[Yrc] tiem nang phat trien loai hinh du lich van hoa o vung mien nui lao cai

6,974 views

Published on

3 Comments
2 Likes
Statistics
Notes
  • Dịch vụ làm luận văn tốt nghiệp, làm báo cáo thực tập tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp, tiểu luận, khóa luận, đề án môn học trung cấp, cao đẳng, tại chức, đại học và cao học (ngành kế toán, ngân hàng, quản trị kinh doanh…) Mọi thông tin về đề tài các bạn vui lòng liên hệ theo địa chỉ SĐT: 0973.764.894 ( Miss. Huyền ) Email: dvluanvan@gmail.com ( Bạn hãy gửi thông tin bài làm, yêu cầu giáo viên qua mail) Chúng tôi nhận làm các chuyên ngành thuộc khối kinh tế, giá cho mỗi bài khoảng từ 100.000 vnđ đến 500.000 vnđ
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • sao tai ve day ban
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
  • rat sau sac. cam on.
       Reply 
    Are you sure you want to  Yes  No
    Your message goes here
No Downloads
Views
Total views
6,974
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
3
Actions
Shares
0
Downloads
96
Comments
3
Likes
2
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

[Yrc] tiem nang phat trien loai hinh du lich van hoa o vung mien nui lao cai

  1. 1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG ---------o0o--------- CÔNG TRÌNH DỰ THI GIẢI THƯỞNG“SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC” NĂM 2010TÊN CÔNG TRÌNH: “TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA Ở VÙNG MIỀN NÚI LÀO CAI” Thuộc nhóm ngành: XH2b HÀ NỘI, THÁNG 7 NĂM 2010
  2. 2. 82 MỤC LỤCLỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG............................................................................... 3 1.1. Du lịch văn hóa ..................................................................................................... 3 1.1.1. Khái niệm du lịch văn hóa ............................................................................. 3 1.1.2. Đặc điểm của du lịch văn hóa ........................................................................ 5 1.2. Đặc điểm của vùng miền núi Lào Cai phù hợp với loại hình du lịch văn hóa ..... 7 1.2.1. Đặc điểm tự nhiên. ......................................................................................... 7 1.2.2. Đặc điểm văn hóa ........................................................................................ 10CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI LÀO CAI . 15 2.1. Tình hình du lịch văn hóa tại Lào Cai ................................................................ 15 2.1.1 Mô hình “Du lịch lễ hội” tại Lào Cai ........................................................... 16 2.1.2. Mô hình du lịch “Homestay” (Du lịch cộng đồng) tại Lào Cai ................... 23 2.2. Những khó khăn, tồn tại và tiềm năng của du lịch văn tại Lào Cai .................... 27 2.2.1. Tiềm năng phát triển các mô hình du lịch văn hóa tại Lào Cai ................... 27 2.2.2 Những khó khăn, tồn tại của du lịch văn hóa tại Lào Cai ............................ 31 2.3 Ảnh hưởng của du lịch văn hóa đối với tỉnh Lào Cai .......................................... 39 2.3.1 Ảnh hưởng tích cực của du lịch văn hóa đối với Lào Cai ............................ 39 2.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực của du lịch văn hóa đối với Lào Cai ............................ 43CHƯƠNG III GIẢI PHÁP VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHO LOẠI HÌNH DU LỊCHVĂN HÓA TẠI LÀO CAI............................................................................................. 49 3.1. Chính sách của UBND tỉnh Lào Cai về dịch vụ du lịch tại địa phương ............. 49 3.1.1. Định hướng phát tại Lào Cai của UBND tỉnh Lào Cai nhằm phát triển dịch vụ du lịch tại Lào Cai............................................................................................. 49 3.1.2. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch tại Lào Cai. .............. 50Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  3. 3. 83 3.2. Hướng phát triển cho loại hình du lịch văn hóa tại Lào Cai. .............................. 51 3.2.1. Du lịch làng nghề truyền thống ................................................................... 51 3.2.2. Du lịch lễ hội ............................................................................................... 53 3.2.3. Du lịch cộng đồng ........................................................................................ 54 3.3. Giải pháp khắc phục những khó khăn và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của loại hình du lịch văn hóa tại Lào Cai ......................................................................... 56 3.3.1. Các giải pháp khắc phục những khó khăn ................................................... 56 3.3.2. Các giải pháp hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực ....................................... 62KẾT LUẬN....................................................................................................................69PHỤ LỤC 1: PHONG TỤC - LỄ HỘI Ở TỈNH LÀO CAI...............................................iPHỤ LỤC 2: CÁC CHỢ VĂN HÓA Ở TỈNH LÀO CAI..............................................viiTÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................xiiDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  4. 4. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮTTừ viết tắt Nội dung hoàn chỉnhCTDLVCN Chương Trình du lịch về cội nguồnFEI Chương trình “Khám phá Fansipan”MICE Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm)SVNCKH Sinh viên nghiên cứu khoa họcTT&TT Thông tin và Truyền thôngUBND Ủy Ban Nhân DânVHTTDL Văn hóa – Thể thao – Du lịchDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  5. 5. Lời mở đầu Lào Cai là một trong những tỉnh miền núiphía Bắc không chỉ được thiên nhiên ưu đãivới khí hậu ôn hòa và nhiều thắng cảnh đẹpmà còn là nơi tập trung nhiều nền văn hóađặc sắc của 25 dân tộc anh em. Đến với LàoCai, ngoài việc tham quan các danh lamthắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng, các dukhách còn có mong muốn được hòa nhập vàsống trong không khí cộng đồng của các dântộc vùng cao, được ăn những món ăn củangười vùng cao, được mặc những trang phụctruyền thống của các dân tộc, được nhảytrong những giai điệu của núi rừng hay đượctham gia vào các phong tục, lễ hội độc đáocủa các dân tộc thiểu số. Họ muốn cảm nhậnsự thay đổi về văn hóa khi du lịch qua từngthị trấn của tỉnh Lào Cai. Tuy nhiên hiện nay còn thiếu các loại hìnhdu lịch có thể đáp ứng được mong muốn tìmhiểu sâu về văn hóa của các dân tộc vùngcao. Thực tế này đòi hỏi cần có một nghiêncứu toàn diện về thực trạng của loại hình dulịch văn hóa và những tiềm năng hiện có ởLào Cai để tìm ra hướng phát triển toàn diệnhơn cho loại hình du lịch này tại địa phương.Chính vì những lý do và yêu cầu kể trên,nhóm chúng tôi đã quyết định lựa chọn thựchiện nghiên cứu đề tài: “Tiềm năng pháttriển loại hình du lịch văn hóa ở vùng miềnnúi Lào Cai”
  6. 6. Đề tài nghiên cứu tập trung vào đối tượng chính là loại hình du lịchvăn hóa và tiềm năng phát triển của loại hình này ở các huyện thuộc tỉnh LàoCai. Việc nghiên cứu được thực hiện dựa trên hai phương pháp nghiên cứu:một là, phương pháp phân tích tổng hợp các thông tin, số liệu trực tiếp hoặcgián tiếp thông qua các nguồn báo in và Internet; hai là, phương pháp khảosát thực tế tại địa phương (huyện Sa Pa, Bắc Hà thuộc tỉnh Lào Cai) về cácloại hình du lịch hiện có và những tiềm năng đã được khai thác. Đề tài được triển khai theo kết cấu gồm ba phần chính: Chương I nêulên những cơ sở lý thuyết về du lịch văn hóa và những đặc điểm của Lào Caiphù hợp với việc phát triển loại hình du lịch này; Chương II tập trung đánhgiá thực trạng phát triển đồng thời nêu lên những những khó khăn tồn tại vàtiềm năng chưa được khai thác của du lịch văn hóa tại Lào Cai; Chương IIItrình bày những chính sách của UBND Tỉnh Lào vào, định hướng phát triển,các giải pháp khắc phục khó khăn và phát huy những tiềm năng phát triển dulịch của Lào Cai.
  7. 7. -3- CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG1.1. Du lịch văn hóa 1.1.1. Khái niệm Du lịch văn hóa 1.1.1.1.Du lịch Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch. Vào năm 1963, Hội nghị LiênHợp Quốc tế về Du lịch ở Roma đã định nghĩa “Du lịch là tổng hòa các mối quanhệ, hiện tượng, các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trúcủa cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước củahọ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.”Hay định nghĩa theo Hội nghị Quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Cannada tháng06/1991 “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trườngthường xuyên (nơi ở của mình), trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gianđã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải làđể tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm”. Hoặc “Du lịchlà hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏamãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghĩ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định”(theo Điều 10 Pháp lệnh Du lịch của Việt Nam) Theo Bộ Văn hóa thông tin và du lịch, Tổng cục du lịch Việt Nam: “Du lịchlà các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thườngxuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡngtrong một khoảng thời gian nhất định”. Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấpdẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triểnnhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xãhội và môi trường. Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãnnhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  8. 8. -4- 1.1.1.2. Văn hóa Văn hóa được hiểu và sử dụng theo nhiều nghĩa khác nhau như để chỉ họcthức (trình độ văn hóa); lối sống (nếp sống văn hóa) trình độ phát triển của một giaiđoạn. Văn hóa còn được hiểu theo một nghĩa rộng hơn bao gồm tất cả những phongtục, tín ngưỡng, hiện vật, lối sống… ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của khuvực dân cư đó. Theo các định nghĩa trên thế giới, E.B.Taylor – một nhà nhân loại phươngTây cho rằng “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệthuật, đạo đức, pháp luật, phong tục, những khả năng và tập quán khác nhau màcon người có được với tư cách là một thành viên của xã hội”. Ở Việt Nam, tác giảTrần Ngọc Thêm trong tác phẩm “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đã định nghĩa: “Vănhóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạovà tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người vớimội trường tự nhiên xã hội”. 1.1.1.3. Du lịch văn hóa Hiện nay, du lịch bao gồm rất nhiều hình thức đa dạng và phong phú như dulịch sinh thái, du lịch bền vững, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịchgiáo dục, du lịch MICE (viết tắt của Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng),Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm))… và du lịch văn hóa. Đốivới các nước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế và trong nước, cầnđẩy mạnh phát triển ngành nghề du lịch, du lịch văn hóa được coi là một trongnhững sản phẩm chủ đạo. Vậy, du lịch văn hóa là gì ? Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sựtham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.Những yếu tố thu hút khách du lịch đến với loại hình này chủ yếu là các bản sắc vănhóa, nét đặc trưng khác biệt của nền văn hóa đó ví dụ như những lễ hội truyềnthống, những phong tục tín ngưỡng, tôn giáo, lối sống, lịch sử, nghệ thuật, kiếntrúc… hình thành nên nền văn hóa của người dân nơi mà khách du lịch đến thămDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  9. 9. -5-quan. Khách du lịch tìm đến du lịch văn hóa để thu nhập thông tin mới, tìm hiểu vàtrải nghiệm những nền văn hóa khác nhau mọi nơi trên thế giới. Do vậy, du lịch vănhóa không chỉ đơn thuần là du lịch mà còn gắn liền với các loại hình văn hóa củađịa phương nơi có hoạt động du lịch đang diễn ra. Loại hình này hiện nay đang rất phổ biến trên thế giới và theo báo cáo gầnđây của OECD đã nhấn mạng tầm quan trọng của du lịch văn hóa trong khu vựcphát triển trên thế giới. Hiện nay, ở nước ta văn hóa truyền thống nói chung và vănhóa dân tộc nói riêng ở các dân tộc thiểu số vùng cao đang bị phai mờ do sự dunhập của các loại hình văn hóa ở các nước đã phát triển và hiện đại hơn vào nước ta.Phần lớn các nơi thu hút khách du lịch văn hóa ở nước ta đều là những nơi còn khókhăn, đói kém. Bởi thế, thu hút khách du lịch văn hóa đồng nghĩa với việc phát triểnđược kinh tế, giảm thiểu đói nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. 1.1.2. Đặc điểm của du lịch văn hóa: Điểm đến của du lịch văn hóa thường bao gồm những di tích lịch sử, nhữngthành phố lớn với các cơ sở văn hóa như bảo tàng, nhà hát hoặc những vùng nôngthôn nơi trưng bày hiện vật truyền thống văn hóa của cộng đồng dân cư như các lễhội, các nghi thức thể hiện lối sống, giá trị và văn hóa của họ. Các điểm đến bao gồm các di tích lịch sử, thành phố hiện đại, công viên, cáccâu lạc bộ, các hệ sinh thái ven biển, hải đảo và đất liền, các kỳ quan trên thế giớiđể khám phá nên văn hóa nơi đó. Hàng nghìn du khách trên thế giới thường xuyêntham gia vào các chuyến du lịch mỗi năm để đi tham quan các địa điểm như thếnày. Một trong những điểm đến thu hút khá nhiều khách du lịch là khu vực sinhsống văn hóa của người dân nơi khách du lịch có thể trải nghiệm được cuộc sốngsinh hoạt bình thường của người dân địa phương, so sánh với với cuộc sống củachính vùng dân cư nơi khách du lịch sinh sống.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  10. 10. -6- Di sản văn hóa bao gồm hai loại chính là di sản văn hóa vật thể và di sảnvăn hóa phi vật thể. Theo điều 4 của Luật di sản văn hoá sửa đổi bổ sung, “Di sảnvăn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồmdi tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”(2).“Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cánhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học,thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từthế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hìnhthức khác”(1), Đặc trưng cơ bản của du lịch văn hóa: du lịch văn hóa gắn liền với cáchọat động du lịch và hoạt động văn hóa - Tính đa dạng: du lịch văn hóa với chất lượng cao được tạo nên bởi sự đadạng trong đối tượng phục vụ, mục đích phục vụ hay điểm đến của du lịch văn hóanhư các cảnh quan thiên nhiên, kỳ quan thế giới, các di tích lịch sử - văn hóa chođến các lễ hội truyền thống, các phong tục tập quán lâu đời, các loại hình văn hóanghệ thuật dân gian mang đậm đà bản sắc dân tộc. Ngoài ra, cần kể đến các cơ sởvật chất và các dịch vụ kèm theo. - Tính đa thành phần: không hề có một giới hạn nào cho những đối tượngliên quan đến du lịch văn hóa. Du khách tham gia vào du lịch văn hóa, các tổ chứcNhà nước và tư nhân, các doanh nhân trong và ngoài nuớc đầu tư, hoạt động tronglĩnh vực du lịch, những nhân viên, hướng dẫn viên du lịch, cộng đồng địa phươngđều rất đa dạng, gồm nhiều thành phần khác nhau trong xã hội, tham gia trực tiếphoặc gián tiếp vào các hoạt động du lịch văn hóa. Vì vậy, tính đa thành phần cònbao hàm trong đó cả tính xã hội hóa cao. - Tính đa mục tiêu: Du lịch văn hóa mang lại lợi ích nhiều mặt như bảo tồncác tài nguyên thiên nhiên, môi trường, di tích lịch sử – văn hóa, duy trì và pháttriển văn hóa phi vật thể, nâng cao chất lượng phục vụ du khách, nâng cao chấtlượng đời sống của người phục vụ du lịch, mở rộng học hỏi và giao lưu văn hóa,kinh tế, nâng cao ý thức trách nhiệm cho cộng đồng.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  11. 11. -7- - Tính liên vùng: Du lịch văn hóa nâng cao ý thức của du khách về văn hóa,thẩm mỹ,…Vì vậy nên có sự liên kết giữa các cơ sở du lịch, các vùng văn hóa vớinhau trong việc hoạch định các tuyến, điểm du lịch văn hóa phục vụ cho du khách. - Tính mùa vụ: đối với bầt kỳ loại hình du lịch nào cũng có đặc trưng này, đốivới du lịch nói chung thể hiện ở số lượng du khách thường tập trung rất đông ởnhững tuyến,điểm du lịch văn hóa vào những ngày nghỉ cuối tuần, nghỉ hè, nghỉđông (du khách nước ngoài), nghỉ lễ. Du lịch văn hóa còn thể hiện riêng ở nhữngthời gian có những lễ hội, những sự kiện đặc biệt xảy ra như Hà Nội với sự kiện1000 năm Thăng Long; đền Hùng vào những ngày giỗ Tổ.1.2. Đặc điểm của vùng miền núi Lào Cai phù hợp với loại hình du lịchvăn hóa 1.2.1. Đặc điểm tự nhiên. Vị trí địa lý: Lào Cai là một tỉnh mới thành lập từ năm 1991 vùng cao biêngiới giáp với tỉnh Vân Nam, Trung Quốc với 203km đường biên giới, nằm chínhgiữa khu vực Đông Bắc và Tây bắc Việt Nam, cách Hà Nội 296 km đường sắt và345 km đường bộ. Do đó, Lào Cai hiện nay thuận lợi về mặt giao thông – một trongnhững điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch. Riêng đối với đườngthủy, do Sông Hồng – một tuyến giao thông huyết mạch nối từ Vân Nam, TrungQuốc chạy qua Lào Cao tới vùng trung du đồng bằng Bắc Bộ nên thuận lợi rất lớncủa địa hình Lào Cai khi con sông Hồng chảy qua có ý nghĩa lớn về mọi mặt kinhtế, chính trị, văn hóa và quân sự. Hơn thế nữa, con sông này còn góp phần quantrọng tạo nên sắc thái văn hóa cho Lào Cai. Sông Hồng là con đường chuyên chởvăn hóa Đông Sơn qua trạm trung chuyển Lào Cai lên Vân Nam, là cửa ngõ giaolưu văn hóa du mục. Tuyến giao thông huyết mạch này cũng khiến Lào Cai sớm trởthành một trung tâm giao lưu văn hóa. Một khối lượng lớn các hiện vật Đông Sơnthời kỳ trước Công Nguyên được tìm thấy ở Lào Cai như các loại trống đồng (gồm31 chiếc với các loại như trồng đồng truyền thống, trống đồng lưng choãi), rìu lưỡiDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  12. 12. -8-xén, mũi lao Đông Sơn, các loại bát bằng bạc, đĩa thủy tinh, những dụng cụ màđược coi là sản phẩm của cư dân du mục vùng Trung Á đã chứng minh Lào Cai làmột trung tâm chính trị - xã hội lớn, cửa ngõ giao lưu văn hóa du mục với văn hóaĐiền ở Vân Nam, Trung Quốc và một số nền văn hóa vùng thảo nguyên Trung Á đãdu mục vào Lào Cai. Địa hình Lào Cai khá phức tạp với hai dãy núi chính là Hoàng Liên Sơn vàCon vui cùng có hướng Tây Bắc – Đông Nam tạo nên các vùng đất thấp và trungbình cùng với nhiều núi nhỏ hơn phân bố đa dạng tạo ra các vùng khí hậu khácnhau. Vùng núi cao Lào Cai với các dân tộc miền núi có những văn hóa dân tộc kháđặc biệt như tục thờ mía của người Giáy, lẽ vượt biển của người Tày... càng đa dạnghơn hơn cho văn hóa ở vùng miền này. Thiên nhiên Lào Cai cũng tạo nên các thắng cảnh đẹp như khu Hàm Rồng -một “tiểu Thạch Lâm” ở Sa Pa có bãi đá cổ hàng vạn năm với hàng trăm phiến đámuôn hình muôn vẻ. Nổi bật nhất ở Lào Cai là đỉnh Phăng – Xi – Păng cao 3143mso với mặt nước biển, Rả Giàng Phìng cao 3090m với cánh đồng Mường Thanh mộttrong 4 cánh đồng lớn nhất vùng Tây Bắc (nhất Thanh, nhì Lò, tam Than, tứ Tấc)gắn liền với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ trong thời kỳ kháng chiến chốngPháp của nhân dân ta. Dải đất dọc theo sông Hồng và sông Chảy gồm thành phố Lào Cai - CamĐường - Bảo Thắng - Bảo Yên và phần phía đông huyện Văn Bàn thuộc các đai độcao thấp hơn (điểm thấp nhất là 80 m thuộc địa phận huyện Bảo Thắng), địa hình íthiểm trở hơn, có nhiều vùng đất đồi thoải, thung lũng ruộng nước ruộng, là địa bànthuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp hoặc xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng. Khí hậu ở đây là khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do đặc điểm địa hình nằmsâu trong lục địa, chi phối bởi nhiều dãy núi cao nên diễn biết thời tiết khá đa dạngvà khác biệt theo không gian, thời gian, phân theo đai cao, có vùng nhiệt đới, cóvùng mang tính chất Á Nhiệt đới. Nhiệt độ đặc biệt vùng Sapa rất đa dạng, trongcùng một ngày nhiệt độ có thể lên cao sau đó xuống thấp. Có những lúc, vùng sapacó nhiệt độ dưới 00C và có tuyết rơi. Khí hậu Lào Cai chia làm hai mùa rõ rệt: mùaDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  13. 13. -9-mưa và mùa khô. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 trong khi đó mùa khôlại kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa ở mức độ trung bình từ1.400mm đến 1.700mm, dẫn đến hệ thống động, thực vật cũng phong phú gồmnhiều loại khác nhau. Dân tộc: Lào Cai có 27 dân tộc anh em sinh sống. Dân tộc kinh có 194.666người, dân tộc H’Mông có 122.825 người, dân tộc Tày có 82.516 người, dân tộcDao có 72.543 người, dân tộc Thái có 51.061 người, dân tộc Giáy có 24.360 người,dân tộc Nùng có 23.156 người, dân tộc Phù Lá có 6.763 người, dân tộc Hà Nhì có3.099 người, dân tộc Lào có 2.134 ngưòi, dân tộc Kháng có 1.691 người, dân tộcLaHa có 1.572 người, dân tộc Mường 1263 người, dân tộc Bố Y có 1.148 người,dân tộc Hoa có 770 người , dân tộc La Chí có 446 người , và 11 dân tộc có số dân ítdưới 70 người như các dân tộc Sán Chay, Sán Dìu, Khmer, Lô Lô, Kà Doong, PaCô , Ê Đê, Giẻ Triêng , Gia Rai, Chăm, Kà Tu. Lào Cai có số dân tộc chiếm 50% tổng số dân tộc toàn quốc nên đặc điểmnổi bật trong văn hóa các dân tộc Lào Cai là văn hoá đa dân tộc, giàu bản sắc. Ởvùng thấp, người Tày, Thái, Giáy, Nùng, khai khẩn các thung lũng ven sông, vensuối, sáng tạo truyền thống văn hoá lúa nước. Ở rẻo giữa, người Kháng, La Ha, PhùLá... tạo nên văn hoá nương rẫy với nhiều tri thức bản địa phù hợp với kinh tế đồirừng. Ở vùng cao, người H’Mông, Hà Nhì, Dao khai khẩn các sườn núi thành ruộngbậc thang bắc lên trời hùng vĩ. Tính đa dạng, phong phú của văn hoá thể hiện cả ởvăn hoá vật thể và phi vật thể. Cùng với sự đa dạng dân tộc là sự đa dạng trong các yếu tố văn hóa ở LàoCai, có tới ba trông bốn hệ ngôn ngữ lớn nhất của Việt Nam có mặt ở Lào Cai: Ngữhệ Nam Á có các tộc người Kinh, Mường, Kháng, H’Mông, Dao, La Chí, La ha;ngữ hệ Hán – Tạng có các tộc người: Hoa (Xạ Phang), Hà nhì, Phù Há; ngữ hệ Tháicó nhiều tộc người như Tày (cả nhóm Pa Dí), Thái, Nùng, Giáy, Lào, Lự, Bố Y.Lào Cai đã trờ thành điểm hội lưu văn hoá tộc người vùng văn hoá Việt Bắc mà cảdân tộc Tày Nùng được coi là cư dân đa số thì ở Lào Cai người Tày cũng chiếm mộttỷ lệ lớn (13,36%) dân số Lào Cai.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  14. 14. - 10 - Tất cả các đặc điểm tự nhiên kể trên đã cùng nhau tạo nên sự đa dạng, phongphú và độc đáo cho văn hoá Lào Cai. Đây cũng là những điều kiện thuận lợi để pháttriển loại hình du lịch văn hóa tại khu vực này. 1.2.2. Đặc điểm văn hóa Tỉnh Lào Cai có 86.290 hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá; 1.017 làng, bản,tổ dân phố văn hoá; 1.163 cơ quan, đơn vị, trường học văn hoá; 19% dân số toàntỉnh thường xuyên luyện tập thể thao; 100% số trường học đảm bảo chương trìnhgiáo dục thể chất. Khách du lịch đến Lào Cai đạt 700.451 lượt người, vượt 8% kếhoạch, doanh thu đạt: 513,422 tỷ đồng (tăng 18,3% so cùng kỳ). Với sự đa dạng trong dân tộc đã tạo nên sự đa dạng trong văn hóa của LàoCai. Lào Cai là một tỉnh đa dân tộc, đa văn hóa. Văn hóa của Lào Cai bao gồm cảvăn hóa vật thể và phi vật thể. 1.2.2.1.Văn hóa vật thể của Lào Cai Với các hiện vật được tìm thấy như trống đồng, bát đĩa, sản phẩm của dân dumục (đã được đề cập ở trên) đã cho thấy yếu tố văn hóa vùng Lào Cai khá đa dạngvà phong phú. Lào Cai còn phát hiện ra nhiều đồ gốm cổ bên cạnh đồ của Lý, Trần,gốm Chu Đậu còn tìm thấy gốm thời nhà Minh, nhà Thanh bên Trung Quốc và rõràng nhất là các dấu tích kiến trúc đan xen giữa Việt Nam và Trung Quốc ở một sốdi tích đình chùa còn lại đến ngày nay. Các dân tộc Lào Cai đã sáng tạo, lưu giữhàng trăm di tích lịch sử văn hoá. Nổi bật là các di tích về khu trạm khắc đá cổ, vớicác hình khắc về bản đồ, chữ viết, hình người có niên đại cách ngày nay hàng nghìnnăm ở thung lũng Mường Hoa (Sa Pa). Di tích thờ ông Hoàng Bảy một vị tướng có công bảo vệ biên giới thời HậuLê được tôn thờ là “Thần vệ Quốc”, di tích Đền Thượng - thờ Quốc công tiết chếTrần Hưng Đạo được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng với niên hiệu Chính Hoà(1680-1705), di tích chiến thắng Phố Ràng... đặc biệt Lào Cai còn có hệ thống cáchang động kỳ ảo trở thành các danh thắng tuyệt đẹp, thu hút đông đảo khách du lịchDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  15. 15. - 11 -tham quan như động Thuỷ Tiên (Bát Xát), động Tả Phời (Cam Đường), hang Tiên-Trung Đô (Bắc Hà), động Xuân Quang (Bảo Thắng)... Người dân tộc chủ yếu sống trên nhà sàn nhưng vì sự đa dạng cũng như hộinhập ở Lào Cai nên nhà cửa ở đây được chia làm ba loại hình nhà chính: nhà nềnđất của các dân tộc Kinh, H’Mông, Hoa, người Hà Nhì..; nhà nửa sàn nửa đất củacác dân tộc Dao (nhóm Dao đỏ...); nhà sàn (người Tày, Thái...) với các kiểu nhà sànmái tròn của người Thái đen hoặc nhà sàn tường trình (tên một loại nhà sàn) củangười Tày, Bắc Hà. Về mùa đông, cho dù trời rét xuống độ âm, trong nhà đồng bàovẫn ấm. Còn về mùa hè, nếu nắng nóng đến 37-38oC, ngồi trong nhà đồng bào vẫnmát mẻ. Bên trong nhà của người Hà Nhì, đồng bào còn làm thêm một bức tườngphụ cũng bằng đất nện chạy song song với tường chính ở cách cửa ra vào khoảng1,5 m. Sau bức tường phụ này là bếp và giường ngủ của người làm chủ gia đình.Nhà của người Hà Nhì đa số là hình vuông, khác với nhà hình chữ nhật của ngườiMông. Trước khi làm nhà trình tường, các gia đình người Mông phải xem ngày giờtốt, chọn miếng đất lành bằng phẳng, rộng cỡ 40 - 50 m2, rồi mổ gà nấu xôi cúng tế,cầu mong cho ngôi nhà mình sắp làm sẽ bền vững, thọ tới trăm năm.Nhà sàn của đồng bào dân tộc ở Lào Cai Họa tiết trang trí trên trang phục Trang phục của người dân tộc ở Lào Cai luôn sặc sỡ sắc màu, phong phú vềchủng loại. Mỗi dân tộc lại có một kiểu trang phục đặc trưng riêng cho dân tộcmình. Trang phục người Hmông hoa, Hmông xanh, Hmông đen, Hmông trắng cũngcó kiểu cách, màu sắc khác hẳn nhau. Phụ nữ Hmông ở các huyện khác mặc váyDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  16. 16. - 12 -nhưng phụ nữ Hmông ở Sa Pa lại mặc quần cộc. Đặc biệt là người Tày, người Tày ởVăn Bàn, Bảo Yên mặc áo ngắn, váy ngắn, còn người Tày ở Bắc Hà lại mặc áo dàivà quần dài. Dụng cụ chủ yếu hình thành nên bộ trang phục là chiếc khung dệt, vậtcần thiết trong mỗi gia đình người Dao. Chỉ với hai thoi dệt chính, phụ; người phụnữ Dao có biệt tài dệt được vải trắng lẫn vải màu.Một bộ trang phục hoàn chỉnh củangười Dao gồm: Áo, yếm, xà cạp, cùng đồ trang sức vàng bạc, khăn vấn đầu. Cácloại trang phục khác nhau được thể hiện rõ nhất trong các phiên chợ vùng Lào Cai. Đặc biệt, do vị trí Lào Cai rất quan trọng nên nhân dân đã rước đức thánhTrần, người anh hùng dân tộc thờ ở đền Thượng, xây dựng đền thờ Mẫu ngay ởvùng ven sông Hồng, giáp biên giới. Đền thờ Trần Hưng Đạo và thờ Mẫu LiễuHạnh trấn ải ở biên cương thực sự trở thành những cột mốc văn hoá bên cạnh cộtmốc địa giới, nhằm khẳng định chủ quyền thiêng liêng của người dân Việt Nam vềmặt văn hoá. 1.2.2.2.Văn hóa phi vật thể của Lào Cai Lễ hội của các dân tộc ở đây rất đặc sắc, in đậm nhiều yếu tố tín ngưỡng cổ.Tuy nhiên không còn mang nặng sự lạc hậu như ngày xưa. Lễ hội diễn ra trongnhững tháng đầu xuân và chủ yếu trong phạm vi một làng. Tuy nhiên ở MườngHoa, một số lễ hội có phạm vi mở rộng cả một vùng, một mường xưa. Người Môngcó lễ Nào Sồng (ăn thề đầu năm) được tổ chức vào ngày thìn tháng giêng tại khurừng cấm của cả làng. Sau khi cúng thần, mọi người trong làng đều bàn bạc xâydựng hương ước. Một năm người Mông có tới l1 lễ, trong đó có lễ Tu su cúngrồng xanh rất hấp dẫn. Lễ Nhặn Sồng của người Dao tổ chức vào ngày mùng mộthoặc mùng hai tết với tổng hợp các loại hình nghệ thuật dân gian, đó là: nghệ thuậtmúa nhảy đan xen với nghệ thuật âm nhạc (các bài thiên binh, hành quân, trừ tà...),nghệ thuật ngôn từ kể về sự tích của dòng họ Bàn, Triệu, Đặng..., kể về công lao tổtiên, về sự tích một số thần thánh trong miếu vạn thần của người Dao. Trong số lễ hội của của các dân tộc ở Sa Pa, lễ hội Gioóng boọc của ngườiGiáy có quy mô lớn, thu hút hàng nghìn người Giáy, Mông, Dao ở thung lũngMường Hoa tham gia. Người Xá Phó ở Nậm Sang lại tổ chức lễ hội quét làng vàoDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  17. 17. - 13 -ngày 2/2 âm lịch với nhiều nghi thức nhằm trừ tà, cầu an. Hiện nay, quy mô lễ hộitruyền thống của các dân tộc càng được mở rộng để thu hút được nhiều khách dulịch. Tiết mục văn nghệ của bà con dân tộc Xa Phó (xã Nậm Sài) biểu diễn trên khu du lịch Hàm Rồng. Người H’mông ăn tết trước một tháng theo lịch cổ truyền của đồng bào.Trong tôn giáo, bên cạnh tôn giáo tín ngưỡng bản địa (thờ cúng tổ tiên, thần bảnmệnh…) chiếm địa vị quan trọng, còn xuất hiện một số tôn giáo mới du nhập. Cáctín ngưỡng dân gian đã chịu sự ảnh hưởng của tam giáo, ảnh hưởng này diễn ra khámạnh ở vùng người Dao, Tày, Nùng, Giáy… nhưng nổi bật nhất là người Dao.Trong miếu Vạn Thần của người Dao, bên cạnh Ngọc Hoàng còn có Phật là quânsư. Dưới trướng của Ngọc Hoàng và Phật còn có Thuỷ Nguyên, Linh Bảo, ĐạoĐức. Dưới các vị này còn có Tam Thanh, Tam Bảo, Tam Nguyên. Sự đan xen giữaTam giáo với tín ngưỡng dân gian đã tạo ra diện mạo mới trong đời sống tinh thầncủa các dân tộc Lào Cai. Trong văn học dân gian, mỗi dân tộc có đầy đủ cả hệ thống các loại hìnhvăn học từ truyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn đến dân ca, truyện thơ. Mỗi một loạihình văn học dân gian lại có các tiểu loại hình phong phú. Các truyền thuyết chốngDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  18. 18. - 14 -ngoại xâm, bảo vệ biên giới xuất hiện khá phong phú, nhất là truyền thuyết, truyệncổ kể về sự tích các địa danh như Đản Khao, Pha Long, Trung Đô, Nghĩa Đô, núiĐại Thần… Trong tín ngưỡng dân gian, các danh tướng chống giặc ngoại xâm,chống giặc cướp trở thành những thần linh được nhân dân tôn thờ như Cầm NgọcHánh, Hoàng Dìn Thùng, Giàng Chỉn Hùng..v.v.. Ông Hoàng Bảy - một viên tướngbảo vệ biên cương đã đi vào điện thần Đạo Mẫu, được thờ trang trọng ở đền BảoHà. Có thể nhắc đến các nghệ thuật dângian đặc biệt là nghệ thuật âm nhạc. Chỉ tínhriêng nhạc khí Lào Cai đã có đủ 10 họ với 10chi khác nhau. Chi nhạc cụ dây động có hưnmạy (Thái), đao (Kháng)…Nhạc cụ hơi có chinhạc hơi hình vòm như cặm rưng (Khơ Mú,Kháng), ống khảo của người Mường, pí thiu,phí khui của người Thái… Chi nhạc cụ hơilưỡi gà có khá nhiều, gồm cả loại đơn giảnnhất như pí phương (Thái) bằng ống dạ đếnloại có cấu tạo phức tạp như khèn H’Mông, Khèn của người H’Môngkhèn Thái, chi nhạc cụ hơi chỉ dùng hơi thổinhư tù và, kèn đồng H’ Mông… Nhạc cụ họ màng rung có nhiều loại trống bịt dacủa các dân tộc… Nhạc cụ các dân tộc ở Lào Cai còn bao gồm cả loại chuyên dùnghoà tấu với chuyên dùng độc tấu..v.v.. Lào Cai có hơn ba mươi điệu múa khác nhau. Có những điệu múa dùng trongsinh hoạt (như xoè vòng, xoè chiêng) nhưng cũng có điệu múa chỉ dùng trong cácnghi lễ tôn giáo hoặc lễ hội. Chỉ riêng nhóm Dao họ (Dao quần trắng) ở Bảo Thắng,Bảo Yên đã có 7 điệu múa khác nhau (như múa kiếm, múa sạp, múa chuông, múakhăn, múa mặt nạ, múa trống, múa gà). Nghệ thuật âm nhạc cũng rất đa dạng. Như vậy, tính đa dạng văn hóa tộc người đã tạo thành nguồn lực cho LàoCai phát triển, tạo thành sắc thái riêng của Lào Cai.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  19. 19. - 15 - CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI LÀO CAI2.1. Tình hình du lịch văn hóa tại Lào Cai Thời gian qua, ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch Lào Cai triển khai đề án“Phát triển kinh tế du lịch giai đoạn 2006 - 2010” đã thu hút nhiều nguồn vốn đầutư xây dựng hạ tầng, nâng cấp, phân vùng các tuyến, điểm du lịch và hình thành môhình nhà du lịch, các quầy thông tin thu hút khách du lịch. Qua 3 năm thực hiện đề án, các sản phẩm du lịch được đưa vào khai thácnhư: du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm qua các tour du lịch trên sông Chảy, chinhphục Phan Xi Păng, khám phá những hang động, thác nước… Du lịch văn hoá cộngđồng chủ yếu tại Sa Pa, Bắc Hà là mô hình làng văn hoá du lịch, chợ văn hoá vùngcao, du lịch tâm linh (thăm đền, chùa, lễ hội...), du lịch mua sắm hàng hoá thôngqua hệ thống các siêu thị, chợ và các làng nghề, câu lạc bộ thổ cẩm, các quầy hànglưu niệm… Các tour, tuyến du lịch được phân vùng khai thác đã phát huy tác dụng, thúcđẩy sự hợp tác tạo nguồn lực để du lịch Lào Cai phát triển, góp phần chuyển dịch cơcấu kinh tế, xoá đói, giảm nghèo bền vững. Cùng với du lịch sinh thái, du lịch mạohiểm, du lịch cộng đồng và du lịch văn hóa cũng đang phát triển mạnh. Theo số liệuthống kê từ Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Lào Cai, hiện toàn tỉnh có 2.500người lao động trực tiếp và 5.000 người lao động gián tiếp trong ngành du lịch,riêng Sa Pa có 240 hướng dẫn viên, trong đó 95 hướng dẫn viên là người dân tộcthiểu số. Trong giai đoạn 2006 -2009, các hoạt động đã thu hút 28 doanh nghiệp tàitrợ cho các sự kiện lớn gắn với du lịch hàng tỷ đồng. Đặc biệt là việc hình thànhTrung tâm thông tin du lịch Lào Cai và kiện toàn hệ thống các nhà du lịch, quầyDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  20. 20. - 16 -thông tin ga Lào Cai phát huy hiệu quả, hướng công tác xúc tiến du lịch vào chuyênnghiệp và đẩy mạnh kêu gọi các dự án đầu tư. Thực hiện đề án “Phát triển kinh tế du lịch giai đoạn 2006 - 2010” đã đem lạihiệu quả rõ rệt trong thực hiện thu hút khách du lịch, tăng doanh thu, tạo việc làmcho người lao động. Từ kết quả đó, Lào Cai phấn đấu đến năm 2010 đón 730.000lượt khách du lịch, doanh thu đạt 470 tỷ đồng là điều có thể trở thành hiện thực. 2.1.1 Mô hình “Du lịch lễ hội” tại Lào Cai: Mô hình “Du lịch lễ hội” đang phát triển ở Lào Cai trong những năm gần đâyđược phát triển dựa trên những lễ hội rất độc đáo và phong phú của đồng bào cácdân tộc thiểu số nơi đây. Bên cạnh rất nhiều những nét văn hóa độc đáo khác thìnhững lễ hội truyền thống của các dân tộc chính là điểm nhấn quan trọng đã và đangthu hút một lượng lớn khách du lịch yêu thích tìm hiểu văn hóa đến với Lào Cai. Với mục đích gắn việc bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch bền vững gópphần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân, từ trước năm 2005, ngành Văn hóa - Thôngtin (nay là Văn hóa, Thể thao và Du lịch) Lào Cai đã tổ chức khảo sát, lập hồ sơkhoa học cho 51 làng và toàn bộ 25 dân tộc, thống kê các di sản văn hóa vật thể vàphi vật thể để lập danh sách các di sản văn hóa đặc biệt có giá trị cần bảo tồn vàkhai thác. Đến nay, theo Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lào Cai, Lào Cai đã sưu tầm8.128 hiện vật thể khối và hình ảnh; trong đó có nhiều cổ vật giá trị như: trốngđồng, vò gốm, gương đồng. Sưu tầm 200 mẫu hoa văn cổ của người Mông, 1.264hiện vật dân tộc học của 13 nhóm, ngành dân tộc ở Lào Cai cùng 92 phong tục tậpquán của các nhóm, ngành dân tộc, 50 lễ-tết-hội; 1800 bài dân ca, 40 bản nhạc khí,85 điệu múa, 2000 địa danh và 838 cuốn sách cổ của các dân tộc Dao, Giáy, Bố Y.Kho tàng văn hóa dân gian của 7 nhóm, ngành dân tộc có số dân ít, nguy cơ maimột di sản văn hóa cao như: Bố Y, Kháng, La Ha, ngành Mông Xanh, Xá Phó, LaChí, Pa Dí, được sưu tầm có hệ thống.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  21. 21. - 17 - Trên cơ sở, khảo sát, thống kê, Lào Cai lựa chọn bảo tồn một số di sản vănhóa tiêu biểu phục vụ nghiên cứu và phát triển du lịch. Đến nay, tỉnh đã bảo tồn vàxây dựng được một số làng văn hóa du lịch và chợ văn hóa vùng cao phục vụ pháttriển du lịch và bảo tồn văn hóa. Đồng thời, trong những năm gần đây, Lào Cai đãcó sự kết hợp hiệu quả với các tỉnh thành lân cận nhiều tiềm năng về du lịch nhưYên Bái và Phú Thọ với nhiều chương trình du lịch hấp dẫn với không gian mởrộng trên địa bàn các tỉnh cùng những thắng cảnh, những di tích và những nét vănhóa độc đáo riêng của từng tỉnh. 2.1.1.1. “Du lịch lễ hội” tại một số bản làng tại Lào Cai: Nổi bật lên trong số những bản làng văn hóa đã được bảo tồn và xây dựnghiện nay ở Lào Cai là làng thổ cẩm Tà Phìn và làng chạm khắc bạc Cát Cát. Vớinhững nét độc đáo về con người, cảnh vật, những sản phẩm truyền thống và nhữnglễ hội độc đáo, nơi đây đang hứa hẹn là chốn dừng chân yêu thích của phần lớn dukhách khi đến với mô hình du lịch văn hóa tại Lào Cai. Làng thổ cẩm Tả Phìn thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cách trung tâm thịtrấn Sa Pa khoảng 17km về hướng đông. Nơi đây có cảnh quan thiên nhiên tươiđẹp, nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc thông qua các lễ hội như tết nhảy củangười Dao đỏ, lễ ăn thề, lễ mừng nhà mới của đồng bào các dân tộc, Tả Phìn cònđược nhiều du khách trong và ngoài nước biết đến bởi ở đó có một làng nghề thổcẩm nổi tiếng. Những năm gần đây, du lịch Sa Pa phát triển đã làm xuất hiện một thị trườngmua bán các đồ thổ cẩm với nhu cầu mua sắm của khách du lịch ngày càng tăngcao. Sản phẩm của làng dệt thổ cẩm Tả Phìn đủ kiểu dáng và sắc màu trông thật bắtmắt. Một vài sản phẩm chính có thể kể đến là: những chiếc ba lô, túi khoác du lịch,những chiếc khăn, túi xách tay, ví đựng tiền, các tấm áo choàng thổ cẩm... với đủsắc màu rực rỡ.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  22. 22. - 18 - Đồng bào bày bán các sản phẩm thổ cẩm Những sản phẩm này hoàn toàn do bàn tay khéo léo tài hoa của các chị emngười Mông, người Dao tạo nên với những đường nét hoa văn được thể hiện quacác họa tiết cây cỏ hoa lá, chim muông thật tinh tế luôn gây được sự tò mò hiếu kỳvà đặc biệt hấp dẫn các khách du lịch đến với Sa Pa. Các sản phẩm hàng hoá làm raở đây được "xuất khẩu tại chỗ" bằng cách bán trực tiếp cho khách hoặc có thể bángián tiếp cho du khách thông qua việc cung cấp các mặt hàng này cho các quầy thổcẩm ở chợ văn hoá dân tộc, các cửa hàng bán đồ lưu niệm của thị trấn Sa Pa. Thổ cẩm là một món quà không thể thiếu được cho du khách mỗi lần đặtchân tới Sa Pa. Ðối với người dân tộc vùng cao, thổ cẩm không chỉ để dùng trangtrí, tô điểm thêm cho sắc đẹp mà còn là vật kỷ niệm của tình yêu hay trong ngàycưới của các đôi trai gái. Những đường nét hoa văn thể hiện trên tấm thổ cẩm lànhững tinh hoa của nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc làm cho thổ cẩm Sa Pakhông thể hoà lẫn được với bất cứ sản phẩm thổ cẩm của vùng nào. Làng chạm khắc bạc Cát Cát thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, cách trungtâm thị trấn Sa Pa 2 km. Làng Cát Cát là bản lâu đời của người Mông, còn lưu giữnhiều nghề thủ công truyền thống như trồng bông, lanh, dệt vải và chế tác đồ trangsức. Đặc biệt nơi đây còn giữ được khá nhiều phong tục độc đáo mà ở các vùngkhác không có, hoặc không còn tồn tại nguyên gốc.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  23. 23. - 19 - Qua những khung dệt, người Mông tạo nên những tấm thổ cẩm nhiều màusắc và hoa văn mô phỏng cây, lá, hoa, muông thú... Gắn liền với công đoạn dệt vảibông, vải lanh là khâu nhuộm và in thêu hoa văn, phổ biến là kỹ thuật nhuộm chàm,nhuộm nước tro thảo mộc và cây lá rừng. Vải nhuộm xong được đánh bóng bằngcách lăn vải với khúc gỗ tròn trên phiến đá phẳng có bôi sáp ong. Ở làng Cát Cát, nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc, đồng đã có từ lâu đờivà tạo ra những sản phẩm tinh xảo. Quy trình chế tác bạc gồm nhiều công đoạn.Trước hết, họ cho bạc vào nồi trên bễ lò đun đến khi nóng chảy thì rót vào máng.Chờ khi bạc nguội lấy ra dùng búa đập, rèn sao cho thanh bạc có kích cỡ to, nhỏ,dài, ngắn, vuông, tam giác, tròn, dẹt hay kéo thành sợi. Tiếp đó, họ giũa cho thậtnhẵn và nếu cần trang trí thì dùng đinh để chạm khắc, tạo hoa văn nổi hoặc chìm rồimới uốn hình sản phẩm. Cuối cùng là bước đánh nhẵn, làm trắng và bóng. Sảnphẩm chạm bạc ở Cát Cát rất phong phú, tinh xảo nhất là đồ trang sức của phụ nữnhư: vòng cổ, vòng tay, dây xà tích, nhẫn... Đường xuống bản Cát Cát Một điều hấp dẫn du khách khi đến Cát Cát là người Mông ở đây còn giữđược khá nhiều phong tục tập quán độc đáo, chẳng hạn như tục kéo vợ. Khi ngườicon trai quen biết và đem lòng yêu một cô gái, anh ta sẽ tổ chức làm cỗ mời bạn bèvà nhờ các bạn lập kế hoạch "kéo" cô gái về nhà một cách bất ngờ, giữ cô trong bangày. Sau đó, nếu cô gái đồng ý làm vợ chàng trai thì sẽ tiến hành lễ cưới chínhDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  24. 24. - 20 -thức. Nếu cô từ chối thì họ cùng nhau uống bát rượu kết bạn và mọi việc trở lại bìnhthường như chưa có điều gì xảy ra. Lễ cưới người Mông ở Cát Cát thường được tổchức từ 2 đến 7 ngày. Kiến trúc nhà cửa người Mông làng Cát Cát còn nhiều nét cổ: nhà ba gianlợp ván gỗ pơmu. Bộ khung nhà có vì kèo ba cột ngang. Các cột đều được kê trênphiến đá tròn hoặc vuông. Vách được lợp bằng gỗ xẻ, có 3 cửa ra vào: cửa chính ởgian giữa, 2 cửa phụ ở hai đầu nhà. Cửa chính luôn được đóng kín, chỉ mở khi cóviệc lớn như đám cưới, tang ma, cúng ma vào dịp lễ Tết. Trong nhà có không gianthờ, sàn gác lương thực dự trữ, nơi ngủ, bếp và nơi tiếp khách. Nhà người H’Mông (hình ảnh mô phỏng tại Bảo tàng Dân tộc học) Làng Cát Cát được hình thành từ giữa thế kỷ 19, các hộ gia đình cư trú theophương thức mật tập: dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cáchnhau chừng vài chục mét. Họ trồng lúa trên ruộng bậc thang, trồng ngô trên núi theophương pháp canh tác thủ công, sản lượng thấp. Phần lớn nhà cửa đều đơn giản, chỉcó một cái bàn, cái giường và bếp lửa nấu nướng...Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  25. 25. - 21 - 2.1.1.2. Mô hình “Du lịch lễ hội” liên kết cùng các tỉnh Yên Bái và Phú Thọ Mô hình “Du lịch lễ hội” ở Lào Cai trong hai năm qua khi mở rộng kết hợpvới các tỉnh bạn đã được tổ chức ngày càng hấp dẫn hơn với tên gọi “Chương Trìnhdu lịch về cội nguồn” (CTDLVCN). Trong mấy năm thực hiện CTDLVCN đã tạochuyển biến trong nhận thức của lãnh đạo cả 3 tỉnh cũng như của các doanh nghiệp,người dân tự nguyện tham gia, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch. Hình thức dulịch cộng đồng đã phát triển mạnh ở cả Yên Bái, Lào Cai và Phú Thọ, góp phần xóađói giảm nghèo cho các địa phương này. Chương trình được tổ chức với nhiều hoạtđộng sôi động, phong phú, nhận thức về giữ gìn, phát huy các giá trị văn hóa truyềnthống phục vụ phát triển du lịch được nâng lên. Chương trình đã kết nối xây dựng được nhiều tour, tuyến du lịch trên địa bàn3 tỉnh như “Cội nguồn đất Tổ”, “Đất ngọc Lục Yên”, “Cội nguồn Tây Bắc”, “Sắcmàu vùng cao”. Ba tỉnh đã tập trung tu bổ hệ thống di tích lịch sử; sửa chữa, nângcấp, xây dựng mới các cơ sở lưu trú, khách sạn, tăng cường các dịch vụ bổ trợ; pháttriển sản xuất các sản phẩm, hàng lưu niệm để phục vụ nhu cầu du khách… Nhiềusản phẩm du lịch đặc trưng đã được tạo ra thu hút du khách đến tham quan, thưởnglãm, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, giải quyết việc làm, cải thiện đờisống của nhân dân… Năm 2009, đã có trên 1,3 triệu lượt du khách đến tham quan,du lịch tại 3 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, tăng 6% so với năm 2008; tổng doanhthu từ du lịch đạt 1.128 tỷ đồng, tăng 8,3% (theo Sở VHTTDL lịch tỉnh Lào Cai) CTDLVCN của 3 tỉnh Lào Cai - Yên Bái - Phú Thọ là một trong 10 sự kiệndu lịch các tỉnh Tây Bắc hướng tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội. Cáchoạt động văn hóa - du lịch chủ yếu tại Lào Cai năm 2010 bao gồm:  Lễ hội đền Thượng – TP. Lào Cai (tháng 2)  Lễ hội trên mây Sapa (cuối tháng 4, đầu tháng 5),  Hội đua ngựa truyền thống Bắc Hà mở rộng (tháng 6),  Giải leo núi chinh phục Fanxipan và Ngày hội Du lịch TP. Lào Cai (tháng 10)Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  26. 26. - 22 - Nội dung CTDLVNC của Lào Cai, Yên Bái và Phú Thọ Một trong những điểm nhấn của CTDLVCN năm 2010 là chương trình dulịch quốc tế leo núi cắm cờ “Thăng Long - Hà Nội 1.000 năm tuổi” lên đỉnhFanxipan vào tháng 10/2010. Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ kỷ niệm sựkiện 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội của Sở VHTTDL. Cùng với các hoạt độngtrong CTDLVCN, 3 tỉnh cũng tích cực chỉ đạo các doanh nghiệp khai thác cáctuyến điểm du lịch mới kết nối tới nhiều tỉnh Tây Bắc (đặc biệt tỉnh Hà Giang) vàtỉnh Vân Nam - Trung Quốc, khai thác sản phẩm cho khách du lịch nội địa vớituyến đi các đền đài linh thiêng dọc sông Hồng, du lịch chợ nhằm thu hút du kháchvà tạo sự liên kết chặt chẽ trong hoạt động hợp tác giữa 3 tỉnh, tích cực hưởng ứngCTDLVCN năm 2010. Trong chương trình “Khám phá Fansipan 2009” (Viết tắt là chương trìnhFEI), tổ chức phát triển Hà Lan SNV đã hỗ trợ kinh phí cho phát động thu gom rácthải trên tuyến Fansipan, UBND huyện Sa Pa cũng chủ trì hoạt động trồng cây bảovệ môi trường du lịch tại xã San Sải Hồ. Đặc biệt, chương trình FEI còn tổ chứcmột hội thảo đầy ý nghĩa chuyên bàn về “Giải pháp quản lý, khai thác và phát triểndu lịch trong vườn quốc gia Hoàng Liên” được lấy ý kiến tham luận bởi các chuyênDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  27. 27. - 23 -gia hàng đầu về du lịch và bảo vệ môi trường từ các Bộ, ngành Trung ương, tổ chứcphát triển Hà Lan SNV, Hiệp hội các Vườn quốc gia, Hiệp hội leo núi Côn Minh(Trung Quốc) và các đại biểu đến từ doanh nghiệp lữ hành… Với một loạt nội dung trong hoạt động của chương trình “Khám pháFansipan” năm 2009, gắn phát triển du lịch với bảo vệ môi trường, cùng với sự vàocuộc thực sự của các doanh nghiệp lữ hành, Hiệp hội leo núi Côn Minh, sự đồngthuận của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch và sự đồng hành tài trợ của nhà tàitrợ chính Việt Nam Airlines, chắc chắn chương trình FEI năm 2010 sẽ thành côngvà để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng du khách về một Sa Pa tươi đẹp, mến khách. 2.1.2. Mô hình du lịch “Homestay” (Du lịch cộng đồng) tại Lào Cai Homestay là đến ở nhà của người bản xứ trong một mối quan hệ thân thiếtgiống như gia đình. Đa phần khách du lịch đều thông qua các công ty tour, hoặckhách sạn để được sống kiểu "homestay" ngay giữa núi rừng. Đến bữa, họ nấunướng và ăn cơm cùng gia đình. Ở Sapa mô hình Homestay còn hấp dẫn khách du lịch hơn bởi những ngôinhà làm bằng gỗ pơ mu quý hiếm mọc lên giữa núi rừng hay khung cảnh bình yêncủa thung lũng Mường Hoa thơ mộng và đại ngàn Hoàng Liên xanh thẳm. Tại thônTả Van Giáy nằm lưng chừng thung lũng Mường Hoa, với 40 hộ dân thì tất cả đềulấy nhà mình "làm du lịch", theo mô hình "homestay" (khách nghỉ lại qua đêm, ănuống, thưởng thức các đặc sản văn hoá địa phương...). Những ngôi nhà ở đây làkiểu nhà truyền thống của dân tộc Giáy, trước đây gia đình sinh sống nhưng khikhách có nhu cầu thì gia đình đón họ vào ăn ở cùng. Đặc biệt, được làm nên từ loạigỗ pơ mu, nên giá trị của mỗi ngôi nhà lên đến hàng chục tỉ đồng. Thống kê của UBND huyện Sapa cho thấy, mô hình "homestay" bình quânmỗi tháng đón hàng nghìn khách du lịch đến lưu trú qua đêm. Ngoài món ăn thônbản mà du khách được thưởng thức, ban đêm chủ nhà cũng tổ chức đốt lửa, thựchiện các màn múa quạt, nhảy sạp, thổi kèn phục vụ. Khách có nhu cầu chỉ phảiDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  28. 28. - 24 -thanh toán 40.000đ cho một đêm ngủ lại nhà dân. Chỉ từng ấy chi phí, nhưng kháchđược khám phá phong tục văn hoá, hoà mình vào cuộc sống cộng đồng, được tắm láthuốc, thưởng thức ẩm thực truyền thống của người bản địa.... Để hiểu rõ hơn về loại hình du lịch mới mẻ này, hãy cùng xét một điển hìnhtrong mô hình du lịch văn “Homestay” tại Lào Cai là Bản Hồ thuộc huyện Sa Pa. Bản Hồ, thuộc xã Bản Hồ, cách Thị trấn Sapa chừng 20 km. Bản Hồ là bảncủa người Tày, nằm phía Đông Nam Sa Pa, cao hơn 435 m so với mặt nước biển, cónghĩa du khách sẽ luôn phải xuống dốc khi đi từ Sa Pa. Trên đường đến với BảnHồ, du khách sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng những hình ảnh kỳ vĩ của núi rừng TâyBắc khi đoàn xe chạy trên con đường ngoằn ngoèo uốn lượn giữa một bên là núicao sừng sững, một bên là vực thẳm hun hút bao trùm màu xanh thẫm của rừng núi,màu xanh tươi mát của đám mạ xen kẽ màu nâu đỏ của đất và màu trắng bạc củathửa ruộng mới thuôn nước cày ải. Bản Hồ đẹp với những mái nhà sàn gỗ thâm nâu nổi bật giữa vườn ngô, vườnđào xanh mát. Nhà sàn của người Tày rất sạch sẽ, thoáng mát và tiện nghi. NgườiTày có biệt tài đan lát, nên mỗi tấm phên nhà, rào vườn dường như là những tácphẩm nghệ thuật với cách phối màu của tre tươi, tre ngâm, tre cật, tre ruột,... tạo nênnhững nét hoa văn độc đáo, không thể nhầm lẫn. Người Tày ở Bản Hồ vẫn lưu giữđược phong tục tập quán lâu đời, người dân nơi đây còn vô cùng thân thiện, nhiệttình và mến khách. Ngay từ đầu bản, có thể thấy ngay không khí làm du lịch vớinhững tấm biển “Homestay” nằm rải rác dọc con trục chính xuyên bản. Du khách sẽ có cơ hội được sống trong những ngôi nhà gỗ của người dân địaphương, cùng sống và sinh hoạt cùng gia đình dân bản địa. Những ngôi nhà trongmô hình homestay thường được thiết kế rộng rãi, với nguyên tầng trên với 2 phòngnhỏ và khoảng không mở dành để làm du lịch. Tầng dưới là nơi sinh hoạt của giađình, khu bếp và khu vệ sinh. Điểm đặc biệt đầu tiên khi bắt đầu du lịch homestaylà du khách sẽ được thưởng thức những sản vật bình dị nhưng cũng không kémphần độc đáo của địa phương như gà bản, rau bản và xôi nếp nương.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  29. 29. - 25 - Khung cảnh Bản HồBản Hồ chia làm ba thôn: Tả Trung Hồ, Xéo Trung Hồ và Hoàng Liên; là nơi sinhsống của ba dân tộc Mông, Dao, Tày nhưng người Tày chiếm đa số. Ông HoàngVăn Minh, phó chủ tịch xã Bản Hồ, cho biết: “Từ hai hộ đi tiên phong trong việcphát triển du lịch cộng đồng cuối năm 2000, năm 2001 tăng lên 10 hộ và đến nay đãcó gần 50 hộ chính thức tham gia (có văn bản ký kết hẳn hoi), có thể đón đượckhoảng 500 du khách/ngày. Nếu cần, hầu hết các hộ gia đình ở bản Hồ đều có thểđón khách...”. Đến bản Hồ, du khách sẽ được sống và sinh hoạt trong không khí ấm cúng vàthân mật cùng gia đình. Buổi sáng, bạn sẽ được hướng dẫn tham quan vườn quốcgia Hoàng Liên, nơi có chủng thực vật, động vật vô cùng phong phú. Vì khí hậu ởbản Hồ ấm hơn Sa Pa (trung bình từ 18 – 25 độ C) nên buổi trưa từ trong rừng ra dukhách đã có thể hòa mình vào dòng suối Lave, ngắm thác Đá Nhảy hùng vĩ, bọttung trắng xóa. Cơm nước buổi trưa xong, người chủ nhà mến khách sẽ đưa bạn đến thôncủa người Dao Đỏ trên núi cao tắm lá thuốc. Lá thuốc có 18 vị, người Dao phải đilấy tận trên rừng. Sau khi phơi khô, sao vàng rồi hạ thổ mới có thể dùng được.Nước thuốc sẽ được đổ vào chiếc thùng làm bằng gỗ pơmu thơm ngát, nóng hayDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  30. 30. - 26 -lạnh tùy thuộc sức chịu đựng của mỗi người (nhưng theo những người dân ở đây thìcàng nóng càng tốt). Du khách sẽ được ngâm mình vào thùng nước ít nhất khoảng một giờ đồnghồ, nhưng cứ 15 phút một lần lại có người rút nước ra đổ thêm nước mới vào. Khiđứng lên bạn sẽ thấy người lảo đảo như say rượu nhưng chỉ chừng nửa tiếng sau đãthấy có tác dụng rõ rệt: người khỏe khoắn và sảng khoái. Đây là bài thuốc giatruyền chỉ có người Dao mới biết và đã được Viện Y học cổ truyền Việt Nam thẩmđịnh. Một ngôi nhà trong mô hình “Homestay” tại Bản Hồ Khi mặt trời bắt đầu xuống núi là lúc các du khách đi dạo một vòng quanhbản, đến những nhà dân xem dệt thổ cẩm và có thể mua cho mình một tấm với giáchỉ khoảng 20.000 đồng mà rộng đủ quấn quanh người thành một cái... váy. Vàonhững tối cuối tuần ở bản Hồ, bạn có thể đến các nhà sàn văn hóa vui chơi ca hátcùng người dân bản địa. Mỗi dân tộc sẽ mang đến những trò chơi, điệu múa vànhững món ăn độc đáo của mình ra mời du khách...Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  31. 31. - 27 -2.2. Những khó khăn, tồn tại và tiềm năng của du lịch văn tại Lào Cai 2.2.1. Tiềm năng phát triển các mô hình du lịch văn hóa tại Lào Cai 2.2.1.1 Tiềm năng phát triển mô hình “Du lịch lễ hội” tại Lào Cai Lào Cai ngoài việc được thiên nhiên ưu đãi với những khủng cảnh thiênnhiên vừa nên thơ, vừa hùng vĩ còn là nơi cu trú của 25 dân tộc anh em với nhiềuphong tục, tập quán, lễ hội và những nét hóa đặc sắc khác nhau. Hiện nay, trongcông tác bảo tồn và xây dựng phục vụ phát triển mô hình “Du lịch lễ hội” mới chỉtìm hiểu và khai thác các phong tục và lễ hội của những dân tộc có số lượng đồngbào cư trú lớn tại địa phương như các dân tộc Kinh, HMông, Tày, Dao… Trong khikhi đó, còn rất nhiều dân tộc anh em, dù số lượng đồng bào ít hơn nhưng cũng cónhững phong tục tập quán vô cùng độc đáo như các dân tộc Phù Lá, Kháng, La Ha,Hà Nhì, Bố Y… mà nếu được khai thác và bảo tồn đúng cách sẽ góp phần làmphong phú và đặc sắc thêm cho các sản phẩm du lịch văn hóa tại địa phương. Bên cạnh đó, những lễ hội cổ truyền độc đáo của các đồng bào dân tộc thiểusố ở đây vẫn chưa được phổ cập rộng rãi; còn nhiều dân tộc, nhiều bản làng vẫn giữphong tục không cho phép người lạ tham gia vào các tập tục riêng của mình. Bêncạnh đó, với những tiềm năng và thế mạnh độc đáo của mình, Lào Cai còn có thể cónhững chương trình du lịch văn hóa kết hợp các đặc điểm văn hóa của nhiều dân tộctrong địa phương, giúp du khách sẽ có những trải nghiệm sâu sắc hơn và thú vị hơnvề những nét văn hóa độc đáo riêng của từng khu vực và của từng dân tộc. Mặt khác, Lào Cai mới chỉ khai thác được một phần nhỏ các giá trị văn hóađể đưa vào các sản phẩm du lịch của mình. Hiện nay, các chương trình du lịch vănhóa mới chỉ chú trọng đến những lễ hội và những sản phẩm thổ cẩm của địaphương. Trong khi đó, rất nhiều những nét văn hóa đặc sắc khác như: các nhạc cụtruyền thống (khèn môi, kèn lá, sáo mèo…), những trang phục đặc trưng của từngdân tộc với những nét họa tiết độc đáo mang những ý nghĩa và tín ngưỡng khácnhau; lĩnh vực ẩm thực truyền thống của các dân tộc với nguồn nguyên liệu cũngDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  32. 32. - 28 -như cách chế biến mới lạ cũng chưa được tìm tòi, chọn lọc để trở thành một nét chủđạo trong du lịch văn hóa tại địa phương. Tại địa phương, riêng về trang phục có 34kiểu loại với sắc màu, chất liệu khác nhau và theo khảo sát sơ bộ của Tổng cục Dulịch Việt Nam hiện nay Lào Cai có gần 100 điệu múa, có đủ 10 họ với 11 chi khácnhau của các nhạc khí. Tìm hiểu về lịch sử, nguồn gốc của các dân tộc cũng là một mảng văn hóađộc đáo chưa được khai thác trong các mô hình du lịch văn hóa hiện có tại Lào Cai.Những tri thức văn học, các bài thuốc dân gian, các trò chơi dân gian của các dântộc cũng là một nét văn hóa độc đáo và mới mẻ chưa được khai thác để làm phongphú thêm cho du lịch văn hóa tại địa phương. Du lịch văn hóa hiện tại mới chỉ dừnglại ở tên gọi và hình thức chứ chưa thực sự đi sâu vào việc tìm hiểu và cảm nhận cácgiá trị văn hóa ở nhiều mặt, nhiều phương diện khác nhau. 2.2.1.2 Tiềm năng phát triển mô hình “Du lịch cộng đồng” tại Lào Cai Hầu hết các bản làng ở địa phương đều được bao quanh bởi khung cảnh thiênnhiên núi rừng hùng vĩ, với những ruộng bậc thang xanh mướt và khí hậu mát mẻcủa vùng núi cao – là địa điểm vô cùng lý tưởng cho các hoạt động nghỉ dưỡng vàtìm hiểu văn hóa. Mặt khác, với bản chất hiền lành, chất phác, những người dân địaphương luôn để lại trong lòng du khách ấn tượng về một miền đất tươi đẹp vớinhững con người tốt bụng và hiếu khách. Nhiệm vụ cơ bản của những người trực tiếp hoạt động du lịch cộng đồng làgiới thiệu cho du khách về nếp sống, văn hóa và các phong tục tập quán của nhândân các dân tộc; phát huy và khai thác các điều kiện tự nhiên cơ sở vật chất, nguồnlực của nhân dân, tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa do dân bản sản xuất ra phục vụkhách du lịch, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, tinhthần cho dân bản; bảo tồn, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa vật thể và phi vậtDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  33. 33. - 29 -thể cũng như tài nguyên du lịch, hướng đến phát triển du lịch cộng đồng nhằm xóađói, giảm nghèo mà chủ thể là cộng đồng các dân tộc bản địa. Đối tượng chủ yếu của loại hình du lịch này là các du khách nước ngoài. Họđến từ những đất nước có trình độ phát triển hơn nhưng lại bị thu hút bởi nhữngphong tục, bởi truyền thống, bởi không khí gia đình và cộng đồng của đồng bào nơiđây. Chính vì vậy, mô hình du lịch này hứa hẹn những nguồn lợi lớn nếu được đầutư và khai thác đúng cách. Nếu công tác bảo tồn và phát triển được thực hiện mộtcách có định hướng thì tiềm năng về mô hình du lịch cộng đồng sẽ còn phát triểnhơn nữa trong tương lai. Mô hình du lịch cộng đồng hiện nay cũng đang là xu thế phát triển chung ởrất nhiều quốc gia. Phần đông du khách hiện nay hướng nhiều sự tò mò và thích thúđối với việc tìm hiểu văn hóa hơn là việc thưởng thức những cảnh đẹp thiên nhiên.Việc phát triển mô hình du lịch này tại địa phương đã bắt kịp với xu hướng du lịchmới này và phần nào đáp ứng được một lượng lớn nhu cầu của khách du lịch. Tuynhiên, sự thành công của mô hình này còn đòi hỏi nhiều nỗ lực trong việc nâng caocơ sở hạ tầng, nâng cao dân trí để có thể làm hài lòng lượng khách du lịch đangngày một tăng. Hình thức du lịch cộng đồng mới chỉ được xây dựng và phát triển ở một vàiđịa điểm đơn lẻ, chưa được phổ biến và nhân rộng trong toàn tỉnh tao thành một lựachọn mới cho khách du lịch khi đến với tất cả các địa danh du lịch của Lào Cai.Hình thức này đang phát triển hoàn toàn tự phát do nhu cầu của những khách dulịch tự do không đi theo tour mà chưa hề có bất kỳ sự quản lý, quy hoạch cũng nhưliên kết với các mô hình khác của du lịch văn hóa để tạo hiệu quả tốt hơn cho dulịch địa phương. 2.2.1.3 Tiềm năng phát triển mô hình “Du lịch làng nghề” tại Lào Cai Lào Cai nổi tiếng bởi các địa danh du lịch Sa Pa, Bắc Hà… Nơi đây cònđược du khách biết đến bởi các làng nghề truyền thống: dệt thổ cẩm, chạm khắcDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  34. 34. - 30 -bạc, rèn đúc, nấu rượu… mang đậm bản sắc dân tộc. Người Xá Phó có nghề dệt vải,thêu trang phục, đan lát. Người Dao có nghề thêu hoa văn thổ cẩm, nấu rượu, làmgiấy. Người Tày có nghề làm chăn đệm. Người Mông có nghề rèn đúc. Một làng nghề thổ cẩm của Lào Cai Tại các xã vùng cao Lào Cai, các cấp quản lý và lãnh đạo luôn quan tâm tớiviệc bảo tồn và phát triển nghề, làng nghề truyền thống tại địa phương. Rất nhiềubản làng có nhiều tiềm năng để phát triển các làng nghề truyền thống gắn với pháttriển du lịch, đặc biệt là ở Sa Pa và Bắc Hà. Nơi đây, các sản phẩm thêu, dệt thổcẩm, chạm khắc bạc, mây tre đan, rèn đúc, nấu rượu… được nhiều du khách tìm đếnkhám phá và tìm hiểu. Du khách đến với Lào Cai sẽ không chỉ được tham quanthắng cảnh, được sống trong không khí cộng đồng mà còn có cơ hội tham gia vàocông việc sản xuất những mặt hàng thổ cẩm truyền thống của người dân địaphương. Việc được tham gia trực tiếp và những công đoạn sản xuất dù là rất nhỏnày cũng đều để lại những cảm xúc và những tìm tòi vô cùng mới mẻ đối với dukhách. Họ sẽ có cơ hội được hiểu thêm về con người và văn hóa nơi đây. Mỗi khi đến với Sa Pa, Bắc Hà, khách du lịch không quên mua cho mìnhnhững sản phẩm thổ cẩm, đồ trang sức, rượu… được sản xuất từ những làng nghềtruyền thống Tả Phìn, Cát Cát, Sa Pả, San Sả Hồ (Sa Pa); Bản Phô, Na Hối (BắcHà)… để làm quà.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  35. 35. - 31 - Với mục tiêu bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống gắn với pháttriển du lịch, hầu hết các làng nghề đã tạo được những nét riêng để thu hút khách dulịch. Đặc biệt, nghề dệt thổ cẩm đang dần vươn lên chiếm ưu thế, phục vụ nhu cầutiêu dùng trong gia đình và làm quà cho khách du lịch. Hàng năm có hàng vạn métvải thổ cẩm được sản xuất và tiêu thụ. Bên cạnh khu du lịch Sa Pa đã được biết đếnvới các sản phẩm thổ cẩm độc đáo, các huyện Văn Bàn, Bắc Hà… cũng đã hìnhthành nhiều làng nghề thêu, dệt thổ cẩm, thu hút hàng nghìn lao động nhàn rỗi. Các làng nghề truyền thống ở Lào Cai còn được biết đến bởi các sản phẩm:rượu San Lùng, rượu ngô Bản Phố được nhân dân thôn San Lùng (Bát Xát) và thônBản Phố (Bắc Hà) sản xuất theo những bí quyết lâu đời. Rượu nổi tiếng trong nướcđược khách du lịch tin dùng. Lào Cai không chỉ có vẻ đẹp được thiên nhiên ban tặng, các làng nghề truyềnthống sẽ là điểm đến hấp dẫn của du khách trong hành trình khám phá bản sắc vănhoá dân tộc đa dạng trong những năm tới. 2.2.2 Những khó khăn, tồn tại của du lịch văn hóa tại Lào Cai 2.2.2.1. Các dự án thủy điện đang đe dọa du lịch Lào Cai Trước khi các dự án thủy điện được xây dựng tại Lao Chải, Sử Pán… cácđiểm du lịch cộng đồng nằm trên tuyến du lịch làng bản xuống khu vực hạ huyện SaPa tỉnh Lào Cai đã đón lượng lớn du khách đến tham và lưu trú, chủ yếu là kháchquốc tế. Tuy nhiên, khi các dự án thủy điện khởi công và có tác động rõ nét đến môitrường và cảnh quan du lịch thì lượng khách đến tham quan và lưu trú tại các điểmnày giảm mạnh. Số lượng khách lưu trú ở các điểm du lịch cộng đồng trên giảmđồng nghĩa với thời gian lưu trú giảm, khách chỉ đi tham quan trong ngày, vì vậychi tiêu dành cho du lịch thấp dẫn đến thu nhập của người dân hầu như không đượccải thiện.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  36. 36. - 32 - Con suối Mường Hoa cạn khô, bị tàn phá bởi các công trình Cảnh quan tự nhiên bị xâm hại làm mất đi cảnh quan du lịch cụ thể như dọcthung lũng Mường Hoa với thảm thực vật chân núi; suối Mường Hoa, La Ve và cáctràn ruộng bậc thang hầu như bị hủy hoại do tác động của quá trình thi công, san gạtmặt bằng, làm đường dẫn cho các công trình. Cảnh quan tự nhiên hoang sơ, gắn vớirừng, suối, bản làng và hệ thống ruộng bậc thang vốn được coi là cảnh quan du lịchhấp dẫn của Sa Pa hiện đã bị xâm hại rõ nét tại các điểm thi công thủy điện. Những cảnh quan du lịch hấp dẫn, vốn là “linh hồn” của loại hình du lịchlàng bản, du lịch cộng đồng có nguy cơ biến dạng hoặc mất hẳn: Ruộng bậc thang,một di sản văn hóa bị giảm diện tích do nhường đất cho thủy điện, hoặc không cónước tưới phải bỏ hoang. Suối Mường Hoa, mạch nước nóng vốn là những điểm dulịch hấp dẫn gần như bị xóa xổ bởi tác động của quá trình xây dựng thủy điện, làmmất đi tiềm năng thu hút khách du lịch đến với Bản Hồ và Sa Pa. Năm 2009, ruộng bậc thang Sa Pa được Tạp chí du lịch Travel and Leisure(Mỹ) bình chọn là một trong 7 ruộng bậc thang đẹp nhất thế giới, nhưng nay do tácđộng của quá trình thi công thủy điện hệ thống ruộng bậc thang này có nguy cơ bịthu hẹp và phá vỡ cấu trúc. Tất cả những yếu tố tác động đó đã làm nguồn thu từ dịch vụ nhà nghỉ tạigia và các dịch vụ khách giảm do lượng khách đến cộng đồng giảm hẳn.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  37. 37. - 33 - Với cảnh quan môi trường bị phá vỡ thì những bản du lịch cộng đồng này làm sao có thể thu hút du khách. Nếu như năm 2006 Bản Hồ đón 8.158 lượt khách lưu trú qua đêm, thì đếnnăm 2008 giảm xuống còn 5.339 lượt, năm 2009 chỉ còn 2.991 lượt, ba tháng đầunăm 2010 chỉ đón được 80 lượt. Tổng doanh thu từ dịch vụ nhà nghỉ của xã Bản Hồnăm 2009 giảm 82.186.000 đồng so với năm 2008. Ước tính, con số này còn giảmmạnh hơn nhiều lần ở năm 2010 (đến tháng 3 năm 2010 tổng doanh thu từ nhà nghỉcủa xã Bản Hồ mới đạt 2.280.000 đồng trong khi từ tháng 01 – 03 hàng năm là mùacao điểm của khách quốc tế, khách có nhu cầu đi du lịch làng bản và du lịch cộngđồng). Bên cạnh đó, sự thay đổi nhanh chóng của cảnh quan môi trường khiến việcứng xử của cư dân bản địa gặp lúng túng (có hiện tượng “sốc”). Đặc biệt ứng xửtrước sự thay đổi của rừng và nguồn nước. Rừng bị đốn hạ khiến cạn kiệt rau rừng,suối bị ô nhiễm nguồn nước do đất đá bồi lấp khiến mất đi nguồn cá suối… Nhữngloại ẩm thực đặc sản bản địa vốn có thể thu hút du khách và nâng cao thu nhậpngười dân hiện cũng không còn. Song song với đó là việc mất đất canh tác và suy giảm các nguồn tàinguyên ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế trong đó có du lịch. Nguồn nước giảmkhông đủ cung cấp nước sạch cho ăn uống sinh hoạt cho con người và nước tướiDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  38. 38. - 34 -cho các diện tích đất canh tác còn lại. Đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhu cầusử dụng nước sạch của khách du lịch. Sự biến đổi của môi trường sinh thái, cảnh quan du lịch và sự xuất hiện quánhiều các công trường khiến người dân cảm thấy lúng túng trong ứng xử với các tácnhân này. Việc quá nhiều khói, bụi, tiếng ồn – đặc biệt tiếng phá đá, nổ mìn đã ảnhhưởng khá nặng đối với đời sống nhân dân và sinh hoạt của du khách nếu lưu trú tạicác điểm này. Đồng thời, Bản Dền hiện có khoảng 10 hộ gia đình có nhà gần suốiMường Hoa có nguy cơ mùa lũ tới sẽ thiệt hại nặng nề. Những du khách được hỏi đã có những đánh giá cho thấy các dự án thủy điệnđã thực sự làm nản lòng du khách tới tham quan, mang lại cảm giác thất vọng vàtiếc nuối cho du khách khi thấy cảnh quan và môi trường du lịch bị phá vỡ. Điềunày không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới các doanh nghiệp mà còn ảnh hướng nặngnền đến hình ảnh và sức hấp dẫn của du lịch Lào Cai đối với khách quốc tế. Nếu năm 2006 Bản Hồ đón 18.313 lượt khách lưu trú, Tả Van 8.158 lượt,Thanh Phú 1.626 lượt thì đến năm 2009 Bản Hồ chỉ đón được 3.197 lượt (giảm83,6%), Tả Van 2.991 lượt (giảm 63,4%), Thanh Phú 41 lượt (giảm 60,4%). Đếnthời điểm khảo sát (ngày 17.3.2010) tại Bản Hồ, theo báo cáo của Ban quản lý dulịch cộng đồng Bản Hồ, lượng du khách đến tham quan và lưu trú còn giảm mạnh,chỉ đạt 80 lượt giảm 92,3% so cùng kỳ năm 2009 (1.027 lượt). 2.2.2.2. Cơ sở hạ tầng chưa phát triển đáp ứng nhu cầu của phát triển du lịch Với những nỗ lực của cả lãnh đạo và người dân địa phương, Lào Cai đangtrở thành một điểm đến lý tưởng cho những du khách yêu thích thiên nhiên núi rừngvà ham tìm tòi về những nét văn hóa của đồng bào dân tộc vùng cao. Tuy nhiên, sựphát triển quá nhanh của các chương trình du lịch và lễ hội đã dẫn đến sự quá tải docơ sở hạ tầng chưa được quy hoạch và xây dựng đáp ứng phù hợp với nhu cầu ngàycàng cao của du lịch.Du lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  39. 39. - 35 - Tây Bắc với ước mơ những con đường Trong “Lễ hội trên mây Sa Pa” diễn ra vào ngày 30/4 và 1/5 vừa qua, lượngdu khách đổ về Sa Pa đã tặng đột biến dẫn đến tình trạng tắc nghẽn giao thông và“cháy” phòng trọ cho khách du lịch. Dù tình hình an ninh chính trị, trật tự an toànxã hội trên toàn địa bàn huyện Sa Pa trong dịp lễ này vẫn được đảm bảo nhưng dothị trấn Sa Pa chưa có bãi đỗ xe và nhà thầu thi công cầu cạn chống lún đoạn đườngSa Pa - Lào Cai không có phương án điều tiết giao thông trong những ngày diễnra lễ hội nên đã để xảy ra tắc đường cục bộ. Mặt khác, do địa hình chủ yếu là núi cao, nhiều ghềnh đá nên việc phát triểncác loại hình dịch vụ ở địa phương còn gặp phải nhiều khó khăn. Giao thông giữaLào Cai với các tỉnh lân cận và trung ương vẫn còn gặp nhiều khó khăn do tình hìnhđường xá hiện tại của Lào Cai chưa đáp ứng được những xe có trọng tải lớn. Chínhnhược điểm này đã và đang là trở ngại chính trên con đường phát triển kinh tế củatỉnh Lào Cai. Và một khi nền kinh tế chưa có những khởi sắc, chưa thu hút đượcvốn đầu tư để phát triển thì chưa thể tạo được những điều kiện tốt nhất phục vụ choviệc phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng tại địa phương. Tình trạng thiếu nước, không có điện và công nghệ thông tin vẫn còn đangdiễn ra tại nhiều bản làng thuộc tỉnh Lào Cai. Việc nâng cấp cơ sở hạ tầng và cảithiện đời sống cho người dân là những việc làm vô cùng cần thiết để tạo nền tảngDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  40. 40. - 36 -cho du lịch phát triển nhưng lại đòi hỏi nhiều thời gian và tâm huyết của nhữngngười làm chính sách. Chính vì lẽ đó, lãnh đạo của tỉnh cần có những chính sáchphát triển du lịch phù hợp với tình hình hiện tại của địa phương và có kế hoạch nângcao dần trong tương lai, tránh những tình trạng lễ hội tổ ra những không đủ sứcquản lý, làm xấu đi hình ảnh du lịch Lào Cai trong con mắt du khách trong và ngoàinước. 2.2.2.3. Trình độ nhân lực chưa phát triển đáp ứng nhu cầu của phát triển du lịch Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, tính đếnngày 31 tháng 12 năm 2009, tỉnh Lào Cai có 556 biên chế lao động thuộc lĩnh vựchoạt động của ngành. Trong đó cấp tỉnh có 274 biên chế và cấp huyện, thành phố,xã phường, thị trấn có 282 biên chế. Tuy nhiên, theo đánh giá của ngành chức năng thì chất lượng nguồn nhân lựccòn khá thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu. Đó là chất lượng lao động nghiệp vụ cònnhiều hạn chế; trình độ ngoại ngữ còn thấp, tính chuyên nghiệp chưa cao… Đến naytoàn ngành có 01 tiến sĩ (0,18%); thạc sĩ: 05 người (0,9%); đại học: 224 người(40,28%); cao đẳng: 33 người (5,94%); trung cấp: 170 người (30,57%) nên chưađáp ứng được yêu cầu thực tế của công việc. Đặc biệt hiện nay đội ngũ cán bộ giỏi,các nghệ sỹ, nhà nghiên cứu có uy tín, mang tính chuyên gia quá ít chưa đáp ứngđược yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của ngành. Đây chính là thách thức lớn chongành văn hoá, thể thao và du lịch Lào Cai trong tiến trình hội nhập. Hiện nay LàoCai có 01 trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch là cơ sở đào tạo nguồnnhân lực cho ngành nhưng thực tế công tác đào tạo còn rất nhiều hạn chế về quymô, số lượng và chất lượng. Trước thực trạng đó, mấy năm gần đây Sở đã đặc biệt quan tâm đến công tácđào tạo, bồi dưỡng nâng cao phát triển nguồn nhân lực toàn ngành. Chú trọng mởcác lớp tập huấn về công tác quản lý; tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao và duDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  41. 41. - 37 -lịch; tăng cường liên kết với một số trường mở các lớp có trình độ đại học về Vănhóa và Du lịch. Tích cực cử cán bộ đi đào tạo trình độ cao (tiến sĩ, thạc sĩ, du họcnước ngoài...). Từ năm 2005 đến nay số cán bộ được cử đi học tại nước ngoài : 05đ/c; trong nước: 25 đ/c trình độ đại học và cao học. 2.2.2.4. Đặc điểm dân cư gây khó khăn cho việc phát triển du lịch Lào Cai là địa phương có hơn 20 dân tộc anh em cùng sinh sống, và mỗi mộtdân tộc lại có những tập tục, những lối sống và suy nghĩ riêng. Đồng thời, các dântộc này sống rải rác trên các địa hình núi cao, gây khó khăn cho công tác quản lý vàkhai thác phục vụ du lịch. Đồng bào dân tộc thiểu số phần đông có trình độ học vấnthấp và chỉ tuân theo những quy định, phong tục riêng của dân tộc mình. Chính vìvậy, cần nhiều thời gian để thuyết phục, làm cho họ hiểu và nghe theo những chủtrương đúng đắn góp phần phát triển du lịch tại địa phương. Đồng bào dân tộc thiểu số trước đây chủ yếu sống bằng nghề nông, làm lụngtrên nương rẫy và ruộng bậc thang nên tỷ lệ nghèo đói còn cao. Người dân không cóđiều kiện đi học nên không thể thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói. Mốilo cơm áo ruộng vườn luôn thường trực và họ không hề có ý thức, cũng như suynghĩ làm thế nào để cải thiện cuộc sống của mình. Sự thiếu thốn của cuộc sống,thiếu tri thức và thiếu thông tin là một rào cản rất lớn từ nhiều năm nay luôn kìmhãm sự phát triển của các dân tộc thiểu số. Để hướng tới phát triển du lịch bềnvững, các cấp chính quyền cần có những chính sách nâng cao đời sống và nâng caotri thức của người dân địa phương để họ có cơ hội sáng tạo và đóng góp một cáchchủ động, hiệu quả vào sự phát triển của du lịch ở địa phương. Rất nhiều các chủ trương chính sách của các cấp, ban, ngành của địa phươngnhằm tăng cường quản lý và phát triển du lịch đều gặp phải rất nhiều khó khăn vìthói quen cũng như phong tục của đồng bào các dân tộc thiểu số. Theo chủ trươngcủa tỉnh, các phiên chợ vùng cao được quy hoạch thành chợ văn hóa nhằm tạo ramột điểm đến hấp dẫn trong tuor du lịch Lào Cai – Sapa – Bắc Hà. Nhưng cứ mỗiDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010
  42. 42. - 38 -lần Nhà nước đầu tư xây cất chợ thành khang trang thì bà con lại chuyển đi nơikhác. Họ muốn họp chợ ngoài trời, ngay giữa thiên nhiên núi rừng hơn là trong cácki-ốt được xây cất theo kiểu miền xuôi. Vẫn biết các chính sách đưa ra đều với mụcđích tốt những trong nhiều hoàn cảnh lại chưa tìm hiểu suy nghĩ của người dân nêncòn chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Vì những thói quen, tập quán củađồng bào dân tộc đã và đang tạo nên những nét riêng độc đáo cho du lịch Sa Pa nênmọi công tác quản lý đều cần một sự đồng cảm về suy nghĩ, về thói quen của đồngbào và một thái độ trân trọng, có trách nhiệm trong việc gìn giữ các giá trị văn hóa 2.2.2.5. Những khó khăn trong việc bảo tồn và quản lý các di tích Từ năm 2007 đến nay, bằng ngân sách địa phương, cùng nguồn công đứcgần 30 tỷ đồng của nhân dân, các ban quản lý di tích đã trùng tu các đền như:Bảo Hà, Cấm, Quan, đền Thượng, Phúc Khánh, Bãi đá khắc cổ Sa Pa và Dinhthự Hoàng A Tưởng,... Thành phố Lào Cai là địa phương có số di tích nhiềutrong tỉnh được trùng tu tôn tạo chủ yếu dựa vào sức dân. 7 điểm di tích lịch sửvăn hoá mang đậm tín ngưỡng dân gian, dân tộc được quản lý chặt chẽ, như đềnThượng, Đền Mẫu, Đền Đôi Cô, Đền Quan... 2 năm trở lại đây, các di tích trênđịa bàn thành phố đã nhận được sự công đức của nhân dân trên 6 tỷ đồng. Sốtiền trên sử dụng một phần vào việc trùng tu tôn tạo các đền, chùa. Trên 300triệu đồng nhân dân đóng góp xây dựng động Phủ chúa Sơn Trang (đền Mẫu).Đền Thượng được mở rộng khuôn viên, sơn son thiếp vàng các đồ thờ tự, xâydựng các công trình phụ... trị giá trên 400 triệu đồng. Hiện tại Lào Cai còn nhiều di tích và danh thắng bị xuống cấp nghiêmtrọng. Hàng chục tỷ đồng đầu tư của Nhà nước và công đức của nhân dân đã gópphần "cứu" các di tích, danh thắng trong tỉnh thoát khỏi sự phá huỷ của thờigian... Song bên cạnh đó, việc bảo tồn di tích ở Lào Cai còn nhiều bất cập, thiếusự quản lý đồng bộ. Để bảo tồn, giữ gìn nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng tại các điểmDu lịch văn hóa tại vùng miền núi Lào Cai SVNCKH 2010

×