Hệ thống ngân hàng thương mại việt nam và những vấn đề đặt ra

3,728 views

Published on

Hệ thống ngân hàng thương mại việt nam và những vấn đề đặt ra,Những hạn chế của ngân hàng thương mại Việt Nam,Yếu điểm của ngân hàng thương mại Việt Nam,

Published in: Education
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
3,728
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
123
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Hệ thống ngân hàng thương mại việt nam và những vấn đề đặt ra

  1. 1. Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam và những vấn đề đặt raThập kỷ qua, cùng với quá trình đổi mới và hội nhập, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam(NHTM) đã có nhiều thay đổi quan trọng. Sự xuất hiện của các ngân hàng (NH) 100% vốn nướcngoài và việc loại bỏ dần các hạn chế đối với hoạt động của chi nhánh NH đã khiến mức độ cạnhtranh ngày càng trở nên gay gắt, buộc các NH Việt Nam (VN) phải tái cấu trúc để tiếp tục phát triển. 2trong số 5 NHTM Nhà nước (NN) đã thực hiện cổ phần hóa và chính thức hoạt động theo mô hình đasở hữu được gần hai năm. Các NHTM cổ phần (CP) một mặt đang cấu trúc lại, có sự tham gia củacác nhà đầu tư chiến lược nước ngoài i cùng lộ trình tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu là 3.000 tỉVND ii. Tất cả các động thái này nhằm hướng tới sự phát triển bền vững trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế.1. Vài nét về hệ thống NHTM trong quá trình hội nhậpTrong vài năm qua, những đóng góp của hệ thống NHTM VN vào quá trình đổi mới và thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá là rất lớn. Các NHTM không chỉtiếp tục khẳng định là một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế, mà còn góp phần ổn định sứcmua đồng tiền . Đến nay, vốn cho sản xuất kinh doanh chủ yếu vẫn do các NHTM đáp ứng, với tổngtài sản của hệ thống lên tới khoảng 140% GDP.Cùng với quá trình cải cách và đổi mới, số lượng các NHTM VN đã tăng nhanh iii, đã và đang từngbước chuyển dần hướng tới một hệ thống tương thích của các nền kinh tế đang nổi và mới pháttriển.Sự lớn mạnh của hệ thống NHTM VN thể hiện ở sự tăng lên của vốn chủ sở hữu, tổng tài sản, mứcđộ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp và sự đóng góp của ngành vào GDP hàng năm: về tổng vốnđăng ký đã tăng gấp 12 lần, tổng tài sản và tiền gửi tăng hơn 16 lần và các khoản vay tăng khoảng14 lần iv.Bảng 1: Tỷ trọng tổng tài sản của các NHTM so với toàn hệ thống (%)Loại hình TCTD 2006 2007 2008 2009 6t/ 2010NHTM Nhà nước 62,3 53,3 51,48 49,4 48,2NHTM cổ phần 22,8 31,5 32,45 33,2 34,7Chi nhánh NHNN 9,8 9,6 10,26 11,43 11,89NH liên doanh 1,1 1,2 1,25 1,36 1,38Nguồn: Báo cáo số 49/BC-NHNN năm 2009 của NH Nhà nước về việc rà soát 10 năm thực hiện Luậtcác TCTD và tính toán của tác giả.Bảng 2: Thị phần tiền gửi của các NHTM (%)Loại hình TCTD 2006 2007 2008 2009NHTM Nhà nước 65,1 53,4 56,91 51,7NHTM cổ phần 21,3 31,5 31,23 33,2Chi nhánh NH nước ngoài 9,6 9,9 13,22 14,3NH liên doanh 1,1 1,2 1,43 1,67Nguồn: Báo cáo số 49/BC-NHNN năm 2009 của NH Nhà nước về việc rà soát 10 năm thực hiện Luậtcác TCTD.Các NHTM NN vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng vốn, đặc biệt trong điều kiệnkhó khăn của nền kinh tế, của các doanh nghiệp. Chính họ là kênh chuyển tải nhanh nhất các cơ chế
  2. 2. chính sách hỗ trợ của Chính phủ cho các thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phục hồivà phát triển. Vì vậy, GDP của sáu tháng đầu năm 2010 đã đạt khoảng 6,4%, mức tăng cao nhất kểtừ quí 4 năm 2008 đến nay. Song thị phần của các nhóm NH này từng bước giảm và nhóm NHTMCP, NH nước ngoài tăng v, nhờ các cam kết mở cửa thị trường.Năm 2009, lợi nhuận của các NH có mức tăng trưởng khá, tỉ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) của 6NH lớn nhất lên mức 1,9% Tỉ suất này năm 2008 là 1,5%( vi). Tuy nhiên, trong năm 2010, do nhữngkhó khăn từ nền kinh tế, đã ảnh hưởng đến khách hàng có quan hệ tiền gửi và tiền vay tại các NH,ảnh hưởng đến tăng trưởng tài sản, 6 tháng đầu năm 2010, nhiều NH chưa đạt được tốc độ như năm2009.Về phát triển các sản phẩm dịch vụHệ thống NHTM VN đã phát triển khá nhanh về số lượng các NH và số lượng chi nhánh/phòng giaodịch, cùng với quá trình hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ truyền thống và phát triển các dịch vụ mới,nên doanh số và tỷ trọng dịch vụ tăng lên qua các năm. Cụ thể:Dịch vụ huy động vốn và cho vay: Đây vẫn là dịch vụ mang lại nguồn thu chủ yếu cho các NHTMhiện nay và có mức tăng trưởng khá.Sơ đồ 1: Tăng trưởng huy động vốn và tăng trưởng tín dụng ở VNNguồn: Báo cáo hàng năm của NHNNHuy động vốn của các NHTM có tăng trưởng khá qua các năm (trừ năm 2008, có giảm sút, do tácđộng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu) do việc đa dạng hóa sản phẩm huy động và phát triểnmạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch. Măc dù có mạng lưới rộng và thương hiệu mạnh, được ngườidân biết đến, nhưng tốc độ tăng trưởng về huy động vốn của các NHTM CP có sự bứt phá mạnh, thịphần đã tăng lên 31,23% so với 21,3% năm 2006, khiến cho thị phần của các NHTM NN giảm. Hoạtđộng cho vay cũng có tốc độ tăng trưởng cao, thậm chí còn tăng nóng trong năm 2007 và năm 2008,một số NHTM CP có tốc độ tăng từ 60% trở lên. Nhưng 6 tháng đầu năm 2010, tăng trưởng tín dụngđạt 10,8%, nhưng đến cưới tháng 7, tốc độ tăng trưởng đã khá hơn, với mức tăng gần 13,0% vii cho7 tháng đầu năm 2010. So với tốc độ tăng trưởng kinh tế, thì tốc độ tăng trưởng tín dụng gấp 5 đến 6lần được cho là tăng trưởng nóng, nhưng nhìn nhận một cách sâu sắc có thể thấy, nếu không có sựtăng trưởng cao của tín dụng trong vài năm qua, thì không có được tốc độ tăng GDP như ngày hômnay.Bảng 3. Thị phần tín dụng của các NHTM (đơn vị %)Loại hình TCTD 2006 2007 2008 2009
  3. 3. NHTM Nhà nước 67,1 59,7 58,2 49,93NHTM CP 19,6 27,5 26,54 30,4Chi nhánh NHNN 8,3 8,56 10,27 12,8NH liên doanh 1,39 1,2 1,3 1,48Nguồn: Báo cáo số 49/BC-NHNN năm 2009 của NH Nhà nước về việc rà soát 10 năm thực hiện Luậtcác TCTD.Cho vay theo lĩnh vực kinh tế không thay đổi nhiều qua các năm. Trong tổng số dư nợ cho vay củaNH, nông lâm thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng trên dưới 30%,tiếp theo là công nghiệp,thương mại và xây dựng.Các dịch vụ phi tín dụng* Dịch vụ thanh toánTrong 3 năm trở lại đây, dịch vụ thanh toán đã có bước phát triển quan trọng. Nhiều dịch vụ thanhtoán mới đã ra đời, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người sử dụng. Trung tâm chuyểnmạch thẻ thống nhất được triển khai tích cực, việc kết nối hệ thống ATM, POS thành một hệ thốngthống nhất trên toàn quốc đạt kết quả kích lệ. 3 liên minh thẻ Banknet, VNBC và Smartlink đã kết nốiliên thông 10 thành viên là các NHTM có số lượng thẻ phát hành chiếm 87% tổng số thẻ phát hànhcủa các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và 75% số lượng ATM trên toàn quốc là nền tảng quantrọng cho việc thúc đẩy phát triển dịch vụ này.Tính đến cuối tháng 7/2010, đã có trên 24 triệu thẻ với 48 tổ chức phát hành thẻ và hơn 190 thươnghiệu thẻ, gần 11.000 ATM phát hành trên phạm vi cả nước và 37.000 thiết bị chấp nhận thẻ POS viii.Các dịch vụ tiện ích đi kèm ngày càng được đa dạng hóa như thẻ mua xăng dầu, thẻ mua hàng quamạng, thanh toán tiền điện nước…; việc triển khai thí điểm cung ứng phương tiện thanh toán “ví điệntử” của các tổ chức không phải tổ chức tín dụng cũng có bước phát triển nhanh, trong đó số lượngphát hành đạt gần 84.500 “ví điện tử” của 17 NH tham gia triển khai dịch vụ và được chấp nhận thanhtoán tại 119 đơn vị cung ứng hàng hóa dịch vụ. Điều này đã góp phần phát triển mạnh mẽ thanh toánđiện tử trong thời gian tới, tạo tói quen thanh toán không dùng tiền mặt cho người dân. Tỷ lệ tiền mặttrong tổng thanh toán có xu hướng giảm, từ 20,3% năm 2004 xuống còn 14,6% năm 2008 và 14,5%năm 2009. Sự phát triển của Hệ thống thanh toán điện tử liên NH có vai trò quan trọng trọng việcnâng cấp cơ sở hạ tầng cho dịch vụ phát triển. Tài khoản cá nhân có mức tăng trưởng hàng nămcao: 150% xét về số tài khoản và 120% xét về số dư. Số lượng các tài khoản cá nhân đã tăng từ135.000 năm 2000 lên khoảng 5 triệu vào năm 2005, trên 8 triệu vào năm 2007 và 14 triệu vào cuốinăm 2009.2. Một số vấn đề đặt ra trong phát triển hệ thống NHTM trong giai đoạn tớiTrong bối cảnh kinh tế Châu âu đang từng bước phục hồi sau những khủng hoảng về nợ công tạimột số quốc gia, việc phục hồi kinh tế Mỹ gặp nhiều khó khăn ix, CPI tháng 6 năm 2010 giảm 0,1%
  4. 4. thể hiện tiêu dùng của người dân giảm xuống. Trước diễn biến này, Fed đã dự báo, GDP của Mỹnăm 2010 chỉ tăng 3,0 đến 3,2% thấp hơn dự báo đầu năm, tỷ lệ thất nghiệp 9,2% đến 9,5% cao hơnmức dự báo trước đó. Kinh tế Trung Quốc đã có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại trong quí II/2010, vớimức tăng trưởng 6 tháng đầu năm là 11,1%... Vấn đề này cho thấy diễn biến kinh tế thế giới vẫn khólường, sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến vấn đề tăng trưởng kinh tế, lạm phát, xuất nhập khẩu của VN. Nhưvậy, hoạt động của các NHTM VN sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng không chỉ của nền kinh tế VN, mà cònchịu tác động từ các nhân tố từ bên ngoài. Điều này đặt ra một số vấn đề mà các NHTM phải quantâm.Thứ nhất, về năng lực cạnh tranhMột hệ thống NH không thể phát triển bền vững, năng lực cạnh tranh cao trong bối cảnh năng lựccạnh tranh của nền kinh tế thấp. Về các chỉ số phát triển tài chính, Báo cáo phát triển tài chính 2009của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) xếp hạng VN đứng thứ 49 trên 52 nước được đánh giá. Hầu hếtcác chỉ số được xếp hạng cạnh tranh thấp, chỉ có chỉ số ổn định tài chính, chỉ số về quy mô và hiệuquả của lĩnh vực NH được xếp hạng cao.Bảng 4: Chỉ số phát triển tài chính năm 2008 của một số nước (xếp hạng trên 52)Tên nước Xếp hạng Tên nước Xếp hạngHoa Kỳ 1 Thái Lan 29Nhật Bản 4 Indonesia 38Singapore 10 Philippine 48Malaysia 20 Việt nam 49Trung Quốc 24Nguồn: WEF, 2009, Báo cáo phát triển tài chínhSo với các nước khác trong khu vực, qui mô của các NH VN còn nhỏ, tổng tài sản ở mức thấp, cácchỉ số ROA, ROE cuối năm 2009 vẫn ở mức khiêm tốn nếu dựa trên tiêu chí đánh giá theo thông lệquốc tế.Bảng 5: So sánh lĩnh vực NH VN với các nước trong khu vực VN Malaysia Indonesia PhilippinesTổng tài sản (tỷ USD) 127,66 386,25 213,98 119,52Tổng dư nợ tín dụng (tỷ USD) 73,10 208,85 119,42 61,59ROE (%) 9,7 18,5 21,94* 6,91ROA (%) 1,0 1,5 2,08* 0,77NPLs (%) 3,5 2,2 3,8 4,51Nguồn: Chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ VN đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025,trang 264Ghi chú: *: lợi nhuận trước thuếXét trong nội bộ ngành NH, sự có mặt của các NH nước ngoài đã làm tăng sức ép cạnh tranh tronglĩnh vực NH. Các NH nước ngoài không chỉ cạnh tranh với các NH trong nước trong việc cung cấpcác dịch vụ NH hiện đại, mà còn cạnh tranh ngay cả về các sản phẩm truyền thống như tín dụng,thanh toán, nhận tiền gửi v.v.. Mặc dù các NH VN có lợi thế so sánh về mạng lưới, về khách hàngtruyền thống nhờ vai trò lịch sử nhưng kém hơn so về năng lực cạnh tranh với các NH nước ngoài vềmức độ hiện đại hóa công nghệ NH, về nguồn nhân lực, về trình độ quản trị hoạt động và vấn đềquản lý rủi ro.Một số công trình nghiên cứu cho rằng: một tổ chức tín dụng có khả năng cạnh tranh cần có các đặcđiểm sau: (i) Năng lực sáng tạo; (ii) Năng lực phân bổ và tái phân bổ danh mục tài sản và nợ; (iii)
  5. 5. năng lực cải thiện năng suất và quản lý nguồn lực; (iv) khả năng thanh toán, vốn và thanh khoản; và(v) Chủ sở hữu mạnh. Điều đó có nghĩa là, để nâng cao năng lực cạnh tranh, việc tăng vốn là rất cầnnhưng chưa đủ mà cần phải tạo năng lực và động lực để cạnh tranh.Thứ hai, về chất lượng dịch vụ NHCác dịch vụ mà các NH VN đang cung cấp hiện nay, dù đã được đa dạng hoá nhưng vẫn đơn điệu,chủ yếu vẫn là các sản phẩm truyền thống. Các dịch vụ NH hiện đại chưa phát triển hoặc phát triểnnhưng đồng bộ. Rất nhiều dịch vụ phát triển chưa xứng với tiềm năng, đặc biệt là các dịch vụ bán lẻ,dịch vụ dành cho khách hàng thượng lưu, dịch vụ quản lý tài sản, tư vấn và hỗ trợ tài chính, trunggian tiền tệ, trao đổi công cụ tài chính, cung cấp thông tin tài chính và dịch vụ chuyển đổi. Hoạt độngNH đầu tư và kênh phân phối điện tử đã tăng trưởng nhanh chóng nhưng tính tiện tích và hiệu quảkinh tế chưa cao. Các hoạt động tiền tệ, lãi suất, công cụ tỷ giá, công cụ phát sinh ngoại hối, đầu tưvẫn trong giai đoạn đầu. Thị trường dịch vụ NH vẫn phát triển dưới mức tiềm năng, các mô hình cạnhtranh còn đơn giản. Mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội đối với dịch vụ NH chưa cao do những hạn chếvề số lượng, chất lượng và khả năng tiếp cận. Cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ, công nghệ vàthương hiệu chưa phổ biến, nên dễ dẫn tới sự bất ổn của thị trường dịch vụ, do đó dễ tạo ra sự cạnhtranh về giá (lãi suất) để lôi kéo khách hàng của nhau. Nếu dịch vụ NH không được cải tiến mạnh mẽ,phát triển dịch vụ chưa theo định hướng nhu cầu của khách hàng, thì hệ thống NH trong nước sẽ khóduy trì thị phần của mình, nhất là khi sự phân biệt giữa NHTM trong nước và nước ngoài căn bảnđược xóa bỏ vào năm 2011. Lợi thế về truyền thống và mạng lưới sẽ khó giúp các NH trong nướcphát triển các dịch vụ mới và các dịch vụ phi tín dụng - những dịch vụ cần công nghệ và kỹ năng khaithác của các cán bộ NH. Báo cáo của HSBC VN cho thấy: doanh thu từ thanh toán quốc tế chiếm1/3 tổng doanh thu của NH. Cách đây 3 năm khách hàng là các công ty VN chỉ chiếm 3%, thì nay đãlên tới 50% trên tổng số khách hàng của HSBC, dự đoán đến năm 2012, khách hàng là các doanhnghiệp VN tăng lên 70%.Thời điểm tự do hóa hoàn toàn thị trường dịch vụ NH của VN đã đang đến rất gần, nhưng so với cácphương thức cung cấp dịch vụ trong GATS, các dịch vụ NH VN chủ yếu được cung cấp ở trongnước. Việc cung cấp dịch vụ qua biên giới, hiện diện thương mại và hiện diện của thể nhân còn hạnchế. Tổng doanh thu từ xuất khẩu dịch vụ tài chính của VN chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng doanh thuxuất khẩu dịch vụ của VN.Thứ ba, về năng lực quản trị và công nghệ.Đến nay công tác quản trị rủi ro đối với mỗi NH tuy đã được chú trọng, nhưng chưa thực sự trở thànhcông cụ hữu hiệu phục vụ quản trị điều hành. Tình trạng vay mượn với lãi suất lên xuống thất thườngtrên thị trường tiền tệ liên NH trong thời gian qua suy cho cùng đều bắt nguồn từ việc các NH chưaquản trị tốt tài sản và thanh khoản. Do sự yếu kém từ quản trị tài sản Nợ, tài sản Có và sự thiếu hụtcủa các công cụ quản lý hữu hiệu, trong khi một số NHTM lại muốn sử dụng triệt để phần vốn này đểcho các hoạt động kinh doanh sinh lời, nên xảy ra thiếu thanh khoản cục bộ tại một số NH.Theo kinh nghiệm của các NH nước ngoài, yếu tố công nghệ có thể giúp giảm 76% chi phí hoạt độngcủa NH, nhưng để có được nền tảng công nghệ hiện đại, đòi hỏi phải đầu tư lớn, đây là việc rất khóđối với các NHTM VN. Do vốn ít, năng lực tài chính còn hạn chế, nên một số NH không dễ thựchiện x. Như vậy, quản trị hoạt động cũng như quản trị công nghệ NH đang là một thách thức lớn trướcsức ép hội nhập của hệ thống NH VN.Với một một thị trường tài chính còn non trẻ, rất chật hẹp, số lượng NH và TCTD phi NH là khôngnhỏ. Một khi mỗi phân đoạn thị trường có nhiều NH/ chi nhánh trong và ngoài nước khai thác, mứcđộ canh tranh để giữ thị phần sẽ càng trở nên khốc liệt, nhưng đa số các NH VN chưa nâng caođược chất lượng, tính tiện ích của dịch vụ, lợi thế công nghệ và trình độ quản lý để cạnh tranh, màchỉ dựa vào lãi suất và chính sách khuyến mại. Điều này đôi khi đã buộc NHNN phải xử lý bằng cácmệnh lệnh hành chính, để tránh những cú sốc nảy sinh từ nguy cơ bất ổn này.Một số NH CP qui mô vốn nhỏ, mới ra đời chưa có điều kiện khảng định được uy tín và thương hiệuvới khách hàng, chưa có điều kiện để phát triển dịch vụ phi tín dụng, chỉ tập trung vào hoạt động tíndụng, phát triển mạnh cho vay tiêu dùng, cho vay chứng khoán và bất động sản với lãi suất thỏathuận, nên đã tác động không nhỏ đến sự phát triển của thị trường này. Ttrước những một số diễn
  6. 6. biến bất ổn từ nền kinh tế, thì sự chậm trễ hay những can thiệp quá mức của cơ quan quản lý, nhữngbất ổn của hệ thống NH dễ nảy sinh.3. Một số giải phápVới mục tiêu đảm bảo sự an toàn và hiệu quả trong hoạt động của mỗi NHTM nói riêng và toàn bộ hệthống nói chung, cần chú ý đến các giải pháp sau:Một là, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho sự tăng trưởng của hoạt động NH, đảm bảotính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật NH phù hợp với các cam kết khi hội nhập.Nhanh chóng ban hành văn bản hướng dẫn Luật NH Nhà nước xi và Luật Các tổ chức tín dụng xii, cầnxây dựng, chỉnh sửa, bổ sung các quy định về cấp phép hiện diện thương mại, về tổ chức, hoạt động,quản trị, điều hành của các NH trong và ngoài nước hướng tới nguyên tắc không phân biệt đối xử,phù hợp với các cam kết và lộ trình gia nhập WTO. Tuân thủ nguyên tắc minh bạch hoá và chuẩn xácthông tin về hoạt động NH.Hoàn thiện các quy định về hình thức pháp lý, phạm vi hoạt động và loại hình dịch vụ được phépcung cấp của các NH nước ngoài tại VN cũng như các quy định liên quan tới quản lý ngoại hối, cảicách hệ thống kế toán NH phù hợp chuẩn mực kế toán quốc tế và các quy định về thanh toán khôngdùng tiền mặt.Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện quy định về các dịch vụ NH mới như các dịch vụ uỷ thác, các sảnphẩm phái sinh, các hoạt động NH điện tử, quy định về hướng dẫn và quản lý các dịch vụ phái sinhvà các quy định liên quan đến các phương thức cung cấp dịch vụ NH qua biên giới, tiêu dùng ở nướcngoài và hiện diện thể nhân... Cơ chế chính sách của các cơ quan quản lý Nhà nước cần được banhành kịp thời, phù hợp với với lộ trình thực hiện các cam kết quốc tế về lĩnh vực tiền tệ và NH. Khôngnhững thế, một vấn đề rất quan trọng là cần xác định rõ lộ trình mở cửa thị trường với các mốc thờigian cụ thể để đảm bảo tính tiên liệu của chính sách cũng như tạo điều kiện cho các NHTM hoạtđộng theo nguyên tác thương mại – thị trường. Đây sẽ là một trong những cơ sở đảm bảo hệ thốngNH VN hội nhập hiệu quả.Hai là, Nâng cao năng lực quản trị rủi ro và năng lực giám sát NHViệc NH có một cơ cấu quản trị doanh nghiệp vững mạnh là rất quan trọng, vì NH có vai trò cốt yếutrong nền kinh tế của mỗi quốc gia, NH được coi là ngành chịu sự quản lý, giám sát chặt chẽ và cóthể sử dụng mạng lưới an toàn của Chính phủ xiii. Vì vậy, quản trị hoạt động của NH nói chung vàquản trị rủi ro nói riêng, cần dựa trên một số nguyên tắc của kinh tế thị trường, nhưng khi vận hànhphải theo thực tế của nền kinh tế VN. Xây dựng văn hoá quản trị rủi ro, tạo môi trường thuận lợi choviệc áp dụng các nguyên tắc và thông lệ quản trị rủi ro. Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát nộibộ, để phát hiện những tiềm ẩn rủi ro, có biện pháp ngăn chặn kịp thời. Nhưng cũng không nên quánhấn mạnh đến kiểm tra, kiểm soát nội bộ dễ làm mất tính sáng tạo trong công việc. Xây dựng hệthống khuyến khích hữu hiệu, bằng việc xây dựng mối quan hệ giữa người lao động với người sửdụng lao động, trên cơ sở cơ chế thu nhập khen thưởng và xử phạt nội bộ để khuyến khích người laođộng năng động, sáng tạo, làm việc với năng suất và chất lượng cao.Ba là, xây dựng hệ thống thu thập dữ liệu đảm bảo các thông tin cung cấp là tin cậy.Trong hoạt động NH, không phải mọi thông tin đều có thể công khai công bố, nhưng càng minh bạchthông tin, đảm bảo tính cập nhật, độ chuẩn xác, sẽ càng củng cố được niềm tin của đông đảo dânchúng. Thực tế do thiếu thông tin, hoặc thông tin không đầy đủ, đã có chỗ để tin đồn tồn tại, làm đảolộn thị trường. Vì vậy, cần qui định cơ chế cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch, chính xác, kịp thờivới hệ thống dữ liệu đầy đủ, cập nhật, điều này không chỉ phục vụ cho công tác phân tích và dự báo,mà còn phục vụ cho việc điều chỉnh cơ chế chính sách sát với yêu cầu thực tiễn. Chỉ khi có được hệthống thông tin tốt, minh bạch, niềm tin sẽ tăng lên.Bốn là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao với công nghệ hợp lý.Đây là yếu tố then chốt để nâng cao khả năng cạnh tranh cho ngành NH. Thực tế ở VN hiện nay, sựthiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao để quản lý và sử dụng công nghệ NH đang diễn ra ở hầuhết các NH. Do đó đi đôi với đầu tư công nghệ phải bằng mọi biện pháp (tạo môi trường cho nguờilao động tự học tập, tổ chức đào tạo chuyên sâu và nâng cao, có cơ chế thưởng, phạt thỏa đáng
  7. 7. trong công việc… ) để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Đây làviệc làm cấp thiết, nếu NH muốn hướng đến việc phát triển ổn định và bền vững./.----------------------------------------i ANZ, HSBC, Standar chertered, OCBC,UOB, DeutscheBank, Sumitomo Mitsui là các nhà đầu tưchiến lược của Sacombank; Teachcombank; ACB; VPBank; Phương Nam Bank; Habubank vàEximbank.ii Nghị định số 141/2006/NĐ – CP “ về việc ban hành danh mục mức vốn pháp định của các TCTD”iii Đến nay, đã có gần 100 NHTMVN, chi nhánh NHNN hoạt động tại TT Việt Nam.Nguồn :http://www.sbv.gov.vn/wps/portaliv Tính đến cuối năm 2009. Nguồn: Chiến lược tổng thể phát triển ngành dịch vụ Việt nam đến năm2020 và tầm nhìn đến năm 2025v Thị phần năm 2009 của VCB giảm từ 10,9% xuống còn 8,5% 6tháng đầu năm 2010; Tương tựAgribank từ 15,41% xuống 15,0%; thị phần của 3 NHTM ACB,STB,TCB tương ứng cho năm 2009 là:5,71%,3,3%, 3,08%, ước tính đến cuối tháng 6 năm 2010 là 5,8%; 3,4% và 3,04%. Nguồn: số liệutrên Web và trên các báo cáo của NH, tác giả tínhvi 6 ngân hàng lớn nhất của Việt nam năm 2009 là: AgriBank, VietcomBank, VietinBank, BIDV, ACBvà SacomBankt. Nguồn: Fitch Ratingsvii Nguồn NHNN và báo cáo của một số ngân hàng thương mạiviii So với cuối năm 2009, số lượng thẻ phát hành tăng 14,3%, số lượng ATM tăng 22,2%, số lượngPOS tăng 9%.ix Tăng GDP quí II 2,4% thấp hơn so với mức điều chỉnh 3,7% trong quí I, thâm hụt thương mại củaMỹ mở rộng 4,8% và lên mức cao nhất trong vòng 18 tháng qua. Nguồn: Kinh tế Việt nam thế giới, sốtháng 7.x Theo WB, chỉ số công nghệ của NHTM Việt Nam chỉ đạt – 0,47; trong khi Thái lan và Inđônexia là –0,07; Malaysia là 1,08 và Singapore là 1,96.xi Luật số 46/2010/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010xii Luật số 47/2010/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2010xiii Áp dụng mô thức quản trị ngân hàng hiện đại…, Đề tài NCKH cấp ngành năm 2007.

×