Email: luanvan84@gmail.com           dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com                                   LỜI MỞ Đ...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com                        PHẦN 1   CƠ SỞ LÝ LUẬ...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com   •   Quyền kiểm soát và nghĩa vụ: xác minh ...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com   •    Thực hiện thủ tục phân tích   •    Đá...
Email: luanvan84@gmail.com        dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comViệc thành công cuộc kiểm toán phụ thuộc trước...
Email: luanvan84@gmail.com          dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com    • Quan sát hoạt động của hệ thống kiểm s...
Email: luanvan84@gmail.com          dowload luận văn tại luanvan.forumvi.combộ của doanh nghiệp được đánh giá là hoạt độ...
Email: luanvan84@gmail.com        dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com        này thường được đánh giá là khách quan...
Email: luanvan84@gmail.com        dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com   •    Biên bản họp hội đồng quản trị hoặc bá...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com4. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán      Bằng...
Email: luanvan84@gmail.com        dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comtiền mặt thời điểm kiểm kê càng gần ngày khóa ...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com     Tính thích hợp của bằng chứng kiểm toán...
Email: luanvan84@gmail.com          dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com         Bằng chứng là sự tổng hoà của các k...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com2. Phương pháp lấy xác nhận      Xác nhận là ...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comchứng từ với sổ kế toán, giữa sổ kế toán với ...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com      Ưu điểm: Được sử dụng phổ biến, thực hi...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com        có thể thu thập được nhiều thông tin ...
Email: luanvan84@gmail.com          dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com7. Phương pháp phân tích      Là sự xem xét ...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com    Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin tà...
Email: luanvan84@gmail.com            dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com    các tài khoản cần xem xem xét giữa các...
Email: luanvan84@gmail.com         dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com            việcKiểm tra    Biên bản   Cao   ...
Email: luanvan84@gmail.com          dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com     Bằng chứng thu được từ thủ tục phân tíc...
Email: luanvan84@gmail.com        dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com                                    PHẦN 2 THỰ...
Email: luanvan84@gmail.com        dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com      Ngày 07/05/2007, Công ty chuyển đổi sở h...
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

7,327 views

Published on

luận văn kiểm toán: Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

Published in: Education
2 Comments
7 Likes
Statistics
Notes
  • NHẬN LÀM SLIDE GIÁ RẺ CHỈ VỚI 10.000Đ/1SLIDE. DỊCH VỤ NHANH CHÓNG HIỆU QUẢ LIÊN HỆ: ĐT (0985.916872) MAIL: yuht84@gmail.com
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • good
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
7,327
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
160
Actions
Shares
0
Downloads
0
Comments
2
Likes
7
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AAC

  1. 1. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com LỜI MỞ ĐẦU Ngày nay, trong tiến trình hội nhập và phát triển nền kinh tế thế giới, nền kinh tếnước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, bước chuyển mình vượt bậc. Với chínhsách mở cửa và tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển, môi trường kinh doanh ngàycàng rộng mở, nhiều doanh nghiệp ra đời với quy mô lớn, thu hút ngày càng đông đảo sựquan tâm của các nhà đầu tư, của những người quan tâm tới tình hình tài chính của doanhnghiệp. Vấn đề minh bạch báo cáo tài chính lại càng trở nên cần thiết. Nhu cầu về kiểmtoán càng trở thành tất yếu, kiểm toán không chỉ là công cụ kiểm tra tính chính xác củabáo cáo tài chính, cung cấp các thông tin tạo niềm tin cho người quan tâm mà kiểm toánđã phát triển thành một nghề cung cấp các dịch vụ về kiểm toán, tư vấn tài chính, gópphần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý …và ngày càng nắm giữ vị trí quan trọngtrong nền kinh tế. Về thực chất, hoạt động kiểm toán Báo cáo tài chính là quá trìnhthu thập và đánh giá các bằng chứng về các Báo cáo tài chính dựa trên các cơ sở dẫn liệucủa chúng. Các loại bằng chứng kiểm toán khác nhau sẽ ảnh hưởng khác nhau đến kếtluận trên báo cáo kiểm toán. Những kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợplý của Báo cáo tài chính trong cuộc kiểm toán đóng vai trò hết sức quan trọng đối vớiquyết định của các nhà đầu tư, đối với sự phát triển lành mạnh của doanh nghiệp, cũngnhư nền kinh xã hội. Do đó, kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần nhận thức được vaitrò của mỗi loại bằng chứng để có thể thu thập các bằng chứng kiểm toán thích hợp vàđầy đủ trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán của mình và đánh giá một cách đầy đủ vàhợp lý nhất, từ đó đưa ra được ý kiến phù hợp về báo cáo tài chính được kiểm toán. Cóthể nói, sự thành công của một cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập vàsau đó là đánh giá bằng chứng kiểm toán của KTV. Nhận thấy ý nghĩa thiết thực và vaitrò quan trọng cũng như có nhiều vấn đề khác nhau giữa lý thuyết và thực tế nênem đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểmtoán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾTOÁN AAC”. Đề tài đã phần nào nêu ra được thực tế vận dụng các kỹ thuật vànhận ra những mặt còn tồn đọng từ đó nêu kiến nghị một số giải pháp dựa trên lýthuyết tìm hiểu. Em hi vọng với những kiến thức học tập trên trường và thực tế tìmhiểu được, đề tài này sẽ góp phần hoàn thiện hơn công tác sử dụng các kỹ thuật thuthập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính. Chuyên đề tốt nghiệp bao gồm ba phần chính sau: Phần 1: Cơ sở lý luận về bằng chứng kiểm toán và các phương pháp thuthập bằng chứng kiểm toán Phần 2: Thực tế việc áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toántrong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AACthực hiện Phần 3: Đánh giá và một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện kỹ thuật thuthập bằng chứng kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHHKiểm toán và Kế toán AAC.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 1
  2. 2. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN VÀ CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁNI. Tổng quan về kiểm toán BCTC1. Khái niệm kiểm toán BCTC Có nhiều cách định nghĩa về kiểm toán khác nhau, nhưng theo cách hiểuchung và bản chất của kiểm toán được định nghĩa như sau: “Kiểm toán là một quátrình mà qua đó một người độc lập, có thẩm quyền thu thập và đánh giá các bằngchứng về các thông tin số lượng có liên quan đến một tổ chức kinh tế cụ thể nhằmmục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin số lượng đó với cácchuẩn mực đã được xác định”. Nếu kế toán có nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tincho các quyết định kinh tế của tổ chức liên quan thì kiểm toán có trách nhiệm kiểmtra, đánh giá và đảm bảo nâng cao độ tin cậy của các thông tin kế toán. Hoạt động kiểm toán có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau,mà căn cứ theo đối tượng cụ thể có thể phân thành kiểm toán báo cáo tài chính(BCTC), kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ. Trong đó, kiểm toán BCTClà hoạt động chủ yếu và phổ biến và đặc trưng nhất của kiểm toán ngay từ khi rađời cũng như trong quá trình phát triển. Đối tượng trực tiếp của kiểm toán BCTClà bản khai tài chính. Bộ phận quan trọng của những bản khai này là các BCTC.Theo chế độ kế toán nước ta, các báo cáo tài chính của đơn vị bao gồm: Bảng cânđối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ vàthuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra, bảng khai tài chính còn bao gồm nhữngbảng kê khai có tính chất pháp lý khác như các bảng dự toán và quyết toán ngânsách nhà nước, các bảng dự toán và quyết toán các công trình xây dựng cơ bản, cácbảng kê khai tài sản cá nhân… Kiểm toán báo cáo tài chính là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểmtoán của các KTV nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnhtrọng yếu của báo cáo tài chính. Mức độ trung thực, hợp lý, hợp pháp của các bản khai tài chính được xácminh dựa trên chuẩn mực kế toán. Kiểm toán tài chính được thực hiện dựa trên hệ thống chuẩn mực kiểm toán. Kết quả xác minh các bản khai tài chính được trình bày trên báo cáo kiểmtoán.2. Mục tiêu kiểm toán BCTC Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam 200, mục tiêu của kiểm toán BCTC là:  Giúp cho KTV đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không.  Giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Các mục tiêu kiểm toán chung: • Sự tồn tại và phát sinh: xác minh tính có thật của tài sản và nợ phải trả trên BCĐKT, doanh thu và chi phí trên Báo cáo KQKD. • Sự đầy đủ: xác minh tài sản, nguồn vốn và các nghiệp vụ được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và được phản ánh đầy đủ trên BCTC.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 2
  3. 3. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • Quyền kiểm soát và nghĩa vụ: xác minh quyền kiểm soát đối với tài sản và nghĩa vụ pháp lý đối với nguồn vốn của đơn vị trên BCĐKT. • Sự ghi chép chính xác: xác minh các nghiệp vụ kinh tế được ghi nhận đúng tài khoản, đúng số tiền và đúng kỳ kế toán; sự đúng đắn của việc chuyển sổ, cộng số phát sinh, tính số dư và lên BCTC. • Sự đánh giá: xác minh các đối tượng kế toán được đánh giá phù hợp với nguyên tắc kế toán. • Sự trình bày và khai báo: xác minh tài sản, nợ phải trả, vốn CSH, doanh thu, chi phí được trình bày và thuyết minh phù hợp với chuẩn mực kế toán. Mục tiêu kiểm toán cụ thể: là các mục tiêu kiểm toán riêng cho từng khoảnmục hoặc chu trình, được xác định trên cơ sở: • Mục tiêu kiểm toán chung • Đặc điểm của khoản mục hay chương trình • Đặc điểm hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ liên quan đến khoản mục hay chu trình đó.3. Vai trò của kiểm toán Hoạt động kiểm toán xuất phát từ yêu cầu quản lý và phục vụ cho yêu cầuquản lý. Có thể khái quát vai trò của kiểm toán BCTC qua các mặt chủ yếu sau:  Tạo niềm tin cho những người quan tâm đến tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong các tài liệu kế toán. Các đối tượng quan tâm đến BCTC bao gồm các cơ quan Nhà nước, các nhàđầu tư, nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác, người lao động, kháchhàng, nhà cung cấp…Các đối tượng này không cần hoặc không thể biết tất cả cácnghiệp vụ tài chính kế toán nhưng cũng cần biết thực trạng của hoạt động này. Chỉcó kiểm toán BCTC mới mang lại cho họ niềm tin vào những xác minh độc lập vàkhách quan, từ đó có thể đưa ra các quyết định kinh tế đúng đắn  Góp phần hướng dẫn nghiệp vụ, củng cố nền họat động tài chính kế toán nói riêng và quản lý nói chung Bởi lẽ các hoạt động liên quan đến tài chính kế toán bao gồm rất nhiều mốiquan hệ đa dạng, luôn luôn biến đổi và cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể.Để hướng các nghiệp vụ này vào mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp ngoài việccó định hướng và thực hiện tốt các định hướng mà cần phải thực hiện thườngxuyên các soát xét việc thực hiện để hướng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mongmuốn.  Góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý.4. Khái quát quá trình kiểm toán BCTC Lập kế Thực hiện kiểm toán Kết thúc hoạch kiểm kiểm toán toán  Chuẩn bị kiểm toán • Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán • Thu thập thông tin cơ sở • Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàngSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 3
  4. 4. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • Thực hiện thủ tục phân tích • Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro • Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của KH và đánh giá RRKS • Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát • Thiết kế chương trình kiểm toán  Thực hiện kiểm toán • Thực hiện thử nghiệm kiểm soát (nếu có): nhằm thu thập bằng chứng nhằm đánh giá tính hữu hiệu của HTKSNB. • Thực hiện thử nghiệm cơ bản: nhằm thu thập bằng chứng nhằm phát hiện các sai sót trọng yếu trong BCTC. + Thực hiện thủ tục phân tích: là việc so sánh các thông tin, nghiên cứu xuhướng nhằm phát hiện biến động bất thường. + Thực hiện các thử nghiệm chi tiết: là việc kiểm tra số dư và nghiệp vụ bằngcác phương pháp thích hợp.  Kết thúc kiểm toán: là quá trình tổng hợp và rà soát lại những bằng chứng thu thập được để KTV hình thành nên ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán. • Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ • Xem xét giả thiết hoạt động liên tục của khách hàng • Đánh giá tổng quát kết quả kiểm toán • Lập báo cáo kiểm toánII. Khái niệm, phân loại và yêu cầu đối với bằng chứng kiểm toán1. Khái niệm bằng chứng kiểm toán Báo cáo kiểm toán đã đưa ra ý kiến xác nhận về tính trung thực và hợp lý củabáo cáo tài chính đơn vị được kiểm toán. Để đánh giá, nhận xét và đưa ra ý kiến vềbáo cáo tài chính của đơn vị đã được kiểm toán, kiểm toán viên cần thu thập cácbằng chứng kiểm toán làm cơ sở cho những kết luận của mình. Bằng chứng kiểmtoán quyết định tính đúng đắn, chính xác các nhận xét của kiểm toán viên, quyếtđịnh sự thành công của cuộc kiểm toán. Việc thu thập bằng chứng kiểm toán làtrung tâm của cuộc kiểm toán. Theo Chuẩn mực kiểm toán số 500 ban hành theo quyết định số219/2000/QĐ/BTC ngày 29/12/2000 của Bộ trưởng tài chính về bằng chứng kiểmtoán ta có khái niệm về bằng chứng kiểm toán như sau: “Bằng chứng kiểm toán làtất cả những tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộckiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến củamình”. Như vậy, bằng chứng kiểm toán bao gồm cả thông tin nhân chứng và thôngtin vật chứng mà kiểm toán viên thu thập làm cơ sở cho ý kiến của mình về báocáo tài chính được kiểm toán. Bằng chứng kiểm toán có tính đa dạng. Các loạibằng chứng kiểm toán khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến việc hình thành ýkiến kết luận kiểm toán. Do đó, kiểm toán viên cần có nhận thức cụ thể về các loạibằng chứng một cách hữu hiệu khi thực hành kiểm toán.2. Ý nghĩa và vai trò của bằng chứng kiểm toán Bằng chứng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đưa ra ý kiến, nó là cơ sở vàlà một trong những yếu tố quyết định độ chính xác và ý kiến của kiểm toán viên.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 4
  5. 5. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comViệc thành công cuộc kiểm toán phụ thuộc trước hết vào việc thu thập bằng chứngvà đánh giá bằng chứng của kiểm toán viên. Một khi kiểm toán viên không thuthập đầy đủ và đánh giá không đúng các các bằng chứng chính xác, thích hợp thìkiểm toán viên khó có thể đưa ra một nhận định chính xác về đối tượng cần kiểmtoán. Chuẩn mực Kiểm toán số 500 có quy định: Kiểm toán viên và công ty kiểmtoán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa raý kiến của mình về Báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán Thông qua đó ta có thể thấy một ý nghĩa rất quan trọng đối với các tổ chứckiểm toán độc lập, các cơ quan cơ quan kiểm toán nhà nước hoặc cơ quan pháp lý,bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát đánh giá chất lượng hoạt động củakiểm toán viên trong quá trình thực hiện kiểm toán. Việc giám sát này có thể donhà quản lý tiến hành đối với các kiểm toán viên thực hiện kiểm toán hoặc có thểdo cơ quan tư pháp tiến hành đối với chủ thể kiểm toán nói chung. Việc thu thập bằng chứng nhằm đánh giá tính trung thực của BCTC, chúngcó được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hay không và đưara một BCTC thích hợp. Chỉ khi việc thu thập bằng chứng đầy đủ thì KTV mới cóthể đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của BCTC. Mục tiêu kiểm toán củathu thập bằng chứng kiểm toán nhằm cung cấp một bố cục để giúp KTV tập hợpnhững chứng cứ cần thiết và quyết định đúng đắn bằng chứng cần thu thập có căncứ tình huống hợp đồng. Các mục tiêu không thay đổi giữa các cuộc kiểm toánnhưng chứng cứ thì thay đổi, phụ thuộc vào các tình huống. Một bằng chứng chỉ có thể thảo mãn một mục tiêu hay một vài mục tiêu kiểmtoán chứ không thể thoản mãn toàn bộ các mục tiêu kiểm toán đề ra, chính vì vậykhi thu thập bằng chứng KTV phải luôn hướng vào mục tiêu kiểm toán. Chỉ khihướng vào mục tiêu, bằng chứng cần tìm thì KTV mới có thể xác định bằng chứngđang ở đâu, với đối tượng nào. Tránh tìm tràn lan nhưng không thỏa mãn mục tiêukiểm toán làm ảnh hưởng tới việc đưa ra kết luận của KTV. Ngoài ra nó còn làmtăng chi phí kiểm toán khi bằng chứng thu thập một cách không hiệu quả.3. Phân loại bằng chứng kiểm toán Trong thực tế có nhiều loại bằng chứng kiểm toán khác nhau. Để giúp choviệc nghiên cứu, xét đoán và sử dụng bằng chứng kiểm toán được tiện lợi và hữuhiệu cần phải tiến hành phân loại bằng chứng kiểm toán. 3.1. Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc hình thành Phân loại bằng chứng kiểm toán theo nguồn gốc là căn cứ vào nguồn gốc củathông tin, tài liệu có liên quan đến báo cáo tài chính mà kiểm toán viên thu thậpđược trong quá trình kiểm toán. Theo cách phân loại này, bằng chứng kiểm toán được chia thành các loại sau(sắp xếp theo thứ tự giảm dần độ tin cậy):  BCKT do kiểm toán viên tự khai thác và phát hiện bằng cách: • Kiểm kê tài sản thực tế : như biên bản kiểm kê hàng tồn kho, kiểm kê tài sản cố định, kiểm kê quỹ, …. • Tính toán lại các biểu tính toán của doanh nghiệp: như các số liệu, tài liệu do kiểm toán viên tính toán lại có sự xác nhận của doanh nghiệp hoặc những người liên quan là hợp lý.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 5
  6. 6. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • Quan sát hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ: là những thông tin, tài liệu do kiểm toán viên ghi chép lại thông qua việc quan sát hệ thống kiểm soát nội bộ doanh nghiệp, có dẫn chứng theo thời gian khảo sát… • Bảng câu hỏi phỏng vấn • Bảng phân tích số liệu Đây là loại bằng chứng có độ tin cậy cao nhất vì nó được thực hiện trực tiếpbởi kiểm toán viên. Song nhiều lúc nó còn mang tính thời điểm tại lúc kiểm tra,như việc quan sát hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp thìkiểm toán viên phải tiến hành bí mật nhằm đảm bảo cho bằng chứng thu thập đượccó độ tin cậy cao hơn, kiểm kê hàng tồn kho phụ thuộc vào tính chất vật lý củachúng theo từng thời điểm khác nhau mà có những kết quả khác nhau.  BCKT do bên thứ 3 cung cấp từ các nguồn khác nhau Các bằng chứng do những người bên ngoài đơn vị cung cấp trực tiếp chokiểm toán viên, như: các bảng xác nhận nợ phải trả của các chủ nợ, bảng xác nhậncác khoản phải thu của các khác nợ, hoặc số dư tiền gửi ngân hàng đã được ngânhàng xác nhận, hóa đơn bán hàng… Các bằng chứng được lập do đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có liên quanđến báo cáo tài chính của doanh nghiệp, như hoá đơn bán hàng cho doanh nghiệp,số phụ ngân hàng… Các ghi chép độc lập hoặc các báo cáo thống kê tổng hợp theo chuyên ngànhcó liên quan đến doanh nghiệp…  BCKT do các đối tượng khác phát hành lưu trữ tại doanh nghiệp: hoá đơnbán hàng, hoá đơn mua hàng, biên bản bàn giao tài sản cố định, sổ phụ ngânhàng… Loại bằng chứng có độ thuyết phục cao bởi nó được tạo từ bên ngoài, tuynhiên loại bằng chứng này vẫn có khả năng tẩy xoá, thêm bớt ảnh hưởng đến độtin cậy của kiểm toán đối với với hoạt động kiểm soát trong doanh nghiệp.  BCKT do doanh nghiệp phát hành và luân chuyển ở bên ngoài đơn vị Chứng từ, tài liệu do doanh nghiệp phát hành và chuyển đến các đơn vị khácsau đó quay trở lại đơn vị như: các uỷ nhiệm chi… Đây là dạng bằng chứng cótính thuyết phục cao vì nó được cung cấp bởi bên thứ ba tuy nhiên nó cần phảiđảm bảo được tính độc lập của người cung cấp với doanh nghiệp.  BCKT do doanh nghiệp phát hành và luân chuyển đến các bộ phận nội bộđơn vị và các thông tin mà doanh nghiệp cung cấp cho kiểm toán viên. • Chứng từ, tài liệu do doanh nghiệp phát hành và luân chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, như các phiếu chi, phiếu xuất vật tư, hoá đơn bán hàng, bảng chấm công, sổ thanh toán tiền lương, sổ tổng hợp, sổ chi tiết, phiếu kiểm tra sản phẩm, phiếu xuất kho, phiếu nhập kho… • Các sổ kế toán, báo cáo kế toán của doanh nghiệp lập • Những thông tin (lời nói, ghi chép..) của cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ hoặc những giải trình của những người có liên quan trong đơn vị cho kiểm toán viên… Bằng chứng này chiếm một số lượng lớn, khá phổ biến vì nó vì nó là nguồntài liệu sẵn có và được lưu giữ tại đơn vị. Do bằng chứng này có nguồn gốc từ nộibộ doanh nghiệp, nên chúng chỉ thực sự có độ tin cậy khi hệ thống kiểm soát nộiSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 6
  7. 7. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.combộ của doanh nghiệp được đánh giá là hoạt động hiệu quả và có hiệu lực thực sự,do vậy tính thuyết phục của loại bằng chứng này không cao. 3.2. Phân loại bằng chứng kiểm toán theo loại hình bằng chứng Độ tin cậy còn được đánh giá qua hình thức của bằng chứng, với việc đánhgiá độ tin cậy thông qua nguyên tắc: Bằng chứng dưới dạng văn bản, hình ảnh,đáng tin cây hơn bằng chứng ghi lại từ lời nói. Việc phân loại bằng chứng theo loạihình bằng chứng bao gồm:  Các bằng chứng vật chất là các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thậpđược trong quá trình thanh tra hoặc quá trình kiểm kê các tài sản hữu hình như:hàng tồn kho, tài sản cố định hữu hình, tiền mặt, các loại chứng khoán… Thuộc loại này gồm có các biên bản kiểm kê hàng tồn kho, biên bản kiểm kêquỹ tiền mặt, các chứng khoán, biên bản kiểm kê TSCĐ hữu hình…. Các bằng chứng vật chất có độ tin cậy cao nhất, bởi vì bằng chứng vật chấtđược đưa ra từ việc kiểm tra trực tiếp để xác minh tài sản có thực hay không.  Các bằng chứng tài liệu: là các bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập đượcqua việc cung cấp tài liệu, thông tin của các bên liên quan theo yêu cầu của kiểmtoán viên. Thuộc loại này gồm: • Các ghi chép kế toán và ghi chép nghiệp vụ của doanh nghiệp, các báo cáo kế toán, các bản giải trình của các nhà quản lý doanh nghiệp… • Các chứng từ, tài liệu do các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp cung cấp như: các văn bản các giấy xác nhận, các báo cáo của bên thứ 3 có liên quan đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp được kiểm toán như cơ quan thuế, hải quan, bên bán, bên mua… • Các tài liệu tính toán lại của KTV: thông qua việc xác minh, phân tích số liệu, tài liệu, kiểm toán viên tính toán lại số liệu của doanh nghiệp được kiểm toán để đưa ra những bằng chứng cho những ý kiến có lý của mình như: tính toán lại giá các hoá đơn, việc tính trích khấu hao TSCĐ, tính giá thành, phân bổ chi phí, khoá sổ kế toán, quá trình lấy số liệu để lập báo cáo kế toán.. Các bằng chứng tài liệu này củng cố tính thuyết phục, nhưng độ tin cậykhông cao bằng những bằng chứng vật chất, độ tin cậy của chúng phụ thuộc vàotính hiệu lực của bộ phận kiểm soát nội bộ.  Dạng bằng chứng thu được từ lời nói. Dạng bằng chứng này thường đươc thu thập qua phương pháp phỏng vấn, nómang tính thuyết phục không cao, song lại đòi hỏi sự hiểu biết của người phỏngvấn khá cao về độ am hiểu vấn đề cần phỏng vấn. 3.3. Phân loại bằng chứng kiểm toán theo tính thuyết phục Vì bằng chứng kiểm toán được sử dụng để trực tiếp đưa ra ý kiến khác nhauvề tính trung thực của báo cáo tài chính đơn vị kiểm toán phát hành nên KTV cầnphải xem xét mức độ tin cậy của chúng. Việc đưa ra ý kiến của kiểm toán viêntrong báo cáo kiểm toán có mức độ tương ứng đối với tính thuyết phục của bằngchứng. Theo cách này bằng chứng được phân loại như sau:  Bằng chứng có tính thuyết phục hoàn toàn: Đây là loại bằng chứng do kiểm toán viên thu thập bằng cánh tự kiểm kê, đánh giá và quan sát. Bằng chứngSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 7
  8. 8. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com này thường được đánh giá là khách quan, chính xác và đầy đủ. Dựa vào ý kiến này kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần.  Bằng chứng thuyết phục từng phần như: bằng chứng thu được từ phỏng vấn cần phải phân tích và kiểm tra lại, các loại bằng chứng thường được đảm bảo bởi hệ thống kiểm soát nội bộ. Chúng chỉ thật sự có tính thuyết phục khi bộ máy kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp là thực sự tồn tại và có hiệu lực. Dựa vào loại bằng chứng này kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần.  Bằng chứng không có giá trị thuyết phục: là bằng chứng không có giá trị trong việc ra ý kiến, quyết định của kiểm toán viên về việc kiểm toán. 3.4. Các bằng chứng đặc biệt Ngoài các kiểu bằng chứng kiểm toán cơ bản được thu thập đã nói ở trên,trong một số trường hợp đặc biệt kiểm toán viên cần thu thập thêm một số bằngchứng kiểm toán khác. Các bằng chứng này thường là các: ý kiến của chuyên gia,giải thích của ban giám đốc và nhân viên kế toán đơn vị, sử dụng tài liệu của kiểmtoán viên nội bộ hay của kiểm toán viên khác, hoặc là bằng chứng về các bên liênquan....  Ý kiến của chuyên gia: Do kiểm toán viên không thể am tường tất cả mọilĩnh vực của xã hội, vì vậy các chuẩn mực kiểm toán cho phép họ được sử dụng ýkiến của những chuyên gia có năng lực, kiến thức và kinh nghiệm cụ thể trong mộtlĩnh vực chuyên môn nào đó, ngoại trừ lĩnh vực kế toán và kiểm toán. Ví dụ nhưđánh giá giá trị của tài sản quý hiếm, công trình nghệ thuật... Bằng chứng này sử dụng trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán. Khi kiểmtoán viên thu thập thông tin cơ sở về đơn vị được kiểm toán thì cần phải dự kiếnnhu cầu sử dụng chuyên gia nếu thấy cần thiết và đã xem xét, cân nhắc những yếutố như: • Tính trọng yếu của khoản mục cần được xem xét trong báo cáo tài chính • Rủi ro có sai sót do tính chất và mức độ phức tạp của khoản mục đó • Số lượng và chất lượng của các bằng chứng kiểm toán khác có thể thu thập được Với ý kiến các chuyên gia, kiểm toán viên chỉ nên thu thập khi thực sự cầnthiết, khi không có bằng chứng nào thay thế và chỉ với những thủ tục kiểm toáncần thiết. Tuy nhiên, dù kiểm toán viên có sử dụng ý kiến chuyên gia làm bằngchứng kiểm toán vẫn đòi hỏi kiểm toán viên là người chịu trách nhiệm sau cùng vềý kiến nhận xét đối với báo cáo tài chính được kiểm toán.  Giải trình của ban giám đốc: kiểm toán viên cần phải thu thập bằng chứngvề việc giám đốc đơn vị được kiểm toán thừa nhận trách nhiệm của mình trongviệc lập và trình bày trung thực và hợp lý báo cáo tài chính phù hợp với chuẩn mựcvà chế độ kế toán hiện hành và đã phê duyệt báo cáo tài chính. Kiểm toán viên sẽlà người đánh giá lại độ tin cậy của tất cả các giải trình của giám đốc trong quátrình kiểm toán và xem xét mức độ ảnh hưởng của nó đến báo cáo tài chính và phảiđưa ra ý kiến chấp nhận từng phần hoặc từ chối. Các giải trình bằng văn bản được đánh giá là các bằng chứng kiểm toán cógiá trị cao hơn các giải trình bằng lời nói. Các giải trình bằng văn bản được thểhiện dưới các hình thức sau: • Bản giải trình của giám đốcSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 8
  9. 9. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com • Biên bản họp hội đồng quản trị hoặc báo cáo tài chính đã được giám đốc ký duyệt Hạn chế của loại bằng chứng giải trình là độ tin cậy không cao do bằng chứngnày được cung cấp từ phía doanh nghiệp, do đó phụ thuộc vào mức độ liêm khiết,trung thực của giám đốc.  Tư liệu của kiểm toán viên nội bộ: Kiểm toán nội bộ là một bộ phận trong hệthống kiểm soát nội bộ của một đơn vị, có chức năng kiểm tra, đánh giá tính phùhợp, hiệu quả, sự tuân thủ pháp luật và các quy định của hệ thống kế toán và hệthống kiểm soát của đơn vị đó. Hoạt động kiểm toán nội bộ hiệu quả có thể cho phép kiểm toán viên độc lậpthay đổi nội dung, lịch trình và thu hẹp phạm vi thủ tục kiểm toán, nhưng khôngthể hoàn toàn không thực hiện các thủ tục này. Ý kiến của kiểm toán viên nội bộkhông đạt được mức độ khách quan như ý kiến của kiểm toán viên độc lập, kiểmtoán viên độc lập chịu trách nhiệm hoàn toàn về ý kiến độc lập của mình đối vớibáo cáo tài chính, do đó kiểm toán viên độc lập phải đánh giá được hoạt động củakiểm toán viên nội bộ, cân nhắc có nên sử dụng loại bằng chứng này hay không.  Tư liệu của các kiểm toán viên khác: Công việc của kiểm toán viên chínhđôi khi cần sự hỗ trợ lớn từ các kiểm toán viên khác. Vấn đề này phát sinh khikiểm toán báo cáo tài chính của một đơn vị có nhiều bộ phận (chi nhánh, công tycon, công ty liên doanh hay công ty thành viên của tập đoàn…) đã được kiểm toánbởi các kiểm toán viên khác. Không gọi là kiểm toán viên khác trong trường hợp hai hoặc nhiều kiểm toánviên được bổ nhiệm đồng kiểm toán cho một đơn vị và cũng không đề cập đến mốiquan hệ giữa kiểm toán viên năm nay và kiểm toán viên năm trước. Kiểm toán viên có thể thảo luận với kiểm toán viên khác về các thủ tục kiểmtoán đã được kiểm toán viên khác thực hiện hoặc xem xét hồ sơ kiểm toán củakiểm toán viên khác. Việc thực hiện các thủ tục kiểm toán này phụ thuộc vào từngtình huống của kiểm toán và sự đánh giá của kiểm toán viên chính về năng lựcchuyên môn của kiểm toán viên khác. Thay vì phải thực hiện lại công việc kiểmtoán tại các bộ phận, kiểm toán viên chính có thể sử dụng công việc của các kiểmtoán viên khác.  Tư liệu của các bên hữu quan: Bên liên quan và những mối quan hệ với cácbên liên quan có ảnh hưởng lớn đến nhận định của người sử dụng báo cáo tàichính. Thông tin về các bên này cần phải được công bố những vấn đề cần thiết đểgiúp người sử dụng hiểu được về bản chất của các mối liên hệ và những nhiệm vụphát sinh giữa các bên liên quan. Các bên được coi là liên quan nếu một bên cókhả năng kiểm soát hoặc ảnh hưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyếtđịnh tài chính và hoạt động. Mục đích của việc thu thập bằng chứng về các bên hữu quan để xác định liệuban giám đốc đã xác minh và thuyết minh một cách đầy đủ về các bên hữu quan vànghiệp vụ với các bên hữu quan chưa. Theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán, sự tồntại của các bên hữu quan và nghiệp vụ giữa các bên có thể ảnh hưởng tới báo cáotài chính.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 9
  10. 10. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com4. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán Bằng chứng kiểm toán phải đạt được những yêu cầu nhất định về mặt chấtlượng và số lượng, hai khái niệm thích hợp và đầy đủ được sử dụng để chỉ về haiyêu cầu này. 4.1. Tính thích hợp Sự thích hợp của bằng chứng kiểm toán là khái niệm chỉ chất lượng hay độtin cậy của bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng có tính thích hợp khi nó có độ tincậy, nó thể hiện đúng mục tiêu kiểm toán và phản ánh đúng tính chất của các hoạtđộng, từ đó mới giúp kiểm toán viên chính xác hơn trong việc đưa ra báo cáo kiểmtoán. Hai khía cạnh của sự thích hợp phải được xem xét một cách đồng thời bởi vìbằng chứng kiểm toán có thể có độ tin cậy cao nhưng không liên quan đến mụctiêu kiểm toán, và ngược lại.4.1.1. Tính tin cậy Mức độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tốnhư nguồn gốc và bản chất của thông tin. Để xem xét vấn đề này, kiểm toán viêncần chú ý đến các nhân tố sau đây:  Nguồn gốc của bằng chứng kiểm toán. Bằng chứng có nguồn gốc càng độc lập với đối tượng kiểm toán thì càng cóhiệu lực, độ tin cậy cao (xem lại phần phân loại bằng chứng theo nguồn gốc hìnhthành).  Dạng bằng chứng kiểm toán. Độ tin cậy còn phụ thuộc vào dạng của bằng chứng kiểm toán. • Bằng chứng vật chất đạt được do kiểm kê hoặc tham gia kiểm kê và các hiểu biết của kiểm toán viên về lĩnh vực kiểm toán được coi là hai dạng bằng chứng có độ tin cậy cao nhất; • Bằng chứng ở dạng tài liệu (chứng từ, sổ sách) có độ tin cậy kém hơn so với dạng vật chất; • Bằng chứng thu thập qua phỏng vấn có độ tin cậy thấp hơn so với bằng chứng tài liệu; • Bằng chứng gốc thì đáng tin cậy hơn bằng chứng photo hoặc fax.  Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị Bộ phận nào có kiểm soát nội bộ hữu hiệu thì các bằng chứng kiểm toán cóliên quan đến các tài liệu kế toán, quy chế kiểm soát... của bộ phận đó sẽ có độ tincậy cao hơn.  Sự kết hợp giữa các loại bằng chứng Một nhóm bằng chứng kiểm toán thu thập từ những nguồn khác nhau, ở cácdạng khác nhau nhưng cùng xác nhận như nhau về một vấn đề sẽ có độ tin cậy lớnhơn so với từng bằng chứng riêng lẻ. Ngược lại, khi bằng chứng từ các nguồn khácnhau lại cho kết quả trái ngược nhau, lúc này kiểm toán viên phải xem xét vấn đềmột cách thận trọng, và có thể phải thực thi các thủ tục kiểm toán bổ sung để xácminh.  Thời điểm thu thập bằng chứng kiểm toán Tính thời điểm của bằng chứng kiểm toán sẽ đặc biệt quan trọng trong việcxác minh các tài sản lưu động, nợ ngắn hạn. Bằng chứng được thu thập cànggần ngày lập báo cáo tài chính thì đáng tin cậy hơn. Chẳng hạn, đối với tài khoảnSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 10
  11. 11. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comtiền mặt thời điểm kiểm kê càng gần ngày khóa sổ thì bằng chứng kiểm kê có độtin cậy cao hơn.  Các nhân tố khác Trong từng trường hợp cụ thể, độ tin cậy còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân tốkhác. Ví dụ trong thủ tục phỏng vấn, sự hiểu biết của người được phỏng vấn vềvấn đề đang tìm hiểu sẽ ảnh hưởng đến độ tin cậy của các bằng chứng đạt được.4.1.2. Tính liên quan Tức là bằng chứng có liên quan đến mục tiêu kiểm toán. Chẳng hạn khi mụctiêu kiểm toán là sự hiện hữu của hàng tồn kho, kiểm toán viên phải lựa chọn mẫugồm số dư các khoản mục hàng tồn kho trên sổ sách kế toán và thu thập bên chứngtừ về sự tồn tại của chúng trong thực tế tại kho. Thế nhưng khi mục tiêu kiểm toánlà sự đầy đủ, kiểm toán viên phải lựa chọn một số hàng tồn kho trong kho và thuthập bằng chứng chứng minh những mặt hàng này đã được ghi chép đầy đủ vào sổsách. Như vậy, có thể thấy bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ khác nhau vớimỗi mục tiêu kiểm toán khác nhau, nhưng để được coi là thích hợp, các bằngchứng kiểm toán phải liên quan đến mục tiêu kiểm toán. Rõ ràng là kiểm toán viênkhông thể lấy các bằng chứng xác minh sự tồn tại của hàng tồn kho để làm bằngchứng cho sự đầy đủ của việc ghi chép. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, trong một số trường hợp, một loại bằngchứng kiểm toán vẫn có thể sử dụng cho nhiều mục tiêu kiểm toán cụ thể. Kiểmtoán viên cần nắm bắt được vấn đề này để có thể phối hợp công tác kiểm toán saocho thích hợp, tránh bị trùng lặp nhưng vẫn đạt hiệu quả. Ví dụ việc chọn mẫu gởithư xin xác nhận của khách hàng có thể sử dụng cho mục tiêu sự tồn tại và quyềnnghĩa vụ. Bên cạnh độ tin cậy, sự thích hợp của bằng chứng kiểm toán trong các thửnghiệm cơ bản còn đòi hỏi sự phù hợp giữa bằng chứng với cơ sở dẫn liệu màkiểm toán viên muốn xác minh. Bởi lẽ, một bằng chứng kiểm toán có thể có độ tincậy cao nhưng vẫn không thích hợp với cơ sở dẫn liệu cần xem xét. Ví dụ, thư xácnhận của khách hàng tuy là một bằng chứng có độ tin cậy cao do được cung cấptrực tiếp cho kiểm toán viên, nhưng nó chỉ chứng minh rằng khoản phải thu đó cóthật (cơ sở dẫn liệu hiện hữu và quyền) nhưng lại không thể chứng minh cho khảnăng thu hồi khoản phải thu (cơ sở dẫn liệu đánh giá). 4.2. Tính đầy đủ Sự đầy đủ của bằng chứng kiểm toán là khái niệm chỉ số lượng của các bằngchứng mà kiểm toán viên phải thu thập để dựa vào đó đưa ra ý kiến của mình. Đâylà một vấn đề không có thước đo chung, không có quy định nào của chuẩn mực vềyêu cầu cần bao nhiêu bằng chứng là đủ mà số lượng bằng chứng kiểm toán đưara đủ để đưa ra ý kiến phụ thuộc vào sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên.Một bằng chứng tuy đạt yêu cầu thích hợp nhưng sẽ không thể sử dụng làm cơ sởý kiến cho kiểm toán viên nếu không đáp ứng yêu cầu đầy đủ. Thí dụ, để kết luậnrằng nợ phải thu hiện hữu trong thực tế, thư xác nhận là bằng chứng thích hợpnhưng kiểm toán viên chỉ có thể đưa ra kết luận khi đạt được một cỡ mẫu cần thiếtvà thủ tục được thực thi ở một thời điểm phù hợp. Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự xét đoán của kiểm toán viên.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 11
  12. 12. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com  Tính thích hợp của bằng chứng kiểm toán: Bằng chứng có độ tin cậy càngthấp thì số lượng bằng chứng cần thu thập càng nhiều. Một lượng ít bằng chứng cóđộ tin cậy thấp chưa đủ để đưa ra ý kiến chính xác về đối tượng kiểm toán đó.  Tính trọng yếu của thông tin được kiểm toán: Trọng yếu là khái niệm tầm cỡvà bản chất của các sai phạm của các thông tin tài chính hoặc từng nhóm hoặc làđơn lẻ trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì khôngthể chính xác hoặc sẽ rút ra ý kiến sai. Vì mục tiêu của kiểm toán tài chính là khẳng định báo cáo tài chính đượctrình bày trung thực trên mọi khía cạnh trọng yếu nên nếu đối tượng cụ thể đượckiểm toán càng nhiều yếu tố trọng yếu thì số lượng bằng chứng kiểm toán cần thuthập càng nhiều. Kiểm toán viên phải ước lượng sai phạm có thể ảnh hưởng trọngyếu đến báo cáo tài chính và có thể thay đổi trong quá trình kiểm toán khi các tìnhhuống thay đổi. Ước lượng trọng yếu là lượng tối đa mà kiểm toán viên tin rằng ở đó báo cáotài chính có thể sai lệch nhưng chưa ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụngthông tin tài chính. Ước lượng này là một trong những quyết định quan trọng nhấtmà kiểm toán viên phải đối mặt. Sau khi ước lượng tính trọng yếu cho toàn bộ báocáo tài chính kiểm toán viên phân bổ mức trọng yếu cho từng khoản mục trên báocáo tài chính. Dựa vào mức trọng yếu cho từng khoản mục kiểm toán viên sẽ tiếnhành thu thập những bằng chứng phù hợp. khoản mục nào có mức độ trọng yếucàng cao thì kiểm toán viên cần thu thập một lượng bằng chứng càng nhiều, vàngược lại.  Mức rủi ro tiềm tàng và mức rủi ro kiểm soát: Số lượng bằng chứng cầnphải tăng lên ở những bộ phận, hay các trường hợp có mức rủi ro tiềm tàng hoặcrủi ro kiểm soát cao. Nói cách khác, khi kiểm toán viên xác nhận mức rủi ro pháthiện chấp nhận được là thấp thì số lượng bằng chứng cần thiết sẽ tăng thêm. Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp chomỗi loại ý kiến của mình. Sự đầy đủ và tính thích hợp luôn đi liền với nhau vàđược áp dụng cho các bằng chứng kiểm toán thu thập được từ các thủ tục thửnghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản. Để xem xét bằng chứng kiểm toán đã đầy đủ và thích hợp chưa, người tathường tính đến các yếu tố sau: • Tính chất, nội dung và mức độ rủi ro tiềm tàng của toàn bộ báo cáo tài chính, từng số dư tài khoản hoặc từng loại nghiệp vụ; • Hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá về rủi ro kiểm soát; • Tính trọng yếu của khoản mục được kiểm tra; • Kinh nghiệm từ các lần kiểm toán trước; • Kết quả các thủ tục kiểm toán, kể cả các sai sót hoặc gian lận đã được phát hiện; • Nguồn gốc, độ tin cậy của tài liệu thông tin. Ngoài 2 tính chất cơ bản trên, bằng chứng được coi là có tính thuyết phục khithoả mãn các tiêu chí sau: Bằng chứng phải thu thập kịp thời, đúng lúc: Tính đúng lúc của Bằngchứng kiểm toán có thể dựa vào hoặc thời gian bằng chứng được thu thập hoặcthời kỳ được kiểm toán.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 12
  13. 13. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Bằng chứng là sự tổng hoà của các khía cạnh cần xem xét: Sức thuyếtphục của bằng chứng chỉ có thể được đánh giá sau khi xem xét tổng hợp tính giátrị, tính đầy đủ và tính đúng lúc. Tính thuyết phục và chi phí: Trong quá trình ra quyết định về chứng cứđối với một cuộc kiểm toán đã định, cả tính thuyết phục và tính chi phí đều phảiđược xem xét. Rất hiếm khi chỉ có một loại bằng chứng là đủ để thẩm tra thôngtin.Tính thuyết phục và chi phí phải được xem xét trước khi lựa chọn một loại hoặccác loại bằng chứng tốt nhất.III. Các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán Mỗi phương pháp thu thập các bằng chứng kiểm toán sẽ cung cấp những loạibằng chứng khác nhau với độ tin cậy khác nhau và từng phương pháp có ưu điểmvà hạn chế riêng của mình. Do đó, trong nhiều trường hợp, kiểm toán viên cầnphối hợp sử dụng nhiều phương pháp để đạt được các mục tiêu kiểm toán. Nóicách khác, trong từng trường hợp cụ thể, tùy theo sự xét đoán nghề nghiệp củaminh, kiểm toán viên sẽ chọn lựa các phương pháp để thu thập bằng chứng kiểmtoán.1. Phương pháp kiểm tra vật chất(kiểm kê) Kiểm tra vật chất là quá trình kiểm kê tại chỗ hay tham gia kiểm kê các loạitài sản của doanh nghiệp. Công việc kiểm kê thường được tiến hành ở một sốkhoản mục chủ yếu như: khoản mục vốn bằng tiền, khoản mục tài sản cố định,khoản mục hàng tồn kho. Với những tài sản dễ xảy ra mất mất hoặc thiếu thì việckiểm kê vật chất phải thực hiện và được kiểm tra toàn diện. Còn đối với những loạitài sản khác thì tuỳ thuộc vào tầm quan trong, mức độ trọng yếu của từng loại màtiến hành kiểm tra cho phù hợp. Độ tin cậy của bằng chứng kiểm tra vật chất phụthuộc vào kỹ năng và hiểu biết của kiểm toán viên thực hiện kiểm kê. Nếu kiểmtoán viên thiếu sự am hiểu về đánh giá chủng loại các tài sản cần thiết hoặc kiểmkê không cẩn thận thì bằng chứng thu thập được có thể có sự sai lệch.  Ưu điểm: Thủ tục này cung cấp bằng chứng vật chất là loại bằng chứng có độ tin cậy rất cao vì kiểm kê là quá trình xác minh sự hiện hữu của tài sản, mang tính khách quan. Hơn nữa cách thực hiện kỹ thuật này đơn giản, phù hợp với chức năng xác minh của kiểm toán.  Nhược điểm: • Đối với một số tài sản cố định như nhà xưởng, đất đai, phương tiện vận tải... việc kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của tài sản đó, chứ không cho biết về quyền sở hữu của đơn vị đối với chúng, bởi lẽ tuy chúng hiện hữu nhưng có thể lại là tài sản đi thuê, hoặc đã bị đơn vị thế chấp... • Đối với hàng tồn kho, việc kiểm kê chỉ cho biết sự hiện hữu của các loại hàng này về mặt số lượng, nhưng không cho biết chúng có được đánh giá đúng hay không, hoặc chất lượng và tình trạng của chúng như thế nào... Các vấn đề trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến số dư hàng tồn kho trên báo cáo tài chính. Do những hạn chế vốn có đó mà kỹ thuật kiểm tra vật chất cần đi kèm vớinhững kỹ thuật thu thập bằng chứng khác để chứng minh quyền sở hữu và giá trịtài sản đó.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 13
  14. 14. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com2. Phương pháp lấy xác nhận Xác nhận là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán thông quaviệc liên hệ trực tiếp với bên thứ ba để nhận được phúc đáp của họ về các thông tincụ thể ảnh hưởng đến cơ sở dẫn liệu được Ban Giám đốc lập và trình bày trong báocáo tài chính của đơn vị được kiểm toán (Đoạn 06 VSA 505-thông tin xác nhận từbên ngoài). Kiểm toán viên có thể xin xác nhận thông tin từ bên ngoài về các điều khoảnhợp đồng hay giao dịch của đơn vị được kiểm toán với bên thứ ba trong các trườnghợp như:  Số dư tài khoản tiền gửi, tiền vay và những thông tin khác từ ngân hàng, kho bạc, tổ chức tài chính tương tự  Số dư các khoản phải thu, phải trả  Những văn bản, giấy tờ chứng nhận về quyền sở hữu tài sản do luật sư giữ, hoặc đang giữ trong két sắt của ngân hàng  Hàng gia công, hàng gửi bán, hàng nhờ giữ hộ  Cổ phiếu gửi bên thứ ba; những khoản đầu tư nhờ các nhà môi giới mua nhưng chưa được giao trước thời điểm lập báo cáo tài chính... Theo VSA 505, kiểm toán viên có thể áp dụng thủ tục này theo một trong haicách sau đây: • Thư xác nhận mở (dạng khẳng định): đề nghị người được yêu cầu trả lời, ký nhận trong mọi trường hợp hoặc phúc đáp lại cho kiểm toán viên là đồng ý hoặc không đồng ý với thông tin cần xác nhận bằng cách yêu cầu điền vào thông tin. • Thư xác nhận đóng (dạng phủ định): chỉ đòi hỏi sự phản hồi khi không đồng ý với thông tin yêu cầu xác nhận. Khi đồng ý với thông tin xác nhận thì không nhất thiết phải phản hồi. Thư xác nhận đóng (phủ định) thường cung cấp bằng chứng ít tin cậy hơn so với việc sử dụng thư xác nhận mở (khẳng định), vì thế kiểm toán viên cần xem xét thực hiện các thử nghiệm cơ bản bổ sung. Tuy có độ tin cậy thấp hơn thư xác nhận mở, nhưng chuẩn mực kiểm toáncho phép sử dụng thư xác nhận đóng trong trường hợp rủi ro tiềm tàng và rủi rokiểm soát được đánh giá là thấp, các khoản phải xác nhận gồm rất nhiều các khoảncó số tiền nhỏ, khả năng xảy ra sai sót được đánh giá là thấp và kiểm toán viên tinrằng người phản hồi sẽ quan tâm đến việc trả lời. Việc xác nhận thì tương đối tốn kém về chi phí nhưng kết quả mà nó mang lạilại không cao: có thể thư xác nhận bị thất lạc, bên thứ ba không chịu hợp tác, thưtrả lời về sau khi báo cáo tài chính phát hành….Do đó phạm vi áp dụng tương đốigiới hạn, nhất là khi đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn, quan hệ rộng, đa quốcgia… Hơn nữa kiểm toán viên cũng cần quan tâm đến khả năng các xác nhận củabên thứ ba đã qua sự dàn xếp trước của đối tượng được kiểm toán.3. Phương pháp xác minh tài liệu Là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu các chứng từ sổ sách có liên quansẵn có trong đơn vị. Phương pháp này được áp dụng đối với: hoá đơn bán hàng,phiếu nhập kho, xuất kho, hoá đơn vận tải, sổ kế toán… Kỹ thuật xác minh tài liệudựa trên phương pháp đối chiếu trực tiếp, theo phương pháp này khi áp dụng chokỹ thuật xác minh tài liệu sẽ có các trường hợp đối chiếu như: đối chiếu giữaSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 14
  15. 15. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.comchứng từ với sổ kế toán, giữa sổ kế toán với báo cáo kế toán, giữa các báo cáo kếtoán với nhau, đối chiếu kỳ này với kỳ trước,…  Chứng từ với sổ kế toán Kiểm toán viên có thể thực hiện theo hai cách: • Cách thứ nhất là kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ từ khi phát sinh đến khi vào sổ sách theo hai hướng:  Đi từ chứng từ gốc lên sổ sách kế toán: kiểm toán viên đi theo hướng này khi muốn thu thập bằng chứng về sự đầy đủ của việc ghi sổ (cơ sở dẫn liệu sự đầy đủ). Ví dụ, kiểm toán viên thực hiện kiểm toán khoản mục hàng tồn kho, cụ thể là nghiệp vụ xuất kho với chứng từ ghi sổ là phiếu xuất kho. Muốn biết nghiệp vụ này có được kế toán đơn vị ghi vào sổ không thì chỉ cần đối chiếu vào sổ cái và sổ chi tiết tài khoản liên quan để xem xét.  Từ sổ sách kế toán kiểm tra ngược về chứng từ gốc: khi kiểm toán viên muốn thu thập bằng chứng về tính có thật của nghiệp vụ (cơ sở dẫn liệu sự tồn tại hoặc phát sinh). Ví dụ, kiểm toán viên xem xét nghiệp vụ xuất kho trên sổ cái tài khoản hàng tồn kho, muốn biết nghiệp vụ này có phát sinh thực sự hay không kiểm toán viên đi từ trên sổ cái về kiểm tra các chứng từ gốc có liên quan như phiếu xuất kho, yêu cầu xuất vật tư, … • Cách thứ hai là từ một kết luận có trước, kiểm toán viên thu thập tài liệu để làm bằng chứng cơ sở cho các kết luận cần khẳng định. Ví dụ, kiểm toán viên kiểm tra các tài liệu, hồ sơ pháp lý về quyền sở hữu tài sản cố định như biên bản giao nhận tài sản cố định, biên bản bàn giao tài sản cố định, hóa đơn mua hàng, hoặc kiểm toán viên kiểm tra các hóa đơn và vận đơn để chứng minh nghiệp vụ bán hàng phát sinh.…  Sổ kế toán với báo cáo kế toán Các báo cáo kế toán thường là đáp ứng thông tin cho người bên ngoài doanhnghiệp trong khi đó sổ sách kế toán lại được lưu hành nội bộ trong doanh nghiệp.Do đó, vì các lý do khác nhau hoặc cũng có thể là nhầm lẫm mà các báo cáo tàichính không thể hiện đúng sự trình bày và khai báo hoặc các quy định và cácchuẩn mực khác được thừa nhận chung.  Các báo cáo kế toán với nhau Vì các mục đích cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau, doanhnghiệp có thể lập các báo cáo tài chính khác nhau ví dụ như để giảm áp lực về thuếthu nhập doanh nghiệp các báo cáo nộp cho cơ quan thuế doanh nghiệp có thể xửlý để làm giảm lợi nhuận trước thuế bằng cách tăng chi phí hoặc giảm các khoảndoanh thu. Trong khi đó để công bố cho các cổ đông về tình hình phát triển củacông ty hay huy động vốn các báo cáo có thể được đánh bóng để gia tăng lợinhuận và thuyết minh về một tình hình phát triển triển vọng của công ty.  Đối chiếu kì này với kì trướcĐể kiểm tra các hoạt động hay sự thay đổi bất thường trong nội bộ doanh nghiệp,cách đơn giản là kiểm toán viên đối chiếu số liệu của kỳ này với các kỳ trước.Thông thường một doanh nghiệp sẽ không có sự thay đổi quá lớn nếu không cómột nguyên nhân cụ thể nào đó. Căn cứ vào sự so sánh giữa các kỳ kiểm toán viêncó thể nhận xét sơ bộ và đánh giá các rủi ro cũng như các gian lận sẽ rơi vào cáckhoản mục nào.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 15
  16. 16. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Ưu điểm: Được sử dụng phổ biến, thực hiện tương đối thuận lợi bởi tài liệucó sẵn phục vụ cho việc đối chiếu, chi phí kiểm toán thường thấp hơn so với cáckỹ thuật khác. Nhược điểm của kỹ thuật này: Độ tin cậy của bằng chứng phụ thuộc rất nhiềuvào nguồn gốc của tài liệu, đồng thời đề phòng trường hợp tài liệu cung cấp bị sửachữa, giả mạo làm mất đi tính khách quan.4. Phương pháp quan sát Là quá trình sử dụng các giác quan để đánh giá và phát hiện các vấn đề nghivấn từ đó đưa ra nhận thức chung về các nghiệp vụ sự kiện và hoạt động của đơnvị. Ví dụ, kiểm toán viên có thể đi thị sát đơn vị được kiểm toán để có ấn tượngchung về máy móc thiết bị của đơn vị, quan sát tính cũ mới cũng như sự vận hànhcủa máy móc, hay quan sát các cá nhân thực hiện nhiệm vụ để đánh giá về thức tếhoạt động của đơn vị, xem thủ tục đơn vị thiết lập có được vận hành đúng như quyđịnh hay không. Phương pháp này có thể áp dụng cho rất nhiều bộ phận được kiểmtoán nhưng tự nó khó thể cung cấp đầy đủ bằng chứng, mà phải đi kèm với các thủtục khác. Bằng chứng thu thập được từ quan sát do trực tiếp kiểm toán viên thực hiệnnên nó mang tính khách quan, đáng tin cậy nhưng chỉ mang tính thời điểm, nhấtthời, không khẳng định được sự việc luôn xảy ra như vậy. Kỹ thuật quan sát thường được áp dụng trong cả giai đoạn lập kế hoạch vàgiai đoạn thực hiện kiểm toán. Nhưng chủ yếu kỹ thuật quan sát sẽ được kiểm toánviên thực hiện ngay trong giai đoạn đầu lập kế hoạch.5. Phương pháp phỏng vấn Là quá trình kiểm toán viên thu thập thông tin bằng văn bản hay bằng lời nóiqua việc thẩm vấn những người hiểu biết về vấn đề kiểm toán viên quan tâm. Vídụ như yêu cầu người quản lý giải thích những quy định về kiểm soát nội bộ, hoặchỏi các nhân viên về ciệc thực hiện quy chế này... Thủ tục này quan trọng vì giúpcho kiểm toán viên thu thập được những bằng chứng chưa có, hoặc củng cố cácluận cứ của mình. Độ tin cậy của bằng chứng thu thập bằng thủ tục phỏng vấnkhông cao, và nó thường chỉ dùng để củng cố cho các bằng chứng khác, hoặc đểthu thập các thông tin phản hồi. Đối với phương pháp phỏng vấn, để đạt kết quả tốt, kiểm toán viên cầnnghiên cứu trước về các nội dung cần trao đổi, lựa chọn các câu hỏi, có thái độ hòanhã... Cần chú ý là khi sử dụng, kiểm toán viên cần chú ý đến tính khách quan vàsự hiểu biết của người được phỏng vấn. Các kết quả thu thập được, nếu quan trọngthì cần được ghi lại và lưu trữ trong hồ sơ kiểm toán.  Trước khi tiến hành công việc phỏng vấn, kiểm toán viên phải chuẩn bị danh mục câu hỏi, hỏi cái gì, hỏi như thế nào,… để có thể tạo được niềm tin và khơi được sự sẵn sàng hợp tác của người được phỏng vấn. Các câu hỏi cần ngắn gọn, dể hiểu, đúng mục đích, tạo tâm lý thoải mái cho người trả lời. Vấn đề cần lưu ý là phải phỏng vấn nhiều người, không nên tin vào thông tin từ một người mà cần so sánh thông tin đó với thông tin do đối tượng phỏng vấn khác cung cấp. Thường thì phỏng vấn được thực hiện đối với những người có trách nhiệm cao, phẩm chất tốt.  Khi phỏng vấn, kiểm toán viên có thể dùng hai loại câu hỏi mở hoặc câu hỏi đóng. Câu hỏi mở cho kiểm toán viên câu trả lời chi tiết và đầy đủ, đôi khiSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 16
  17. 17. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com có thể thu thập được nhiều thông tin hơn ước tính, bằng cách đưa ra câu hỏi và để đối tượng được phỏng vấn tự nêu câu trả lời theo hiểu biết của họ. Dạng câu hỏi đóng sẽ giới hạn câu trả lời của người được phỏng vấn, các từ khoá thường dùng: “có” hay “không”, thường sử dụng khi muốn xác minh lại một vấn đề đã nghe hay đã biết, bằng cách nêu ra câu hỏi, cho những đáp án trả lời sẵn và người được phỏng vấn chỉ cần chọn câu trả lời thích hợp.  Kết thúc phỏng vấn, trước khi đưa ra kết luận thì kiểm toán viên cần chú ý đến tính khách quan và sự hiểu biết của người được phỏng vấn để có kết luận xác đáng về bằng chứng thu thập. Kiểm toán viên thường kết luận từng phần và cuối cùng là tóm tắt các điểm chính. Ưu điểm: kỹ thuật phỏng vấn thực hiện đơn giản và dễ sử dụng, chi phí ít, sẽgiúp kiểm toán viên thu thập được những bằng chứng mới, hoặc giúp thu thậpnhững thông tin phản hồi để củng cố ý kiến của kiểm toán viên. Tuy nhiên, nhược điểm của kỹ thuật này là độ tin cậy của bằng chứng khôngcao do đối tượng được phỏng vấn chủ yếu là người trong đơn vị được kiểm toánnên thiếu tính khách quan; chất lượng của bằng chứng cũng phụ thuộc vào trìnhđộ, sự hiểu biết và tính độc lập, khách quan của người được hỏi.6. Phương pháp tính toán Đây là phương pháp được kiểm toán viên áp dụng khá rộng rãi, phổ biếntrong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán nhằm thu thập bằng chứng về tính chínhxác số học của các khoản mục trên báo cáo tài chính khi thực hiện kiểm tra chi tiếtsố dư của các khoản mục. Thông qua việc cộng dồn các số phát sinh của các tàikhoản theo đối ứng bên Nợ bên Có để xác định số dư cuối kỳ của các tài khoản. Vídụ, đối với kiểm tra việc tính toán, kiểm toán viên xem xét tính chính xác (bằngcách tính lại) các hoá đơn, phiếu nhập, xuất kho; số liệu hàng tồn kho; tính lại chiphí khấu hao; giá thành; các khoản dự phòng; thuế; số tổng cộng trên sổ chi tiết vàsổ cái,…. Đối với kiểm tra tính chính xác của việc ghi sổ, kiểm toán viên đối chiếucác chứng từ có liên quan để xem cùng một thông tin được phản ánh trên chứng từkhác nhau, ở những nơi khác nhau. Các số liệu sau khi tính toán lại sẽ được đốichiếu với số liệu trên các sổ chi tiểt, sổ tổng hợp mà đơn vị cung cấp. Nếu có sựchênh lệch kiểm toán viên cần phỏng vấn kế toán trưởng, kế toán phụ trách từngphần hành để tìm hiểu rõ nguyên nhân của sự chênh lệch này. Các bảng số liệuđược coi là một bằng chứng về sự chính xác của số liệu trên Báo cáo tài chính củađơn vị. Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xác thuần tuý về mặt số học, khôngchú ý đến sự phù hợp của phương pháp tính được sử dụng. Do đó kỹ thuật nàythường được sử dụng cùng với các kỹ thuật khác như kiểm tra tài liệu, kiểm tra vậtchất, phân tích…trong quá trình thu thập bằng chứng. Ưu điểm: của kỹ thuật này là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao, xét vềmặt số học. Nhược điểm: của kỹ thuật này là các phép tính và phân bổ đôi khi khá phứctạp, tốn thời gian đặc biệt khi đơn vị được kiểm toán có quy mô lớn, loại hình kinhdoanh đa dạng, luồng tiền ra vào rất lớn…Do đó cần có trang bị về máy tính, songcần chú ý kiểm tra hệ thống xử lý trên máy, các nhân viên có can thiệp được vàohay không.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 17
  18. 18. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com7. Phương pháp phân tích Là sự xem xét các số liệu, thông tin của đơn vị thông qua việc so sánh vànghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính với nhau, và giữa các thôngtin tài chính với các thông tin phi tài chính. Khi phân tích, ta có thể so sánh những thông tin như:  So sánh giữa các thông tin tài chính trong kỳ này với thông tin tương ứng của kỳ trước: Kiểm toán viên có thể so sánh số dư, hoặc số phát sinh tài khoản giữa các kỳ để phát hiện các tài khoản có biến động bất thường. Ví dụ: Một sự gia tăng bất thường của khoản phải thu khách hàng cuối kỳ có thể là sự xuất phát từ sự thay đổi chính sách bán chịu, tình trạng nợ khó đòi, gia tăng hoặc đang có lệch trọng yếu trong số dư cuối kỳ. Kiểm toán viên cũng có thể so sánh tỷ số giữa các kỳ để phát hiện những tàikhoản có thể bị sai lệch. Thí dụ: số vòng quay của hàng tồn kho giảm đột ngột cóthể phản ánh những sai lệch trong số dư hàng tồn kho, hoặc hàng hóa ứ đọng haymất phẩm chất. Việc so sánh cũng có thể được tiến hành trên các đối tượng chi tiếtcủa tài khoản, hoặc sự biến động chi tiết giữa các kỳ trong tháng, quý, năm.  So sánh giữa số liệu thực tế và số liệu kế hoạch, dự toán: Việc điều tra các sai biệt lớn giữa số liệu thực tế và kế hoạch có thể cho thấy những sai lệch trong báo cáo tài chính, hoặc các biến động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị.  So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị với những chỉ tiêu bình quân ngành: Về nguyên tắc, giữa một số chỉ tiêu của đơn vị và chỉ tiêu bình quân của ngành có mối quan hệ tương đồng trong một phạm vi nhất định. Ví dụ: Tỷ lệ lãi gộp trên doanh thu, tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu chính trong giá thành sản phẩm... Việc nghiên cứu những khác biệt lớn giữa chỉ tiêu của đơn vị và chỉ tiêu bình quân ngành có thể sẽ cho biết các sai lệch, hoặc giúp kiểm toán viên hiểu biết sâu sắc hơn về hoạt động của đơn vị. Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp này cần chú ý sự khác biệt về quy mô, về việc áp dụng chính sách kế toán giữa các đơn vị.  Nghiên cứu mối quan hệ giữa các thông tin tài chính trong kỳ: Với phương pháp này, kiểm toán viên có thể dựa trên mối quan hệ bản chất giữa các số dư, hay số phát sinh của tài khoản qua mối quan hệ giữa chúng với các tài khoản khác. Ví dụ: có thể ước tính chi phí lãi vay bằng cách nhân lãi suất bình quân tháng với số dư cuối tháng của tài khoản nợ vay. Sau đó, mọi sự khác biệt trọng yếu giữa số liệu ước tính và số liệu sổ sách cần được điều tra để xác định nguyên nhân. Tài khoản chi phí lãi vay có khớp được với tài khoản vốn vay. Ngoài ra, một vài tài khoản có thể liên hệ theo cách khác. Giả sử chi phí hoa hồng có thể là một tỷ lệ phần trăm cụ thể của doanh thu và các khoản nợ khó đòi không thể vượt quá doanh thu bán hàng trả chậm. Bằng cách kiểm tra mối quan hệ qua lại giữa các tài khoản, kiểm toán viên có thể phát hiện các sai sót thuộc về xử lý kế toán. Một phương pháp khác cũng có thể được áp dụng để xác định những khoảnmục có khả năng sai lệch, đó là chọn ra các đối tượng chi tiết, các nghiệp vụ bấtthường, chẳng hạn như số tiền vượt trội hằn, hoặc có nội dung không rõ ràng đểkiểm tra. Để phát hiện chúng, kiểm toán viên có thể đọc lướt trên sổ sách, tàikhoản và xác định các khoản bất thường.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 18
  19. 19. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com  Nghiên cứu mối quan hệ giữa thông tin tài chính và các thông tin phi tài chính: Các thông tin phi tài chính là những dữ liệu kinh tế, kỹ thuật do các hệ thống hạch toán nghiệp vụ, thống kê... cung cấp. Giữa các thông tin này và thông tin tài chính có những quan hệ nhất định, nên kiểm toán viên có thể phát hiện được những sai sót nhờ dựa trên mối quan hệ hợp lý giữa chúng với nhau. Ví dụ: đối chiếu giữa chi phí tiền lương và số lượng công nhân viên để xem mức lương bình quân có hợp lý không; so sánh giữa lượng tồn kho của một số loại vật từ với khả năng chứa đựng rủi ro của kho hàng... Khi sử dụng những thông tin phi tài chính, kiểm toán viên cũng cần chú ý kiểm tra độ chính xác của chúng. Trong quá trình so sánh, nếu phát hiện được các biến động bất thường, chẳnghạn như khi có những sai biệt lớn, các tỷ lệ ngoài dự kiến, những thông tin tàichính không nhất quán với các bằng chứng kiểm toán đã thu thập được..., kiểmtoán viên cần tiến hành điều tra phỏng vấn bằng cách: • Phỏng vấn người quản lý đơn vị, hoặc xác minh lại các giải trình của đơn vị. • Cân nhắc và sử dụng các thủ tục kiểm toán khác để có được kết luận hợp lý. Thủ tục phân tích được sử dụng trong tất cả các giai đoạn của quy trìnhkiểm toán: • Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, phân tích giúp xác định nội dung, thời gian và phạm vi của các thủ tục kiểm toán; đồng thời hướng dẫn sự chú ý của kiểm toán viên đến những bộ phận cần phải điều tra đặc biệt. • Trong giai đoạn thực hiện kiểm toán, phân tích là một loại thử nghiệm cơ bản, nó cung cấp bằng chứng về sự hợp lý của những khoản mục trên báo cáo tài chính, hoặc các thông tin tài chính riêng biệt. • Trong giai đoạn hoàn thành kiểm toán, phân tích được sử dụng để xem xét lại tổng quát lần cuối về toàn bộ số liệu đã được kiểm toán nhằm củng cố thêm cho kết luận đã được đề ra, hoặc giúp nhận thấy những vấn đề cần phải tiến hành thêm các thủ tục kiểm toán thì mới có thể kết luận. Phân tích được đánh giá là một thủ tục kiểm toán có hiệu quả vì thời gian ít,chi phí thấp, mà lại có thể cung cấp những bằng chứng về sự đồng bộ, hợp lýchung về các số liệu kế toán; đồng thời giúp đánh giá được những nét tổng thể vàkhông bị sa vào các nghiệp vụ cụ thể. Kỹ thuật phân tích gồm 3 nội dung: dự đoán, so sánh và đánh giá. • Dự đoán: Là việc ước đoán về số dự tài khoản, giá trị tỉ suất hoặc xu hường… • So sánh: là việc đối chiếu ước đoán trên với số báo cáo. • Đánh giá: là việc sử dụng các phương pháp chuyên môn, và các kỹ thuật khác (phỏng vấn, quan sát) để phân tích và kết luận về các chênh lệch khi so sánh. Kỹ thuật phân tích được sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán có hiệu lực gồm ba loại: kiểm tra tính hợp lý, phân tích xu hường và phân tích tỉ suất. Phân tích xu hướng là sự phân tích những thay đổi theo thời gian của số dưtài khoản, hay nghiệp vụ. Phân tích xu hướng thường được kiểm toán viên sử dụngqua so sánh thông tin tài chính kỳ này với thông tin tài chính kỳ trước hay so sánhthông tin tài chính giữa các tháng trong kỳ hoặc so sánh số dư (số phát sinh) củaSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 19
  20. 20. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com các tài khoản cần xem xem xét giữa các kỳ, nhằm phát hiện những biến động bất thường để tập trung kiểm tra, xem xét. Phân tích tỉ suất là cách thức so sánh những số dư tài khoản hoặc những loại hình nghiệp vụ. Phân tích tỉ suất cũng giúp so sánh tính hợp lý về tình hình tài chính của một công ty nào đó với công ty khác trong cùng tập đoàn hay với ngành đó. Thông thường khi phân tích tỉ suất cũng phải xem xét xu hướng của tỉ suất đó. Kiểm tra tính hợp lý: kiểm tra số phát sinh thực tế so với kế hoạch, kiểm tra sự phù hợp của lãi vay… Nhìn chung các loại hình phân tích áp dụng hiệu quả đối với các tài khoản trong báo cáo kết quả kinh doanh và các loại nghiệp vụ liên quan hơn là đối với các tài khoản trong bảng cân đối kế toán. Số dư các tài khoản trong báo cáo kết quả kinh doanh được lấy từ số phát sinh nên dễ dự đoán hơn, trong khi đó tài khoản trong bản cân đối kế toán được lấy từ số dư cuối kỳ phải tính toán phức tạp. Loại hình phân tíchĐối tượng kiểm toán Phân tích xuhướng Phân tích tỉ suất Kiểm tra tính hợp lýKhoản mục trong bảng cân Hạn chế Hữu ích Hạn chếđối kế toánKhoản mục trong báo cáo Hữu ích Rất hữu ích Rất hữu íchkết quả kinh doanh Ưu điểm của thủ tục phân tích là tương đối đơn giản, có hiệu quả vì ít tốn thời gian, chi phí cho kiểm toán thấp mà vẫn có thể cung cấp bằng chứng về sự đồng bộ, chuẩn xác và có giá trị về mặt kế toán, giúp kiểm toán viên đánh giá được tổng thể không bị sa và các nghiệp vụ cụ thể. Thủ tục phân tích do đó được sử dụng trong tất cả các giai đoạn của qui trình kiểm toán và được xem là rất hữu ích. Tuy nhiên, khi áp dụng kỹ thuật này, kiểm toán viên cần lưu ý một số điểm:  Mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu được so sánh: việc phân tích sẽ không có ý nghĩa nếu các chỉ tiêu không có mối liên hệ với nhau. Ngoài ra kỹ thuật này chỉ áp dụng đối với các chỉ tiêu đồng chất về nội dung và phương pháp tính.  Đối với những khoản mục hay chỉ tiêu trọng yếu, kiểm toán viên không thể chỉ sử dụng kỹ thuật phân tích đơn thuần mà cần kết hợp với các kỹ thuật khác để tìm được bằng chứng thích hợp.  Trong điều kiện hệ thống kiểm soát nội bộ yếu kém, cần thận trọng trong phân tích và nên kết hợp với nhiều kỹ thuật khác.  Đánh giá chênh lệch khi phân tích sẽ sai lầm nếu kiểm toán viên thiếu hiểu biết về những mức chuẩn ngành kinh doanh của đơn vị được kiểm toán. BẢNG TỔNG HỢP CÁC KỸ THUẬT THU THẬP BCKT Kỹ thuật BCKT Độ tin CSDL thu thập cậy Sự Sự Sự đầy Sự Sự Quyền Trình BCKT tồn phát đủ đánh chính và bày và tại sinh giá xác nghĩa khai vụ báo Quan sát Ngầm Cao   hiểu, ít khi thể hiện trên giấy làm SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 20
  21. 21. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com việcKiểm tra Biên bản Cao vật chất kiểm kê hoặc phiếu kiểm kêPhỏng vấn Bảng Thấp   câu hỏiXác minh Giấy Trung     tài liệu làm việc bìnhXác nhận Thư xác Cao   nhậnTính toán Bảng số Cao  lại liệuPhân tích Bảng Cao   phân tích sơ bộ BCTC, bảng tổng hợp phân tích hệ sốIV. Áp dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng vào kiểm toán việc thiết kếcác thủ tục kiểm toán trong kế hoạch và chương trình kiểm toán Để thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên triển khai theo các thủ tục sau:1. Thử nghiệm kiểm soát Nếu đánh giá ban đầu của kiểm toán viên cho thấy khách hàng có hệ thốngkiểm soát nội bộ hữu hiệu thì khi đó kiểm toán viên sẽ thực hiện thủ tục kiểm soátnhằm thu thập bằng chứng kiểm toán về thiết kế và hoạt động của hệ thống kiểmsoát nội bộ. Các bằng chứng kiểm toán cần chứng minh được thiết kế các hoạtđộng kiểm soát cụ thể có thích hợp để ngăn ngừa những sai sót hay không đồngthời cũng cần chứng minh được hệ thống đó có được triển khai theo đúng yêu cầuthiết kế trong thực tế hay không. Các kỹ thuật thu thập BCKT thường được ápdụng trong phần này như: phỏng vấn, quan sát, xác minh tài liệu.2. Thử nghiệm cơ bản 2.1. Thủ tục phân tích Trong việc tổ chức thực hiện thủ tục phân tích đòi hỏi nhiều ở sự phán đoáncủa kiểm toán viên. Thông thường, thực hiện thủ tục phân tích phải trải qua cácgiai đoạn sau:  Giai đoạn phát triển mô hình  Giai đoạn ước lượng giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ  Giai đoạn phân tích nguyên nhân chênh lệch  Giai đoạn xem xét những phát hiện qua kiểm toánSVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 21
  22. 22. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Bằng chứng thu được từ thủ tục phân tích cần được đánh giá không chỉ baogồm những sai sót trong từng khoản mục mà cả việc quan sát hệ thống kiểm soátnội bộ, hệ thống thông tin và những vấn đề liên quan. 2.2. Kiểm tra chi tiết nghiệm vụ, số dư Kiểm tra chi tiết số dư và nghiệp vụ là bước cuối cùng trong giai đoạn thựchiện kiếm toán. Thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết tốn nhiều chi phí nhất trongcuộc kiểm toán. Do đó, thủ tục này được thực hiện với những tài khoản được đánhgiá là điển hình nhất. Các kỹ thuật thu thập BCKT thường được áp dụng trongphần này như: xác minh tài liệu, tính toán lại. Được tiến hành theo các bước sau:  Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết: Trước hết, kiểm toán viên xác định mục tiêu của các biện pháp kỹ thuật, tiếp theo kiểm toán viên tiến hành lựa chọn các khoản mục trong tổng thể. Việc xác định tổng số khoản mục, nghiệp vụ cần hướng tới tính đầy đủ và tin cậy của bằng chứng kiểm toán.  Lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết: Kiểm toán viên có thể áp dụng các biện pháp kiểm tra chi tiết không phải với tất cả các khoản mục trong một tài khoản thì phải chấp nhận mức độ không chắc chắn của Bằng chứng kiểm toán thu được. Khi đó kiểm toán viên có thể lựa chọn một số khoản mục trên cơ sở chọn điển hình các khoản mục chính hoặc chọn mẫu đại diện hay kết hợp cả 2 phương pháp.  Lựa chọn các khoản mục chính: Kiểm toán viên thu thập Bằng chứng kiểm toán bằng cách điều tra kỹ các khoản mục chính. Dựa trên sự đánh giá, kinh nghiệm và những hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng, kiểm toán viên phát hiện ra một số khoản mục không phát sinh bình thường, không dự đoán trước được hay dễ có sai phạm.  Thực hiện kiểm tra chi tiết trên khoản mục đã chọn: Có thể áp dụng các kỹ thuật kiểm toán thích hợp đối với mỗi một khoản mục lựa chọn để tiến hành kiểm tra chi tiết nhằm xác định khả năng tồn tại những chênh lệch đến mức đòi hỏi điều tra và theo dõi. Trong các kỹ thuật kiểm tra chi tiết xác nhận và kiểm tra thực tế là những biện pháp thường được áp dụng rộng rãi trong kiểm toán tài chính và cần được thực hiện trên cơ sở xác định.  Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết: Kiểm toán viên cần đánh giá những Bằng chứng kiểm toán đã thu được từ quá trình kiểm tra chi tiết và tiến hành điều tra nguyên nhân đối với những chênh lệch kiểm toán.  Xử lý chênh lệch kiểm toán: Kết thúc giai đoạn kiểm tra chi tiết, kiểm toán viên thực hiện xử lý các chênh lệch kiểm toán. Tuỳ theo loại chênh lệch và thủ tục tiến hành khi phát hiện trong quá trình kiểm toán cho thấy có sai sót, kiểm toán viên sẽ có những biện pháp xử lý thích hợp cho từng loại chênh lệch.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 22
  23. 23. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com PHẦN 2 THỰC TẾ VIỆC ÁP DỤNG KỸ THUẬT THU THẬP BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH KIỂM TOÁN VÀ KẾ TOÁN AACI. Khái quát chung về công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Tên Công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Tên giao dịch: Auditing and accounting company, Ltd. Tên viết tắt: AAC Địa chỉ trụ sở chính: 217 Nguyễn Văn Linh, TP Đà Nẵng Điện thoại: (84).0511. 3655 886 Fax: (84).0511. 3655 887 Logo : E-mail: aac@dng.vnn.vn Webside: http://www.aac.com.vn * Ngoài ra, Công ty đã mở một chi nhánh tại TP. HCM Địa chỉ:, Tầng 5 tòa nhà Hoàng Đan, 47-49 Hoàng Sa, Quận 1, Tp. Hồ ChíMinh Điện thoại: (08) 39102235 Fax: (08) 391023491. Quá trình hình thành và phát triển 1.1. Lịch sử hình thành và phát triển Công ty kiểm toán và kế toán AAC, trước đây là công ty kiểm toán Đà Nẵng-công ty kiểm toán độc lập trực thuộc Bộ Tài chính được thành lập theo quyết địnhsố 194/TC/TCCB ngày 01 tháng 4 năm 1993 và Quyết định số 106 TC/TCCBngày 13 tháng 02 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, là một trong số rất ít cáccông ty kiểm toán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam. Việc thành lập công tyđược thực hiện trên cơ sở sáp nhập hai chi nhánh của hai công ty hành nghề kiểmtoán từ năm 1991, đó là: Chi nhánh Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Chinhánh công ty tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) tại khu vực MiềnTrung và Tây Nguyên. Để phù hợp với tình hình mới về sự phát triển công ty, Bộ Tài chính đã cóquyết định số 139/2000/QĐ-BTC ngày 06/9/2000 về việc đổi tên “Công ty kiểmtoán Đà Nẵng – DAC” thành “Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC”.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 23
  24. 24. Email: luanvan84@gmail.com dowload luận văn tại luanvan.forumvi.com Ngày 07/05/2007, Công ty chuyển đổi sở hữu từ Doanh nghiệp Nhà nướcthành Công ty TNHH hai thành viên trở lên theo Quyết định phê duyệt phương ánchuyển đổi số 1335/QĐ-BTC ngày 02/04/2007 của Bộ Tài chính, và đổi tên thành“Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC”. Tháng 09/2008, Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC chính thức trởthành thành viên của hãng kiểm toán quốc tế IGAF Polaris – một tổ chức chuyênngành kiểm toán, kế toán và tư vấn với hơn 200 hãng thành viên có mặt tại 90quốc gia trên thế giới. 1.2. Mạng lưới khách hàng AAC hoạt động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cả các loạihình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có quy chế riêngvề việc lựa chọn và bổ nhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổchức niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. các tổ chức phát hành và kinhdoanh chứng khoán... Hiện tại AAC đã và đang thực hiện cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn chohơn 1000 khách hàng trên toàn quốc. Theo thống kê của Hội Kiểm toán viên hànhnghề Việt Nam (VACPA) trong năm 2010, AAC nằm trong nhóm 10 Công tykiểm toán có số lượng khách hàng lớn nhất tính trên hơn 160 Công ty kiểm toánđang hoạt động tại Việt Nam. Khách hàng của AAC là các doanh nghiệp, tổ chứcvà cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong cả nước; bao gồm hơn 50 Công tyniêm yết trên thị trường chứng khoán, 200 Công ty đại chúng, 150 Công ty có vốnđầu tư nước ngoài và các tổ chức quốc tế 1.3. Đội ngũ nhân viên Bên cạnh việc mở rộng mạng lưới khách hàng, AAC luôn quan tâm đầu tưphát triển nguồn nhân lực của Công ty. Đội ngũ kiểm toán viên và nhân viênchuyên nghiệp của AAC được liên tục đào tạo và cập nhật các chương trình và nộidung mới về kế toán, kiểm toán, thuế và các chuyên ngành có liên quan. Hơn 15%cán bộ công nhân viên AAC đã hoàn thành chương trình đào tạo cao học tại cáctrường đại học ở Việt Nam và các quốc gia tiên tiến như Úc, Nhật Bản, Ireland,Bỉ…. Hiện nay, AAC là một trong số 10 Công ty kiểm toán trên toàn quốc có sốlượng kiểm toán viên hành nghề đông đảo nhất: hơn 132 nhân viên, trong đókhoảng 31 người đã có chứng chỉ kiểm toán viên cấp quốc gia và sẽ tiếp tục tănglên trong thời gian tới. AAC có 100% đội ngũ kiểm toán viên và trợ lỹ kiểm toán viên cao cấp đượcđào tạo trực tiếp bởi các chuyên gia cao cấp về kiểm toán của Cộng đồng Châu Âuthông qua chương trình hợp tác về kiểm toán và kế toán của dự án EURO –TAPVIET do Cộng đồng Châu Âu tài trợ. Bên cạnh đó, việc cử các kiểm toán viên tham gia các khóa đào tạo, hội thảochuyên đề do IGAF Polaris tổ chức hàng năm góp phần giúp cho các Kiểm toánviên và Chuyên viên của AAC được trang bị, cập nhật các kiến thức mới, kỹ năngthực hành kiểm toán, tư vấn hiện đại và cải thiện khả năng ngoại ngữ. Do đó, với đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp, ý thức trách nhiệm cao, cóđạo đức nghề nghiệp trong sáng đã góp phần giúp AAC từng bước khẳng địnhnăng lực và uy tín của mình trên thị trường kiểm toán Việt Nam.SVTH: Phạm Thị Tư- Lớp34K06.1 Trang 24

×