Qlnn ve tien te

439 views

Published on

1 Comment
0 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
439
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
2
Actions
Shares
0
Downloads
5
Comments
1
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Qlnn ve tien te

  1. 1. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TIỀN TỆ1. Sự cần thiết quản lý nhà nước về tài chính tiền tệTrong nền kinh tế thị trường nói chung và nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nói riêng, tài chính tiền tệ là điều kiện tiền đề của mọi hoạt độngtrong đời sống kinh tế xã hội. Nó trực tiếp chi phối đến các hoạt động khác từ sản xuất đời sống đếnquản lý nhà nước. Để tài chính tiền tệ tác động đến các hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội theomục tiêu và bản chất của chế độ, đòi hỏi nhà nước, trong thực hiện chức năng tổ chức và quản lý mọihoạt động của xã hội cần chủ động tác động vào tài chính cũng như sử dụng tài chính là công cụ đểquản lý xã hội. Đó là đòi hỏi khách quan của bất kỳ chế độ xã hội nào, đặc biệt là trong điều kiện đổimới ở nước ta. Vai trò quản lý nhà nước đối với tài chính tiền tệ là một tất yếu khách quan được thểhiện qua hai khía cạnh:a) Thứ nhất, xuất phát từ vai trò của tài chính tiền tệ đối với mọi hoạt động trong đời sống kinh tếxã hộiTài chính tiền tệ có vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Nó tác động và chi phối mọi mặt hoạtđộng trong xã hội, quan hệ tài chính tiền tệ, thuộc phạm trù quan hệ sản xuất, thể hiện bản chất củaNhà nước, của chế độ và phục vụ nhà nước. Do vây, đòi hỏi nhà nước phải trực tiếp can thiệp, chi phốicác quan hệ tài chính tiền tệ nhằm làm cho các quan hệ tài chính trong nền kinh tế: một mặt được thựchiện theo yêu cầu của quy luật giá trị, quy luật lưu thông tiền tệ và tín dụng ngân hàng… phù hợp vớiđiều kiện của đất nước; mặt khác phục vụ cho việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Nhà nước trongtừng thời kỳ. Đó là yêu cầu mang tính khách quan xuất phát từ chức năng nhiệm vụ quản lý của Nhànước.b) Thứ hai, xuất phát từ vai trò tài chính của Nhà nướcĐiều này được thể hiện: Nhà nước sử dụng tài chính tiền tệ là công cụ quan trọng trong quản lý xã hộinói chung và quản lý nền kinh tế nói riêng.Nhà nước là người tổ chức và quản lý mọi hoạt động của xã hội, của nền kinh tế quốc dân. Một trongnhững công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng nhất của Nhà nước là tài chính tiền tệ. Vai trò to lớncủa Nhà nước về tài chính tiền tệ được thể hiện qua các điếm sau:- Một là: Nhà nước định ra các luật, pháp lệnh, nghị định, quyết định về tài chính, chính sách về ngânsách, về thuế, về tín dụng, tiền tệ…. Các luật, chính sách này không những bắt buộc các doanh nghiệpvà dân cư phải tuân thủ, phải theo, mà còn tạo điều kiện, môi trường để các doanh nghiệp hoạt động.- Hai là: Nhà nước bỏ vốn đầu tư vào các doanh nghiệp quan trọng của mình, các khu vực công cộng,các kết cấu hạ tầng. Những nguồn tài chính to lớn đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau, không chỉ tạomôi trường, hành lang cho các doanh nghiệp hoạt động, mà còn tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đạicho các ngành mới, khu vực mới, có tầm quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân.- Ba là: Nhà nước cũng là nguồn cung ứng các nguồn vốn cho đất nước, Nhà nước là người quyết địnhphát hành tiền tệ, kiểm soát các hoạt động tín dụng và phân phối tín dụng. Trong điều kiện kinh tế thịtrường, hoạt động của các doanh nghiệp không thể thiếu nguồn vốn tín dụng, không thể không chịu tácđộng của lưu thông tiền tệ, của sự cung ứng tài chính của Nhà nước. Ngoài ra, Nhà nước còn trợ giá, bùlỗ, quy định giá…- Bốn là: Nhà nước chi tiêu bằng vốn ngân sách sẽ trở thành là người mua hàng lớn nhất của đất nước.Những khoản chi của ngân sách nhà nước tạo thành một sức mạnh bằng tiền to lớn và đòi hỏi nhữnghàng hoá, dịch vụ đa dạng, phức tạp tạo ra thị trường to lớn cho việc tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ của cácdoanh nghiệp. Trong bất cứ hình thái xã hội nào, sức mua do chi tiêu ngân sách nhà nước tạo ra là sứcmua lớn nhất trên thị trường và đó là lực lượng tiêu thụ lớn nhất.- Năm là: Nhà nước với tư cách là người có quyền lực, thực hiện sự kiểm tra, kiểm soát tài chính đốivới các hoạt động kinh tế, xã hội, trong đó có hoạt động tài chính của các doanh nghiệp. Những việckinh doanh phạm pháp, bê bối về tài chính của các doanh nghiệp được nhà nước xử lý theo pháp luật,bảo đảm cho các doanh nghiệp hoạt động theo yêu cầu của nền kinh tế và đời sống của nhân dân.Các vấn đề tài chính trên tầm vĩ mô đó chỉ có Nhà nước mới có khả năng chi phối, tác động đến mọihoạt động trong đời sống kinh tế xã hội. Qua đó, Nhà nước vừa bắt buộc vừa tạo điều kiện cho các hoạtđộng trong nền kinh tế phát triển.Từ những vấn đề trên có thể khẳng định rằng, trong bất kỳ xã hội nào, đặc biệt là nền kinh tế thị trườngcó sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN ở nước ta: Nhà nước quản lý tài chính tiền tệ là tấtyếu khách quan, đồng thời cũng là đòi hỏi khách quan xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta.2. Mục tiêu và nguyên tắc quản lý Nhà nước về tài chính tiền tệ 1
  2. 2. a) Quản lý Nhà nước đối với tài chính tiền tệ là quá trình tác động của NN vào các quan hệ tài chínhtiền tệ nhằm hướng nó tác động vào các hoạt động trong đời sống xã hội theo hướng phục vụ mục tiêu,chiến lược, kế hoạch phát triển đất nước nói chung và kinh tế xã hội nói riêng mà NN đặt ra trong từngthời kỳ. Quản lý NN về tài chính tiền tệ đồng thời là quá trình sử dụng tài chính, tiền tệ như là công cụđể quản lý và điều hành nền kinh tế, hướng các quan hệ kinh tế, các hoạt động kinh tế thực hiện, pháttriển theo ý đồ của Nhà nướcTrên bình diện tổng thể, tài chính phải bảo đảm đạt được các mục tiêu bao quát của kinh tế thị trườnglà: Bảo đảm sự phát triển ổn định về kinh tế xã hội, làm cho nền kinh tế phát huy được hiệu quả cao vàbảo đảm sự phân phối công bằng trong các khâu, quá trình và lĩnh vực theo đường lối của Đảng và Nhànướcb) Thực hiện đường lối đổi mới mà Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, từ bản chất của Nhà nước ta (nhànước của dân, do dân và vì dân), mục tiêu nhiệm vụ chủ yếu của quản lý NN về tài chính tiền tệ đượcthể hiện qua các nội dung chủ yếu sau:- Một là: xây dựng, hình thành một hệ thống cơ chế mới, quản lý vĩ mô nền kinh tế, kích thích, thúcđẩy mọi tổ chức, cá nhân đầu tư và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, thúc đẩy thực hiện các mục tiêuchiến lược phát triển kinh tế xã hội.- Hai là: Hình thành và bảo đảm các cân đối chủ yếu, tỷ lệ phát triển nền kinh tế, phân phối hợp lý quanhệ tích luỹ, tiêu dùng, điều chỉnh cơ cấu đầu tư, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý cho sự phát triển trongtừng giai đoạn và sự phát triển lâu dài.- Ba là: Thúc đẩy sự phát triển quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nâng cao vai trò sở hữu về tư liệu sảnxuất chủ yếu: doanh nghiệp nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.- Bốn là: Định hướng hoạt động và phát triển các thành phần kinh tế khác và nhân dân bằng chính sáchtài chính cởi mở, khuyến khích, công bằng về nghĩa vụ và quyền lợi- Năm là: Khai thác triệt để mọi nguồn vốn, kỹ thuật lao động, thị trường cho phát triển kinh tế- xã hội.- Sáu là: Mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế với nước ngoài, hoà nhập kinh tế với khu vực và thế giới, vìmục đích lợi ích cho đất nước- Bảy là: Khai thác, nuôi dưỡng, tạo lập và phát triển các nguồn thu của ngân sách nhà nước, thực hiệnchính sách động viên thu nhập quốc dân vào ngân sách nhà nước; quản lý chặt chẽ các nguồn chi ngânsách nhà nước, bảo đảm nguồn vốn cho phát triển kinh tế và thực hiện các chức năng khác của nhànước.- Tám là: Bảo đảm thực hiện các chính sách xã hội của nhà nước- Chín là: Bảo đảm ổn định thị trường, giá cả, ổn định giá trị đồng tiền, làm cơ sở cho ổn định và pháttriển kinh tế- Mười là: Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, bảo đảm chính sách tài chính- tiền tệ nhất quán, giữ vữngtrật tự kỷ cương về kinh tế, tài chính, xã hộic) Với mục tiêu nhiệm vụ trên, quản lý NN về tài chính tiền tệ ở nước ta trong thời kỳ đổi mới hiện nayđược thực hiện theo các nguyên tắc sau:- Nhà nước quản lý tài chính và lưu thông tiền tệ thống nhất trong cả nước trên cơ sở phân công phâncấp hợp lý cho các ngành các địa phương. NN quy định thống nhất về chế độ tài chính và lưu thôngtiền tệ tín dụng ngân hàng; thống nhất về công tác kế hoạch hoá ngân sách nhà nước. Việc phân côngphân cấp cho các ngành, các địa phương là việc phân công nhiệm vụ thực hiện kế hoạch thu chi ngânsách thống nhất của Nhà nước. Phát huy triệt kể vai trò tự chủ về tài chính của cơ sở. Chính sách tàichính thống nhất lấy phục vụ sản xuất làm cơ sở.- Nhà nước quản lý và điều hành ngân sách nhà nước và lưu thông tiền tệ theo nguyên tắc tập trungthống nhất. Bảo đảm quyền quyết định tập trung vào Quốc hội và sự điều hành của Chính phủ. Đề caotrách nhiệm của các cấp trên cơ sở lợi ích quốc gia.- Phấn đấu cân bằng ngân sách tích cực, không in tiền để bù vào bội chi ngân sách, chi thường xuyêncủa ngân sách nhà nước không được vượt quá tổng số thu từ thuế và các khoản mang tính chất thuế.Bội thu (nếu có) được đầu tư để phát triển.- Tài chính nhà nước giữ vai trò tự chủ đạo trong hệ thống tài chính- Thực hiện nguyên tắc tự chủ về tài chính đối với các doanh nghiệp. Xoá bỏ mọi sự bù lỗ từ ngân sáchnhà nước.Với những điều kiện trên, quản lý nhà nước về tài chính tiền tệ nhằm bảo đảm cân đối ngân sách vữngchắc, ổn định tiền tệ, kìm hãm lạm phát, tạo điều kiện tài chính bền vững cho quá trình hội nhập vàokhu vực. 2
  3. 3. 3. Yêu cầu quản lý Nhà nước về tài chính tiền tệa) Phù hợp với tiến trình đổi mới của đất nước, xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta, quản lý nhànước về tài chính tiền tệ cần đáp ứng một số yêu cầu chủ yếu sau đây:- Thứ nhất: giải quyết hài hoà quan hệ lợi ích: lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích người laođộng, theo hướng: với sự quan tâm đến lợi ích vật chất đạt được, mọi tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân…tự giác thực hiện cơ chế quản lý kinh tế nói chung và cơ chế tài chính nói riêng của Nhà nước- Thứ hai: giải quyết hài hoà quan hệ giữa trước mắt và lâu dài theo hướng: có sự chuẩn bị lâu dài vớixu thế vận động của nền văn minh nhân loại, của khu vực và quá trình đổi mới của đất nước trên cơ sởkhông ngừng cải thiện đời sống trước mắt của nhân dân, không lãng phí- Thứ ba: giải quyết hài hoá quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng với phương châm “tiêu dùng trong cáilàm ra”. Ở đây đòi hỏi tiêu dùng phải trên cơ sở phát triển sản xuất. Đời sống chỉ có thể được nâng caotrên cơ sở nâng cao tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.b) Với tiến trình đổi mới của nền kinh tế hiện nay, trong quản lý nhà nước đối với tài chính tiền tệ, cầngiải quyết một số vấn đề chủ yếu:- Tài chính phải tham gia giải quyết tốt mối quan hệ giữa sản xuất và thị trường với phương châm: tàichính tiền tệ tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải lấy thị trường làm cơ sở. Chỉ đầutư vào những lĩnh vực, ngành, sản phẩm có thị trường nhằm hạn chế rủi ro.- Tài chính tiền tệ góp phần giải quyết việc rút ngắn dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn,miền xuôi với miền ngược, cũng như hạn chế những khuyết tật mà nền kinh tế thị trường tạo nên.- Thúc đẩy quá trình đô thị hoá đất nước và thị trường hoá nền kinh tế trên cơ sở dành tỷ lệ tài chínhthoả đáng cho đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội.- Bảo đảm đầy đủ nguồn tài chính để giải quyết những nhiệm vụ trọng yếu của Nhà nước trong từngthời kỳ- Bảo đảm cân đối tài chính tích cực, hàng năm có phần bổ sung dự trữ cũng như thanh toán dần nợđến hạn.Giải quyết tốt những vấn đề trên là đòi hỏi và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quản lý nhà nướcvề tài chính tiền tệ cũng như chính sách tài chính tiền tệ quốc gia.III. NHỮNG NỘI DUNG CHỦ YẾU QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI CHÍNH TIỀN TỆ1. Quản lý và điều hành ngân sách nhà nướcNSNN là nguồn tài chính tập trung quan trọng nhất trong hệ thống tài chính quốc gia. NSNN là tiềmlực tài chính, là sức mạnh về mặt tài chính của nhà nước. Quản lý và điều hành NSNN có tác dụng chiphối trực tiếp đến các hoạt động tài chính khác trong nền kinh tế quốc dân.NSNN được quản lý và điều hành theo Luật NSNN được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua ngày30/3/1996. Theo đó, những nội dung chủ yếu về quản lý và điều hành ngân sách nhà nước bao gồm:- Thứ nhất: NSNN được quản lý và điều hành theo chế độ kế hoạch hoá thống nhất từ trung ương đếncơ sở. Mọi sự thu chi của NSNN đều được thể hiện qua kế hoạch thống nhất từ trung ương đến cơ sở.Kế hoạch ngân sách do Quốc hội thông qua hàng năm.- Thứ hai: Thực hiện phân cấp quản lý NSNN phù hợp với sự phân cấp hành chính: cấp trung ương;cấp tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương); cấp huyện (quận); cấp xã (phường).Tuy nhiên, việc phân công, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là phân công phân cấp thực hiệnnhiệm vụ kế hoạch thu chi ngân sách cho các cấp trên cơ sở chế độ thống nhất, kế hoạch thống nhất.Cần thấy rõ phân công phân cấp, không phải là phân chia ngân sách.- Thứ ba: Quản lý thuế, nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước+ Một là: Tiếp tục cải cách và hoàn thiện các sắc luật về thuế theo các tiêu chuẩn cơ bản và hướngchính sau:- Hệ thống thuế phải bao quát hết các nguồn thu và tăng thu- Xác định và lựa chọn đúng mục tiêu của thuế: Mục tiêu của thuế chủ yếu chủ yếu là kích thích, điềutiết kinh tế và tăng thu cho ngân sách nhà nước; không nên đặt ra cho thuế phải thực hiện một lúc nhiềumục tiêu liên quan đến chính sách xã hội.- Thực hiện chính sách thuế bình đẳng đối với các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư- Đơn giản hoá chính sách thuế: đơn giản cả về mặt thuế suất, thủ tục; dễ hiểu, dễ thực hiện, dễ kiểmtra, dễ được đông đảo người nộp thuế chấp nhận.- Chính sách thuế phải có tác dụng tích cực trong phân phối thu nhập, điều tiết thu nhập của các doanhnghiệp và cá nhân một cách hợp lý, tạo sự công bằng xã hội. 3
  4. 4. - Chính sách thuế phải đảm bảo ổn định trong một thời gian dài, tạo khả năng có thể dự đoán được;tránh tình trạng thay đổi quá nhiều, gây trở ngại cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.- Chính sách thuế phải tạo ra điều kiện cho khả năng có thể kiểm soát được; kiểm soát của người nộpthuế, người thu thuế và cơ quan quản lý thuế.- Thu hẹp phạm vi miễn giảm thuế, tập trung vào các yêu cầu cơ bản của chính sách kinh tế, nhằm thựchiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội- Nâng cao hiệu lực pháp lý và hiệu quả của chính sách thuế. Áp dụng nghiêm minh hình thức thưởngphạt trong thuế, loại bỏ các khoản thuế không có hiệu quả do chi phí để thu thuế lớn hơn cả số tiền thuếthu được+ Hai là: Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, thường xuyên trong mọi tổ chức và dân cư về các luật thuếvà các văn bản dưới luật để họ hiểu rõ, nhận thấy trách nhiệm, nghĩa vụ của người nộp thuế và tổ chứcthực hiện tốt. Tạo điều kiện cho nhân dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra về thuế+ Ba là: Tổ chức chỉ đạo công tác kê khai, đăng ký, xét duyệt đăng ký sản xuất kinh doanh làm cơ sở,căn cứ pháp lý để thu thuế+ Bốn là: Lập sổ thuế cho từng doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh tại xã phường, thị trấn. Sổ thuếđược lập và sử dụng trong nhiều năm; hàng năm nếu có thay đổi về chính sách thuế, căn cứ tính thuế,thì các doanh nghiệp và hộ sản xuất, kinh doanh phải kê khai để điều chỉnh lại.+ Năm là: Chỉ đạo tổ chức thu thuế và nộp thuếChính phủ tổ chức thực hiện các luật thuế. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ có liên quan đến các luật thuế,phối hợp với Bộ tài chính ra các văn bản hướng dẫn thi hành hoặc trình Chính phủ ban hành các vănbản cần thiết thuộc thẩm quyền của Chính phủ để chỉ đạo thi hành các luật thuế. Chủ tịch uỷ ban nhândân cấp tỉnh tổ chức chỉ đạo công tác thu thuế ở địa phương. Chủ tịch UBND cấp huyện, thị xã, thànhphố thuộc tỉnh có nhiệm vụ chỉ đạo công tác thu thuế ở địa phương, duyệt sổ thuế các xã phường, đềnghị cấp trên những vấn đề cần thiết. Chủ tịch UBND cấp xã, phường, thị trấn có trách nhiệm trực tiếptổ chức công tác thu thuế ở xã, phường, thị trấn.Hệ thống cơ quan thuế là cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát, tính thuế,thông báo thuế, thu thuế và thực hiện các xử phạt vi phạm luật thuế của những tổ chức và cá nhân nộpthuế, giúp UBND các cấp về công tác có liên quan đến trách nhiệm của UBND trong việc thực hiệnluật thuế, phối hợp với cơ quan kho bạc nhà nước trong việc thu nộp thuế vào ngân sách nhà nước.+ Sáu là: Tổ chức kiểm tra thực hiện các luật thuếHệ thống thanh tra nhà nước, thanh tra tài chính, thanh tra thuế có quyền và trách nhiệm tổ chức côngtác thanh tra về thuế.Các cấp chính quyền có trách nhiệm và quyền kiểm tra việc thi hành luật thuế trên cả hai mặt: kiểm tranhững người nộp thuế thi hành nghĩa vụ nộp thuế và kiểm tra tổ chức thu thuế và cán bộ thuế thi hànhluật thuế+ Bảy là: Củng cố và tăng cường lực lượng cán bộ thuế, tổ chức đào tạo và đào tạo lại cán bộ thuế, sắpxếp lại đội ngũ cán bộ thuế để nâng cao năng lực và phẩm chất của đội ngũ này.- Thứ tư: Thực hiện quản lý tốt các nguồn chi chủ yếu của NSNN+ Một là: đối với các nguồn chi thường xuyên thực hiện chi hợp lý và hiệu quả trên cơ sở tiết kiệmchống lãng phí. Chi thường xuyên được thực hiện theo chế độ thống nhất của nhà nước, trên cơ sở kếhoạch ngân sách nhà nước hàng năm+ Hai là: đối với các khoản chi đầu tư phát triển được thực hiện theo hướng:Dành tỉ lệ thoả đáng cho xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội.Tập trung vốn cho các công trình trọng điểm, tránh dàn trảiBảo đảm kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạoNâng cao hiệu quả kinh tế quốc doanh+ Ba là: thực hiện kiểm tra, kiểm soát thường xuyên đối với chi ngân sách. Trong đó thực hiện chế độthanh tra, kiểm tra tài chính định kỳ, chế độ kiểm toán thường xuyên nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xửlý các hiện tượng tham nhũng, làm trái với quy định của Nhà nước. Đồng thời qua đó chấn chỉnh chếđộ chi ngân sách của Nhà nước cho phù hợp với tiến trình đổi mới của đất nước và công cuộc cải cáchnền hành chính quốc gia.2. Quản lý Nhà nước đối với tài chính doanh nghiệpDoanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở, là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Tài chính doanh nghiệp là cơsở của hệ thống tài chính, nó sáng tạo ra cơ sở vật chất và làm tăng thêm nguồn tài chính quốc gia. 4
  5. 5. Quản lý Nhà nước đốI với tài chính doanh nghiệp: Môtỵ mặt đảm bảo quyền tự chủ tài chính của cácdoanh nghiệp, kích thích doanh nghiệp khai thác và sử dụng hợp lý mọI nguồn tài chính để phát triểnsản xuất, cạnh tranh trên thị trường một cách có hiệu quả nhất. Mặt khác, giám sáct, kiểm tra, tạo điềukiện để doanh nghiệp thực hiện nghiêm chỉnh chế độ tài chính Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đốivới Nhà nước.a) Quản lý Nhà nước đối với tài chính doanh nghiệp nói chung được tập chung vào một số nội dungchủ yếu sau:- Một là, Nhà nước chủ chương khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thanh phần kinh tế huy độngmọi nguồn lực tài chính đầu tư vào phát triển kinh tế đất nước.- Hai là, Nhà nước thực hiện quyền quản lý tài nguyên, tài sản công và giao cho các doanh nghiệp sửdụng trên nguyên tắc phải trả tiền, phải hoàn trả trong thời gian quy định, hoặc nộp tiền sử dụng vốn,thuế sử dụng tài nguyên…- Ba là, Nhà nước quản lý tài chính, bằng nguồn vốn vào các ngành kinh tế quan trọng, mũi nhọn, bằngđầu tư phát triển cơ sở hạ tâng, tạo điều kiện thuận lợI cho sự phát triển kinh tế.- Bốn là, Nhà nước tạo môi trường tài chính thuận lợI, thực hiện các chính sách tài chính cởi mở đểkhuyến khích các doanh nghiệp phát triển, có doanh lợi thoả đáng và bảo vệ lợi ích chính đáng củadoanh nghiệp.- Năm là, Nhà nước có chính sách hỗ trợ tài chính trong việc khuyến khích sản xuất hàng hoá xuấtkhẩu, đổi mới công nghệ, kỹ thuật, sử dụng nhiều lao động, có chính sách hài hoà và tỷ giá phù hợp,chính sách tín dụnh thông thoáng để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có điều kiện hoạt động hiệu quả.- Sáu là, Nhà nước quản lý giá cả hành hoá, nhằn ổn định thị trường, giá cả.- Bảy là, Nhà nước buộc các doanh nghiệp phải chấp hành chế độ kế toán, báo cáo tài chính của Nhànước.- Tám là, Nhà nước thực hiện chế độ kiểm tra, kiểm soát, kiểm toán đối với các doanh nghiệp.- Chín là, Nhà nước quyết định công bố phấ sản doanh nghiệp, thực hiện thanh lý tài sản theo luật phásản của Nhà nước.b) Với tư cách là chủ sở hữu Nhà nước về tài chính, đối với doanh nghiệp Nhà nước được thực hiệntheo hướng dẫn cụ thể sau:- Quản lý Nhà nước về tài chính theo cơ chế phân phối thu nhập: việc nộp các loại thuế và hình thànhcác quỹ theo quy định.- Quản lý trong việc tạo vốn, cân đối vốn, bảo toàn vốn. Thực hiện xoá bỏ bao cấp về vốn.- Thông qua quản lý tài chính mà sắp xếp lại doanh nghiệp, có kế hoạch giải quyết về tài chính: trợ cấpvốn, trợ giá, miễn giảm nộp ngân sách trong một thời gian hoặc thực hiện sát nhập, phân chia, cổ phầnhoá, bán, cho thuê, giải thể…- Thực hiện chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước.- Nhà nước tài trợ kinh phí cho việc đào tạo lại, cho người đi tìm việc làm, giảm chi phí quản lý tronggiá thành và phí lưu thông.- Nhà nước giải quyết những tồn tại cũ về tài chính trong các doanh nghiệp nhà nước: lỗ chưa đượccấp, tổn thất cũ chưa được bù, công nợ dây dưa cũ chưa được giảI quyết…- Quản lý và điều hành tiền lương, tiền thưởng gắn vớI kết quả cuốI cùng, vớI năng suất, chất lượng,hiệu quả kinh doanh.- Các doanh nghiệp được quyền tiêu thụ hàng hoá trực tiếp, được quyền định giá bán, trừ một số sảnphẩm độc quyền do Nhà nước quyết định giá. Trong một số trường hợp, tuỳ theo tính chất quan trọngcủa sản phẩm và lợI ích của chính sách nhà nước, Nhà nước có chính sách trợ giá.- Nhà nước thành lập Tổng Cục quản lý vốn và tài sản doanh nghiệp Nhà nước để quản lý vốn và tàisản thuộc sở hữu Nhà nước, xoá bỏ đầu mốI quản lý trung gian.- Xây dựng quy chế gắn vớI trách nhiệm vật chất trong việc bảo tồn và phát huy vốn trong doanhnghiệp đốI vớI ngườI được Nhà nước giao quyền sử dụng vốn, tài sản Nhà nước.Những điều trên nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp Nhà nước nâng cao được tính độc lập, tự chủ,năng động huy động triệt để mọI tiềm năng tài chính trong cạnh tranh một cách có hiệu quả.3. Quản lý Nhà nước về lưu thông tiền tệ và tín dụng.a) Mục tiêuLưu thông tiền tệ trên thị trường được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng. Mục tiêu quản lý Nhànước đốI vớI lưu thông tiền tệ là ổn định tiền tệ, nâng cao sức mua đồng tiền, tăng vòng chu chuyểnvốn trong nền kinh tế, tiến tớI một đồng tiền có khả năng chuyển đổi. Mặt khác kích thích hoạt động tín 5
  6. 6. dụng, ngân hàng phát triển lành mạnh, phục vụ tốt mục tiêu phát triển kinh tế xã hộI mà Nhà nước đềra.b) VớI mục tiêu đó, quản lý Nhà nước về lưu thông tiền tệ được thực hiện theo các nộI dung chủ yếusau đây:- Thứ nhất, quản lý Nhà nước đốI vớI tiền tệ+ Áp dụng chính sách tiền tệ tích cực vừa chống lạm phát, vừa đảm bảo cung ứng tiền tệ cho yêu cầuphát triển kinh tế - xã hội ổn định.+ Nhà nước độc quyền phát hành tiền và điều hoà lưu thông tiền tệ.Ngân hàng Nhà nước là cơ quan duy nhất quản lý thống nhất việc phát hành tiền giấyêu và tiền kimloạI ra lưu thông.Nhà nước nghiêm cấm các hành vi : làm tiền giả, tàng trữ và lưu hành tiền giả, phá hoạI tiền, dùng tiềnvào mục đích khác, làm biến đổI màu sắc, mệnh giá tiền nhằm mục đích lừa đảo; từ chốI không nhậntiền do Ngân hàng Nhà nước phát hành.+ Ngân hàng Nhà nước tổ chức quy định việc mở rộng hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt.Hiện nay, ngân hàng Nhà nước cho phát hành ngân phiếu rộng rãi; khuyến khích mở rộng sử dụng séctiền mặt và séc chuyển khoản, và các hình thức thanh toán khác.- Nhà nước thống nhất quản lý ngoạI tệ, quản lý vàng.Ngân hàng Nhà nước thực hiện việc kinh doanh ngoạI tệ trên thị trường, theo nguyên tắc hạch toánkinh tế, chủ động độc lập và theo dõi cán cân thành toán quốc tế, nhằm bảo đảm thực hiện nhiệm vụquản lý Nhà nước về ngoạI hối.Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tỷ giá hốI đoái phù hợp và điều hành tỷ giá thích ứng vớI sựbiến động của thị trường .Ngân hàng Nhà nước thực hiện quản lý Nhà nước về vàng, quản lý xuất nhập khẩu vàng, lập quỹ dự trữvàng, tổ chức mua bán vàng nhằm mục đích ổn định giá vả vàng và ổn định tiền tệ; cấp và thu hồI giấyphép các tổ chức kinh doanh vàng.Việc xuất nhập khẩu vàng do ngân hàng Nhà nước thực hiện. Các tổ chức, cá nhân muốn xuất nhậpkhẩu vàng phảI có giấy phép của ngân hàng Nhà nước. NgườI Việt Nam và ngườI nước ngoài khi xuấtnhập cảnh có mang theo tư trang vàng phảI thực hiện đúng quy định điều lệ quản lý ngoạI hối.- Thứ hai, quản lý Nhà nước về tín dụng+ Nhà nước quản lý tất cả các hoạt động tín dụng trong nền kinh tế của các thành phần kinh tế. Nhànước quyết định thành lập hay giảI thể các ngân hàng quốc doanh; cấp giấy phép, thu hồI giấy phépkinh doanh tín dụng của tất cả các ngân hàng và tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh.+ Bằng luật ngân hàng và các văn bản pháp quy quy định và kiểm tra việc chấp hành mức vốn phápđịnh, duy trì mức dự trữ tốI thiểu bắt buộc, các nguyên tắc tín dụng, tôn trọng các tỷ lệ an toàn, nguyêntắc chống rủI ro, mức huy động vốn tốI đa so vớI vốn tự có.+ Nhà nước khống chế tổng mức tín dụng phù hợp vớI yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ, và phânphốI tổng hạn mức tín dụng có kế hoạch, có căn cứ khoa học cho sự phát triển nền kinh tế quốc dân;thực hiện chính sách tiền tệ.+ Nhà nước định hướng hoạt động tín dụng theo mục đích chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.+ Nhà nước quản lý chặt chẽ về tín dụng Nhà nước trong việc phát hành công trái, trái phiếu, tín phiếu,vay trả nợ nước ngoài.+ Nhà nước quản lý tín dụng vì mục đích thực hiện chính sách kinh tế, chính sách tiền tệ quốc gia, vìđảm bảo sự hoạt động lành mạnh của các tổ chức tín dụng,đảm bảo sự ổn định và phát triển của nềnkinh tế.- Thứ ba, quản lý Nhà nước đốI vớI lãi suất.+ Nhà nước coi lãi suất như một công cụ quản lý, điều hành vĩ mô của Nhà nước, Nhà nước thực hiệnchính sách lãi suất thích hợp để thu hút vốn và phân phốI vốn hợp lý cho yêu cầu phát triển kinh tế;điều tiết hoạt động kinh tế; điều hoà cung cầu vốn tiền tệ; điều chỉnh và kiểm soát khốI lượng lưuthông tiền tệ, thông qua lãi suất để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt hoặc nớI lỏng.+ Nhà nước quy định mức lãi suất cơ bản để quản lý, làm cơ sở cho các ngân hàng kinh doanh vậndụng, vừa để ổn định lãi suất, chống tình trạng cho vay nặng lãi, vừa chống hiện tượng chèn ép lãi suất,tiến tớI thực hiện tự do hoá lãi suất theo cơ chế thị trường.+ Nhà nước quy định mức lãi suất chiết khấu và tái cấp vốn đốI vớI các giấy tờ có giá, nhằm khuyếnkhích hay hạn chế cho vay vốn vớI các ngân hàng kinh doanh, vì mục đích thực hiện chính sách tiền tệ. 6
  7. 7. + Nhà nước xoá bỏ bao cấp trong chính sách lãi suất, công bằng trong lãi suất đốI vớI các thành phầnkinh tế, từng bước xoá bỏ chính sách xã hội trong lãi suất.+ Nhà nước áp dụng chính sách lãi suất tài trợ đốI vớI các dự án khuyến khích như: xóa đói giảmnghèo, phủ xanh đất trống đồI trọc… bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước. Nhà nước cũng áp dụngchính sách lãi suất thích hợp để huy động qua công trái, trái phiếu, tín phiếu kho bạc, trong quá trìnhthực hiện tín dụng Nhà nước.+ Nhà nước còn quy định tỷ lệ chênh lệch lãi suất bình quân tiền gửI cho vay để khống chế lợI ích đốIvớI các tổ chức tín dụng, thúc đẩy hạ thấp chi phí trong hoạt động ngân hàng, tăng nhanh vòng quay tíndụng và chống tổn thất trong tín dụng.4. Quản lý Nhà nước đốI vớI thị trường tài chính.Sự giao dịch giữa cung và cầu về vốn trên thị trường hình thành thị trường tài chính. Ban đầu sự hìnhthành thị trường này xảy ra dướI hình thức vay và cho vay. Đây là hành vi mua bán quyền sử dụng vốn,không mua bán quyền sở hữu vốn. Khi các công ty cổ phần ra đờI xuất hiện việc mua bán cổ phiếu.Điều đó làm cho thị trường tài chính phát triển ngày càng phong phú.Thị trường tài chính là hoạt động giao dịch về vốn tiền tệ giữa ngườI có vốn và ngườI cần vốn dướIhình thức vay, trả, chuyển nhượng các loạI vốn và giấy tờ có giá nhằm mục đích kiếm lời.a) Có nhiều cách diễn đạt đốI vớI thị trường này. Theo quan niệm quản lý Nhà nước về thị trường tàichính, ngườI ta có thể diễn đạt cơ cấu thị trường tài chính gồm:- Thị trường tiền tệ: là thị trường vốn có thờI gian sử dụng từ 1 năm trở xuống.- Thị trường vốn (hay còn gọI là thị trường đầu tư): là thị trường vốn có thờI gian sử dụng lớn hơn 1năm.- Thị trường chứng khoán: là thị trường mua bán, giao dịch chứng khoán như cổ phiếu và trái phiếu.Nó thuộc về thị trường vốn dài hạn.- Thị trường ngoạI hốI: là thị trường phản ánh quan hệ giữa tiền nộI địa vớI ngoạI tệ đặc biệt là USD,chủ yếu là vốn ngắn hạn.Nhà nước quản lý đốI vớI thị trường tài chính là thực hiện quản lý các thị trường trên. Trong nền kinhtế thị trường, Nhà nước quản lý thị trường tài chính một mặt tác động vào các yếu tố hình thành thịtrường để hướng nó phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước. Mặt khác thông qua thịtrường tài chính để Nhà nước dùng công cụ tài chính tiền tệ điều chỉnh, phục vụ các mục tiêu của Nhànước. Nó có ý nghĩa quyết định đốI vớI quản lý Nhà nước kinh tế nói chung và tài chính tiền tệ nóiriêng.b) Quản lý Nhà nước đốI vớI thị trường tài chính được thực hiện thông qua những nộI dung chủ yếusau:- Thứ nhất, nộI dung quản lý Nhà nước đốI vớI thị trường tiền tệ.+ Ban hành hệ thống pháp luật làm căn cứ và môi trường pháp lý cho thị trường tiền tệ hoạt động.+ Ban hành hệ thống chính sách để điều chỉnh thị trường tiền tệ. Trong đó quan trọng nhất là chínhsách lãi suất, chính sách về lượng tiền trong lưu thông…+ Chống lạm phát.+ Chính sách kích thích tiêu dùng ( kích cầu về vốn tiền tệ.)+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra những vi phạm trong hoạt động của thị trường tiền tệ.- Thứ hai, nộI dụng quản lý chủ yếu đốI vớI thị trường vốn ( thị trường đầu tư)+ Ban hành hệ thống các chính sách để quản lý, điều tiết hoạt động vay và cho vay. Trong đó quantrọng nhất là:• Chính sách về thờI hạn vay, mức vay.• Chính sách lãi suất ưu đãi.• Chính sách về thế chấp, tín chấp.+ Chính sách ưu đãi trong đầu tư. Ở đây chủ yếu là dùng chính sách lãi suất và thuế ưu đãi.+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra.- Thứ ba, nộI dung quản lý Nhà nước chủ yếu đốI vớI thị trường chứngkhoán.+ Ban hành hệ thống pháp luật cho thị trường chứng khoán hoạt động và quy định các điều kiện pháplý cho việc phát hành chứng khoán, tham gia kinh doanh chứng khoán, môi giớI chứng khoán…+ Tổ chức quản lý quá trình giao dịch, mua bán chứng khoán ở thị trường ( các trung tâm giao dịchchứng khoán). 7
  8. 8. + Lúc cần thiết thông qua ngân sách Nhà nước, điều chỉnh cung cầu, bảo đảm ổn định cho thị trườngchứng khoán.+ Thực hiện công tác giám sát, kiểm tra chặt chẽ hoạt động của thị trường chứng khoán, chống các hiệntượng tiêu cực không lành mạnh như gian lận, đầu cơ chứng khoán của các nhà môi giới…+ Tuyên truyền sâu rộng về thị trường chứng khoán cho mọI ngườI hiểu rõ về thị trường chứng khoánvà đào tạo, bồI dưỡng cán bộ hoạt động trên thị trường chứng khoán.- Thứ tư, nộI dung quản lý Nhà nước chủ yếu đốI vớI thị trường ngoạI hối.+ thực hiện chính sách tài chính đốI ngoạI tích cực, từng bước cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷgiá phù hợp, thực hiện quản lý tập trung ngoạI tệ và quản lý chặt chẽ các khoản chi ngoạI tệ của Nhànước.+ Thực hiện chính sách bảo lãnh nhằm khuyến khích sử dụng vốn vay có hiệu quả, đúng mục đích,thực hiện quản lý và điều hành nguồn vốn vay chặt chẽ, đặc biệt là vốn vay Nhà nước, chống lãng phí,tiêu cực trong lĩnh vực vay.+ Sử dụng tỷ giá hốI đoái là công cụ quan trọng đặc biệt để một mặt Nhà nước điều chỉnh quan hệ tiềntrong nước và tiền nước ngoài, đặc biệt là USD. Mặt khác, điều chỉnh quan hệ kinh tế đốI ngoạI, bảohộ sản xuất trong nước, khuyến khích hoặc hạn chế đốI vớI từng sản phẩm trong hoạt động xuất nhậpkhẩu.+ Phát huy triệt để tác dụng điều tiết kích thích của đòn bẩy tỷ giá, quản lý Nhà nước thực hiện một sốnộI dung chủ yếu sau:• Thực hiện chính sách tỷ giá hướng tớI ổn định tỷ giá thực trong tương quan vớI sức mua trong nướcvà nước ngoài; có chú ý tính toán số tiền tệ ( những đồng tiền mạnh) và điều chỉnh linh hoạt khéo léobằng các biện pháp tác động thị trường theo quan hệ cung cầu trên thị trườngtiền tệ• Sử dụng tỷ giá là công cụ để kích thích xuất khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước. Nguyên lý chung củavấn đề này là khi tăng giá tiền trong nước thì hạn chế về khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuấttrong nước. Ngược lạI khi phá giá đồng tiền trong nước sẽ hạn chế sức cạnh tranh hàng nhập khẩu vànâng cao sức cạnh tranh cho hàng trong nước. Tuy nhiên đây là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiềucông cụ tài chính, kinh tế khác. Tuỳ theo tình hình cụ thể của nền kinh tế để Nhà nước xử lý thích hợp.Việc phá giá đồng tiền trong nước không hợp lý, không có chuẩn bị thường dẫn đến những hậu quả khólường gây rốI loạn nền tài chính quốc gia.• Thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt đặc biệt trong buôn bán biên giớI ( đốI vớI các chợ vùng biên)theo hướng nâng cao sức cạnh tranh cho hàng nộI địa.• Nhà nước thông qua ngân hàng Nhà nước, quy định mức tỷ giá bán ra, mua vào ( đặc biệt là vớIUSD) làm chuẩn mực cho thị trường ngoạI tệ.• Thực hiện thanh tra, kiểm tra chặt chẽ các hoạt động chuyển đổI ngoạI tệ và vàng bạc đá quý, chốngcác hiện tượng buôn bán trái phép ngoạI tệ, vàng bạc đá quý.• Giữ gìn tính độc lập của tiền Việt Nam, chống đô la hoá và nâng cao vị trí của Việt Nam đồng trênthị trường quốc tế.Kinh nghiệm của các nước trên thế giớI cho thấy: để quản lý thị trường ngoạI hốI có hiệu quả cần thựchiện nguyên tắc “ mọI giao dịch thanh toán ở trong nước chỉ thực hiện bằng đồng Việt Nam”. Trườnghợp muốn được giao dịch bằng ngoạI tệ tạI cửa hàng miễn thuế phục vụ khách nước ngoài ở sân bay,hảI cảng… phảI được phép và có giấy phép của ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đây là điều cần thiếtbức xúc phảI xử lý ở nước ta trong điều kiện hiện nay.+ Bảo đảm nền kinh tế phát triển vớI thị trường tài chính ổn định luôn là mục tiêu quản lý Nhà nước vềkinh tế. Để làm được điều đó cần thiết phảI đảm bảo các yếu tố sau đây:• Đẩy mạnh sản xuất và lưu thông hàng hoá, tạo lập và xây dựng nền kinh tế phát triển ổn định.• Hệ thống pháp luật của Nhà nước đồng bộ, đầy đủ.• ĐộI ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ quản lý Nhà nước, đủ hiểu biết và thích nghi vớI điều kiện mớIvà cơ chế quản lý kinh tế mớI, đặc biệt là quản lý tài chính theo cơ chế thị trường.5. Quản lý Nhà nước đốI vớI hoạt động bảo hiểm.Bảo hiểm là hoạt động tài chính quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nó vừa là điều kiện để khắcphục hậu quả khi có rủI ro, vừa là công cụ quan trọng trong việc huy động, điều hành và sử dụng cácnguồn vốn trong nền kinh tế. Nhà nước đặc biệt coi trọng hoạt động này.a) Phân loại.- Bảo hiểm có hai loạI chính: 8
  9. 9. + Bảo hiểm bắt buộc, là hình thức được pháp luật Nhà nước quy định bắt buộc phảI bảo hiểm. Nguyêntắc này có hiệu lực cả cơ quan bảo hiểm và ngườI được bảo hiểm.+ Bảo hiểm tự nguyện là hình thức bảo hiểm mà hai bên thoả thuận thông qua hợp đồng bảo hiểm.Nguyên tắc này áp dụng đốI vớI ngườI được bảo hiểm, còn đốI vớI cơ quan bảo hiểm là bắt buộc.Nghĩa là, khi ngườI được bảo hiểm yêu cầu thì cơ quan bảo hiểm không được từ chốI bảo hiểm.- Theo nộI dung bảo hiểm, chế độ bảo hiểm Việt Nam chủ yếu gồm:+ Bảo hiểm xã hội.+ Bảo hiểm tài sản.+ Bảo hiểm thân thể.b) Những nộI dung chủ yếu quản lý Nhà nước đốI vớI bảo hiểm gồm:- Thứ nhất, bảo hiểm xã hội được thực hiện theo loạI hình bảo hiểm bắt buộc hay tự nguyện được ápdụng đốI vớI từng loạI đốI tượng và từng loạI hình doanh nghiệp để đảm bảo cho ngườI lao động đượchưởng các chế độ bảo hiểm thích hợp.-Thứ hai, đa dạng hoá các loạI hình hoạt động bảo hiểm trong nền kinh tế. Nhà nước thống nhất quảnlý bảo hiểm bằng pháp luật, chính sách, chế độ…- Thứ ba, ban hành hệ thống pháp luật làm chuẩn mực pháp lý cho các loạI hình bảo hiểm.+ Quy định điều kiện bắt buộc và thủ tục hành chính cho việc ra đờI và hoạt động của cơ quan bảohiểm.+ Quy định về chế độ và thủ tục về bảo hiểm và thực hiện bảo hiểm.+ Quy định về cơ chế hoạt động của cơ quan bảo hiểm chẳng hạn: mức dự trữ cần thiết, cơ chế đầu tưphát triển quỹ bảo hiểm…- Thứ tư, thống nhất quản lý đốI vớI bảo hiểm xã hội từ trung ương đến cơ sở. Thống nhất về chế độ,mức chi trả, hình thức và phương pháp tính toán. Chế độ bảo hiểm xã hội ở ta phản ánh rõ bản chất tốtđẹp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.- Thứ năm, thực hiện thanh tra và xử lý các vi phạm trong hoạt động bảo hiểm.- Thứ sáu, mở rộng hợp tác quốc tế trong hoạt động bảo hiểm.6. Nhà nước sử dụng công cụ thanh tra tài chính, kiểm toán và chế độ kế toán trong quản lý nềnkinh tế thị trường có sự quản lý Nhà nước theo định hướng XHCN.Trong hệ thống công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước, công tác thanh tra tài chính, kiểm toán và chế độkế toán đóng một vị trí đặc biệt quan trọng. Đây là những công cụ vừa tác động vào nền kinh tế, vừatrực tiếp xem xét hoạt động tài chính của các đơn vị, tổ chức, các doanh nghiệp.- Thứ nhất, thanh tra tài chính là nộI dung hoạt động quản lý Nhà nước, là công cụ quan trọng đặc biệtcủa Nhà nước một mặt xem xét, kiểm tra việc thực hiện chế độ tài chính ở các đơn vị, qua đó phát hiệnngăn ngừa và xử lý các vi phạm bảo đảm các nguồn tài chính được quản lý, điều hành, sử dụng có hiệuquả. Mặt khác, qua thanh tra tài chính phát hiện sự không phù hợp của chế độ tài chính, cơ chế tàichính của Nhà nước. Từ đó đề xuất các biện pháp hoàn thiện.VớI công cụ thanh tra tài chính, Nhà nước thực hiện một số nộI dung công việc sau:+ Một là, ban hành chế độ thanh tra tài chính. Hiện nay thanh tra tài chính được Nhà nước coi là chế độthường xuyên đốI vớI các dân sự sử dụng ngân sách Nhà nước. Qua đó nhằm chấn chỉnh chế độ quảnlý ngân sách, nâng cao hiệu quả ngân sách Nhà nước.+ Hai là, quy định về nộI dung, phương pháp, trình tự về thanh tra tài chính.+ Ba là, quy định về thủ tục xử lý trong quá trình thanh tra tài chính.+ Bốn là, quy định về tiêu chuẩn, trình độ, cũng như trách nhiệm quyền hạn đốI vớI cán bộ thanh tra.- Thứ hai, Nhà nước sử dụng công tác kiểm toán như là công cụ tích cực để kiểm tra tình hình hoạtđộng tài chính, thực hiện chế độ tài chính, chế độ kế toán ở các đơn vị. Đó là cơ sở, là căn cứ để đơn vịchấn chỉnh chế độ tài chính kế toán.Kiểm toán là hoạt động độc lập, cơ quan kiểm toán hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp Nhà nướcquản lý đốI vớI hoạt động này bao gồm các nộI dung sau:+ Một là, ban hành hệ thống pháp luật làm căn cứ cho việc thành lập và hoạt động của cơ quan kiểmtoán.+ Hai là, hoàn thiện hệ thống kiểm toán Nhà nước để thực hiện kế hoạch kiểm toán đốI vớI ngân sáchNhà nước mà Chính phủ quy định.+ Ba là, quy định tiêu chuẩn, điều kiện cho các kiểm toán viên độc lập. Tổ chức kiểm tra cấp giấy phépchứng nhận hành nghề cho các kiểm toán viên độc lập. 9
  10. 10. + Bốn là, ban hành quy định về nộI dung, trình tự của công tác kiểm toán, cũng như quy trình vàphương pháp xử lý qua kết luận của cơ quan kiểm toán.+ Năm là, thực hiện thanh tra, kiểm tra đốI vớI mọI hoạt động kiểm toán.- Thứ ba, chế độ kế toán Nhà nước là chuẩn mực để ghi chép, đánh giá, tính toán các hoạt động tàichính ở đơn vị mà Nhà nước bắt buộc đốI vớI mọI tổ chức, mọI hoạt động trong nền kinh tế. Để sửdụng công cụ kế toán một cách có hiệu quả trong quản lý kinh tế tài chính, Nhà nước tập trung giảIquyết một số nộI dung sau đây:+ Một là, không ngừng hoàn thiện hệ thống chế độ kế toán cho phù hợp vớI điều kiện đổI mớI của nềnkinh tế đất nước.+ Hai là, ban hành thống nhất chế độ kế toán: hệ thống tài khoản, sổ sách kế toán, báo cáo, hoá đơnchứng từ… cho các tổ chức, các đơn vị, các doanh nghiệp.+ Ba là, quy định về chế độ, tiêu chuẩn cũng như quy trình tuyển dụng, công nhận đốI vớI kế toántrưởng đơn vị.+ Bốn là, xây dựng hệ thống thông tin về kế toán, kiểm toán… trong phạm vi cả nước nhằm nâng caochất lượng của công tác kế toán.+ Năm là, thường xuyên kiểm tra, thanh tra đốI vớI công tác kế toán (đặc biệt là qua kiểm toán, thanhtra tài chính) nhằm chấn chỉnh công tác kế toán và hoàn thiện chế độ kế toán.+ Sáu là, thực hiện tin học hoá công tac kế toán.Tài chính tiền tệ liên quan đến tất cả mọI hoạt động trong đờI sống kinh tế - xã hội. Thực hiện quản lýNhà nước về tài chính tiền tệ cần đảm bảo đồng bộ, toàn diện, đặc biệt chú ý đến công tác cán bộ. Điềuđó quyết định hiệu quả và hiệu lực quản lý Nhà nước./. 10

×