Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.
Upcoming SlideShare
Dạy học những ứng dụng kĩ thuật trong Vật lý
Next
Download to read offline and view in fullscreen.

0

Share

Download to read offline

Tàu đệm từ

Download to read offline

Related Books

Free with a 30 day trial from Scribd

See all

Related Audiobooks

Free with a 30 day trial from Scribd

See all
  • Be the first to like this

Tàu đệm từ

  1. 1. Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM Khoa Vật lý Chuyên đề Điện học Họ và tên: Nguyễn Lê Anh MSSV: K36.102.012 I. Giới thiệuT àu đệm từ (tiếng Anh: Magnetic levitation transport, hay maglev) là một phương tiện chuyên chở được nâng lên,dẫn lái và đẩy tới bởi lực từ hoặc lực điện từ.Phương pháp này có thể nhanh và tiện nghi hơncác loại phương tiện công cộng sử dụng bánh xe,do giảm ma sát và loại bỏ các cấu trúc cơ khí.Tàu đệm từ có thể đạt đến tốc độ ngang với máybay sử dụng động cơ cánh quạt hay phản lực; tứclà tới khoảng 500 đến 580 km/h. Tàu đệm từ đãđược sử dụng trong thương mại từ 1984. Tuynhiên, các giới hạn về khoa học và kinh tế đãcản trở sự phát triển của kỹ thuật mới này. Tàu đệm từ JR-Maglev ở Yamanashi, Nhật Bản (11/2005) Kỹ thuật nâng bằng lực từ không có gì trùng lặp với kỹ thuật tàu sử dụng bánh xe và dovậy không tương thích với đường ray xe lửa truyền thống. Do không sử dụng chung các cơ sởhạ tầng đang hiện có, tàu đệm từ phải được thiết kế với một hệ thống giao thông hoàn toànmới. Thuật ngữ "tàu đệm từ" không chỉ đơn thuần chỉ đến phương tiện chuyên chở mà cònbao gồm cả sự tương tác giữa tàu và đường ray; mỗi cái được thiết kế đặc biệt tương thích lẫnnhau để tạo ra lực nâng và điều khiển chính xác việc nâng lên và đẩy tới bằng lực điện từ. Bởi vì không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa đường ray và tàu, nên chỉ có lực ma sát giữacon tàu và không khí. Do đó, tàu đệm từ có khả năng di chuyển với vận tốc rất cao, tiêu tốn ítnăng lượng và có thể gây ra ít tiếng ồn. Các hệ thống đã được đề nghị có thể hoạt động vớivận tốc lên đến 650 km/h, nhanh hơn nhiều lần so với tàu hỏa truyền thống. Tốc độ rất caocủa tàu đệm từ làm chúng có thể cạnh tranh với các đường bay dưới 1.000 kilômét. Ứng dụngthương mại đầu tiên trên thế giới của tàu đệm từ cao tốc là tuyến thử nghiệm ở Thượng Hải(IOS, initial operating segment) vận chuyển hành khách trên quãng đường dài 30 km từ thànhphố đến sân bay chỉ trong 7 phút 20 giây (tốc độ cao nhất là 431 km/h, tốc độ trung bình 250km/h). Các dự án tàu đệm từ khác trên thế giới đang được nghiên cứu về tính khả thi. Trang 1/4
  2. 2. II. Tổng quan Thuật ngữ “tàu đệm từ” không phải chỉ đề cập riêng đến loại phương tiện tàu mà nó là cảmột hệ thống gồm tàu và đường ray có cấu tạo rất tốt với thiết kế bằng động cơ từ trường đẩyđể nâng tàu lên. Kỹ thuật tàu nâng bằng lực từ không có gì trùng lặp với kỹ thuật tàu sử dụngbánh xe và do vậy không tương thích với đường ray xe lửa truyền thống. Có hai loại công nghệ “tàu đệm từ” đang được chú ý đặc biệt hiện nay: v EMS (Electromagnetic suspension): Nam châm điện được điều khiển bằng điện từ trong tàu để hút nó vào đường ray có từ tính (thường là thép). v EDS (Electrodynamic suspension): Sử dụng nam châm siêu dẫn hoặc nam châm vĩnh cửu mạnh để tạo ra một từ trường gây ra dòng điện trong dây dẫn kim loại gần đó, khi có sự chuyển động tương đối với việc đẩy và kéo tàu chạy cùng với việc bay lên dựa trên thiết kế của đường dẫn. Một công nghệ thử nghiệm đã được thiết kế, chứng minh về mặt toán học, xem xét kĩlưỡng và cấp bằng sáng chế, nhưng chưa được xây dựng, đó là công nghệ giảm xóc nhờ lựctừ MDS (Magnetodynamic suspension), trong đó sử dụng lực hút từ tính của một hệ thốngnam châm vĩnh cửu lắp đặt cạnh đường ray bằng thép để nâng tàu lên và giữ nó tại chỗ. Cáccông nghệ khác như nam châm vĩnh cửu có tính đẩy và nam châm siêu dẫn cũng đã đượcnghiên cứu.III. Đường ray tàu đệm từ (Track Maglev) và nguyên lý hoạt động Các cuộn dây từ hóa chạydọc theo đường ray, được gọilà một đường dẫn, đẩy lùi cácnam châm lớn trên bánh đápcủa tàu, cho phép tàu bay lêntừ 0,39 đến 3,93 inch (từ 1đến 10 cm) trên đường dẫn.Khi tàu bay lên, năng lượngđược cung cấp cho các cuộndây trong các đường dẫn đểtạo ra một hệ thống duy nhấtcủa từ trường kéo và đẩy tàu dọc theo đường dẫn. Dòng điện cung cấp cho các cuộn dâytrong các đường dẫn liên tục luân phiên thay đổi cực của các cuộn dây từ hóa. Sự thay đổicực này gây ra từ trường ở phía trước con tàu để kéo tàu về phía trước, trong khi từ trườngphía sau tàu tăng thêm lực đẩy về phía trước cho tàu. Tàu đệm từ là loại tàu di chuyển trên không khí, do đó, nó giảm được lực ma sát rất nhiềuso với các con tàu bình thường, lực ma sát chủ yếu ở đây là lực ma sát không khí. Với thiếtkế khí động lực để giảm ma sát không khí, con tàu có thể đạt tốc độ hơn 310 mph (500 km/h),gấp hai lần con tàu siêu tốc nhanh nhất hiện nay là Amtrak, hay là một chiếc Boeing – 777 sửdụng cho các chuyến bay xa với tốc độ 562 mph (905 km/h). Với tốc độ 310 mph thì bạn cóthể đi từ Paris đến Rome chỉ mất khoảng 2 giờ đồng hồ. Trang 2/4
  3. 3. Đức và Nhật Bản là hai quốc gia đang chạy thử nghiệm loại tàu đệm từ này. Mặc dù dựatrên những tính chất tương tự nhưng hai loại tàu của hai quốc gia là có sự khác biệt rõ rệt. v Ở Đức, các kĩ sư thiết kế hệ thống EMS. Trong hệ thống này, dưới đáy tàu sẽ được quấn các vòng thép. Nam châm điện sẽ hút trực tiếp các bánh đáp của con tàu làm cho con tàu chuyển động về phía trước đường dẫn, nó làm cho con tàu bay lên với khoảng cách 1/3 inch (1 cm) và giữ con tàu bay lên ngay cả khi nó dừng chuyển động. Một nam châm khác sẽ đặt trong con tàu để giữ nó ổn định trong suốt quá trình chuyển động. Đức đã khẳng định con tàu đệm từ Transrapid của họ có thể đạt tới 300 mph khi có người trên tàu. v Trong khi đó, các kĩ sư Nhật Bản đang phát triển hệ thống EDS. Sự khác nhau cơ bản của Nhật Bản so với Đức chính là họ sử dụng hệ thống làm mát bằng vật liệu siêu dẫn. Loại nam châm điện có thể cung cấp điện ngay cả khi nguồn điện đã tắt. Trong hệ thống EMS của Đức, sử dụng các nam châm điện tiêu chuẩn, các cuộn dây chỉ có thể dẫn điện khi nguồn điện cung cấp dòng điện chạy qua. Bằng cách làm lạnh hệ thống ở nhiệt độ siêu dẫn, hệ thống của Nhật Bản sẽ rất tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên, chi phí của nó thì lại không rẻ một chút nào. Một sự khác biệt nữa đó là hệ thống tàu đệm từ của Nhật Bản có thể bay lên gần 4 inch (10 cm) trên đường dẫn. Tuy nhiên, một trở ngại với hệ thống EDS là con tàu phải được cuộn trên các lốp cao su cho đến khi tốc độ cất cánh là 62 mph (100 km/h). Các kĩ sư Nhật Bản nói rằng các bánh xe là một ưu điểm nếu xảy ra hiện tượng mất điện cho toàn bộ hệ thống, trong khi đó tàu Transrapid của Đức được trang bị với một pin điện trong các trường hợp khẩn cấp. Ngoài ra, các hành khách sẽ có một thiết bị bảo vệ tránh tác hại của các từ trường do nam châm điện siêu dẫn gây ra. Nam châm vĩnh cửu trước đó đã không được sử dụng bởi vì các nhà khoa học nghĩ rằngchúng sẽ không tạo ra đủ lực từ để nâng. Tuy nhiên, thiết kế Inductrack đã làm thay đổi bằngcách sắp xếp các nam châm trong một mảng Halbach. Các nam châm được định hình sao chocác cường độ của từ trường tập trung ở trên mảng thay vì ở dưới. Chúng được làm từ một loạivật liệu mới bao gồm một hợp kim Nd – Fe – Bo tạo ra một loại có từ tính cao hơn.Inductrack II thiết kế kết hợp hai mảng Halbach để tạo ra một từ trường mạnh hơn với tốc độchậm. Trang 3/4
  4. 4. IV. Nhận xét Tóm lại, tàu được nâng lên và được đẩy về phía trước, khi đó các thanh nam châm của tàuvà đường lại khác cực, nếu tiếp tục như vậy thì tàu sẽ bị hút xuống , không chuyển độngđược. Như lúc đầu đã nói, tàu được gắn các thanh nam châm điện, nên khi đó dòng điện sẽđổi cực để các thanh nam châm trên tàu đổi cực theo, lại cùng cực với thanh nam châm củađường ray và được nâng lên, đẩy tới . Quá trình được thực hiện liên tục và rất nhanh nên tàuchạy rất êm và nhanh . Tàu chạy bằng đệm từ là một phương tiện rất hữu ích trong tương lai, nó có thể chạy vớitốc độ ngang bằng tốc độ máy bay, giảm được thiệt hại do ma sát trượt gây ra trên đường ray,ngoài ra còn tránh gây ô nhiễm tiếng ồn cho môi trường xung quanh, tiết kiệm năng lượngkhá nhiều, chỉ bằng khoảng 50% năng lượng của máy bay hiện nay. Tuy nhiên, dự án mới chỉmang tính thử nghiệm ở một số nước và độ an toàn chưa được đảm bảo chắc chắn, cho nênvẫn cần mất thêm thời gian để tính khả thi cao hơn. Chi phí làm ra con tàu và hệ thống đườngray cũng khá tốn kém, không phải nước nào cũng có điều kiện phát triển. Hi vọng trongtương lai gần, hệ thống tàu đệm từ sẽ xuất hiện trên thế giới nhiều hơn và trong đó có ViệtNam.V. Tài liệu tham khảo 1. http://en.wikipedia.org/wiki/Maglev 2. http://science.howstuffworks.com/transport/engines-equipment/maglev-train.htm 3. http://z14.invisionfree.com/chauvanliem/ar/t97.htm 4. http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A0u_%C4%91%E1%BB%87m_t%E1%BB%A B -------------------Hết------------------ Trang 4/4

Views

Total views

8,139

On Slideshare

0

From embeds

0

Number of embeds

415

Actions

Downloads

125

Shares

0

Comments

0

Likes

0

×