LỜI CẢM ƠN       Em xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể các thầy côtrong khoa du lịch học trƣờng đại học ...
nhọn của các quốc gia mà còn là cầu nối giao lƣu giữa các dân tộc, quốc giavà các miền trong một đất nƣớc. Bạn bè quốc tế ...
đa dân tộc, có một nền văn hoá lâu đời, phong phú, thống nhất mà đa dạng.Với số dân gần 80 triệu ngƣời của 54 dân tộc an h...
của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của mộtsố tài nguyên du lịch chọn mẫu, so sánh nhận thứ...
Gồm ba phần:    Phần mở đầuPhần nội dung gồm:   Chƣơng 1: Những nhận thức về du lịch và bản sắc văn hoá truyền thống   dân...
nhận thức về nội dùng du lịch vẫn chƣa đƣợc thống nhất. Trƣớc thực tế pháttriển của ngành du lịch về mặt kinh tế cũng nhƣ ...
Quan điểm cuả Hunziker và Kraff cũng bắt nguồn từ ý tƣởng này: dulịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tƣợng bắt nguồn ...
Ngoài tiếp cận môi trƣờng, hoạt động du lịch phải có tiếp cận cộngđồng mới đảm bảo sự phát triển lâu dài.       Coltman đã...
Luật Dulịch Việt Nam chỉ rõ: “Du Lịch là họat động có liên quanđến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên c...
qua lại giữa khách du lịch, ngƣời kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại vàcộng đồng dân cƣ địa phƣơng trong quá trình thu...
thành những kiến thức hoặc bổ sung thêm kiến thức cho bản thân mình.Tham quan không chỉ thoả mãn nhu cầu tìm hiểu thông qu...
dân tộc. Vì khi ngành du lịch sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên du lịch thìsẽ đi đôi với việc giữ gìn và tiếp tục kế thừ...
trƣờng (Luật Du Lịch). Vậy khu du lịch phải là nơi có tài nguyên du lịch hấpdẫn và đồng thời phải có ƣu thế nổi bật về tài...
gian thực hiện; hai là các dịch vụ kèm theo bao gồm lƣu trú, vận chuyển,hƣớng dẫn, ăn uống và các dịch vụ khác tuỳ thuộc v...
du lịch ở Việt Nam ra đời năm 1960 với việc thành lập Công Ty Du LịchViệt Nam theo nghị định số 26 CP ngày 9/7/1960 đã đán...
1. Khách quốc tế         Khá quố4,500,000                                                                                 ...
Nguồn: Tổng Cục thống kêQua hai bản biểu đồ trên có thể thấy hoạt động du lịch của nƣớc ta giai đoạn 1990-2007 đã đạt đƣợc...
nhiên hoặc do con ngƣời tái tạo, giúp khách du lịch hiểu đƣợc giá trị       của sinh thái và môi trƣờng, ảnh hƣởng của sin...
việc nghỉ dƣỡng nhƣ khí hậu, môi trƣờng, bãi biển và có cơ sở vật       chất đủ đáp ứng cho nhu cầu nghỉ ngơi tĩnh dƣỡng. ...
các thành viên nhƣ các hoạt động nhóm, các bữa tiệc sang trọng mang       nét đặc sắc. Đây là loại hình du lịch hình thành...
hoá thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp đến cao nhất và văn hoá củahọ chiếm vị trí cao nhất. Bởi họ cho rằng văn...
- Một là, những di tích văn hoá hữu thể nhƣ: đình, đền, miếu, lăng mộ,       nhà sàn, bảo tàng… hay những di tích kiến trú...
niệm cổ truyền và truyền thống. Có thể coi khái niệm cổ truyền bao gồm cảcái không tích cực. Khái niệm truyền thống là tập...
hệ giá trị văn hoá. Về du lịch, hầu nhƣ trƣớc đây có bao nhiêu tác giả nghiêncứu tìm hiểu du lịch thì có bấy nhiêu định ng...
vủa mỗi cộng đồng, dân tộc khi bị cô lập sẽ ở trạng thái ngƣng trệ. Sự kếthừa theo trục không gian đã thúc đẩy văn hoá nhâ...
Tóm lại giữa du lịch và văn hoá có mối quan hệ biện chứng. Hoạt độngcủa ngành du lịch nhƣ một ngành kinh tế dịch vụ góp ph...
nhận thấy vai trò của du lịch đối với nền kinh tế nên họ đã có chính sáchthúc đẩy ngành phát triển và trở thành một ngành ...
tốt với các nguyên thủ cũng nhƣ các đoàn đại biểu của các nƣớc. Du lịchphát triển còn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng các ...
So với ngoại thƣơng ngành du lịch cũng có nhiều ƣu thế nổi trội. Dulịch quốc tế xuất khẩu tại chỗ đƣợc nhiều mặt hàng khôn...
các cộng đồng miền xuôi có điều kiện để tiếp xúc và hiểu đƣợc hoàn cảnh,thực tế cuộc sống , kinh tế của các cộng đồng dân ...
du lịch đóng vai trò thiết yếu và không thể thiếu đƣợc đối với nền văn hoá xãhội Việt nam2.2 Thực trạng du lịch Việt nam v...
279,733  2. §êng biÓn                                           98.6   118.3    95                             21,565     ...
12. Th¸i Lan                                           99.9   161.7   137                             13,602         120,8...
30. C¸c thÞ tr-êng kh¸c                                                  105.9    152.2              124                  ...
12. Anh                 56,355          64,673      69,682       63,348         71,016                                    ...
truyền thống không bị mai một hoặc mất dần đi mà ngƣợc lại các truyềnthống đó luôn đƣợc ghi nhớ trong lòng du khách từ các...
Du lịch bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống nhƣ một tàinguyên quý giá. Vì văn hoá truyền thống còn đƣợc coi l...
2.1. Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể     Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, Việt Na...
Chắc hẳn câu ca dao cổ:Dù ai đi đâu về đâuHễ trông thấy tháp Chùa Dâu thì vềDù ai buôn bán trăm nghềNhớ ngày mồng tám thì ...
hiện ở hình khối, màu gạch và mạch vữa, có mối quan hệ với kiến trúc. Chùatháp của Ấn Độ trong buổi đầu dựng chùa tháp Hoà...
Chùa Dâu là ngôi chùa có lịch sử cổ nhất nƣớc ta hiện nay, một viênngọc quý vô giá minh chứng phật giáo du nhập lớn từ nhữ...
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Upcoming SlideShare
Loading in …5
×

Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc

826 views
769 views

Published on

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total views
826
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
10
Actions
Shares
0
Downloads
9
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc

  1. 1. LỜI CẢM ƠN Em xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể các thầy côtrong khoa du lịch học trƣờng đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn. §ÆcbiÖt, em xin đƣợc gửi lời cảm ơn s©u s¾c nhÊt tíi Thạc sỹNguyễn Quý Phƣơng - ThÇy đã rÊt tận tình chỉ bảo và giúp đỡ, h-íngdÉn vµ cung cÊp cho emnh÷ng ph-¬ng ph¸p lµm viÖc cãhiÖu qu¶ nhÊt trong suốt qúa trình chuÈn bÞ, thùc hiÖnvµ hoµn thµnh khoá luận tốt nghiệp nµy.§ång thêi em xin cảm ơn tới gia ®×nh ®· lu«n lu«n bªnc¹nh ®éng viªn gióp ®ì em trong suèt kho¶ng thêigian qua. Cuối cùng t«i xin chân thành cảm ơn toµn thÓ c¸c bạn đãluôn nhiÖt t×nh tham gia gióp ®ì t«i trong qu¸ tr×nhnghiªn cøu vµ cïng t«i trao ®æi ý kiÕn ®Ó ®Ò tµi®-îc hoµn thiÖn.Sinh viên: Trân trọng cảm ơn!ĐỀ TÀI:Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy gi¸ trÞv¨n ho¸ truyÒn thèng d©n téc.Phần mở đầu1. Lý do chọn đề tài: Trong cuéc sèng hiÖn ®¹i ngµy nay, du lịch đã trởthành một nhu cầu tất yếu của xã hội, không những là ngành kinh tế mũiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  2. 2. nhọn của các quốc gia mà còn là cầu nối giao lƣu giữa các dân tộc, quốc giavà các miền trong một đất nƣớc. Bạn bè quốc tế trƣớc đây biết đến Việt Namlà một quốc gia phải trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh với các thế lực xâmlƣợc mạnh hơn gấp nhiều lần và họ đã anh hùng đánh bại các thế lực xâmlƣợc đó, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ non sông của đất nƣớc. Bởi vậy, ngày nay,khi kh¸ch du lịch đến Việt Nam hä th-êng ngạc nhiên và tự hỏikhông hiểu vì sao những con ngƣời mãnh liệt, dũng cảm, lập nhiều kỳ tíchtrong chiến tranh nhƣ vậy lại cuốn hút kh¸ch tham quan bởi sự hiền hậu,chân tình và th©nthiÖn chứ không phải bằng những ánh hào quang củachiến thắng. Có lẽ một phần câu trả lời đang ẩn mình trong tính cách vàtruyền thống của ngƣời Việt, bởi trải qua hµng ngàn năm lịch sử, ngƣờiViệt đã tạo dựng cho mình một phong cách, một nền văn hoá, thuần phong,mỹ tục riêng. Đồng thời du lịch còn tạo ra một sự trải nghiệm cho chính dukhách, giúp họ nhìn nhận lại những giá trị quý báu của dân tộc mà biết baothế hệ, ngay cả chính họ đã phải đổi bằng xƣơng máu của mình để tạo dựngnên. Đối với thế hệ trẻ thì du lịch là dịp để họ hiểu hơn về công lao của chaông mình, đồng thời cũng hiểu những giá trị nhân văn, giá trị truyền thốngvà thiên nhiên mà họ đang đƣợc thừa hƣởng. Du lịch ngày nay đã trở thànhmột hoạt động không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt xã hội, làm cho đờisống xã hội ngày một phong phú hơn, lý thú và bổ ích hơn. Về phƣơng diệnkinh tế, du lịch đã trở thành một ngành mũi nhọn, chiếm một tỷ trọng lớntrong thu nhập kinh tế quốc dân, không những vậy do đặc tính hoạt động, dulịch còn góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế vùng chậm phát triển,đồng thời giúp xoá đói, giảm nghèo ở những vùng sâu vùng xa.Nhƣng quan trọng hơn du lịch có vai trò to lớn trong việc bảo tồn và pháthuy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Đặc biệt Việt Nam là một quốc giaChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  3. 3. đa dân tộc, có một nền văn hoá lâu đời, phong phú, thống nhất mà đa dạng.Với số dân gần 80 triệu ngƣời của 54 dân tộc an hem cùng đoàn kết chungsống trên một vùng lãnh thổ, trải qua nhiều đời, mỗi dân tộc đã đóng góp,dựng xây tạo nên những thành quả trên nhiều lĩnh vực: kinh tế- văn hoá- xãhội, bên cạnh đó cũng hình thành nên những vùng văn hoá với nét đặc trƣngriêng. Đất nƣớc Việt Nam, con ngƣời Việt Nam với các thành phần dân tộc,qua hang ngàn năm xây đắp đã tạo dựng nên một kho tàng văn hoá hết sứcphong phú, độc đáo và quý giá. Xuyên suốt chặng đƣờng lịch sử hình thànhvà phát triển đất nƣớc, các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc ViệtNam nói chung và 54 dân tộc anh em nói riêng là một di sản vô cùng quýbáu, một tài nguyên vô cùng quý giá trong quá trình xây dựng và phát triểnđất nƣớc. Trải qua những năm tháng chiến tranh chống xâm lƣợc bảo vệ tổquốc, do một phần nhận thức của ngƣời dân còn thấp đặc biệt là sự quản lý,phối hợp lỏng lẻo của các ngành các cấp nên nhiều vốn quý trong kho tangvăn hoá truyền thống các dân tộc đã bị mất mát và mai mộ. Nghị quyết 4 củaBan chấp hành trung ƣơng Đảng khoá 8 về việc bảo tồn và phát huy giá trịvăn hoá truyền thống là định hƣớng quan trọng trong việc khôi phục lạinguồn vốn quý của dân tộc. Nhiều công trình văn hoá nghệ thuật trên cáclĩnh vực văn hoá phi vật thể và vật thể đƣợc kiểm kê, trùng tu, tôn tạochống xuống cấp, sƣu tầm bảo quản nghiên cứu giới thiệu, giao lƣu để bảotồn trong cuộc sống và cho khách tham quan. Trong đó du lịch đóng vai tròto lớn và đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoátruyền thống dân tộc. Bởi vậy nghiên cứu về du lịch sẽ góp phần quan trọngtrong việc nâng cao nhận thức và phƣơng hƣớng phát triển ngành du lịchViệt Nam. Tuy nhiên do điều kiện có hạn về không gian, thời gian và tƣ liệunên đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu “Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn vàphát huy bản sắc văn hoá dân tộc”. Đề tài sẽ cố gắng đi sâu phân tích vai tròChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  4. 4. của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của mộtsố tài nguyên du lịch chọn mẫu, so sánh nhận thức thực tế, hoạt động của cácchƣơng trình du lịch trong những năm 2004 – 2008 để phát huy vai trò màdu lịch đã tiếp cận, những tiềm năng mà du lịch còn chƣa đƣợc khai thác đểđáp ứng nhu cầu của khách nội địa và quốc tê.2. Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu:2.1. Mục đích nghiên cứu: Đề tài “ Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc vănhoá dân tộc” hƣớng tới giải quyết mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá, trongđó những nhân tố truyền thống dân tộc cần đƣợc phát huy nhƣ một nền tảngvững chắc giúp cho ngành du lịch đi đúng hƣớng và tiến tới phát triển dulịch một cách bền vững. Đồng thời thong qua phân tích, so sánh em hy vọngsẽ góp phần củng cố thong tin bổ ích về vai trò của du lịch với việc bảo tồnvà phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho những ngƣời tham gia hoạt động dulịch để họ có thể phát huy tác dụng của nó nhƣ một cách tối đa và có hiệuquả nhất.2.2. Đối tƣợng nghiên cứu Sinh viên tập trung vào nghiên cứu ngành du lịch Việt Nam để làm rõvai trò của nó đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.Đồng thời những nhận thức về bản sắc văn hoá dân tộc và những vấn đề cólien quan cũng đƣợc nghiên cứu và làm rõ để làm sáng tỏ vấn đề.3. Phƣơng pháp nghiên cứu- Phƣơng pháp thu thập tài liệu- Phƣơng pháp khảo sát thực địa- Phƣơng pháp tiếp cận hệ thống.- Phƣơng pháp trực quan, phƣơng tiện thông tin đại chúng4. Bố cục khoá luậnChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  5. 5. Gồm ba phần: Phần mở đầuPhần nội dung gồm: Chƣơng 1: Những nhận thức về du lịch và bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc. Chƣơng 2: thực trạng vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Chƣơng 3: Một số giải pháp kiến nghị để phát huy vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Phần kết luận. PHẦN NỘI DUNGChƣơng 1: Những nhận thức cơ bản về du lịch và văn hoá truyền thốngcủa dân tộc.1.Những khái niệm cơ bản về du lịch: Du lịch đối với nƣớc ta là một ngành kinh tế mới mẻ. Từ sau khi đấtnƣớc hoàn toàn giải phóng, ngành du lịch mới thực sự đƣợc đảng và Nhànƣớc quan tâm. Đặc biệt từ đại hội lần VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam,cùng với sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần, khu vực kinh tế, ngành dulịch lần đầu tiên đƣợc nghị quyết của Đảng khẳng định là một ngành kinh tếmũi nhọn. Muốn cho kinh tế du lịch phát triển đúng hƣớng mang lại nguồnlợi cho nền kinh tế quốc dân chúng ta cần hiểu rõ khái niệm, lịch sử, xu thế,những nhân tố tạo điều kiện cho ngành này phát triển để vận dụng vào điềukiện cụ thể của nƣớc ta.1.1.Khái niệm du lịch: Mặc dù du lịch đã trở thành hiện tƣợng kinh tế, xã hội phổ biến trên thếgiới và là thói quen trong nếp sống sinh hoạt của xã hội. Nhƣng cho đến nayChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  6. 6. nhận thức về nội dùng du lịch vẫn chƣa đƣợc thống nhất. Trƣớc thực tế pháttriển của ngành du lịch về mặt kinh tế cũng nhƣ trong lĩnh vực đào tạo,nghiên cứu thảo luận, để đi đến thống nhất một số khái niệm trong đó cókhái niệm về du lịch là một đòi hỏi cần thiết. Theo ông Nguyễn Khắc Viện thì du lịch là sự mở rộng không gianvăn hoá của con ngƣời. Trong từ điển tiếng Việt du lịch lại đƣợc giải thích là đi chơi cho biếtxứ ngƣời. Với Ghisman: du lịch là sự khắc phục về mặt không gian của conngƣời hƣớng tới một điểm nhất định nhƣng không phải là nơi thƣờng xuyêncủa họ. Guer Freuler: du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiệntƣợng của thời đại chúng ta dựa trên sự tăng trƣởng về nhu cầu khôi phụcsức khỏe và sự thay đổi về môi trƣờng xung quanh, dựa vào sự phát sinh,phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp của thiên nhiên chia sẻ quan niệm này vớiGuer Freuler, PTS Trần Nam đƣa ra quan điểm của mình: du lịch là quátrình hoạt động của con ngƣời rời khỏi quê hƣơng đến một nơi khác với mụcđích chủ yếu là đƣợc thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc,độc đáo khác lạ với quê hƣơng, không nhằm mục đích sinh lời đƣợc tínhbằng đồng tiền. Aza nhận thấy du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạmthời tự một vùng này sang một vùng khác, từ một nƣớc này sang nƣớc khácnếu không gắn với sự thay đổi nơi cƣ trú hay nơi làm việc. Quan điểm của Kaspar: du lịch là toàn bộ những quan hệ về hiệntƣợng xảy ra trong quá trìn di chuyển và lƣu trú của con ngƣời tại nơi khôngphải là nơi ở thƣờng xuyên hoặc nơi làm việc của họ.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  7. 7. Quan điểm cuả Hunziker và Kraff cũng bắt nguồn từ ý tƣởng này: dulịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tƣợng bắt nguồn từ cuộc hành trìnhvà lƣu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơilàm việc thƣờng xuyên của họ. Du lịch không chỉ là một hiện tƣợng xã hội đơn thuần mà nó phải gắnchặt với hoạt động kinh tế. Tuy nhiên mỗi học giả lại có những nhận địnhkhác nhau về vấn đề này. Theo Kuns một yếu tố không thể thiếu đƣợc trong định nghĩa về dulịch cần đƣợc bổ sung là đến bằng các phƣơng tiện giao thong và sử dụngcác xí nghiệp du lịch. Picira Edmod đã đƣa ra định nghĩa: du lịch là việc tổng hoà, việc tổchức và chức năng của nó không chỉ về phƣơng diện khách vãng lai màchính về phƣơng diện giá trị do ngƣời chỉ ra và của những khách vãng laiđến với một túi tiền đầy tiêu dùng trực tiếp và gián tiếp cho các chi phí củahọ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí. Mariot coi tất cả các hoạt động, tổ chức, kỹ thuật và kinh tế phục vụcác cuộc hành trình và lƣu trú của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú, với nhiều mụcđích ngoài mục đích kiếm việc làm và thăm viếng ngƣời thân là du lịch. Ngoài những khái niệm thiên về tiếp cận kinh tế, tiếp cân xã hội cũngcó một số khái niệm sau: đối với Nguyễn Cao Thƣờng và Tô Đăng Hải chorằng: “Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ có mhiệm vụ phục vụnhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi hoặc không kết hợp với các hoạt độngchữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và nhu cầu khác”. Michand – chuyên gia nghiên cứu về du lịch thuộc lĩnh vực địa lý đƣara quan điểm của mình: du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêuthụ phục vụ cho việc đi lại và ngủ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thƣờngngày với lý do giải trí, kinh doanh, sản xuất, hội họp, thể thao hoặc tôn giáo.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  8. 8. Ngoài tiếp cận môi trƣờng, hoạt động du lịch phải có tiếp cận cộngđồng mới đảm bảo sự phát triển lâu dài. Coltman đã định nghĩa: du lịch là quan hệ tƣơng hỗ do sự tƣơng táccủa bốn nhóm du khách, cơ quan cung ứng du lịch, chính quyền và dân cƣtại nơi đến du lịch tạo nên. Còn Robert W.Mcintosh, Charles R.Goelder, J.R Brent Ritchie phátbiểu về du lịch nhƣ là tổng các hiện tƣợng và mối quan hệ nảy sinh từ tácđộng qua lại giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủnhà trong quá trình thu hút và đón tiếp du khách. Với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị Liên Hợp Quốc vệ du lịch họptại Roma, các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa về du lịch “Du lịch là tổnghợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cáccuộc hành trình và lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờngxuyên của họ hay ngoài nƣớc họ với mục đích hoà bình. Nơi họ lƣu trúkhông phải nơi làm việc của họ”. Khác với quan điểm trên các học giả biên soạn bách khoa toàn thƣViệt Nam đã tách hai nội dùng cơ bản của du lịch thành hai phần:+ Nghĩa thứ nhất: du lịch là một dạng nghỉ dƣỡng sức tham quan tích cựccủa con ngƣời ngoài nơi cƣ trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danhlam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật…+ Nghĩa thứ hai: du lịch đƣợc coi là ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quảcao về nhiều mặt, nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử vàvăn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng tình yêu đất nƣớc, đối với ngƣờinƣớc ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế du lịch là lĩnhvực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩuhàng hoá và dịch vụ tại chỗ.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  9. 9. Luật Dulịch Việt Nam chỉ rõ: “Du Lịch là họat động có liên quanđến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằmđáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong mộtkhoảng thời gian nhất định”. Theo định nghĩa này ta thấy, du lịch trƣớc tiênphải là hoạt động của con ngƣời và phải là hoạt động ngoài nơi cƣ trúthƣờng xuyên của họ. Tuy vậy ở đây còn nêu lên một vấn đề rất chungchung là “nơi cƣ trú” bởi từ này có thể hiểu với một không gian rất rộng nhƣmột đất nƣớc, bởi một nƣớc cũng có thể hiểu là nơi cƣ trú của công dânnƣớc đó hoặc không gian nhỏ hơn là một vùng lãnh thổ, một tỉnh, thành phốhay một huyện, một xã, hay một làng. Việc giới hạn không gian linh hoạtnhƣ trên đã giúp chúng ta có cái nhìn nhận linh hoạt hơn không bị quá bóhẹp về không gian du lịch mà nó đƣợc lien hệ với các yếu tố khác. Du lịchphải nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dƣỡng của con ngƣờiđi du lịch, trong đó một nhu cầu rất quan trọng là tham quan, điều này chochúng ta thấy hoạt động của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú nhƣng không nhằmthoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dƣỡng thì sẽ không đƣợc côngnhận là du lịch. Theo tinh thần đó thì những hoạt động nhƣ học tập ngoài nơicƣ trú, lao động ngoài nơi cƣ trú sẽ không phải là du lịch. Du lịch đƣợc diễnra trong một khoảng thời gian nhất định nghĩa là du lịch nhằm thoả mãn nhucầu của con ngƣời đi du lịch trong những thời gian nhất định, điều này giúpta phân biệt nhu cầu, hoạt động của con ngƣời đi du lịch với các nhu cầukhác của họ và cho ta thấy giới hạn thời gian của khách du lịch, từ đó mà cónhững sản phẩm du lịch phù hợp với giới hạn thời gian của họ. Ngày nay, Tổ chức Du lịch Thế Giới (UNWTO) đã thống nhất kháiniệm du lịch phản ánh các mối quan hệ có tính bản chất bên trong là cơ sởcho việc nghiên cứu các xu hƣớng và quy luật phát triển của nó. Do đó: “ Dulịch là tổng thể những hiện tƣợng về mối quan hệ phát sinh do sự tác độngChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  10. 10. qua lại giữa khách du lịch, ngƣời kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại vàcộng đồng dân cƣ địa phƣơng trong quá trình thu hút và lƣu giữ khách dulịch. Trong thực tế cuộc sống, do sự phát triển của xã hội và nhận thức, cáctừ ngữ thƣờng có nhiều nghĩa, nhiều khi trái ngƣợc nhau. Nhƣ vậy việc giảithích bằng cách gộp các nội dùng khác nhau vào một định nghĩa sẽ gây khóhiểu, không rõ ràng. Vậy có thể tách du lịch thành hai phần để định nghĩa: - Thứ nhất, du lịch có thể hiểu là sự di chuyển và lƣu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cƣ trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ về nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo sự tiêu thụ một số giá trị kinh tế, văn hoá, và dịch vụ do các cơ sở cung ứng. - Thứ hai: Du lịch có thể đƣợc hiểu là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lƣu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cƣ trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Việc nhận định rõ ràng hai nội dùng cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch. Từ những khái niệm trên giúp ta hiểu rõ về ngành du lịch từ đó có những nhìn nhận đúng đắn về ngành này cũng nhƣ vai trò của nó đối với đất nƣớc, đặc biệt là vai trò bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.1.2. Một số khái niệm liên quan:- Cũng theo Luật Du Lịch thì “tham quan là hoạt động của khách du lịchtrong ngày tới thăm nơi có tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thƣởngthức những giá trị tài nguyên du lịch”. Qua đây cho ta thấy, tham quan làhình thức quan sát trực tiếp những di tích, danh lam, phong tục, cuộc sốngsinh hoạt của cộng đồng dân cƣ nơi họ đến du lịch, từ đó cảm nhận, hìnhChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  11. 11. thành những kiến thức hoặc bổ sung thêm kiến thức cho bản thân mình.Tham quan không chỉ thoả mãn nhu cầu tìm hiểu thông qua tiếp xúc trựctiếp các giác quan mà nó còn thông qua việc tiếp xúc ấy để thƣởng ngoạncác giá trị của nơi đến tham quan. Tham quan không những giúp cho ta cảmnhận trực tiếp các đối tƣợng tham quan và giúp ta kiểm nghiệm, bổ sung trítƣởng tƣợng phong phú của con ngƣời về các đối tƣợng mà ta có đƣợc thôngqua các hình thức khác nhƣ văn học, hội hoạ, truyền thong… Việc hìnhthành kiến thức, bổ sung kiến thức thông qua tham quan mang tính khác biệtvới các hình thức khác, bởi kiến thức đƣợc hình thành bổ sung một cách nhẹnhàng, thoải mái, không bắt buộc. Từ những quan sá kinh tế, trực tiếp, kiếnthức dần dần đọng lại trong khách du lịch một cách tự nguyện, bản năng, bởivậy những kiến thức đọng lại thuộc về nhu cầu và tƣơng đối bền vững vớingƣời tiếp nhận nó.- Luật Du Lịch còn chỉ rõ : “ Khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kếthợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thunhập ở nơi đến ”. Về phƣơng diện kinh tế, du khách là những ngƣời sử dụngdịch vụ của các doanh nghiệp du lịch nhƣ lữ hành, lƣu trú, ăn uống… (theonhập môn KH du lịch - Trần Đức Thanh). Khái niệm này cho ta thấy kháchdu lịch là rất đa dạng không phân biệt tuổi tác, học thức, nghề nghiệp, địa vịxã hội hay tôn giáo. Nhƣ vậy, sẽ có rất nhiều đối tƣợng nếu có nhận thức tốttham gia vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.- Tài nguyên du lịch: “ là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịchsử- văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các giá trị nhânvăn khác có thể đƣợc sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơbản để hình thành các khu du lịch , điểm du lịch , tuyến du lịch, đô thị dulịch” ( Luật Du Lịch). Ngay từ khái niệm về tài nguyên du lịch này đã cho tathấy một phần vai trò du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoáChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  12. 12. dân tộc. Vì khi ngành du lịch sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên du lịch thìsẽ đi đôi với việc giữ gìn và tiếp tục kế thừa phát triển nguồn tài nguyên đóđể hƣớng tới phát triển du lịch bền vững. Cảnh quan thiên nhiên chứa trongbản thân nó vẻ đẹp hùng vĩ của tạo hoá nhƣng bên cạnh đó cũng ghi dấu ấnlịch sử dân tộc qua các thời kỳ, chính vì vậy nó cuốn hút khơi dậy trong mỗicon ngƣời chúng ta tình yêu quê hƣơng đất nƣớc giống nhƣ một đại văn hàođã nói: “dòng suối chảy vào sông, sông chảy vào đại trƣờng giang Von-ga.Còn sông Von-ga chảy ra biển. Lòng yêu nhà quê hƣơng xứ sở trở thànhlòng yêu nƣớc. Các di tích lịch sử không chỉ chứa đựng những thông tin lịchsử mà còn chƣa đựng cả những tƣ tƣởng, truyền thống cách mạng của cácthế hệ cha ông chúng ta. Đƣơng thời thăm đền Hùng, Hồ chủ tịch đã dạy: “Các vua Hùng đã có công dựng nƣớc, Bác cháu ta phải quyết tâm giữ nƣớc”.Trong khung cảnh hùng vĩ của đền Hùng, lời dạy đó đi vào lòng chúng tamột cách êm ái mà sâu sắc biết nhƣờng nào. Những di tích cách mạng vớithời gian năm tháng sẽ không chỉ đơn thuần là di tích cách mạng, mà nó sẽtrở thành di tích lịch sử - cách mạng với ý nghĩa vô cùng lớn lao chứa đựngtrong bản thân nó và ý nghĩa thời gian nó đã trải qua. Không những chỉ chứađựng những thông tin lịch sử văn hoá mà các di tích còn ẩn chứa trong mình,những giá trị nhân văn, những giá trị ứng xử của con ngƣời Việt Nam.Thông qua các biểu tƣợng hoặc các truyền thuyết gắn liền với di tích đó, màta thấy đƣợc nét truyền thống văn hiến của dân tộc mình. Khuê Văn Cáckhông phải nghiễm nhiên đƣợc xây dựng ở trung tâm Văn Miếu bởi nó ẩnchứa trong mình những ý chí vƣơn lên toả sáng - những ánh sang tuyệt đẹpcủa con ngƣời Việt Nam nhƣ ánh sáng của chùm sao Khuê.- Khu du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ƣu thế về tài nguyêndu lịch tự nhiên, đƣợc quy hoạch, đầu tƣ, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầuđa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế, xã hội và môiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  13. 13. trƣờng (Luật Du Lịch). Vậy khu du lịch phải là nơi có tài nguyên du lịch hấpdẫn và đồng thời phải có ƣu thế nổi bật về tài nguyên du lịch tự nhiên.Không những thế, nó phải đƣợc quy hoạch, đầu tƣ phát triển, nhằm thoả mãnnhu cầu đa dạng của khách du lịch nhƣng phải mang lại hiệu quả kinh tế, xãhội và môi trƣờng. Qua đây chúng ta thấy nếu một khu nào đó có đầy đủđiều kiện, đƣợc quy hoạch, đầu tƣ phát triển nhƣng không mang lại hiệu quảxã hội và môi trƣờng thì nó vẫn chƣa đƣợc coi là khu du lịch.- Điểm du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu thamquan của khách du lịch, (Luật Du Lịch). Khái niệm này giúp ta phân biệtđiểm du lịch với các điểm khác nhƣ: điểm vui chơi, giải trí, điểm thi đấu thểthao… Đồng thời nó cũng giúp ta nhận biết đâu là tài nguyên du lịch đâu làđiểm du lịch, tài nguyên du lịch là khái niệm chung trong đó bao gồm cảđiểm du lịch, nhƣng điểm du lịch là những tài nguyên du lịch đã đƣợc đƣavào khai thác và phát huy ý nghĩa của nó.- Tuyến du lịch: là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cungcấp các dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt,đƣờng thuỷ, đƣờng hàng không. (Luật Du Lịch). Khái niệm này cho ta thấyhai yếu tố cấu thành nên tuyến du lịch là các điểm, khu du lịch và tuyến giaothông. Nếu có điểm du lịch nhƣng hạ tầng giao thông chƣa phát triển thìcũng không xây dựng đƣợc tuyến du lịch. Tất nhiên ta phải hiểu tuyến giaothông ở đây một cách đa dạng và uyển chuyển: gồm giao thông đƣờng xe cơgiới, giao thông đƣờng thuỷ, và nhiều khi có cả đƣờng giao thông cho xe thôsơ và đi bộ trong một khoảng cách chấp nhận đƣợc.- Chƣơng trình du lịch: “là lịch trình, các dịch vụ và giá bán, chƣơng trìnhđƣợc định trƣớc cho chuyến đi của khách du lịch, từ nơi xuất phát đến điểmkết thúc chuyến đi ” (Luật Du Lịch). Vậy chƣơng trình du lịch chứa đựng bayếu tố cơ bản đó là lịch trình tham quan đƣợc định trƣớc và có xác định thờiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  14. 14. gian thực hiện; hai là các dịch vụ kèm theo bao gồm lƣu trú, vận chuyển,hƣớng dẫn, ăn uống và các dịch vụ khác tuỳ thuộc vào từng loại hình dulịch; ba là chƣơng trình đó phải có giá bán rõ ràng. Qua đây ta thấy chƣơngtrình nhằm đáp ứng hai khía cạnh của khách du lịch là sở thích nhu cầu củakhách và khả năng tài chính của khách. Nếu không đáp ứng đƣợc hai khíacạnh đó chƣơng trình du lịch sẽ trở thành không hấp dẫn và khó mà bánđƣợc.- Lữ hành: “ là việc xây dựng, bán, và tổ chức thực hiện một phần hoặc toànbộ chƣơng trình du lịch cho khách du lịch”. Nhƣ vậy, lữ hành là việc tổ chứccác chƣơng trình du lịch đã đƣợc bán cho khách du lịch. Lữ hành thực chấtlà hoạt động của các công ty du lịch chuyển sản phẩm đến ngƣời tiêu dùng làkhách du lịch.- Hƣớng dẫn du lịch: là hoạt động của các tổ chức kinh doanh du lịch thôngqua hƣớng dẫn viên và những ngƣời có liên quan đến đón tiếp, phục vụ,hƣớng dẫn khách du lịch thực hiện các dịch vụ theo các chƣơng trình đƣợcthoả thuận và giúp đỡ khách giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trìnthực hiện chuyến du lịch. Khái niệm trên đã chỉ rõ những hoạt động chủ yếucủa hƣớng dẫn du lịch mà vai trò quan trọng nhất là của hƣớng dẫn viên,những ngƣời thay mặt cho tổ chức kinh doanh du lịch thực hiện các hợpđồng giữa đơn vị mình với khách du lịch. Các hoạt động du lịch bao gồmnhiều mặt công tác và đòi hỏi về nghiệp độ tuy mức độ không giống nhau.1.3. Sơ lƣợc về sự phát triển của du lịch Du lịch là một nhu cầu không thể thiếu đƣợc trong đời sống kinh tếxã hội và đã trở lên phổ biến ở nhiều quốc gia và là một thói quen trong nếpsống sinh hoạt trong xã hội ngày nay. Có nƣớc coi du lịch là nguồn thu chủyếu, điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế, có nƣớc coi du lịch nhƣ mộtngành kinh doanh mũi nhọn có sức hút đối với những ngành khác. NgànhChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  15. 15. du lịch ở Việt Nam ra đời năm 1960 với việc thành lập Công Ty Du LịchViệt Nam theo nghị định số 26 CP ngày 9/7/1960 đã đánh dấu nhận thứccủa Đảng và Nhà Nƣớc về triển vọng nền kinh tế này. Trong suốt gần 50 năm hình thành và phát triển ngành du lịch luônđƣợc Đảng và nhà nƣớc quan tâm. Ở mỗi thời kỳ đều xác định vị trí của dulịch trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc phù hợp với yêucầu của xã hội. Đặc biệt thời kỳ đổi mới và hội nhập, du lịch Việt Nam đãcó những phát triển vƣợt bậc, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách về pháttriển du lịch với các nƣớc trong khu vực. Trở thành ngành kinh tế quan trọngtrong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Sự quan tâm đặc biệtcủa Đảng và Nhà Nƣớc với du lịch là một tiền để rất quan trọng cho nhữngđổi mới của ngành. Sự quan tâm này đƣợc thể hiện trong hiến pháp của nƣớccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, trong nghị quyết đại hộiĐảng toàn quốc, trong chỉ thị 46 CT/TW ngày 14/10/1994 của Ban BíThƣTrung Ƣơng, thông báo số 179 TB/TW ngày 11/11/1998 và dự thảovăn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ X (dự thảo kế hoạch phát triểnkinh tế 5 năm 2006-2010) và hàng loạt các văn bản khác. Nhƣ vậy có thể tintƣởng rằng trong tƣơng lai du lịch Việt Nam chắc chắn sẽ có một vị trí xứngđáng trong xã hội và nền kinh tế nƣớc nhà.Lƣợng khách quốc tế vào nƣớc ta từ năm 1990-2007:Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  16. 16. 1. Khách quốc tế Khá quố4,500,000 4,230,0004,000,000 3,583,4583,500,0003,000,000 2,927,876 2,627,9882,500,000 2,140,1002,000,000 1,607,155 1,520,2181,500,0001,000,000 1,018,244 500,000 440,000 250,000 0 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2007 Lƣợng khách nội địa giai đoạn 1990 – 2007: 2. Khách nội địa Khá 25,000,000 § ¬n vÞ L- î t kh¸ ch : 20,000,000 19,500,000 17,500,000 15,000,000 14,500,000 13,000,000 11,200,000 10,000,000 9,600,000 7,300,000 6,200,000 5,000,000 2,000,000 1,000,000 0 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2007 * Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  17. 17. Nguồn: Tổng Cục thống kêQua hai bản biểu đồ trên có thể thấy hoạt động du lịch của nƣớc ta giai đoạn 1990-2007 đã đạt đƣợc những thành tựu nhất định, cả lƣợng khách nội địa và quốc tế đã liêntục tăng qua các năm. Điều đó khẳng định vị thế và tƣơng lai của du lịch nƣớc ta.1.4. Các loại hình du lịch ở Việt NamHoạt động du lịch có thể chia thành các nhóm khác nhau tuỳ thuộc vào tiêuchí đƣa ra. Về phần mình các tiêu chí đƣợc đƣa ra phụ thuộc vào mục đíchviệc phân loại và quan điểm chủ quan của tác giả. Do đó, cho đến nay chƣacó bảng phân loại nào đƣợc coi là hoàn hảo. Phân loại theo mục đích chuyếnđi thì ở Việt Nam đang hình thành, tồn tại và phát triển các loại hình du lịchsau: - Du lịch văn hoá lịch sử: là chƣơng trình tổ chức cho khách du lịch tham quan các điểm, khu du lịch mang ý nghĩa lịch sử, văn hoá và thắng cảnh. Du lịch văn hoá, lịch sử giúp cho khách tìm hiểu đƣợc những nét văn hoá , lịch sử truyền thống bản sắc của dân tộc, đất nƣớc hoặc một vùng. Đây là loại hình du lịch cổ điển và truyền thống nhất trong các loại hình du lịch và loại hình này hiện nay cung đang phát triển nhất tại Việt Nam. Tham gia loại hình này khách chủ yếu tham quan những di tích lịch sử văn hoá, những viện bảo tang những làng nghề, lễ hội, những thắng cảnh thiên nhiên … Đây là loại hình du lịch khá phổ thông và thu hút quảng đại khách du lịch và nó chiếm tỷ trọng lớn trong ngành du lịch. Đồng thời loại hình du lịch này đã thể hiện rõ nét và đƣợc đánh giá cao với vai trò bảo tồn và phát huy nền văn hoá truyền thống dân tộc - Du lịch sinh thái: Là du lịch phát huy, khai thác những giá trị sinh thái môi trƣờng. DU lịch sinh thái giúp ta tìm hiểu đƣợc các hệ sinh thái tựChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  18. 18. nhiên hoặc do con ngƣời tái tạo, giúp khách du lịch hiểu đƣợc giá trị của sinh thái và môi trƣờng, ảnh hƣởng của sinh thái đối với cuộc sống và một số ngành sản xuất; mối liên hệ tự nhiên giữa phát triển, bảo vệ môi trƣờng và giữ cân bằng sinh thái môi trƣờng. Tham gia loại hình du lịch này khách thƣờng đƣợc tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên lƣu trú trong những nhà nghỉ khách sạn đơn giản trong các khu bảo tồn hoặc các khu phụ cận, nhƣng lại đƣợc đắm mình trong khung cảnh thiên nhiên và không khí trong lành, qua đó đem lại cho ngƣời ta một ý thức bảo vệ môi trƣờng, giữ gìn môi trƣờng, cải tạo và trả lại cho môi trƣờng vẻ đẹp vốn có của nó. - Du lịch mạo hiểm: Là loại hình du lịch mà hoạt động của du khách mang ít nhiều tính mạo hiểm, khám phá. Từ mạo hiểm cho ta thấy là trong quá trình du lịch khách dễ gặp phải những rủi ro, nguy hiểm khó lƣờng trƣớc đƣợc và đôi khi nguy hiểm đến cả tính mạng. Loại hình du lịch này chỉ phù hợp với những ngƣời có sức khỏe tốt và có cá tình mạnh, thích phiêu lƣu mạo hiểm. Các dạng phổ biến của loại hình này là leo núi, chinh phục các ngọn núi cao, vƣợt sông, thác ghềnh ở những nơi nguy hiểm tạo cho họ cảm giác mạnh và mang ý nghĩa chinh phục, lặn biển để khám phá vẻ đẹp dƣới đáy biển, khám phá các hang động để tìm ra những điều bí ẩn. Du lịch mạo hiểm giúp cho con ngƣời rèn luyện ý chí, khả năng xử lý tình huống khi gặp những khó khăn bất ngờ. - Du lịch nghỉ dƣỡng: một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch là phục hồi sức khoẻ cộng đồng. Theo một số học giả trên thế giới với chế độ du lịch hợp lý cộng đồng có thể giảm đƣợc trung bình 30% ngày điều trị bệnh trong năm. Thông thƣờng loại hình du lịch này diễn ra ở những nơi có điều kiện thiên nhiên thuận lợi choChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  19. 19. việc nghỉ dƣỡng nhƣ khí hậu, môi trƣờng, bãi biển và có cơ sở vật chất đủ đáp ứng cho nhu cầu nghỉ ngơi tĩnh dƣỡng. Tham quan khu vực lân cận với chƣơng trình nhẹ nhàng, mang tính thƣ giãn và nghỉ dƣỡng là một phần của loại hình này. Thời gian chủ yếu của khách là nghỉ ngơi kết hợp các vận động nhằm giúp ích cho sức khoẻ hoặc thƣ giãn đầu óc, hƣởng thụ các dịch vụ tại nơi nghỉ dƣỡng. Ở Việt Nam, các khu nghỉ dƣỡng này mới chủ yếu hình thành dọc bờ biển miền Trung nhƣ: Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Vũng Tàu… - Du lịch tàu biển: là loại hình du lịch trên các con tàu biển với thiết bị sang trọng, hiện đại vừa làm chức năng vận chuyển khách giữa các điểm tham quan trên đất liền hoặc các đảo suốt hành trình trên biển, đồng thời là nơi lƣu trú và giải trí của khách. Khi đến các điểm tham quan, tàu neo đậu để khách lên bờ tham quan nhƣng tối lại quay về nghỉ ngơi trên tàu. Ngày nay, những con tàu đã đƣợc đóng và trang bị ngang bằng bởi các khách sạn năm sao với đầy đủ các dịch vụ nhƣ phòng nghỉ, bể bơi, sân tennis, câu lạc bộ khiêu vũ… Loại hình du lịch này hiện đang thu hút đƣợc nhiều ngƣời lớn tuổi, bởi trong suốt thời gian di chuyển từ nƣớc này sang nƣớc khác họ không phải nó mình trên các phƣơng tiện vận chuyển mà vẫn sinh hoạt thoải mái nhƣ ở nhà. - Du lịch MICE: đây là loại hình du lịch tƣơng đối mới mẻ ở Việt Nam, nhằm cung cấp dịch vụ cho hội nghị, hội thảo, triển lãm và du lịch phần thƣởng. Ngoài việc cung cấp dịch vụ cho các mục đích nêu trên thì các dịch vụ phụ trợ hoặc xen kẽ giữa các khoảng thời gian của hội nghị, hội thảo là rất quan trọng, nhƣ chƣơng trình tham quan cho các thành viên đi theo hoặc chƣa tham gia hội nghị. Tổ chức các hoạt động phụ trợ để hội nghị, hội thảo trở thành sự kiện khó quên đối vớiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  20. 20. các thành viên nhƣ các hoạt động nhóm, các bữa tiệc sang trọng mang nét đặc sắc. Đây là loại hình du lịch hình thành để đáp ứng nhu cầu hoạt động của các công ty đa quốc gia, các công ty siêu quốc gia, các tổ chức quốc tế. - Ngoài ra còn kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích tôn giáo, học tập, nghiên cứu hoặc mục đích thể thao, thăm ngƣời thân,…Qua các hoại hình du lịch nói trên có thể thấy du lịch văn hoá có ảnh hƣởngtác động nhiều đến bản sắc văn hoá dân tộc của ngƣời Việt. Đây là loại hìnhdu lịch khá phổ biến và ngày càng phát triển. Dễ nhận thấy vai trò của nóđối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cũng đƣợc thể hiệnmột cách rõ nét nhất.2. Nhận thức cơ bản về văn hoá2.1.Khái niệm văn hoá Văn hóa là một phạm trù rộng lớn và không thống nhất theo cách nghĩcủa mỗi ngƣời. Dƣới góc độ khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau mỗihọc giả đều tự đƣa ra cho mình những quan niệm khác nhau về văn hoá. Văn hoá là sản phẩm do con ngƣời sáng tạo, có từ thuở bình minh củaxã hội loài ngƣời. Ở phƣơng Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngônngữ từ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn hoá. Xem dáng vẻ conngƣời, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ (quan hồ nhân văn dĩ hoá thành hiện đại).Ngƣời sử dụng từ văn hoá sớm nhất có lẽ là Lƣu Hƣớng (năm 776 trƣớcCông Nguyên). Tuy vậy việc xây dựng và sử dụng khái niệm văn hoá khôngđơn giản và thay đổi theo thời gian, thuật ngữ văn hoá với nghĩa “canh táctinh thần” đƣợc sử dụng vào thế kỷ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc làquản lý, canh tác nông nghiệp. Vào thế kỷ XIX thuật ngữ “văn hoá” đƣợc những nhà nhân loại họcphát triển sử dụng nhƣ một danh từ chính. Những học giả này cho rằng vănChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  21. 21. hoá thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp đến cao nhất và văn hoá củahọ chiếm vị trí cao nhất. Bởi họ cho rằng văn hoá hƣớng về trí lực và sựvƣơn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B.Taylo là đại diện của họ.Theo ông văn hoá là toàn bộ thực tế gồm: hiểu biết, tín ngƣỡng, nghệ thuật,đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà conngƣời có đƣợc với tƣ cách là một thành viên của xã hội. Thế kỷ XX, khái niệm văn hoá thay đổi F.Boa ý nghĩa văn hoá đƣợcquy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu caosiêu nhƣ “trí lực” vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũngkhông phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tƣơng đối luận” của văn hoá.Văn hoá không xét ở mức độ tăng giảm mà ở góc độ khác biệt. Trong ýnghĩa rộng nhất: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêngbiệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xãhội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật vàvăn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệthống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng: văn hoá đem lại chocon ngƣời khả năng suy xét về bản thân, chính văn hoá làm cho chúng ta trởthành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và sốngcó đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bảnthân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xétnhững thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻvà sáng tạo nên những công trình vƣợt trội nên bản thân. Nhƣ vậy, văn hoá không phải là một lĩnh vực riêng biệt, văn hoá là tổngthể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời tạo ra: vănhoá là chìa khoá của sự phát triển.2.2.Di sản văn hoá vật thể và phi vật thể Theo quan niệm của UNESCO có hai loại di dản văn hoá:Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  22. 22. - Một là, những di tích văn hoá hữu thể nhƣ: đình, đền, miếu, lăng mộ, nhà sàn, bảo tàng… hay những di tích kiến trúc nghệ thuật. - Hai là, những di sản văn hoá vô hình (phi vật thể) bao gồm các biểu hiện tƣợng trƣng và “không sờ thấy đƣợc” của văn hoá đƣợc lƣu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo “trung tu” của cộng đồng. Những di sản văn hoá tạm gọi là vô hình này theo UNESCO gồm cả: âm nhạc, múa, truyền thống, văn chƣơng truyền miệng ngôn ngữ, huyền thoại, nghi thức, phong tục tập quán, việc nấu ăn, các món ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống. Các hữu thể và các vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau nhƣ thân xác và tâm trí con ngƣời.2.3. Khái niệm truyền thống và hiện đại Có nhiều cách hiểu khác nhau trong phân loại xã hội, nhƣng ngày nayngƣời ta thƣờng lấy tiêu chí hoạt động của con ngƣời để chia lịch sử thành: - Xã hội thu lƣợm (hái lƣợm và đi săn) - Xã hội nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) - Xã hội công nghiệp (cơ giới) - Xã hội hậu công nghiệp (thời đại tin học) Ở Việt Nam xã hội cổ truyền là xã hội nông nghiệp, văn minh cổ truyềnlà văn minh thôn dã (xóm làng), văn hoá Việt Nam truyền thống thƣờngđƣợc xem là nền văn hoá xuất hiện từ lúc hình thành quốc gia dân tộc, quanhiều bƣớc phát triển nội sinh và ảnh hƣởng ngoại sinh cho đến khi văn hoáphát triển (chủ yếu là văn hoá Pháp) tác động đến một số lĩnh vực. Nhƣ vậykhoảng thời gian kéo dài từ xa xôi cho đến những năm đầu thế kỷ XX tạmđƣợc coi là giới hạn của văn hoá truyền thống. Từ thời điểm đó đến nay,đƣợc coi là văn hoá hiện đại. Đôi khi ngƣời ta cũng có sự lẫn lộn giữa kháiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  23. 23. niệm cổ truyền và truyền thống. Có thể coi khái niệm cổ truyền bao gồm cảcái không tích cực. Khái niệm truyền thống là tập quán đã đƣợc sàng lọc.Truyền thống đƣợc dùng ở đây là tính cho đến thời điểm trƣớc công cuộcgiao thoa truyền thống văn hoá Đông – Tây, Việt – Pháp. Định nghĩa văn hoá truyền thống: trong bài viết văn hoá cổ truyền, vănhoá truyền thống và truyền thống văn hoá của một tác giả tên đăng trên tạpchí văn hoá dân gian có nêu: “văn hoá truyền thống là khái niệm dùng để chỉmột cấu trúc văn hoá, chỉ văn hoá của các xã hội nông nghiệp truyền thống”.Tuy đây là định nghĩa ngắn gọn nhƣng còn gây cho ngƣời đọc sự khó hiểu,diễn đạt còn chƣa thoát ý. GS.TSKH Trần Ngọc Thêm có đƣa ra định nghĩa: “Văn hoá là hệ thốnghữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích luỹ quaquá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môitrƣờng tự nhiên và xã hội”. Từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học doHoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Truyền thống là thói quen hình thành đãlâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, đƣợc truyền lại từ thế hệ này sang thế hệkhác”.2.3.Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoáĐể có thể đánh giá đƣợc đầy đủ và chính xác vai trò của ngành du lịchtrong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, ta cần phảinghiên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa du lịch và văn hoá thể hiện nhƣsau: Về mặt lý luận, văn hoá là toàn bộ những hoạt động, những giao lƣu,những sản phẩm vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo trong sự ứng xửtoàn diện với thiên nhiên, với xã hội, với -chính bản thân mình, để tồn tại vàphát triển; là quá trình con ngƣời không ngừng hoàn thiện và phong phú hoácác quan hệ nhân tính của xã hội, của cộng đồng và các cá nhân khẳng địnhChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  24. 24. hệ giá trị văn hoá. Về du lịch, hầu nhƣ trƣớc đây có bao nhiêu tác giả nghiêncứu tìm hiểu du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa. Nhƣ đã đƣợc nêu trongphần khái niệm du lịch. Vậy mối quan hệ biện chứng giữa du lịch và văn hoáthể hiện ở chỗ nào? Nếu ta nghiên cứu sự hình thành và phát triển của ngànhdu lịch, điều đó có thể khẳng định là từ cổ đại mầm mống của du lịch bắtnguồn từ nhu cầu hoạt động văn hoá (hành hƣơng, hành trình lễ hội). Ngƣợclại văn hoá cũng tác động đến việc hình thành các dịch vụ sơ khai của ngànhdu lịch hiện đại (sự xuất hiện của các cơ sở lƣu trú phục vụ cho khách hànhhƣơng). Văn hoá là sự giao lƣu; thực vậy, nhờ có sự giao lƣu, trao đổi màcác hoạt động văn hoá, tín ngƣỡng đƣợc lan truyền từ vùng này sang vùngkhác, từ quốc gia này sang quốc gia khác. Con ngƣời với đặc trƣng cơ bản làbiết lao động, tƣ duy và sáng tạo, hƣớng tới hoàn thiện và cái đẹp ở thời cổđại chính khát vọng vƣơn tới tự do, khát vọng đƣợc nâng đỡ cứu giúp khỏicác thảm hoạ thiên nhiên và bất công xã hội, con ngƣời đã sáng tạo ra thầnthánh và tôn giáo nhƣ một giá đỡ tinh thần. Từ đó Kitô tôn giáo, Phật giáovà hồi giáo xuất hiện và đƣợc truyền bá từ vùng này sang vùng khác. Mỗidân tộc đều có truyền thống bản sắc văn hoá riêng. Những tinh hoa văn hoácủa từng dân tộc có đƣợc là do quá trình lao động sáng tạo của cộng đồng,đƣợc cộng đồng thừa nhận và lƣu truyền từ đời này qua đời khác. Truyềnthống, bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc không phải là cái bất biến, nó khôngngừng đƣợc hoàn thiện phát triển qua các thởi đại nhờ sự hoàn thiện vànhững yếu tố du nhập từ các nền văn hoá của mình. Thông qua giao tiếp, tìmhiểu các dân tộc trao đổi cho nhau những kiến thức về văn hoá, những cáihay, cái đẹp trong cuộc sống qua đó mỗi dân tộc có sự chắt lọc, bổ sung,nâng cao nền văn hoá của mình. Đây là đặc trƣng trong tính kế thừa theotrục không gian của các nền văn hoá. Nếu không có giao lƣu, nền văn hoáChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  25. 25. vủa mỗi cộng đồng, dân tộc khi bị cô lập sẽ ở trạng thái ngƣng trệ. Sự kếthừa theo trục không gian đã thúc đẩy văn hoá nhân loại phát triển. Khi nghiên cứu du lịch ta không chỉ xem xét trên góc cạnh của ngƣờihƣớng dẫn mà trên thực tế những ngƣời cung cấp dịch vụ là yếu tố thứ haitrong du lịch tạo nên một hiện tƣợng Kinh Tế - Văn Hoá. Họ là những ngƣờicung cấp thông tin, tổ chức các chuyến du lịch, ngƣời cung cấp phƣơng tiệngiao thông, cung cấp cơ sở lƣu trú, ăn uống để thoả mãn nhƣ cấu cơ bản củacon ngƣời. Ngoài ra những ngƣời làm công tác nghệ thuật, tổ chức vui chơigiải trí, cung cấp thiết bị kỹ thuật … Với tƣ cách là “nhà sản xuất hàng hoádịch vụ, hoạt động của ngƣời làm du lịch không thể tách rời các yếu tố vănhoá” . Trong doanh nghiệp hoạt động du lịch, yếu tố văn hoá là toàn bộ giá trịvật chất và tinh thần mà doanh nghiệp tạo ra. Sử dụng trong quá trình phụcvụ khách, vì vậy có thể nói rằng văn hoá chính là toàn bộ quá trình xây dựngbố trí cơ sở vật chất: thiết bị vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, các dịch vụphụ trợ khác … Một điểm cần lƣu ý là sản phẩm của nghành du lịch mang tính chất đặcthù. Nghĩa là nó không thể đóng gói, tồn kho, bày bán nhƣ các sản phẩmthông thƣờng. Yếu tố dịch vụ mang tỷ trọng lớn trong sản phẩm. Nhƣ vậymột sản phẩm du lịch không chỉ có mặt vật chất mà nó chứa đựng yếu tố vănhoá, tinh thần. Kết tinh vào sản phẩm có sức lao động của con ngƣời thôngqua giao tiếp, phục vụ, chăm sóc khách hàng. Nhân viên phục vụ với tínhchất là sản phẩm của một nền văn hoá vì họ mang trong mình khả năngchuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, và các yếu tố truyềnthống trong nhân cách. Họ đại diện cho doanh nghiệp và cả một nền văn hoáđể cảm hoá khách hàng.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  26. 26. Tóm lại giữa du lịch và văn hoá có mối quan hệ biện chứng. Hoạt độngcủa ngành du lịch nhƣ một ngành kinh tế dịch vụ góp phần cho sự tăngtrƣởng và sự phát triển của nền kinh tế xã hội, tạo điều kiện nâng cao mứcsống vật chất và tinh thần cho cộng đồng, thúc đẩy phát triển văn hoá vàngƣợc lại, sự phát triển của một xã hội văn minh trong đó trình độ văn hoá,chính trị, tƣ tƣởng của các thành viên trong cộng đồng lại tác động lại đếnphát triển kinh tế trong đó có du lịch.Chương 2: Thực trạng du lịch Việt Nam với vai trò bảo tồn và phát huy giátrị văn hoá truyền thống của ngƣời Việt.2.1. Vai trò của du lịch trong nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội .2.1.1. Vai trò của nghành du lịch đối với nền kinh tế quốc dân: Nhà Nƣớc Việt Nam xác định: du lịch là một ngành kinh tế tổng hợpquan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng vàxã hội hoá cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí,nghỉ dƣỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dântrí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Qua đó, ta thấy:- Đối với nền kinh tế quốc dân thì du lịch có vai trò là một ngành kinh tếtổng hợp quan trọng có tính liên ngành liên vùng. Du lịch là ngành dịch vụ.Nên nó sử dụng một tỷ trọng nhân công tƣơng đối lớn, từ đó đã tạo ra mộtkhối lƣợng lớn việc làm cho ngƣời lao động. Du lịch là ngành kinh tế tổnghợp nên khi nó phát triển sẽ kích thích và tạo điều kiện cho các ngành khácphát triển và ngƣợc lại, các ngành khác phát triển cũng kích thích và tạo điềukiện cho ngành du lịch phát triển. Trong nền kinh tế quốc dân nƣớc ta, dulịch vẫn còn là ngành non trẻ, tuy vậy ngành này đang ngày càng phát triểnvới một tốc độ mạnh và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập quốcdân. Một số nƣớc trong khu vực có điều kiện tƣơng tự nƣớc ta nhƣng doChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  27. 27. nhận thấy vai trò của du lịch đối với nền kinh tế nên họ đã có chính sáchthúc đẩy ngành phát triển và trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đấtnƣớc. Nhƣ Thái Lan, trong suốt hàng chục năm qua, tỷ trọng ngành du lịchluôn đứng đầu trong nền kinh tế quốc dân, không những thế, nó còn đóngvai trò quan trọng trong việc giúp kinh tế nƣớc này phục hồi nhanh chóngsau cuộc khủng hoảng tài chính của khu vực. Nƣớc ta trong năm năm gầnđây du lịch đã đóng góp một phần không nhỏ vào phát triển kinh tế đấtnƣớc.Doanh thu từ du lịch trong những năm 1990- 2006: 3. Thu nhập du lịch nhậ 60,000 50,000 51,000 40,000 30,000 26,000 23,000 20,000 17,400 14,000 10,000 8,000 9,500 0 1,350 2,830 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006Nguồn: Tổng Cục Du Lịch Nhờ những phát triển trong ngành du lịch mà đã tạo ra đƣợc đội ngũphục vụ có chuyên môn, một cơ sở vật chất về lƣu trú đủ khả năng phục vụvà đã phục vụ thành công các sự kiện lớn của Nhà Nƣớc, nhƣ phục vụSeaGame 22, phục vụ hội nghị Thƣợng Đỉnh Á - Âu và đã để lại ấn tƣợngChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  28. 28. tốt với các nguyên thủ cũng nhƣ các đoàn đại biểu của các nƣớc. Du lịchphát triển còn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng các hàng hoá vật chất vàcác hàng hoá phi vật chất. Do đó nhu cầu về dịch vụ rất đƣợc khách quantâm. Một đặc điểm quan trọng và khác biệt giữa việc tiêu dùng du lịch vàtiêu dùng các hàng hoá khác là việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùngmột lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng. Do đó để thực hiện đƣợc quátrình tiêu thụ sản phẩm, ngƣời mua hàng đƣợc đƣa đến nơi sản xuất và tiêudùng tại chỗ. Vì vậy sản phẩm du lịch mang tính độc quyền. Vậy, ảnh hƣởngkinh tế của du lịch đƣợc thể hiện thông qua tác động qua lại của quá trìnhtiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch. Quá trình này tác động lên lĩnh vựcphân phối, lƣu thông và do vậy ảnh hƣởng đến những lĩnh vực khác nhaucủa quá trình tái sản xuất xã hội. Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác động biến đổi cán cânthu chi của khu vực và của đất nƣớc. Du khách mang ngoại tệ vào đất nƣớcmà họ đi du lịch, làm tăng ngoại tệ cho đất nƣớc họ đến, ngƣợc lại phần thungoại tệ sẽ tăng lên đối với quốc gia có nhiều ngƣời đi du lịch nƣớc ngoài.Trong phạm vi một quốc gia hoạt động du lịch làm xáo động hoạt động luânchuyển tiền tệ, hàng hoá. Cán cân thu chi đƣợc thực hiện giữa các vùng cótrình độ kinh tế - văn hoá khác nhau tuy không làm biến đổi cán cân kinh tếcủa đất nƣớc, song có tác dụng điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế pháttriển sang vùng kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trƣởng kinh tế cácvùng sâu vùng xa. Khi khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, du khách từ mọi nơi đi vềsẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá tăng lên đáng kể. Việc đòi hỏi một sốlƣợng lớn vật tƣ, hàng hoá các loại đã kích thích mạnh mẽ các ngành liênquan nhƣ nông nghiệp, công nghiệp chế biến…Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  29. 29. So với ngoại thƣơng ngành du lịch cũng có nhiều ƣu thế nổi trội. Dulịch quốc tế xuất khẩu tại chỗ đƣợc nhiều mặt hàng không phải qua nhiềukhâu nên tiết kiệm đƣợc lao động, chênh lệch giá giữa ngƣời bán và ngƣờimua không cao. Qua đây ta thấy du lịch có tác dụng tích cực làm thay đổi bộ mặt kinhtế của đất nƣớc. Việt Nam với chủ trƣơng mở cửa làm bạn với tất cả cácnƣớc. Nhằm thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp nƣớc ngoài vào hợp táccùng phát triển, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động với thu nhậpcao, thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng với nhịp độ cao, cải thiện đời sốngsinh hoạt, giá cả trong nƣớc ổn định.2.1.2. Vai trò của du lịch đối với văn hoá – xã hội Ngày nay, du lịch không chỉ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn,ngành công nghiệp không khói của rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới mànó còn trở thành một nhu cầu không thể thiếu đƣợc của con ngƣời. Kinh tếcàng phát triển, đời sống của ngƣời dân càng tăng bởi một đặc tính cố hữucủa con ngƣời là ham hiểu biết và giao lƣu. Càng tham quan nhiều, cànggiao lƣu nhiều thì con ngƣời càng cảm nhận kiến thức của mình còn nhiềukhập khiễng giao lƣu còn quá bó hẹp. Chƣa nói đến phạm vi rộng, chỉ cầnbiết đƣợc các miền của đất nƣớc, cuộc sống của con ngƣời Việt Nam ở mỗivùng, mỗi dân tộc là ƣớc mơ của biết bao triệu ngƣời dân chúng ta. Với bềdày lịch sử, hàng ngàn năm văn hiến, với biết bao danh lam thắng cảnh, ditích trải dài trên suốt chiều dài của đất nƣớc, tất cả đã trở thành nguồn tàinguyên vô tận để ngành du lịch khai thác phục vụ cho kinh tế, nâng cao đờisống tinh thần cho ngƣời dân và làm bạn bè quốc tế hiểu hơn về đất nƣớccũng nhƣ con ngƣời Việt Nam. Thông qua du lịch các tầng lớp dân cƣ trongxã hội có điều kiện để tiếp xúc với nhau và hiểu nhau hơn, từ đó hình thànhnên những nhận thức chung và quan tâm chung. Không có du lịch làm saoChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  30. 30. các cộng đồng miền xuôi có điều kiện để tiếp xúc và hiểu đƣợc hoàn cảnh,thực tế cuộc sống , kinh tế của các cộng đồng dân tộc miền ngƣợc, vùngkinh tế kém phát triển, từ đó xây dựng cho họ nhận thức, tinh thần tƣơngthân giúp đỡ nhân đạo tốt hơn. Du lịch cũng giúp cộng đồng dân tộc miềnngƣợc có điều kiện tiếp xúc, tiếp thu những kiến thức tiên tiến về văn hoá,kinh tế, nếp sống văn minh của các cộng đồng khác từ những vùng kinh tếvăn hoá phát triển. Không những chỉ có tác dụng giao lƣu xã hội mà du lịchcòn tạo điều kiện cho các nhà đầu tƣ, khảo sát thực tế tiềm năng pháttriển,cơ hội đầu tƣ ở những vùng kinh tế còn khó khăn, từ đó họ có những kếhoạch chiến lƣợc đầu tƣ vào những khu đó giúp phảt triển kinh tế xã hội vàgóp phần xoá đói giảm nghèo của các khu vực khó khăn này. Dân gian cócâu “ trăm nghe không bằng một thấy” thì du lịch cũng là một trong nhữngcơ hội để các nhà đầu tƣ thấy trực tiếp, quan sát trực tiếp, tìm hiểu trực tiếptiềm ăng, cơ hội đầu tƣ cho các dự án phát triển du lịch, phát huy giá trị dulịch. Bên cạnh đó du lịch còn là ngành kinh tế tổng hợp có nội dung văn hoásâu sắc có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao nên du lịch còn có vaitrò giúp cho ngƣời đi du lịch muốn đƣợc trải nghiệm và thẩm nhận nhữnggiá trị văn hoá của cộng đồng khác. Cũng nhƣ du lịch đáp ứng đƣợc nhu cầumong muốn đƣợc hoàn thiện mình, ai ai cũng muốn nâng cao trình độ hiểubiết của mình dể trở thành những bậc vĩ nhân nhƣ trong huyền thoại …Chính những mong muốn đƣợc mở mang trình độ hiểu biết, sự tò mò tìmhiểu và khám phá chân trời mới trong tiềm thức mỗi con ngƣời đều trỗi dậynhững ý tƣởng về nền văn minh cổ đại và họ muốn khám phá ra những điềubí mật ấy. Chính những nhu cầu này mà ngày nay xu hƣớng du lịch văn hoángày càng phát triển, du khách muốn đi tìm hiểu, nghiên cứu, khám phánhững nét văn hoá truyền thống của các dân tộc ngày càng nhiều. Nhƣ vậyChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  31. 31. du lịch đóng vai trò thiết yếu và không thể thiếu đƣợc đối với nền văn hoá xãhội Việt nam2.2 Thực trạng du lịch Việt nam với vai trò bảo tồn và phát huy giá trị vănhoá truyền thống của ngƣời Việt Là một ngành kinh tế mũi nhọn song mục đích của phát triển du lịchkhông chỉ vì lợi nhuận kinh tế. Điều quan trọng và căn bản hơn là du lịchtrực tiếp góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt nam đối với thế giớicũng nhƣ các nƣớc trong khu vực. Có thể nói khách nƣớc ngoài đến vớiViệt nam bởi nhiều lý do trong đó có sự thân thiện của con ngƣời Việt nam.Đây là một thế mạnh mag tính truyền thống cần đƣợc gìn giữ phát huy. Mặtkhác qua du lịch, khách muôn phƣơng có dịp hiểu hơn về con ngƣời, đấtnƣớc, kinh tế, văn hoá Việt nam. Du lịch Việt nam giống nhƣ một sứ giả hoàbình và hữu nghị thắt chặt tình thân ái với bạn bè năm châ.Vì thế Việt namngày càng trở thành điểm đến hẫp dẫn của khách du lịch quốc tế. Bảng thốngkê dƣới đây cho ta thấy số lƣợng khách du lịch trong 9 tháng của năm 2007. kh¸ch quèc tÕ ®Õn viÖt nam 9 th¸ng n¨m 2007 Th¸ng Th¸ng Th¸ng 9 Céng dån 9 th¸ng 9/2007 9/2007 9 th¸ng so víi n¨m so víi ®Çu n¨m 2007 ®Çu cïng kú n¨m 2007 n¨m 2007 th¸ng 8 so víi cïng tríc (Lît n¨m 2007 (Lît kh¸ch) (%) kú n¨m tríc (%) kh¸ch) (%) Tæng 100.6 132.0 118 sè 358,000 3,171,763I. Chia theo ph¬ng tiÖn®Õn: 1. §êng kh«ng 2,475,540 101.3 131.5 126Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  32. 32. 279,733 2. §êng biÓn 98.6 118.3 95 21,565 168,923 3. §êng bé 97.9 141.1 96 56,702 527,300II. Chia theo môc ®ÝchchuyÕn ®i: 1. Du lÞch,nghØ ng¬i 100.9 140.4 128 221,096 1,969,208 2. §i c«ngviÖc 99.4 102.5 114 57,893 481,388 3. Th¨m th©nnh©n 103.9 156.6 104 48,961 455,697 4. C¸c môc®Ých kh¸c 95.4 115.8 91 30,050 265,470III. Chia theo mét sèthÞ trêng chñ yÕu1. Trung quèc 98.0 123.8 100 49,080 422,9572. Hång K«ng 99.7 201.3 138 628 4,3073. §µi Loan 100.6 137.6 118 30,153 243,7414. NhËt 107.1 82.8 110 34,802 304,5995. Hµn Quèc 94.4 116.6 121 37,257 372,6816. Campuchia 93.7 170.9 91 10,900 116,6287. Indonesia 100.4 102.3 111 1,881 17,2928. Lµo 103.9 90.0 84 2,767 23,8659. Malaysia 99.0 133.4 157 12,374 109,24810. Philippin 95.4 125.8 114 2,728 23,92611. Singapore 97.4 124.3 130 11,001 95,326Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  33. 33. 12. Th¸i Lan 99.9 161.7 137 13,602 120,86713. Mü 105.1 141.4 111 32,889 323,75814. Canada 105.2 218.3 131 7,595 72,08315. Ph¸p 102.4 233.1 147 17,681 141,21916. Anh 102.5 172.7 130 9,748 79,80917. §øc 104.8 182.5 130 7,649 71,77518. Thuþ sÜ 101.3 170.7 129 1,671 15,47719. Italy 82.0 203.6 151 2,133 16,67420. Hµ Lan 102.2 188.9 147 3,934 27,54321. Thuþ ®iÓn 130.5 145.6 126 1,155 16,84222. §an M¹ch 95.4 133.0 114 1,470 15,73823. PhÇn Lan 92.2 86.1 106 220 4,44924. BØ 114.5 211.5 140 1,790 14,18525. Na uy 112.7 193.9 89 888 8,77726. Nga 103.5 131.0 157 2,879 33,05127. T©y Ban Nha 71.6 159.9 132 3,852 20,22028. óc 101.4 125.6 133 17,618 166,60129. Niudil©n 97.4 120.6 142 1,661 14,792Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  34. 34. 30. C¸c thÞ tr-êng kh¸c 105.9 152.2 124 34,888 262,914 Nguån: Tæng côc Thèng kªTrong đó 15 nƣớc có lƣợng khách vào Việt Nam lớn nhất gồm: 15 THÞ TR¦êNG DÉN §ÇU VÒ kh¸ch quèc tÕ ®Õn viÖt nam (XÕp theo n¨m 2007) §¬ N¨m 2000 N¨m 2001 N¨m 2002 N¨m 2003 N¨m 2004 N¨ Tæng sè 1,734,025 1,881,797 2,147,832 2,006,641 2,485,519 2,91. Trung 626,476 672,846 724,385 693,423 778,431Quèc 7172. Hµn 53,452 75,167 105,060 130,076 232,995Quèc 3253. NhËt 152,755 204,860 279,769 209,730 267,210 3384. Mü 208,642 230,470 259,967 218,928 272,473 3305. §µi 212,370 200,061 211,072 207,866 256,906Loan 2746. óc 68,162 84,085 96,624 93,292 128,661 1487. Ph¸p 86,492 99,700 111,546 86,791 104,025 1338. Th¸i 26,366 31,789 40,999 40,123 53,682Lan 86,9. 20,378 26,265 46,086 48,662 55,717Malaysia 80,10. 124,557 76,620 69,538 84,256 90,838Campuchia 19811. 29,100 32,110 35,261 36,870 50,942Singgapore 82,Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  35. 35. 12. Anh 56,355 64,673 69,682 63,348 71,016 82,13. §øc 32,058 39,096 46,327 44,609 56,561 69,14. Canada 30,845 35,963 43,552 40,063 53,813 63,15. Nga 6,017 8,092 7,964 8,604 12,249 24,Nguån: Tæng côc Thèng kªĐến tháng 4/ 2008 chúng ta đã đón 1,96 triệu lƣợt khách nƣớc ngoài tăng116,1% so với cùng kỳ của năm 2007.Dự kiến con số này còn cao hơn nữatrong những tháng tiếp theo của năm 2008. Điều đó chứng tỏ du lịch ViệtNam đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Cùng với sức hấp dẫn của ngôi sao đang lên, du khách nƣớc ngoài lựachọn Việt nam vì đây còn là điểm đến thân thiện có bề dày lịch sử mấynghìn năm cùng với truyền thống văn hoá, đa dạng và phong phú. Nhƣ vậydu lịch giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đã đƣợc khẳng định mộtcách sâu sắc hơn bao giờ hết Khôi phục, lƣu truyền và giữ gìn các giá trị văn hoá truyền thống củadân tộc. Đặc tính của khách du lịch là sau mỗi chuyến du lịch, khi trở về nơicƣ trú họ thƣờng kể lại cho bạn bè, ngƣời thân nghe những gì họ đã thulƣợm đƣợc trong chuyến du lịch. Một phần không nhỏ trong câu chuyện làvề bản sắc văn hoá, truyền thống và tính cách của con ngƣời nơi mà họ đãtham quan du lịch. Cứ tính theo một cách suy diễn thông thƣờng nếu du lịchđảm nhận tốt vai trò của mình trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoátruyền thống thì ảnh hƣởng đó sẽ đƣợc nhân lên 5,6 lần và có thể là nhiềuhơn thế trong cộng đồng, trong xã hội. Nhờ có du lịch mà giá trị văn hoá,Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  36. 36. truyền thống không bị mai một hoặc mất dần đi mà ngƣợc lại các truyềnthống đó luôn đƣợc ghi nhớ trong lòng du khách từ các thế hệ này đến thế hệkhác. Cũng có khi những giá trị văn hoá truyền thống đã bị lãng quên theothời gian nhƣng du lịch lại góp phần khôi phục lại những truyền thống đóbằng cách dựng lại những hình ảnh, những biểu tƣợng hoặc sự kiện có liênquan để phục vụ cho sự khám phá, thích tìm hiểu của du khách. Du lịch tạo ra nguồn kinh phí để tu bổ các giá trị văn hoá vật thể. Dulịch đƣợc xác định là một ngành công nghiệp không khói, một ngành kinh tếmũi nhọn của đất nƣớc. Trong tƣơng lai đây là ngành có nhiều tiềm năng vàtriển vọng. Nguồn thu từ du lịch tƣơng đối lớn nó góp phần cân đối ngânsách và đóng góp hang tỷ đồng cho đất nƣớc. Một phần ngân sách thu đƣợctừ du lịch đƣợc trích ra để tạo nguồn kinh phí tu bổ các giá trị văn hoá vậtthể nhƣ: công trình kiến trúc, đình chùa miếu, lăng tẩm,… Sự tôn tạo nàynhằm khôi phục lại những gì đã xuống cấp của các di sản văn hoá. Điều nàythể hiện tƣơng đối rõ vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giátrị văn hoá truyền thống của dân tộc.Phát triển du lịch đồng nghĩa với việc khẳng định, tôn vinh giá trị văn hoátruyền thống. Mỗi điểm du lịch đều ẩn chứa trong mình những giá trị vănhoá sâu sắc, những truyền thống độc đáo của dân tộc . Ngay cả phong cáchlối sống của cƣ dân tại điểm cũng thể hiện điều đó. Khi du khách đi du lịchsẽ đƣợc thẩm thấu các giá trị văn hoá đó qua nhiều cách khác nhau nhƣ tựkhám phá cảm nhận, hay qua sự truyền đạt giàu cảm xúc rung động lòngngƣời từ hƣớng dẫn viên du lịch. Hoặc cũng có thể từ những thông tin đãđƣợc cung cấp tại điểm du lịch. Vậy có thể thấy du lịch có vai trò quan trọngtrong việc truyền đạt và lƣu giữ giá trị văn hoá truyền thống trong lòng dukhách từ thế hệ này đến thế hệ khác. Nó tạo nên một sức sống trƣờng tồncủa văn hoá truyền thống .Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  37. 37. Du lịch bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống nhƣ một tàinguyên quý giá. Vì văn hoá truyền thống còn đƣợc coi là nguồn tài nguyênđể phát triển du lịch. Muốn phát triển du lịch một cách bền vững thì nhấtđịnh phải dựa trên cơ sở bảo tồn và phát huy chính nguồn tài nguyên quýgiá này. Du lịch coi văn hoá truyền thống của dân tộc nhƣ một điểm mạnh,một sự độc đáo và làm nên sự khác biệt của du lịch nƣớc ta với các nƣớckhác. Cho nên ngành du lịch đã nghiên cứu về giá trị văn hoá của nứơc ta.Sự nghiên cứu này tạo nên sự hiểu biết về văn hoá dân tộc hay có những tácphẩm về văn hoá du lịch hay du lịch văn hoá từ đó mà ra đời. Các tác phẩmnày giống nhƣ một kho tang quý giá giúp cho các thế hệ đời sau hiểu hơn vềvăn hoá của 54 dân tộc anh em.Du khách đi du lịch đồng nghĩa với việc kích thích tiêu thụ các sản phẩm,dịch vụ trong đó có các sản phẩm văn hoá gồm cả sản phẩm văn hoá vật thểvà phi vật thể. Ví dụ : khi du khách đến thăm làng nghề họ sẽ muốn muanhững sản phẩm do các nghệ nhân tạo ra, hay đơn giản hơn họ đi du lịch chỉđể thƣởng thức một món ăn truyền thống nổi tiếng. Đây cũng là hình thức kếthừa và phát huy giá trị văn hoá dân tộc .Du lịch còn giống nhƣ một sợi dây liên kết vô hình gắn chặt các quốc giakhu vực với nhau. Khi du khách đi du lịch tạo ra sự giao lƣu giữa các vùngmiền với nhau. Đây cũng là cơ hội cho những nhà nghiên cứu, những ngƣờilàm du lịch hay bất cứ ai ai đổi các kinh nghiệm bảo tồn và phát triển vănhoá. Từ đó có những phƣơng pháp tối ƣu nhất để bảo tồn và phát triển giátrị văn hoá truyền thống của dân tộc ta. Để có nhận thức tổng quát về vai trò của du lịch trong việc bảo tồn vàphát huy giá trị văn hoá truyền thống chúng ta sẽ đi sâu xem xét vai trò củadu lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể và phi vật thểqua ví dụ điển hình sau:Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  38. 38. 2.1. Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, Việt Nam đƣợc biết đến là một vùngđất còn lƣu giữ nhiều di tích lịch sử, văn hoá và cách mạng có giá trị. Giá trịđặc biệt quan trọng bởi giúp tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử dân tộc, tập quáncác làng xã, để các thế hệ hôm nay và mai sau có thêm hiểu biết về cộinguồn dân tộc, truyền thống quê hƣơng.Trong đó làng quê Kinh Bắc- một vùng truyền thống, nơi quần tụ bao đời,cái nôi văn hoá của cả nƣớc, nơi có truyền thống khoa bảng, lƣu giữ nhữnghuyền thoại đẹp với bao di tích và lễ hội dân gian - một điểm du lịch hấpdẫn, đựơc coi là một ví dụ điển hình của việc phát triển du lịch gắn liền vớibảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống. Chính vì thế trong phầnnày sinh viên đã chọn Bắc Ninh để phân tích, tìm hiểu vai trò của du lịchtrong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống trên địa bàn tỉnhvà mang những nét chung của ca đất nƣớc. Theo ông Nguyễn Duy Nhất, PGĐ ban quản lý di tích Bắc Ninh thì toàntỉnh hiện có 1259 di tích thuộc các loại hình: di tích lịch sử - văn hoá, di tíchkiến trúc nghệ thuật, và di tích cách mạng. Trong đó nhiều nhất vẫn là đình,đền và chùa. Có thể kể đến những chùa nhƣ Chùa Dâu, Phật tích…là nhữngdi sản văn hoá tiêu biểu của quê hƣơng Kinh Bắc và dân tộc. Đây là cácchứng tích vật chất xác thực, phản ánh sinh động về lịch sử lâu đời và truyềnthống văn hiến – cách mạng của nhân dân Bắc Ninh nói riêng cũng nhƣ cảnƣớc nói chung.- Chùa Dâu: Chùa Dâu đƣợc bộ văn hoá thông tin đƣa vào danh mục 38 ditích quốc gia đặc biệt. Cùng với việc xác định giá trị lịch sử văn hoá của ditích, lập bản đồ đất đai va khoanh vùng bảo vệ di tích, ngăn chặn xâm hại ditích, trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn di tích cũng đƣợc quy định một cách rõràng.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  39. 39. Chắc hẳn câu ca dao cổ:Dù ai đi đâu về đâuHễ trông thấy tháp Chùa Dâu thì vềDù ai buôn bán trăm nghềNhớ ngày mồng tám thì về hội DâuĐã đi sâu vào tâm trí mỗi du khách nhƣ một lời nhắc nhở, một lời mời gọi vềthăm lại chùa Dâu. Miền Dâu, liên lâu hoặc luy lâu - huyện Thuận Thànhngày nay nằm gần trung tâm châu thổ Bắc Bộ. Khi đến thăm chùa Dâu dukhách sẽ đƣợc hiểu thêm về Luy Lâu đó là một trong 3 trung tâm Phật giáolớn trong đế chế Trung Hoa là luy lâu, Lạc Dƣơng và Bành Thành. Hơn nƣamiền Dâu sớm trở thành một trung tâm thƣơng mại sầm uất mang tầm cỡquốc tế. Nơi đây là chốn đô hội, thủ phủ của quận Giao Chỉ và Châu Giao,trung tâm giao lƣu kinh tế, văn hoá, tín ngƣỡng, tôn giáo của nƣớc ta nhữngthế kỷ sau công nguyên với các nƣớc trong vùng. Trung tâm Phật giáo Dâuđƣợc hình thành trong bối cảnh đó.Đồng thời khách du lịch cũng đƣợc cung cấp những thông tin về chùa Dâunhƣ chùa xƣa có tên chữ là “Cổ Châu Tự”, “Thiền Địch Tự”, và ngày nay là“Diên ứng tự”. Tên Phổ biến vẫn đƣợc gọi là chùa Pháp Vân theo tên VịPhật đƣợc thờ ở chùa, còn Chùa Dâu là theo tên địa phƣơng. Đây là ngôichùa có lịch sử hình thành và phát triển cổ nhất trong số các chùa còn lại ởnƣớc ta hiện nay. Đƣợc xây dựng vào thế kỷ VI sau công nguyên gắn liềnvới lịch sử du nhập đạo phật vào vùng Dâu. Chùa đƣợc coi là trung tâm phậtgiáo của vùng Dâu. Tại chùa Dâu có một cây tháp lớn có chân hình vuông. Dân gian truyềnrằng tháp này do Mạc Đĩnh Chi xây dựng lại, cao chín tầng. Mặc dù mặttháp không có trang trí hoa văn nhƣng giá trị kiến trúc mỹ thuật đƣợc thểChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  40. 40. hiện ở hình khối, màu gạch và mạch vữa, có mối quan hệ với kiến trúc. Chùatháp của Ấn Độ trong buổi đầu dựng chùa tháp Hoà Phong là một biểutƣợng thể hiện sự giao thoa văn hoá và tín ngƣỡng bản địa giữa ngƣời ViệtNam và Ấn Độ. Du khách còn đƣợc thƣởng thức những tác phẩm có giá trị nghệ thuậtthẩm mỹ cao nhƣ: nan can bậc cửa trƣớc của tháp chạm thành khối lƣợngtròn, mỗi bên có một con sóc nằm phủ phục theo dáng bò từ trên xuống. Đâylà sản phẩm của thời Trần. Hay tấm bia ghi lại việc xây dựng tháp, con cừuđá dài 1,33m cao 0,88m. Tƣợng cừu đƣợc tạo bằng đá sa thạch biến chấtnằm gọn trong khối chữ nhật, rừng cong, tai dài, có râu chải thẳng xuống,miệng ngậm, mũi bẹt, mũi ti hí. Hình tƣợng nghệ thuật này rất hiếm trongnghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Từ nghệ thuật điêu khắc cho đến chất liệucủa tƣợng đã thể hiện sự giao thoa văn hoá giữa Việt Nam, Ấn Độ và TrungHoa mang dấu ấn của lịch sử phát triển vùng Dâu và thành cổ luy lâu. Ngoài ra còn nhiều tác phẩm đẹp của các nghệ sỹ trong thời Trần cònlƣu lại đến ngày nay. Cánh gà ngoài cửa giữa cột cái và cột hiên có mảngván thời nhà Trần chạm dây hoa, còn lại đều là của thời Lê thuộc nửa cuốithế kỷ XVII với hình rồng ổ mẹ con đùa giỡn nhau, đây là hình tƣợng nghệthuật mang đầy chất dân gian. Bên trong thƣợng điện là những tƣợng phật đadạng, phong phú và đặc sắc chỉ có ở chùa Dâu, thể hiện sự giao thoa, hộinhập văn hoá giữa tôn giáo ngoại lai là phật giáo với tín ngƣỡng thờ các vịthần thiên nhiên là thần Mây, Mƣa, Sấm, Chớp. Tuy nhiên truyền thuyếtmang đầy màu sắc huyền thoại những vị thần này trong tín ngƣỡng của cƣdân trồng lúa nƣớc vùng nhiệt đới Bắc Bộ Việt Nam đã chuyển thành PhậtTử Pháp. Đó cũng là khát vọng bao đời của ngƣời nông dân mong sao chomƣa thuận gió hoà để nền nông nghiệp vốn phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiêncó thế sinh sôi nảy nở.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  41. 41. Chùa Dâu là ngôi chùa có lịch sử cổ nhất nƣớc ta hiện nay, một viênngọc quý vô giá minh chứng phật giáo du nhập lớn từ những đầu thế kỷcông nguyên vào nƣớc ta. Chùa Dâu còn là nơi giao thoa, hội nhập giữa vănhoá tín ngƣỡng Việt Nam với văn hoá tín ngƣỡng, kiến trúc phật giáo từ ẤnĐộ. Nơi đây còn lƣu giữ nhiều giá trị kiến trúc nghệ thuật cổ kính vô giá,nhiều cổ vật có giá trị là những tƣ liệu quý hấp dẫn du khách tham quannghiên cứu. Đến với chùa Dâu dù chỉ một lần du khách sẽ cảm nhận đƣợc bề dàyvăn hoá của vùng Dâu đƣợc ghi dấu ấn rõ nét trong từng thớ gỗ, từng chi tiếtkiến trúc ở đây. Vì vậy chùa Dâu đƣợc coi là một tài nguyên du lịch vô giá.Cũng chính nhờ du lịch mà kiến trúc độc đáo này đƣợc thẩm thấu và truyềnđạt ở mức độ cao nhất. hàng năm, chùa Dâu đón hàng ngàn lƣợt du kháchđến thăm. để khi trở về họ ghi đậm dấu ấn của chùa Dâu trong lòng cứ nhƣvậy những giá trị này đƣợc khẳng định và không bị mai một theo thời gian.mặt khác chùa còn đƣợc trùng tu nhiều lần nhằm bảo vệ, phát huy giá trị lịchsử văn hoá theo hƣớng phát triển du lịch văn hoá nhằm phục vụ khách thămquan du lịch. Trong đó việc phát triển du lịch tạo ra một nguồn kinh phíđáng kể trong việc trùng tu tôn tạo di tích lịch sử văn hoá này. Nguồn thu đócó thể từ tấm long hảo tâm của du khách thập phƣơng qua việc góp côngđức, nguồn thu đó cũng có thể thu đƣợc từ các dịch vụ tại điểm du lịch. Mặtkhác để phục vụ cho việc phát triển du lịch, ban quản lý di tích đã có nhiềuphƣơng pháp quản lý nhằm bảo tồn khôi phục và phát triển di sản văn hoávật thể quý giá này. Điều này có ý nghĩa trong việc chống xuống cấp làmmai một di sản. Vậy với việc bảo tồn, khôi phục và phát triển di tích chùaDâu du lịch đóng vai trò quan trọng. Chùa bút tháp: chùa có tên là “Linh khúc thiên tự cách chùa Dâu 3 km.Tên chùa mới có từ nửa sau thế kỷ XIX do vua Tự Đức khi thấy cây thápChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn

×