Successfully reported this slideshow.
We use your LinkedIn profile and activity data to personalize ads and to show you more relevant ads. You can change your ad preferences anytime.

Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước và vận dụng vào việt nam

  • Be the first to comment

Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước và vận dụng vào việt nam

  1. 1. Lời mở đầu Để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, thì vấn đề quan trọng nhất là phải cần có vốn. Vốn có hai loại chủ yếu là vốn trong nước và vốn nước ngoài. Đối với các nước đang phát triển, thì vấn đề thu hút vốn nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là yếu tố vô cùng quan trọng và được nhiều nước quan tâm, trong đó có nước ta. Trong thời đại ngày nay, xu hướng hoà nhập, liên kết giữa các nước trên thế giới ngày càng cao.Do đó trong hợp tác đầu tư quốc tế thường có nhiều nguồn vốn khác nhau. Nhìn chung, vốn nước ngoài đầu tư vào trong nước bằng hai con đưòng chính là đường công cộng và đường tư nhân hoặc thương mại. Hình thức đầu tư quôc tế chủ yếu là đầu tư trực tiếp (FDI: Foreign Direct Investment); đầu tư qua thị trường chứng khoán;cho vay của các định chế kinh tế và ngân hàng nước ngoài (vay thương mại) và nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA). Trong đề án môn học này,em xin đi vào vấn đề trọng tâm là: “Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở một số nước và vận dụng vào Việt Nam” Trong quá trình thực hiện đề án nay,em đã được sự góp ý và chỉ bảo tận tình của GS.TS Nguyễn Thành Độ. Tuy nhiên vì còn giới hạn về kiến thức cũng như thời gian nên bài viết này của em không tránh được thiếu sót. Kính mong sự góp ý của thầy! Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên thực hiện: 1
  2. 2. chương i: Lý luận chung về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI:Foreign Direct Investment) I. Vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế. 1.1 Quan điểm của Lê Nin và các nhà kinh tế về FDI. 1.1.1 Quan điểm của Lê Nin về FDI Theo Lê Nin, trong giai đoạn cạnh tranh tự do, đặc điểm của chủ nghĩa tư bản là xuất khẩu hàng hoá, còn trong giai đoạn hiện đại là xuất khẩu tư bản. Ông cho rằng: xuất khẩu tư bản là một đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Do tư bản tài chính trong quá trình phát triển đã xuất hiện hiện tượng “ tư bản thừa “, thừa so vơí tỉ suất lợi nhuận thấp nếu phải đầu tư trong nước, còn nếu đầu tư ra bên ngoài thì tỉ suất lợi nhuận sẽ cao hơn. Theo ông: “Chừng nào chủ nghĩa tư bản vẫn là chủ nghĩa tư bản, số tư bản thừa không phải dùng để nâng cao mức sống của quần chúng trong nước đó, vì như thế sẽ làm giảm bớt lợi nhuận của bọn tư bản- mà là để tăng thêm lợi nhuận bằng cách xuất khẩu tư bản ra nước ngoài, vào những nước lạc hậu. Trong các nước lạc hậu này, lợi nhuận thường cao vì tư bản hãy còn ít, giá đất đai tương đối thấp, tiền công hạ, nguyên liệu rẻ”(1) . Xuất khẩu tư bản có ảnh hưởng tới nguồn vốn đầu tư của các nước xuất khẩu tư bản, nhưng lại giúp cho những tổ chức độc quyền thu được lợi nhuận cao ở nước ngoài. Ngoài ra xuất khẩu tư bản còn bảo vệ chế độ chính trị ở các nước nhập khẩu tư bản và ít nhiều có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế, kỹ thuật. Nhưng thực tế nhân dân ở các nước nhập khẩu tư bản bị bóc lột nhiều hơn, sự lệ thuộc về kinh tế và kỹ thuật tăng lên và từ đó sự phụ thuộc về chính trị là khó tránh khỏi. Lê Nin cho rằng : “ Việc xuất khẩu tư bản ảnh hưởng đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và thúc đẩy hết sức nhanh sự phát triển đó trong những nước đã được đầu tư . Cho nên nếu trên một mức độ nào đó việc xuất khẩu có thể gây ra một sự ngưng trệ nào đó trong sự phát triển của các nước xuất khẩu tư bản..”(2) 1.1.2 Quan điểm của Samuelson về thu hút FDI Samuelson cho rằng đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp chỉ đủ sống ở mức tối thiểu do đó khả năng tích luỹ vốn hạn chế. Điều đó được thể hiện trong lý thuyết “ cái vòng luẩn quẩn “ và “cú huých từ bên ngoài”. Mặt khác ông cho rằng ,ở các nước đang phát (1) V.I.LêNin: toàn tập, “Chủ nghĩa đế quốc, giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”,Nxb tiến bộ, Matxcơva,1980,t27,tr456. (2) Sđd, tr459. 2
  3. 3. triển, nguồn nhân lực đang bị hạn chế bởi tuổi thọ và dân chí thấp; tài nguyên khan hiếm; kỹ thuật lạc hậu và gặp phải trở ngại trong việc kết hợp chúng.Do vậy ở nhiều nước đang phát triển ngày càng khó khăn và tăng “cái vòng luẩn quẩn”.Từ đó theo Samuelson: để phát triển kinh tế phải có “ cú huých từ bên ngoài nhằm phá vỡ cái vòng luẩn quẩn “ . Đó là phải có đầu tư của nước ngoài vào các nước đang phát triển. 1.1.3 Quan điểm của R.Nurke về FDI. R.Nurke đã lấy vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói làm lý luận tạo vốn: xét về lượng cung ,người ta thấy khả năng tiết kiệm ít ỏi, tình hình đó là do mức độ thu nhập thực tế thấp, mức thu nhập thấp phản ánh năng suất lao động thấp , đến lượt mình năng suất lao động thấp phần lớn do tình trạng thiếu tư bản gây ra. Thiếu tư bản lại là kết quả của khả năng tiết kiệm ít ỏi đưa lại.Và thế là cái vòng được khép kín. Trong cái vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói đó, nguyên nhân cơ bản là thiếu vốn. Do vậy, mở của cho đầu tư trực tiếp nước ngoài được ông xem là giải pháp thực tế nhất đối với các nước đang phát triển. Theo ông , mở cửa cho FDI có ý nghĩa đối với các nước đang phát triển có thể vươn đến những thị trường mới cũng như khuyến khích việc mở rộng kỹ thuật hiện đại và những phương pháp quản lý có hiệu quả .FDI giúp cho các nước đang phát triển tránh được những đòi hỏi về lãi suất chặt chẽ. Các nước có thu nhập thấp được chuyên môn hoá sản xuất nguyên liệu và thực phẩm xuất khẩu, được chuyên môn hoá dựa trên nguyên tắc bât di bất dịch của lợi thế so sánh trong thương mại quốc tế , dù rằng FDI trước hết cho lợi ích các nước xuất khẩu vốn chứ không phải của các nước nhận vốn , thế nhưng mở cửa vẫn còn hơn là đóng cửa. R.Nurke cho rằng ,FDI mang lại lợi ích chung cho cả hai bên , dù chẳng bao giờ cân bằng tuyệt đối nhưng không thể làm khác được vì nó là đòi hỏi tự nhiên , tất yếu của quá trình vận động thị trường 1.2 Bản chất của FDI. Sự phát triển của đầu tư trực tíêp nước ngoài được quy đinh hoàn toàn bởi quy luật kinh tế khách quan với những điều kiện cần và đủ chín muồi nhất định . Sự thay đổi thái độ từ ban đầu là “chống lại” qua “chấp nhận” đến “hoan nghênh” , đầu tư trực tíêp nước ngoài có thể xem là yếu tố tác động làm tạo ra những bước thay đổi nhận thức theo hướng ngày càng đúng hơn và chủ động hơn của con người đối với quy luật kinh tế khách quan về sự phát triển sức sản xuất xã hội và phân công lao động xã hội đang mở ra một cach thực tế trên quy mô quốc tế.Xu hướng này có ý nghĩa quyết định trong viêc chi phối các biểu hịên khác nhau cuả đầu tư trực tiếp nước ngoài. Quan hệ kinh tế quốc tế đã hình thành nên các dòng lưu chuyển vốn chủ yếu:Dòng vốn từ các nước đang phát triển đổ vào các nước đang phát triển; dòng vốn lưu chuyển trong nội bộ các nước phat triển.Sự lưu chuyển của các dòng vốn diễn ra dưới nhiều hinh thức như : Tài trợ phát triển chính thức (gồm viện trợ phát triển chính thức ODA và các hình thức khác),nguồn vay tư 3
  4. 4. nhân(tín dụng từ các ngân hàng thương mại) và đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mỗi nguồn vốn có đặc điểm riêng của nó. Nguồn tài trợ phát triển chính thức là nguồn vốn do các tổ chức quốc tế, chính phủ( hoặc cơ quan đại diện chính phủ) cung cấp. Loại vốn này có ưu điểm là có sự ưu đãi nhất định về lãi suất, khối lượng cho vay lớn và thời hạn vay tương đối dài. Để giúp các nước đang phát triển, trong loại vốn này đã giành một lượng vốn chủ yếu cho vốn viện trợ phát triển chính thức ODA, đây là nguồn vốn có nhiều ưu đãi, trong ODA có một phần là viện trợ không hoàn lại, chiếm khoảng 25% tổng số vốn. Tuy vậy không phải khoản ODA nào cũng dễ dàng, nhất là loại vốn do các chính phủ cung cấp, nó thường gắn với những rằng buộc nào đó về chính trị, kinh tế, xã hội, thậm chí cả về quân sự. Nguồn vay tư nhân: Đây là nguồn vốn không có những rằng buộc như vốn ODA, tuy nhiên đây là loại vốn có thủ tục vay rất khắt khe, mức lãi suất cao, thời hạn trả nợ rất nghiêm ngặt. Nhìn chung sử dụng hai loại vốn trên đều để lại cho nền kinh tế các nước đi vay gánh nặng nợ nần – một trong những yếu tố chứa đựng tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến khủng hoảng, nhất là khủng hoảng về tiền tệ. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại,đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại vốn có nhiều ưu điểm hơn so với các loại vốn kể trên. Nhất là đối với các nước đang phát triển, khi khả năng tổ chức sản xuất đạt hiệu quả còn thấp thì hiệu quả càng rõ rệt. Về bản chất , FDI là sự gặp nhau về nhu cầu của một bên la nhà đầu tư và một bên khác là nước nhận đầu tư. - Đối với nhà đầu tư: Khi quá trình tích tụ tập trung vốn đạt tới trình độ mà “mảnh đất” sản xuất kinh doanh truyền thống của họ đã trở nên chật hẹp đến mức cản trở khả năng hiệu quả của đầu tư , nơi mà ở đó nếu đầu tư vào thì họ sẽ thu được lợi nhuận như mong muốn . Trong khi ở một số quốc gia khác lại xuất hiện nhiều lợi thế mà họ có thể khai thác để thu lợi nhuận cao hơn nơi mà họ đang đầu tư .Có thể nói đây chính là yếu tố cơ bản nhất thúc đẩy các nhà đầu tư chuyển vốn của mình đầu tư vào nước khác.Hay nói cách khác ,việc tìm kiếm , theo đuổi lợi nhuận cao hơn và bảo toàn độc quyền hay lợi thế cạnh tranh là bản chất , là động cơ , là mục tiêu cơ bản xuyên suốt của các nhà đầu tư .Đầu tư ra nước ngoài là phương thức giải quyết có hiệu quả. Đây là loại hình mà bản thân nó rất có khả năng để thực hiện việc kéo dài “chu kỳ tuổi thọ sản phẩm” , “chu kỳ tuổi thọ kỹ thuật” mà vẫn giữ được độc quyền kỹ thuật ,dễ dàng xâm nhập thị trường nước ngoài mà không bị cản trở bởi các rào chắn. Khai thác được nguồn tài nguyên thiên nhiên cũng như giá nhân công rẻ của nước nhận đầu tư…Phải nói rằng,đầu tư trực tiếp nước ngoài là “lối thoát lý tưởng”trươc súc ép xảy ra “sự bùng nổ phá sản”do những mâu thuẫn tất yếu của quá trình phat triển. Ta nói nó là lý tưởng vì chính lối thoát này đã tạo cho các nhà đầu tư tiếp tục thu lợi và phát triển , có khi còn phát triển với tốc độ cao 4
  5. 5. hơn. Thậm chí khi nước nhận đàu tư có sự thay đổi chính sách thay thế nhập khẩu sang chính sách hướng sang xuất khẩu thì nhà đầu tư vẫn có thể tiếp tục đầu tư dưới dạng mở các chi nhánh sản xuất các bộ phận , phụ kiện …để xuất khẩu trở lại để phục vụ cho công ty mẹ , cũng như các thị trường mới …Đối với các nước đang phat triển , dưới con mắt của các nhà đầu tư , trong những năm gần đây các nước này đã có những sự cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng, điều kiện kinh tế , trình độ và khả năng phát triển của người lao động, hệ thống luật pháp , dung lượng thị trường, một số nguồn tài nguyên … cũng như sự ổn định về chính trị… Những cải thiện này đã tạo sự hấp dẫn nhất định đối với các nhà đầu tư . Tước khi xảy ra khủng hoảng tài chính _tiền tệ , thế giới đánh giá Châu á , và nhất là Đông á và Đông Nam á đang là khu vực xuất hiện nhiều nền kinh tế năng động, nhiều tiềm năng phát triển và có sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư. Tóm lại : Thực chất cơ bản bên trong của nhà đầu tư trong hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm:Duy trì và nâng cao hiệu quả sản xuất của chủ đầu tư ( vấn đề vốn , kỹ thuật , sản phẩm …;Khai thác các nguồn lực và xâm nhập thị trường của các nước nhận đầu tư ; Tranh thủ lợi dụng chính sách khuyến khích của các nước nhận đầu tư ; Thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp để thực hiện các ý đồ kinh tế (hoặc phi kinh tế ) mà các hoạt đọng khác không thực hiện được. - Đối với các nước nhận đầu tư : Đây là những nước đang có một số lợi thế mà nó chưa có hoặc không có điều kiện để khai thác. Các nước nhận đầu tư thuộc loại này thường là các nước có nguồn tài nguyên tuơng đối phong phú, có nguồn lao động dồi dào và giá nhân công rẻ, thiếu vốn, thiếu kỹ thuật, thiếu công nghệ tiên tiến và ít có khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao… Số này phần lớn thuộc các nước phát triển. - Các nước nhận đầu tư dạng khác đó là các nước phát triển, đây các nước có tiềm lực kinh tế cao, phần lớn là những nước có vốn đầu tư ra nước ngoài. Các nước này có đặc điểm là có cơ sở hạ tầng tốt, họ đă và đang tham gia có hiệu quả vào qúa trình phân công lao động quốc tế hoặc là thành viên của các tổ chức kinh tế hoặc các tập đoàn kinh tế lớn. Họ nhận đầu tư trong mối liên kết để giữ quyền chi phối kinh tế thế giới. Nói chung, đối với nước tiếp nhận đầu tư, cho dù ở trình độ phát triển cao hay thấp, số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là do sự khéo léo “mời chào” hay do các nhà hay do các nhà đầu tư tự tìm đến mà có , thì đầu tư nước ngoài cũng thường có sự đóng góp nhất định đối với sự phát triển của họ. ở những mức độ khác nhau , đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng vài trò là nguồn vốn bổ sung là điều kiện quyết định ( thậm chí quyết định) theo sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực của một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh , hay một số ngành nghề , hoặc là những yếu tố xúc tác làm cho các tiềm năng nội tại của nước nhận đầu tư phát huy một cách mạnh mẽ và có hiệu quả hơn. 5
  6. 6. Lịch sử phát triển trực tiếp nước ngoài cho thấy thái độ của các nước nhận đầu tư là từ thái độ phản đối ( xem đầu tư trực tiếp nước ngoài là công cụ cướp bóc đối với thuộc địa ) đến thái độ buộc phải chấp nhận và đến thái độ hoan nghênh …Trong điều kiện hiện nay , đầu tư trực tiếp nước ngoài được mời chào , khuyến khích mãnh liệt đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mặc dù hiện nay vẫn còn nhiều tranh luận ,còn những ý kiến khác nhau về vai trò , về mặt tích cực , tiêu cực …của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với nước tiếp nhận đầu tư . Nhưng chỉ điểm qua nhu cầu , qua trào lưu cạnh tranh thu hút cũng đủ cho ta khẳng định rằng : đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay đối với các nước nhận đầu tư có tác dụng tích cực là chủ yếu . Đa phần các dự án đầu tư trực tíêp nước ngoài , khi thực hiện đều đưa lại lợi ích cho nước nhận đầu tư . Đối với nhiều nước , đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự đóng vai trò là điều kiện , là cơ hội , là cửa ngõ giúp thoát khỏi tình trạng của một nước nghèo , bước vào quỹ đạo của sự phat triển và thưc hiện công nghiệp hoá. Tóm lại : Đồng vốn ( tư bản ) của các tập đoàn , các công ty xuyên quốc gia lớn xuất ra và hoạt đọng ngày càng tinh vi và phức tạp hơn, nhưng hiệu quả đưa lại thường đạt ở mức cao hơn . Quan hệ của nước tiếp nhận đầu tư với nhà đầu tư trong hoạt đọng đầu tư trực tiếp nước ngoài của các tập đoàn , các công ty xuyên quốc gia lớn thường tồn tại đan xen giữa hợp tác và đấu tranh ở mức độ ngày càng cao hơn 1.3. Các hình thức chủ yếu của FDI Luật quy định có ba hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là: hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh; xí nghiệp liên doanh ; và xí nghiệp 100% vốn nước ngoài . 1.3.1. Hình thức xí nghiệp liên doanh. Hình thức này được áp dụng phổ biến hơn, nhưng có xu hướng bớt dần về tỉ trọng . Các nhà đầu tư nước ngoài thích áp dụng hình thức liên doanh vì : -Thấy được ưu thế giữa hình thức xí nghiệp liên doanh so với hình thức xí nghiệp 100% vốn nước ngoài là tranh thủ được sự hiểu biết và hỗ trợ của các đối tác trong tất cả các khâu hình thành, thẩm định và thưc hiện dự án. -Phạm vi , lĩnh vực và địa bàn hoạt động của xí nghiệp liên doanh rộng hơn xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên có thể giải thích xu hướng hạn chế dần hình thức xí nghiệp liên doanh ở Việt Nam bằng những nguyên nhân sau : -Sau một thời gian tiếp cận với thị trường Việt Nam , các nhà đầu tư nước ngoài , đặc biệt các nhà đầu tư Châu á đã hiểu rõ hơn về luật pháp , chính sách và thủ tục đầu tư tại Việt Nam . 6
  7. 7. -Thực tiễn phát sinh nhiều tranh chấp trong việc quản lý điều hành mà một phần do sự yếu kém về trình độ của người Việt Nam . Bên nước ngoài thường góp vốn nhiều hơn nhưng không quýêt định những vấn đề chủ chốt của xí nghiệp vì nguyên tắc nhất trí trong hội đồng quản trị. -Khả năng tham gia liên doanh của bên Việt Nam là có hạn vì thiếu cán bộ , thiếu vốn đóng góp . - Nhiều trường hợp cơ quan quản lý nhà nước đã tác động quá sâu vào quá trình sản xuất, kinh doanh của xí nghiệp 7
  8. 8. 1.3.2.Xí nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. Đầu tư nước ngoài theo hình thức này ngày càng tăng . Nguyên nhân giảm sút tỉ trọng xí nghiệp liên doanh cũng chính là nguyên nhân tăng tỉ lệ các xí nghiệp 100% vốn nước ngoài .Uỷ ban nhà nước về hợp tác và đầu tư trước đây đã từ chối cấp giấy phép cho nhiều dự án 100% vốn nước ngoài trong những ngành ,lĩnh vực quan trọng hoặc có tính đặc thù như : Bưu chính viễn thông , xây dựng kinh doanh khách sạn , văn phòng cho thuê , sản xuất xi măng , dịch vụ xuất nhập khẩu , du lịch…Tuy nhiên trong những năm gần đây , các địa phương phía Nam , đặc biệt là các tỉnh Đồng Nai , Sông Bé, Bà Rịa _Vũng Tàu đã ủng hộ mạnh các dự án 100% vốn nước ngoài với lập luận rằng cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê đất lập xí nghiệp 100% vốn nước ngoài có lợi hơn việc giao đất cho bên Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để tham gia liên doanh 1.3.3.Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hình thức này được áp dụng phổ biến trong lĩnh vực thăm dò khai thác dầu khí và trong lĩnh vực bưu chính viễn thông .Hai lĩnh vực này chiếm 30% số dự án hợp đồng hợp tác kinh doanh , nhưng chiếm tới 90% tổng vốn cam kết thưc hiện . Phân còn lại chủ yếu thuộc về lĩnh vực công nghiệp , gia công , dịch vụ 1.3.4 Các hình thức đầu tư và phương thức tổ chức thu hút đầu tư khác . - Công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài : Đây là hình thức tổ chức khá phổ biến trên thế giới . Theo quan điểm của các nhà đầu tư nước ngoài , so với các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn , công ty cổ phần có lợi thế trong việc huy động vốn ngay từ đầu của doanh nghiệp . - Cổ phần hoá các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài , việc chuển nhượng phần góp vốn trong xí nghiệp liên doanh phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền . Xí nghiệp liên doanh không được phép huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc bán lại chứng khoán . Vì vậy , một số nhà đầu tư nước ngoài cho rằng quy định của Luật hiện hành là “cứng” và đề nghị cho cổ phần hoá xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài . - Chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam . Luật đầu tư hiện hành không có quy định về hình thức chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên trong những năm qua, một số ngân hàng nước ngoài ,các công ty tài chính, thương mại quốc tế đã làm đơn xin mở chi nhánh tại Việt Nam. - Phương thức đổi đất lấy công trình. Nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn xây dựng một hoặc một số dự án cơ sở hạ tầng như cầu, đường, hoặc khu phố mới theo phương thức chìa khoá trao tay hoặc BT ( xây dựng – chuyển giao). Đổi lại, Nhà nước Việt Nam sẽ dành cho nhà đầu tư nước ngoài quyền sử dụng một diện tích đất trong một thời gian xác định để xây dựng, kinh doanh hoặc một số dự án cụ thể. 8
  9. 9. - Hình thức thuê mua Một số xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là xí nghiệp 100% vốn của các công ty Nhật Bản đề nghị được thuê mua hoặc thuê miễn phí máy móc thiết bị. Vì đây là vấn đề mới và máy móc thiết bị vẫn thuộc sở hữu của xí nghiệp tại Việt Nam nên Bộ Thương mại đã không chấp nhận đề nghị miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị leasing. 1.4 Đặc điểm chủ yếu của FDI Đến nay xét về bản chất, FDI có những đặc điểm chủ yếu: * FDI trở thành hình thức đầu tư chủ yếu trong đầu tư nước ngoài. Xét về ưu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về chất lượng trong nền kinh té thế giới. Gắn trực tiếp với quá trình sản xuất trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở của sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia và các doanh nghiệp xuyên quốc tế * FDI đang và sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển Có nhiều lý do giải thích mức độ đầu tư cao giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau nhưng có thể thấy được hai nguyên nhân chủ yếu sau: -Thứ nhất, môi trường đầu tư ở các nước phát triển có độ tương hợp cao. Môi trường này hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả môi trường công nghệ và môi trường pháp lý. -Thứ hai, xu hướng khu vực hoá đã thúc đẩy các nước này xâm nhập thị trường của nhau. Từ hai lý do đó ta có thể giải thích được xu hướng tăng lên của FDI ở các công nghiệp mới (NICs), các nứơc ASEAN và TrungQuốc. Ngoài ra xu hướng tự do hoá và mở cửa của nền kinh tế các nước đang phát triển trong những năm gần đây đã góp phần đáng kể vào sự thay đổi đáng kể dòng chảy FDI. * Cơ cấu và phương thức FDI trở nên đa dạng hơn. Trong những năm gần đây cơ cấu và phương thức đầu tư nước ngoài trở nên đa dạng hơn so với trước đây. điều này liên quan đến sự hình thành hệ thống phan công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng và sự thay đổi môi trường kinh tế thương mại toàn cầu. Về cơ cấu FDI, đặc biệt là FDI vào các nước công nghiệp phát triển có những thay đổi sau: - Vai trò và tỉ trọng của đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học cao tăng lên. Hơn 1/3 FDI tăng lên hàng năm là tập trung vào các ngành then chốt như điện tử, chế tạo máy tính, chất dẻo, hoá chất và chế tạo máy. Trong khi đó nhiều ngành công nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và lao động, FDI giảm tuyệt đối hoặc không đầu tư . - Tỷ trọng của các ngành công nghiệp chế taọ giảm xuống trong khi FDI vào các ngành dịch vụ tăng lên. Điều này có liên quan đến tỷ trọng khu vực vụ trong GDP của các nứơc CECD tăng lên và hàm lượng dịch vụ trong cộng 9
  10. 10. nghiệp chế tạo. Một số lĩnh vực được ưu tiên là các dịch vụ thương mại, bào hiểm, các dịch vụ tài chính và giải trí . * Sự gắn bó ngày càng chặt chẽ giưã FDI và ODA, thương mại và chuyển giao công nghệ. -FDI và thương mại có liên quan rất chặt chẽ với nhau . Thông thường, một chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm vào mục đích tăng tiềm năng xuất khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty nước ngoài được lựa chọn ngành và địa điểm đầu tư cũng dựa trên cơ sở tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên trường quốc tế - FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công nghệ. Xu hướng hiệnu nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau . Đây chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự lưu chuuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế . Nhiều nước đã đạt được thành công trong việc hấp thụ các yếu tố bên ngoài để phát triển kinh tế trong nước là nhờ chú ý đến điều này. Hong Kong , Singapo và Đài Loan rất tích cực khuyến khích các công ty xuyên quốc gia chuyển giao công nghệ cùng với quá trình đầu tư. - Sự gắn bó giữa FDI và ODA cũng là một đặ điểm nổi bật của sự lưu chuyển các nguồn vốn , công nghệ trên phạm vi quốc tế trong những năm gần đây. Hơn nữa xu hướng này sẽ ngày càng trở nên mạnh hơn . 1.5 Vai trò của FDI với phát triển kinh tế . Mặc dù FDI vẫn chịu chi phối của Chính Phủ nhưng FDI ít lệ thuộc vào mối quan hệ chính trị giữa hai bên. Mặt khác bên nước ngoài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất , kinhh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt là trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu.Do quyền lợi gắn chặt với dự án , họ quan tâm tới hiệu quả kinh doạnh nên có thể lựa chọn công nghệ thích hợp , nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công nhân . Vì vậy , FDI ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế ở các nước đầu tư và các nước nhận đầu tư . - Đối với nước đầu tư : Đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở các nước tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng. Mặt khác đầu tư ra nước ngoài giúp bành trướng sức mạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước. - Đối với nước nhận đầu tư. + Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp và lạm phát…Qua FDI các tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những công ty doanh nghiệp có nguy cơ phá sản, giúp cải thiện tình hình thanh toán và tạo công ăn việc làm cho người 10
  11. 11. lao động. FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác. + Đối với các nước đang phát triển: FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tao ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở những nước này. FDI giúp các nước đang phát triển khắc phục được tình trạng thiếu vốn kéo dài. Nhờ vậy mà mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển to lớn với nguồn tài chính khan hiếm được giải quyết, đặc biệt là trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Theo sau FDI là máy móc thiết bị và công nghệ mới giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học-kỹ thuật mới. Quá trình đưa công nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm được chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các nước đang phát triển trên thị trường quốc tế. Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội hiện đại được du nhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nứơc bắt kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dần với phong cách làm việc công nghiệp cũng như hình thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi. FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hoá nước ngoài và đi kèm với nó là những hoạt động Marketing được mở rộng không ngừng. FDI giúp tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài. Từ đó các nước đang phát triển có nhiều khả năng hơn trong việc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển. II. Vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. 2.1 Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Lịch sử phát triển của đầu tư trực tiếp nước ngoài cho thấy thái độ của nước tiếp nhận đầu tư từ thái độ phản đối, đến thái độ buộc phải chấp nhận, đến thái độ hoan nghênh. Trong điều kiện thế giới hiện nay đầu tư trực tiếp nước ngoài được mời chào, khuyến khích mãnh liệt. Trên thế giới thực chất diễn ra trào lưu cạnh tranh quyết liệt trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Sở dĩ hầu hết các nước đang phát triển có nhu cầu lớn về đầu tư trực tiếp nước ngoài là vì những lý do sau: - Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài có khả năng giải quyết có hiệu quả những khó khăn về vốn cho công nghiệp hoá. Đối với các nước nghèo, vốn đuợc xem là yếu tố cơ bản,là điều kiện khởi đầu quan trọng để thoát khỏi đói nghèo và phát triển kinh tế. Thế nhưng, đã là nước nghèo thì khả năng tích luỹ vốn hay huy động vốn trong nước để tập trung cho các mục tiêu cần ưu tiên là rất khó khăn, thị trường vốn trong nước lại chưa phát triển. Trong điều kiện của thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hoá, nhìn chung các nước đang phát triển đều gặp rất nhiều khó khăn: mưc sống thấp, khẳ năng 11
  12. 12. tích luỹ thấp, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, công nghệ kỹ thuật chưa phát triển, mức đầu tư thấp nên kém hiệu quả, ít có điều kiện để xâm nhập, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, thiếu khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến của thế giới… Giải pháp của các nước đang phát triển lúc này là tìm đến với các nguồn đầu tư quốc tế. Nhưng trong số các nguồn đầu tư quốc tế thì vốn viện trợ tuy có được một số vốn ưu đãi nhưng lại đi kèm với một số ràng buộc về chính trị, xã hội, thậm chí cả về quân sự. Còn vốn vay thì thủ tục vừa khắt khe mà lại phải chịu lãi xuất cao. Nguồn vốn đuợc đánh giá có hiệu quả nhất đối với giai đoạn đầu tiến hành công nghiệp hoá của các nước đang phát triển là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Khi nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư cũng đồng thời họ hoàn toàn chịu trách nhiệm về hiệu quả của đồng vốn mà mình bỏ ra,do đó truớc khi đầu tư thì họ buộc phải tính toán kỹ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện dự án .Hay nói cách khác,các nhà đầu tư chỉ xin phép và triển khai dự án khi họ tính toán thấy độ rủi ro ít và khả năng thu lợi cao. Đây là ưu thế hơn hẳn của loại vốn đầu tư trực tiếp so với các loại vôn vay khác. _Thứ hai, Một đặc điểm tương đối phổ biến ở các nước đang phát triển là sự lạc hậu và thiếu thốn công nghệ và kỹ thuật. Thông qua các dự ánđầu tư trực tiếp nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp nhận được những kỹ thuật mới, những công nghê tiên tiến, góp phấn cải thiện đáng kể cơ sở hạ tầng, phát triển công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung. Đồng thời, tạo ra các điều kiện kinh tế kỹ thuật cho việc thực hiện cuộc cải biến cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. _Thứ 3,các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể thu hút một lượng lớn lao động trực tiếp và tạo ra nhiều việc làm cho các dịch vụ tương ứng. Thông qua việc thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể làm đội ngũ cán bộ của nước nhận đầu tư qua việc tham gia vào hoạt động của liên doanh mà trưởng thành hơn về năng lực quản lý phù hợp với nền sản xuất hiện đại; hình thành một lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề; tăng nguồn thu cho ngân sách… _Thứ 4, đầu tư trực tiếp nước ngoài có các điều kiện cần thiết cho việc tạo lập một hệ thống thị trường phù hợp với yêu cầu của một nền sản xuất công nghiệp hoá, tiếp cận và mở rộng được thị trường mới, tăng cường quan hệ hợp tác kinh tế…Hình thành được các khu chế xuất, khu công nghiêp chủ lực; tạo ra các điều kiện cơ bản cho tiến trình công nghiệp hoá. 2.2 Các biện pháp khuyến khích đầu tư. 2.2.1 Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn. Vấn đề mang tính quan trọng then chốt trong việc tổ chức nhằm thu hút FDI là tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn. Môi trường đầu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư. Buộc các nhà đầu tư phải tự điều chỉnh các mục đích, hình thức và 12
  13. 13. phạm vi hoạt động cho thích hợp, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh và đưa đến hiệu quả cao trong kinh doanh. Người ta có thể phân loại môi trường đầu tư theo nhiều tiêu thức khác nhau và mỗi tiêu thức phân loại đó lại hình thành các môi trường thành phần khác nhau: - Căn cứ phạm vi không gian: có môi trường đầu tư nội bộ doanh nghiệp, môi trường đầu tư trong nước và môi trường đầu tư quốc tế. - Căn cứ vào lĩnh vực: có môi trường chính trị, môi trường luật pháp, môi trường kinh tế, môi trường văn hoá xã hội, cơ sở hạ tầng… - Căn cứ vào tính hấp dẫn: có môi trường đầu tư có tính cạnh tranh cao, môi trường đầu tư có tính trung bình, môi trường đầu tư có tính cạnh tranh thấp và môi trường đầu tư không có tính cạnh tranh. 2.2.2 Đảm bảo các quyền cơ bản của nhà đầu tư. Về quyền cơ bản và các đảm bảo cho các nàh đầu tư gồm: - Đảm bảo không tước đoạt: Đảm bảo này thông thường được quy định ở những điều khoản đầu tiên của Luật đầu tư nước ngoài cũng như thông qua việc ký kết tham gia vào hiệp định đảm bảo đầu tư đa phương. - Đảm bảo cho những mất mát: Sự đảm bảo này diễn ra trong các trường hợp sau: +Quốc hữu hoá: Các nhà đầu tư sẽ quan tâm đến việc chính phủ một nước sẽ có thái độ như thế nào đối với vịêc quốc hữu hoá. Tại Việt Nam, Luật qui định các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hoá; có nước lại qui định rằng trong những trường hợp đặc biệt sẽ quốc hữu hoá và có khoản đền bù xứng đáng. + Phá huỷ do chiến tranh: Thông thường những thiệt hại gây ra bởi chiến tranh từ bên ngoài không được đền bù nhưng những thiệt hại tạo ra từ các vấn đề của quốc gia đó như nổi loạn, khủng bố…thì sẽ được đền bù. + Tính không chuyển đổi được của tiền tệ: Đối với đồnh tiền không chuyển đổi được, nhà đầu tư nước ngoài sẽ được hướng dẫn cách cân bằng ngoại tệ cần thiết cũng như chuyển đổi từ đồng nội tệ sang ngoại tệ. - Chuyển(gửi) ngoại hối: Đối với các nhà đầu tư nước ngoài khả năng tốt nhất vẫn là không có một qui định gì từ phía nước sở tại. Từ đó họ có thể chuyển các khoản tiền về nước một cách tự do. Những khoản sau đây trong mọi trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài phải được chuyển về nước nếu họ muốn: lợi nhuận, các khoản kiếm được khác, lợi tức đầu tư, vốn đầu tư, gốc và lãi của các khoản vay nước ngoài , lương cho nhân viên nước ngoài, tiền bản quyền, phí kỹ thuật… 2.2.3 Chiến lược bảo hộ và các ưu tiên dành cho các nhà đầu tư và người nước ngoài. Bao gồm các vấn đề sau: 13
  14. 14. - Việc tuyển dụng người nước ngoài: Việc tuyển dụng người nước ngoài là đảm bảo lợi ích cho các bên đầu tư. Một số quy định mà các nước thường sử dụng để qui định để qui định việc tuyển dụng người nước ngoài như: + Qui định tổng số lao động nước ngoài không được vượt quá một mức qui định nào đó. + Ban hành các thể cư trú cho lao động nước ngoài hay thẻ lao động nước ngoài cũng như những quy định về đối tượng bắt buộc phải có các thẻ đó mới được làm việc ở nước sở tại. + Quy định những nghành nghề cần thiết phải sử dụng lao động nước ngoài. + Quy định việc thết kế các chương trình đào tạo để thay thế lao động nước ngoài bằng các lao động trong nước. -Quyền sở hữu trí tuệ: Sự đảm bảo quyền sở hữu về sáng chế, nhãn hiệu thương mại cũng là một điều kiện kích thích các nhà đầu tư. -Sự ưu tiên với các nhà đầu tư chính phủ Các khoản vay hay nguồn trợ giúp từ phía chính phủ được coi là một trong những động lực khuyến khích đầu tư . -Đảm bảo cho một môi trường cạnh tranh bình đẳng . Các nhà đầu tư mong muốn việc đảm bảo cho một môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước với nước ngoài, giữa các nhà đầu tư nước ngoài với nhau, giữa khu vực tư nhân và công cộng.Bao gồm: +Cạnh tranh nhập khẩu: Chính sách nhập khẩu của nước sở tại cần phù hợp và tạo điều kiện cho chính sách công nghiệp của nước đó phát triển. Các hàng hoá sản xuất trong nước thuộc những ngành đườc coi là non trẻ nên có một thời gian được bảo hộ để cạnh tranh được với hàng hoá nhập khẩu. +Cạnh tranh Chính Phủ: Các chương trình của Chính phủ về hỗ trợ các doanh nghiệp Nhà nước không được vi phạm tính cạnh tranh. Điều này đòi hỏi Nhà nước phải phân biệt rõ ràng những ưu đãi dành cho từng khu vực. Khu vực công cộng không được phép xâm phạm khu vực tư nhân. +Cạnh tranh nội địa thông qua việc đánh thuế từ các hàng rào chắn thâm nhập vào ngành công nghiệp.Điều này liên quan đến việc tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư trong nước. 2.2.4 Sở hữu bất động sản của các nhà đầu tư nước ngoài . Đây cũng có thể coi là một trong những khuyến khích đầu tư , bởi vì nó làm cho các nhà đầu tư nước ngoài tin tưởng cào khẳ năng ổn định của khoản đầu tư cũng như những quyền khác. Nói chung, đối với các nhà đầu tư thì thuận lợi nhất vẫn là đuợc sở hữu bất động sản. Nếu việc sở hữu bất động sản không được luật pháp cho phép thì các nhà đầu tư đòi hỏi phải được sử dụng bất động sản trong một thời gian hợp lý. 2.2.5 Miễn giảm thuế. - Miễn thuế vốn: Chính phủ không thu thuế trên các khoản chuyển nhượng hay phần kiếm được từ cổ phiếu. 14
  15. 15. - Miễn giảm thuế suất, thuế thu nhập doanh nghiệp. Sau khi kinh doanh có lãi, trong một thời gian các nhà đầu tư được hưởng ưu đãi không phải nộp thuế. Sau một thời gian miễn thuế, các nước tiến hành giảm thuế. - Miễn giảm các loại thuế thu nhập khác. Chính phủ cho phép các nhà đầu tư không phải nộp các khoản thuế địa phương như thuế doanh thu, lợi tức.Ngành được miễn giảm có thể là ngành định hướng xuất khẩu, hay ngành thu về nhiều ngoại tệ cho đất nước. - Miễn giảm thuế hàng tư liệu sản xuất nhập khẩu (vốn). Chính phủ không thu thuế nhập khẩu tư liệu sản xuất (bao gồm máy móc và các linh kiện, phụ tùng thay thế, nguyên nhiên vật liệu) phục vụ các ngành khuyến khích như ngành hướng vào xuất khẩu, hay các ngành thực hiện chiến lược hoá công nghiệp đất nước, các dự án khuyến khích đầu tư. - Miễn thuế bản quyền. Việc miễn thuế bản quyền nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ vào nước sở tại. Tuy nhiên các Chính phủ cũng cân nhắc xem nên miễn thuế bản quyền trong suốt thời gian hợp đồng hay chỉ miễn thuế cho một số năm. - Miễn các loại thuế và chi phí khác: Các loại thuế và chi phí khác đựơc miễn bao gồm nhiều dạng như thuế thu nhập cá nhân đối với chuyên gia kỹ thuật nước ngoài làm việc trong các khu vực được ưu tiên; các khoản thuế doanh thu hay các mức thuế đặc biệt khi mới khởi sự kinh doanh…Việc ký kết các hiệp định tránh đánh thuế hai lần cũng là một khuyến khích đối với các nhà đầu tư bởi vì nó miễn trừ việc nộp thuế thu nhập cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định nào đó. Trong một số dự án khuyến khích đầu tư, các nhà đầu tư còn được hưởng ưu đãi về giá cho thuê đất và các chi phí khác trong quá trình triển khai và vận hành dự án. 2.2.6 Những khoản trợ cấp của chính phủ - Các chi phí tổ chức và tiền vận hành. Chính phủ nước sở tại có thể cho phép tính này vào chi phí của dự án trong một thời gian nhất định. - Tái đầu tư: Nếu dùng lợi nhuận để tái đầu tư thì sẽ được hưởng những ưu đãi nhất định. - Trợ cấp đầu tư: Là cho phép một tỷ nhất định của khoản vốn đầu tư không phải chịu những nghĩa vụ về đầu tư trong khoảng thời gian nhất định. - Các khoản khấu trừ khác: Các khoản khấu trừ này có thể tồn tại dưới có những quy định đặc biệt đối với một số ngành như cho phép được miễn trừ gấp 2 lần về giá trị cũng như về mặt thời gian ban hành những quy định ưu đãi chỉ riêng cho một dự án nào đó. - Tín dụng thuế đầu tư: Đây thực chất là biện pháp mà chính phủ sử dụng nhằm khuyến khích và cũng để giúp các nhà đầu tư tăng vốn đầu tư như trợ cấp 15
  16. 16. đầu tư, trả lại những nghĩa vụ về thuế đã phải nộp cho nhà đầu tư nếu nhà đầu tư phải tái đầu tư - Các khoản tín dụng thuế khác: Để khuyến khích các nhà đầu tư, một khoản thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài mà đã chịu thuế ở nước ngoài có thể được đưa vào để xin miễn giảm ở trong nước có thể sử dụng như những khoản tín dụng đầu tư 2.2.7. Các khuyến khích đặc biệt - Đối với các công ty đa quốc gia : Các công ty này là một nguồn cung cấp vốn đầu tư lớn trên thế giới nên việc có những khuyến khích đặc biệt với các công ty đa quốc gia là cần thiết .Tuy nhiên các chính phủ phải cân nhắc xem nên thực hiện những khuyến khích đặc biệt đó như thế nào để vẫn đảm bảo nguyên tắc “ sân chơi bình đẳng ” Một sồ trường hợp đã sử dụng các khuyến khích đặc biệt : + Coi những công ty đa quốc gia như những công ty được ghi tên ở thị trường chứng khoán và cho hưởng những ưu đãi tương tự +Cho phép các công ty đa quốc gia được thành lập các công ty cổ phần + Khuyến khích các công ty đa quốc gia chuyển giao công nghệ và thực hiện mua sắm trong nội bộ hãng cũng như khuyến khích việc thiết lập các trụ sở chính bằng việc cho phép thành lập các trung tâm mua sắm của công ty đa quốc gia đó ở nước sở tại và đơn giản hoá các thủ tục hải quan , các đòi hỏi về quản lý ngoại hối , đăng ký làm thẻ cho nhân viên …Việc thành lập các khu chế xuất , khu công nghệ cao , khu công nghệ tập trung cũng là một biện pháp khuyến khích các công ty đa quốc gia hoạt động ở nước sở tại -Đối với các cơ quan tài chính hải ngoại .Việc khuyến khích thành lập các công ty này cũng có nghĩa là khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào sở tại .Do đó chính phủ nước sở tại có xu hướng miễn giảm các khoản thuế và nghĩa vụ tài chính cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động của các cơ quan tài chính hải ngoại . 2.2.8. Các luật tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài Đây là những qui định riêng nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài tiến hành công việc kinh doanh ở nước sở tại . Nhóm này bao gồm những khuyến khích phi tài chính như cho phép tuyể dụng nhân công nước ngoài không hạn chế ,đảm bảo việc chuyển nhược và hồi hương của vốn và lợi nhuận ; ký kết các hiệp định ; sự cho phép bán hàng tiêu dùng đến người tiêu dùng cuối cùng không phải thông qua các đại lý hay công ty thương mại, sở hữu đất đai . 16
  17. 17. chương ii kết quả thu hút vốn fdi ở nước ta và kinh nghiệm của các nước I. Sự phát triển của FDI ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới 1.1. Sự cần thiết phải thu hút FDI ở nước ta Đảng và nhà nước ta đã xác định vốn trong nước mang tính quyết định còn vốn nước ngoài là quan trọng. Do đó Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm tới FDI, hình thức này rất quan trọng. Điều đó thể hiện ở chỗ: - FDI giúp thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế của đất nước. Để đạt được những chỉ tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới thì tốc độ phát triển bình quân hàng năm phải đạt trên 7%, và nhu cầu về vốn đầu tư có từ 4,2 tỷ USD trở lên cho mỗi năm(tức là tích luỹ hàng năm phải đạt 22% thu nhập quốc dân). Đây là con số không nhỏ đối với nền kinh tế nước ta, cho nên FDI là nguồn bổ xung quan trọng để phát triển kinh tế ở Việt Nam. - FDI đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội của Việt Nam tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của người lao động. Tính đến năm 2002 đã có 4447 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép, với tổng số vốn đăng ký là 43194,0 triệu USD, trong đó vốn pháp định là 20357,6 triệu USD*. Giải quýêt được việc làm cho hàng vạn lao động, tăng thu ngân sách nhà nước. - Thông qua đầu tư nước ngoài, nhất là FDI, chúng ta tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học- kĩ thuật tiên tiến của thế giới, nhờ đó rút ngắn khoảng cách của ta so với thế giới. - Nhờ có FDI, chúng ta sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ, khoáng sản … - Ngoài ra, trong quá trình tiếp nhận FDI chúng ta học được kinh nghiệm quản lý kinh doanh và cách làm thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường của các nước tiên tiến. Tóm lại, FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta nhanh chóng hội nhập với sự phát triển của thế giới và khu vực. 1.2. Tác động của FDI đến sự phát triển kinh tế Việt Nam những năm qua. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Theo tính toán của bộ kế hoạch và đầu tư, FDI đã đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh tốc độ gia tăng xuất khẩu, đóng góp cho ngân sách quốc gia. Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, đội ngũ lao động được thu hút vào làm việc có thu nhập cao hơn với các khu vực khác, hơn nữa, 17
  18. 18. lại từng bước được nâng cao tay nghề, đội ngũ cán bộ quản lý được nâng cao kiến thức, kinh nghiện quản lý. Cụ thể: -Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong các năm 1991- 1995 chiến 25,7% và từ năm 1996 đến 2000 chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư xã hội. Đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và là nguồn vốn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế. -Tỷ lệ đóng góp của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài trong GDP tăng dần qua các năm 1993 đạt 3,6% đến năm 1998 đạt 9% và năm 1999 ước đạt 10,5%. Nguồn thu ngân sách nhà nước từ khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài liên tục tăng: năm 1994 đạt 128 triệu USD đến 1998 đạt 370 triệu USD (chiếm 6% đến 7% tổng thu ngân sách nhà nước). Nếu tính cả thu dầu khí, tỷ lệ này đạt gần 20%. Kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu khí) của khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng nhanh: năm 1996 đạt 768 triệu USD, năm 1998 đạt 1982 triệu USD và năm 1999 đạt khoảng 2200 triệu USD, bằng 21% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Khu vực đầu tư nước ngoài đã góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước, thúc đẩy các hoạt động dịch vụ phát triển. Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực chuyển dịch vụ cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển lực lượng sản xuất. Thông qua đầu tư nước ngoài bước đầu đã hình thành hệ thống các khu công nghiệp, khu chế xuất. Đầu tư nước ngoài cũng đã đem đến những mô hình quản lý tiên tiến, phương thức kinh doanh hiện đại trong các ngành, các đơn vị kinh tế. - Đầu tư nước ngoài đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, tham gia phát triển nguồn nhân lực. Đến năm 2000 khu vực đầu tư nước ngoài đã thu hút khoảng 30 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp khác như xây dựng, cung ứng dịch vụ… Một số đáng kể người lao động đã được đào tạo năng lực quản lý, trình độ năng lực có thể thay thế chuyên gia nước ngoài. Mặc dù vẫn còn có những hạn chế của đầu tư nước ngoài như : nhập công nghệ cũ, lạc hậu, hiện tượng chuyể giá, trốn lậu thếu,ô nhiễm môi trường… nhưng không thể phủ định những tác động tích cực của đàu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam. 1.3. Việc tổ chức nhằm thu hút FDI. 1.3.1 Các hình thức thu hút FDI. Hiện nay FDI vào Viêt Nam được thực hiện qua các hình thức đầu tư sau đây: - Doanh nghiệp liên doanh - Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài. - Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh - Các phương thức đầu tư BOT, BTO, BT. 18
  19. 19. Thời gian qua, doanh nghiệp liên doanh là hình thức chiếm ưu thế. Tuy nhiên, trong một số năm gần đây, hình thức này đang có xu hướng giảm bớt về tỉ trọng. Nếu năm1995, doanh nghiệp liên doanh chiếm 84% số vốn đầu tư thì năm 1997 chỉ còn 70%số vốn đầu tư và 61% số dự án. Trong khi đó, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài đang có xu hướng tăng lên về tỉ trọng. Thời kỳ 1988 đến 1991, hình thức này chiếm 6% vốn đầu tư, nhưng đến cuối năm 1997 chiếm tới 20% số vốn đầu tư với 30% số dự án.Đến năm 2001 có tới 55,5% số dự án và 29,4% vốn đăng ký( đến hết năm 2000, có 1459 dự án 100% vốn nước ngoài,còn hiệu lực với 10,7 tỷ USD vốn đăng ký). Tính đến hết năm 1997, hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh chiếm 7,1% số dự án và 10%số vốn đầu tư. Tới năm 1998, chúng ta mới thu hút được 4 dự án đầu tư theo hình thức BOT (xây dựng – chuyển giao). Các dự án đầu tư theo hình thức BOT là: Dự án nhà máy xử lý và cung cấp nước sạch Thủ Đức ở Thành Phố Hồ Chí Minh; dự án cảng quốc tế Bến Bình – Sao Mai (Vũng Tàu); dự máy điện Wartsila Bà Rịa – Vũng Tàu; dự án nhà máy nước Bình An.Đến năm 2001 đã có 6 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép theo hình tức này với số vốn đăng ký hơn 1300 triệu USD. Trong đó, có một dự án (Cảng quốc tế Vũng Tàu )đã rut giấy phép đầu tư. Hình thức này có đặc điểm là: phần lớn các dự án có phạm vi áp dụng không rộng , điều kiện thực hiện phức tạp nên mất nhiều thời gian để giải quiet những vấn đề phức tạp nên mất nhiều thời gian để giải quyết những thủ tục ban đầu như hoàn chỉnh việc đàm phán,ký kết hợp đồng, hợp đồng mua bán sản phẩm,phương án tài chính, thực hiện giải phóng mặt bằng…Không những thế ,đây lại là hình thức mới,phía Việt Nam còn ít kinh nghiệm nên tiến đô triển khai dự án thuộc hình thức này tường chậm hơn các hình thức khác. Xu hướng này phản ánh trạng thái của các nhà đầu tư nước ngoài muốn được tự chủ trong điều hành doanh nghiệp, không bị phụ thuộc vào ý kiến đối tác nước chủ nhà, đồng thời vẫn tận dụng được lao động rẻ, tài nguyên phong phú và chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Điều này cũng nói lên yếu kém của Việt Nam, hợp tác không có hiệu quả với phía đối tác nước ngoài. Nhiều trường hợp, phía đối tác nước ngoài cảm thấy phiền hà, rắc rối muốn thoát khỏi nhanh chóng sự quản lý của ta là “lấy hình thức liên doanh là chủ yếu”để có cơ hội tiếp thu tiến bộ công nghệ, nâng cao trình độ quản lý của cán bộ quản lý, nâng cao tay nghề của người lao động. 1.3.2. Phân bổ các dự án FDI vào các khu chế xuất và khu công nghiệp Để phát triển công nghiệp có hiệu quả, các chính phủ đều khuyến khích các nhà đầu tư vào các khu công nghiệp. Có thể chia khu công nghiệp thành 3 loại: - Khu công nhiệp thông thường: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập. 19
  20. 20. - Khu chế xuất: là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập. - Khu công nghệ cao: là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp có kỹ thuật cao và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiên cứu- triển khai khoa học công nghệ- đào tạo các dịch vụ liên quan, có ranh giới địa lý xác định do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập. Đến năm 1998, cả nước có hơn 50 khu công nghiệp, trong đó có 3 khu chế xuất đã và đang hoạt động; 18 khu do Việt Nam tự bỏ vốn ra xây dựng, 11 khu liên doanhvới nước ngoài xây dựng và một khu Đài Loan bỏ 100% vốn xây dựng. Trong 50 khu công nghiệp nói trên, tính đến cuối năm 1998 mới có 20 khu công nghiệp đã thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Dẫn đầu là khu công nghiệp Biên Hoà 2 đã thu hút được 79 dự án FDI với tổng số vốn 900 triệu USD (có 300 triệu USD đã thực hiện ). Kế tiếp là khu chế xuất Tân Thuận, đã thu hút được 99 dự án với tổng số vốn đăng ký là 341 triệu USD ( có 200 triệu USD đã thực hiện). Tiếp theo là khu công nghiệp Sài Đồng B thu hút được 9 dự án với tổng số vốn đăng ký là 300 triệu USD (có 250 triệu USD đã thực hịên ). Còn nhìn chung,các khu công nghịêp khác,số dự án còn rất ít,rất nhiều lô đất trong khu công nghiệp còn bỏ trống. Cho đến năm 2002,Nhà nước ta đã phê duyệt cho thành lập 68 khu chế xuất và khu công nghiệp (kể cả khu Dung Quất ) với tổng diện tích 25.633,5 ha. Vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng là 2.037,6 triệu USD.Trong số các khu chế xuất có 3 địa điểm chuyển thành khu công nghiệp. Khu công nghịêp và khu chế xuất được phân bổ theo vùng lãnh thổ như sau: Miền Bắc có 15 khu công nghiệp với tổng diện tích là 1.684,6 ha (bằng 16,4% tổng diện tích các khu công nghiệp trong cả nước); Miền Trung có 10 khu công nghiệp ,diện tích 687 ha (chiếm 4,2%); Miền Nam có 38 khu công nghiệp, diện tích 7.776 ha (bằng 79,4%).Trong số được duyệt trên đã có 8 khu công nghiệp đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng (bằng 12,7%) và 29 khu công nghiệp đang tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng (bằng 46%) với tổng số vốn đã thực hiện là 386 triệu USD (bằng 22,5%tổng số vốn đầu tư đăng ký). Các khu công nghiệp đã duyệt cho các nhà đầu tư thuê 1.715,8 ha để xây dựng xí nghiệp (bằng 24,3% tổng diẹn tích có thể cho thuê trong các khu công nghiệp). Đặc biệt trong đó có 9 khu công nghiệp đã cho thuêhơn 50% diện tích, 15 khu công nghiệp cho thuê được khoảng 20%-50% diện tích, số còn lại cho thuê được ở mức dưới 20% (thậm chí có những khu công nghiệp chỉ cho thuê được khoảng 2-3% diện tích). Phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong khu công nghiệp đều là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. 20
  21. 21. 1.3.3. Thủ tục hành chính trong việc thu hút FDI Thủ tục hành chính của Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài mặc dù đã có nhiều cải tiến, song vẫn còn rất phức tạp, làm nản lòng các nhà đầu tư nước ngoài muốn làm ăn tại Việt Nam. Thể hiện: -Thủ tục cấp giấy phép đầu tư đã và đang là vấn đề trở ngại đối với thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Thòi gian thảm định một dự án thường kéo dài sáu tháng đến một năm, thậm chí dài hơn. Có quá nhiều cơ quan có quyền buộc nhà đầu tư phải trình diện dự án để họ xem xét và nghiên cứu. Các nhà đầu tư nước ngoài phản ánh rằng : Để có được dự án đầu tư họ phải trải qua trung bình mười hai cửa, có dự án phải trải qua mười sáu cửa. Thêm vào đó việc chuẩn bị dự án bên Việt Nam thường sơ sài, khi đàm phán phải sửa đổi, bổ xung nhiều lần, gây mất thời gian. -Các thủ tục về hải quan còn gây không ít khó khăn cho các hoạt động của các nhà đầu tư. Tình trạng gửi hàng kiểm tra quá lâu,tuỳ tiện tịch thu hàng hoá, gây khó khăn và những tiêu cực khác của cơ quan hải quan là cản trở cho việc thu hút FDI. Việc làm thủ tục hải quan ở các cửa khẩu tiến hành rất chậm, thường mất từ 10 đến 15 ngày, thậm chí lâu hơn. Điều này làm giảm chất lượng hàng nhập và ảnh hưởng tới tiến độ sản xuất của doanh nghiệp. - Mặc dù đã có các luật thuế, nhưng thủ tục thực hiện luật thuế này cũng còn nhiều phiền hà, gây khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Thể hiện: + Cùng một mặt hàng nhập khẩu, nhưng hải quan Việt Nam có các thuế suất khác nhau làm cho doanh nghiệp không bíêt trước mức thuế phải nộp để tính vào giá thành sản xuất và ký hợp đồng làm sản phẩm. + Thời hạn hoàn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu nhập để sản xuất hàng xuất khẩu là quá ngắn. + Hiện nay có quá nhiều các loại lệ phí và phí( khoảng 200 loại lệ phí và phí đang thực hiện). Điều này gây cho nhà đầu tư cảm thấy phải đóng quá nhiều thuế. + Thủ tục xuất- nhập khẩu quá phức tạp và mất nhiều thời gian do chủ đầu tư phải “chạy đi chạy lại” nhiều cơ quan để xin ý kiến( như Bộ Thương mại, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ Khoa học- công nghệ và môi trường, Bộ quản lý ngành…) + Thủ tục cấp đất còn quá phức tạp và kéo dài. Muốn đo đất phải thực hiện đo tới 3 lần. Còn để được cấp giấy phép quyền sử dùng đất thì phải trải qua 11 cơ quan với nhiều chữ ký của lãnh đạo các cơ quan, thời gian giao đất bị kéo dài vài ba năm, thậm chí có dự án đến 5 năm do việc đền bù giải toả chậm trễ. + Việc phân công trách nhiệm và trình độ thẩm định thiết kế chưa rõ ràng. Để hội đồng quy hoạch kiến trúc đô thị chấp nhận thiết kế kỹ thuật, chủ đầu tư phải đi lại từ 10 đến 17 lần trong khoảng thời gian vài ba tháng. 21
  22. 22. 1.4 Các chính sách thu hút FDI ở Việt Nam thời gian qua Mục tiêu của chính sách thu hút FDI của Việt Nam là thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tạo việc làm cho người lao động và mở rộng xuất khẩu. Hoạt động thu hút FDI liên quan chặt chẽ đến quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, rõ ràng, thông thoáng, bình đẳng và có khả năng cạnh tranh với các nước khác trong khu vực. Thời gian qua, chính sách thu hút FDI đã được điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện dần từng bước một cách có hệ thống. 1.4.1 Chính sách đất đai Mục tiêu của chính sách đất đai là tạo điều kiện thuận lợi và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, bảo đảm cho các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng đầu tư lâu dài ở Việt Nam Đặc điểm đặc thù ở Vịêt Nam đó là: đất đai là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân. Các nhà đầu tư nước ngoài không có quyền sở hữu về đất đai. Các loại văn bản pháp lý liên quan đến đất đai gắn với hoạt động đầu tư trực tiếp nứơc ngoài là Luật đất đai, Luật đầu tư nước ngoài tại Vịêt Nam. Mức tiền thuê đất được xác định tuỳ thuộc vào: + Mức quy định khởi điểm của từng vùng + Địa điểm của khu đất + Kết cấu hạ tầng của khu đất + Hệ số ngành nghề Theo quyết định số 1477 – TC/TCĐN ngày 31-12-1994 của bộ tài chính ban hành bản quy định về quyền cho thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển áp dụng đối với các hình thức đầu tư nước ngoài. - Khung giá cho thuê đất được quy định từ 0,375 USD/m2/năm đến 1,7 USD/m2/năm tuỳ theo nhóm đô thị. - Riêng đất công nghiệp sử dụng đối với các dự án chế biến nông, lâm không đất đô thị được hưởng giá thêu đất từ 150 USD/ha/năm đến 750 USD/ha/năm. - Đối với đất tại các vùng không phải là đô thị giá thuê được qui định cụ thể như sau: + Những vùng đá, đồi trọc, đất xấu khó sử dụng từ 30-50 USD/ha/năm + Các vùng đất khác từ 150 – 170 USD/ha/năm . - Đối với mặt sông hồ, vịnh, mặt biển giá thuê có 2 mức: + Mặt nước sông, hồ, vịnh từ 75-525 USD/ha/năm. + Mặt biển từ 150- 600 USD/km2/năm. Trong trường hợp sử dụng không cố định thì áp dụng mức giá từ 1500 USD đến 7500 USD. Mức giá thuê đất, mặt nước, mặt biển nêu trên là mức giá áp dụng cho thực trạng diện tích đất cho thuê không bao gồm chi phí đền bù, giải toả. 22
  23. 23. Mặc dù trong các văn bản nói trên đã cố gắng phân loại để xác định mức giá tiền thuê khác nhau cho phù hợp với điều kiện địa điểm, loại đất, hạ tầng cơ sở nhưng vẫn không tránh khỏi những bất hợp lý. Trong thực tế khi góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất và các dự án có vốn đầu tư nước ngoài thuờng có những vướng mắc sau: + Do Việt Nam chưa có quy định về tính giá trị nên trong một số trường hợp phần góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng lại có quá lớn so với giá trị của khu đất làm cho việc đàm phán kéo dài vì bên nước ngoài khó chấp nhận. + Trong một số trường hợp, khi đàm phán với nước ngoài, các đối tác Việt Nam đã đưa ra mức giá cho thuê thấp để được bên nước ngoài chấp nhận. Nhưng khi thẩm định dự án, họ lại được yêu cầu phải đàm phán để tăng giá thuê đất thì gặp khó khăn, mất nhiều thời gian và cũng khó thuyết phục bên nước ngoài. + Một số dự án nhầm lẫn giữa việc góp vốn bằng giá trị nhà xưởng với việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Một số dự án chỉ tính tiền thuê đất của diện tích xây dựng nhưng không tính các diện tích khác như đường nội bộ, diện tích trồng cây xanh…Đlà cách hiểu sai chế độ qui định. Để tiếp tục tăng mức hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài, chính sách sử dụng đất cho các dự án đầu tư nước ngoài đã được cải thiện. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 đã sửa đổi chính sách đất đai theo hướng khuyến khích và rõ ràng hơn: Gía tiền thuê đất, mặt khác, mặt biến đổi với từng dự án được giữ ổn định tối thiểu là 5 năm, khi điều chỉnh tăng thì mức tăng không vượt quá 15% của mức qui định lần trước. Trong trường hợp doanh nghiêp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên hợp doanh đã trả tiền thuê đất cho cả đời dự án, nếu giá tiền thuê có tăng trong thời hạn đó thì tiền thuê đã trả không bị điều chỉnh lại. Do Việt Nam còn thiếu qui hoạch chi tiết để phục vụ cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho việc tạo ra các địa điểm ổn định thu hút vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên chính sách đất đai áp dụng đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài vẫn còn những vướng mắc nhất định: + Gía thuê đất của Việt Nam cao hơn so với nhiều nước trong khu vực. Nếu tính cả chi phí đền bù, giải toả thì giá đất bị đẩy lên quá cao. Đây là yếu tố làm giảm sức cạnh tranh để thu hút vốn đầu tư. Thời điểm tính giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa hợp lý. + Việc giao đất, nhất là các dự án có đền bù và giải toả kéo dài trong nhiều trường hợp việc giải toả này kéo dài trong một số năm thậm chí có dự án kéo dài tới 5 năm. Thủ tục thuê đất, cấp đất, giá đền bù, giải phóng mặt bằng còn phức tạp gây mất cơ hội và thời gian của các nhà đầu tư. Hiệu lực pháp luật của các qui định về đất đai còn thấp. Luật đất đai mặc dù đã sửa đổi song thiếu những văn bản hướng dẫn chi tiết. + Thiếu qui hoạch chi tiết cho việc thu hút FDI. Một số địa phương tự ý sử lý vấn đề đất đai áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài. 23
  24. 24. 1.4.2. Chính sách lao động. Chính sách lao động có mục tiêu giải quyết việc làm, nâng cao tay nghề, kỹ năng cho người lao động, nâng cao trình độ quản lý và cải thiện thu nhập cho người lao động. Trong thời gian qua số lượng người lao động làm việc trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài khoảng 28 vạn người. Số lao động của Việt Nam làm việc trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài phần lớn là lao động trẻ, có khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu công nghệ sản xuất tiên tiến nhưng hạn chế lớn về thể lực, kinh nghiệm và tay nghề. Một số lao động xuất thân từ nông thôn do đó kỷ luật chưa cao.Sự hiểu biết về pháp luật của người lao động còn hạn chế. Nhiều người lao động trẻ tuổi thường không chấp nhận sự đối xử thô bạo của giới chủ. Đây là mầm mống của những phản ứng lao động tập thể. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số lượng các vụ tranh chấp lao động tập thể trong các dự án đầu tư nước ngoài có xu hướng ra tăng qua các năm. Năm 1990 có 3 vụ, đến 1996 có 29 vụ, 3 tháng đầu năm 1997 có 10 vụ. Số vụ tranh chấp lao động ra nhiều ở các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh Đài Loan, Hàn Quốc. Nguyên nhân dẫn tới các vụ tranh chấp đó là: - Đối với người sử dụng lao động: + Nhiều giám đốc doanh nghiệp kể cả người được uỷ quyền điều hành không lám vững những qui định của pháp luật lao động hoặc cố tình không tuân thủ những qui định của pháp luật như kéo dài thời gian làm việc trong ngày… + Trù dập người lao động khi họ đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng, chấm dứt hợp đồng tuỳ tiện hoặc sa thải người lao động trở lên căng thẳng. + Vi phạm các qui định về điều kiện làm việc điều kiện lao động và các tiêu chuẩn và quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động có nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp… +Một số cán bộ giúp việc cho các chủ doanh nghiệp nước ngoài nắm các quy định của pháp luật không vững nên nhiều trường hợp dẫn đến những vi phạm pháp luật. - Về phía người lao động: + Phần đông thiếu sự hiểu biết về các qui định của pháp luật lao động, chưa nắm vững các chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của mình để tiến hành ký hộp đồng còn mang tính hình thức, bị thiệt thòi, bị áp đặt dẫn đến mâu thuẫn phát sinh tranh chấp. + Một số người lao động đòi hỏi vượt quá qui định pháp luật và do sự hạn chế về ngoại ngữ nên có những bất đồng do không hiểu nhau dẫn đến mâu thuẫn. Tuy nhiên chính sách lao động còn những hạn chế. Mặc dù đã giải quyết được công ăn việc làm cho một lực lượng lao động nhất định, song mục tiêu 24
  25. 25. nâng cao tay nghề cho công nhân, nâng cao trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế. 1.4.3 Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm Trước năm 1996, chính sách đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vẫn chủ yếu là thay thế nhập khẩu. Do đó, chính sách về thị trường chủ yếu là thị trường trong nước. Theo điều 3 của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 Nhà nước Việt Nam khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào: - Thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu. -Sử dụng kỹ thuật cao, công nghệ hiện đại, đầu tư theo chiều sâu, khai thác và tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tế hiện có. - Sử dụng nhiều lao động, nguyên vật liệu và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Việt Nam. -Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. - Dịch vụ thu tiền nước ngoài như dịch vụ du lịch, sửa chữa tàu, dịch vụ sân bay, cảng khẩu khác. Luật sửa đổi, bổ xung năm 1996 đã khuyến khích đầu tư với mục tiêu ưu tiên hàng đầu là hàng xuất khẩu. Vì vậy, việc tiêu thụ sản phẩm ở các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã có định hướng xuất khẩu. Năm 1996, xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 11% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đến năm 1997 tỷ lệ này đã tăng lên 17%và tỷ lệ này đang có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, việc thúc đẩy xuất khẩu chỉ mới dừng lại ở tình trạng bên nước ngoài bao tiêu sản phẩm, do đó bên Việt Nam không biết được bạn hàng nước ngoài, giá cả, tình hình lơị nhuận thu được từ xuất khẩu. Đây là yếu tố gây thua thiệt cho bên Việt Nam –một vấn đề đang đặt ra gay gắt hiện nay. Thêm vào đó, tỉ lệ hàng xuất khẩu còn rất hạn chế. 1.4.4.Chính sách công nghệ. Mục tiêu của chính sách công nghệ là thu hút công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại của nước ngoài để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại háo đất nước, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề, thực hiện nội địa hoá công nghệ để tăng năng lực nội sinh của công nghệ. Điều này được khẳng định trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là thu hút công nghệ hiện đại để đầu tư theo chiều sâu vào các cơ sở kinh tế hiện có hoặc thu hút công nghệ cao để sản xuất hàng xuất khẩu. Qua thẩm định các dự án cho thấy, nhiều dự án phát huy tác dụng tốt trong chuyển giao công nghệ tiên tiến, đặc biệt trong lĩnh vực khai thác dầu khí, viễn thông, các nghành cơ khí nông nghiệp, máy móc công cụ, máy phục vụ nghành công nghiệp nhẹ… Tuy nhiên, công nghệ tiên tiến nhập vào chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu cần thiết cả về số lượng, lẫn qui mô,chưa cân đối giữa các ngành kinh tế, nhất là ở một số ngành then chốt có tác dụng tạo môi trường công nghệ cho 25
  26. 26. công nghiệp như cơ khí, năng lượng, hoá chất, giao thông… cũng như giữa các vùng. Nhìn chung trong các liên doanh với nước ngoài, hàm lượng công nghệ thể hiện trong giá trị gia tăng của sản phẩm chế biến còn thấp, chỉ đạt 10% - 20%, trong khi chi phí vật tư, nguyên liệu nhập từ nước ngoài vượt quá 70%. Mức độ hiện đại và tinh vi của chính bản thân công nghệ còn thấp. Trừ một số ít dây chuyền công nghệ nhập vào tương đối hiện đại, còn lại phần lớn ở trình độ thấp so với các nước trong khu vực, thậm chí có cả công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kỹ, gây ô nhiễm môi trường sau đó phải xử lý. Ngoài ra, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá, bí quyết công nghệ còn kém. 1.5. Kết quả thu hút vốn FDI trong thời gian qua. 1.5.1. Tình hình cấp giấy phép đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Từ khi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có hiệu lực cho đến hết tháng 12 năm 2001, nhà nước đã cấp cho 3631 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký là 41536,8 triệu USD.Tính bình quân mỗi năm, chúng ta cấp phép cho 259 dự án với mức 2966,9 triệu USD vốn đăng ký. Cụ thể được thể hiện ở bảng sau: Bảng 1: Số dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép qua các năm (chưa kể các dự án của VIETSOVPETRO) Vốn đăng ký Qui mô (triệu so với năm trước(%) Năm Số dự án (triệu USD) USD/DA) Số dự án Vốn đăng ký Qui mô 1988 37 371,8 10,05 1989 68 582,5 8,57 183,78 156,67 85,27 1990 108 839,0 7,77 158,82 144,03 90,67 1991 151 1322,3 8,76 139,81 157,60 112,74 1992 197 2165,0 11,0 130,46 163,73 125,57 1993 269 2900,0 10,78 136,55 133,95 98,00 1994 343 3765,6 10,98 127.51 129,85 101,85 1995 370 6530,8 17,65 107,87 173,43 160,75 1996 325 8497,3 26,15 87,84 130,11 148,16 1997 345 4649,1 13,48 106,15 54,71 58,23 1998 275 3897,0 14,17 79,71 83,83 105,12 1999 311 1568,0 5,04 113,09 40,24 35,57 2000 371 2012,4 5,42 119,3 128,3 107,5 2001 523 2535,5 4,88 140,97 126,88 90,08 2002 754 1557,7 2,066 144,17 61,44 42,34 Tổng 4447 43194 * Nguồn: Niên giám thông kê 2002, Nxb thống kê, Hà Nội 2002 26
  27. 27. Từ bảng 1 cho ta thấy nhịp độ thu hút đ ầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam có xu hướng tăng nhanh từ năm 1998 đến 1995 cả về số dự án cũng như cốn đăng ký. Riêng năm 1996, sở dĩ có lượng vốn đăng ký tăng vọt là do có 2 dự án đầu tư vào lĩnh vực phát triển đô thị ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh được phê duyệt với qui mô dự án lớn ( hơn 3 tỷ USD 12 dự án ). Như vậy nếu xét trong suốt cả thời kỳ 1988 – 2002 thì năm 1996 có thể được xem là năm đỉnh cao về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (cả về số dự án, vốn đăng ký, cũng như qui mô dự án). Biểu đồ 2. Từ năm 1997 đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu suy giảm,nhất là những năm 1998, 1999.Đến năm 2000, 2001 tình hình có sự chuyển biến tốt hơn (bắt đầu có xu hướng tăng lên), nhưng số vốn đăng ký cũng đạt mức cao hơn năm 1992 không nhiều và đến năm 2002 lại giảm xuống. Nếu so với năm 1997,số dự án được duyệt năm 1998 chỉ bằng 79,71%, năm 1999 chỉ bằng 90,4%, năm 2000 tuy có tăng nhưng cũng chỉ tăng 7,5 %so với năm 1997, tới năm 2002 số dự án đã tăng 51,59%so với năm 1997, và tới năm 2002 số dự án đã tăng tới 118,55 so với năm 1997.Số liệu tương ứng của vốn đăng ký lần lượt là: 83,83%;33,73%; 43,29%; 54,54%;và 33,51%. Sự biến động trên phần nào có thể do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính _tiền tệ khu vực đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Biểu đồ 2: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 31.78 582.5 839 1322.3 2165 2900 6530.8 3765.6 8497.3 4649.1 3897 1568 2012.4 2535.5 1557.7 9000 8000 7000 6000 5000 4000 3000 2000 1000 0 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Năm Phần lớn vốn đầu tư nước ngoài (trên 70%) vào Việt Nam là xuất phát từ các nước Châu á (trong đó các nước ASEAN chiếm gần 25%, các nước và lãnh thổ ở khu vực Đông Bắc á như Nhật Bản, Hàn Quốc,Đài Loan chiếm trên 31%). Khi nền kinh tế này lâm vào cuộc khủng hoảng, các nhà đầu tư ở đây rơi vào tình trạng khó khăn về tài chính, khả năng đầu tư ra nước ngoài bị giảm sút. 27 Triệu USD
  28. 28. Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng,đó là sự giảm sút về khả năng hấp dẫn do điều kiện nội tại của nền kinh tế Việt Nam.Trong đó có sự giảm bớt một số ưu đãi trong luật đầu tư nước ngoài năm 1996 so với trước. Nếu số lượng vốn đăng kýthì qui mô dự án bình quân thời kỳ 1988_2001 là 11,44 triệu USD/1 dự án. So với một số nước ở thời kỳ đầu thực hiện chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước ta bình quân ở thời kỳ này là không thấp. Nhưng cũng có một vấn đề đáng quan tâm là qui mô thực hiện dự án theo vốn đăng ký bình quân của năm 1999 lại nhỏ đi một cách đột ngột (5,04 triệu USD/1 dự án). Biểu đồ 3. 28
  29. 29. Biểu đồ 3: Qui mô dự án FDI tại Việt Nam 10.05 8.67 7.77 8.76 11 10.78 10.98 26.15 17.65 13.48 14.17 5.04 5.42 4.85 2.06 30 25 20 15 10 5 0 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Năm Qui mô dự án theo vốn đăng ký bình quân của năm 1999 chỉ bằng 44,1% thời kỳ 1988_2001 và chỉ bằng 28,5% qui mô dự án bình quân cao nhất (năm 1996).Qui mô bình quân của các dự án mới được cấp phép trong năm 2000 đã tăng lên (bằng 107,5% mức bình quân năm 1999), nhưng sang năm 2001 lại giảm,chỉ đạt 40,87% so với năm 1999. Điều đó chứng tỏ trong năm 2001 và 2002 có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam là thuộc các dự án có qui mô nhỏ. 1.5.2.Về các đối tác được cấp giấy phép đầu tư Tính đến hết năm 2002 đã có trên 700 công ty thuộc 69 nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Tính theo số vốn đăng ký thì trong tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời kỳ 1988 -2002 có 66,2% từ các nước Châu á; 20,1% từ các nước Châu Âu; 13,6% từ các nước Châu Mỹ. Trong đó có 14 nước và vùng lãnh thổ có tổng số vốn đầu tư (đăng ký ) trên 1 tỷ USD theo thứ tự sau: Nhìn vào danh sách của các đối tác đầu tư có số vốn đăng ký trên 1 tỷ USD cho thấy, chúng ta đang có điều kiện để đáp tiếp cận với các trung lớn về kinh tế, kỹ thuật, công nghệ của thế giới. Tuy vậy cho đến nay, trong số các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam thì sự có mặt của các nhà đầu tư thuộc các tập đoàn kinh tế chưa nhiều (mới có khoảng 50/500 tập đoàn kinh tế lớn của thế giới có dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam). Còn một số nhà đầu tư Châu á,nếu không kể các nhà đầu tư Nhật Bản và Hàn Quốc thì các nhà đầu tư còn lại phần lớn là người Hoa. Đay cũng là một đặc điểm rất cần được chú ý trong việc lựa chọn các đầu tư sắp tới nhằm làm cho các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trong yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá của ta đạt hiệu quả hơn. 29 Tr.USD/1DA
  30. 30. Bảng 4: Các nước có tổng số vốn đăng ký hơn 1 tỷ USD tt Nước Số DA vốn đăng ký (triệu USD) tt Nước tt Vốn đăng ký ( triệu USD ) 1 Singapo 303 6199,9 8 Anh 62 1808,3 2 Đài Loan 952 5671,2 9 Nga 76 1617,0 3 Hông Kông 397 3884,5 10 Mỹ 182 1600,0 4 Nhật Bản 385 3706,8 11 Malaixa 137 1276,0 5 Hàn Quốc 543 3609,3 12 Ôxtrâylia 115 1199,9 6 Pháp 182 2588,8 13 Thái Lan 162 1178,1 7 Quần đảo Vigin (Anh) 171 1984,5 14 Hà Lan 48 1161,1 Tổng số 14 nước 3714 36209,4 *Nguồn: tính từ niên giám thống kê năm 2002 NXB thống kê 1.5.3. Về địa bàn đầu tư Với mong muốn thu hút hoạt động đầu tư trưc tiếp nước ngoài góp phần lam chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng nên chính phủ ra đã có những chính sách khuyến khích, ưư đãi đối với các dự án đầu tư vào những vùng có điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn như miền núi,vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên cho đến nay vốn nước ngoài vẫn được tập chung vào một số địa bàn có diều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và môi trường kinh tế xã hội. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các vùng lãnh thổ của Việt Nam được xếo thứ tự như sau: 1.Đông Nam Bộ: 53,13% 2. Đòng Bằn Sông Hồng: 29,6% 3. Duyên Hải Nam Trung Bộ:7,64% 4. Đông Bắc: 4,46% 5. Đòng Bằng Sông Cửu Long: 2,46% 6.Bắc Trung Bộ:2,38% 7. Tây Nguyên: 0,16% 8. Tây Bắc: 0,15% Mức độ chênh lệch giữa các vùng về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là tương đối lớn và đồng thuận với mức độ thuận lợi của yếu tố kinh tế_xã hội và cơ sở hạ tầng. Cho tới năm 2002, nếu như hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh đã chiếm hơn nửa (50.3%)tổng số vốn đầu tư của cả nước.Mười địa phương có điều kiện thuận lợi cũng chiếm tới 87,8%.TP.Hồ Chí Minh với số vốn đăng ký 9991,3 triệu USD (chiếm tới 28,3% tổn số vốn đăng ký của cả nước); Hà Nội: 7763,5 triệu USD (chiếm 22%);Đòng Nai: 3439,0 triệu USD (chiếm 9,7%) ;Bà Rịa _Vũng Tầu; 2515,9 triệu USD (chiếm 7,1%; Bình Dương 30
  31. 31. và Bình Phước: 16677,9 triệu USD (chiếm 4,8%); Hải Phòng: 1507,7( chiếm 4,3%) ;Quảng Ngãi: 1333,0 triệu USD(chiếm 3,8%;Quảng Nam _Đà Nẵng:1013,7 triệu USD (chiếm 2,9%0;Quảng Ninh:872,8 triệu USD (chiếm : 2,5%); Lâm Đồng: 866 triệu USD (chiếm 2,4%). Số liệu trên phần nào nói lên rằng vấn đề thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài theo vùng lãnh thổ để kết hợp hoạt động này với việc khai thác các tiềm năng trong nước đạt kết quả chưa cao. Như vậy, đây cũng là một trong những vấn đề rất cần được chú ý điều chỉnh hoạt động của chúng ta trong thời gian tới đối với lĩnh vực này. 1.5.4.Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam phân theo ngành kinh tế Xét một cách tổng thể, ta thấy cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời gian qua đã có sự chuyển biến tích cực, phù hợp hơn với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu theo hướng CNH_HĐH. Nếu ở thời kỳ đầu các dự án đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào lĩnh vực khách sạn, văn phòng cho thuê…thì thời gian từ 1995;1996 đến nay các dự án đã tập trung vào lĩnh vực sản xuất vật chất nhiều hơn. Tính cả thời kỳ 1988_2002, các dự án đầu tư vào các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất cả về số dự án lẫn vốn đầu tư, tiếp đến là lĩnh vực khách sạn,du lịch và các ngành dịch vụ, ngành nông nghiệp, lâm nghiệp có số dự ánlớn nhưng tổng số vốn đầu tư thấp. II. Kinh nghiệm của các nước trong việc thu hút FDI 2.1. Trung Quốc Về chính sách chung,Trung Quốc huy đông FDI thông qua các hình thức như hợp đồng sản xuất,liên doanh, 100% vốn đầu tư nước ngoài vào các khu đặc biệt. Chính sách cơ bản để thu hút FDI của Trung Quốc là chính sách thuế.Trung Quốc ban hành nhiều loại thuế riêng cho các hình thức đầu tư:hợp tác liên doanh,100% vốn nước ngoài cho 14 thành phố ven biển.Liên doanh đóng thuế lợi tức 30% và 10% thêm cho các địa phương.Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì thuế lợi tức từ 20-40% và 10% cho địa phương. Về thuế xuất nhập khẩu,Trung Quốc thực hiện miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng như:máy móc ,thiết bị, bộ phận rời , vật liệu được đưa vào góp vốn liên doanh, hoặc các máy móc thiết bị, vật liệu do bên nước ngoài đưa vào khai thác dầu khí, đưa vào xây dựng phát triển năng lưọng, đường sắt, đường bộ, đưa vào các khu chế xuất… Về thủ tục hành chính,Trung Quốc phân cấp mạnh cho các địa phương về thẩm định dự án và cấp giấy phép đầu tư. Sau khi có giấy phép đầu tư,các thủ 31

    Be the first to comment

    Login to see the comments

  • uewewetrz

    Mar. 30, 2016

Views

Total views

1,828

On Slideshare

0

From embeds

0

Number of embeds

1

Actions

Downloads

41

Shares

0

Comments

0

Likes

1

×