Cơ sở quản trị tài chính

6,256 views

Published on

hi

0 Comments
4 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
6,256
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
1
Actions
Shares
0
Downloads
194
Comments
0
Likes
4
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Cơ sở quản trị tài chính

  1. 1. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quản lý LỜI MỞ ĐẦU Hiện nay, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế thị trường và sự cạnh tranhngày càng quyết liệt giữa các thành phần kinh tế đã gây ra những khó khăn vàcả thách thức cho các doanh nghiệp. Chính vì thế mà một doanh nghiệp muốntồn tại và phát triển bền vững cần phải luôn luôn phát triển và nâng cao năng lựccạnh tranh của mình. Thường xuyên có các hoạt động: nghiên cứu nhu cầu thịtrường, phân tích tình hình hiện tại của cả nền kinh tế, của chính doanh nghiệp,từ đó, vạch ra các chiến lược phát triển ngắn hạn và dài hạn. Tình hình tài chính doanh nghiệp là sự quan tâm không chỉ của chủ doanhnghiệp, mà còn là mối quan tâm của rất nhiều đối tượng như các nhà đầu tư,người cho vay, nhà nước và người lao động. Qua các báo cáo tài chính họ có thểthấy được thực trạng thực tế của doanh nghiệp sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Chính vì thế mà việc phân tích tình hình tài chính và đánh giá hiệu quả tàichính là việc là rất quan trọng, thông qua đó tìm các giải pháp nâng cao hiệuquả tài chính, cũng như nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong tương laicủa doanh nghiệp. Trong quá trình thực tập tại phòng Tài chính kế toán của công ty Cổ phầnIn Hàng không, được sự chỉ bảo tận tình của Phó giáo sư Nghiêm Sỹ Thươngcùng các chị trong phòng, kết hợp với những kiến thức đã học và đọc, em đã tìmhiểu, nghiên cứu, và đưa ra lựa chọn đề tài: “Phân tích và đề xuất biện pháp cải thiện tình hình tài chính công tyCổ phần In Hàng không”  Mục đích và phạm vi nghiên cứu Mục đích Phân tích thực trạng tình hình tài chính của công ty để từ đó chỉ ra đượcnhững điểm mạnh và những thiếu sót cần khắc phục. Từ đó đề ra một số biệnpháp giúp công ty nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính hiện tại.  Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình tài chính của công ty.  Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính. Phạm vi nghiên cứu Phân tích tình hình hoạt động tài chính tại công ty Cổ phần In Hàng khôngtrong ba năm 2008, 2009, 2010 để làm cơ sở dự báo cho các năm tiếp theo.  Phương pháp nghiên cứu Thu thập các số liệu cần thiết trong các năm 2008, 2009, 2010.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 1
  2. 2. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý Phương pháp so sánh tuyệt đối, so sánh tương đối . Phương pháp thay thế liên hoàn.  Kết cấu đồ án Đồ án của em ngoài lời mở đầu, kết luận và phần phụ lục gồm có 3 phầnchính: Chương 1: Cơ sở lý thuyết về phân tích tài chính doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích thực trạng tình hình tài chính công ty Cổ phần InHàng không. Chương 3: Đề xuất biện pháp cải thiện tình hình tài chính công ty Cổphần In Hàng không. Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế,cùng nhiều nguyên nhân khách quan, nên đồ án của em không thể tránh khỏinhững thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô đểem có thể hoàn thiện hơn vốn hiểu biết của mình. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Quản lý tài chính,đặc biệt là thầy giáo Nghiêm Sĩ Thương, cùng các anh chị nhân viên Công tycổ phần In Hàng không đã giúp đỡ và tạo điều kiện để em hoàn thành đồ ánnày. Hà Nội, tháng 06 năm 2011 Sinh viên thực hiện Nguyễn Thị Thục QuyênNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 2
  3. 3. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP1.1.Tổng quan về phân tích tài chính doanh nghiệp 1.1.1. Khái niệm • Khái niệm tài chính: Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xãhội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phânphối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của cácchủ thể ở mỗi điều kiện nhất định. • Khái niệm tài chính doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp là các mối liên hệ phát sinh trong quá trình hìnhthành, phát triển và biến đổi vốn dưới hình thức có liên quan trực tiếp đến hiệuquả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. • Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp: Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra các quyết địnhtài chính, tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạtđộng tài chính của doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làmtăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thịtrường. • Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp: Phân tích tài chính là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và công cụcho phép thu thập và xử lý các thông tin kế toán và các thông tin khác trongquản lý doanh nghiệp, nhằm đánh giá tình hình tài chính, khả năng và tiềm lựccủa doanh nghiệp giúp người sử dụng thông tin đưa ra các quyết định tài chính,quyết định quản lý phù hợp. Phân tích tài chính doanh nghiệp mà trọng tâm là phân tích các báo cáo tàichính và các chỉ tiêu đặc trưng tài chính thông qua một hệ thống các phươngpháp, công cụ và kỹ thuật phân tích, giúp người sử dụng thông tin từ các góc độkhác nhau, vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp, khái quát, lại vừa xem xét mộtcách chi tiết tình hình tài chính doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báovà đưa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tư phù hợp.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 3
  4. 4. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý 1.1.2. Hoạt động tài chính doanh nghiệp Hoạt động tài chính là những hoạt động gắn với sự vận động và chuyểnhóa các nguồn lực tài chính, tạo ra sự chuyển dịch giá trị trong quá trình kinhdoanh và làm biến động vốn cũng như thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp.Nói cách khác, hoạt động tài chính là những hoạt động gắn với việc xác địnhnhu cầu, tạo lập, tìm kiếm, tổ chức, huy động và sử dụng vốn một cách hợp lý,có hiệu quả. Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp và có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt độngkinh doanh. Hoạt động tài chính tốt sẽ có tác động thúc đẩy sự phát triển củahoạt động kinh doanh và ngược lại; hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì mớibảo đảm cho hoạt động tài chính được vận hành trôi chảy; từ đó thúc đẩy đượcsản xuất – kinh doanh phát triển, nâng cao được hiệu quả kinh doanh. Bằng việcxem xét hoạt động tài chính, các nhà quản lý có thể đánh giá chính xác thựctrạng tài chính doanh nghiệp. 1.1.3. Mục tiêu, nhiệm vụ, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp • Mục tiêu: Mục tiêu cơ bản của việc phân tích tài chính là cung cấp những thông tincần thiết, giúp các đối tượng sử dụng thông tin đánh giá khách quan về sứcmạnh tài chính của doanh nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi vậy, phân tích tài chính là mối quan tâmcủa nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau như: Hội đồng quản trị, Bangiám đốc, các nhà đầu tư, các nhà cho vay, các nhà cung cấp, các chủ nợ, các cổđông hiện tại và tương lai, các khách hàng, các nhà bảo hiểm, người lao động,các cơ quan quản lý Nhà nước, .... • Nhiệm vụ: Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp cần phải thực hiện các nhiệmvụ sau: + Thu thập các thông tin, chủ yếu là các thông tin trên các báo cáo tài chính bao gồm: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính, bảng cân đối tài khoản. Do vậy, phân tích tài chính trên thực tế là phân tích các báo cáo tài chính doanh nghiệp.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 4
  5. 5. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý + Đánh giá thực trạng của hoạt động tài chính trên các mặt: Đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, quản lý và phân phối vốn, tình hình và hiệu quả sử dụng vốn, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, khả năng và tính chắc chắn của các dòng tiền vào ra ,... + Xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như những nguyên nhân gây nên tình trạng biến động của các nhân tố. + Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. • Ý nghĩa: Phân tích tài chính là một hệ thống các phương pháp nhằm đánh giá tìnhhình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời gian hoạtđộng nhất định. Trên cơ sở đó, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa racác quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh. Bởi vậy, việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽgiúp cho các nhà quản trị đánh giá được thực trạng hoạt động tài chính, xác địnhđầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đếntình hình tài chính của doanh nghiệp, từ đó có những biện pháp hữu hiệu để ổnđịnh và tăng cường tình hình tài chính của doanh nghiệp. Ngoài ra, việc phân tích tài chính doanh nghiệp không chỉ có ý nghĩa đốivới các nhà quản trị doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa với nhiều đối tượng khácquan tâm đến. + Đối với các nhà đầu tư: Các nhà đầu tư cần biết tình hình thu nhập của chủ sở hữu, lợi tức cổ phầnvà giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Họ quan tâm tới phân tích tài chính để nhậnbiết khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đó là một trong những căn cứ giúp họra quyết định bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không. Mặt khác nhà đầu tư cũngquan tâm tới thu nhập của doanh nghiệp. Để đánh giá thu nhập của nó, họ quantâm đến tiềm năng tăng trưởng các thông tin liên quan đến việc doanh nghiệp đãgiành được những tiềm năng gì và như thế nào, đã sử dụng chúng ra sao, cơ cấuvốn của doanh nghiệp. + Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng: Các chủ ngân hàng và các nhà cung cấp tín dụng quan tâm đến khả năngsinh lợi và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Bằng việc so sánh khối lượngvà chủng loại tài sản với số nợ phải trả theo kỳ hạn mà các chủ ngân hàng vàNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 5
  6. 6. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlýcác nhà cung cấp tín dụng có thể xác định được khả năng thanh toán của doanhnghiệp và quyết định có nên cho doanh nghiệp vay hay không. + Đối với cơ quan thuế: Cơ quan thuế cần thông tin từ phân tích tài chính để xác định số thuế màdoanh nghiệp phải nộp. + Đối với các cơ quan quản lý khác của Chính phủ: Các cơ quan quản lý khác của Chính phủ cần các thông tin từ phân tíchtài chính để kiểm tra tình hình tài chính, kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanhcủa doanh nghiệp và xây dựng các kế hoạch vĩ mô. + Đối với người lao động: Người lao động cũng quan tâm đến các thông tin từ phân tích báo cáo tàichính của doanh nghiệp để đánh giá triển vọng của nó trong tương lai. Nhữngngười đi tìm việc đều có nguyện vọng được vào làm việc ở những doanh nghiệpcó triển vọng sáng sủa với tương lai lâu dài để hy vọng có mức lương xứngđáng và chỗ làm việc ổn định. Do vậy, một doanh nghiệp có tình hình tài chínhvà tương lai ảm đạm sẽ không thu hút được những người lao động đến làm việc. + Đối với các đối thủ cạnh tranh: Các đối thủ cạnh tranh cũng quan tâm đến khả năng sinh lợi, doanh thubán hàng và các chỉ tiêu tài chính khác trong điều kiện có thể để tìm biện phápcạnh tranh với doanh nghiệp. + Đối với các nhà nghiên cứu, các sinh viên kinh tế:Các thông tin từ phân tích tài chính của doanh nghiệp được các nhà nghiên cứu,các sinh viên kinh tế quan tâm phục vụ cho việc nghiên cứu và học tập của họ.1.2. Nguồn tài liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Nguồn tài liệu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp ở đây chủ yếulà báo cáo tài chính gồm: 1.2.1. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánhtổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hìnhthành tài sản tại một thời điểm nhất định (cuối quý, cuối năm). Bảng cân đối kế toán được chia làm 2 phần: phần tài sản và phần nguồnvốn. + Phần tài sản: các chỉ tiêu ở phần tài sản phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo theo cơ cấu tài sản và hình thức tồn tại trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản được phân chia thành tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 6
  7. 7. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý + Phần nguồn vốn: Phản ánh nguồn hình thành tài sản hiện có tại doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Các chỉ tiêu nguồn vốn thể hiện trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với tài sản đang quản lý và sử dụng ở doanh nghiệp. Nguồn vốn được chia ra thành nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu. 1.2.2. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là báo cáo tài chính tổnghợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ kế toáncủa doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt độngkhác; tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về thuế và các khoản phải nộpkhác. Báo cáo kết quả kinh doanh gồm 2 phần chính: + Phần 1: Lãi, lỗ. Phản ánh tình hình kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác + Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước: phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về: Thuế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn và các khoản phải nộp khác. 1.2.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việchình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ phản ánh đầy đủ các dòng thu và chitiền và tương đương tiền của doanh nghiệp trong một niên độ kế toán. Nócung cấp thông tin về những dòng tiền vào, ra của doanh nghiệp trong mộtthời kỳ nhất định. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn gọi là báo cáo ngân lưu, được tổng hợpbởi ba dòng ngân lưu, từ ba hoạt động của doanh nghiệp: + Hoạt động kinh doanh; + Hoạt động đầu tư; + Hoạt động tài chính. 1.2.4. Thuyết minh báo cáo tài chính: Thuyết minh báo cáo tài chính là một bộ phận hợp thành không thể táchrời của báo cáo tài chính doanh nghiệp dùng để mô tả mang tính tường thuậthoặc phân tích chi tiết các thông tin số liệu đã được trình bày trong bảng cân đốikế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiềntệ, cũng như các thông tin cần thiết khác theo các yêu cầu của các chuẩn mực kếtoán.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 7
  8. 8. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý1.3. Phương pháp phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp Phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, bao gồm hệ thốngcác công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng,các mối quan hệ bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tìnhhình hoạt động tài chính doanh nghiệp, các chỉ tiêu tổng hợp các chi tiết, các chỉtiêu tổng quát chung, các chỉ tiêu có tính chất đặc thù nhằm đánh giá toàn diệnthực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Trên thực tế, có nhiều phương pháp phân tích tài chính của doanh nghiệp.Nhưng ở đây, chủ yếu vận dụng những phương pháp cơ bản, thường được vậndụng trong phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp. 1.3.1. Phương pháp so sánh: So sánh là một phương pháp nhằm nghiên cứu sự biến động và xác địnhmức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. • Nội dung so sánh + So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số thực tế của kỳ kinh doanh trước nhằm xác định rõ xu hướng thay đổi về tình hình hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Đánh giá tốc độ tăng trưởng hay giảm đi của các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. + So sánh giữa số thực tế kỳ phân tích với số kỳ kế hoạch nhằm xác định mức phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch trong mọi mặt hoạt động tài chính của doanh nghiệp. + So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác nhằm đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. • Để đảm bảo tính chất so sánh cần đảm bảo thỏa mãn các điều kiện + Phải đảm bảo sự thống nhất về nội dung kinh tế của chỉ tiêu. + Phải đảm bảo sự thống nhất về phương pháp tính các chỉ tiêu. + Phải đảm bảo sự thống nhất về các đơn vị tính các chỉ tiêu (kể cả hiện vật, giá trị và thời gian). • Kỹ thuật so sánh + So sánh bằng số tuyệt đối Là kết quả của phép trừ giữa trị số của chỉ tiêu kỳ phân tích so với trị sốcủa chỉ tiêu kỳ gốc. Kết quả so sánh biểu hiện khối lượng, quy mô biến độngcủa các chỉ tiêu kinh tế.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 8
  9. 9. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý Số tuyệt đối: Y = Y1 – Y0 Y1: Trị số của chỉ tiêu phân tích Y0: Trị số của chỉ tiêu gốc + So sánh bằng số tương đối Là kết quả của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc củacác chỉ tiêu kinh tế hoặc giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc đã được điềuchỉnh theo tỷ lệ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu có liên quan theo hướng quyếtđịnh quy mô chung của nhóm chỉ tiêu phân tích. Số tương đối: T = Y1 / Y0 * 100% • Các hình thức so sánh + So sánh theo chiều ngang là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu, trên từng báo cáo tài chính. + So sánh theo chiều dọc là việc sử dụng các tỉ lệ các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trên từng báo cáo tài chính, giữa các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. + So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu. Điều đó được thể hiện: Các chỉ tiêu riêng biệt hay các chỉ tiêu tổng cộng trên báo cáo tài chính được xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung và chúng có thể được xem xét trong nhiều kỳ để phản ánh rõ hơn xu hướng phát triển của các hiện tượng, kinh tế - tài chính của doanh nghiệp. • Ưu điểm Ưu điểm lớn nhất của phương pháp so sánh là cho phép tách ra đượcnhững nét chung, nét riêng của các hiện tượng được so sánh, trên cơ sở đó đánhgiá được các mặt phát triển hay kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả đểtìm ra các giải pháp quản lý hợp lý và tối ưu trong mỗi trường hợp cụ thể. Tuynhiên việc áp dụng phương pháp này cũng cần tuân thủ các nguyên tắc nhấtđịnh như các chỉ tiêu, các kết quả tính toán phải tương đương nhau về nội dungphán ánh và cách xác định. 1.3.2. Phương pháp thay thế liên hoàn Một chỉ tiêu kinh tế chịu sự tác động của nhiều nhân tố, chẳng hạn nhưdoanh thu chịu ảnh hưởng trực tiếp của ít nhất hai nhân tố là số lượng sản phẩmNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 9
  10. 10. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlýbán ra và giá bán. Do vậy, thông qua phương pháp thay thế liên hoàn chúng rasẽ xác định được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố lên một chỉ tiêu cần phântích. Phương pháp thay thế liên hoàn là phương pháp xác định mức độ ảnhhưởng của các nhân tố lên chỉ tiêu phân tích bằng cách thay thế lần lượt và liêntiếp số liệu gốc hoặc số liệu kế hoạch của nhan tố ảnh hưởng tới một chỉ tiêukinh tế được phân tích theo đúng logic quan hệ giữa các nhân tố. Phương phápthay thế liên hoàn có thể áp dụng khi mối quan hệ giữa các chỉ tiêu và giữa cácnhân tố, các hiện tượng kinh tế có thể biểu thị bằng quan hệ hàm số. Thay thếliên hoàn thường được sử dụng để tính toán mức độ ảnh hưởng của từng nhân tốđến cùng một chỉ tiêu phân tích. Trong phương pháp này, nhân tố thay thế là nhân tố được tính mức ảnhhưởng, còn các nhân tố khác giữ nguyên, lúc đó so sánh mức chênh lệch hàm sốgiữa cái trước nó và cái đã được thay thế sẽ tính được mức ảnh hưởng của nhântố được thay thế. Giả sử chỉ tiêu A có mối quan hệ với hai nhân tố, và mối quanhệ đó có thể biểu thị dưới dạng hàm số: A=f(X, Y) Và A0=f(X0, Y0) A1=f(X1, Y1) Để tính toán ảnh hưởng của nhân tố X và Y tới chỉ tiêu A. thay thế lầnlượt X,Y. Lúc đó, giả xử thay thế nhân tố X trước Y ta được : + Mức ảnh hưởng của nhân tố X đến chỉ tiêu A:Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 10
  11. 11. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý ∆X=f(X1, Y0) – f(X0, Y0) + Mức ảnh hưởng của nhân tố Y đến chỉ tiêu A: ∆Y=f(X1, Y1) – f(X1, Y0) Có thể nhận thấy, bằng cách tương tự trên, nếu ta thay thế nhân tố Ytrước, nhân tố X sau ta có: ∆Y=f(X0, Y1) – f(X0, Y0) ∆X= f(X1, Y1) – f(X0, Y1) Như vậy, khi trình tự thay thế khác nhau, có thể thu được các kết quả khácnhau về mức ảnh hưởng của cùng một nhân tố tới cùng một chỉ tiêu. Đây lànhực điểm nổi bật của phương pháp này. Xác định trình tự thay thế liên hoàn hợp lý là một yêu cầu khi sử dụngphương pháp này.Trình tự thay thế liên hoàn trong các tài liệu thường được quyđịnh như sau :Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 11
  12. 12. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý− Nhân tố số lượng thay thế trước, nhân tố chất lượng thay thế sau,− Nhân tố ban đầu thay thế trước, nhân tố thứ phát thay thế sau,− Nhân tố nguyên nhân thay thế trước, nhân tố hệ quả thay thế sau. Khi có thể phân biệt rõ ràng các nhân tố ảnh hưởng thì vận dụng nguyêntắc trên trong thay thế liên hoàn là khá thuận tiện. Trong trường hợp cùng mộtlúc có nhiều nhân tố chất lượng, khối lượng… tức nhiều nhân tố có cùng tínhchất như nhau, việc xác định trình tự trở nên khó khăn. Tuy nhiên ta có thể ápdụng phép lấy vi phân trong toán học để tính toán. Với ví dụ nêu trên ta có: A=f(X, Y) dA=fxdx+ fydy Và ∆Ax= fxdx ∆Ay= fydy Khi chỉ tiêu thực tế so với chỉ tiêu gốc (A1 so với A0) chênh lệch khôngquá 5 - 10% thì kết quả tính toán được trong bất kỳ trình tự thay thế nào cũngxấp xỉ bằng nhau. Một sự biến dạng nữa của phương pháp này là phương phápsố chênh lệch. Trong phương pháp này để xác định mức ảnh hưởng của từngnhân tố để tính toán. Cũng với ví dụ trên, ta có: A=f(x, y) với trật tự thay thế Xtrước, Y sau: ∆Ax=f(∆X. Y0) với ∆X= X1– X0 ∆Ay=f(X1. ∆Y) với ∆Y= Y1–Y0 Phương pháp số chênh lệch có ưu điểm là ngắn gọn, đơn giản. Tuy nhiên,khi sử dụng cần chú ý là dấu ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu được phântích trùng với dấu của số chênh lệch nhân tố đó nếu trong hàm số biểu thị mốiliên hệ của nhân tố với chỉ tiêu là dấu nhân (x) hoặc dấu cộng (+); Dấu ảnhhưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu được phân tích trùng với dấu của số chênhlệch nhân tố đó nếu trong hàm số biểu thị mối liên hệ của nhân tố với chỉ tiêu làdấu chia (:) hoặc dấu trừ (-). 1.3.3. Phương pháp liên hệ cân đối Đây là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế khi giữachúng tồn tại mối quan hệ cân bằng hoặc phải tồn tại sự cân bằng. Phương phápliên hệ cân đối được sử dụng rộng rãi trong phân tích tài chính, phân tích sự vậnNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 12
  13. 13. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlýđộng của hàng hóa, nguyên vật liệu, xác định điểm hòa vốn, cán cân thương mại…. Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hình thành nhiềumối quan hệ cân đối; cân đối là sự cân bằng giữa hai mặt của các yếu tố với quátrình kinh doanh. Ví dụ: + Giữa tài sản với nguồn vốn hình thành + Giữa các nguồn thu với các nguồn chi + Giữa nhu cầu sử dụng vốn với khả năng thanh toán + Giữa nguồn huy động vốn với nhu cầu sử dụng vốn … Phương pháp cân đối được sử dụng nhiều trong công tác lập kế hoạch vàngay cả trong công tác hạch toán để nghiên cứu các mối liên hệ cân đối vềlượng của yếu tố với lượng các mặt yếu tố và quá trình kinh doanh và trên cơ sởđó có thể xác định ảnh hưởng của các nhân tố. 1.3.4. Phương pháp phân tích Dupont Sử dụng phương pháp này các nhà phân tích sẽ nhận biết được các nguyênnhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh nghiệp. Bảnchất của phương pháp này là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh lợi củadoanh nghiệp như thu nhập trên tài sản ( ROA), thu nhập sau thuế trên vốn chủsở hữu (ROE) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân quả vớinhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó đối với tỷ số tổnghợp.1.4. Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp 1.4.1. Đánh giá khái quát về tình hình tài chính doanh nghiệp a. Phân tích cơ cấu tài sản: Phân tích cơ cấu tài sản là đánh giá sự biến động của các bộ phận cấuthành tài sản của doanh nghiệp. Qua phân tích cơ cấu tài sản, ta sẽ nắm được sự hợp lý trong phân bổ vàsử dụng tài sản, đánh giá tổng quát quy mô, năng lực và trình độ sử dụng vốncủa doanh nghiệp. Phân tích cơ cấu tài sản là so sánh tổng tài sản và từng loại tài sản giữacuối kỳ và đầu kỳ. Đối chiếu giữa cuối kỳ và đầu kỳ của từng loại tài sản qua đóđánh giá xu hướng thay đổi của cơ cấu tài sản. Khi phân tích kết cấu tài sản ta cần chú ý đến tỷ suất đầu tư. Tỷ suất đầutư nói lên cơ cấu tài sản, là tỷ lệ giữa giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn sovới tổng tài sản. Tỷ suất đầu tư cũng là chỉ tiêu thể hiện sự khác nhau của bảngNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 13
  14. 14. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlýcân đối kế toán giữa các doanh nghiệp khác nhau về đặc điểm, ngành nghề kinhdoanh. Tài sản cố định + Đầu tư dài hạn Tỷ suất đầu tư = × 100% Tổng tài sản Tỷ suất này càng cao cho thấy năng lực sản xuất kinh doanh và xu hướngphát triển lâu dài. b. Phân tích cơ cấu nguồn vốn Phân tích cơ cấu nguồn vốn là đánh giá sự biến động của các bộ phậncấu thành nguồn vốn (nguồn hình thành tài sản) của doanh nghiệp. Qua phân tích cơ cấu nguồn vốn, ta sẽ nắm được tình hình huy động vàsử dụng các loại nguồn vốn của doanh nghiệp, biết được trách nhiệm pháp lýcủa doanh nghiệp đối với các khoản vốn mà doanh nghiệp đang quản lý và sửdụng. Phân tích cơ cấu nguồn vốn là so sánh tổng nguồn vốn và từng loạinguồn vốn giữa cuối kỳ và đầu kỳ. Đối chiếu giữa cuối kỳ và đầu kỳ của từngloại nguồn vốn qua đó đánh giá xu hướng thay đổi của cơ cấu nguồn vốn. Trong phân tích kết cấu nguồn vốn ta cũng đặc biệt chú ý đến tỷ suất tựtài trợ (còn gọi là tỷ suất vốn chủ sở hữu). Chỉ số này cho thấy mức độ tự chủcủa doanh nghiệp về vốn, nó là tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu so với tổng nguồnvốn. Nguồn vốn chủ sở hữu Tỷ số tự tài trợ = × 100% Tổng tài sản Tỷ suất này càng cao càng thể hiện khả năng tự chủ cao về mặt tài chínhhay mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp tốt. c. Phân tích cân đối giữa tài sản và nguồn vốn Phân tích cân đối giữa tài sản và nguồn vốn sẽ giúp cho ta biết được sựtương quan về cơ cấu vốn và giá trị các tài sản của doanh nghiệp, đồng thời nócũng thể hiện tương quan về chu kỳ luân chuyển tài sản và chu kỳ luân chuyểnnguồn vốn và do vậy nó cũng góp phần phản ánh khả năng thanh toán củadoanh nghiệp. Dựa vào việc phân tích mối liên hệ cân đối này ta cũng có thể đánh giáđược nguồn vốn huy động và việc sử dụng các nguồn vốn này trong đầu tư, muasắm, dự trữ… có hợp lý hay không.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 14
  15. 15. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý Nguyên tắc về cân đối giữa tài sản và nguồn vốn được thể hiện như sau: Bảng 1.1: Quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn TÀI SẢN NGUỒN VỐN - Vốn đầu tư bằng tiền - Đầu tư tài chính ngắn hạn Nợ ngắn hạn - Khoản phải thu - Hàng tồn kho - Tài sản lưu động khác - Tài sản cố định - Đầu tư tài chính dài hạn Nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu - Xây dựng cơ bản dở dang - Ký quỹ, ký cược dài hạn + Nguồn vốn dài hạn duy trì thường xuyên ở doanh nghiệp trong thời hạn trên một năm được sử dụng tài trợ cho các tài sản có tuổi thọ trên một năm tức là các tài sản cố định. + Tài sản có tuổi thọ dưới một năm bao gồm các tài sản lưu động được tài trợ bởi các nguồn vốn ngắn hạn chính là nguồn vốn có thời hạn dưới một năm. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi nguồn vốn chủ sở hữu khôngđáp ứng đủ nhu cầu kinh doanh thì doanh nghiệp được phép đi vay để bổ sungvốn kinh doanh. Tất cả các khoản vay ngắn hạn, dài hạn chưa đến hạn trả, dùngvào mục đích kinh doanh đều được coi là nguồn vốn hợp pháp. Do vậy nảy sinhcác trường hợp sau:  Nếu tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn: Điều này là hợp lý, doanh nghiệp giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sảnngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn. Đảm bảonguyên tắc tài trợ về sự hài hoà kỳ hạn giữa nguồn vốn và tài sản ngắn hạn.  Nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn: Doanh nghiệp không giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạnvới nợ ngắn hạn. Do đó doanh nghiệp phải sử dụng một nguồn vốn ngắn hạn đểtài trợ cho tài sản dài hạn. Mặc dù nợ ngắn hạn có thể do chiếm dụng hợp pháp hoặc có mức lãithấp hơn lãi nợ dài hạn. Tuy nhiên, chu kỳ luân chuyển tài sản khác với chu kỳNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 15
  16. 16. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlýthanh toán có thể dẫn đến những vi phạm nguyên tắc tín dụng và một hệ quả tàichính xấu có thể xảy ra.  Nếu tài sản dài hạn lớn hơn nợ dài hạn: - Doanh nghiệp dùng vốn chủ sở hữu bù đắp phần thiếu hụt thì hợp lý vìnhư vậy là sử dụng đúng mục đích của nợ dài hạn và vốn chủ sở hữu. - Doanh nghiệp dùng nợ ngắn hạn để bù đắp phần thiếu hụt thì điều nàylà bất hợp lý.  Nếu tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dài hạn: Doanh nghiệp sử dụng một phần nợ dài hạn để tài trợ tài sản ngắn hạnđiều này vừa lãng phí lãi vay và nợ dài hạn vừa phản ánh doanh nghiệp đã sửdụng sai mục đích của nợ dài hạn dẫn tới lợi nhuận kinh doanh giảm và rối loạntài chính của doanh nghiệp. d. Phân tích doanh thu Phân tích chỉ tiêu doanh thu ta cần so sánh giữa các chỉ tiêu biến động vớidoanh thu thuần để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tăng haygiảm so với kỳ trước hay kỳ kế hoạch hoặc so với doanh nghiệp khác là cao haylà thấp. Nếu mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm, mức sinhlợi trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng so với kỳ gốc và so với các doanhnghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp tănglên. Ngược lại, mức hao phí trên một đơn vị doanh thu thuần càng tăng, mứcsinh lợi trên một đơn vị doanh thu thuần càng giảm so với kỳ gốc và so với cácdoanh nghiệp khác thì chứng tỏ hiệu quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệplà thấp đi. e. Phân tích chi phí: Phân tích chỉ tiêu chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thườngđược tiến hành bằng cách so sánh tăng giảm chi phí so với kỳ trước hay kỳ kếhoạch hoặc so với chỉ số trung bình ngành. So sánh có thể được tiến hành theochỉ tiêu tổng chi phí, hoặc chi phí bình quân, hoặc tỷ trọng phí, theo từng khoảnmục hoặc từng thành phần phí hoặc theo từng đơn vị bộ phận trực thuộc hoặctrung bình toàn doanh nghiệp. Để có thể nhận định được sự thay đổi chi phíluôn cần đặt chúng trong mối quan hệ với khối lượng, sản lượng hàng hóa tiêuthụ. Khi so sánh, nếu thay đổi chi phí có xu hướng dẫn tới làm tăng mức chi phíbình quân hoặc làm tăng tỷ trọng phí thì cần phải đặt dấu hỏi và phân tích sâuhơn nguyên nhân kinh tế, kỹ thuật liên quan.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 16
  17. 17. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý f. Phân tích lợi nhuận: Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả của quátrình sản xuất kinh doanh. Việc phân tích lợi nhuận giúp ta đánh giá được sốlượng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, kết quả sử dụng các yếu tốsản xuất về tiền vốn, lao động, vật tư… Khi so sánh lợi nhuận thực hiện với lợinhuận kế hoạch hoặc hay lợi nhuận kỳ trước ta thấy được mức độ tăng giảm củalợi nhuận từ các hoạt động. Do đó, việc phân tích lợi nhuận giúp ta đánh giátổng quát về tình hình thực hiện kế hoạch của doanh nghiệp đồng thời ta cũngcần phải xem xét tỷ trọng về lợi nhuận của từng loại hoạt động trong tổng lợinhuận chung của doanh nghiệp để có cái nhìn toàn vẹn hơn. Nội dung của phân tích lợi nhuận gồm có: - Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch lợi nhuận của từng bộ phận vàcủa toàn doanh nghiệp. - Nhận dạng những nguyên nhân, xác định mức độ ảnh hưởng của từngnhân tố đến tình hình biến động lợi nhuận. 1.4.2. Phân tích hiệu quả tài chính a. Phân tích khả năng quản lý tài sản Phân tích khả năng quản lý tài sản nhằm để đánh giá hiệu suất, cường độsử dụng (mức độ quay vòng) và mức sản xuất của tổng tài sản trong năm Phân tích khả năng quản lý tài sản nhằm trả lời câu hỏi một đồng tài sảngóp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu.  Vòng quay tài sản ngắn hạn (VQTSNH) Doanh thu thuần Vòng quay TSNH = Tài sản ngắn hạn bình quân + Vòng quay TSNH cao chứng tỏ TSNH có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và không bị giam giữ trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. + Vòng quay TSNH cao là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nhờ tiết kiệm được chi phí và giảm được lượng vốn đầu tư.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 17
  18. 18. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý + Vòng quay TSNH thấp là do tiền mặt nhàn rỗi, thu hồi khoản phải thu kém, chính sách bán chịu quá rộng rãi, quản lý vật tư không tốt, quản lý sản xuất không tốt, quản lý bán hàng không tốt.  Vòng quay tài sản cố định (VQTSCĐ) Chỉ số này đo lường mức độ hiệu quả của việc doanh nghiệp sử dụng tài sản cố định của mình. Doanh thu thuần Vòng quay TSCĐ = Tài sản cố định bình quân + Vòng quay TSCĐ cao chứng tỏ TSCĐ có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và phát huy hết công suất. + Vòng quay TSCĐ cao là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nếu doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí sản xuất. + Vòng quay TSCĐ thấp là do nhiều TSCĐ không hoạt động, chất lượng tài sản kém, hoặc không hoạt động hết công suất.  Vòng quay tổng tài sản (VQTTS) Chỉ số vòng quay tổng tài sản được thiết lập để đánh giá tông hợp khảnăng quản lý tài sản của công ty bao gồn tài sản cố định và tài sản ngắn hạn. Doanh thu thuần Vòng quay tổng tài sản = Tổng tài sản bình quân + Vòng quay tổng tài sản cao chứng tỏ là các tài sản của doanh nghiệp có chất lượng cao, được tận dụng đầy đủ, không bị nhàn rỗi và không bị giam giữ trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. + Vòng quay tổng tài sản cao là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao. + Vòng quay tổng tài sản thấp là do yếu kém trong quản lý TSCĐ, quản lý tiền mặt, quản lý khoản phải thu, chính sách bán chịu, quản lý vật tư, quản lý sản xuất, quản lý bán hàng.  Vòng quay hàng tồn kho (VQHTK): Chỉ số này cho biết một đồng vốn mà doanh nghiệp đầu tư vào hàng tồnkho trong năm qua góp phần tạo ra bao nhiêu đồng doanh thuNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 18
  19. 19. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý Doanh thu Vòng quay HTK = Hàng tồn kho bình quân 360 Số ngày tồn kho = Vòng quay hàng tồn kho + Vòng quay hàng tồn kho cho ta số chu kỳ sản xuất kinh doanh được thực hiện trong một năm. + Vòng quay hàng tồn kho cao là một cơ sở tốt để có lợi nhuận cao nếu doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trên cơ sở sử dụng tốt các tài sản khác. + Vòng quay hàng tồn kho thấp là do quản lý vật tư, tổ chức sản xuất, cũng như tổ chức bán hàng chưa tốt.  Kỳ thu nợ bán chịu (KTN) KPT bình quân × 360 Kỳ thu nợ bán chịu = Doanh thu + Kỳ thu nợ dài phản ánh chính sách bán chịu táo bạo. Có thể là dấu hiệu tốt nếu tốc độ tăng doanh thu lớn hơn tốc độ tăng khoản phải thu. Nếu vận dụng đúng, chính sách bán chịu là một công cụ tốt để mở rộng thị phần và làm tăng doanh thu. + Kỳ thu nợ dài có thể do yếu kém trong việc thu hồi khoản phải thu; doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn, lợi nhuận có thể cao. + Kỳ thu nợ ngắn có thể do khả năng thu hồi khoản phải thu tốt, doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn, lợi nhuận có thể cao. + Kỳ thu nợ ngắn có thể do chính sách bán chịu quá chặt chẽ, dẫn tới đánh mất cơ hội bán hàng và cơ hội mở rộng quan hệ kinh doanh. 1.4.3. Phân tích khả năng sinh lời Khả năng sinh lời phản ánh năng lực kinh doanh, là điều kiện tiền đề chotương lai, cho phép doanh nghiệp đánh giá được tình trạng tiềm năng tăngtrưởng do đó mà phân tích khả năng sinh lợi giúp doanh nghiệp điều khiển lại,cơ cấu lại cơ cấu tài chính và hoạch định chiến lược ngăn ngừa rủi ro ở mức tốtnhất, cũng như hướng tăng trưởng trong tương lai. a. Doanh lợi sau thuế trên doanh thu (ROS) Lợi nhận sau thuế ROS = Doanh thu thuần + Chỉ số này cho biết trong một trăm đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 19
  20. 20. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý + Chỉ số này cao càng tốt, nó chịu ảnh hưởng của sự thay đổi sản lượng, giá bán, chi phí… b. Tỷ suất thu hồi tài sản (ROA) Lợi nhận sau thuế ROA = Tổng tài sản bình quân + Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn đầu tư vào doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. ROA là hệ số tổng hợp nhất để đánh giá khả năng sinh lợi của một đồng vốn đầu tư. + Chỉ số này cao cho thấy doanh nghiệp tận dụng tốt tài sản và tạo ra nhiều lợi nhuận sau thuế. c. Tỷ suât thu hồi vốn chủ sở hữu (ROE) Lợi nhận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu bình quân + Chỉ số này cho biết một trăm đồng vốn chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp góp phần tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. + Đây là chỉ số tài chính quan trọng nhất và thiết thực nhất đối với chủ sở hữu. Các nhà đầu tư quan tâm nhất đến chỉ số này. + Chỉ số này càng lớn cho thấy việc sử dụng vốn chủ sở hữu tạo ra được càng nhiều lợi nhuận sau thuế. 1.4.4. Phân tích rủi ro tài chính Khả năng thanh toán là nội dung cơ bản của hoạt động tài chính, nó chobiết năng lực tài chính trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp. Do vậy, việcphân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ cho phép các nhà quản lýđánh giá được sức mạnh tài chính hiện tại, tương lai cũng như dự đoán đượctiềm lực thanh toán và sự an toàn của tài chính doanh nghiệp. a. Khả năng thanh khoản Khả năng thanh toán hiện Tài sản ngắn hạn = hành Nợ ngắn hạn Khả năng thanh toán hiện thời cao tức là khả năng thanh toán nợ đến hạntốt, kết luận này không chắc chắn vì nó không tính đến kết cấu của tài sản lưuđộng. Rõ ràng nếu doanh nghiệp có nhiều tiền mặt và khoản phải thu sẽ đượcđánh giá là có khả năng cao hơn các doanh nghiệp có nhiều hàng tồn kho. Tài sản ngắn hạn – hàng tồn kho Khả năng thanh toán nhanh = Nợ ngắn hạnNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 20
  21. 21. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý Ngay cả khi khả năng thanh toán nhanh rất cao song nếu tỷ trọng khoảnphải thu lớn và khoảng thời gian thu tiền của các khoản phải thu dài thì doanhnghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn. Tiền Khả năng thanh toán tức thời = Nợ ngắn hạn Tỷ số khả năng thanh toán tức thời đánh giá khả năng thanh toán ngay tứcthời các cam kết đến hạn bằng các loại tài sản lưu động tương đương tiền mặt. Tóm lại, khả năng thanh khoản cao thì rủi ro thanh khoản sẽ thấp, tuynhiên lợi nhuận có thể thấp vì khoản phải thu nhiều và hàng tồn kho nhiều. Khảnăng thanh khoản thấp thì rủi ro thanh khoản sẽ cao, tuy nhiên lợi nhuận có thểcao vì TSNH được sử dụng hiệu quả, nguồn vốn đầu tư cho TSNH nhỏ, ROAvà ROE có thể tăng. b. Khả năng quản lý vốn vay Chỉ số nợ được định nghĩa như là tỷ số giữa tổng nợ so với tổng tài sản.Chỉ số này cho biết mức độ doanh nghiệp sử dụng vốn vay để tài trợ cho các tàisản của mình. Tổng nợ Chỉ số nợ = Tổng tài sản + Chỉ số nợ cao chứng tỏ công ty đã mạnh dạn sử dụng nhiều vốn vay trong cơ cấu vốn, đây là cơ sở để có được lợi nhuận cao. + Chỉ số nợ cao cũng là minh chứng về uy tín của doanh nghiệp đối với chủ nợ. Tổng tài sản Khả năng thanh toán tổng quát = Nợ phải trảVề bản chất, chỉ số khả năng thanh toán là nghịch đảo của chỉ số nợ, chỉ số nàycho biết một đồng nợ của doanh nghiệp được che chở bởi bao nhiêu đồng tàisản các loại mà doanh nghiệp sở hữu. 1.4.5. Phân tích tổng hợp tình hình tài chính - Đẳng thức Dupont Công ty Dupont là công ty đầu tiên ở Mỹ sử dụng các mối quan hệtương hỗ giữa các tỷ lệ tài chính chủ yếu để phân tích các chỉ số tài chính, vìvậy phương pháp này còn có tên là phương pháp phân tích tài chính Dupont. Theo phương pháp này, trước hết chúng ta xem xét các mối quan hệtương tác giữa hệ số sinh lợi doanh thu với hiệu suất sử dụng tài sản (ROA).Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 21
  22. 22. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý Khi phân tích ROA cho phép xác định và đánh giá chính xác nguồn gốclàm thay đổi lợi nhuận trước lãi vay và thuế của doanh nghiệp. Tiếp theo, chúngta xem xét tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp được tạo thànhbởi các mối quan hệ giữa tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu. Trên cơ sở đónhà quản trị đưa ra các giải pháp phù hợp để đem lại lợi nhuận cho doanhnghiệp. Lợi nhuận sau Lợi nhuận sau Doanh thu thuần thuế thuếROA = = × Tổng tài sản bình Tổng tài sản bình Doanh thu quân thuần quân Lợi nhuận Lợi nhuận Doanh thu Tổng TS sau thuế sau thuế thuần bình quânROE = = × × Vốn CSH Doanh thu Tổng TS Vốn CSH bình quân thuần bình quân bình quân Lợi nhuận Tổng TS sau thuế Vòng quay bình quânROE = = ROS × × Vốn CSH TTS Vốn CSH bình quân bình quân ROE phụ thuộc vào ba nhân tố là lợi nhuận biên, vòng quay tổng tài sảnvà tủ số tổng tài sản bình quân/vốn chủ sở hữu bình quân. Các nhân tố này cóthể ảnh hưởng trái chiều đối với ROE. Phân tích Dupont là xác định ảnh hưởng của ba nhân tố này đến ROE củadoanh nghiệp để tìm hiểu nguyên nhân gây tăng giảm chỉ số này. Phân tích công thức trên: Tổng TS bình quân ROE = ROS × Vòng quay TTS × Vốn CSH bình quân KROE = K1 × K2 × K3 Trong đó: K1: Hệ số doanh lợi của doanh thu thuần K2: Hệ số doanh thu trên tổng tài sảnNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 22
  23. 23. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý K3: Hệ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu Sau đó, ta có thể xét sự biến động của hệ số doanh lợi của vốn chủ sởhữu qua các thời kỳ bằng phương pháp thay thế liên hoàn. Việc phân tích nàygiúp ta xác định ảnh hưởng của từng chỉ tiêu đến sự biến động của hệ số doanhlợi của vốn chủ sở hữu. Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu năm gốc ( K ROE ) 0 + LN sau thuế 0 DT thuần 0 tài sản 0 Tổng 0 K ROE = Tổng × DT thuần 0 tài sản 0 × Vốn CSH 0 Tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu năm phân tích( K ROE ) 1 + LN sau thuế 1 DT thuần 1 tài sản 1 Tổng 1 K ROE = Tổng × DT thuần 1 tài sản 1 × Vốn CSH 1 Sau đó dùng phương pháp thay thế liên hoàn, phân tích sự biến động: Tổng hợp lại ta có: ∆K ROE = ∆K 1 + ∆K 2 + ∆K 3 Dựa vào những số liệu đã tính toán ở trên ta sẽ tìm ra các nhân tố gây ảnh hưởng đến tình hình biến động của tỷ suất thu hồi vốn chủ sở hữu ROE.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 23
  24. 24. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quản lý Tỷ suất thu hồi VCSH (ROE) Tỷ suất thu hồi tài sản (ROA) Nhân với Tài sản/Vốn chủ sổ hữu Lợi nhuận biên Nhân với Vòng quay tổng tài sản Lãi ròng Chia cho Doanh thu Doanh thu Chia cho Tổng tài sản Doanh thu Trừ đi Tổng chi phí TSCĐ Cộng với TSLĐ Chi phí Hàng + Khấu + Lãi + + Khoản + + TSLĐ hoạt động Thuế Tiền tồn hao vay phải thu khac khác khoNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 24
  25. 25. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý1.5. Hiệu quả tài chính của doanh nghiệpHiệu quả tài chính của doanh nghiệp được thể hiện qua: + Năng lực thanh toán + Năng lực cân đối vốn + Năng lực kinh doanh + Năng lực thu lợi Như vậy, để nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp có nghĩadoanh nghiệp cần thực hiện các chiến lược ngắn hạn và dài hạn làm tăng cácnăng lực trên của doanh nghiệp. Để nâng cao năng lực thanh toán, doanh nghiệp cần có chế độ quản lý tốtđối với: tài sản lưu động, các khoản nợ ngắn hạn, và hàng tồn kho. Hay nói cáchkhác, doanh nghiệp cần giải quyết các vấn đề tài chính ngắn hạn liên quan chặtchẽ tới quản lý tài sản lưu động của doanh nghiệp. Để nâng cao năng lực cân đối vốn, các nhà quản lý cần quan tâm đến:chính sách tín dụng tài chính, chính sách huy động vốn để tăng vốn chủ sở hữulàm tăng tính tự chủ của doanh nghiệp. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì liênquan đến mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho các món nợ, liên quanđến rủi ro phá sản của doanh nghiệp. Để nâng cao năng lực kinh doanh, các nhà quản lý cần quản lý tốt đểnâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, tăng tốc vòng quay hàng tồn kho. Đối với năng lực sinh lợi thì nhà quản lý cần kết hợp các giải pháp, chínhsách để tác động lên tất cả các hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Nhà quảnlý cần có cái nhìn tổng quát về tình hình tài chính hiện tại của doanh nghiệp, từđó đưa ra những quyết định đúng đắn trên mọi phương diện, vì năng lực sinh lờicủa một doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của tất cả các hoạt động, không ít thìnhiều. Trong đó, doanh nghiệp cần tập trung giải quyết các vấn đề liên quanđến: tổng doanh thu, tổng chi phí, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp. Tóm lại, để nâng cao hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, các nhà quảnlý cần có tầm nhìn bao quát tình hình hiện tại của doanh nghiệp, từ đó đưa racác chính sách, cơ chế thực hiện có tác động tốt thể hiện trên các chỉ tiêu tàichính của doanh nghiệp, làm tăng giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Để nắm và hiểu được rõ hơn phần lý thuyết trình bày ở trên, em xin đivào tìm hiểu và phân tích thực trạng tình hình tài chính của công ty Cổ phần InHàng không.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 25
  26. 26. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý CHƯƠNG II PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CÔNG TY CỔ PHẦN IN HÀNG KHÔNG2.1. Giới thiệu khái quát về Công ty Cổ phần In Hàng không Việt Nam2.1.1. Giới thiệu chung về Công ty cổ phần In Hàng Không Việt Nam Thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chínhphủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần và Quyết định số372/QĐ-TTg ngày 04/04/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm tổchức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con tại Tổng công tyHàng không Việt Nam; ngày 07/06/2005 Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải đãban hành Quyết định số 1900/QĐ-BGTVT về việc phê duyệt phương án vàchuyển Công ty In Hàng không trực thuộc Tổng công ty Hàng không Việt Namthành công ty cổ phần.Tên công ty : Công Ty Cổ Phần In Hàng KhôngTên giao dịch quốc tế : Aviation Printing Joint Stock CompanyViết tắt : AVIPRINT.,JSCVốn điều lệ : 17 tỷ đồng.• Trụ sở chính : 200 Nguyễn Sơn – Bồ Đề - Long Biên – Hà NộiĐiện thoại : (84-4) 38272008; 38721494Fax : (84-4) 38725372Thư điện thoại : ihk@netnam.vnWebsite : aviprint.com.vn• Chi nhánh phía Nam : 126 đường Hồng Hà – Phường 2, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí MinhĐiện thoại : (84-8) 38489295; 38486604Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 26
  27. 27. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và QuảnlýFax : (84-8) 384890232.1.2. Quá trình hình thành và phát triển Ngày 01/04/1985 theo quyết định số 250/QĐ/TCHK của Tổng cục trưởngTổng cục Hàng Không Dân Dụng Việt Nam, Xưởng in Hàng Không được thànhlập. Ban đầu xưởng chỉ có 43 cán bộ công nhân viên với các thiết bị chính là 3máy in Typo của Trung Quốc cùng với một số máy chữ, hệ thống tạo màu, chếbản nửa có khí. Những thiết bị này đều có công suất thấp, công nghệ lac hậu.Quản lý mang nặng tính bao cấp. Vốn thiết bị chưa thể tạo ra được sự thay đổilớn về sản xuất kinh doanh của xưởng. Cùng với sự thay đổi của cơ chế thị trường, ngày 03/03/1990, theo quyếtđịnh số 147/TCHK của Tổng cục trưởng Tổng cuc Hàng Không Dân Dụng ViệtNam, xưởng đã đổi thành Xí nghiệp In Hàng không, là một đợn vị hạch toánđộc lập. Nhằm đáp ứng nhu cầu của ngành Hàng không là các ấn phẩm, chứngtừ, dịch vụ ngành đạt tiêu chuẩn quốc tế, xí nghiệp đã được Tổng cục Hàngkhông dân dụng Việt Nam quyết định đầu tư thêm máy móc trang thiết bị đểphục vụ cho ngành. Xí nghiệp được trang bị 1 máy in offset, in màu nhiềutrang…, tổng số cán bộ công nhân viên là 52 người và một số cán bộ đã đượccử đi đào tạo nâng cao tay nghề. Với những thay đổi đó, công suất làm việc củaxí nghiệp đã tăng từ 30 triệu trang lên 150 triệu trang in mỗi năm. Tuy nhiên xínghiệp vẫn chưa thoát khỏi cơ chế bao cấp, trình độ cán bộ công nhân viên chưacao nên quy mô sản xuất kinh doanh của xí nghiệp không khác trước là mấy. Ngày 14/09/1994, Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải ký quyết định số18/QĐ/TCCB-LĐ thành lập doanh nghiệp nhà nước thuộc tổng công ty Hàngkhông Việt Nam với tên gọi Công ty In Hàng không, tên giao dịch quốc tế làAviation Printing Company, viết tắt IHK. Trụ sở chính được đặt tại Sân Bay GiaLâm, ngoài ra công ty còn có một đơn vị hạch toán phụ thuộc tại thành phố HồChí Minh. Cũng trong năm này, công ty đã nhập máy phơi khổ lớn và hai máymàu của Cộng hòa Liên Bang Đức, đáp ứng nhu cầu của ngành Hàng không vàyêu cầu của khách hàng trên thị trường. Năm 2006, theo sự chỉ đạo, khuyến khích của nhà nước và để đáp ứngđược nhu cầu của khách hàng, công ty In Hàng không đã tiến hành cổ phần hóavà lấy tên gọi là Công ty Cổ phần In Hàng không, tên giao dịch quốc tếAviation Printing Joint Stock Company. Từ đây công ty đã thực sự thoát rakhỏi cơ chế bao cấp, công nhân viên chức đã thực sự làm chủ công ty của mình.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 27
  28. 28. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý Như vậy, sau 20 năm xây dựng và phát triển, công ty đã không ngừng mởrộng cả về quy mô lẫn công nghệ , trình độ quản lý, trình độ lao động ngày càngđược nâng cao. Công ty đã thực hiện hạch toán độc lập, giữ cân đối tài chính,coi trọng hiệu quả kinh tế, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách nhà nước,không ngừng tăng lợi nhuận, và đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên.Cho đến nay, công ty không những giữ một vị trí quan trọng trong ngành Hàngkhông mà còn góp phần vào sự phát triển chung của ngành và nền kinh tế đấtnước. Là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh độc lập với sự đầu tư đúng hướngcó hiệu quả và sự phấn đấu không ngừng của tập thể cán bộ công nhân viên,Công ty cổ phần In Hàng Không đã phát triển ổn định, doanh thu hàng nămtăng từ 10-15%, đã khẳng định vị trí và tham gia cạnh tranh bình đẳng với cácdoanh nghiệp cùng ngành nghề. Với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,công ty đã được nhà nước, ngành chủ quản tặng Huân chương lao động hạng bacùng nhiều bằng khen cho tập thể và cá nhân.2.1.3. Chức năng nhiêm vụ của Công ty cổ phần In Hàng không  Chức năng − Sản xuất kinh doanh các sản phẩm chất lượng cao như: khăn giấy thơm, giấy vệ sinh cao cấp, giấy hộp, in vé máy bay, các loại thẻ, các loại giấy tờ, biểu mẫu quản lý kinh tế và các biểu mẫu khác. − Nhập nguyên liệu phục vụ cho sản xuất như: giấy in, mực in các màu, bảng in các loại, xăng, dầu nhờn. − Nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng, khai thác tìm kiếm thị trường mới cho sản phẩm của công ty. − Giới thiệu, đưa sản phẩm đến với khách hàng thông qua kênh phân phối của công ty. − Thực hiện các hoạt động thương mại dịch vụ như: kinh doanh vật tư và thiết bị nghành in, trực tiếp xuất khẩu các đơn đặt hàng.  Nhiệm vụ − Công việc sản xuất sản phẩm chủ yếu của công ty là vé máy bay, tạp chí, thẻ hàng, chứng từ cao cấp sử dụng trong ngành, các loại sản phẩm giấyNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 28
  29. 29. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý thơm, khăn ăn cao cấp, túi nôn theo kế hoạch của Tổng công ty Hàng không và các cơ quan trong ngành Hàng không. − Ngoài việc sản xuất phục vụ trong ngành, công ty còn nhận in theo hợp đồng và đơn đặt hàng của các khách hàng bên ngoài. Việc tìm kiếm, khai thác khách hàng bên ngoài là rất quan trọng, ngoài việc tăng thêm thu nhập cho công ty, nó còn giúp công ty mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng uy tín, hình ảnh của công ty trên thị trường. − Công ty cũng thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tự cân đối tài chính, lấy thu bù chi, coi trọng hiệu quả kinh tế, phấn đấu giảm chi phí và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước.2.1.4. Các loại hàng hóa, dịch vụ chủ yếu công ty đang kinh doanh − In vé máy bay, thẻ hành lý, thẻ lên máy bay; các loại chứng từ, hóa đơn, sách báo, tạp chí, catalogue và các ấn phẩm khác. − In các loại bao bì bằng nhựa OPP, PE, OPE, bao bì bằng giấy. − In các loại giấy từ, biểu mẫu quản lý kinh tế và các biểu mẫu khác. − Sản xuất giấy thơm với hai huy chương vàng hội chợ Thương mại toàn quốc. − Kinh doanh vật tư và thiết bị ngành in. − Kinh doanh nước khoáng.2.1.5. Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất Tài liệu gốc Loại hình sản xuất sản phẩm của công ty là kiểu chế biến liên tục, sảnxuất hàng loạt theo đơn đặt hàng, quy mô sản xuất của công ty thuộc loại vừa,sản phẩm được tạo ra có thể trên cùng một công nghệ, theo cùng một phương Lập Market Tách màu điện tửpháp, xong các thành phẩm lại có những đặc điểm khác nhau về quy cách, thiếtkế, mầu sắc và yêu cầu kỹ thuật. Để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh, quá trình sảnxuất phải trải qua các bước công nghệ chủ yếu sau: Bình bản Hình 2.1 Sơ đồ quy trình công nghệ In Chế bản InNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 29 Thành phẩm
  30. 30. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý − Tài liệu gốc: là các bản mẫu, bản thảo, bản đánh máy, tranh ảnh, phim… − Lập market: khi nhận các tài liệu gốc trên cơ sở nội dung in, bộ phận lập market sẽ tiến hành bố trí các tranh in như tranh ảnh, dòng cột, kiểu chữ, màu sắc, độ đậm nhạt… − Tách màu điện tử: đối với những bản in nhiều màu sắc (trừ màu đen) như tranh ảnh mỹ thuật, chữ màu phải được đem chụp tách màu điện tử, mỗi màu phải được chụp ra một bản riêng thành bốn màu chủ yếu: xanh, đen, đỏ vàng.Việc tách màu điện tử và lập Market được tiến hành đồng thời, sau đó cả hai được chuyển sang bước bình bản. − Bình bản: Trên cơ sở lập market tài liệu và phim màu điện tử, bình bản sẽ bố trí tất cả các loại chữ, hình ảnh có cùng màu vào các tấm mica cho từng trang in.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 30
  31. 31. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý − Chế bản khuôn in: Trên cơ sở các tấm mica đã được bình bản, chế bản có nhiệm vụ chế bản vào khuôn in hoặc kẽm, sau đó đem phơi bản và sửa bản để in không bị nhòe hoặc lỗi. − In: Sau khi chế bản cho in thử, khi đã đủ tiêu chuẩn và được chấp nhận mới được đem cho in sản lượng. − Hoàn thiện thành phẩm: Sau khi in xong, sản phẩm in sẽ được cắt xén, đóng quyển, kiểm tra thành phẩm và đóng gói nhập kho thành phẩm.2.1.6. Hình thức tổ chức sản xuất của doanh nghiệp Tại Công ty cổ phần In Hàng không, sản xuất chỉ được tiến hành khi cóđơn đặt hàng của khách hàng. Quy trình sản xuất sản phẩm là một quy trìnhphức tạp, kiểu liên tục gồm nhiều giai đoạn công nghệ, có thể tiến hành độc lập,xong sản phẩm chỉ đươc xác nhận là thành phẩm khi đã qua công nghệ cuốicùng. Công ty áp dụng hình thức chuyên môn hóa công nghệ, chuyên môn hóacác đối tượng sản xuất và tổ chức phân chia kết cấu hệ thống sản xuất thành 2bộ phận: − Bộ phận sản xuất chính − Bộ phận phục vụ có tính chất sản xuất.  Bộ phận sản xuất chính: gồm 5 phân xưởng a. Phân xưởng chế bản: có nhiệm vụ tạo màu, sắp chữ, chế bản phim và chuẩn bị khuôn in (bằng bản kẽm và bản Flexo). Kiểm soát mẫu maket do khách hàng cung cấp. b. Phân xưởng in Offset: tổ chức in, đảm bảo thời gian giao hàng đạt chất lượng theo phiếu sản xuất và mẫu. Phối hợp chặt chẽ với khâu chế bản, gia công thành phẩm. c. Phân xưởng in Flexo: sản xuất, in và gia công sản phẩm bao bì bằng công nghệ Flexo ( như nhãn, thẻ lên máy bay…). d. Phân xưởng sách: có nhiệm vụ chuẩn bị giấy in và gia công, kiểm tra, đóng gói thành phẩm, gia công các ấn phẩm đã được thực hiện theo quy trình công nghệ, tạo ra sản phẩm có chất lượng cao.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 31
  32. 32. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý e. Phân xưởng giấy: sản xuất và gia công các sản phẩm giấy cung cấp cho ngành Hàng không và thị trường miền Bắc như khăn giấy thơm, giấy vệ sinh, giấy hộp…  Bộ phận phục vụ có tính chất sản xuất: giữ chức năng phục vụ, hỗ trợ cho hoạt động của các phân xưởng sản xuất chính; bộ phận gồm có : a. Bộ phận kiểm tra chất lượng sản phẩm b. Bộ phận kiểm tra máy móc thiết bị c. Bộ phận vận chuyển d. Tổ cơ điện2.1.7. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty Cổ phần In Hàng không Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty Cơ cấu tổ chức quản lý và điều hành của công ty gồm có Đại hội đồng cổđông, Hội đồng quản trị, Giám đốc, Ban kiểm soát, các cơ quan, đơn vị trựcNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 32
  33. 33. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlýthuộc Công ty gồm 5 phòng chức năng, 5 phân xưởng sản xuất và một chinhánh theo mô hình trực tuyến – chức năng. a. Bộ máy điều hành của công ty Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, bao gồm các cổ đông có quyền biểu quyết. Đại hội đồng cổ đông họp ít nhất mỗi năm một lần trong thời hạn không quá 90 ngày kể từ khi kết thúc năm tài chính hoặc họp bất thường theo các thủ tục quy định của Điều lệ.Đại hội đồng cổ đông có quyền:+ Quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ hoạt động của công ty trên cơ sở đề nghị của Hội đồng quản trị;+ Quyết định loại, tổng số cổ phần và các loại chứng khoán khác của công ty được quyền chào bán, quyết định mức cổ tức hàng năm do Hội đồng quản trị đề nghị;+ Quyết định việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể công ty, thanh lý tài sản trong trường hợp giải thể của công ty;+ Thông qua định hướng, chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hàng năm của Công ty do Hội đồng quản trị trình, quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán, quyết định việc niêm yết cổ phiếu công ty trên thị trường chứng khoán, quyết định bán cổ phần cho công ty con và khống chế số lượng tối đa cổ phần bán cho công ty con;+ Bầu, hoặc miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị và kiểm soát viên, xem xét, xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị và kiểm soát viên gây thiệt hại cho công ty và các cổ đông của công ty;+ Thông qua báo cáo tài chính hàng năm, phương án phân phối sử dụng lợi nhuận và các quỹ của công ty do Hội đồng quản trị đề nghị; nghe và chất vấn báo cáo của Hội đồng quản trị, giám đốc, kiểm soát viên về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty. Hội đồng quản trị: là cơ quan quyền lực cao nhất của công ty giữa hai nhiệm kỳ Đại hội đồng cổ đông và do Đại hội đồng cổ đông bầu và quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị gồmNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 33
  34. 34. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý 5 thành viên và nhiệm kỳ hoạt động 5 năm. Chủ tịch Hội đồng quản trị do Hội đông bầu trong số thành viên của Hội đồng, thành viên Hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm chức vụ giám đốc công ty.Nhiệm vụ:+ Chấp hành điều lệ của công ty và nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông; đề nghị Đại hội đồng cổ đông bổ sung, sửa đổi điều lệ khi cần thiết.+ Xem xét, trình Đại hội đồng định hướng chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hàng năm của công ty.+ Quyết định phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường, công nghệ và tiếp thị; quyết định việc góp vốn, mua cổ phần của doanh nghiệp khác theo phân cấp, ủy quyền của Đại hội đồng cổ đông; quyết định cơ cấu, mô hình tổ chức công ty, phê duyệt tổng biên chế, tổng quỹ lương hàng năm của công ty, quyết định quy chế quản lý nội bộ theo đúng quy định của pháp luật và điều lệ, theo đề nghị của giám đốc công ty;+ Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, mức lương và các lợi ích khác của giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng, giám đốc chi nhánh, trưởng văn phòng đại diện và các chức danh tương đương; cử người đại diện trực tiếp quản lý phần vốn góp của công ty tại các doanh nghiệp khác trên cơ sở đề xuất của giám đốc công ty. …các nhiệm vụ và quyền hạn khác thực hiện theo Điều lệ hoạt động của công ty và Luật doanh nghiệp… Giám đốc: là người điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.Nhiệm vụ:+ Quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty theo đúng diều lệ, nghị quyết và quyết định của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng quản trị và theo đúng quy định của pháp luật;+ Tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị và các phương án sản xuất kinh doanh, phương án đầu tư sau khi đã được Hội đồng quản trị phê duyệt;Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 34
  35. 35. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý+ Xây dựng báo cáo Hội đồng quản trị định hướng, chiến lược phát triển, kế hoạch hàng năm, báo cáo tài chính hàng năm, phương án đầu tư, giải pháp phát triển thị trường, công nghệ, tiếp thị, mua cổ phần và việc đầu tư góp vốn của công ty;+ Quyết định mua sắm tài sản cố định, đầu tư xây dựng cơ bản theo phân cấp; xây dựng và trình Hội đồng quản trị phê duyệt cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ công ty, quy hoạch đào tạo cán bộ và lao động, phương án phân công sản xuất kinh doanh cho các đơn vị trực thuộc; …các nhiệm vụ và quyền hạn khác thực hiện theo Điều lệ hoạt động của công ty và Luật doanh nghiệp… Ban kiểm soát: gồm 3 thành viên, và ít nhất 1 thành viên có chuyên môn về tài chính - kế toán. Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu, bãi nhiệm và miễn nhiệm.Nhiệm vụ:+ Xây dựng quy chế hoạt động và thông qua Đại hội đồng cổ đông (hoặc Hội đồng quản trị khi được ủy quyền) trước khi ban hành;+ Kiểm tra, kiểm soát tính hợp lý, hợp pháp trong hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, hoạt động điều hành của giám đốc công ty trong việc ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính, kiểm soát, giám sát Hội đồng quản trị và giám đốc điều hành trong việc chấp hành điều lệ và nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông;+ Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của công ty, kiểm tra và báo cáo Đại hội đồng cổ đông từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết;+ Báo cáo Đại hội đồng cổ đông về tính chính xác, trung thực, hợp pháp của việc ghi chép, lưu trữ chứng từ và lập sổ kế toán, báo cáo tài chính, các báo cáo khác của công ty; tính trung thực, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty; …các nhiệm vụ và quyền hạn khác thực hiện theo Điều lệ hoạt động của công ty và Luật doanh nghiệp…Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 35
  36. 36. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý b. Các phòng chức năng: − Phòng tổ chức hành chính: Thư ký, quản trị nhân lực, quản lý hành chính, được giao nhiệm vụ cụ thể, có trường hợp kiêm nhiệm theo chức trách được giám đốc duyệt. − Phòng tài chính kế toán: lập kế hoạch tài chính, chuẩn bị vốn, theo dõi thanh toán. Kiểm soát chi phí, thanh toán lương cho nhân viên. Kế toán hạch toán theo pháp lệnh và quy chế quản lý tài chính quy định… − Phòng kế hoạch sản xuất: Phòng theo dõi công tác sản xuất, tình hình vật tư và lập kế hoạch sản xuất, marketing, phối hợp với các phòng ban khác để xây dựng, kỹ thuật, tài chính, giá thành, vật tư… − Phòng vật tư kinh doanh: cung ứng nguyên vật liệu đáp ứng nhu cầu kinh doanh, quản lý kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm. − Phòng QM (quản lý chất lượng): quản lý chất lượng theo ISO. − Chi nhánh phía Nam: sản xuất và gia công các sản phẩm giấy cung cấp cho thị trường phía Nam.2.1.8. Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần In Hàng không Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu đạt được trong các năm gần đây ĐVT: triệu đồngNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 36
  37. 37. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quảnlý 09/08 10/09 Chỉ tiêu 2008 2009 2010 +/- % +/- %Doanh thu 85.011 83.558 89.621 -1.452 -1,70 6.063 7,26LN trước thuế 3.142 4.745 3.828 1.602 51,00 -916 -19,32LN sau thuế 3.142 4.110 3.493 968 30,78 -617 -15,02ROS 6,91% 4,92% 3,90% -1,99% -1,02%BEP 8,71% 13,87% 11,02% 5,16% -2,85%ROA 6,91% 10,09% 9,19% 3,17% -0,89%ROE 15,31% 19,13% 15,75% 3,83% -3,38% Qua bảng tóm tắt một số chỉ tiêu tài chính của công ty trong ba năm trởlại đây, có thể thấy năm 2010 hiệu quả kinh doanh chưa cao. Lợi nhuận năm sauthấp hơn năm trước mặc dù tổng doanh thu có tăng. Năm 2010, doanh thu tăng7,26% so với năm 2009, nhưng lợi nhuận sau thuế lại giảm 15,02%; điều nàychứng tỏ chi phí công ty sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh quá lớn.Các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi năm 2009 tăng vượt bậc so với năm 2008,chứng tỏ công ty đã vượt qua thời gian khó khăn ban đầu khi tiến hành cổ phầnhóa. Tuy nhiên đến năm 2010, công ty không những không phát huy mà còngiảm sút đáng kể, nhất là tỷ suất về thu hồi vốn chủ sở hữu, vốn là chỉ tiêu đượccác nhà quản trị quan tâm nhất, lại giảm 3,38%. Trên đây chỉ là những nhận xét khái quát về tình hình tài chính của côngty. Để hiểu được rõ hơn thực trạng cũng như nguyên nhân, ta sẽ đi sâu vào phântích.2.2. Phân tích hoạt động tài chính của Công ty Cổ phần In Hàng không2.2.1. Phân tích báo cáo tài chính công ty Cổ phần In Hàng không a. Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán cho ta thấy rõ cơ cấu, tỷ trọng của các loại tài sản,nguồn vốn của doanh nghiệp. Đồng thời nó cũng cho thấy sự thay đổi trong cơcấu và tỷ trọng của tài sản và nguồn vốn qua các kỳ kế toán.Nguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 37
  38. 38. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Khoa Kinh tế và Quản lý So sánh 2009 - 2008 So sánh 2010-2009 Tài Sản 2008 2009 2010 +/- % +/- %A. TÀI SẢN NGẮN HẠN 27,445,178,963 27,261,791,859 29,767,107,834 -183,387,104 -0.67 2,505,315,975 9.19I. Tiền và các khoản tương 3,310,119,722 4,718,804,580 2,744,626,441 1,408,684,858 42.56 -1,974,178,139 -41.84đương tiềnIII. Các khoản phải thu 13,679,245,781 11,411,011,208 16,329,285,672 -2,268,234,573 -16.58 4,918,274,464 43.10VI. Hàng tồn kho 9,768,428,665 10,865,805,072 10,375,739,320 1,097,376,407 11.23 -490,065,752 -4.51V. Tài sản ngắn hạn khác 687,384,795 266,170,999 317,456,401 -421,213,796 -61.28 51,285,402 19.27B. TÀI SẢN DÀI HẠN 14,847,922,019 11,954,855,304 7,023,708,228 -2,893,066,715 -19.48 -4,931,147,076 -41.25II. Tài sản cố định 14,378,142,087 11,613,357,134 6,850,988,353 -2,764,784,953 -19.23 -4,762,368,781 -41.01V. Tài sản dài hạn khác 469,779,932 341,498,170 172,719,875 -128,281,762 -27.31 -168,778,295 -49.42TỔNG TÀI SẢN 42,293,100,982 39,216,647,163 36,790,816,062 -3,076,453,819 -7.27 -2,425,831,101 -6.19 So sánh 2009 - 2008 So sánh 2010-2009 Nguồn vốn 2008 2009 2010 +/- % +/- %A. NỢ PHẢI TRẢ 21,370,324,705 16,169,096,074 13,859,745,002 -5,201,228,631 -24.33 -2,309,351,072 -14.28I. Nợ ngắn hạn 20,812,305,568 15,833,303,516 13,788,882,145 -4,979,002,052 -23.92 -2,044,421,371 -12.91II. Nợ dài hạn 558,019,137 335,792,558 70,862,857 -222,226,579 -39.82 -264,929,701 -78.90B. VỐN CHỦ SỞ HỮU 20,922,776,277 22,047,551,089 22,931,071,060 1,124,774,812 5.38 883,519,971 4.01TỔNG NGUỒN VỐN 42,293,100,982 39,216,647,163 36,790,816,062 -3,076,453,819 -7.27 -2,425,831,101 -6.19 [Nguồn: Phòng Tài chính – kế toán, tháng 04/2011] Bảng 2.4: Trích bảng cân đối kế toán ba năm công ty Cổ phần In Hàng khôngNguyễn Thị Thục Quyên – Lớp TCKT 1A – K51 38

×