Doko.vn 108551-mot-so-giai-phap-nang-cao-chat-luong-san (1)

730 views

Published on

  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

Doko.vn 108551-mot-so-giai-phap-nang-cao-chat-luong-san (1)

  1. 1. Lời mở đầu. Trong thời đại khu vực hoá và toàn cầu hoá, chất lượng sản phẩm và dịch vụ có một vai trò hết sức quan trọng và đang trở thành một thách thức to lớn với mọi quốc gia trên con đường hội nhập vào thế kỷ XXI. Thất bại hay thành công trong cuộc cạnh tranh vô cùng khốc liệt trên thương trường hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ thích hợp của hàng hoá và dịch vụ, sự hợp lý về giá cả, điều kiện mua bán giao nhận, thời điểm đưa hàng hoá ra thị trường... Muốn cạnh tranh hữu hiệu, muốn đạt lợi nhuận cao thì doanh nghiệp cần phải xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng thích hợp và tiên tiến. Hiện nay, đối với Việt Nam việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ trở thành phương thức tất yếu, một biện pháp có hiệu lực để đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế đáp ứng ngày một tốt hơn yêu cầu xã hội và góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập. Công ty Cơ khí & Xây lắp số 7 trải qua 36 năm tồn tại và phát triển ngày nay đã trở thành một đơn vị vững mạnh của cả nước. Hiện nay sản phẩm của Công ty Cơ khí & Xây lắp số 7 đã được khách hàng chấp nhận và chất lượng ngày một cái thiện rõ rệt, nhưng trong công tác quản lý vẫn còn một số hạn chế nhất định. Để tìm ra biện pháp thúc đẩy hơn nữa công tác quản lý chất lượng đặc biệt là việc nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty Cơ khí & Xây lắp số 7, trong quá trình thực tập tôi đã chọn đề tài: Một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty Cơ khí & Xây lắp số 7. làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp của mình. Đề tài gồm ba phần chính sau: Phần I: Một số lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng sản phẩm. 1
  2. 2. Phần II: Thực trạng chất lượng sản phẩm của Công ty Cơ khí & Xây lắp số 7 - COMA 7. Phần III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm ở Công ty Cơ khí & Xây lắp số 7. 2
  3. 3. PHẦN I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM I. CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 1. Quan niệm về chất lượng sản phẩm • Chất lượng sản phẩm là một phạm trù hết sức phức tạp mà con người thường hay gặp trong các hoạt động của mình. Ở mỗi một góc độ khác nhau có cách giải thích khác nhau về chất lượng sản phẩm. 1.1 Mét số khái niệm về sản phẩm và chất lượng sản phẩm Khái niệm sản phẩm: Sản phẩm là kết quả của các hoạt động hoặc các quá trình. Sản phẩm cơ khí: là kết qủa của các quá trình hay các hoạt động từ cung ứng nguyên vật liệu, tạo phôi, gia công để tạo ra sản phẩm cuối cùng. Sản phẩm phi tiêu chuẩn là: sản phẩm mà ngoài những tiêu chuẩn chung quy định cho nó còn có những tiêu chuẩn riêng do đặc thù của nó quy định. 1.1.1 Chất lượng là gì: Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO ( International organization for Standard ) – ISO 8402: 1986 Chất lượng: là một tập hợp các tính chất và đặc trưng của sản phẩm tạo cho nó khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu hoặc tiềm Èn. Theo một số chuyên gia đầu đàn về chất lượng: Jujan một chuyên gia quan lý chất lượng của Mỹ cho rằng: Chất lượng là sự phù hợp với sử dụng, công dụng. Crosby cho rằng: chất lượng là sự phù hợp với những yêu cầu hay đặc tính nhất định. 3
  4. 4. Bill Conway cho rằng: chất lượng phụ thuộc vào cách thức quản lý đúng đắn. Muốn đạt được chất lượng cần phải cải tiến chất lượng ở tất cả các khâu của quá trình. W. Edwards. Deming cho rằng: chất lượng là một mực độdự báo được về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp nhất và phù hợp với thị trường. Theo Kaoru ishikawo chuyên gia người Nhật cho rằng chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu với chi phí thấp nhất. Theo tiêu chuẩn quốc gia của ôxtrâylia cho rằng chất lượng là sự phù hợp với mục đích và ý định. Theo ISO 8402: 1994 chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể ( đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu hoặc tiềm Èn. Theo ISO 9000: 2000 chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu đã nêu hoặc tiềm Èn. 1.1.2 Chất lượng sản phẩm. * Theo quan điểm của Mác: Chất lượng sản phẩm có thể là tổng hợp các tính chất, đặc trưng tạo nên giá trị sử dụng, làm cho sản phẩm bảo đảm thoả mãn nhu cầu xã hội trong những điều kiện nhất định. Các đặc trưng và tính chất biểu thị chất lượng sản phẩm thông thường được xác định bằng những thông số kỹ thuật có thể đo lường được hoặc những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật có thể tính toán được. * Theo Fâygenbao (Fêigenbaum): chất lượng sản phẩm là tập hợp các đặc tính kỹ thuật, công nghệ và vận hành của sản phẩm, nhờ chúng mà sản phẩm đáp ứng được các yêu cầu của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm. 1.2 Chất lượng sản phẩm theo quan điểm của người sản xuất. 4
  5. 5. Theo quan niệm của người sản xuất: sản phẩm muốn đạt đến chất lượng thì phải đạt đến những tiêu chuẩn, những yêu cầu kỹ thuật đặt ra cho sản phẩm, những tiêu chuẩn này được thiết kế trước theo một hệ thống tiêu chuẩn nhất định. Quan niệm này còn gọi là quan niệm hướng theo công nghệ, coi chất lượng sản phẩm là vấn hết sức đơn giản có thể định lượng được bằng một loạt các chỉ tiêu. Doanh nghiệp dùa vào những chỉ tiêu này để đánh giá chất lượng sản phẩm của mình, nhưng chỉ đơn thuần là về mặt kỹ thuật. Nói chung nhìn nhận chất lượng sản phẩm theo góc độ người sản xuất càn một số hạn chế: Thứ nhất: quan điểm này tách sản phẩm ra khỏi thị trường, chưa gắn sản phẩm với nhu cầu. Bởi vì thực tế là có rất nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn kỹ thuật nhưng không đáp ứng được những mong muốn của khách hàng và dẫn đến sản phẩm sản xuất ra nhưng chưa chắc đã bán được trên thị trường. Thứ hai, quan niệm này làm cho chất lượng sản phẩm bị tụt hậu so với nhu cầu của thị trường. Vì nhu cầu của con người luôn luôn thay đổi trong khi đó các tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm lại cố định một cách cứng nhắc. Cho nên luôn có khoảng cách giữa chất lượng trong tiêu chuẩn thiết kế với tiêu chuẩn chất lượng theo nhu cầu của người tiêu dùng. Cuối cùng do những quan niệm về chất lượng theo cách quan sát sản phẩm nên công tác quản lý, kiểm soát chất lượng chủ yếu tập trung vào khâu sản xuất, đầu tư vào kiểm tra, kiểm soát sản phẩm cuối cùng. Cho nên có thể nói rằng: khâu quản lý chất lượng mang tính chất rất cục bộ. Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất hoặc mua sản phẩm là để bán cho người tiêu dùng. Chính vì vậy cần thiết phải nhìn nhận chất lượng sản phẩm dưới quan điểm của người tiêu dùng. 5
  6. 6. 1.3 Chất lượng sản phẩm theo hướng người thị trường Đứng trên góc độ của người tiêu dùng chất lượng sản phẩm phải thể hiện các khía cạnh sau: - Chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ tiêu, những đặc trưng thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của nó. Chất lượng sản phẩm được thể hiện cùng với chi phí. Người tiêu dùng không dễ gì mua sản phẩm với bất kỳ giá nào. Chất lượng sản phẩm phải được gắn với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng người, từng địa phương..... phong tục tập quán của một cộng đồng có thể phủ định hoàn toàn những thứ mà thông thường ta có thể cho là “ có chất lượng “. Từ những phân tích trên có thể đưa ra mét quan niệm chất lượng sản phẩm tương đối hoàn chỉnh như sau: “ Chất lượng sản phẩm là tổng hợp những chỉ tiêu, những đặc tính của sản phẩm thể hiện mức thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng nhất định “. Nh vậy chất lượng sản phẩm không những chỉ là tập hợp các thuộc tính mà còn là mức độ các thuộc tính Êy thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong những điều kiện cụ thể. Hay nói cách khác, chất lượng sản phẩm hàng hoá vừa có đặc tính chủ quan, vừa có đặc tính khách quan. 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Có nhiều nhân tố tác động đến chất lượng sản phẩm, nhưng có thể gộp các yếu tố này thành hai nhóm yếu tố bên ngoài và nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp. Dùa vào nhóm yếu tố này mà doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch về chất lượng sản phẩm để thoả mãn tột bậc mức độ, kỳ vọng của khách hàng. 2.1 Nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp: 6
  7. 7. Trong phạm vi mét doanh nghiệp, tất cả những gì tác động trực tiếp hay gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Qui tắc4M đã chỉ ra rằng, đó chính là máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, con người và phương pháp tổ chức quản lý. Điều nàycó thể được khái quát theo sơ đồ xương cá sau: Sơ đồ:1 Sau đây sẽ nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tới chất lượng sản phẩm. * Thứ nhất là nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu là yếu tố cấu thành nên thực thể của sản phẩm, chiếm khoảng 60- 80% giá trị của sản phẩm. Cho nên không thể nói rằng chất lượng nguyên vật liệu không ảnh hưởng gì đến chất lượng sản phẩm mà ngược lại đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp nhất, mạnh mẽ nhất. Chất lượngnguyên vật liệu tốt đồng bộ, cung ứng kịp thời mới tạo nên một sản phẩm có chất lượng hoàn chỉnh, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy khi xuất nguyên vật liệu ra khái kho đưa vào quá trình sản xuất, nhất thiết phải kiểm tra tiêu chuẩn của các yếu tốđầu vào này. Ngoài ra doanh nghiệp cũng phải quan tâm đến việc xây dùng cho mình một hệ thống các nhà cung cấp đầy tín nhiệm và bền chặt để tránh sự phụ thuộc quá nhiều vào duy nhất một nhà cung cấp mà vẫn đem lại lợi Ých cho cả hai bên. 7
  8. 8. * Thứ hai là kỹ thuật- công nghệ tiến bộ: Quá trình công nghệ là một quá trình phức tạp, qua quá trình này ban đầu của nguyên vật liệu được thay đổi, bổ sung hoặc cải thiện theo hướng phù hợp với công dụng của sản phẩm. Cho nên công nghệ là yếu tố quyết định đến việc hình thành chất lượng sản phẩm. Còn khoa học là yếu tố tạo ra lực đẩy, khả năng cải tiến và nâng cao chất lượng. Điều này được thể hiện qua sự sáng tạo, sáng chế ra các sản phẩm mới, sản phẩm thay thế có tính năng sử dụng cao hơn hoặc tạo ra các máy móc thiết bị có khả năng sản xuất các sản phẩm tốt hơn, ở trình độ cao hơn. Mặc dù kỹ thuật và công nghệ được đổi mới nhưng thiết bị mà thì không thể nào nâng cao được chất lượng sản phẩm. Hay nói cách khác nhóm yếu tố kỹ thuật- công nghệ- thiết bị có mối quan hệ tương hỗ khá chặt chẽ, không những chỉ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đa dạng hoá chủng loại nhằm đáp ứng sự đa dạng của nhu cầu tiêu dùng; tạo ra sản phẩm có chất lượng cao mà giá thành lại hạ. * Thứ ba là yếu tố phương pháp quan lý: Có nguyên vật liệu tốt, có kỹ thuật tiên tiến, thiết bị công nghệ hiện đại, nhưng không biết tổ chức lao động sản xuất, tổ chức kiểm tra chất lượng sản phẩm, tổ chức tiêu thụ, vận chuyển, dự trbảo quản hàng hoá, sửa chữa vận hành và nâng cấp máy móc thiết bị... hay nói cách khác không biết quản lý sản xuất kinh doanh thì không thể nào nâng cao được chất lượng sản phẩm. Thật là sai lầm khi cho rằng chất lượng sản phẩm tốt hay xấu là hoàn toàn phụ thuộc vào công nhân, vào các yếu tố của quá trình sản xuất. Sơ đồ:2 8 15% 85% Lçi do s¶n xuÊt Lçi do qu¶n lý
  9. 9. Nhưng thực tế lỗi do trực tiếp sản xuất chỉ chiếm từ 15%-20%, trong khi đó 80%-85% là lỗi của hệ thống quản lý không hoàn hảo. “Những vấn đề chất lượng tốn kém nhất thường là bắt nguồn từ đầu bót chì và từ đầu dây điện thoại “. Muốn giải quyết tốt vấn đề này thì cần phải có sự điều chỉnh có mục tiêu, chứ không thể dùng các biện pháp chữa cháy, các biện pháp tình thế ngày một ngày hai. Vấn đề chất lượng là trách nhiệm của mọi thành viên trong doanh nghiệp, trong đó phương pháp tổ chức quản lý giữ vai trò quyết định. * Thứ tư là nhân tố con người: Con người là nhân tố quan trọng nhất, quyết định đến chất lượng sản phẩm. Vì thực ra con người chính là lực lượng lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm thoả mãn nhu cầu. Phải hiểu rằng con người ở đây không chỉ riêng lao động trực tiếp sản xuất mà còn là cán bộ lãnh đạo của đơn vị thậm chí còn xét đến cả bản thân người tiêu dùng. Sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng trong sản xuất kỹ thuật nhưng không được người tiêu dùng chấp nhận nằm ứ đọng trong kho thì cũng không được gọi là sản phẩm đạt chất lượng được. Chất lượng phải tính toàn bộ từ khâu đầu vào cho đến khâu cuối cùng chứ không chỉ riêng cho quá trình sản xuất cục bộ. Muốn thực hiện chất lượng sản phẩm một cách toàn diện thì Ýt nhất đội ngò cán bộ lẫnh đạo cấp cao phải có nhận thức đúng 9
  10. 10. đắn về việc nâng cao chất lượng sản phẩm để có những chủ trương, những chính sách đúng đắn về chất lượng sản phẩm thể hiện trong mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng. Vấn đề con người phải được đặt lên hàng đầu, con người cần phải được đào tạo mà trước hết là cán bộ quản lý rồi mới đến công nhân kỹ thuật. Mọi người phải có nhận thức rằng nâng cao chất lượng sản phẩm là trách nhiệm và vinh dự của mọi thành viên, là sự sống còn, là quyền lợi thiết thân đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sự phân chia tách bạch các yếu tố trên chỉ là quy ước để hiểu rõ tác động của từng nhân tố đến chất lượng sản phẩm chứ thực ra trong các yếu tố này có yếu tố kia, yếu tố kia lại quay trở lại tác động vài yếu tố này. Các yếu tố là một thể thống nhất, có mối quan hệ hữu cơ với nhau và được thể hiiện qua sơ đồ. Sơ đồ: 3 2.2 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp: Doanh nghiệp còng nh mét cơ thể sống, cũng trao đổi với môi trường bên ngoài. Doanh nghiệp nào tự tách mình ra khỏi môi trường thì doanh nghiệp đó khó thể tồn tại được huống chi là nói đến vấn đề phát triển và mở rộng qui mô. Cho nên khi xét đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm không thể bỏ qua các nhân tố 10 Machine M¸y mãc thiÕt bÞ Method Ph­¬ng ph¸p Material Nguyªn vËt liÖu Men Con ng­êi ChÊt l­îng S¶n phÈ m
  11. 11. về thị trường, về sự phát triển của khoa học kỹ thuật, về chính sách quản lý của nhà nước... 2.2.1 Nhu cầu của nền kinh tế. • Đòi hỏi của thị trường: Nhu cầu của thị trường về sản phẩm chính là những yêiu cầu về cỡ, loại tính năng kỹ thuật, số lượng, sản xuất cho ai và vào lúc nào... Hơn nữa, đòi hỏi của thị trường trong nước lại khác với sự đòi hỏi của thị trường nước ngoài. Trên mỗi thị trường lại có những yêu cầu khác nhau đối với từng đối tượng sử dụng. Đó là chưa nói đến sự biến đổi của thị trường về một phương diện nào đó, theo một chiều hướng nào đó cũng làm cho sản phẩm phải được điều chỉnh thích ứng về chất lượng. Nhạy cảm với sự thị trường là nguồn sinh lực của quá trình hình thành và phát triển tất cả các sản phẩm. Điều quan trọng là phải theo dõi, nắm chắc, đánh giá đúng tình hình và đòi hỏi của thị trường, nghiên cứu, lượng hoá từ đó có chính sách đúng đắn. • Trình độ kinh tế, trình độ sản xuất: Đó là khả năng kinh tế và trình độ kỹ thuật có cho phép hình thành và phát triển một sản phẩm nào đó có mức chất lượng tối ưu hay không. Đảm bảo chất lượng luôn là vấn đề nội tại của bản thân nền sản xuất xã hội, nhưng việc chất lượng không thể vượt ra ngoài khả năng cho phép của nền kinh tế. Cho nên lo gic của vấn đề là muốn cho sản phẩm có chất lượng thì phải trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất, trình độ kinh tế. • Chính sách kinh tế: Hướng đầu tư, hướng phát triển loại sản phẩm và mức thoả mãn các loại nhu cầu của chính sách kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Nh chính sách khuyến khích sản xuất những sản phẩm gì và không khuyến khích những sản phẩm gì, khuyến khích xuất khẩu những sản phẩm nào, với mức lợi nhuận nào cần có: chính sách khích lệ người lao động nh thế nào.. Ngay cả 11
  12. 12. chính sách trong sự hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật nhằm tạo con đường đặc thù trong phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định nào đó trực tiếp chi phối sự thuận lợi hay không thuận lợi cho sự phát triển về chất lượng sản phẩm. 2.2.2 Sự phát triển của khoa học công nghệ Trong thời đại ngày nay, cùng với đặc điểm là khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất cứ sản phẩm nào cũng gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất. Xét trong việc tổ chức ra sản phẩm cụ thể nào đó, cái quyết định để có sự nhảy vọt về năng suất , chất lượng và hiệu quả chính là việc ứng dụng các thành tựu tiến bộ. Hướng chính của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện nay là: Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế: Bằng nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, xác lập các vật liệu mới (đặc biệt là các nguồn nguyên liệu sẵn có, chủ động) có thể hoặc tạo nên những tính chất mới cho sản phẩm tạo thành, hoặc thay thế cho sản phẩm cũ nhưng duy trì tính chất cơ bản của sản phẩm. Ở đây có điều quan trọng là khi sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế nhất thiết phải qua nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá, kết luận về công dụng của nó có đúng nghĩa vật liệu thay thế không. Hướng thứ hai là cải tiến hay đổi mới công nghệ: Với sản phẩm đã xác định,một công nghệ nào đó chỉ cho phép đạt được tới một mức chất lượng tối đa ứng với nó. Công nghệ chế tạo càng tiến bộ thì càng có khả năng tạo cho sản phẩm có chất lượng cao hơn, ổn định hơn. Ví dụ trong ngành đúc, công nghệ đúc bằng khuôn kim loại có năng suất và chất lượng cao hơn khuôn đúc cát; trong nhiệt luyện, tôi trên máy tần số chất lượng gia công bề mặt đồng đều hơn tôi ở lò điện hay lò phản xạ. ở nước ta nói chung, trình độ trang thiết bị công nghệ của các ngành chưa cao, còn nhiều bất hợp lý tiềm năng chưa khai thác hết. Vì vậy, đồng thời với việc thiết lập các hệ thống công nghệ hiện đại, cần tập trung cải tiến, đổi 12
  13. 13. mới công nghệ từng phần sắp xếp lại các dây chuyền công nghệ sản xuất hợp lý, đây là điều quan trọng đặc biệt , nã sẽ đem lại hiệu quả một cách nhanh chóng và tiết kiệm cho nên kinh tế. Hướng thứ ba là hướng cải tiến sản phẩm cũ và chế thử sản phẩm mới. Bằng cách áp dụng tiến bộ khoa học, cải tiến, nâng cao tính năng kỹ thuật hay giá trị sử dụng của các sản phẩm hiện có , làm cho nó thoả mãn mục đích và yêu cầu sử dụng một cách tốt hơn. Tuỳ từng loại sản phẩm có nội dung cải tiến khác nhau nhưng hướng chung là cải tiến để nâng cao những chỉ tiêu cơ bản và ổn định các chỉ tiêu đó. Với sản phẩm hướng chính là tạo ra kích cỡ, thông số, loại và các chỉ tiêu đặc trưng cho chất lượng nhằm đáp ứng các yêu cầu mới xuất hiện hoặc thoả mãn những nhu cầu nâng cao mục đích sử dụng cũ. ở nước ta, cải tiến nângcao chất lượng cho những sản phẩm cũ trên cơ sở phát huy tiềm năng của công nghệ, của vật tư, của lao động hiện có là nội dung và biện pháp có ý nghĩa hàng đầu, Ýt tốn kém và đem lại hiệu quả nhanh. Tất nhiên, việc nghiên cứu chế thử sản phẩm mới có ý nghĩa riêng của nó. Nhưng phải tính toán, cân nhắc, chuẩn bị chu đáo, để thực sự có sản phẩm đúng nghĩa là mới, tức là tiến bộ hơn, có tínhnăng kỹ thuật và giá trị sử dụng ưu việt hơn sản phẩm cùng loại đã có. Thực ra có rất nhiều hướng áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhưng trên đây là ba hướng cơ bản, điển hình hơn cả. Doanh nghiệp sẽ dùa vào đặc điểm nội lực của mình để lùa chọn hướng áp dụng cụ thể. Điều quan trọng không phải là áp dụng nhiều hướng, mà là kết quả cuối cùng sản phẩm của mình có được người tiêu dùng thừa nhận hay không, doanh số và lợi nhuận có tăng lên hay không. 2.2.3 Hiệu lực của cơ chế quản lý kinh tế: Bất kỳ hoạt động sản xuất nào, dưới chế độ nào cũng chịu tác động, chịu chi phối của cơ chế quản lý kinh tế, kỹ thuật, xã hội nhất định. Do đó chất lượng sản phẩm cũng bị yếu tố này qui định. Điều đó được thể hiện qua các mặt sau đây: 13
  14. 14. • Kế hoạch hoá phát triển kinh tế: Mét quan điểm, một phương pháp kế hoạch hoá đảm bảo nguyên tắc cân đối các yếu tố vật chất và tinh thần, cân đối giữa số lượng và chất lượng, cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng, lấy yêu cầu chất lượng tiêu dùng làm điểm xuất phát thì nhất định sự phát triển sản xuất sẽ đi vào con đường đảm bảo chất lượng. Trong quá trình xây dùng , xét duyệt, đánh giá hoàn thành kế hoạch, nếu luôn luôn tính tới yếu tố chất lượng, không đem chất lượng đối lập với số lượng, phân tích sâu sắc, tỉ mỉ hiệu quả chung đem lại.. . thì chắc chắn sản phẩm làm ra sẽ đạt được mức chất lượng hợp lý nhất trong điều kiện cho phép. • Giá cả Giá cả phải định theo mức chất lượng. Sản phẩm có nhiều mức chất lượng khác nhau thì phải có giá trị tương ứng khác nhau. Đồng thời, chênh lệch giá giữa các sản phẩm cùng loại có mức chất lượng khác nhau phải đảm bảo khuyến khích sản xuất ra các sản phẩm có mức chất lượng cao. • Chính sách đầu tư: Chóng ta cần phải chú trọng đầu tư theo chiều sâu để nâng cao hiệu quả tổng hợp của các lực lượng sản xuất bằng cách dành lực lượng nh thiết bị, người lao động..thích đáng cho việc nghiên cứu chế thử.. . nhằm nâng cao chất lượng. Đây là hướng đầu tư quan trọng nhất để nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả chung của nền kinh tế. • Tổ chức quản lý về chất lượng: Đó chính là việc hình thành cơ chế quản lý chất lượng sản phẩm trong cơ chế chung của quản lý kinh tế. Mục tiêu chất lượng và hiệu quả phải được thể hiện trong từng việc làm và kết quả cụ thể của mọi mặt hoạt động có liên quan từ nghiên cứu, thiết kế, chế thử đến tố chức sản xuất, lưu thông, sử dụng sản phẩm. 14
  15. 15. Tóm lại, một cơ chế hợp lý, một môi trường pháp lý bình đẳng và đồng bộ là điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực chất lượng hoạt động. Chính Nhà nước sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, buộc các doanh nghiệp muốn đứng vững để phát triển phải đưa vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm lên hàng đầu. II. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm, vai trò và đặc điểm của chất lượng sản phẩm. 1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm. Tuỳ theo mục đích sử dụng, các chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm, hàng hoá có thể chia thành 4 nhóm cơ bản sau: • Nhóm chỉ tiêu sử dụng. Đây là nhóm chỉ tiêu chất lượng mà người tiêu dùng khi mua sản phẩm thường quan tâm đến, nhóm này bao gồm: - Thời gian sử dụng. - Mức độ an toàn trong sử dụng. - Khả năng sửa chữa thay thế các chi tiết. - Hiệu quả sử dụng (sinh lợi, tiện lợi). • Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ. Đây là nhóm chỉ tiêu mà các cơ quan nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, kinh doanh thường dùng để đánh giá giá trị sử dụng của sản phẩm. Các chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ có rất nhiều nhưng quan trong hơn cả là các chỉ tiêu sau đây: - Chỉ tiêu về kích thước: thường được áp dụng cho các sản phẩm nh: giày dép, hàng dệt, hàng may mặc.. .hoặc để hợp lý hoá sản xuất, đóng gói vận chuyển, bảo quản. 15
  16. 16. - Chỉ tiêu về cơ lý nh khối lượng các thông số, các yêu cầu về kỹ thuật nh độ bền, độ chính xác, độ tin cậy, độ an toàn trong sử dụng... - Chỉ tiêu về sinh hoá nh thành phần hoá học biểu thị giá trị dinh dưỡng của thực phẩm, khả năng sinh nhiệt, hệ số tiêu hóa...sự có mặt của thành phần hoá học bổ sung đôi khi dẫn đến những thay đổi quan trọng về chất lượng. Việc lùa chọn nhữnhg chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ để kiểm tra, đánh giá một mặt hàng nào đó phải xuất phát từ công dụng, đặc điểm cấu tạo còng nh điều kiện sử dụng của sản phẩm Êy. • Nhóm chỉ tiêu kiểu dáng thẩm mỹ bao gồm: - Tính biểu hiện của kiểu dáng: thể hiện ở bố cục rõ ràng, từng bộ phận đường nét phải tạo ra hiệu quả thẩm mỹ. - Tính hoàn chỉnh: thể hiện ở sự thống nhất hữu cơ giữa các bộ phận riêng lẻ, vừa tinh tế vừa hài hoà. - Sù phong phú về kiểu cách, mẫu mã nhưng lại phù hợp với nhu cầu tiêu dùng. - Sản phẩm phải đảm bảo sự hài hoà về màu sắc, làm tôn tính độc đáo của sản phẩm. • Nhóm chỉ tiêu kinh tế: Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn phải xem xét kỹ giá cả của sản phẩm. Một sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao là sản phẩm đạt chất lượng cao mà chi phí của chất lượng lại thấp: đó là toàn bộ các chi phí liên quan đến quá trình sản xuất, tiêu dùng và các chi phí khác. 2. Vai trò của chất lượng sản phẩm. 16
  17. 17. * Chất lượng sản phẩm làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và thể hiện được sức mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp. * Chất lượng sản phẩm nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thương trường nhờ đó mà uy tín của doanh nghiệp được đảm bảo. Đó chính là cơ sở quan trọng để cho doanh nghiệp có thể phát triển một cách bền vững và lâu dài. * Chất lượng sản phẩm có ý nghĩa làm tăng năng suất lao động, giảm chi phí khi chóng ta nâng một tỉ lệ chất lượng sản phẩm lên. * Nâng cao chất lượng sản phẩm giúp cho người tiêu dùng tiết kiệm được thời gian, sức lực trong quá trình sử dụng, vận hành. Nâng cao chất lượng sản phẩm cũng là một giải pháp quan trọng thống nhất lợi Ých giữa người tiêu dùng và doanh nghiệp. * Nâng cao chất lượng sản phẩm là cơ sở để tăng khả năng xuất khẩu và khẳng định vị trí sản phẩm Việt Nam trên thị trường quốc tế, đồng thời tăng khả năng tróng thầu của các doanh nghiệp. 3. Đặc điểm của chất lượng sản phẩm. * Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế, xã hội, kỹ thuật, được quy định bởi các yếu tố tạo nên sản phẩm. Chất lượng sản phẩm tuỳ thuộc vào thời gian, không gian và luôn luôn thay đổi. * Khi chóng ta nói tới vấn đề chất lượng sản phẩm là nói tới vấn đề quản lý. * Chất lượng sản phẩm có tính tương đối, vận động liên tục và thay đổi theo không gian, thời gian còng nh sở thích của khách hàng. Do đó đây chính là một đặc điểm mà các nhà quản lý chất lượng cần phải quan tâm để cải tiến không ngừng. * Chất lượng sản phẩm tuỳ thuộc vào các loại thị trường cụ thể; mà có thể được đánh giá cao trên thị trường này nhưng lại bị coi nhẹ trên thị trường khác, có thể được khách hàng này ưa chuộng nhưng đối với khách hàng khác lại không được ưa chuộng. * Chất lượng sản phẩm có thể được đo lường và đánh giá thông qua các chỉ tiêu, tiêu chuẩn. 17
  18. 18. * Chất lượng sản phẩm có thể quản lý được thông qua các chỉ tiêu; nó gồm hai thuộc tính cơ bản đó là tính vật lý khách quan và tính phù hợp. * Chất lượng của mỗi loại sản phẩm được xác định trong nhiều điều kiện cụ thể, với những mục đích cụ thể tương ứng với một đối tượng tiêu dùng; không có chất lượng sản phẩm chung cho mọi người. sản phẩm chỉ thể hiện chất lượng của mình trong những điều kiện tiêu dùng nhất định, với những mục đích nhất định. 4. Quản lý chất lượng sản phẩm biện pháp để nâng cao chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất kinh doanh. 4.1 Chất lượng trong thiết kế sản phẩm. Thiết kế sản phẩm là một quả trình sáng tạo dùa trên những kiến thức am hiểu về thị trường để chuyển hoá những nhu cầu của khách hàng thành đặc điểm chất lượng của sản phẩm. Thiết kế sản phẩm có vai trò rất quan trọng vì nó là khâu đầu tiên để bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doạnh của doanh nghiệp. Nếu thiết kế đúng đắn phù hợp với nhu cầu của thị trường sẽ góp phần vào thành quả hoạt động, vào khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp bởi vì doanh nghiệp đã xây dưng được sản phẩm theo đúng nghĩa của nó. Công tác thiết kế sản phẩm bao gồm các bước sau: - Tập hợp các chuyên gia thiết kế , các cán bộ quản lý để cùng nhau thiết kế ra sản phẩm mới. - Tiếp nhận phân tích thông tin từ bộ phận điều tra thị trường. - Đề xuất các phương án khác nhau về đặc điểm của sản phẩm có đáp ứng được nhu cầu thị trường. - Thực hiện kiểm tra đánh giá và phân tích các phương án nhằm lùa chọn ra phương án tối ưu. - Sản xuất thử. - Trưng cầu ý kiến khách hàng, tiến hành hiệu chỉnh. 18
  19. 19. - Phân tích để đưa vào sản xuất hàng loạt. Trong giai đoạn thiết kế cần đánh giá một số chỉ tiêu cơ bản sau: - Trình độ sản phẩm thiết kế: như chỉ tiêu sử dông , chỉ tiêu thẩm mỹ, chỉ tiêu kinh tế... - Chỉ tiêu tổng hợp về công nghệ và chất lượng chế thử. - Hệ số khuyết tật của sản phẩm chế thử và các biện pháp điều chỉnh những sai háng đó. 4.2 Bảo đảm chất lượng nguyên vật liệu cung ứng. Người sản xuất sẽ không thể nào bảo đảm chất lượng sản phẩm của mình nếu nguyên liệu và vật tư mà bên cung ứng giao cho đạt tiêu chuẩn hay có khuyết tật. Vì vậy chất lượng nguyên vật liệu của người cung cấp được đặc biệt quan tâm. Việc đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu cũng là điều kiện cần thiết để kế hoạch hoá nhịp nhàng các công đoạn sản xuất, nâng cao năng suất và lập kế hoạch giảm chi phí. Nội dung của việc bảo đảm chất lượng trong khâu cung ứng nguyên vật liệu bao gồm các bước sau: - Lập kế hoạch cung ứng nguyên vật kiêu cho sản xuất. - Lùa chon nguồn cung ứng. - Tạo lập hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ, thường xuyên giữa doanh nghiệp và nhà cung ứng. - Thoả thuận việc đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng vật tư cung ứng, các phương pháp kiểm tra xác minh nguyênvật liệu. - Xác định các phương án giao nhận và thời hạn giao nhận. - Xác định rõ, đầy đủ và thống nhất các điều khoản trong việc giải quyết các sai háng của quả trình cung ứng nguyên vật liệu. Muốn đánh giá việc cung ứng nguyên vật liệu có đạt tiêu chuẩn hay không phải căn cứ vào ba chỉ tiêu chính sau: - Số lần cung ứng đúng thời hạn. 19
  20. 20. - Tỉ lệ nguyên vật liệu không đạt tiêu chuẩn chất lượng. - Tổng chi phí cho việc cung ứng. Khi đã có những chỉ tiêu chất lượng mà thị trường đặt ra trong giai đoạn thiết kế sản phẩm, khi đã có nguyên vật liệu đúng yêu cầu, doanh nghiệp phải bắt tay ngay vào việc sản xuất sản phẩm. Vấn đề trung tâm ở đây là muốn nâng cao chất lượng sản phẩm phải quản lý chất lượng sản phẩm trong giai đoạn sản xuất. 4.3 Quản lý chất lượng trong giai sản xuất. Mục đích của quản lý quá trình sản xuất không phải là loại bỏ những sản phẩm xấu, kém chất lượng vừa sản xuất xong mà là ngăn chặn sao cho không có những sản phẩm xấu trong quá trình sản xuất. Trong sản xuất, phải phát hiện ngay những sai sót càng sớm càng tốt. Ngoài ra cần có nhận thức đúng đắn, nâng cao chất lượng sản xuất sản phẩm,quản lý quá trình sản xuất không chỉ là trách nhiệm của các nhà quản lý mà là trách nhiệm của mọi thành viên. Quản lý chất lượng trong giai đoạn sản xuất nhằm mục tiêu sau: * Trước tiên là huy động mọi nguồn lực của doanh nghiêp để sản xuất chế biến sản phẩm đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu khách hàng. * Sau đó sẽ là đảm bảo chi phí ở mức thấp nhất, đảm bảo hoàn thành kế hoạch sản xuất đúng thời gian quy định, đảm bảo duy trì chất lượng sản phẩm trong quá trình lưu thông, kinh doanh. Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn nàylà: - Cung cấp đúng số lượng, chất lượng nguyên vật liệu một cách kịp thời. - Thông báo mục tiêu chất lượng và phân công việc cụ thể đến từng cá nhân trong tố chức. - Tiến hành kiểm tra nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm trước khi đưa vào sản xuất. 20
  21. 21. - Kiểm tra thường xuyên hệ thống máy móc thiết bị thông qua công tác duy tu bảo hành. - Kiểm tra một cách toàn diện chất lượng sản phẩm theo yêu cầu thiết kế. Khi sản phẩm được sản xuất xong là doanh nghiệp đã đi được 3/4 trong chặng đường nâng cao chất lượng sản phẩm đoạn đường còn lại là quản lý chất lượng trong và sau khi bán. 4.4 Các biện pháp bảo đảm chất lượng trong và sau khi bán hàng. Điểm quan trọng trong quá trình phân phối là phải duy trì một cách tốt nhất chất lượng sản phẩm cho khách hàng. Sau khi bán được hàng không phải doanh nghiệp đã hết trách nhiệm doanh nghiệp còn phải giải quyết những tình huống không thể lường trước được, đó là những vấn đề thoả mãn những khiếu nại của người tiêu dùng khi chất lượng sản phẩm của mình gặp sự cố. Nhà sản xuất cung cấp sản phẩm chất lượng thấp, khách hàng sẽ khiếu nại. Nhưng thông thường chỉ khiếu nại những sản phẩm giá trị cao, còn những sản phẩm giá trị thấp đôi khi khách hàng cũng bỏ qua. Và thế là những thông tin về chất lượng sản phẩm không đến được nhà sản xuất. Còn người tiêu dùng thì lẳng lặng tìm mua sản phẩm của hãng khác. Vì vậy các nhà sản xuất còn phải làm sao thu thập được những khiếu nại của người tiêu dùng ngay cả đối với những sản phẩm có giá trị thấp. Tuy nhiên, thông tin khiếu nại về chất lượng sản phẩm có hữu hiệu, có được giải quyết triệt để hay không còn tuỳ thuộc vào thái độ, vào cách thức tổ chức của nhà sản xuất. Biện pháp hữu hiệu nhất là tổ chức các mối liên hệ ngược với các khiếu nại của người tiêu dùng. Ngoài ra bảo hành là một hoạt động cần thiết và có tầm quan trọng để đảm bảo chất lượng sản phẩm trong quá trình sử dụng. Cần phải có thời gian bảo hành sản xuất sản phẩm, đơn vị sản xuất sẽ chịu chi phí nếu sản phẩm bị trục trặc trong quá trình sử dụng. Bảo hành, bảo dưỡng kỹ thuật là sự thoả thuận giữa nhà kinh doanh 21
  22. 22. và người tiêu dùng. Doanh nghiệp phải đảm bảo cho lợi Ých của người tiêu dùng càng nhiều thì uy tín của doanh nghiệp càng được nâng cao và lợi nhuận của họ càng lớn. Hơn nữa, nguyên nhân dẫn đến háng sản phẩm là việc sử dụng không đúng, vận hành trong những điều kiện bất thường hoặc kiểm tra định kỳ không đầy đủ. Chính vì thế đối với tất cả sản phẩm, nhất là sản phẩm sử dụng lâu, cần phải có tài liệu hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn kiểm tra định kỳ thật chi tiết.Tài liệu hướng dẫn phải được trình bày dễ hiểu, đầy đủ sao cho bất cứ người tiêu dùng nào cũng có thể hiểu được. Trong tài liệu này cần nêu rõ những quyền lợi sử dụng sản phẩm và trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm mà công ty mình sản xuất ra. 5. Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng sản phẩm đối với các doanh nghiệp ở nước ta hiện nay. Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin đã tạo ra những đIều kiện to lớn cho giao lưu, thu thập, nắm bắt, xử lý thông tin trên các thị trường xa xôi. Nó trở thành vũ khí quan trọng để các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm của mình để có khả năng cạnh tranh, vươn ra những thị trường rộng lớn hơn, phục vụ khách hàng đầy đủ kịp thời hơn, chất lượng cao nhưng chi phí giảm làm cho các hoạt động hiệu quả hơn. Thị trường không còn là độc quyền của một số nước, mà có sự tham gia của rất nhiều doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau. Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế một mặt tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam, nắm bắt được cơ hội kinh doanh mới nhưng mặt khác cũng làm cho cạnh tranh trên thị trường ngày càng trở lên gay gắt hơn. Đảm bảo sản phẩm sản xuất ra có thị trường tiêu thụ các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. chất lượng là một trong những giải pháp quan trọng để các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường, tăng khả năng hội nhập với nền kinh tế thế giới. Ngược lại khả năng 22
  23. 23. cạnh tranh trên thị trường cao lại tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm tốt là cơ sở cho doanh nghiệp thực hiện chiến lược mở rộng thị trường, tạo uy tín, danh tiếng cho sản phẩm. Từ đó là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Chất lượng sản phẩm tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp. Bởi vì, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào phát triển sản xuất, nâng suất cao mà còn được tạo ra bởi sự tiết kiệm trong quá trình sản xuất và sự tiết kiệm nhờ không lãng phí do không sản xuất ra những sản phẩm sai háng, kém chất lượng. Nâng cao chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với tính hữu Ých của sản phẩm được nâng cao, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm (giẩm nguyên vật liệu sử dụng, tiết kiệm được tài nguyên, giảm những vấn đề ô nhiễm môi trường). Nh vậy nâng cao chất lượng sản phẩm chính là con đường ngắn nhất đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nâng cao chất lượng sản phẩm giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu lợi nhuận. Chất lượng sản phẩm góp phần thúc đẩy tiến bộ sản xuất, đẩy mạnh tổ chức lao động trong doanh nghiệp, đảm bảo việc làm ổn định, tăng thu nhập và làm cho người lao động tin tưởng, gắn bó với doanh nghiệp vì chính họ là người tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao giúp doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn. PHẦN II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM Ở CÔNG TY CƠ KHÍ VÀ XÂY LẮP SỐ 7- COMA7 23
  24. 24. I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH , PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY CƠ KHÍ VÀ XÂY LẮP SỐ 7 1. Quá trình hình thành và phát triển của COMA 7. Công ty Cơ khí và xây lắp số 7 là một doanh nghiệp nhà nước, có tên giao dịch quốc tế là Construction Mechinery Company No 7- COMA7, có địa điểm đặt tại Km14- Quốc lé 1A - Xã Liên Ninh - huyện Thanh Trì - Hà Nội, với diện tích là 4,5 ha; là một trong 23 thành viên của Tổng Công ty Cơ khí xây dựng thuộc Bộ Xây dựng. Sau 36 năm ra đời và hoạt động, Công ty Cơ khí và Xây lắp số 7 đă từng bước khẳng định vị thế vững chắc của mình trong Ngành Cơ khí xây dựng. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty có thể được khái quát như sau: 1.1 Trước tháng 12 năm 1986 Nhà máy cơ khí xây dựng Liên Ninh (nay là Công ty Cơ khí và xây lắp số 7) được thành lập ngày 1/8/1966 theo quyết định của Bé Kiến trúc với cơ sở ban đầu là một phân xưởng Nguội tách ra từ Nhà máy cơ khí kiến trúc Gia Lâm. Thời gian đầu số cán bộ, công nhân viên có khoảng trên 60 người, trang thiết bị máy móc còn rất Ýt và lạc hậu, phần lớn là sản xuất thủ công. Trong giai đoạn này, nền kinh tế của nước ta quản lý theo cơ chế tập trung , quan liêu, bao cấp. Do vậy, đầu ra của Nhà máy do Liên hiệp các xí nghiệp cơ khí xây dùng (nay là Tổng Công ty cơ khí xây dựng) bao tiêu. Với những sản phẩm cơ khí chủ yếu là thiết bị, máy móc phục vụ cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng như là máy làm gạch, ngãi , bi đạn, Nhà máy đă cung cấp cho phần lớn các đơn vị sản xuất gạch , ngãi , xi măng , khu vực miền Bắc thời kỳ đó. Sản xuất phát triển, số lượng công nhân cũng tăng dần theo thời gian, có thời điểm lên tới trên 500 lao đông (1977- 1978) . 1.2 Sau tháng 12 năm 1986 24
  25. 25. Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12 năm 1986 ) đã dấu một bước ngoặt quan trọng, tạo lên sự chuyển biến lớn về mọi mặt kinh tế, xã hội. Đất nước ta bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà máy cơ khí Liên Ninh còng nh các doanh nghiệp khác đứng trước thời cơ mới, thách thức mới. Yêu cầu của cơ chế quản lý đòi hỏi Nhà máy phải có sù chuyển đổi phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường. Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn như trang thiết bị , máy móc quá cũ và lạc hậu ; đội ngò cán bộ quản lý chưa kịp thích ứng được với cơ chế thị trường; sản phẩm không còn được bao tiêu như trước, nhưng với quyết tâm đưa đơn vị đi lên của tập thể cán bé , công nhân viên và lănh đạo, Nhà máy đã dần tìm được chỗ đứng trên thị trường . Sản phẩm được khách hàng tín nhiệm và đánh giá cao. Ngày 2/1/1996 Nhà máy Cơ khí xây dựng Liên Ninh được đổi tên thành Công ty Cơ khí xây dựng Liên Ninh theo quyết định số 06 /BXD của Bộ Xây dựng .Ngành nghề kinh doanh chủ yếu vẫn là: - Sản xuất thiết bị máy móc cho ngành Xây dựng, Vật liệu xây dựng, Công trình đô thị . - Sản xuất phụ tùng, phụ kiện bằng kim loại. - Sản xuất vật liệu xây dựng. - Kinh doanh vật liệu xây dựng. Với những mặt hàng là sản phẩm cơ khí truyền thống, Công ty đă cung cấp một khối lượng lớn bi đạn , gầu tải , băng tải đặc biệt là kết cấu thép phi tiêu chuẩn cho các đơn vị trong và ngoài ngành. Tiêu biểu như: -Tham gia dựng cột đường dây tải điện 500 KW Bắc Nam ( 1993 ). - Cung cấp sản phẩm thép kết cấu cho Nhà máy xi măng bót Sơn (1996 ) với tổng khối lượng hơn 1000 tấn , đạt doanh thu 3,5 tỷ đồng. 25
  26. 26. - Cung cấp bi cầu thép hợp kim , đạn thép hợp kim , phụ tùng thép hợp kim như ghi lò, tấm lót, cho các Nhà máy xi măng Nghi Sơn , Hoàng Thạch (1997 ), Bỉm Sơn (1998) với tổng khối lượng từ 1000 đến 2000 tấn, đạt doanh thu 2,5 tỷ đồng. - Cung cấp kết cấu thép phi tiêu chuẩn cho nhà máy bia Tiger- Hà Tây, Công ty kính nổi Đáp Cầu VFG (1998- 1999 ) với tổng khối lượng khoảng 1000 tấn , đạt doanh thu 1,3 tỷ đồng. - Cung cấp kết cấu thép phi tiêu chuẩn cho Xưởng chế tạo vỏ nhôm - Nhà máy đóng tàu Sông Cấm ( 2000- 2001 ), tổng khối lượng 1200 tấn , doanh thu 1,2 tỷ đồng. - Dùng cột truyền hình Buôn Mê Thuột do đài truyền hình Việt Nam đặt vào ( tháng 4 năm 2001), tổng khối lượng 1800 tấn, doanh thu khoảng 2 tỷ đồng . Ngoài ra , Công ty cũng đi sâu nghiên cứu sản xuất và cung cấp các phụ tùng thay thế các thiết bị làm gạch lò Tuy - Len nhập ngoại cho các xí nghịêp gạch trung ương và địa phương. Bằng sự nỗ lực phấn đấu của tập thể cán bộ công nhân viên , năm 1999 và năm 2000 , năm 2001 Công ty đã thu được các kết quả sản xuất kinh doanh sau đây: Biểu 1: Một số chỉ tiêu Công ty đạt được. Chỉ tiêu Đvt 1999 2000 2001 Tổng doanh thu Tỷ 17,673 18,2 32,27 Tổng các khoản nép NS Tr.đ 125 218 320 Năng suất LĐBQ của 1 CN Ngh.đ/năm 4.370 5.748 7.128 • Ngày 1/ 11/ 2000 theo quyết định sè 1567 / BXD của Bộ trưởng Bộ Xây dùng , Công ty Cơ khí xây dưng Liên Ninh một lần nữa lại được đổi tên thành Công ty Cơ khí và Xây lắp số 7, có bổ sung thêm một số ngành nghề kinh doanh . Cụ thể là: 26
  27. 27. - Thi công xây dựng công trình đân dụng công nghiệp , giao thông (cầu đường) thuỷ lợi , công trình hạ tầng đô thị và khu công nghiệp , đường dây điên , trạm biến thế điện , điện lạnh , hệ thống kỹ thuật công trình . - Gia công lắp đặt khung nhôm kính , lắp đặt thiết bị , lập dự án đầu tư, thiết kế công trình xây dùng , - Tư vấn xây dựng công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị, khu công nghiệp. - Kinh doanh phát triển nhà và công trình ỹ thuật hạ tầng đô thị. - Xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ, xuất khẩu lao động và chuyên gia kỹ thuật 2. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ , KỸ THUẬT CỦA CÔNG TY CƠ KHÍ VÀ XÂY LẮP SỐ 7 2.1 Đặc điểm sản phẩm và thị trường. 2.1.1 Đặc điểm về sản phẩm của công ty Cơ khí và Xây lắp số 7. Công ty Cơ khí và xây lắp số 7 là một doanh nghiệp nhà nước, sản phẩm chủ yếu của Công ty bao gồm: - Phô tùng sản xuất vật liệu xây dựng. - Phô tùng sản xuất Xi măng . - Bi đạn nghiền Xi măng. - Sản phẩm kết cấu thép. - Sản phẩm nhôm trang trí. - Xây dựng dân dụng công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi,hạ tầng cơ sở cấp thoát nước. Sản phẩm của doanh nghiệp chủ yếu phục vụ cho sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất vật chất như Xi măng, Xây dựng và các doanh nghiệp Lắp ráp, doanh nghiệp cung cấp cho họ các chi tiết, thiết bị kết cấu thép, bi đạn và lọc bụi cho các công ty thuộc Tổng công ty Xi măng. Cho đến nay, công ty Cơ khí và Xây lắp số 7 đã trở thành doanh nghiệp có uy tín trong lĩnh vực cơ khí, kết cấu thép và xây lắp. 2.1.2 Đặc điểm thị trường sản phẩm của COMA7 27
  28. 28. • Sản phẩm chủ yếu của Công ty là sản phẩm cơ khí, với đặc tính đơn chiếc gia công, cắt gọt, làm theo đơn đặt hàng là chủ yếu. Cho nên, Công ty chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của một số bạn hàng mang tính chất truyền thống của công ty như; Sản xuất bị đạn cho các Công ty trực thuộc Tổng công ty Xi Măng Việt Nam. Mặt khác, sản phẩm cơ khí có tính cạnh tranh không mạnh mẽ như các mặt hàng may mặc, dệt và giầy da. Nhưng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp cũng có những khó khăn và thuận lợi. a. Khó khăn: - Thị trường kinh tế có nhiều biến động, cơ chế ngày càng phức tạp, tiếp thị tìm kiếm việc làm có rất nhiều khó khăn, trong mọi hoạt động kinh tế tế Công ty đều phải chấp nhận sự cạnh tranh quyết liệt “thị trường là chiến trường”, để tồn tại và phát triển Công ty phải khắc phục, vận động và vượt qua. - Công ty mới bắt đầu chuyển hướng mở rộng sang lĩnh vực xây lắp, năng lực và uy tín trên thị trường về lĩnh vực này còn hạn hẹp, đặ biệt cơ sở vật chất cho thi công xây lắp như thiết bị, xe máy, vì vậy tìm kiếm việc làm rất khó khăn. - Máy móc, thiết bị cho sản xuất gia công cơ khí cũ kỹ, lạc hậu được sản xuất từ những năm (60-70) nhiều khi không đáp ứng được chất lượng và tiến độ của nhiều đơn hàng. - Từ một Công ty chuyên sản xuất cơ khí nay mở rộng sang lĩnh vực xây lắp, nên cần có thêm vốn để đáp ứng cho sản xuất kinh doanh. Song vốn của Công ty còn hạn hẹp, muốn đầu tư, muốn sản xuất kinh doanh về xây lắp thì phải vay vốn và chịu lãi xuất ngân hàng. - Trong công tác tổ chức sản xuất cũng có nhiều biến đổi theo việc mở rộng ngành nghề: phải bổ xung thêm người, thêm đơn vị chuyên ngành, chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập. b. Thuận lợi: 28
  29. 29. - Được lãnh đạo Tổng Công ty Cơ khí Xây dựng chỉ đạo sát sao, quan tâm đúng mức tạo mọi điều kiện thuận lợi hỗ trợ Công ty nhất là về định hướng và tạo quyền chủ động cho Công ty phát huy nội lực trong sản xuất kinh doanh. - Đảng bộ Công ty là Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nội bộ đoàn kết, Cán bộ công nhân viên hết lòng vì tập thể, cán bộ, công nhân rất mạnh dạn đi vào những lĩnh vực mới, khó khăn nhưng lại thu hiệu quả cao. - Được sự nhất trí của Tổng công ty Cơ khí Xây dùng trong năm 2001 Công ty Cơ khí và Xây lắp số 7 đã đầu tư cho cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ cho mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh như: trạm trộn bê tông thương phẩm 60m3/h, 02 xe chở bê tông tươi trị giá hơn 2 tỷ đồng, các loại xe phục vụ công tác trị giá hàng tỷ đồng, đặc biệt Tổng công ty cho phép Công ty Cơ khí và Xây lắp số 7 làm chủ đầu tư dự án “ Xưởng sơn và Decor trên nhôm”, trong năm 2001 Công ty đã ký hợp đồng quốc tế về nhập khấu dây truyền thiết bị, nguyên liệu cho dù án, tổ chức đấu thầu thành công cho xây dựng nhà xưởng và các công trình phụ trợ cho dù án. - Với sự đẩy mạnh đầu tư trong năm 2001 năng lực tài sản thiết bị của Công ty Cơ khí và Xây lắp số 7 tăng lên hàng chục tỷ đồng. Đây là điều kiện thuận lợi quan trọng cho công ty mở rộng đa dạng hoá ngành nghề kinh doanh, mở rộng thị trường, tạo công ăn việc làm, tăng doanh thu góp phần chung vào sự lớn mạnh không ngừng của Tổng công ty. - Công ty đã áp dụng thành công hệ thông quản lý chất lượng ISO 9002 trong sản xuất kinh doanh , đã được tổ chức quốc tế BVQI Vương quốc Anh công nhận và cấp chứng chỉ ISO 9002 cho công ty vào ngày 14 tháng 7 năm 2001. Đây là một thuận lợi quan trọng giúp công ty tạo được niềm tin của khách hàng và mở rộng thị trường; không những thị trường trong nước mà cả thị trường quốc tế. - Công ty có đội ngò CBCNV có trình độ tay nghề , có kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh , nhiệt tình trong sản xuất , luôn ủng hộ đường lối đúng đắn của lãnh đạo công ty. Để bổ xung cho lực lượng lao động đáp ứng tốt nhu cầu mở rộng 29
  30. 30. sản xuất kinh doanh trong năm 2001 công ty đã tuyển thêm 196 lao động , trong đó có 38 lao động đáp là kỹ sư và cử nhân kinh tế , công ty đã tổ chức thi nâng bậc cho công nhân ( trong năm tổ chức thi nâng bậc cho 25 công nhân ) . Trong năm 2001, doanh thu của của doanh nghiệp tăng lên. Chứng tỏ rằng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang trong chiều hướng không ngừng đi tạo niềm tin cho khách hàng của Công ty. Biểu 2: Doanh thu của doanh nghiệp một số năm qua. Năm 1998 1999 2000 2001 Tỷ sè (%) 1 2 3 4 5 5/4 Doanh thu (Tỷ) 13.091 17.673 18.2 32.27 177.31 Giá trị sản lượng (Tỷ) 10.340 14.256 22.527 29.018 128.81 Công ty có mặt bằng sản xuất rộng, trong năm Công ty đã đầu tư san lấp thêm mặt bằng tạo điều kiện thuận lợi cho mở rộng sản xuất theo chiều rộng đăc biệt đối với cac sản phẩm cơ khí. 30 17.67 18.12 32.27 14.26 22.53 29.02 0 5 10 15 20 25 30 35 Tû ®ång Doanh thu Gi¸ trÞTSL 1999 2000 2001
  31. 31. - Về cơ sở vật chất cho sản xuất sản phẩm cơ khí, kết cấu thép và luyện kim từng bước được cải thiện ,công ty đã có uy tín trên thị trường lâu năm trên cả nước nhất là với một số nhà máy Xi măng trung ương và địa phương ; tâp thế CBCNV đang phát huy tốt thế mạnh này. 2.2 Đặc điểm cơ cấu tổ chức quản lý của COMA7. 2.2.1 Sơ đồ: 4 Bộ máy của công ty Cơ khí và Xây lắp số 7. Sơ đồ 4.1: Bộ máy Xí nghiệp đúc và kinh doanh vật tư thiết bị 31 Gi¸m ®èc C«ng ty Tæng Gi¸m ®èc PG§ kü thuËt chÊt l­ îng PG§ s¶n xuÊt kinh doanh Phßng KTDA Phßng KHKD Phßng TCHC Phßng TCKT §éi KD VTTB Ban §TDA XÝ nghiÖp XÝ nghiÖp XÝ nghiÖpXÝ nghiÖp Gi¸m®èc XN Tæ vËn hµnh c¬ ®iÖn Phã gi¸m ®èc KT KÕ to¸n Thèng kª Tæ nÊu thÐp Tæ khu«n m¸y 1 Tæ khu«n m¸y 2 Tæ khu«n m¸y 3 Tæ khu«n m¸y 4 Tæ nhiÖt luyÖn - rÌn Tæ lµm l¹nh Tæ ®óc gang §éi KDVT - TB Phã gi¸m ®èc SX-VT Tæ chøc hµnh chÝnh VËt t­ thµnh phÈm §iÒu ®é - KCS
  32. 32. Sơ đồ 4.2 Xí nghiệp cơ khí và cơ điện công trình 32 Gi¸m®èc XN KÕ to¸n TK Phã gi¸m ®èc Tæ VS, phôc vô Tæ ®iÖn nhá §éng c¬ ®iÖn CT Tæ tiÖn lín Tæ c¬ söa ch÷a Tæ phay - Bµo Tæ nguéi II Tæ ®iÖn Tæ nguéi II
  33. 33. Đội kinh doanh vật tư thiết bị Xí nghiệp chế tạo kết cấu thép và xây lắp 33 §éi tr­ëng KÕ to¸n §éi phã Tæ tr­ëng phôc vô Tæ tr­ëng
  34. 34. 34 Gi¸m®èc XN Phã gi¸m ®çc XN Kü thuËt KÕ to¸n KÕ to¸n §éi sè 1 §éi sè 2 §éi sè 3
  35. 35. Xí nghiệp XD và Trang trí nội thất 35 Gi¸m®èc XN Phã gi¸m ®ècPhã gi¸m ®èc Kü thuËt Tæ kÕt cÊu I Tæ kÕt cÊu II Tæ kÕt cÊu III Tæ kÕt cÊu IV Tæ kÕt cÊu V Tæ kÕt cÊu VI Tæ kÕt cÊu VII Tæ lµm s¹ch s¬n §iÒu ®é TK KÕ to¸n Tæ VS, phôc vô V¨n th­ thñ quü
  36. 36. Mô hình tổ chức sản xuất và quản lý của công ty là mô hình trực tuyến chức năng, áp dụng thi hành chế độ một thủ trưởng. Dưới đây là chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban trong bộ máy tổ chức của doanh nghiệp được phân chia như sau: 2.2.2 Về công tác quản lý ở công ty. Trên cùng là ban Giám đốc có 01 giám đốc và 02 phó giám đốc tại Công ty và 04 giám đốc ở các xí nghiệp thành viên. Giám đốc Công ty là thủ trưởng cấp cao nhất, chịu trách nhiệm trước toàn bộ công ty và Tổng công ty Cơ khí Xây dựng về mọi hoạt động của đơn vị mình quản lý. Đồng thời cũng là người vạch ra các chiến lược kinh doanh, lo đời sống cho cán bộ công nhân viên của công ty, chỉ đạo và ra các quyết định mệnh lệnh buộc cấp dưới phải thực hiện. Ngoài ra còn uỷ quyền cho hai phó giám đốc, giám đốc xí nghiệp thành viên và phải chỉ đạo trực tiếp tới các phòng ban và các xí nghiệp thành viên. - Phó giám đốc kỹ thuật có nhiệm vụ giúp đỡ giám đốc về mặt kỹ thuật như thiết kế, chế thử sản phẩm mới và xây đựng các định mức kinh tế kỹ thuật. - Phó giám đốc điều hành sản xuất có trách nhiệm giúp đỡ giám đốc điều trong việc tổ chức, điều hành, kiểm tra theo dõi quá trình sản xuất. - Phòng KCS: có trách nhiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm của từng công đoạn của quá trình sản xuất sản phẩm từ nguyên vật liệu đầu vào cho đến khi sản phẩm xuất kho. - Phòng kỹ thuật: phòng kỹ thuật có trách nhiệm xây dựng các định mức kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm, quy cách từng mặt hàng trước khi đưa vào sản xuất thử và sản xuất hàng loạt. Phòng còn phải nghiên cứu, thiết kế khuôn mẫu, cung cấp các bản vẽ, áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật mới để chế thử các sản phẩm mới, cái tiến những sản phẩm cũ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. 36
  37. 37. - Phòng kế hoạch kinh doanh: Có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm ngắn hạn và dài hạn của Công ty. Mặt khác nhiệm vụ của phòng còn phải cung cấp đầy đủ năng lực sản xuất cho công ty một cách kịp thời; tức là làm sao cho cân đối giữa vật tư, lao động và máy móc, thiết bị. Ngoài ra phòng còn có nhiệm vụ tham gia đấu thầu để tạo ra việc làm cho Công ty. -Phòng kế toán tài vụ: Phản ánh một cách toàn diện, liên tục và có hệ thống quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Phòng tài vụ đã phân công cụ thể từng phần việc như sau: * Kế toán trưởng có trình độ đại học tài chính kế toán phụ trách chung, đồng thời phải trực tiếp làm công tác giá cả, kế toán tài sản cố định, thu chi tài chính, kế hoạch tài chính. * Phó phòng kế toán tài vụ làm công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, kế toán thống kê tổng hợp và hạch toán kết quả tiêu thụ. * Ngoài ra còn có các nhân viên kế toán làm công tác vật liệu, công cụ lao động, theo thanh toán với người bán, kết quả sản xuất gia công và một thủ quỹ quản lý tiền. - Phòng hành chính: có nhiệm vụ về hành chính, văn thư và chăm lo đời sống trong khu tập thể của công ty. - Phòng tổ chức lao động và tiền lương: có chức năng tham mưu cho giám đốc về công tác tổ chức cán bộ và quản lý hành chính và quản trị. - Phòng Maketinh: có nhiệm vụ nghiên cứu thị trường, tìm và phát hiện nhu cầu mới, đồng thời giới thiệu sản phẩm của công ty trên thị trường và cung cấp cho các nhà quản lý những thông tin câp nhật giúp cho việc ra quyết định của người lãnh đạo được chính xác nhất, tận dụng được các thời cơ trên thị trường. 2.3. Đặc điểm lao động và tình hình chất lượng lao động của COMA7 Nhân tè con người luôn được Công ty coi trọng vì con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Đảm bảo về số lượng, chất lượng lao động cho 37
  38. 38. công việc sản xuất luôn được công ty đưa lên vị trí hàng đầu. Đặc thù của Công tác sản xuất máy móc, gia công các sản phẩm cơ khí đơn chiếc và sản phẩm cơ khí phi tiêu chuẩn, các sản phẩm đúc là rất vất vả và độc hại. Vì thế Công ty liên tục bố trí sao cho có được đội ngò cán bộ công nhân viên chính quy nòng cốt, có đủ trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật và tay nghề cao có đủ sức khoẻ để đảm nhiệm những công việc do Công ty giao phó. Cán bộ Công ty thấy rõ vai trò của người lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm và chất lượnglao động có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Trong quá trình hình thành và phát triển COMA 7 rất chú trọng đến việc đầu tư chiều sâu cho đội ngò cán bộ, công nhân của Công ty. COMA 7 không ngừng nâng cao tay nghề của người lao động thông qua giáo dục và đào tạo. Do đó, số lượng lao động của Công ty không có sự thay đổi đáng kể qua các năm nhưng chất lượng thì không ngừng lớn mạnh. Biểu 3 : Thu nhập bình quân của người lao động Chỉ tiêu Đvật tư 1999 2000 2001 Lao động Người 350 393 475 Thu nhập bq Người/tháng 650.000 700.000 750.000 Nguồn: p.TCLĐTL. Thực hiện nghị định 176/HĐBT công ty tiến hành sắp xếp lại lao động giải quyết quyền lợi cho người lao động nghỉ hưu, nghỉ mất sức. Hiện nay Công ty Cơ khí và Xây lắp số 7 có tổng số cán bộ công nhân viên 475 người. Lao động gián tiếp 125 người, chiếm 26.32%, lao động trực tiếp có 337 người, chiếm 70,95%. 38
  39. 39. Biểu 4: Phân bố lao động Lao động trực tiếp Lao động gián tiếp Nghỉ việc Tổng Số lượng (người) 337 125 13 475 % 70,95 26,32 2,73 100% Biểu đồ: Phân bố lao động. Biểu 5: Cơ cấu bậc thợ công nhân trong Công ty Cơ khí và Xây lắp số 7 Bậc thợ Số lượng (người) Tỷ lệ (%) < 3 22 6,53 3 165 48,96 4 68 20,18 5 60 17,80 6 18 5,34 7 4 1,19 Tổng 337 100% 39 70.95% 26.32% 2.73% L§ trùctiÕp L§ gi¸ n tiÕp NghØviÖc
  40. 40. Biểu 6 : Cơ cấu trình độ lao động của Công ty Trình độ Số lượng (người) Tỷ lệ (%) 1. Đại học, Cao đẳng 48 10,10 2. Trung cấp 56 11,79 3. Lao động phổ thông 371 78,11 Tổng sè 475 100% Biểu đồ: Cơ cấu trình độ lao động của Công ty. Qua bảng trên ta thấy các công nhân có tay nghề cao (từ bậc III) chiếm tỷ lệ cụ thể là 94.47 % điều này ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng sản phẩm, kéo theo sự tăng lương theo từng đơn vị sản phẩm. Công ty đã đảm bảo được việc là và thu nhập cho người lao động bình quân là 750.000/ tháng.công ty đã khuyến khích vật chất và tinh thần sáng tạo cho người lao động. Nhìn chungvới qu mô lao động như vậy của công ty là tương đối gọn nhẹ trình độ tay nghề công nhân cao đội ngò cán bộ quản lýcó trình độ thích hợp. Tuy nhiên, khả năng sử dung lao động chưa có hiệu quả sản xuất còn thấp. Để góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và vấn đề tiền lươngđượcđáp ứng đầy đủ 40 10.10% 11.79% 78.11% 1. §¹ i häc, Cao ®¼ng 2. Trung cÊp 3.L§ phæth«ng
  41. 41. kịp thời và ngày càng phát triển thì công ty cần tiếp tục đào tạo lại cán bộ, giảm bớt lao động gián tiếp thức sự làm cho bộ máy quản lý gọn nhẹ và linh hoạt. 2.4 Đặc điểm về máy móc thiết bị. Nhiệm vụ sản xúât của công ty là sản xuất ra các loại máy móc cắt gọt kim loại, thiết bị công nghệ, sản phẩm đúc, rèn, kết cấu thép và các phụ tùng thay thế. Thiết bị lắp đặt, chế tạo các máy và thiết bị đồng bộ, đơn chiếc và dịch vụ kỹ thuật trong lĩnh vực sản xuất công nghiệpvà kinh doanh vật tư. Máy móc trang thiết bị của công ty hầu hết là những máy liên Xô cũ chế tạo, ngoài ra công ty cũng có một số Ýt các loại máy của Tiệp, Đức, Ba lan; gồm các máy như: Máy doa toạ dé, máy phay, máy tiện CNN và máy Cẩu trục của Nhật Bản. Trong thời gian gần đây, công ty đã đầu tư thêm một số máy móc, thiết bị như Xe Cốu KATO, máy hàn tự động, máy cắt PLASMA, cầu trục một dầm của Nhật. Bảng thống kê các loại máy móc chủ yếu của COMA7. TT Tên máy móc thiết bị chính Số lượng (cái) Công suất (KW) Hao mòn (%) Năm chế tạo 1 Máy tiện 12 4 - 60 60 1970 2 Máy phay 23 4 - 16 55 1984 3 Máy mài 30 2 - 10 55 1956 4 Máy doa 25 4 - 16 70 1966 5 Máy khoan 4 2 - 10 65 1968 6 Máy búa 5 2 - 8 35 1966 7 Máy cắt đột 7 2 - 8 55 1967 8 Máy lốc tôn 3 10 - 40 55 1968 9 Máy hàn điện 20 5 - 10 58 1968 10 Máy bào 18 2 - 40 78 1960 11 Máy hàn hơi 9 5 - 20 56 1960 12 Máy nén khí 8 10 -75 45 1961 13 Cẩu trục 12 30 1956 14 Lò luyện thép 4 700- 1000 50 1966 15 Lò luyện gang 2 30 70 1966 16 Máy đo chiều dày sơn. 1 5 1998 41
  42. 42. 17 Máy hàn một chiều 1 5 5 1999 18 Đồng hồ C2H2 1 1999 Nguồn SL: Phòng kỹ thuật dự án Qua bảng số liệu trên cho chóng ta thấy: Số lượng máy móc thiết bị của công tylà khá lớn nhưng hầu hết đều đã cũ, lạc hậu, độ chính xác kém, thiếu đồng bộ. Điều này có ảnh hưởng đến quá trình sản xuất sản phẩm, đó cũng là nguyên nhân cơ bản làm cho sản phẩm của công ty không cạnh tranh trên thị trường về chất lượng, giá cả trong nước và trên thị trường ngoài nước. 2.4.1 Quy trình sản xuất sản phẩm chủ yếu của công ty. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm cơ khí: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm kết cấu thép: 42 Nguyªn vËt liÖu ChuÈn bÞ ph«i Gia c«ng c¬ khÝ L¾p r¸p Lµm s¹ch tríc khi s¬n ChuÈn bÞ ph«i Gia c«ng c¬ khÝ L¾p r¸p vµ hoµn thiÖn s¶n phÈm Nguyªn vËt liÖu
  43. 43. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm đúc: 43 Lµm s¹ch sau khi s¬n KiÓm tra tæng thÓ s¶n phÈm §ãng gãi, xuÊt xëng S¬n NÊu Rãt TuyÓn vËt liÖu (gang, s¾t vôn) Khu«nNghiÒn c¸t Ph¬i c¸t Sµng c¸t LÊy mÉu kiÓm tra Ra s¶n phÈm Lµm s¹ch T«i, luyÖn KiÓm tra chÊt l­îng s¶n phÈm NhËp kho KiÓm nghiÖm, nhËp kho
  44. 44. 2.4.2 Đặc điểm nguyên vật liệu. Nguyên vật liệu là đối tượng lao động được thể hiện dưới dạng vật hoá chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất nhất định và toàn bộ vật liệu được chuyển hoá hết một lần vào chi phí kinh doanh trong toàn bộ chu kỳ. Với mỗi doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thì tuỳ theo từng loại sản phẩm và quy trình công nghệ mà sử dụng các nguyên liệu khác nhau. Sản phẩm chính của doanh nghiệp là các loại phụ tùng vật liệu xây dựng và phụ tùng sản xuất Xi măng cho các nhà máy sản xuất Xi măng, kinh doanh vật tư thiết bị. Nguyên vật liệu chủ yếu của doanh nghiệp là các loại sắt, thép, và phế liệu. Ngoài ra còn có các loại phụ gia phục vụ cho quá trình sản xuất sản phẩm Đúc. Nguyên vật liệu của công ty chủ yếu được cung cấp bởi các khách hàng trong nước. Ngoài bạn hàng chính , cung cấp hầu hết các loại thép đề sản xuất hàng kết cấu 44
  45. 45. thép phi tiêu chuẩn công ty Gang thép Thái Nguyên, que hàn Việt Đức. Sắt thép phế liệu thu mua của các cá nhân. Các loại phụ gia phục vụ Đúc sản phẩm như quặng ở công ty trách nhiệm hữu hạn Tân An, khí cồn ở công ty thực phẩm Vạn Điển… Còn rất nhiều loại vật liệu phục vụ xây dựng khác như ; cát đá, Xi măng công ty mua của các Doanh nghiệp tư nhân, để thuận tiện cho quá trình vận chuyển , tiết kiệm được chi phí vận chuyển và phục vụ quá trình sản xuất kịp thời. 2.5 Đặc điểm về vốn của COMA 7 Đối với tất cả các doanh nghiệp vốn là môt yếu tố không thể thiếu được trong quá trình sản xuất, kinh doanh. công ty Cơ khí và Xây lắp số 7 là một doanh nghiệp Nhà nước, một đơn vị kinh tế độc lập hoạt động có tư cách pháp nhân. Trong thời gian tồn tại và hoạt động COMA7 luôn phát huy vai trò là nòng cốt trong ngành Cơ khí. Bằng nguồn vốn khá lớn của mình công ty đã tạo cho mình một thị trường khá lớn. Biểu 7: Một số chỉ tiêu tài chính của COMA 7. Đvt: 1000 Đồng STT Chỉ tiêu 1998 1999 2000 2001 1 Vốn kinh doanh 16.046.000 16.056.159 16.197.100 16.256.000 Vốn vay ngân hàng 114.256 126.256 3.488.000 3.756.000 Vốn ngân sách cấp 2.725.100 2.726.145 3.546.000 4.256.000 Vốn tự bổ sung 38.000 45.000 122.690 197.250 2 TSCĐ 6.751.145 7.456.156 7.374.857 12.456.120 Nguyên giá 6.183.145 6.856.156 6.637.857 11.564.120 Khấu hao 568.000 600.000 737.000 892.000 3 TSLĐ 7.493.156 7.621.100 6.456.150 6.890.256 Các khoản nợ phải thu 17.895 26.789 37.095 10.500 Hàng tồn kho 2.215.450 3.790.156 4.576.120 4.469.726 4 Giá trị tổng sản lượng 9.125.462 12.2654.154 16.291.348 29.018.000 5 Doanh thu 12.557.456 16.240.000 18.188.000 32.270.000 6 Khoản nép ngân sách 128.459 183.760 215.000 203.000 7 Lợi nhuận 46.568 51.282 80.000 247.000 45
  46. 46. II. Thực trạng chất lượng sản phẩm tại Công ty Cơ khí và Xây lắp số 7. 1. Hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm. Để phù hợp với quy mô của doanh nghiệp và tính chất đặc thù của sản phẩm công ty đã xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo sơ đồ sau đây: Sơ đồ 5: Hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm Từ sơ đồ ta thấy công ty có sự phối hợp chặt chẽ giữa giám đốc, phó giám đốc, phòng kỹ thuật dự án và tổ KCS trực thuộc phòng Kỹ thuật dự án ở tất cả các lĩnh vực của sản xuất. Trong đó giám đốc và phó giám đốc sản xuất là người chỉ đạo chung và chịu trách nhiệm chính về chất lượng của sản phẩm. Giám đốc công ty có trách nhiệm tổ chức thực hiện theo đúng hệ thống quản lý chất lượng đã xây dựng và ban hành. 46 Gi¸m ®èc Phã gi¸m ®èc sx Phßng kü thuËt dù ¸n Tæ KCS vµ c¸n bé KCS ë c¸c XN S¶n phÈ m míi M¸y mãc thiÕ t bÞ Hµng tr¶ l¹i Thµnh phÈm C¸c c«ng ®o¹n sx Nguyªn vËt liÖu
  47. 47. - Giám đốc phải có trách nhiệm xây dựng chính sách chất lượng của công ty phù hợp với chính sách chất lượng của Tổng công ty và phải chịu trách nhiệm cao nhất trước Tổng giám đốc Tổng công ty trong việc thực hiện hệ thống quản lý chất lượng. Mặt khác giám đốc có trách nhiệm chủ trì việc xem xét của lãnh đạo hàng năm về hệ thống quản lý chất lượng. Giải quyết cấc báo cáo của đại diện lãnh đạo về chất lượng, xem xét một cách có hệ thống hồ sơ chất lượng. - Phó giám kỹ thuật của Công ty được giao nhiệm vụ làm đại diện của lãnh đạo và có trách nhiệm cụ thể: • Chủ trì xây dựng kế hoạch chất lượng cho sản phẩm phù hợp với hệ thống quản lý chất lượng của công ty và Tổng công ty xây dựng. Chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện kiểm tra thử nghiệm, duyệt kế hoạch và tổ chức thực hiện việc. • Phòng kỹ thuật có trách nhiệm soạn thảo các thông số tiêu chuẩn cho từng công đoạn sản xuất, nghiên cứu các tiêu chuẩn cơ sở, tiêu chuẩn của Tổng công ty và truyền đạt xuống từng bộ phận. Ngoài ra phòng còn quản lý công nghệ sản xuất, sửa chữa máy móc nếu có hư háng và bảo dưỡng định kỳ, nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới, nghiên cứu cải tiến các bước công nghệ nhằm sử dụng ngày càng hợp lý và có hiệu quả hơn. Phòng kỹ thuật chịu trách nhiệm quản lý chất lượng sản phẩm và báo cáo với phó giám đốc phụ trách về kỹ thuật, từ đó báo cáo với giám đốc. • Tổ KCS có nhiệm vụ quản lý chất lượng nguyên vật liệu, chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất, phát hiện sai sót, báo cáo để giám đốc chỉ thị khắc phục, giám sát chất lượng thành phẩm khi xuất kho, kiểm tra kết luận nguyên nhân hàng hoá hay sản phẩm của công ty bị trả lại. Cán bộ kiểm tra của 5 người đều được đào tạo từ duới cấc bộ phận sản xuất trực tiếp. Cho nên họ rất hiểu quá trình sản xuất của công ty. 2. Tình hình chất lượng sản phẩm kết cấu thép phi tiêu chuẩn. 47
  48. 48. Sản phẩm kết cấu thép, đặc biệt là sản phẩm kết cấu thép phi tiêu chuẩn là một thế mạnh của công ty so với các Công ty Cơ khí cùng thuộc bộ Xây dựng. Do công ty có mặt bằng sản xuất rộng lớn, xa trung tâm thành phố. Sản phẩm kết cấu thép nó không có những chỉ tiêu chất lượng cố định. Với mỗi một loại sản phẩm thì sẽ có những chỉ tiêu tương ứng. Vì thế để đảm bảo chất lượng của sản phẩm kết cấu thép phi tiêu chuẩn, công ty dùa trên quy trình sản xuất sản phẩm kết cấu thép để kiểm soát chất lượng. 48
  49. 49. Sơ đồ dòng chảy: Quy trình kiểm tra chất lượng sản phẩm phi tiêu chuẩn. 49 KiÓm tra c«ng ®o¹n chuÈn bÞ ph«i. KiÓm tra qu¸ tr×nh cung øng vËt t­ KiÓm tra c«ng ®o¹n gia c«ng c¬ khÝ KiÓm tra c«ng ®o¹n g¸ hµn. KiÓm tra c«ng ®o¹n hµn s¶n phÈm. KiÓm tra c«ng ®o¹n lµm s¹ch KiÓm tra bÒ mÆt SP sau khi s¬n. KiÓm tra tæng thÓ s¶n phÈm KiÓm tra ®ãng gãi, xuÊt x­ëng.
  50. 50. Mỗi công đoạn trong việc sản xuất sản phẩm phi tiêu chuẩn đều rất quan trọng và có ảnh hưởng lớn việc sản phẩm sản xuất ra có đạt chất lượng hay không. 2.1 Kiểm tra quá trình cung ứng vật tư. Việc cung ứng vật tư cho quá trình sản xuất hoặc theo công đoạn sản xuất phải được thể hiện qua các tài liệu kiểm tra cụ thể. • Chứng chỉ về sự chấp hành theo đơn hàng. công ty cần phải có đầy đủ giấy tờ chứng minh nguồn gốc nguyên vật liệu và chủng loại vật liệu bằng văn bản hoặc hoá đơn mua hàng. • Báo cáo kiểm tra và chứng chỉ chất lượng vật liệu của Nhà chế tạo hoặc chứng chỉ thử nghiệm của cơ quan chức năng có thẩm quyền. • Trong quy định này nhà chế tạo phải báo cáo kết quả kiểm tra theo biểu mẫu COMA 7 - BM 30 ( báo cáo kết quả kiểm tra vật tư). nếu không thì Nhà cung cấp phải cho thấy là mình có chứng chỉ vật liệu hoặc kết quả thử nghiệm của cơ quan chức nâng có thẩm quyền; như kết quả kiểm tra cơ, lý, hoá của vật liệu nếu có thể hay bắt buộc nếu khách hàng yêu cầu. • Trong trường hợp vật liệu đặc biệt, đòi hỏi cần phải có các bước kiểm tra đặc biệt khác theo yêu cầu của bên khách hàng hoặc bên tư vấn để lập hồ sơ. 2.2 Kiểm tra công đoạn chuẩn bị phôi. Đây là nguyên công tiếp theo của quá trình sản xuất, bao gồm: • Đúc rèn, dập tạo phôi. • Vát mép theo tiêu chuẩn, chuẩn bị triển khai khi hàn. Trong quá trình này người kiểm tra hay cán bộ KCS của các Xí nghiệp thành viên hoặc tổ KCS của công ty phải thể hiện được theo các yêu cầu các bản vẽ cụ thể như: • Độ phẳng. • Độ vuông góc. 50
  51. 51. • Độ song song. • Các kích thước trong bản vẽ. • Vát mép các chi tiết cho mối hàn theo tiêu chuẩn quy định. • Báo cáo kết quả chuẩn bị phôi, cắt phôi theo yêu cầu của bản vẽ. Trong báo cáo nếu không có khả năng thể hiện hết tất cả các thông số kỹ thuật của quá trình kiểm tra thì phải có các sơ đồ hoặc bản vẽ phôi kèm theo. Chính vì vậy công đoạn chuẩn bị phôi luôn đáp ứng được yêu cầu của công đoạn tiết theo trong quá trình sản xuất các chi tiết của sản phẩm phi tiêu chuẩn. 2.3 Kiểm tra công đoạn gia công cơ khí. Mỗi mét chi tiết của một sản phẩm cơ khí phi tiêu chuẩn qua nguyên công cơ khí đều có phiếu kiểm tra cụ thể. Chứng tỏ sự tuân thủ theo yêu cầu của hệ thống quản lý chất lượng của công ty. Trong mỗi phiếu kiểm tra quy định rõ các mục kiểm tra bao gồm. • Các yêu cầu kỹ thuật cụ thể. • Dung sai cho phép. Các sản phẩm hay chi tiết của sản phẩm phi tiêu chuẩn trong quá trình sản xuất đều có một hệ số dung sai cho phép theo biểu dưới đây: Biểu 8 : Dung sai cho phép Kích thước chi tiết (cm) <100 100-400 400-1000 1000-2000 >2000 Dung sai cho phép (cm) ±1 ±1 ±2 ±3 ±4 Nguồn : p KTDA. 51
  52. 52. Tuỳ mức độ phức tạp và các yêu cầu kỹ thuật cụ thể của chi tiết mà trong báo cáo của cán bộ KCS của công ty cũng như của các Xí nghiệp thành viên phẩi kèm theo bản vẽ kỹ thuật của công đoạn này và có thêm biểu mẫu cho thích hợp. 2.4 Kiểm tra công đoạn gá hàn. Sau khi gá toạ hình để hàn phải tiến hành kiểm tra cẩn thận. Bởi vì nếu chi tiết được hàn vào mà lại chưa được kiểm tra kỹ càng dẫn đến sai háng thì công việc sửa chữa là rất phức tạp, có thể gây lãng phí nguyên vật liệu, nguyên công để sản xuất chi tiết. Đôi khi với những nguyên vật liệu quý của bên khách hàng, nếu làm háng công ty phải đền bù gây thiệt hại lớn. Vì thế trước khi thực hiện gá hàn phải tiến hành kiểm tra và có phiếu kiểm tra cụ thể và chi tiết. Bao gồm • Các kích thước ghi trong bản vẽ. • Các yêu cầu kỹ thuật cụ thể. • Dung sai cho phép. • Khe hở gá hàn theo tiêu chuẩn. • Khi có kết luận theo yêu cầu của các thành phần kỹ thuật mới tiến hành hàn chính thức. Tuỳ mức độ phức tạp và yêu cầu kỹ thuật cụ thể của chi tiết mà trong báo cáo phải kèm theo bản vẽ và có thêm biểu mẫu để đối tác dễ kiểm soát cũng như quản lý cấp cao của công ty dễ dàng xem xét. 2.5 Kiểm tra công đoạn gá hàn. Sau khi hàn hoàn chỉnh sản phẩm tiến hành kiểm tra sản phẩm theo một biểu mẫu nhất định được quy định trong công ty, có sự giám sát của bên tư vấn hoặc chủ hàng trước khi được chuyển sang công đoạn tiếp theo. Những mối hàn đặc biệt quan trọng khi có yêu cầu của bên tư vấn hoặc theo đơn hàng của khách hàng mà phải kiểm tra bằng các biện pháp như: • Kiểm tra bằng bột từ. • Kiểm tra bằng siêu âm. 52
  53. 53. • Kiểm tra bằng tia X- Ray (chụp ảnh phóng xạ)… 2.6 Kiểm tra công đoạn làm sạch trước khi sơn mạ. Kiểm tra việc làm sạch bề mặt trước khi sơn mạ phải đảm bảo theo yêu cầu kỹ thuật đã chi định trong bản vẽ thiết kế của sản phẩm theo một phương pháp nhất định. công ty sử dụng các phương pháp làm sạch chủ yếu sau: • Phương pháp làm sạch bằng các chất khí. • Phương pháp làm sạch thủ công như bằng chổi sắt, giấy ráp… • Phương pháp làm sạch bằng ngâm trong dung dịch. Ngoài ra, công ty còn kiểm tra độ sạch theo yêu cầu của các thiết kế. 2.7 Kiểm tra bề mặt sản phẩm sau khi sơn, mạ. Để đảm bảo chất lượng sản phẩm sản xuất ra, công ty còn thực hiện khâu kiểm tra bề mặt sản phẩm sau khi sơn mạ. Dùa vào yêu cầu kỹ thuật của sản phẩm, chi tiết sản xuất đã được thể hiện trong bản vẽ thiết kế. Khâu kiểm tra này bao gồm: • Vật liệu sợn mạ theo hợp đồng; về màu sắc, chủng loại sơn… • Phương pháp sơn mạ. Phương pháp thủ công . Phương pháp sơn bằng máy. Phương pháp sơn tĩnh điện. Thực hiện quá trình sơn trong phòng chân không. • Độ bám dính của líp sơn khô. • Chiều dày líp sơn khô, phủ đều, bám chắc. • Chất lượng bề mặt của các chi tiết sơn, mạ không bong phồng, gai, è. Dưới đây là phiếu kiểm soát: Chiều dày líp sơn mặt ngoài của sản phẩm KCT phi tiêu chuẩn. 53
  54. 54. Phiếu kiểm soát: Chiều dày líp sơn mặt ngoài sản phẩm Lọc bụi Bỉm Sơn. - Tháng 3/2002. N =10 ( thể hiện số lần thực hiện phép đo). K = 10 (sè chi tiết của sản phẩm). Đvt: µm. Chi tiết 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 X R 1 20 21 27 28 23 24 20 21 22 24 24.3 9 2 19 31 25 26 25 26 23 26 22 24 25.6 12 3 24 31 26 27 25 24 19 25 27 24 23.4 8 4 20 21 24 23 22 20 19 21 26 19 22.8 8 5 26 28 22 21 20 21 19 24 22 20 23.7 8 6 22 21 20 31 19 19 22 19 23 21 22.9 12 7 21 32 20 19 21 24 25 23 24 21 23.0 8 8 24 23 24 18 22 23 25 26 27 32 24.4 8 9 20 21 21 23 20 23 21 22 21 20 22.4 7 10 19 20 27 22 24 21 23 22 19 20 22.8 8 Tổng 23.79 8.8 • Hàng tháng thông qua phiếu kiểm soát đo chiều dày sơn. Cán bộ KCS của công ty có dùng phương pháp biểu đồ X - R để kiểm soát tình hình biến động các líp sơn trên các sản phẩm kết cấu thép (KCT) phi tiêu chuẩn. Với bảng số liệu trên ta lập được biểu đồ sau: Với Xi = Σxij/n X = Σ x i /k = 2379/10 = 23,79 Ri = Xij max - Xij min ; R = Σ Ri / k =88/10 = 8,8 Vì n = 10 ta có: A = 0.310; D3 = 0.220; D4 = 1.780 Giới hạn trên của mẫu: UCL x = X + A* R = 23,79 + 0,310*8,8 = 26,43 Giới hạn dưới của mẫu: LCL x = X - A* R = 23,79 - 0,310*8,8 = 22,16 Với biểu đồ R ta có : 54
  55. 55. UCL = D2.R = 1,78*8,8 = 15,664 LCL = D1.R = 0,220*8,8 = 1,936 Biểu đồ kiểm soát X - R. 55 20 21 22 23 24 25 26 27 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 GHT X GHD 0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 GHD R GHT
  56. 56. • Nhận xét: Với biểu đồ kiểm soát kết quả sơn tháng 3/2002 ta thấy: trên biểu đồ x có hai điểm năm ngoài giới hạn trên chứng tỏ chiều dày líp sơn biến động quá cao so với yêu cầu thực tế và không kiểm soát được. • Đối với biểu đồ R thì các giá trị đều nằm trong khoảng giới hạn trên và giới hạn dưới nhưng lại có 3 điểm liên tiếp năm trên một đường thẳng. Do đó không kiểm soát được. • Nhờ có việc kiểm soát kết quả sơn theo biểu đồ X - R mà hoạt động sơn các mặt của sản phẩm KCT phi tiêu chuẩn luôn luôn đáp ứng được yêu cầu của bạn hàng. 2.8 Kiểm tra tổng thể sản phẩm và lập biên bản nghiệm thu xuất xưởng. • Sau khi chế tạo hoàn chỉnh sản phẩm, Ban quản lý chất lượng của công ty đề nghi chủ nhiệm của dự án, nghiệm thu kiêmtra tổng hợp sản xuất và ghi hồ sơ kết quả kiểm tra theo biểu mẫu quy định và phát hành hoá đơn xuất xưởng. 2.9 Kiểm tra đóng gói. • Tuỳ loại sản phẩm mà có các yêu cầu đóng gói cụ thể. Bước này được thực hiện trước khi lưu kho hoặc vận chuyển. Trong biên bản phải có sơ đồ kèm theo cho những chi tiết phức tạp về kích thước, hình dáng theo biễu mẫu BM 39 (kết quả kiểm tra đóng gói). • Qua các bước kiểm tra chất lượng sản phẩm phi tiêu chuẩn. Cho thấy công tác quản lý chất lượng của công ty, cũng như ở dưới các Xí nghiệp thành viên chủ yếu chú trọng vào công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm và coi đây là tiêu chí để là cho sản phẩm của công ty tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của bạn hàng. • Do vậy, Công ty cần phải quan tâm hơn nữa đến khâu kiểm soát và cải tiến thiết bị đo lường. Mặt khác cũng để theo kịp xu hướng hội nhập sắp tới, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm và là bước chuẩn bị cho cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. 56
  57. 57. • Trong thời gian qua, Công ty đã đạt được một số thành quả đáng khích lệ đối với việc sản xuất mặt hàng kết cấu thép phi tiêu chuẩn. Sản lượng thép phi tiêu chuẩn không ngừng tăng cả về số lượng lẫn giá trị trong những năm gần đây. Đóng góp vào sự tăng trưởng của Công ty. Biểu 9 : Giá trị sản lượng sản phẩm kết cấu thép. Chỉ tiêu Đvt 1999 2000 2001 2002 (KH) Sản lượng Tấn 1.049 1.243 1.397,8 1.800 Doanh thu sản xuất CN Tr.đ 14.083 15.820 18.540 19.000 Biểu 10 : Tỷ lệ sai háng một số năm của sản phẩm KCT phi tiêu chuẩn. Năm Chi phí sản xuất sản phẩm (tr.đ) Chi phí sản phẩm háng (tr.đ) Tỷ lệ sai háng (%) (1) (2) (3) (4) = (3)/(2)*100 1998 11.856 0.294 2.48 1999 12.225 0.2848 2.33 2000 13.688 0.2765 2.02 2001 17.540 0.2561 1.46 Nguồn tài liệu: p KTDA. • Mặc dù tỷ lệ sai háng rất nhỏ, trung bình khoảng (2.48+2.33+2.02+1.46)/4=2.07(%) nhưng chi phí cho sản phẩm lại khá cao trung bình mỗi năm Công ty mất khoảng 277,85 triệu đồng vì sản phẩm không đạt chất lượng cho phép. Những chi phí sản phẩm háng ở Công ty chủ yếu chi phí cho các khoản sau: • Chi phí thay thế phụ tùng, linh kiện, đền bù cho bạn hàng. • Chi phí trả cho nhân công làm lại. 57
  58. 58. • Chi phí đền bù do làm chậm tiến độ, đền bù do không thoả mãn kịp thời những yêu cầu trong hợp đồng. • Chi phí cho nguyên vật liệu phục vụ quá trình làm lại sản phẩm(ví dụ như : sơn các loại, que hàn…). Tỷ lệ sai háng trong năm 2001 của mặt hàng kết cấu thép phi tiêu chuẩn của công ty đã giảm xuống đáng kể so với năm 2000 và những năm trước nữa. Chứng tỏ việc thực hiện các yêu cầu, thủ tục theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9002: 1994 đã đem lại những kết quả bước đầu trong công tác giảm tỷ lệ chi phi sai háng trong tổng chi phí sản xuất sản phẩm thép phi tiêu chuẩn 3. Tình hình chất lượng sản phẩm bị đạn. Bi đạn là một mặt hàng mang tính truyền thống của công ty trong thời gian trước đây cũng như trong giai đoạn hiện tại. công ty đã giao cho Xí nghiệp Đúc và Kinh doanh vật tư thiết bị phụ trách sản xuất. Chủng loại bi đạn do công ty sản xuất rất đa dạng. Bi đạn của công ty cung cấp cho các Xí nghiệp sản xuất Xi măng thuộc tổng công ty Xi Măng Việt Nam, công ty than, Nhà máy điện Cẩm phả… Biểu 11 : Chủng loại bi Công ty sản xuất. Chủng loại bi Đường kính (Φ) 1 90 2 80 3 70 4 50 5 25 Nguồn : Xí nghiệp Đúc và kinh doanh vật tư thiết bị. 3.1 Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng bi. 58
  59. 59. 3.1.1 Các đặc tính cơ lý. Bi đạn là kết quả của quy trình đúc. Chịu ảnh hưởng của các nhân tố mang tính lý học sau; • Độ cứng, độ cứng tiêu chuẩn của các loại bi từ 55 - 62 HRC (HRC là sai số giữa độ cứng bề mặt và lỗi bi; sai sè HRC < 2). • Dung sai kích thước hình học ≤ 2 mm. • Bi không bi nứt. • Cấu trúc tế vi: cacbít trên Mactexnít. • Tỷ lệ vỡ cho phép ≤ 2%. • Độ hao mòn cho phép 150g/tấn nguyên vật liệu nghiền. • Bề mặt của bi không bị rỗ. • Đảm bảo khối lượng riêng 3.1.2 Các đặc tính hoá học của bi đạn. Mặc dù với các chủng loại bi đạn khác nhau, nhưng chúng đều có thành phần hoá học như nhau. Chủng loại bi khác nhau đó là sự khác nhau về hình thức. Điển hình ở đây là sự khác nhau về đường kính các loại bi.Thành phần hoá học của bi là nhân tố chủ yếu gây ra sản phẩm háng hay là đạt yêu cầu. Ngoài ra, chất lượng bi đạn còn phụ thuộc một phần nhỏ vào điều kiện của môi trường. Thành phần hoá học chủ yếu của bi đạn bao gồm: • C từ 1,8 - 2,5 %. • Cr từ 15 - 17 %(đây là thành phần quan trọng nhất quyết định đến chất lượng của bi đạn) • Mn ≤ 0,6 %. • Si ≤ 0,6 %. • P + S ≤ 0,6 %. 59

×