự cung,tự cấp. Do đó, trang trại phải đặt ra cho mình câu hỏi sản xuất nông sản gì đểđáp ứng nhu cầu thị trường; kỹ thuật canh tác nào sẽ được lựa chọn áp dụngcho công việc sản xuất tại trang trại; việc phân bố nguồn lực lao động vàohoạt động sản xuất ra sao, số lượng cần bao nhiêu? Hoặc là phân phối lượngvốn của trang trại được đầu tư cho tài sản lưu động là bao nhiêu, trong đó dướicác dạng tiền mặt là bao nhiêu, dưới dạng dự trữ vật tư là bao nhiêu?…là mộtcông việc của người chủ trang trại, nó đòi hỏi phải có hạch toán một cách đầyđủ, bởi mọi chi phí phát sinh không ghi chép, theo dõi sẽ không thể kiểm soát,và như vậy, công việc hạch toán không tốt có thể dẫn đến kết quả sản xuất kinhdoanh của trang trại được đánh giá một cách sai lệch, thiếu khách quan. Sáu là: Các trang trại đều có thuê mướn lao động. Sản xuất trong trang trại đã vượt quá quy mô sản xuất gia đình nông hộ,như trên đã nói, quy mô sản xuất của trang trại đã lớn: đó là quy mô tư liệu sảnxuất tăng lên rất lớn: diện tích sản xuất, số lượng trang thiết bị sản xuất…. cũngnhư quy mô khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ cũng lớn hơn. chính vìvậy, số lao động có tính chất gia đình của chủ trang trại là không thể đảmđương được. Ngay cả trường hợp đổi công cũng không phải là giải pháp khảthi. Như vậy, tất yếu trang trại buộc phải thuê mướn lao động. “Cụ thể cả nướccó 395 878 người tham gia vào hoạt động kinh tế trang trại, trong đó lao độngcủa hộ chủ trang trại là 291 611 người, bình quân mỗi trang trại là 2,6 người;Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  25. 25. 16lao động thuê mướn là 104 267 người, bình quân trên một trang trại là 0,9người” [22]1.1.4- Yếu tố ảnh hưởng tới phát triển trang trại và kinh tế trang trại1.1.4.1- Những nhân tố khách quan.a-Thị trường tiêu thụ sản phẩm. Phải nêu lên các vấn đề: sản phẩm, đặc điểm sản phẩm nông nghiệpkhi tiêu thụ như (tươi sống, khó khăn cho việc bảo quản, sản phẩm nôngnghiệp mang tính mùa vụ và có đặc điểm là cung muộn- không thể đáp ứngmột cách ngay lập tức, vì đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vậtsống, nó cần phải có thời gian sinh trưởng, phát triển sau đó mới đến bướcthu hoạch, do vậy, dù giá nông sản rất cao, các nông trại phải mất hàngtháng, thậm chí hàng năm mới có được sản phẩm). Đối tượng khách hàng là ai? Khách hàng mua nông sản cũng được phân chiatheo nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Ví dụ, những khách hàng là những côngdân của những nước có thu nhập cao, thường họ có yêu cầu khắt khe về chấtlượng sản phẩm và những tiêu chuẩn vệ sinh, tuy nhiên họ thường sẵn sàng trả giácao khi mua nông sản. Với những nhóm khách hàng có thu nhập thấp, thường thìhọ có yêu cầu về tiêu chuẩn hàng hoá cũng thấp, giá cả cũng khó chấp nhận ởmức cao. Ngoài ra, chúng ta cần chú ý đến đặc điểm khách hàng từng khu vựcchâu lục, cũng có những đặc điểm yêu cầu về sản phẩm có khi cũng khác nhau.Một đặc điểm chú ý nữa với khách hàng là nên quan tâm đến yếu tố văn hoá vàđặc điểm tôn giáo mà khách hàng đang tuân thủ. Ví dụ, thịt lợn là thứ mà nhữngngười theo đạo Hồi kiêng, cũng như những người theo đạo Hin Đu không dùngthịt bò là thực phẩm trong bữa ăn của mình. Tóm lại thị trường tiêu thụ sản phẩmlà rất quan trọng, nó là vấn đề sống còn của sự phát triển kinh tế trang trại. Đốivới hàng hoá, sản phẩm nông nghiệp thì thị trường tiêu thụ sản phẩm là vôcùng lớn. Tất cả các thành phần kinh tế đều phải sử dụng sản phẩm của nôngnghiệp. Mà hiện nay kinh tế trang trại đang là then chốt và chủ đạo trong phátSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  26. 26. 17triển nông nghiệp. Bên cạnh đó sản xuất nông nghiệp lại luôn phải gắn liềnvới đất đai, phụ thuộc rất lớn về khí hậu và thời tiết, bệnh dịch. Hơn nữa vùngsản xuất lại luôn dàn trải, không tập trung. Các hệ thống phân tán rộng khắptrên toàn lãnh thổ. Chính điều này cũng khiến gặp không ít khó khăn trongvấn đề tiêu thụ.b-Chính sách về đất đai Hiện nay Chính phủ đã có những quyết sách đổi mới và thuận lợi nhiềucho phát triển kinh tế trang trại như chính sách giao đất, giao rừng, dồn điền,đổi thửa, điều này tạo đà cho sự phát triển kinh tế trang trại một cách vữngchắc và lâu dài. Bên cạnh đó nền kinh tế nông nghiệp nước ta trước đây quánghèo nàn lạc hậu; chính vì vậy mà việc cải tạo lại những bờ vùng bờ thửasau khi dồn điền đổi thửa là vô cùng khó khăn và tốn kém, gây không ít trởngại cho các chủ trang trại về vấn đề vốn và lao động.c-Chính sách về tín dụng Nhà nước đã thành lập các hệ thống ngân hàng từ trung ương đến địaphương, đặc biệt là hệ thống ngân hàng nông nghiệp để phục vụ cho việc pháttriển kinh tế nông nghiệp ngày càng tiến xa hơn và vững chắc. Bên cạnh hệthống ngân hàng rất lớn, xong việc kinh doanh tiền tệ, và việc bảo tồn vốn làđiều tiên quyết lại từ phía ngân hàng, nên. Chính điều này gây không ít khókhăn khi các nhà đầu tư vào kinh tế trang trại nhưng thiếu tài sản thế chấp.Đây là vấn đề cần tháo gỡ.d-Các chính sách khác Ví dụ như chính sách thuế; bảo hộ sản phẩm nông nghiệp; xuất nhập khẩuhàng nông nghiệp; chính sách ưu tiên cán bộ nông nghiệp làm việc ở vùng sâu,vùng xa nhằm phục vụ kỹ thuật cho các nhà đầu tư kinh tế trang trại….e-Do thị trường nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp từ nước ngoài Đất nước ta do thời gian trải qua chiến tranh quá dài, nên điều kiện pháttriển kinh tế rất khó khăn, nông nghiệp và và chế biến sản phẩm nông nghiệpSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  27. 27. 18phát triển kém. Chính điều này làm mất đi thế cạnh tranh so với các nướctrong khu vực cũng như các nước trên thế giới. Nước ta xuất khẩu sản phẩmchủ yếu là thô, giá rẻ, nhưng nhập khẩu lại là sản phẩm tinh giá cao nhưng lạihợp thị hiếu của một số người có thu nhập cao. Trong khi đó thì máy móc vềchế biến của ta lại lạc hậu về công nghệ, thiếu về chủng loại.g-Các yếu tố về thời tiết, khí hậu, dịch bệnh (Yếu tố tự nhiên) Đây là một yếu tố có sự tác động vô cùng to lớn đến hoạt động của kinh tếtrang trại, vì đối tượng của kinh tế trang trại đều là các sinh vật sống, có thời giansinh trưởng và phát triển phụ thuộc rất lớn đối với yếu tố tự nhiên. Trong nhữngnăm vừa qua đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, bắt đầu nền công nghiệphoá đất nước hình thành, các nhà máy, công xưởng, nhà cửa mọc lên như nấm,cũng đồng nghĩa với việc nạn phá rừng chàn lan gây nên thảm họa về môitrường như hạn hán, lụt lội sảy ra liên tiếp, môi trường bị tàn phá một cáchnghiêm trọng, sự mất cân bằng sinh thái là tất yếu, dẫn đến dịch bệnh, sâu bọ pháhoại mùa màng khủng khiếp, điều này khiến không ít các nhà quản lý cũng nhưcác chủ trang trại ngần ngại khi đầu tư. Cụ thể các loaị dịch bệnh luôn hoànhhành, làm cho những nhà chăn nuôi luôn phải đau đầu khi mà hết bệnh lở mồnlong móng sảy ra ở gia súc, sau đó lại đến bệnh H5N1 sảy ra ở gia cầm, đến naylại dịch bệnh lợn tai xanh….Thông qua đây ta thấy rằng đối với dịch bệnh nó làhiểm họa cao nhất đối với người làm nông nghiệp.1.1.4.2- Những nhân tố chủ quana-Trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của chủ trang trại Con người Việt Nam vốn xưa nay cần cù và chịu thương chịu khó, tínhvươn lên trong cuộc sống, tính cộng đồng lớn. Điều này là điều kiện cho pháttriển một đất nước mạnh mẽ về cả vật chất lẫn tinh thần. Bên cạnh đó chủtrang trại không được đào tạo, hoặc là đào tạo chắp vá, điều này khiến khôngít các trang trại làm ăn bị thua lỗ, dẫn đến phá sản.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  28. 28. 19b-Quy mô diện tích trang trại Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới, gió mùa đất đai phì nhiêu cây cối tươitốt quanh năm, diện tích đất trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn. Ngoài rađất còn là hàng hoá đặc biệt, khi có sự đầu tư của con người thì đất ngày càng tốtđộ phì ngày càng cao, diện tích đất canh tác ngày càng lớn, chứ không như cáctài sản khác là có sự hao mòn và dẫn đến hư hỏng. Bên cạnh đó diện tích đất tuylớn nhưng đất canh tác lại thiếu, vì nước ta phân làm bốn vùng rõ rệt, vùng caonguyên, vùng núi cao; vùng trung du; vùng đồng bằng. Nhưng diện tích vùngđồng bằng phù hợp cho phát triển kinh tế trang trại thì bình quân trên đầu ngườilại ít, mà vùng núi và trung du lại nhiều. Để cải tạo và tạo vùng nguyên liệu rộnglớn là rất khó khăn, thậm chí là không thể.c-Lao động của trang trại Lượng lao động dồi dào trên 70% dân số nước ta phân bố ở nông thôn,tính cần cù chịu khó, tính tập thể tốt. bên cạnh đó trình độ lao động thấp,tác phong công nghiệp hầu như không có, dẫn tới kỷ luật trong lao độngkém làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả lao động. Lực lượng lao độngkhông tập trung mà phân bố rải rác khắp nơi, nên việc quy tụ lại một chỗlại là cả nhiều vấn đề như chỗ ăn, ở, quản lý con người vô cùng khó khăn,điều này cũng là nhân tố tăng các chi phí đầu vào ảnh hưởng lớn tới việctăng giá thành sản phẩm.d-Đầu tư của trang trại Đầu tư cho kinh tế trang trại vốn không cần lớn như sản xuất côngnghiệp, đầu tư dần trong suốt quá trình sản xuất hoặc chu kỳ sản phẩm. Điềunày có thể giãn cách thời gian huy động vốn cũng như đầu tư vốn. Hiện nayĐảng và Nhà nước đang huy động các nguồn vốn đầu tư cho phát triển cơ sởhạ tầng nông thôn thông qua các chương trình dự án phát triển bền vững nôngnghiệp nông thôn như các vốn chương trình dự án: 135; ODA; ADB; WB...đây cũng là một hình thức đầu tư gián tiếp và lâu dài. Bên cạnh đó nước ta làSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  29. 29. 20một nước đang trong thời kỳ quá độ, sau những năm cải cách đổi mới nền kinhtế còn khó khăn, chính vì vậy việc bảo hộ và bảo trợ cho nông nghiệp còn thấp,các chủ kinh tế trang trại chủ yếu là từ các hộ kinh tế gia đình thành lập tự phátvới lượng vốn khởi điểm thấp. Vốn huy động từ nguồn vay của ngân hàngnông nghiệp thì ít, do không có tài sản thế chấp, hoặc có thì cũng không đủ đểđáp ứng được lượng vốn cần thiết để phát triển với quy mô cao. Vốn đầu tư chonông nghiệp tuy không cần ồ ạt và đầu tư một lúc như trong công nghiệp, nhưngdo đặc thù của sản phẩm nông nghiệp là phải có chu kỳ của sản phẩm, vì đốitượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật sống, đòi hỏi phải có thời giansinh trưởng và phát triển nhất định, chính điều này đầu tư vốn cho sản xuất nôngnghiệp rất dài, hơn nữa trong thời gian như vậy sản phẩm nông nghiệp lại chịusức ép rất lớn về thời tiết và khí hậu, dịch bệnh. Bởi vậy rủi do trong đầu tư sảnxuất nông nghiệp là không nhỏ, dẫn đến việc huy động vốn rất khó khăn, đâycũng là vấn đề mà Nhà nước cần quan tâm.e-Công nghiệp chế biến sản phẩm Đây là một vấn đề rất lớn có tác động đến phát triển kinh tế trang trại,điều mà Đảng và Nhà nước luôn cần quan tâm nhưng không phải là khôngvướng mắc. Sản phẩm sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, thu hoạch ồ ạttrong thời gian ngắn nên số lượng rất lớn, dẫn đến việc đầu tư vào công nghệ chếbiến rất tốn kém và hiệu quả lại không cao, vì đặc thù công nghiệp chế biến sảnphẩm nông nghiệp mang tính đơn nhất lớn, tức là một dây truyền thì chỉ chế biếnmột vài loại sản phẩm của nông nghiệp. Chính điều này gây không ít khó khăncho nhà đầu tư, vì với một lượng vốn đầu tư rất lớn, nhưng chỉ sản xuất đượctrong một thời gian rất ngắn trong năm. Chính vì vậy các nhà đầu tư cần chú ý tớicác sản phẩm phụ khi chế biến sản phẩm của nông nghiệp, để tránh sự đơn điệutrong chế biến, sản xuất kinh doanh, cũng như giảm chi phí, tăng thêm nguồn thunhập, khai thác hết tiềm năng sẵn có của lĩnh vực mà nhà đầu tư quan tâm.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  30. 30. 21 Ví dụ: Nhà máy chế biến mía đường thì ngoài sản phẩm chính là đường,thì cần quan tâm đến các sản phẩm phụ của đường như gỉ đường, bã mía, cóthể tận dụng cho việc sản xuất cồn công nghiệp, rượu và một số chế phẩmkhác như bã mía, có thể sản xuất được thành các thức ăn chăn nuôi gia súc vàphân bón quay trở lại phục vụ cho nông nghiệp. Vì vậy cần quan tâm đến việckéo dài mùa vụ bằng cách trồng xen vụ, nhằm sử dụng tối đa công xuất máygiảm chi phí khấu hao trên từng đơn vị sản phẩm, giảm giá thành sản xuất,cũng như tăng tính cạnh tranh trên thị trường. Cũng như việc lập nên các nhàmáy bảo quản sản phẩm thô trong nông nghiệp nhằm kéo dài thời gian chếbiến. Một điều nữa là cần có bộ máy quản lý chất lượng sản phẩm đã qua chếbiến, nhằm duy trì và phát huy chất lượng sản phẩm ngày càng có uy tín trênthị trường, chính điều này đã làm tăng giá trị của sản phẩm tinh cao gấpnhiều lần so với sản phẩm thô, dẫn tới tăng lợi nhuận, khấu hao nhanh giảmchi phí đầu tư tới mức tối đa. Ngoài ra sản phẩm nông nghiệp phân bố rất rộng, hơn nữa nước ta lại cóđịa hình phức tạp, giao thông và các cơ sở hạ tầng nông thôn còn kém, cácvùng nguyên liệu xa nhau và không lớn việc thu gom sản phẩm phức tạp, việcbảo quản và vận chuyển vô cùng khó khăn dẫn đến giá thành cao gây ảnhhưởng lớn về cạnh tranh giá trên thị trường. Bởi vậy khi lập dự án cho dâytruyền chế biến sản phẩm nông nghiệp, thì các nhà đầu tư cần chú ý đến việcnghiên cứu kỹ vùng nguyên liệu có đủ đáp ứng cho nhu cầu sản xuất của nhàmáy hay không? Tránh các trường hợp như các nhà máy đường của nước tatrong những năm gần đây.1.1.5- ý nghĩa kinh tế-xã hội-môi trường của trang trại1.1.5.1-ý nghĩa kinh tế Mô hình kinh tế trang trại đã tạo bước chuyển biến cơ bản về giá trị sảnphẩm hàng hoá, và thu nhập của trang trại vượt trội hẳn so với kinh tế hộ.“Hiện nay, tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ của trang trại ước tính hơn 19.826.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  31. 31. 22tỷ đồng, bình quân một trang trại đã tạo ra giá trị sản xuất gần 324.9 triệuđồng gấp 8 lần so với bình quân giá trị sản xuất của một hộ nông nghiệp. Tạivùng tây nguyên, giá trị sản phẩm hàng hoá của trang trại đạt bình quân gần148.6 triệu đồng/trang trại/năm. Kinh tế trang trại đã thu hút, tạo việc làm cảnước cho hơn 395.878 lao động, góp phần giảm bớt áp lực thiếu việc làm ởnông thôn, đồng thời giúp cho thu nhập của người lao động được đảm bảo ổnđịnh ở mức từ 400.000.đ-600.000.đ/ tháng (với lao động thời vụ), tiền côngcũng phổ biến ở mức 20.000.đ/ ngày. Riêng các doanh nghiệp nông thôn đãgiải quyết cho trên một triệu lao động có việc làm trong các xí nghiệp, nhàmáy với thu nhập bình quân từ 700.000-1.000.000.đ/ tháng” [23]. Mô hình này đã có những kết quả vượt trội so với kinh tế hộ, hình thànhnên những vùng sản xuất hàng hoá lớn tập trung, thúc đẩy quá trình chuyển đổicơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, tiến tới xây dựng nên những vùng, miềnnông thôn mới văn minh hiện đại. Thách thức còn ở phía trước, tuy nhiên, kinhtế trang trại thật sự “cất cánh” vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Cách đây 4 năm,con số 55% trang trại chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất màNguyên Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Lê Huy Ngọ đưa rađã khiến nhiều người bất ngờ. Cũng là đầu tư phát triển, nhiều doanh nghiệp đếntừ nơi xa được “trải chiếu hoa, trải thảm đỏ” thì người nông dân lại “toát mồ hôi”khi thuê đất [1]. Đến giờ phút này, điều mà chủ trang trại vẫn thường xuyên lo âu vàmong muốn sự quan tâm hơn của Đảng và Nhà nước chính là việc tiêu thụnông sản. Sản phẩm của trang trại tiêu thụ qua trung gian mà cụ thể là thươnglái chiếm tỷ lệ từ 70-95% trong tổng số sản phẩm trang trại thu hoạch được.Còn định hướng cho việc sản xuất cây, con gì ở trang trại thì nhiều hộ phảinhờ chính thương lái mách bảo. Riêng với những trang trại chăn nuôi, hiệnhơn 30 tỉnh thành phố có dự án, chương trình phát triển bò sữa, nhưng khánhiều nơi sữa bò không bán được, phải để làm sữa chua “ăn trừ bữa”. CuốiSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  32. 32. 23năm 2005, cả nước có gần một vạn trang trại chăn nuôi song năng xuất vậtnuôi còn thấp, chỉ đạt 50-70% so với các nước chăn nuôi khác tiên tiến, chấtlượng vật nuôi chưa đạt yêu cầu, giá thành còn cao so với khu vực và quốctế từ 20-40%, chưa có những sản phẩm đặc thù. Nguyên nhân là do cònchăn nuôi phân tán, quy mô nhỏ. Cải tiến năng xuất, chất lượng giống vậtnuôi còn chậm, giá thức ăn còn cao, công nghệ giết mổ còn thô sơ, khôngđảm bảo điều kiện vệ sinh dịch tễ. -Lợi ích trước và sau khi thành lập kinh tế trang trại. +Lợi ích trước mắt: Các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tếphát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dầntình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hoá cao, qua đó thúc đẩychuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại. +Lợi ích lâu dài: Góp phần vào việc phát triển công nghiệp đặc biệt làcông nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn. Thực tế cho thấy việcphát triển kinh tế trang trại bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sử dụngmột cách đầy đủ và hiệu quả hơn so với kinh tế hộ về các nguồn lực trong nôngnghiệp nông thôn. Ngoài ra trang trại còn góp phần rất lớn trong việc cải thiệnmôi trường sống ngày càng tốt hơn. Thật vậy hệ thống sinh thái đã bị phá vỡtrong việc công nghiệp hoá ồ ạt trên toàn thế giới, thì khi hệ thống kinh tế trangtrại phát triển sẽ dần lấy lại sự cân bằng sinh thái trong tự nhiên, hệ thống đadạng sinh thái ngày càng được cải thiện trở lại với cái gì vốn có của nó. -Những đóng góp của trang trại đối với Nhà nước: Kinh tế trang trạiphát triển nó góp phần tăng thu nhập đối với nền kinh tế quốc dân, cũng nhưtăng nguồn thu ngân sách đối với Nhà nước.1.1.5.2-ý nghĩa xã hội. Thu hút lao động, hạn chế bớt làn sóng di cư ra thành phố, làm giảm áp lựcđối với xã hội, đảm bảo an ninh trật tự nơi đô thị, hạn chế tai tệ nạn cho xã hội.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  33. 33. 24Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng làm tăng số hộ giàu trong nôngthôn, tạo thêm việc làm tăng thêm thu nhập cho lao động, với tổng số thu hútlao động trên toàn quốc tính đến 01/7/2006 là 395.878 người. Điều này rất cóý nghĩa trong việc giải quyết vấn đề lao động và việc làm. Mặt khác, trong xuhướng chung của các nước, theo đuổi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế, đã tác độnglớn đến khoảng cách chênh lệch thu nhập của đại bộ phận cư dân, thu nhập củangười dân đô thị là cao hơn so với khu vực nông thôn. Chính vì vậy, sự kỳvọng về mức thu nhập cao đã thôi thúc nhiều nông dân đi tìm công ăn việc làmở đô thị. Như vậy, sự phát triển trang trại cũng là một nguyên nhân tác độngđến người nông dân gắn bó với công việc khu vực nông thôn, hạn chế sự di cưđến đô thị. Mặt khác, nông dân có việc làm là cách cải thiện đáng kể tệ nạn xãhội do thất nghiệp gây nên, một trong những vấn đề bức xúc của nông nghiệpnông thôn nước ta hiện nay. Mặt khác phát triển kinh tế trang trại còn góp phầnthúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng, trong nông nghiệp nông thôn nước ta. -Có đóng góp với nền an ninh lương thực như: Đáp ứng được nhu cầucủa cư dân một vùng, hay cả quốc gia một cách ổn định và bền vững. Cho dùsự đóng góp của ngành nông nghiệp trong cơ cấu của nền kinh tế giảm mộtcách tương đối, lực lượng lao động có sự chuyển dịch sang các ngành khác,diện tích canh tác bị thu hẹp do chuyển đổi mục đích sử dụng…mà lươngthực vẫn đảm bảo và bền vững, thì đó là tình hình an ninh lương thực cao. Bàitoán này đặt ra đối với phạm vi một quốc gia, tức là sự hình thành các vùngchuyên canh sản xuất: vùng sản xuất rau, các loại hoa quả, lúa gạo…Đối vớiViệt Nam, phải nói đến vùng đồng bằng của miền Bắc và miền Nam. Tuynhiên, do tình trạng không đảm bảo cung cấp lương thực và người dân nhiềuvùng bị đói diễn ra trong nhiều năm qua đã tác động đến tâm lý của rất nhiềungười dân các khu vực, họ không muốn xoá bỏ tập quán sản xuất lương thựcđể giải quyết nhu cầu tại chỗ. Do vậy, sự mở ra hướng sản xuất trang trại theoSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  34. 34. 25mô hình chuyên canh, tăng cường trao đổi hàng hoá trên cơ sở hạ tầng nôngthôn được cải thiện đáng kể sẽ thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, thu nhậpcủa người dân được đảm bảo có thể mua được lương thực, xoá đi tâm lý giảiquyết nhu cầu lương thực tại chỗ mà vẫn đáp ứng được khả năng cung cấplương thực. Khả năng đảm bảo an ninh lương thực Theo hướng này là hoàntoàn khả thi. Bởi vậy kinh tế trang trại phát triển tức là nông nghiệp phát triểnở mức độ cao, chính điều này làm tăng thêm của cải trong xã hội, và tăngvùng phân bố sản xuất của cải vật chất nói chung và lương thực nói riêng.1.1.5.3-ý nghĩa môi trường. Thông thường, hoạt động sản xuất nông nghiệp không khoa học sẽ gây ranhững tác động tiêu cực đến môi trường do quá trình thâm canh nông nghiệp:sử dụng phân bón hoá học, thuốc bảo vệ thực vật một cách tùy tiện, gây ônhiễm về nguồn nước, đất và cả trong không khí. Mặt khác, nếu kỹ thuật canhtác lạc hậu còn tác động xấu đến độ màu mỡ của đất. Như trên đã phân tích,các trang trại thường áp dụng kỹ thuật sản xuất tiên tiến để sử dụng hợp lý, tiếtkiệm, có hiệu quả các nguồn lực: chẳng hạn kỹ thuật phòng trừ dịch bệnh tổnghợp để làm giảm bớt lượng thuốc bảo vệ thực vật mà vẫn đảm bảo năng suấtcây trồng, tiết kiệm chi phí tiền thuốc, giảm bớt ô nhiễm, hoặc kỹ thuật canhtác trên đất dốc, sử dụng các loại cây họ đậu để cải tạo đất đã làm tăng độ phìcho đất. Đối với trang trại chăn nuôi, xưa nay hộ nông dân vẫn phải đối mặt vớitình trạng nguồn phế thải từ chăn nuôi gia súc, gia cầm, gây ô nhiễm môitrường nặng nề, nhưng với kỹ thuật sử lý bằng các hố khí Biogas đã cùng mộtlúc giải quyết cả tình trạng ô nhiễm, lại có nguồn năng lượng khí đốt sinh họcsử dụng vào trong sinh hoạt hàng ngày của chủ trang trại, đây là một kỹ thuậtkhông phải khó, tuy nhiên rất phù hợp với chăn nuôi quy mô lớn và tập trung.Mặt khác, nhiều trang trại hình thành chính từ việc khai hoang, phục hoá nhữngdiện tích trước đây bỏ hoang hoá, hoặc chưa sử dụng đúng mục đích ví dụ: cácđầm nuôi tôm được hình thành từ những bãi cát ven biển, mà xưa nay ngườiSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  35. 35. 26dân địa phương không sử dụng vào bất cứ mục đích gì, hoặc những vùng đất bịô nhiễm phèn nặng của huyện Cần Giờ – Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo lênnhững diện tích nuôi tôm cho năng suất cao, đem lại hiệu quả kinh tế lớn. Kinh tế trang trại luôn gắn liền với đất đai, sinh vật sống là chủ yếu; nó cóđặc thù khác hẳn với sản phẩm của các ngành khác là; có đặc điểm của một vậtthể sống nó bao hàm các yếu tố sinh lý mà các sản phẩm của các ngành kháckhông có được. Mà đất đai thì đặc tính riêng có của nó là độ phì, nếu được quantâm một cách đúng mức, và khai thác một cách khoa học thì đất đai ngày mộtphì nhiêu hơn. Chính điều này tạo đà cho sinh vật sống phát triển một cách bềnvững. Khi giữa hệ sinh thái thực vật và động vật hài hoà sẽ có một môi trườngtiến tới tự nhiên hơn, khi mà tất cả các nước trên thế giới đang phát triển côngnghiệp một cách ồ ạt, các chất thải công nghiệp ngày một nhiều, thì kinh tế trangtrại phát triển là đúng với xu thế phát triển của thế giới. Do sản xuất kinh doanh tự chủ có lợi ích thiết thực và lâu dài của mìnhmà các chủ trang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ cácyếu tố môi trường, trước hết là trong phạm vi không gian sinh thái của trangtrại và sau nữa là trong phạm vi từng vùng. Các trang trại đã góp phần quantrọng vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc và sửdụng hiệu quả tài nguyên đất đai, những việc làm này đã góp phần tích cựccải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái trên địa bàn. “Hiện nay đất mà trangtrại sử dụng chiếm rất lớn cụ thể tính đến năm 2006 đất trồng cây hàng năm là286.415 ha đất trồng cây lâu năm là 148.058 ha đất lâm nghiệp 94.701 ha đấtnuôi trồng thuỷ sản là 134.385 ha” [23] đây quả là con số không nhỏ phục vụcho việc cải thiện môi trường cũng như bảo vệ sinh thái.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  36. 36. 271.2- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nƣớc và ở Việt Nam1.2.1-Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước trên thế giới1.2.1.1- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước Châu á. Ở châu Á, chế độ phong kiến kéo dài cho nên kinh tế trang trại sản xuấthàng hoá ra đời chậm hơn. Tuy vậy, vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sựxâm nhập của tư bản phương tây vào các Nước Châu á, cùng với việc xâmnhập của phương thức sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa, đã làm nẩy sinhhình thức kinh tế trang trại trong nông nghiệp. Trong quá trình phát triển kinhtế trang trại ở các nước trên thế giới đã có sự biến động lớn về quy mô, sốlượng và cơ cấu trang trại. “Đặc biệt các nước vùng Đông Á như: Đài Loan 0,047 ha/người,Malaixia 0,25 ha/người, Hàn Quốc 0,053 ha/người, Nhật Bản 0,035ha/người…. các nước châu á có nền kinh tế phát triển như: Nhật Bản, HànQuốc, Đài Loan sự phát triển kinh tế trang trại cũng theo quy luật , sốlượng trang trại giảm và quy mô diện tích tăng. Ví dụ: ở Nhật bản năm1950 số lượng trang trại là 6.176.000 trang trại đến năm 1993 chỉ còn3.691.000 trang trại và diện tích bình quân năm 1950 là 0,8ha, năm 1993tăng lên là 1,38ha” [13].1.2.1.2- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước Châu âu Châu Âu cái nôi của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, đã xuấthiện hình thức tổ chức sản xuất kinh tế trang trại, thay thế cho hình thức kinhtế tiểu nông và hình thức điền trang của chế độ phong kiến. Nước Anh đầu thếkỷ XVII có sự tập trung ruộng đất đã hình thành nên những trang trại tậptrung trên quy mô rộng lớn, cùng với việc sử dụng lao động làm thuê. Mọihoạt động sản xuất kinh doanh nông nghiệp ở đây giống như mô hình hoạtđộng ở các công xưởng. Thực tế cho thấy sản xuất nông nghiệp tập trung lớnvề quy mô và sử dụng nhiều lao động làm thuê, đã không mang lại hiệu quảkinh tế cao bằng các trang trại vừa và nhỏ. Tiếp theo Nước Anh là các NướcSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  37. 37. 28Pháp, Hà Lan, Đan Mạch… Kinh tế trang trại cũng được phát triển mạnh tạora nhiều nông sản hàng hoá. Nước Anh năm 1950 có 543.000 trang trại đến năm 1957 còn có 25.400,Nước Pháp năm 1955 có 2.285.000 trang trại đến năm 1993 chỉ còn 801.400.Diện tích bình quân của các trang trại qua các năm có xu hướng tăng lên như: ởAnh năm 1950 diện tích bình quân một trang trại là 36ha, năm 1987 là 71ha. ởPháp năm 1955 là 14ha đến năm 1993 là 35ha, Cộng hoà liên bang Đức năm 1949là 11ha năm 1985 là 15ha, Hà Lan năm 1960 là 7ha đến năm 1987 là 16ha [13].1.2.1.3- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước Châu Mỹ. Nước Mỹ là nơi có kinh tế trang trại rất phát triển. Vào năm 1950 ở Mỹcó 5.648.000 trang trại và giảm dần số lượng đến năm 1960 còn 3.962.000.Trong khi đó diện tích bình quân một trang trại tăng lên, năm 1950 là 56ha,năm 1960 là 120ha, năm 1992 là 198,7ha [13]. Như vậy ở các nước Tây Âu và Mỹ số lượng trang trại đều có xu hướnggiảm nhưng về quy mô diện tích lại có xu hướng tăng lên, còn ở châu á sốlượng trang trại lại có xu hướng tăng lên nhưng chúng có đặc điểm khác kinhtế trang trại ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Do đất canh tác trên đầu người thấp, bìnhquân 0,15ha/ người. Sau đây là một số tài liệu về sự phát triển kinh tế trangtrại một số nước trên thế giới . Bảng 1.3 Diện tích bình quân của trang trại một số nƣớc trên thế giới.STT Tên nƣớc Diện tích STT Tên nƣớc Diện tích (ha) (ha) 1 Anh 64,0 7 Italia 2,0 2 Pháp 29,2 8 Inđônêxia 1,77 3 Mỹ 180 9 Nhật Bản 1,2 4 Ấn Độ 20,0 10 Pakistan 3,86 5 Đan Mạch 31,7 11 HàLan 6,4 6 Bỷ 14,0 12 Thái Lan 4,5 Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn,2001.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  38. 38. 291.2.2- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Vịêt Nam1.2.2.1- Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam qua các thời kỳa-Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ phong kiến “Trong thời kỳ này đã có chính sách khai khẩn đất hoang bằng cách lậpcác đồn điền, doanh điền được biểu hiện dưới các hình thức khác nhau như:điền trang, điền doanh, thái ấp” [25].b- Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc “Mục đích chủ yếu của thực dân Pháp thời kỳ này là khai thác thuộc địa,cho nên thực dân Pháp đã ban hành một số chính sách như: chính sách ruộng đất,chính sách thuế, nhằm thiết lập các đồn điền để tăng sức sản xuất ở khu vựcthuộc địa. Năm 1927 chỉ riêng ở Bắc kỳ đã có tới 155 đồn điền rộng từ 200hađến hơn 8.500ha. Nam Kỳ và Cao nguyên Trung Kỳ, nhiều tên thực dân đã cónhững đồn điền rộng hàng vạn ha. Đến năm 1930, số ruộng đất do thực dân Phápchiếm để lập đồn điền đã lên tới 1,2 triệu ha tương đương khoảng 1/4 diện tíchđất canh tác của ta lúc bấy giờ” [25].c - Kinh tế trang trại Việt Nam thời kỳ 1950-Nay Thời kỳ 1954-1975. ở miền Bắc nền nông nghiệp mang nặng tính kếhoạch hoá tập trung, ở đó có các hình thức tổ chức sản xuất như: Nông –Lâmtrường Quốc doanh, hợp tác xã Nông Nghiệp… Mọi tư liệu sản xuất chủ yếu làruộng đất được tập trung một cách triệt để, kinh tế tư nhân không được coi làmột thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Còn ở Miền Nam thời kỳ nàycác hình thức tổ chức sản xuất ở vùng tạm chiếm chủ yếu là các đồn điền, dinhđiền, các hợp tác xã sản xuất hàng hoá. Thời kỳ 1975 cho tới nay. Từ cuối những năm 1975 hiệu quả sản xuấttrong nền kinh tế nói chung và trong ngành nông nghiệp nói riêng là thấp kém.Trong các hợp tác xã ở Miền Bắc dẫn tới khủng hoảng của mô hình tập thể hoáSố hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  39. 39. 30nông nghiệp. Trước tình hình đó Đảng đã có Đại Hội lần thứ VI (tháng12/1986) đề ra được các chủ trương chính sách mới đặc biệt là cơ chế khoángọn tới từng hộ gia đình, tiếp đến là Nghị Quyết 10 của bộ chính trị và cùngnhiều văn bản khác của Chính phủ, đã giải phóng sức lao động và các tư liệusản xuất khác đặc biệt là đất đai. Việc đổi mới cơ chế chính sách này đã tạođiều kiện thuận lợi cho kinh tế trang trại phát triển. Theo số liệu của các địaphương dựa vào hướng dẫn về khái niệm và tiêu chí nhận dạng kinh tế trangtrại của Bộ Nông Nghiệp và phát triển nông thôn, đến nay (7/2006) nước ta có113.730 trang trại. So với năm 2001 là 61.017 trang trại tăng 86.4%. Sở dĩ sốtăng tương đối nhỏ vì xác định kinh tế trang trại theo tiêu chí mới, nên một sốtrang trại cũ đến nay không được xếp hạng. Hiện nay kinh tế trang trại đã có sựphát triển khá nhanh trên quy mô toàn quốc [23].1.2.2.2-Tình hình phát triển kinh tế trang trại của các vùng, miền ở Việt Nama-Miền núi, trung du phía Bắc. +Diện tích đất và diện tích mặt nước: với các tỉnh miền núi, trung du,bình quân đất và mặt nước canh tác mỗi trang trại là 8,96ha trong khi đó tínhtrên cả nước thì đất bình quân trên một trang trại là 5,834ha. +Lao động và lao động làm thuê: lao động bình quân/ trang trại làkhoảng 3,32 người, trong đó lao động gia đình là chủ yếu, lao động làm thuêbình quân 0,82 người. Với mức lương trung bình khoảng 600.000 –800.000đ/lao động/ tháng. +Vốn đầu tư: Theo các tài liệu điều tra nghiên cứu, báo cáo của BộNông Nghiệp và phát triển nông thôn, báo cáo thống kê của Sở nôngnghiệp các tỉnh thì vốn đầu tư bình quân của các trang trại miền núi phíaBắc là khoảng 192 triệu đồng.Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
  40. 40. 31 +Về cơ cấu: các loại hình trang trại được phản ánh qua qua (bảng 1.4): Bảng 1-4 Trang trại miền núi, Trung du phía Bắc năm 2006Vùng Số TT cây TT cây TT cây ăn TT chăn TT lâm TT nuôi TT KD TT hàng lâu năm quả nuôi nghiệp Thuỷ sản tổng hợp năm TT SL Cc% SL Cc% SL Cc% SL Cc% SL Cc% SL Cc% SL Cc%Đông 4 704 98 2,1 127 2,7 1145 24,3 1000 21,3 884 18,8 1019 21,6 431 9,2bắcTây 522 38 7,3 44 8,4 17 3,3 201 38,5 125 24 36 6,9 61 11,7bắc Nguồn: Tổng cục thống kê, 2006. Đối với vùng Đông bắc, trang trại trồng cây ăn quả, trang trại chăn nuôi và trang trại trồng cây lâm nghiệp chiếm tỷ trọng rất cao, các con số tương ứng với các loại hình này là 24,3%; 21,3% và 18,8%. Như vậy, về mặt chủ đạo, vùng Đông bắc tập trung vào các hoạt động trồng trọt là chính, nhất là cây ăn quả. Trong đó, phải kể đến các tỉnh trọng điểm trồng cây ăn quả: vải thiều được trồng nhiều ở huyện Lục Ngạn tỉnh Bắc Giang, cam được trồng nhiều ở huyện Bắc Quang, Hàm Yên, …tỉnh Tuyên Quang trong tổng các loại hình trang trại của vùng. Nhưng ngược lại vùng Tây bắc thì trang trại trồng cây ăn quả hầu như không phát triển, trong khi đó trang trại chăn nuôi và trồng cây lâm nghiệp lại rất nhiều. Ta thấy đây cũng là đặc điểm của vùng núi phía Bắc, với diện tích rất rộng nhưng địa hình lại hiểm trở nên rất thích hợp cho việc chăn nuôi nhất là chăn nuôi các đại gia súc, và trồng rừng. b-Miền đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long +Về đất và diện tích mặt nước canh tác: với hai miền này bình quân đất và mặt nước canh tác mỗi trang trại là 5,4ha trong khi đó tính trên cả nước thì đất bình quân trên một trang trại là 5,834ha. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

×