Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

20,685 views

Published on

Luận văn: hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC
Tham khảo tại: http://luanvan.forumvi.com/t178-topic

Published in: Education
  • Follow the link, new dating source: ♥♥♥ http://bit.ly/369VOVb ♥♥♥
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Sex in your area is here: ❶❶❶ http://bit.ly/369VOVb ❶❶❶
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và CAO HỌC (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ. DỊCH VỤ LÀM SLIDE: 10.000VNĐ/1SLIDE
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • sao ko dowload dc tai lieu nay nhi cac ban?
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here

hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC

  1. 1. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀI.1. Tính cấp thiết của đề tài: Trong điều kiện bước đầu hội nhập vào nền kinh tế thế giới, môi trường kinh doanh ởViệt Nam đã và đang tiến dần đến thế ổn định. Môi trường đó ngày càng rộng mở đã thu hútnhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước tạo điều kiện cho sự ra đời và phát triển của các doanhnghiệp. Đi đôi với sự phát triển của doanh nghiệp là sự gia tăng nhu cầu sử dụng thông tin tàichính. Vì vậy, vấn đề trung thực, hợp lý của thông tin trên báo cáo tài chính càng trở nên cấpthiết, nhu cầu về kiểm toán càng trở thành tất yếu. Ở Việt Nam, hoạt động Kiểm toán chính thức ra đời từ năm 1991 với sự hình thành củahai công ty: Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) và Công ty dịch vụ kế toán Việt Nam(AASC). Cho đến nay, số lượng các công ty kiểm toán đã tăng lên đáng kể và loại hình công tycũng đa dạng hơn bao gồm: công ty TNHH, công ty liên doanh, công ty 100% vốn nướcngoài... Với chức năng xác minh tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính, kiểm toánkhông chỉ đảm bảo lợi ích cho các nhà đầu tư, lợi ích của các chủ sở hữu vốn, chủ nợ và củachính bản thân doanh nghiệp mà còn giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội có đượcnhững thông tin kinh tế, tài chính trung thực từ các doanh nghiệp. Một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng mà công ty kiểm toán thường cungcấp cho khách hàng đó chính là kiểm toán báo cáo tài chính. Để hoàn thành tốt mục tiêu kiểmtoán, kiểm toán viên cần kiểm tra, soát xét tất cả các khoản mục và bộ phận cấu thành nên báocáo tài chính. Trong điều kiện thời gian và nguồn lực bị giới hạn, kiểm toán viên không thể tiếnhành kiểm tra chi tiết toàn bộ dữ liệu kế toán. Chính vì vậy, yêu cầu tất yếu đặt ra là phải ápdụng các kỹ thuật chọn mẫu vào trong quá trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính. Cũng như nhiều khía cạnh khác của Kiểm toán, Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũngquy định rõ về việc lấy mẫu kiểm toán cũng như các thủ tục lựa chọn khác, tuy nhiên, việc ápdụng các kỹ thuật chọn mẫu nào và thực hiện ra sao còn phụ thuộc và đặc điểm, điều kiện cụthể của từng công ty kiểm toán. Nhận thức được ý nghĩa và vai trò của kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tàichính, cộng với mong muốn được đi sâu tìm hiểu thực tế vấn đề này tại một công ty kiểm toáncụ thể, em đã quyết định chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫuSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 1
  2. 2. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứctrong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC” làm đề tàinghiên cứu cho mình.I.2. Mục tiêu nghiên cứu:I.2.1. Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu chung của đề tài này là tìm hiểu kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tạicông ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC được áp dụng thực tế tại các công ty khách hàng,từ đó đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện các kỹ thuật trên.I.2.2. Mục tiêu cụ thể: • Tìm hiểu các lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính. • Tìm hiểu và phân tích các kỹ thuật chọn mẫu mà các kiểm toán viên công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC thực hiện tại công ty khách hàng, từ đó chỉ ra ưu điểm và hạn chế của các kỹ thuật mà công ty đang áp dụng. • Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong Kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC.I.3. Câu hỏi và giả thiết nghiên cứu:I.3.1. Câu hỏi nghiên cứu: - Thực trạng việc áp dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại côngty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC hiện nay như thế nào? - Có những ưu điểm và hạn chế gì trong các kỹ thuật chọn mẫu đang áp dụng tại côngty? - Những biện pháp nào trong công tác chọn mẫu có thể thích hợp và giúp nâng cao hiệuquả công tác kiểm toán báo cáo tài chính của công ty?I.3.2. Giả thiết nghiên cứu: Kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kếtoán AAC có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Vì vậy, cần đưa ra những biện pháp nhằmphát triển và hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu nói chung và kiểm toán báo cáo tài chính nói riêngphù hợp với tình hình, điều kiện cụ thể của công ty.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 2
  3. 3. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh ĐứcI.4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:I.4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại Công tyTNHH Kiểm toán và Kế toán AAC.I.4.2. Phạm vi nghiên cứu:  Về không gian:Đề tài được thực hiện tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC .  Về thời gian:Đề tài được thực hiện trong thời gian từ ngày 04/01/2011 đến ngày 15/04/2011.  Về nội dung:Do giới hạn về không gian và thời gian nghiên cứu nên đề tài chỉ đi sâu tìm hiểu kỹ thuật chọnmẫu tại công ty khách hàng ABC và công ty XYZ.I.5. Phương pháp nghiên cứu:I.5.1. Phương pháp thu thập số liệu: • Thu thập, nghiên cứu các chuẩn mực, chế độ kế toán và kiểm toán Việt Nam hiện hành cùng các tài liệu chuyên khảo có liên quan như giáo trình, sách báo về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC. • Thu thập các tài liệu, hồ sơ năm trước liên quan tới kỹ thuật chọn mẫu trong trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC. • Quan sát quá trình các KTV tiến hành chọn mẫu và phỏng vấn KTV về quy trình tiến hành chọn mẫu trong thực tế. • Trực tiếp tham gia quy trình kiểm toán với vai trò Trợ lý Kiểm toán viên.I.5.2. Phương pháp xử lý số liệu: Sau khi thu thập số liệu, người viết tiến hành phân tích, tổng hợp, đối chiếu số liệu cũngnhư vận dụng các kiến thức và kinh nghiệm thực tế có được về kỹ thuật chọn mẫu để từ đó cócái nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu.I.6. Cấu trúc của đề tài: Cấu trúc của đề tài bao gồm những nội dung sau:- Phần I : Đặt vấn đềSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 3
  4. 4. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức- Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu, gồm có 4 chương + Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính + Chương 2: Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC + Chương 3: Thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chínhtại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC + Chương 4: Một số biện pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tàichính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC- Phần III: Kết luận và kiến nghịSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 4
  5. 5. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUChương 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báocáo tài chính1.1. Khái niệm về chọn mẫu trong kiểm toán: Chọn mẫu kiểm toán là quá trình chọn một nhóm các phần tử hoặc đơn vị (gọi là mẫu) từmột tập hợp lớn các phần tử hoặc đơn vị (gọi là tổng thể) và sử dụng các đặc trưng của mẫu đểsuy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam -VSA 530, lấy mẫu kiểm toán (gọi tắt là lấy mẫu)là áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tàikhoản hay một loại nghiệp vụ, sao cho mọi phần tử đều có cơ hội để được chọn. Lấy mẫu sẽgiúp kiểm toán viên thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán về các đặc trưng của các phầntử được chọn, nhằm hình thành hay củng cố kết luận về tổng thể. Trong quá trình thực hiện chọn mẫu, kiểm toán viên thường đặc biệt quan tâm tới tínhhiệu quả của các thủ tục kiểm soát, tính chính xác của quá trình xử lý nghiệp vụ và tính chínhxác của các số dư tài khoản.1.2. Các khái niệm liên quan đến chọn mẫu kiểm toán:1.2.1. Tổng thể: Tổng thể là tập hợp bao gồm tất cả các phần tử hoặc đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu.Mỗi một phần tử trong tổng thể được gọi là đơn vị tổng thể. Trong kiểm toán, tổng thể được hiểu là toàn bộ dữ liệu mà từ đó kiểm toán viên chọn mẫuđể có thể đi đến một kết luận. Ví dụ, tất cả các phần tử trong một số dư tài khoản hay một loạinghiệp vụ cấu thành một tổng thể. Một tổng thể có thể được chia thành các nhóm hoặc các tổngthể con và mỗi nhóm được kiểm tra riêng. Theo mục 36 của VSA 530, kiểm toán viên phải đảm bảo tính phù hợp và đầy đủ củatổng thể. • Phù hợp: Tổng thể phải phù hợp với mục đích của thủ tục lấy mẫu. • Đầy đủ: Tổng thể phải luôn đầy đủ.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 5
  6. 6. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức1.2.2. Đơn vị lấy mẫu: Đơn vị lấy mẫu là các phần tử riêng biệt cấu thành tổng thể. Ví dụ, các séc trong bảng kênộp tiền, các nghiệp vụ ghi Có trên sổ phụ ngân hàng, Hóa đơn bán hàng hoặc số dư Nợ cáckhoản phải thu khách hàng. Đơn vị lấy mẫu có thể là một đơn vị tiền tệ, một đơn vị hiện vật hoặc số lượng.1.2.3. Cỡ mẫu: Tập hợp các phần tử được chọn ra làm đại diện trong quá trình khảo sát một đặc điểm haymột dấu hiệu nào đó của tổng thể thường gọi là một mẫu. Số phần tử có trong mẫu thường được gọi là kích thước mẫu hay cỡ mẫu, thông thường làkhá nhỏ so với tổng thể chọn mẫu. Mục 41 và 42 của VSA 530 có nêu rằng: Kiểm toán viên phải đảm bảo rủi ro kiểm toándo áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡmẫu. Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng bởi mức rủi ro kiểm toán. Rủi ro có thể chấp nhận được càngthấp, thì cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn. Cỡ mẫu được xác định theo phương pháp thống kê hoặcxét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên phải khách quan trong mọi trường hợp.1.2.4. Mẫu đại diện: Mẫu đại diện là mẫu mang những đặc trưng của tổng thể. Chẳng hạn, qua kiểm soát nộibộ xác định 3% phiếu chi không có chứng từ gốc đính kèm. Nếu trong hàng ngàn phiếu chi,chọn ra 100 phiếu và kiểm tra thấy có đúng ba lần thiếu chứng từ gốc thì mẫu được chọn là đạidiện.1.2.5.Rủi ro chọn mẫu: Khi chọn mẫu, rủi ro chọn mẫu luôn phát sinh. Rủi ro chọn mẫu là khả năng mà kết luậncủa kiểm toán viên dựa trên kiểm tra mẫu có thể khác với kết luận của kiểm toán viên đạt đượcnếu kiểm tra trên toàn bộ tổng thể với cùng một thủ tục. Nói cách khác, rủi ro chọn mẫu là sựsai khác giữa kết quả mẫu chọn với kết quả thực tế. Có hai loại rủi ro chọn mẫu: • Rủi ro khi kiểm toán viên kết luận rủi ro kiểm soát thấp hơn mức rủi ro thực tế (đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc không có sai sót trọng yếu trong khi thực tế là có (đối với thử nghiệm cơ bản). Loại rủi ro này ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của cuộc kiểm toán, và có thể dẫn đến ý kiến kiểm toán không xác đáng.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 6
  7. 7. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức • Rủi ro khi kiểm toán viên kết luận rủi ro kiểm soát cao hơn mức rủi ro thực tế (đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc có sai sót trọng yếu trong khi thực tế không có (đối với thử nghiệm cơ bản). Loại rủi ro này ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán vì nó thường dẫn đến các công việc bổ sung để chứng minh rằng các kết luận ban đầu là không đúng. Rủi ro chọn mẫu có thể giảm bằng cách tăng cỡ mẫu. Nếu tăng kích cỡ mẫu chọn cho tớikhi bằng toàn bộ tổng thể thì rủi ro chọn mẫu bằng không. Tuy nhiên, cỡ mẫu tăng lên đồngnghĩa với chi phí kiểm toán tăng lên, do đó, yếu tố cơ bản trong việc chọn mẫu kiểm toán mộtcách hiệu quả là cần phải cân đối giữa rủi ro chọn mẫu với chi phí do chọn mẫu có kích cỡ lớn.1.2.6.Rủi ro không do chọn mẫu: Rủi ro không do chọn mẫu là rủi ro khi kiểm toán viên đi đến một kết luận sai vì cácnguyên nhân không liên quan đến cỡ mẫu. Nguyên nhân của rủi ro này thường là khả năng (trítuệ và thể lực) của kiểm toán viên. Ví dụ: kiểm toán viên có thể sử dụng thủ tục kiểm toánkhông thích hợp hay kiểm toán viên hiểu sai bằng chứng và không nhận diện được sai sót. Các trường hợp dẫn tới rủi ro không do chọn mẫu thường bao gồm:  Thứ nhất, đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng. Kiểm toán viên có thể đánh giá sai lầm rủi ro tiềm tàng trong đối tượng kiểm toán. Có thể kiểm toán viên cho rằng có ít sai phạm trọng yếu tồn tại trong đối tượng kiểm toán nên họ có xu hướng giảm qui mô công việc cần thực hiện, do đó không phát hiện được các sai phạm.  Thứ hai, đánh giá không đúng về rủi ro kiểm soát. Kiểm toán viên có thể quá lạc quan, tin tưởng vào khả năng của hệ thống kiểm soát nội bộ trong việc ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa kịp thời các sai phạm nên họ có xu hướng giảm khối lượng công việc cần thiết, vì vậy kết quả cũng như trường hợp đánh giá sai về rủi ro tiềm tàng là không phát hiện được tất cả các sai phạm trọng yếu.  Thứ ba, lựa chọn các thủ tục kiểm toán không thích hợp và thực hiện công việc kiểm toán không hợp lý. Kiểm toán viên có thể chọn các thử nghiệm kiểm toán không phù hợp với mục tiêu kiểm toán, ví dụ: gửi thư xác nhận các khoản phải thu theo sổ sách trong khi đó mục tiêu là tìm ra các khoản phải thu chưa ghi sổ. Hoặc có thể đã chọn được các thủ tục thích hợp nhưng việc triển khai các thủ tục đó lại để xảy ra sai sót do hạn chế về năng lực, thể lực hay về thời gian.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 7
  8. 8. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Kiểm toán viên và công ty kiểm toán có thể kiểm soát được rủi ro không do chọn mẫu vàcó khả năng làm giảm rủi ro không do chọn mẫu tới mức có thể chấp nhận được thông qua lậpkế hoạch và giám sát việc thực hiện kế hoạch một cách chu đáo, đồng thời phải thực hiện cácthủ tục kiểm soát chất lượng chặt chẽ và thích hợp đối với công việc kiểm toán.1.3. Yêu cầu đối với chọn mẫu kiểm toán: Chọn mẫu kiểm toán trên cơ sở sử dụng các đặc trưng mẫu để suy rộng cho đặc trưngcủa toàn bộ tổng thể. Như vậy, yêu cầu cơ bản của chọn mẫu là phải chọn được mẫu đại diện. Một mẫu đại diện là mẫu mà các đặc điểm của mẫu cũng giống như những đặc điểm củatổng thể. Trên thực tế, kiểm toán viên không biết mẫu có tính đại diện hay không dù sau đó tất cảcác thử nghiệm đều được thực hiện. Tuy nhiên, kiểm toán viên có thể tăng khả năng đại diệncủa mẫu bằng cách thận trọng khi thiết kế, lựa chọn và đánh giá mẫu.1.4. Chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê:1.4.1. Chọn mẫu thống kê: Chọn mẫu thống kê là việc sử dụng kỹ thuật tính toán toán học để tính kết quả thống kêcó hệ thống. Chọn mẫu thống kê có hai đặc điểm sau: - Các phần tử được chọn ngẫu nhiên vào mẫu - Sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quả mẫu bao gồm cả việc định lượngrủi ro chọn mẫu. Chọn mẫu thống kê được khuyến khích sử dụng do có một số ưu điểm sau: • Đòi hỏi có sự tiếp cận chính xác và rõ ràng đối với đối tượng kiểm toán. • Kết hợp chặt chẽ việc đánh giá mối quan hệ trực tiếp giữa kết quả của mẫu chọn với tổng thể trong cuộc kiểm toán. • KTV phải chỉ rõ các đánh giá cụ thể hay mức rủi ro và mức trọng yếu.1.4.2. Chọn mẫu phi thống kê: Chọn mẫu phi thống kê là phương pháp chọn mẫu không có một hoặc hai đặc điểm củaphương pháp chọn mẫu thống kê. Việc lựa chọn mẫu sẽ dựa vào phán xét nghề nghiệp củakiểm toán viên chứ không dựa vào lý thuyết xác suất. Do đó, các kết luận được tiếp cận với cáctổng thể trên một căn cứ phán đoán nhiều hơn.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 8
  9. 9. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức1.4.3. So sánh chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê: Chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê là hai cách tiếp cận chọn mẫu trong kiểmtoán. Hai cách này nếu được áp dụng hợp lý đều có thể cung cấp đủ các bằng chứng có hiệulực.  Giống nhau: Chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê đều bao gồm 3 bước: • Bước 1: Lập kế hoạch chọn mẫu. • Bước 2: Thực hiện chọn mẫu và thực hiện kiểm tra mẫu. • Bước 3: Đánh giá kết quả.  Khác nhau: Chọn mẫu thống kê Chọn mẫu phi thống kêChọn mẫu thống kê có thể xác định được Trong chọn mẫu phi thống kê, KTVrủi ro chọn mẫu trong giai đoạn lập kế không xác định được rủi ro chọn mẫu. Cáchoạch về mẫu (Giai đoạn 1) và đánh giá phần tử được chọn vào mẫu là nhữngkết quả (Giai đoạn 3) thông qua việc vận phần tử mà KTV cho rằng sẽ cung cấpdụng các quy tắc toán học. thông tin tốt nhất cho tình huống nghiên cứu. Kết luận về tổng thể sẽ được đưa ra trên cơ sở cân nhắc và phán xét của KTV.1.5. Các phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu:1.5.1. Chọn mẫu xác suất:1.5.1.1. Chọn mẫu ngẫu nhiên: Chọn mẫu ngẫu nhiên là một phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu theo nguyên tắcmỗi phần tử trong tổng thể đều có cơ hội như nhau để được chọn vào mẫu. Trong chọn mẫu ngẫu nhiên không có sự phân biệt, đối xử giữa các phần tử tổng thể nênchọn mẫu ngẫu nhiên được vận dụng khi các phần tử trong tổng thể được đánh giá là tương đốiđồng đều (về khả năng sai phạm, về quy mô...). Tuy nhiên, mẫu được chọn ngẫu nhiên khôngnhất thiết sẽ là mẫu đại diện vì có khả năng mẫu chọn được không chứa đựng những đặc tínhgiống như đặc tính của tổng thể.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 9
  10. 10. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Chọn mẫu ngẫu nhiên có thể được thực hiện với việc sử dụng bảng số ngẫu nhiên haytheo chương trình máy vi tính.a. Chọn mẫu dựa trên bảng số ngẫu nhiên: Một trong những cách chọn mẫu ngẫu nhiên trực quan nhất là chọn mẫu sử dụng bảng sốngẫu nhiên. Bảng số ngẫu nhiên là một bảng liệt kê ngẫu nhiên các chữ số độc lập, được sắp xếp dạngbảng biểu để làm dễ dàng cho việc lựa chọn các số ngẫu nhiên nhiều chữ số. Bảng này đượcsắp xếp thành các cột và dòng theo kiểu bàn cờ, mỗi số ngẫu nhiên gồm năm chữ số thập phân.Bảng số ngẫu nhiên được xây dựng bởi Hiệp hội Thương mại Liên quốc gia Hoa Kỳ. Ví dụ vềloại bảng này được trình bày trong phụ lục 1. Công dụng đích thực của bảng ngẫu nhiên rất quan trọng – nhằm đảm bảo cho quy trìnhchọn lựa một mẫu ngẫu nhiên. Quy trình chọn mẫu theo bảng số ngẫu nhiên gồm bốn bước sau: Bước 1: Định lượng đối tượng kiểm toán bằng hệ thống con số duy nhất Mục tiêu của định lượng đối tượng kiểm toán là gắn cho mỗi phần tử của tổng thể vớimột con số duy nhất và từ đó ta có thể có được mối quan hệ giữa các số duy nhất trong tổng thểvới bảng số ngẫu nhiên. Thông thường đối tượng kiểm toán (các chứng từ, tài sản...) đã được mã hóa rước bằngcon số duy nhất. Chẳng hạn, có 5000 các khoản phải thu từ khách hàng và được đánh số thứ tựtừ 0001 đến 5000. Khi đó, bản thân các con số thứ tự trên là các đối tượng chọn mẫu. Tuynhiên, trong một số trường hợp kiểm toán viên có thể cần thiết phải đánh số lại cho tổng thể đểcó thể có một hệ thống số duy nhất tương thích với bảng số ngẫu nhiên. Chẳng hạn, nếu cácnghiệp vụ đã được đánh số A-001, B-001,... thì kiểm toán viên có thể dùng các con số để thaythế các ký tự chữ cái và khi đó có thể dãy số mới là 1-001, 2-001... Trường hợp phải đánh số lại cho đối tượng kiểm toán thì nên tận dụng các con số đã cómột cách tối đa để đơn giản hóa việc đánh số. Ví dụ, trong một quyển sổ chứa các khoản mụctài sản kiểm toán gồm 90 trang, mỗi trang gồm 30 dòng. Để có con số duy nhất, có thể kết hợpsố thứ tự của trang với số thứ tự của dòng trên mỗi trang để có số thứ tự từ 0101 đến 9030. Bước 2: Thiết lập mối quan hệ giữa bảng số ngẫu nhiên với đối tượng được kiểmtoán đã địnhSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 10
  11. 11. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Do đối tượng kiểm toán đã được định lượng bằng các con số cụ thể nên vấn đề đặt ra làlựa chọn các số định lượng tương ứng với số ngẫu nhiên trong bảng. Có thể có 3 trường hợpxảy ra:  Thứ nhất, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán cũng gồm 5 chữ số như các con số ngẫu nhiên trong Bảng. Khi đó quan hệ tương quan 1 - 1 giữa định lượng đối tượng kiểm toán với các số ngẫu nhiên trong Bảng tự nó đã được xác lập. Việc tìm được số ngẫu nhiên trong bảng có nghĩa phần tử nào trong tổng thể có số định lượng bằng với số ngẫu nhiên đó thì sẽ được chọn vào mẫu.  Thứ hai, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán gồm số lượng chữ số ít hơn 5 chữ số. Chẳng hạn, trong ví dụ nêu ở bước 1, kiểm toán viên cần chọn ra 100 khoản phải thu trong số 5000 khoản phải thu đánh số từ 0001 đến 5000. Các số này là số gồm 4 chữ số. Do vậy, kiểm toán viên có thể xây dựng mối quan hệ với Bảng số ngẫu nhiên bằng cách lấy 4 chữ số đầu hoặc 4 chữ số cuối của số ngẫu nhiên trong Bảng. Nếu trường hợp số định lượng còn ít chữ số hơn nữa thì có thể lấy chữ số giữa trong số ngẫu nhiên.  Thứ ba, các số định lượng của đối tượng kiểm toán có số các chữ số lớn hơn 5. Để thiết lập mối quan hệ giữa số định lượng và số ngẫu nhiên, cần ghép thêm số chữ số còn thiếu vào số ngẫu nhiên cho tương xứng với số chữ số của số định lượng. Khi đó, kiểm toán viên phải xác định cột chính và cột phụ trong bảng, sau đó chọn lấy cột nào trong Bảng làm cột chủ và chọn thêm những hàng số ở cột phụ của Bảng. Chẳng hạn, với số định lượng có 7 chữ số ta cần ghép số ngẫu nhiên ở cột chính với 2 chữ số của số ngẫu nhiên ở cột phụ. Bước 3: Lập hành trình sử dụng Bảng Đây là việc xác định hướng đi của việc chọn các số ngẫu nhiên. Hướng đó có thể dọc(theo cột) hoặc ngang (theo hàng), có thể xuôi (từ trên xuống dưới) hoặc ngược (từ dưới lêntrên). Việc xác định này thuộc quyền phán quyết của kiểm toán viên xong cần được đặt ra từtrước và thống nhất trong toàn bộ quá trình chọn mẫu. Một vấn đề cần phải được đặc biệt quantâm ở đây là lộ trình chọn mẫu phải được ghi chép lại trong hồ sơ kiểm toán để khi một kiểmtoán viên khác có kiểm tra lại việc chọn mẫu thì họ cũng chọn được mẫu tương tự. Bước 4: Chọn điểm xuất phátSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 11
  12. 12. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Bảng số ngẫu nhiên bao gồm rất nhiều trang. Để chọn điểm xuất phát, bảng số ngẫu nhiênnên được mở ra một cách ngẫu nhiên và ngẫu nhiên chọn ra một số trong bảng để làm điểmxuất phát. Khi sử dụng Bảng số ngẫu nhiên để chọn mẫu, có thể có những phần tử xuất hiện nhiềuhơn một lần. Nếu KTV không chấp nhận lần xuất hiện thứ hai trở đi thì cách chọn đó được gọilà chọn mẫu không lặp lại (chọn mẫu thay thế). Ngược lại, chọn mẫu lặp lại (chọn mẫu khôngthay thế) là cách chọn mà một phần tử trong tổng thể có thể được chọn vào mẫu nhiều hơn mộtlần. Trong hầu hết các trường hợp KTV thường loại bỏ các phần tử trùng lắp, hay nói cách kháclà thường sử dụng chọn mẫu thay thế. Mặc dù chọn mẫu thay thế vẫn đảm bảo tính ngẫu nhiênnhưng số lượng phần tử mẫu thực tế khảo sát sẽ giảm đi và lúc đó độ tin cậy của mẫu chọncũng giảm theo.b. Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình máy tính: Hiện nay, phần lớn các hãng kiểm toán đã thuê hay tự xây dựng các chương trình chọnmẫu ngẫu nhiên qua máy vi tính nhằm tiết kiệm thời gian và giảm các sai sót trong việc chọnmẫu. Các chương trình chuyên dụng này rất đa dạng, tuy nhiên nói chung vẫn tôn trọng haibước đầu tiên của chọn mẫu ngẫu nhiên theo bảng số ngẫu nhiên là lượng hoá đối tượng kiểmtoán bằng hệ thống con số duy nhất và xác lập mối quan hệ giữa đối tượng kiểm toán đã địnhlượng với các con số ngẫu nhiên. Tuy nhiên, số ngẫu nhiên lại do máy vi tính tạo ra. Thông thường, ở đầu vào của chương trình cần có số nhỏ nhất và số lớn nhất trong dãy sốthứ tự của đối tượng kiểm toán, quy mô mẫu cần chọn và có thể cần có một số ngẫu nhiên làmđiểm xuất phát. Ở đầu ra thường là bảng kê số ngẫu nhiên theo trật tự lựa chọn hoặc theo dãy sốtăng dần hoặc cả hai. Chọn mẫu bằng chương trình máy vi tính có thể loại bỏ được những sốkhông thích hợp, tự động loại bỏ những phần tử bị trùng lắp và tự động phản ánh kết quả vàogiấy tờ làm việc. Song ưu điểm nổi bật nhất vẫn là làm giảm sai sót chủ quan do con người (rủiro không do chọn mẫu) trong quá trình chọn mẫu.1.5.1.2. Chọn mẫu hệ thống: Chọn mẫu hệ thống là cách chọn sao cho chọn được các phần tử trong tổng thể có khoảngcách đều nhau gọi là khoảng cách mẫu (k). Khoảng cách mẫu này được tính bằng cách lấy kíchcỡ tổng thể chia cho kích cỡ mẫu.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 12
  13. 13. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Ví dụ, nếu tổng thể có kích cỡ N = 1052 đơn vị và cỡ mẫu cần chọn n = 100 thì khoảngcách mẫu (k) sẽ được tính như sau: k = N/n = 1052/100 = 10,52 (làm tròn thành 10 – thông thường phải làm tròn xuống để cóthể chọn đủ số phần tử mẫu theo yêu cầu). Đơn vị mẫu đầu tiên (m 1) được chọn một cách ngẫu nhiên trong khoảng từ phần tử đầutiên trong tổng thể (x1) đến phần tử cách đó (k-1) vị trí. x1 ≤ m1 ≤ xk Các đơn vị mẫu kế tiếp được xác định theo công thức: mi +1 = m1 +k Giả sử trong ví dụ trên chúng ta chọn mẫu ngẫu nhiên được điểm xuất phát m1 = 5 thì cácđơn vị mẫu kế tiếp theo sẽ là m2 = 15, m3 = 25,... cho đến khi chọn đủ 100 đơn vị mẫu vàm100 = 995. Nguyên tắc của phương pháp này là kể từ một điểm xuất phát ngẫu nhiên được chọn sẽlựa chọn các phần tử cách nhau một khoảng cách cố định. Đơn vị mẫu đầu tiên được chọn ngẫunhiên nên mỗi đơn vị tổng thể ban đầu có cơ hội được chọn ngang nhau. Tuy nhiên, sau khiđơn vị mẫu đầu tiên được chọn, mỗi đơn vị về sau lại không có cơ hội như nhau để được chọnvào mẫu. Ưu điểm chủ yếu của chọn mẫu hệ thống là đơn giản, dễ làm, dễ sử dụng. Tuy nhiên,kiểm toán viên cần tránh thiên vị trong lựa chọn. Để tăng tính đại diện của mẫu, kiểm toán viênsắp xếp tổng thể theo một thứ tự ngẫu nhiên. Dùng nhiều điểm xuất phát cũng là một cách tốtđể hạn chế nhược điểm của cách chọn này. Kinh nghiệm chỉ ra rằng khi ứng dụng phương phápchọn mẫu hệ thống thì cần phải sử dụng ít nhất 5 điểm xuất phát. Khi sử dụng nhiều điểm xuấtphát thì khoảng cách mẫu phải được điều chỉnh bằng cách lấy khoãng cách mẫu hiện tại nhânvới số điểm ngẫu nhiên cần thiết. Ví dụ, ở ví dụ trên khoảng cách mẫu hiện tại là 10 và với sốđiểm xuất phát ngẫu nhiên cần thiết là 5 thì ta có khoảng cách mẫu điều chỉnh là 50 (5 x 10).Năm điểm xuất phát được lựa chọn ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 đến 51. Sau đó, tất cả cáckhoản mục cách nhau một khoảng cách k = 50 sẽ được chọn ra kể từ điểm xuất phát ban đầu.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 13
  14. 14. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức1.5.2. Chọn mẫu phi xác suất: Trong chọn mẫu phi xác suất, các phần tử không có cơ hội như nhau để được lựa chọnvào mẫu. Kiểm toán viên dựa vào nhận định nhà nghề để phán xét và quyết định chọn phần tửnào vào mẫu. Chọn mẫu phi xác suất bao gồm chọn mẫu theo khối (theo lô) và chọn mẫu trực tiếp.1.5.2.1. Chọn mẫu theo khối (theo lô): Chọn mẫu theo khối (theo lô) là việc chọn một tập hợp các phần tử kế tiếp nhau trong mộttổng thể. Trong trường hợp này, phần tử đầu tiên trong khối được chọn thì các phần tử còn lạicũng được chọn tất yếu. Mẫu được chọn có thể là một khối liền hay nhiều khối rời gộp lại. Việc chọn mẫu theo khối để kiểm toán các nghiệp vụ, tài sản, hoặc khoản mục chỉ đượcáp dụng khi đã nắm chắc tình hình của đơn vị được kiểm toán và khi có số lượng các khối vừađủ. Do đó, trong việc xác định các mẫu cụ thể cần đặc biệt chú ý đến các tình huống đặc biệtnhư: thay đổi nhân sự, thay đổi hệ thống kế toán và chính sách kinh tế, tính thời vụ của ngànhkinh doanh...1.5.2.2. Chọn mẫu theo nhận định: Chọn mẫu theo nhận định là cách chọn các phần tử mẫu dựa trên các tiêu thức xác lập bởicác kiểm toán viên. Các phần tử trong tổng thể không có xác suất như nhau để được chọn vàomẫu mà kiểm toán viên chủ tâm lựa chọn các phần tử theo các tiêu thức đã xác lập. Các tiêuthức thường được sử dụng bao gồm: • Các phần tử có khả năng sai phạm nhất: khi kiểm toán viên nhận định một số phần tử tổng thể có khả năng sai phạm rõ ràng (ví dụ: khoản phải thu quá hạn thanh toán đã lâu, các giao dịch có giá trị lớn bất thường hay có tính phức tạp cao) thì các kiểm toán viên sẽ chọn ngay các phần tử đó để kiểm tra chi tiết. Cụ thể, nếu các phần tử được chọn để kiểm tra không có sai phạm thì hầu như không có khả năng tổng thể có sai phạm trọng yếu. • Các phần tử có đặc trưng của tổng thể: khi các kiểm toán viên muốn có mẫu đại diện cho tổng thể sẽ sử dụng tiêu thức này. Ví dụ: mẫu các khoản chi tiền mặt có thể bao gồm một số khoản chi tiền mặt của từng tháng, một số khoản chi tiền cho từng loại giao dịch.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 14
  15. 15. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức • Các phần tử có quy mô tiền tệ lớn: khi mẫu bao gồm các phần tử có quy mô tiền tệ lớn thì rủi ro của kết luận sai lầm do bỏ qua không kiểm tra các phần tử nhỏ sẽ trở thành không đáng kể.1.6. Kỹ thuật phân nhóm trong chọn mẫu kiểm toán:: Kiểm toán viên thường phân tổng thể thành các nhóm trước khi xác định quy mô củamẫu cũng như thực hiện chọn mẫu. Phân nhóm là kỹ thuật phân chia tổng thể thành nhiềunhóm nhỏ hơn (gọi là tổ hoặc tầng) mà các phân tử trong cùng một nhóm có những đặc tínhkhá tương đồng nhau, thường là theo quy mô lượng tiền. Các tổng thể con sẽ được chọn mẫuđộc lập và kết quả của các mẫu được đánh giá một cách độc lập hoặc kết hợp để từ đó suy rakết quả của toàn tổng thể. Nhiệm vụ của kiểm toán viên là phải phân định nhóm một cách rõràng để mỗi đơn vị mẫu chỉ thuộc một nhóm. Việc phân nhóm sẽ làm giảm sự khác biệt trong cùng một nhóm và giúp kiểm toán viêncó thể tập trung vào những bộ phận chứa đựng nhiều khả năng sai phạm. Từ đó sẽ làm tănghiệu quả chọn mẫu vì có thể giảm được quy mô mẫu chọn. Chẳng hạn kiểm toán viên có thểtập trung vào những khoản mục hoặc đơn vị có tính trọng yếu hay có những đặc tính đặc biệtvà bỏ qua những nhóm không quan trọng hoặc không tương thích với mục tiêu kiểm toán. Vídụ, khi lựa chọn các khoản phải thu để xác nhận, kiểm toán viên có thể phân tầng đối với tổngthể và hướng kiểm tra như sau: Bảng 1.1: Ví dụ về phân nhóm trong chọn mẫu kiểm toán Tầng Qui mô Cấu tạo của tầng Chọn mẫu 1 22 Các khoản phải thu có giá trị > 500 triệu Kiểm tra 100% 2 121 Các khoản phải thu có giá trị 100 – 500 Chọn theo nhận triệu định 3 85 Các khoản phải thu có giá trị < 100 triệu Chọn theo bảng số ngẫu nhiên 4 14 Các khoản phải thu có số dư có Kiểm tra 100%1.7. Quy trình chọn mẫu khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát: Chọn mẫu thuộc tính là một phương pháp chọn mẫu thống kê để ước tính tỉ lệ của mộtđặc trưng trong tổng thể, phương pháp này thông dụng, phổ biến và thường xuyên được sửdụng nhất. Trong quá trình áp dụng kỹ thuật này để kiểm tra hệ thống kiểm soát, KTV thườngSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 15
  16. 16. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứccố gắng xác định tính hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ trong quan hệ với những sai lệchso với những chính sách kiểm toán nội bộ quy định. Vì vậy, ở phần này sẽ trình bày chọn mẫucho thử nghiệm kiểm soát theo phương pháp chọn mẫu thuộc tính. Trong thực hiện chọn mẫu thuộc tính cho kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toánviên thường thực hiện theo trình tự các bước công việc gồm: lập kế hoạch, thực hiện chọn mẫuvà đánh giá mẫu chọn.1.7.1. Lập kế hoạch:1.7.1.1. Xác định các mục tiêu của những thử nghiệm kiểm tra hệ thống kiểm soát: Mục tiêu của chọn mẫu thuộc tính khi áp dụng cho kiểm tra hệ thống kiểm soát là đánhgiá tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ được quy định (đây là cơ sở để kiểm toán viêncó thể dựa vào để giảm rủi ro kiểm soát xuống dưới mức tối đa). Vì vậy, kiểm toán viên cốgắng đánh giá tỉ lệ sai lệch tồn tại cho mỗi hoạt động kiểm soát được lựa chọn cho kiểm tra.Chọn mẫu kiểm toán cho thử nghiệm kiểm soát thường thích hợp khi thực hiện các thủ tụckiểm soát đã để lại bằng chứng về sự thực hiện. Ví dụ: chữ ký của người chịu trách nhiệm xétduyệt cho phép bán chịu trên các hóa đơn bán hàng. Kiểm toán viên có thể kiểm tra một mẫucác hóa đơn bán hàng về tính hợp lệ trong việc bán chịu hàng hóa.1.7.1.2. Xác định sự sai lệch từ chính sách và thủ tục kiểm soát: Đối với việc kiểm tra hệ thống kiểm soát, một sự sai lệch xảy ra xuất phát từ quá trìnhthực hiện hoạt động kiểm soát nội bộ đã được quy định trước. Điều này là rất quan trọng đốivới kiểm toán viên để xác định cái gì sẽ được xem xét là sai lệch.  Ví dụ: Giả sử kiểm toán viên đang thực hiện một thử nghiệm kiểm soát đối với việc đo lườngcác nghiệp vụ bán hàng. Một trong những hoạt động mà kiểm toán viên quyết định thực hiện làrà soát lại các hóa đơn bán hàng đã được kiểm tra bởi một nhân viên kế toán. Việc kiểm tra củanhân viên kế toán này bao gồm: • So sánh số lượng trên mỗi hóa đơn với các chứng từ vận chuyển; • So sánh giá trên mỗi hóa đơn với bảng giá đã được phê chuẩn; • Kiểm tra tính chính xác số học của mỗi hóa đơn; • Ký lên mỗi hóa đơn để khẳng định hóa đơn đã được kiểm tra;SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 16
  17. 17. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Trong khi thực hiện thử nghiệm kiểm soát này, kiểm toán viên có thể xem một nghiệp vụlà sai lệch nếu bất cứ một hoặc một số điều kiện sai lệch sau đây tồn tại: • Số lượng trên hóa đơn không khớp với chứng từ vận chuyển; • Giá trên hóa đơn không thống nhất với giá trên bảng giá đã phê chuẩn; • Bản sao hóa đơn không có chữ ký của nhân viên kế toán; • Hóa đơn vẫn có những sai sót về mặt số học; Như vậy, khi thực hiện bước công việc này, kiểm toán viên phải lưu ý là các thuộc tính vànhững điều kiện sai lệch cần phải được xác định rõ trước khi thực hiện các thử nghiệm kiểmsoát.1.7.1.3. Xác định tổng thể: Các khoản mục cấu thành số dư tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ tạo nên tổng thể. Bởi vìkết quả chọn mẫu có thể suy rộng cho tổng thể nên KTV cần xác định rõ tổng thể mà từ đó mẫuđược chọn ra là phù hợp với mục tiêu kiểm toán cụ thể. Chẳng hạn, nếu KTV muốn kiểm tra tính hiệu lực của một hoạt động kiểm soát được thiếtkế nhằm khẳng định rằng tất cả các hóa đơn đã được ghi chép một cách đầy đủ (như một khoảndoanh thu) thì họ sẽ không chọn một mẫu từ nhật kí bán hàng, vì tổng thể đó bao gồm cáckhoản doanh thu đã ghi sổ và có thể chúng không bao gồm những hóa đơn chưa được ghi sổ.Thay vào đó, tổng thể được xác định làm cơ sơ chọn mẫu phải là một tổng thể bao hàm tất cảcác nghiệp vụ vận chuyển (như tập hồ sơ lưu các hóa đơn). Tổng thể như vậy được xem là tổngthể hợp lý để có thể phát hiện các sai lệch.1.7.1.4. Xác định đơn vị mẫu: Như đã định nghĩa ở trên, những cá thể trong tổng thể gọi là đơn vị mẫu. Một đơn vị mẫucó thể là một văn bản, một nghiệp vụ hoặc thậm chí có thể một khoản mục trên một dòng. Mỗiđơn vị mẫu tạo nên một phần tử của tổng thể ấy. Đơn vị mẫu này thường được xác định trongquan hệ với hoạt động kiểm soát đang được kiểm tra.  Ví dụ: Khi xem xét hoạt động kiểm soát trong phê chuẩn bán chịu, đơn vị mẫu có thể xác định làcác chứng từ bán hàng bao gồm: đơn đặt hàng của khách hàng, hóa đơn vận chuyển, hóa đơnbán hàng.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 17
  18. 18. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức1.7.1.5. Xác định kích cỡ mẫu: Trong khi sử dụng phương pháp lấy mẫu thống kê, KTV phải xem xét các nhân tố để xácđịnh kích cỡ mẫu phù hợp. Các nhân tố mà KTV nên xem xét các nhân tố để xác định kích cỡmẫu bao gồm: rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ; tỉ lệ sai lệch chấp nhậnđược; tỉ lệ sai lệch tổng thể mong muốn; quy mô tổng thể.a. Rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ: Rủi ro về độ tin cậy vào hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm rủi ro do độ tin cậy thấp vàrủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, đối với rủi ro về độ tin cậythấp vào hệ thống kiểm soát nội bộ tức là kết quả mẫu làm KTV đánh giá rủi ro kiểm soát làcao hơn so với thực tế, do đó họ sẽ thực hiện các thử nghiệm cơ bản nhiều hơn mức cần thiết.Điều này không mang lại hiệu quả của cuộc kiểm toán. Riêng đối với rủi ro do độ tin cậy caovào hệ thống kiểm soát nội bộ, tức là khả năng kết quả mẫu làm cho KTV đánh giá rủi ro kiểmsoát thấp hơn thực tế, thì họ sẽ giảm các thử nghiệm cơ bản một cách không đúng đắn dẫn đếntính hiệu lực của kiểm toán giảm xuống. Kiểm toán viên sẽ xác định rủi ro do độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ dựavào nhận định nghề nghiêp. Vì kết quả của các thử nghiệm kiểm soát đóng vai trò quan trọngtrong việc xác định nội dung, quy mô và thời gian của các thủ tục kiểm soát khác nên KTVluôn xác định rõ mức rủi ro phải ở mức thấp từ 5% đến 10%. Nói cách khác, nếu mức rủi ro dođộ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ thấp là 5% thì đồng nghĩa với mức tin cậy 95%.b. Tỉ lệ sai lệch chấp nhận được: Kiểm toán viên xác định tỉ lệ sai lệch chấp nhận dựa trên mức rủi ro kiểm soát đã đánh giátheo kế hoạch và mức độ tin cậy dựa vào kết quả đánh giá từ mẫu. Khi mức rủi ro kiểm soát đãđánh giá theo kế hoạch càng thấp (hoặc mức tin cậy dựa vào đánh giá từ kết quả mẫu càng cao)thì tỉ lệ sai lệch cho phép càng thấp. Theo kinh nghiệm của các KTV, tỉ lệ sai lệch cho phép cóthể biến đổi như sau:Bảng 1.2: Tỉ lệ sai lệch chấp nhận được đối với các mức đánh giá rủi ro kiểm soát Mức rủi ro kiểm Mức tin cậy mong Rủi ro về độ tin Tỉ lệ sai lệch cho phépsoát được đánh giá muốn từ thử nghiệm cậy cao vào hệ theo kế hoạch kiểm soát dựa trên thống kiểm soát mẫu nội bộ Thấp Cao 5% - 10% 2% - 6%SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 18
  19. 19. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Trung bình Thấp/Trung bình 10% 7% - 10% Cao Thấp 10% 11% - 20% Tối đa Không Bỏ qua thử nghiệmc. Tỉ lệ sai lệch tổng thể dự kiến: Tỉ lệ sai lệch dự kiến của tổng thể rất quan trọng vì nó đại diện cho tỉ lệ sai lệch mà KTVdự kiến sẽ tìm thấy trong mẫu mà họ chọn ra từ tổng thể. Để ước đoán tỉ lệ sai lệch dự kiến của tổng thể, KTV thường sử dụng kết quả mẫu từ nămtrước (được lưu trong hồ sơ làm việc kiểm toán). KTV cũng có thể ước đoán tỉ lệ này dựa vàokinh nghiệm của mình với các thử nghiệm tương tự đã thực hiện đối với các cuộc kiểm toánkhác, hoặc bằng việc kiểm tra thử một mẫu nhỏ.d. Quy mô tổng thể: Quy mô tổng thể thường có ảnh hưởng nhỏ hoặc không có ảnh hưởng tới kích cỡ mẫuchọn. Nó có ảnh hưởng tới kích cỡ mẫu khi tổng thể là rất nhỏ. Nếu tổng thể chứa đựng hơn5000 đơn vị thì ảnh hưởng của quy mô tổng thể là không đáng kể. Để giúp KTV ứng dụng chọn mẫu thuộc tính mà không cần đến các công thức toán họcphức tạp, phụ lục 2 được xây dựng để hổ trợ cho kiểm toán viên xác định kích cỡ mẫu cho thửnghiệm kiểm soát với mức 5% và 10% rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ.1.7.2. Thực hiện chọn mẫu: Sau khi xác định được qui mô của mẫu cần chọn, KTV sẽ tiến hành việc lựa chọn cácphần tử của mẫu theo phương pháp chọn mẫu đã xác định. Khi chọn các phần tử mẫu, kiểmtoán viên cần phải chọn các phần tử bổ sung nhằm thay thế các phần tử không hợp lệ. Một phầntử không hợp lệ là là phần tử không mang một thuộc tính cụ thể theo yêu cầu. Khi đã chọn được mẫu, kiểm toán viên tiến hành thực hiện các thủ tục kiểm toán để tìm racác sai phạm của mẫu. Kiểm toán viên cần chú ý tới các dấu hiệu không bình thường, chẳnghạn như biểu hiện của sự gian lận. Các thủ tục kiểm toán được thực hiện giống nhau theo cùngcách thức khi chọn mẫu thống kê hay chọn mẫu phi thống kê. Kiểm toán viên kiểm tra từngphần tử trong mẫu để xác định liệu xem nó có phù hợp với định nghĩa thuộc tính hay không vàduy trì sự ghi chép về tất cả các sai phạm tìm được.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 19
  20. 20. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức1.7.3. Đánh giá mẫu chọn:1.7.3.1. Tính toán kết quả chọn mẫu: Xác định các kết quả chọn mẫu trong chọn mẫu thuộc tính có thể được thực hiện bằngchương trình máy tính hoặc các bảng chọn thuộc tính. Kiểm toán viên tính độ sai lệch mẫu và tỉlệ sai lệch cao nhất đã tính toán. Tỉ lệ sai lệch chọn mẫu là số sai lệch được phát hiện trong mẫuchia cho số lượng khoản mục trong mẫu. Tỉ lệ sai lệch chọn mẫu phản ánh ước lượng tốt nhấtcủa KTV về tỉ lệ sai lệch tổng thể. Tỉ lệ sai lệch cao nhất đã tính toán thể hiện giới hạn phía trêncho tỉ lệ sai lệch tổng thể được dựa trên kích cỡ mẫu, số lượng sai lệch, về mức rủi ro theo kếhoạch trong đánh giá rủi ro về độ tin cậy cao vào hệ thống kiểm soát nội bộ.1.7.3.2. Thực hiện phân tích sai lệch: Kiểm toán viên nên đánh giá những khía cạnh chất lượng của các sai lệch được nhậndiện. Điều này có liên quan đến hai vấn đề cần xem xét. • Thứ nhất là bản chất của sai lệch và nguyên nhân của sai lệch. • Thứ hai là KTV nên xem xét những sai lệch này có thể ảnh hưởng như thế nào tới các giai đoạn khác của cuộc kiểm toán.1.7.3.3. Đưa ra kết luận cuối cùng: Trong kết luận về việc ứng dụng chọn mẫu thống kê trong thử nghiệm kiểm soát, KTV sosánh tỉ lệ sai lệch có thể chấp nhận được với tỉ lệ sai lệch cao nhất theo tính toán. • Nếu tỉ lệ sai lệch cao nhất theo tính toán thấp hơn tỉ lệ sai lệch chấp nhận được, KTV đưa ra kết luận: có thể tin tưởng và dựa vào hệ thống kiểm soát. • Nếu tỉ lệ sai lệch cao nhất theo tính toán lớn hơn tỉ lệ sai lệch chấp nhận được, KTV phải kết luận: hệ thống kiểm soát đang hoạt động thấp hơn mức có thể chấp nhận được, cho nên không thể dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ. Tuy nhiên, kết luận cuối cùng về rủi ro kiểm soát đối với hệ thống kế toán sẽ được kiểmtra dựa vào những đánh giá mang tính chuyên nghiệp của các KTV từ kết quả chọn mẫu vànhững thử nghiệm kiểm soát có liên quan như phỏng vấn hay quan sát...1.8. Quy trình chọn mẫu khi thực hiện thử nghiệm cơ bản: Thử nghiệm cơ bản bao gồm thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư.Thử nghiệm cơ bản chỉ liên quan đến giá trị các khoản mục. Các thử nghiệm cơ bản được thiếtSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 20
  21. 21. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứckế để phát hiện các gian lận và sai sót trọng yếu trên báo cáo tài chính. Do đó, kỹ thuật lấy mẫucho thử nghiệm cơ bản được thiết kế để ước lượng số tiền sai sót ở một số dư tài khoản. Chọn mẫu kiểm toán cho các thử nghiệm cơ bản cũng được tiến hành qua ba bước chính:Bước 1: 1. Xác định mục tiêu của thử nghiệm 2. Xác định tổng thể 3. Xác định đơn vị mẫu 4. Lựa chọn kỹ thuật chọn mẫu 5. Xác định kích cỡ mẫu 6. Xem xét sự thay đổi trong tổng thể 7. Xác định rủi ro có thể chấp nhận được 8. Xác định sai lệch có thể bỏ qua 9. Xem xét ảnh hưởng của quy mô tổng thểBước 2: 1. Xác định phương pháp chọn lựa các phần tử của mẫu 2. Thực hiện thủ tục kiểm toánBước 3: 1. Tính toán kết quả chọn mẫu 2. Thực hiện phân tích sai sót 3. Đưa ra kết luận cuối cùng Các bước công việc thực hiện chọn mẫu kiểm toán trong thử nghiệm cơ bản được tiếnhành tương tự trong thử nghiệm kiểm soát. Trên thực tế, để thực hiện chọn mẫu kiểm toántrong thử nghiệm chi tiết, kiểm toán viên thường áp dụng kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ. Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ sử dụng lý thuyết chọn mẫu thuộc tính thể hiện kết luậnbằng đơn vị tiền tệ. Trong chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ, mỗi đơn vị tiền tệ là một đơn vị tổngthể. Do vậy, tổng thể sẽ là tổng số tiền lũy tiến của đối tượng kiểm toán. Đặc điểm cơ bản của chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ là nếu khoản mục nào có quy mô tiềntệ càng lớn (chứa đựng càng nhiều đơn vị tổng thể) thì càng có cơ hội được chọn. Tất nhiên, vớiđòi hỏi tính chính xác cao khi xem xét đến tiền tệ, đặc biệt trong trường hợp có nhiều sai lầmtrong tổng thể thì kích cỡ mẫu chọn thông thường cần phải lớn. Tuy nhiên, nếu trường hợp cácSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 21
  22. 22. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứckhoản mục có xu hướng khai giảm giá trị thì việc áp dụng phương pháp chọn mẫu theo đơn vịtiền tệ là không phù hợp. Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ hay được sử dụng vì những lý do sau: • Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ tự động làm tăng khả năng của việc chọn các phần tử có số tiền cao từ tổng thể đang được kiểm toán. Trong các cuộc kiểm toán, KTV thường thực hiện tập trung vào những phần tử này vì nói chung chúng đại diện cho mức rủi ro cao nhất của các sai phạm trọng yếu. • Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ dễ áp dụng, vì nó thuận tiện cho việc sử dụng máy tính. • Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ luôn luôn đem lại một kết luận mang tính thống kê là một số tiền. Tuy nhiên, khi áp dụng chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ cũng có một số hạn chế như: chọnmẫu theo đơn vị tiền tệ từ các tổng thể lớn mà không có sự giúp đỡ của máy tính có thể kémhiệu quả, trong trường hợp các khoản mục không đồng nhất về tính trọng yếu biểu hiện qua sốtiền thì chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ có thể không phát huy tính ưu việt nói trên. Các phần tửcủa tổng thể có số dư ghi sổ là 0 không có cơ hội được chọn trong quá trình chọn mẫu theo đơnvị tiền tệ dù có thể chúng đã bị báo cáo sai, các số dư nhỏ mà bị báo cáo thiếu đáng kể cũng cóít cơ hội được chọn vào mẫu, khả năng các số dư âm không được đưa vào mẫu, ví dụ như cácsố dư Có trong các khoản phải thu hay số dư Nợ của các khoản phải trả... Kỹ thuật chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ cũng sử dụng các cách như chọn mẫu dựa theoBảng số ngẫu nhiên, chọn mẫu dựa trên chương trình máy vi tính và chọn mẫu hệ thống.1.9. Hệ thống hóa và đánh giá các nghiên cứu đã thực hiện về kỹ thuật chọn mẫu: Tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC, đề tài về chọn mẫu đã được nghiên cứu.Cụ thể, đó là các đề tài:- Đề tài “Giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty AAC” –Lê Thị Trúc Loan, 2008.- Đề tài “Hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty AAC” - Dương ThịVân Thanh, 2009. Hai đề tài này được thực hiện khi công ty Aac chưa áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kênên các giải pháp được đưa ra nhằm bổ sung các kỹ thuật chọn mẫu thống kê để khắc phụcnhững hạn chế vốn có của chọn mẫu phi thống kê.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 22
  23. 23. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Đề tài “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTCtại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC” là đề tài đầu tiên tìm hiểu về kỹ thuật chọn mẫucủa trường Đại học Kinh tế Huế. So với các đề tài trước đã được thực hiện, đề tài này có nhữngđiểm mới nhất định: Đề tài đã đi sâu phân tích thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu thống kê – kỹ thuật chọn mẫu CMA – được áp dụng tại công ty từ năm 2010. Đề tài đã đi theo một hướng tìm hiểu và phân tích mới, là đi từ tổng quát đến chi tiết, và nội dung của từng mảng phân tích sẽ kết hợp đi từ lý thuyết sang thực tế. Cách tiếp cận như vậy giúp cho người đọc dễ tiếp cận các nội dung mà người viết muốn truyền tải. Đề tài đã đưa ra được những giải pháp có tính ứng dụng cao, phù hợp với đặc điểm của công ty mà không quá phức tạp để thực hiện. Như vậy, mặc dù nghiên cứu lại một mảng nội dung, đề tài “Thực trạng và giải pháphoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toánAAC” vẫn đạt được những nét mới nhất định. Chính những điểm mới trong nghiên cứu này đãtại ra giá trị cho đề tài.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 23
  24. 24. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh ĐứcChương 2: Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC2.1. Lịch sử hình thành và phát triển: Tên công ty: Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC. Tên giao dịch bằng tiếng Anh : Auditing and Accounting Company AAC Limited. Trụ sở chính: 217 Nguyễn Văn Linh, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng. Điện thoại: (84) 0511 3 655 886 Fax: (84) 0511 3 655 887 E-mail : aac@dng.vnn.vn Website : http://www.aac.com.vn Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC (trước đây là Công ty Kiểm toán và Kế toánAAC trực thuộc Bộ Tài Chính) thành lập từ năm 1993 là một trong số rất ít các công ty kiểmtoán được thành lập đầu tiên tại Việt Nam. AAC được thành lập trên cơ sở quyết định số 194/TC/TCCB ngày 01/04/1993 và Quyếtđịnh số 106/TC-BTC ngày 13/02/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, tiền thân là công ty kiểmtoán Đà Nẵng - DAC. Việc thành lập công ty được thực hiện trên cơ sở sát nhập hai chi nhánh của hai công tyhành nghề kiểm toán từ năm 1991, đó là: Chi nhánh Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) vàChi nhánh công ty tư vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC) tại khu vực Miền Trung vàTây Nguyên. Để phù hợp với tình hình mới về sự phát triển công ty, Bộ Tài chính đã có quyết định số139/2000/QĐ-BTC ngày 06/9/2000 về việc đổi tên “Công ty kiểm toán Đà Nẵng – DAC”thành “Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC”. Thực hiện lộ trình chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty Cổ phần hoặcCông ty trách nhiệm hữu hạn, ngày 07/05/2007, “Công ty Kiểm toán và Kế toán AAC” chuyểnđổi thành “Công ty Trách nhiệm hữu hạn Kiểm toán và Kế toán AAC”. AAC hoạt động trên phạm vi toàn quốc, được phép kiểm toán tất cả các loại hình doanhnghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các ngành có qui chế riêng về việc lựa chọn và bổnhiệm kiểm toán độc lập có điều kiện như kiểm toán các tổ chức niêm yết trên sàn giao dịchchứng khoán, các tổ chức phát hành và kinh doanh chứng khoán...SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 24
  25. 25. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Trong quá trình hoạt động công ty đã đạt rất nhiều thành tích, đặc biệt vào những nămgần đây, qua hai năm liền 2007 và 2008 AAC được Hội đồng trao giải “ Thương mại Dịch vụ- Top Trade Services” - Bộ Công Thương bình chọn là một trong 05 công ty kiểm toán hoạtđộng tốt nhất tại Việt nam và được trao giải/cup “Thương mại Dịch vụ - Top Trade Services”.Giải thưởng này được trao cho những doanh nghiệp tiêu biểu, hoạt động trong 11 lĩnh vựcThương mại Dịch vụ mà Việt Nam cam kết thực hiện khi gia nhập WTO, đã có những đónggóp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chung và ngành thương mại dịch vụ nóiriêng, trong đó có dịch vụ kế toán, kiểm toán. Trong nhiều năm liền, AAC được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam chấp thuậnđủ điều kiện để kiểm toán các tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh doanh chứngkhoán Việt Nam. Tháng 9/2008, Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC đã trở thành thành viên củahãng Kiểm toán quốc tế Polaris International. Đây được coi là bước ngoặc lớn trong quá trìnhphát triển của công ty.2.2. Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động: Ngay từ khi mới thành lập AAC đã đề ra cho mình phương châm hoạt động là “Độc lập,khách quan, trung thực và bí mật số liệu của khách hàng” và đây cũng là lời cam kết củacông ty đối với mọi khách hàng trên toàn quốc. Với phương châm này nhằm đảm bảo mục tiêuhoạt động của AAC là giúp khách hàng và những người quan tâm bảo vệ quyền lợi hợp phápcủa mình, cung cấp cho họ những thông tin đích thực và cần thiết để tổ chức điều hành hoạtđộng của doanh nghiệp và đưa ra các quyết định quản lý phù hợp với thực tiễn. Hoạt động củaAAC nhằm góp phần phát hiện và ngăn ngừa những rủi ro cho doanh nghiệp, trợ giúp cho hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Để đảm bảo uy tín lâu dài và chất lượng chuyên môn của công tác kiểm toán AAC luônthực hiện kiểm toán theo đúng các nguyên tắc, chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam và thông lệkiểm toán quốc tế, phù hợp với những quy định hiện hành về hoạt động kiểm toán của Nhànước Việt Nam.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 25
  26. 26. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức2.3. Nguồn lực:2.3.1. Lao động: AAC xem yếu tố con người là tài sản lớn nhất và quan trọng nhất trong định hướng hoạtđộng của mình, luôn coi trọng việc phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ kiểm toán viên vàchuyên viên kỹ thuật. Là một trong số ít công ty kiểm toán đầu tiên ra đời và hoạt động tại Việt Nam, hoạt độngcủa AAC không ngừng phát triển và đã khẳng định được vị trí của mình trên thị trường cungcấp dịch vụ chuyên ngành kiểm toán, kế toán, tư vấn tài chính. Có được thành công đó là nhờvào chính sách đầu tư phát triển đội ngũ kiểm toán viên và kỹ thuật viên có năng lực chuyênmôn cao, có đạo đức nghề nghiệp trong sáng. Đến nay, AAC đã xây dựng đội ngũ với 131 cánbộ công nhân viên, trong đó có 31 người được công nhận kiểm toán viên cấp quốc gia, 100%đã tốt nghiệp đại học và trên đại học trong nước và nước ngoài như Úc, Nhật Bản… Trong quátrình thực hiện kiểm toán tại công ty khách hàng, với bản lĩnh nghề nghiệp, hiệu quả công việcvà thiện chí của nhân viên AAC được khách hàng đánh giá cao, góp phần tạo ra mối quan hệhợp tác tốt đẹp và bền vững giữa AAC và khách hàng.2.3.2. Vốn: Là một công ty kiểm toán độc lập với bề dày nhiều năm kinh nghiệm, được phép kiểmtoán mọi loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế với phạm vi hoạt động trên cảnước. là thành viên của Plaris International, một trong những hãng kiểm toán quốc tế lớn trênthế giới có mặt tại 90 nước với hơn 200 thành viên và 300 văn phòng trên toàn cầu. Tình hìnhnguồn vốn của công ty AAC thể hiện qua bảng sau:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 26
  27. 27. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh ĐứcBảng 2.1: Tình hình nguồn vốn và kết quả kinh doanh của công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC qua 2 năm 2009 và 2010 Năm Năm Chênh lệch Chỉ tiêu 2010 2009 +/- %1. Tổng số vốn điều lệ (ghi trên đăng ký kinhdoanh) 7.000 7.000 0 0,002. Tổng số vốn kinh doanh (vốn chủ sở hữu) 80thực tế 7.882 7.080 2 11,333. Kết quả kinh doanh sau thuế 10 (Lãi +; Lỗ -) 2.403 2.294 9 4,754. Nộp Ngân sách 72 3.757 3.037 0 23,71- Thuế Giá trị gia tăng 35 2.429 2.076 3 17,00- Thuế Thu nhập danh nghiệp 31 801 486 5 64,81- Thuế và các khoản phải nộp khác 527 475 52 10,955. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (%) 8 9 (1) -6. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (%) 34 33 1 -7. Số dư Quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp 57 30 8 274 4 110,95 (Nguồn: Phòng tư vấn đào tạo công ty) Qua bảng trên, có thể thấy vốn và kết quả kinh doanh của công ty năm 2010 so với năm2009 biến động không lớn. Vốn điều lệ của công ty không đổi, vẫn ở mức 7 tỉ đồng. Tuy nhiên,vốn chủ sở hữu thực tế tăng 802 triệu, tương ứng với tăng 11,33%. Kết quả kinh doanh sau thuếtăng nhẹ, từ 2.294 triệu lên 2.403 triệu, tức là tăng 4,75%. Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối vớiNhà nước của công ty cũng được đảm bảo. Số thuế nộp Ngân sách qua 2 năm tăng 720 triệu.Một chỉ tiêu được công ty AAC quan tâm nữa là số dư quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp. TheoThông tư số 64/2004/TT-BTC, các công ty kiểm toán phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghềnghiệp kiểm toán hoặc lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp để tạo nguồn chi trả bồi thườngthiệt hại do lỗi của công ty kiểm toán gây ra cho khách hàng và người sử dụng kết quả kiểmtoán. Công ty AAC không mua bảo hiểm mà tiến hành lập quỹ dự phòng. Qua 2 năm, chỉ tiêunày tăng thêm 304 triệu, tương ứng tăng 110,95 %. Chỉ tiêu này tăng lên cho thấy công ty đãquan tâm đến lợi ích của khách hàng và việc trích lập như vậy đảm bảo cho khả năng có thể bồiSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 27
  28. 28. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứcthường thiệt hại của công ty trường hợp có rủi ro xảy ra. Điều này một phần phản ánh uy tín củacông ty. Trong bảng trên, có 2 tỉ suất được đưa ra là lợi nhuận trên doanh thu và lợi nhuận trênvốn. Nhìn chung, qua 2 năm, tỉ suất này không có sự biến động mạnh. Tỉ suất lợi nhuận trêndoanh thu giảm 1% là do mặc dù cả doanh thu và lợi nhuận đều tăng nhưng mức tăng của lợinhuận không bằng mức tăng của doanh thu. Tỉ suất lợi nhuận trên vốn tăng 1% chứng tỏ việcđầu tư tăng vốn của công ty là có hiệu quả. Như vậy, có thể thấy rằng năm 2010, tình hình kinh doanh của công ty ở trong tình trạngổn định. Giai đoạn này, công ty đang mở rộng thị trường và tìm kiếm thêm khách hàng cho nênđạt được kết quả như vậy là một dấu hiệu khả quan, chứng tỏ cho sự phấn đấu không ngừngcủa công ty AAC trong suốt thời gian qua.2.4. Cơ cấu tổ chức quản lý:Bộ máy tổ chức quản lý của công ty AAC được thể hiện qua sơ đồ sau: TỔNG GIÁM ĐỐC PHÓ TGĐ KHỐI PHÓ TGĐ KHỔI KIỂM TOÁN KIỂM TOÁN KHỐI PHÒNG PHÒNG KHỔI CN TP. KẾ KIỂM TƯ VẤN KIỂM HỒ CHÍ TOÁN TOÁN ĐÀO TOÁN MINH HÀNH XDCB TẠO BCTC CHÍNH Ban Phòng Phòng Ban Phòng Phòng Phòng Phòng kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm kiểm soát toán toán soát toán toán toán toán chất XDCB XDCB chất BCTC BCTC BCTC BCTC lượng 1 2 lượng 1 2 3 4SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 28
  29. 29. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Sơ đồ 2.1 : Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của Công ty Cấp cao nhất trong bộ máy là Tổng giám đốc. Tổng giám đốc sẽ là người đại diện toànquyền của công ty và chịu trách nhiệm trước Pháp luật về toàn bộ hoạt động của công ty. Dưới Tổng giám đốc là Phó Tổng giám đốc các khối, giải quyết cụ thể các vấn đề liênquan đến nhân sự, hành chính, khách hàng, và các vấn đề về nghiệp vụ đồng thời chịu tráchnhiệm trước Tổng Giám đốc và Pháp luật Nhà nước về những vấn đề được phân công và ủyquyền. Cấp thứ ba trong bộ máy là các phòng chức năng và các khối kiểm toán. Công ty AAChiện tại đang có 1 chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh, chi nhánh này chị sự quản lý trực tiếpcủa công ty. Dưới các khối kiểm toán là các phòng kiểm toán và ban kiểm soát chất lượng. Hiện nay,khối kiểm toán BCTC có 4 phòng và khối kiểm toán XDCB có 2 phòng. Các phòng kiểm toánnày là nơi cung cấp nhân sự chủ yếu cho các cuộc kiểm toán.2.6. Các loại hình dịch vụ chuyên ngành:  Về lĩnh vực Kiểm toán: Cung cấp các dịch vụ kiểm toán luôn là thế mạnh của AAC. Các dịch vụ kiểm toán doAAC cung cấp đều được lập kế hoạch và tiến hành theo các Quy trình kiểm toán chuẩn doAAC xây dựng dựa trên cơ sở tuân thủ các Chuẩn mực kiểm toán, Quy chế kiểm toán độc lậpvà các quy định hiện hành, đồng thời có sự so sánh, đối chiếu và vận dụng các Chuẩn mựckiểm toán quốc tế và Thông lệ được chấp nhận chung của Quốc tế. Trong lĩnh vực này, AAC cung cấp dịch vụ về hầu hết các mảng kiểm toán như : • Kiểm toán báo cáo tài chính. • Kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích thuế. • Kiểm toán hoạt động. • Kiểm toán tuân thủ. • Kiểm toán nội bộ. • Kiểm tra thông tin tài chính trên cơ sở thỏa thuận trước.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 29
  30. 30. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức • Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản. • Kiểm toán báo cáo dự toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản  Về lĩnh vực Kế toán: Bên cạnh các dịch vụ kiểm toán, AAC còn cung cấp các dịch vụ kế toán. Với việc tuânthủ luật kế toán và các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chất lượng dịch vụ kế toán AAC cung cấpngày càng tăng cao. Hơn thế nữa, AAC còn gia tăng số lượng dịch vụ kế toán làm phong phúthêm sản phẩm cung cấp cho các khách hàng. Đây là một bước phát triển dài của AAC, từngbước đưa thương hiệu của AAC lên tầm cao mới. Các dịch vụ Kế toán do AAC cung cấp bao gồm: • Dịch vụ ghi sổ và giữ sổ kế toán. • Hướng dẫn nghiệp vụ kế toán. • Lập báo cáo tài chính định kỳ. • Chuyển đổi báo cáo tài chính theo VSA, IAS. • Thiết kế và hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy kế toán.  Về lĩnh vực Thuế: Đối với các công ty, thuế ngày càng đóng vai trò quan trọng do các quy định về thuếcàng ngày càng trở nên phức tạp. AAC hỗ trợ các khách hàng về việc hoàn thành đúng nghĩavụ thuế với nhà nước đồng thời tận dụng triệt để các lợi thế về thuế trong hoạt động kinh doanhđể gia tăng lợi ích của các chủ sở hữu công ty. Các dịch vụ Thuế do AAC cung cấp bao gồm: • Tư vấn việc áp dụng chính sách thuế. • Tư vấn công tác kê khai và quyết toán thuế. • Tư vấn về các thủ tục hoàn thuế và khiếu nại về thuế. • Hỗ trợ việc cập nhật thông tin về thuế và thuế quan.  Về lĩnh vực tư vấn Tài chính và Quản lý: Để đáp ứng được nhu cầu về thị trường ngày càng cao đối với các doanh nghiệp là quảnlý tài chính AAC đã đẩy mạnh việc cung cấp các dịch vụ tư vấn đề này. Thông qua việc cungSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 30
  31. 31. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đứccấp các dịch vụ tư vấn có hiệu quả và các khóa học cập nhật các kiến thức mới nhất, AAC đãtham gia thành công vào việc giúp các khách hàng của mình thích ứng với môi trường mới. Các dịch vụ tư vấn Tài chính và Quản lý do AAC cung cấp bao gồm: • Tư vấn thành lập và quản lý doanh nghiệp. • Tư vấn thiết lập cơ chế tài chính nội bộ. • Tư vấn việc sửa đổi, bổ sung chế độ kế toán – tài chính cho phù hợp với yêu cầu quản lý. • Soát xét báo cáo tài chính. • Xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hóa hoặc phá sản doanh nghiệp. • Thẩm định tình hình tài chính và giá trị tài sản tranh chấp, kiện tụng. • Tư vấn việc lựa chọn các phần mềm tin học về kế toán tài chính và kế toán quản trị. • Tư vấn việc trang bị trang thiết bị tin học, cài đặt hệ thống thông tin.  Về lĩnh vực Đào tạo và Tuyển dụng: Nhằm đáp ứng cho các doanh nghiệp có đội ngũ kế toán với chất lượng cao, AAC thường xuyên mở các lớp đào tạo nhằm bồi dưỡng kiến thức và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tượng này. Các dịch vụ tư vấn Đào tạo và Tuyển dụng do AAC cung cấp bao gồm: • Tổ chức lớp bồi dưỡng kế toán trưởng. • Tổ chức lớp thực hành kế toán. • Tổ chức lớp chuẩn mực kiểm toán & kế toán. • Tổ chức lớp kiểm toán nội bộ. • Tổ chức lớp ôn tập & cấp chứng chỉ hành nghề kế toán. • Tổ chức lớp bồi dưỡng kiến thức chứng khoán.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 31
  32. 32. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Chương 3: Thực trạng vận dụng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểmtoán báo cáo tài chính tại công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC 3.1. Khái quát chung về quy trình kiểm toán BCTC tại công ty TNHH kiểmtoán và kế toán AAC: Quy trình kiểm toán Báo cáo tài chính ở công ty TNHH kiểm toán và kế toán AACgồm 3 giai đoạn: Lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán Thực hiện kiểm toán Kết thúc kiểm toán Sơ đồ 3.1: Quy trình kiểm toán BCTC tại công ty AAC3.1.1. Lập kế hoạch kiểm toán: Theo VSA 300, lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên cầnthực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như các điều kiệncần thiết khác cho kiểm toán. Trong giai đoạn này, kiểm toán viên sẽ thu thập các bằng chứngkiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ để đưa ra ý kiến của mình về BCTC của khách hàng.Không những thế, lập kế hoạch kiểm toán còn giúp hạn chế được những sai sót và nâng caochất lượng của cuộc kiểm toán, tạo dựng được niềm tin và uy tín đối với khách hàng. Tại Côngty Kiểm toán và Kế toán AAC, quy trình lập kế hoạch kiểm toán được thể hiện ở sơ đồ sau:SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 32
  33. 33. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Khách hàng Tìm hiểu thông tin Tìm hiểu Hệ thống kế toán hay cập nhật thông tin Hệ thống kiểm soát nội Ký kết hợp đồng kiểm bộ toán Phân tích báo cáo tài chính Tham chiếu cuộc kiểm toán năm trước Kế hoạch kiểm toán Tài liệu và thông tin yêu cầu khách hàng lập Kiểm tra KH kiểm toán Sơ đồ 3.2: Quy trình lập kế hoạch kiểm toán tại AAC3.1.2. Thực hiện kiểm toán: Thực hiện kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán thích ứngvới đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán. Đó là quá trình triển khaimột cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán nhằm đưa ra những ý kiếnxác thực về mức độ trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính trên cơ sở những bằng chứngkiểm toán đầy đủ và tin cậy.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 33
  34. 34. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức Kết cấu của một chương trình kiểm toán, bao gồm:  Xác định mục tiêu kiểm toán: Xét trên quan điểm kiểm toán viên, mục tiêu kiểm toán là mục tiêu mà chúng ta đặt ranhằm đạt được bằng chứng kiểm toán có hiệu lực về một hay nhiều cơ sở dẫn liệu báo cáo tàichính thông qua việc thực hiện các thủ tục kiểm toán phù hợp. Cơ sở dẫn liệu báo cáo tài chínhbao gồm: tính đầy đủ, tính hiện hữu, tính chính xác, đánh giá, sở hữu và trình bày.  Xác định tài liệu yêu cầu: Là tất cả những tài liệu cần thiết để kiểm toán trên một khoản mục trên báo cáo tài chính.Ví dụ, đối với chương trình kiểm toán vốn bằng tiền, tài liệu yêu cầu bao gồm: biên bản kiểmkê quỹ, xác nhận số dư ngân hàng; sổ quỹ, sổ chi tiết tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, sổ phụ ngânhàng, sổ cái; các chứng từ liên quan đến thu chi tiền mặt và tiền gửi ngân hàng; các tài liệu kháccó liên quan.  Thực hiện các thủ tục kiểm toán: Bao gồm kiểm tra các hoạt động kiểm soát, các thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết thôngqua các kỹ thuật kiểm toán như so sánh, tính toán, xác nhận, phỏng vấn, kiểm tra tài liệu, quansát và kiểm tra thực tế. Các chương trình kiểm toán chi tiết tại AAC bao gồm: - Chương trình kiểm toán chung; - Chương trình kiểm toán vốn bằng tiền; - Chương trình kiểm toán các khoản phải thu khách hàng; - Chương trình kiểm toán hàng tồn kho; - Chương trình kiểm toán các khoản phải trả người bán; - Chương trình kiểm toán tài sản cố định; - .....3.1.3. Hoàn thành cuộc kiểm toán: Kết thúc kiểm toán là giai đoạn các kiểm toán viên sẽ tổng kết toàn bộ quá trình thực hiệnkiểm toán, nêu ra ý kiến trao đổi với khách hàng và phát hành báo cáo kiểm toán.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 34
  35. 35. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức3.2. Chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát:3.2.1. Giới thiệu về quy trình chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát do công ty TNHHkiểm toán và kế toán AAC thực hiện: Các thử nghiệm kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộvới đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệulực. Thực tế, tại công ty AAC, các thử nghiệm kiểm soát rất ít được thực hiện. Thông thường,với các khách hàng kiểm toán năm đầu tiên, kiểm toán viên của công ty sẽ thực hiện kiểm trahệ thống kiểm soát nhằm đánh giá liệu hệ thống kiểm soát nội bộ có được thiết kế và vận hànhcó hiệu quả hay không từ đó làm cơ sở cho cuộc kiểm toán năm sau. Quá trình thực hiện thửnghiệm kiểm soát chủ yếu để thu thập các bằng chứng về sự thiết kế và vận hành của hệ thốngkiểm soát nội bộ, cách thức tổ chức công tác kế toán, hạch toán và lưu chứng từ nhằm phục vụcho việc tiến hành các thử nghiệm chi tiết phù hợp. Kỹ thuật chọn mẫu trong thử nghiệm kiểm soát do công ty AAC thực hiện được trình bàydưới đây là kỹ thuật chọn mẫu phi thống kê. Quy trình chọn mẫu khái quát có ba bước cơ bản,đó là: lập kế hoạch, thực hiện chọn mẫu và đánh giá kết quả mẫu chọn.3.2.1.1. Lập kế hoạch chọn mẫu: Lập kế hoạch chọn mẫu giúp kiểm toán viên có cái nhìn tổng quát để tiến hành chọn mẫu.Tại AAC quá trình lập kế hoạch bao gồm các công việc là xác định mục tiêu kiểm toán, xácđịnh các sai phạm, xác định tổng thể, xác định cỡ mẫu. a. Xác định mục tiêu thử nghiệm kiểm soát: Tại Công ty AAC, khi bắt đầu một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên sẽ tiến hành tìm hiểuvề các thủ tục kiểm soát mà công ty khách hàng thực hiện, từ đó đánh giá về hệ thống kiểm soátnội bộ của đơn vị. Nếu hệ thống KSNB được xem là thiết kế và vận hành có hiệu quả, thì kiểmtoán viên sẽ tiến hành các thử nghiệm kiểm soát với các mục tiêu cụ thể. Các mục tiêu này sẽđược xác định dựa trên hiểu biết về thủ tục kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng mà KTVvừa thu thập được. Chẳng hạn, thủ tục kiểm soát nội bộ của chức năng nhận hàng trong chutrình mua hàng là thủ kho phải có trách nhiệm kiểm tra và ký tên vào Phiếu nhận hàng/Phiếunhập kho khi nhận hàng từ bộ phận nhận hàng đến kho, như vậy, KTV phải đặt ra mục tiêukiểm toán là phải kiểm tra dấu vết của việc ký nhận lên các phiếu có liên quan.SVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 35
  36. 36. Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hồ Phan Minh Đức b. Xác định các sai phạm: Tại AAC, cơ sở để các kiểm toán viên xác định sai phạm là những quy định về thủ tụcKSNB của doanh nghiệp. Theo đó, những phần tử, dấu hiệu được kiểm tra không phù hợp vớicác đặc điểm đã được quy định thì được kết luận là sai phạm. Có thể thấy là việc xác định saiphạm như vậy mới chỉ tuân theo quy định chung tương đối, chưa rõ ràng. Do đó, trong một vàitrường hợp việc kiểm tra các phần tử của mẫu là chưa chính xác, có thể bỏ sót hoặc xác định saicác sai phạm. c. Xác định tổng thể chọn mẫu: Từ các mục tiêu kiểm toán ở trên, kiểm toán viên sẽ xác định tổng thể để tiến hành chọnmẫu. Mẫu được chọn sẽ là đối tượng mà KTV sẽ tiến hành kiểm tra và thu thập bằng chứngkiểm toán. d. Xác định cỡ mẫu: Phương pháp mà AAC áp dụng là chọn mẫu phi thống kê nên việc xác định cỡ mẫukhông dựa trên công thức thống kê mà hoàn toàn dựa vào nhận định của bản thân kiểm toánviên khi làm việc trực tiếp với khách hàng. Chính vì vậy, cỡ mẫu sẽ được ước tính sao cho đảmbảo được quy mô mẫu là đủ lớn. Việc ước tính như vậy hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm nghềnghiệp của kiểm toán viên. Thông thường, đối với những khách hàng kiểm toán năm đầu tiên,cỡ mẫu được chọn sẽ lớn hơn đối với các khách hàng cũ, có độ tin cậy nhất định và nghiệp vụphát sinh ít biến động qua các năm. Vì cỡ mẫu khá lớn nên có thể làm giảm rủi ro do chọn mẫu.Tuy nhiên, điều này lại không mang lại ưu điểm của chọn mẫu là giảm chi phí và tiết kiệm thờigian.3.2.1.2. Thực hiện chọn mẫu: Tại công ty AAC, phương pháp lựa chọn các phần tử của mẫu là phi xác suất. Theo đó,các phương pháp mà công ty thường sử dụng gồm: chọn mẫu theo khối, chọn mẫu theo nhậnđịnh. a. Chọn mẫu theo khối: Chọn mẫu theo khối là phương pháp được các KTV của công ty sử dụng nhiều nhất. Mẫuđược chọn thường là các khối nghiệp vụ phát sinh theo thời gian như tháng hoặc quý. Ưu điểmcủa việc làm này là giúp KTV có thể kiểm tra tính liên tục của nghiệp vụ phát sinh đồng thờiSVTH: Lê Nguyễn Ngọc Anh Trang 36

×