Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Like this? Share it with your network

Share

Vai tro-cua-du-lich-trong-viec-bao-ton-va-phat-huy-gia-tri-van-hoa-truyen-thong-dan-toc

  • 945 views
Uploaded on

 

  • Full Name Full Name Comment goes here.
    Are you sure you want to
    Your message goes here
    Be the first to comment
    Be the first to like this
No Downloads

Views

Total Views
945
On Slideshare
936
From Embeds
9
Number of Embeds
1

Actions

Shares
Downloads
6
Comments
0
Likes
0

Embeds 9

http://tuoitrebentre.vn 9

Report content

Flagged as inappropriate Flag as inappropriate
Flag as inappropriate

Select your reason for flagging this presentation as inappropriate.

Cancel
    No notes for slide

Transcript

  • 1. LỜI CẢM ƠN Em xin đƣợc gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới toàn thể các thầy côtrong khoa du lịch học trƣờng đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn. §ÆcbiÖt, em xin đƣợc gửi lời cảm ơn s©u s¾c nhÊt tíi Thạc sỹNguyễn Quý Phƣơng - ThÇy đã rÊt tận tình chỉ bảo và giúp đỡ, h-íngdÉn vµ cung cÊp cho emnh÷ng ph-¬ng ph¸p lµm viÖc cãhiÖu qu¶ nhÊt trong suốt qúa trình chuÈn bÞ, thùc hiÖnvµ hoµn thµnh khoá luận tốt nghiệp nµy.§ång thêi em xin cảm ơn tới gia ®×nh ®· lu«n lu«n bªnc¹nh ®éng viªn gióp ®ì em trong suèt kho¶ng thêigian qua. Cuối cùng t«i xin chân thành cảm ơn toµn thÓ c¸c bạn đãluôn nhiÖt t×nh tham gia gióp ®ì t«i trong qu¸ tr×nhnghiªn cøu vµ cïng t«i trao ®æi ý kiÕn ®Ó ®Ò tµi®-îc hoµn thiÖn.Sinh viên: Trân trọng cảm ơn!ĐỀ TÀI:Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy gi¸ trÞv¨n ho¸ truyÒn thèng d©n téc.Phần mở đầu1. Lý do chọn đề tài: Trong cuéc sèng hiÖn ®¹i ngµy nay, du lịch đã trởthành một nhu cầu tất yếu của xã hội, không những là ngành kinh tế mũiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 2. nhọn của các quốc gia mà còn là cầu nối giao lƣu giữa các dân tộc, quốc giavà các miền trong một đất nƣớc. Bạn bè quốc tế trƣớc đây biết đến Việt Namlà một quốc gia phải trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh với các thế lực xâmlƣợc mạnh hơn gấp nhiều lần và họ đã anh hùng đánh bại các thế lực xâmlƣợc đó, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ non sông của đất nƣớc. Bởi vậy, ngày nay,khi kh¸ch du lịch đến Việt Nam hä th-êng ngạc nhiên và tự hỏikhông hiểu vì sao những con ngƣời mãnh liệt, dũng cảm, lập nhiều kỳ tíchtrong chiến tranh nhƣ vậy lại cuốn hút kh¸ch tham quan bởi sự hiền hậu,chân tình và th©nthiÖn chứ không phải bằng những ánh hào quang củachiến thắng. Có lẽ một phần câu trả lời đang ẩn mình trong tính cách vàtruyền thống của ngƣời Việt, bởi trải qua hµng ngàn năm lịch sử, ngƣờiViệt đã tạo dựng cho mình một phong cách, một nền văn hoá, thuần phong,mỹ tục riêng. Đồng thời du lịch còn tạo ra một sự trải nghiệm cho chính dukhách, giúp họ nhìn nhận lại những giá trị quý báu của dân tộc mà biết baothế hệ, ngay cả chính họ đã phải đổi bằng xƣơng máu của mình để tạo dựngnên. Đối với thế hệ trẻ thì du lịch là dịp để họ hiểu hơn về công lao của chaông mình, đồng thời cũng hiểu những giá trị nhân văn, giá trị truyền thốngvà thiên nhiên mà họ đang đƣợc thừa hƣởng. Du lịch ngày nay đã trở thànhmột hoạt động không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt xã hội, làm cho đờisống xã hội ngày một phong phú hơn, lý thú và bổ ích hơn. Về phƣơng diệnkinh tế, du lịch đã trở thành một ngành mũi nhọn, chiếm một tỷ trọng lớntrong thu nhập kinh tế quốc dân, không những vậy do đặc tính hoạt động, dulịch còn góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế vùng chậm phát triển,đồng thời giúp xoá đói, giảm nghèo ở những vùng sâu vùng xa.Nhƣng quan trọng hơn du lịch có vai trò to lớn trong việc bảo tồn và pháthuy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Đặc biệt Việt Nam là một quốc giaChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 3. đa dân tộc, có một nền văn hoá lâu đời, phong phú, thống nhất mà đa dạng.Với số dân gần 80 triệu ngƣời của 54 dân tộc an hem cùng đoàn kết chungsống trên một vùng lãnh thổ, trải qua nhiều đời, mỗi dân tộc đã đóng góp,dựng xây tạo nên những thành quả trên nhiều lĩnh vực: kinh tế- văn hoá- xãhội, bên cạnh đó cũng hình thành nên những vùng văn hoá với nét đặc trƣngriêng. Đất nƣớc Việt Nam, con ngƣời Việt Nam với các thành phần dân tộc,qua hang ngàn năm xây đắp đã tạo dựng nên một kho tàng văn hoá hết sứcphong phú, độc đáo và quý giá. Xuyên suốt chặng đƣờng lịch sử hình thànhvà phát triển đất nƣớc, các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc ViệtNam nói chung và 54 dân tộc anh em nói riêng là một di sản vô cùng quýbáu, một tài nguyên vô cùng quý giá trong quá trình xây dựng và phát triểnđất nƣớc. Trải qua những năm tháng chiến tranh chống xâm lƣợc bảo vệ tổquốc, do một phần nhận thức của ngƣời dân còn thấp đặc biệt là sự quản lý,phối hợp lỏng lẻo của các ngành các cấp nên nhiều vốn quý trong kho tangvăn hoá truyền thống các dân tộc đã bị mất mát và mai mộ. Nghị quyết 4 củaBan chấp hành trung ƣơng Đảng khoá 8 về việc bảo tồn và phát huy giá trịvăn hoá truyền thống là định hƣớng quan trọng trong việc khôi phục lạinguồn vốn quý của dân tộc. Nhiều công trình văn hoá nghệ thuật trên cáclĩnh vực văn hoá phi vật thể và vật thể đƣợc kiểm kê, trùng tu, tôn tạochống xuống cấp, sƣu tầm bảo quản nghiên cứu giới thiệu, giao lƣu để bảotồn trong cuộc sống và cho khách tham quan. Trong đó du lịch đóng vai tròto lớn và đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoátruyền thống dân tộc. Bởi vậy nghiên cứu về du lịch sẽ góp phần quan trọngtrong việc nâng cao nhận thức và phƣơng hƣớng phát triển ngành du lịchViệt Nam. Tuy nhiên do điều kiện có hạn về không gian, thời gian và tƣ liệunên đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu “Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn vàphát huy bản sắc văn hoá dân tộc”. Đề tài sẽ cố gắng đi sâu phân tích vai tròChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 4. của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của mộtsố tài nguyên du lịch chọn mẫu, so sánh nhận thức thực tế, hoạt động của cácchƣơng trình du lịch trong những năm 2004 – 2008 để phát huy vai trò màdu lịch đã tiếp cận, những tiềm năng mà du lịch còn chƣa đƣợc khai thác đểđáp ứng nhu cầu của khách nội địa và quốc tê.2. Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu:2.1. Mục đích nghiên cứu: Đề tài “ Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc vănhoá dân tộc” hƣớng tới giải quyết mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá, trongđó những nhân tố truyền thống dân tộc cần đƣợc phát huy nhƣ một nền tảngvững chắc giúp cho ngành du lịch đi đúng hƣớng và tiến tới phát triển dulịch một cách bền vững. Đồng thời thong qua phân tích, so sánh em hy vọngsẽ góp phần củng cố thong tin bổ ích về vai trò của du lịch với việc bảo tồnvà phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cho những ngƣời tham gia hoạt động dulịch để họ có thể phát huy tác dụng của nó nhƣ một cách tối đa và có hiệuquả nhất.2.2. Đối tƣợng nghiên cứu Sinh viên tập trung vào nghiên cứu ngành du lịch Việt Nam để làm rõvai trò của nó đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.Đồng thời những nhận thức về bản sắc văn hoá dân tộc và những vấn đề cólien quan cũng đƣợc nghiên cứu và làm rõ để làm sáng tỏ vấn đề.3. Phƣơng pháp nghiên cứu- Phƣơng pháp thu thập tài liệu- Phƣơng pháp khảo sát thực địa- Phƣơng pháp tiếp cận hệ thống.- Phƣơng pháp trực quan, phƣơng tiện thông tin đại chúng4. Bố cục khoá luậnChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 5. Gồm ba phần: Phần mở đầuPhần nội dung gồm: Chƣơng 1: Những nhận thức về du lịch và bản sắc văn hoá truyền thống dân tộc. Chƣơng 2: thực trạng vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc. Chƣơng 3: Một số giải pháp kiến nghị để phát huy vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Phần kết luận. PHẦN NỘI DUNGChƣơng 1: Những nhận thức cơ bản về du lịch và văn hoá truyền thốngcủa dân tộc.1.Những khái niệm cơ bản về du lịch: Du lịch đối với nƣớc ta là một ngành kinh tế mới mẻ. Từ sau khi đấtnƣớc hoàn toàn giải phóng, ngành du lịch mới thực sự đƣợc đảng và Nhànƣớc quan tâm. Đặc biệt từ đại hội lần VII của Đảng Cộng Sản Việt Nam,cùng với sự chuyển dịch cơ cấu các thành phần, khu vực kinh tế, ngành dulịch lần đầu tiên đƣợc nghị quyết của Đảng khẳng định là một ngành kinh tếmũi nhọn. Muốn cho kinh tế du lịch phát triển đúng hƣớng mang lại nguồnlợi cho nền kinh tế quốc dân chúng ta cần hiểu rõ khái niệm, lịch sử, xu thế,những nhân tố tạo điều kiện cho ngành này phát triển để vận dụng vào điềukiện cụ thể của nƣớc ta.1.1.Khái niệm du lịch: Mặc dù du lịch đã trở thành hiện tƣợng kinh tế, xã hội phổ biến trên thếgiới và là thói quen trong nếp sống sinh hoạt của xã hội. Nhƣng cho đến nayChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 6. nhận thức về nội dùng du lịch vẫn chƣa đƣợc thống nhất. Trƣớc thực tế pháttriển của ngành du lịch về mặt kinh tế cũng nhƣ trong lĩnh vực đào tạo,nghiên cứu thảo luận, để đi đến thống nhất một số khái niệm trong đó cókhái niệm về du lịch là một đòi hỏi cần thiết. Theo ông Nguyễn Khắc Viện thì du lịch là sự mở rộng không gianvăn hoá của con ngƣời. Trong từ điển tiếng Việt du lịch lại đƣợc giải thích là đi chơi cho biếtxứ ngƣời. Với Ghisman: du lịch là sự khắc phục về mặt không gian của conngƣời hƣớng tới một điểm nhất định nhƣng không phải là nơi thƣờng xuyêncủa họ. Guer Freuler: du lịch với ý nghĩa hiện đại của từ này là một hiệntƣợng của thời đại chúng ta dựa trên sự tăng trƣởng về nhu cầu khôi phụcsức khỏe và sự thay đổi về môi trƣờng xung quanh, dựa vào sự phát sinh,phát triển tình cảm đối với vẻ đẹp của thiên nhiên chia sẻ quan niệm này vớiGuer Freuler, PTS Trần Nam đƣa ra quan điểm của mình: du lịch là quátrình hoạt động của con ngƣời rời khỏi quê hƣơng đến một nơi khác với mụcđích chủ yếu là đƣợc thẩm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc,độc đáo khác lạ với quê hƣơng, không nhằm mục đích sinh lời đƣợc tínhbằng đồng tiền. Aza nhận thấy du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạmthời tự một vùng này sang một vùng khác, từ một nƣớc này sang nƣớc khácnếu không gắn với sự thay đổi nơi cƣ trú hay nơi làm việc. Quan điểm của Kaspar: du lịch là toàn bộ những quan hệ về hiệntƣợng xảy ra trong quá trìn di chuyển và lƣu trú của con ngƣời tại nơi khôngphải là nơi ở thƣờng xuyên hoặc nơi làm việc của họ.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 7. Quan điểm cuả Hunziker và Kraff cũng bắt nguồn từ ý tƣởng này: dulịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tƣợng bắt nguồn từ cuộc hành trìnhvà lƣu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơilàm việc thƣờng xuyên của họ. Du lịch không chỉ là một hiện tƣợng xã hội đơn thuần mà nó phải gắnchặt với hoạt động kinh tế. Tuy nhiên mỗi học giả lại có những nhận địnhkhác nhau về vấn đề này. Theo Kuns một yếu tố không thể thiếu đƣợc trong định nghĩa về dulịch cần đƣợc bổ sung là đến bằng các phƣơng tiện giao thong và sử dụngcác xí nghiệp du lịch. Picira Edmod đã đƣa ra định nghĩa: du lịch là việc tổng hoà, việc tổchức và chức năng của nó không chỉ về phƣơng diện khách vãng lai màchính về phƣơng diện giá trị do ngƣời chỉ ra và của những khách vãng laiđến với một túi tiền đầy tiêu dùng trực tiếp và gián tiếp cho các chi phí củahọ nhằm thoả mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí. Mariot coi tất cả các hoạt động, tổ chức, kỹ thuật và kinh tế phục vụcác cuộc hành trình và lƣu trú của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú, với nhiều mụcđích ngoài mục đích kiếm việc làm và thăm viếng ngƣời thân là du lịch. Ngoài những khái niệm thiên về tiếp cận kinh tế, tiếp cân xã hội cũngcó một số khái niệm sau: đối với Nguyễn Cao Thƣờng và Tô Đăng Hải chorằng: “Du lịch là một ngành kinh tế xã hội, dịch vụ có mhiệm vụ phục vụnhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi hoặc không kết hợp với các hoạt độngchữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và nhu cầu khác”. Michand – chuyên gia nghiên cứu về du lịch thuộc lĩnh vực địa lý đƣara quan điểm của mình: du lịch là tập hợp những hoạt động sản xuất và tiêuthụ phục vụ cho việc đi lại và ngủ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thƣờngngày với lý do giải trí, kinh doanh, sản xuất, hội họp, thể thao hoặc tôn giáo.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 8. Ngoài tiếp cận môi trƣờng, hoạt động du lịch phải có tiếp cận cộngđồng mới đảm bảo sự phát triển lâu dài. Coltman đã định nghĩa: du lịch là quan hệ tƣơng hỗ do sự tƣơng táccủa bốn nhóm du khách, cơ quan cung ứng du lịch, chính quyền và dân cƣtại nơi đến du lịch tạo nên. Còn Robert W.Mcintosh, Charles R.Goelder, J.R Brent Ritchie phátbiểu về du lịch nhƣ là tổng các hiện tƣợng và mối quan hệ nảy sinh từ tácđộng qua lại giữa du khách, nhà cung ứng, chính quyền và cộng đồng chủnhà trong quá trình thu hút và đón tiếp du khách. Với mục đích quốc tế hoá, tại hội nghị Liên Hợp Quốc vệ du lịch họptại Roma, các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa về du lịch “Du lịch là tổnghợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cáccuộc hành trình và lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thƣờngxuyên của họ hay ngoài nƣớc họ với mục đích hoà bình. Nơi họ lƣu trúkhông phải nơi làm việc của họ”. Khác với quan điểm trên các học giả biên soạn bách khoa toàn thƣViệt Nam đã tách hai nội dùng cơ bản của du lịch thành hai phần:+ Nghĩa thứ nhất: du lịch là một dạng nghỉ dƣỡng sức tham quan tích cựccủa con ngƣời ngoài nơi cƣ trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danhlam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật…+ Nghĩa thứ hai: du lịch đƣợc coi là ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quảcao về nhiều mặt, nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử vàvăn hoá dân tộc, từ đó góp phần làm tăng tình yêu đất nƣớc, đối với ngƣờinƣớc ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình, về mặt kinh tế du lịch là lĩnhvực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩuhàng hoá và dịch vụ tại chỗ.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 9. Luật Dulịch Việt Nam chỉ rõ: “Du Lịch là họat động có liên quanđến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằmđáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong mộtkhoảng thời gian nhất định”. Theo định nghĩa này ta thấy, du lịch trƣớc tiênphải là hoạt động của con ngƣời và phải là hoạt động ngoài nơi cƣ trúthƣờng xuyên của họ. Tuy vậy ở đây còn nêu lên một vấn đề rất chungchung là “nơi cƣ trú” bởi từ này có thể hiểu với một không gian rất rộng nhƣmột đất nƣớc, bởi một nƣớc cũng có thể hiểu là nơi cƣ trú của công dânnƣớc đó hoặc không gian nhỏ hơn là một vùng lãnh thổ, một tỉnh, thành phốhay một huyện, một xã, hay một làng. Việc giới hạn không gian linh hoạtnhƣ trên đã giúp chúng ta có cái nhìn nhận linh hoạt hơn không bị quá bóhẹp về không gian du lịch mà nó đƣợc lien hệ với các yếu tố khác. Du lịchphải nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dƣỡng của con ngƣờiđi du lịch, trong đó một nhu cầu rất quan trọng là tham quan, điều này chochúng ta thấy hoạt động của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú nhƣng không nhằmthoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dƣỡng thì sẽ không đƣợc côngnhận là du lịch. Theo tinh thần đó thì những hoạt động nhƣ học tập ngoài nơicƣ trú, lao động ngoài nơi cƣ trú sẽ không phải là du lịch. Du lịch đƣợc diễnra trong một khoảng thời gian nhất định nghĩa là du lịch nhằm thoả mãn nhucầu của con ngƣời đi du lịch trong những thời gian nhất định, điều này giúpta phân biệt nhu cầu, hoạt động của con ngƣời đi du lịch với các nhu cầukhác của họ và cho ta thấy giới hạn thời gian của khách du lịch, từ đó mà cónhững sản phẩm du lịch phù hợp với giới hạn thời gian của họ. Ngày nay, Tổ chức Du lịch Thế Giới (UNWTO) đã thống nhất kháiniệm du lịch phản ánh các mối quan hệ có tính bản chất bên trong là cơ sởcho việc nghiên cứu các xu hƣớng và quy luật phát triển của nó. Do đó: “ Dulịch là tổng thể những hiện tƣợng về mối quan hệ phát sinh do sự tác độngChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 10. qua lại giữa khách du lịch, ngƣời kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại vàcộng đồng dân cƣ địa phƣơng trong quá trình thu hút và lƣu giữ khách dulịch. Trong thực tế cuộc sống, do sự phát triển của xã hội và nhận thức, cáctừ ngữ thƣờng có nhiều nghĩa, nhiều khi trái ngƣợc nhau. Nhƣ vậy việc giảithích bằng cách gộp các nội dùng khác nhau vào một định nghĩa sẽ gây khóhiểu, không rõ ràng. Vậy có thể tách du lịch thành hai phần để định nghĩa: - Thứ nhất, du lịch có thể hiểu là sự di chuyển và lƣu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cƣ trú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao tại chỗ về nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo sự tiêu thụ một số giá trị kinh tế, văn hoá, và dịch vụ do các cơ sở cung ứng. - Thứ hai: Du lịch có thể đƣợc hiểu là một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lƣu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cƣ trú với mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh. Việc nhận định rõ ràng hai nội dùng cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển của du lịch. Từ những khái niệm trên giúp ta hiểu rõ về ngành du lịch từ đó có những nhìn nhận đúng đắn về ngành này cũng nhƣ vai trò của nó đối với đất nƣớc, đặc biệt là vai trò bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.1.2. Một số khái niệm liên quan:- Cũng theo Luật Du Lịch thì “tham quan là hoạt động của khách du lịchtrong ngày tới thăm nơi có tài nguyên du lịch với mục đích tìm hiểu, thƣởngthức những giá trị tài nguyên du lịch”. Qua đây cho ta thấy, tham quan làhình thức quan sát trực tiếp những di tích, danh lam, phong tục, cuộc sốngsinh hoạt của cộng đồng dân cƣ nơi họ đến du lịch, từ đó cảm nhận, hìnhChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 11. thành những kiến thức hoặc bổ sung thêm kiến thức cho bản thân mình.Tham quan không chỉ thoả mãn nhu cầu tìm hiểu thông qua tiếp xúc trựctiếp các giác quan mà nó còn thông qua việc tiếp xúc ấy để thƣởng ngoạncác giá trị của nơi đến tham quan. Tham quan không những giúp cho ta cảmnhận trực tiếp các đối tƣợng tham quan và giúp ta kiểm nghiệm, bổ sung trítƣởng tƣợng phong phú của con ngƣời về các đối tƣợng mà ta có đƣợc thôngqua các hình thức khác nhƣ văn học, hội hoạ, truyền thong… Việc hìnhthành kiến thức, bổ sung kiến thức thông qua tham quan mang tính khác biệtvới các hình thức khác, bởi kiến thức đƣợc hình thành bổ sung một cách nhẹnhàng, thoải mái, không bắt buộc. Từ những quan sá kinh tế, trực tiếp, kiếnthức dần dần đọng lại trong khách du lịch một cách tự nguyện, bản năng, bởivậy những kiến thức đọng lại thuộc về nhu cầu và tƣơng đối bền vững vớingƣời tiếp nhận nó.- Luật Du Lịch còn chỉ rõ : “ Khách du lịch là ngƣời đi du lịch hoặc kếthợp đi du lịch, trừ trƣờng hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thunhập ở nơi đến ”. Về phƣơng diện kinh tế, du khách là những ngƣời sử dụngdịch vụ của các doanh nghiệp du lịch nhƣ lữ hành, lƣu trú, ăn uống… (theonhập môn KH du lịch - Trần Đức Thanh). Khái niệm này cho ta thấy kháchdu lịch là rất đa dạng không phân biệt tuổi tác, học thức, nghề nghiệp, địa vịxã hội hay tôn giáo. Nhƣ vậy, sẽ có rất nhiều đối tƣợng nếu có nhận thức tốttham gia vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.- Tài nguyên du lịch: “ là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịchsử- văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con ngƣời và các giá trị nhânvăn khác có thể đƣợc sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơbản để hình thành các khu du lịch , điểm du lịch , tuyến du lịch, đô thị dulịch” ( Luật Du Lịch). Ngay từ khái niệm về tài nguyên du lịch này đã cho tathấy một phần vai trò du lịch trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoáChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 12. dân tộc. Vì khi ngành du lịch sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên du lịch thìsẽ đi đôi với việc giữ gìn và tiếp tục kế thừa phát triển nguồn tài nguyên đóđể hƣớng tới phát triển du lịch bền vững. Cảnh quan thiên nhiên chứa trongbản thân nó vẻ đẹp hùng vĩ của tạo hoá nhƣng bên cạnh đó cũng ghi dấu ấnlịch sử dân tộc qua các thời kỳ, chính vì vậy nó cuốn hút khơi dậy trong mỗicon ngƣời chúng ta tình yêu quê hƣơng đất nƣớc giống nhƣ một đại văn hàođã nói: “dòng suối chảy vào sông, sông chảy vào đại trƣờng giang Von-ga.Còn sông Von-ga chảy ra biển. Lòng yêu nhà quê hƣơng xứ sở trở thànhlòng yêu nƣớc. Các di tích lịch sử không chỉ chứa đựng những thông tin lịchsử mà còn chƣa đựng cả những tƣ tƣởng, truyền thống cách mạng của cácthế hệ cha ông chúng ta. Đƣơng thời thăm đền Hùng, Hồ chủ tịch đã dạy: “Các vua Hùng đã có công dựng nƣớc, Bác cháu ta phải quyết tâm giữ nƣớc”.Trong khung cảnh hùng vĩ của đền Hùng, lời dạy đó đi vào lòng chúng tamột cách êm ái mà sâu sắc biết nhƣờng nào. Những di tích cách mạng vớithời gian năm tháng sẽ không chỉ đơn thuần là di tích cách mạng, mà nó sẽtrở thành di tích lịch sử - cách mạng với ý nghĩa vô cùng lớn lao chứa đựngtrong bản thân nó và ý nghĩa thời gian nó đã trải qua. Không những chỉ chứađựng những thông tin lịch sử văn hoá mà các di tích còn ẩn chứa trong mình,những giá trị nhân văn, những giá trị ứng xử của con ngƣời Việt Nam.Thông qua các biểu tƣợng hoặc các truyền thuyết gắn liền với di tích đó, màta thấy đƣợc nét truyền thống văn hiến của dân tộc mình. Khuê Văn Cáckhông phải nghiễm nhiên đƣợc xây dựng ở trung tâm Văn Miếu bởi nó ẩnchứa trong mình những ý chí vƣơn lên toả sáng - những ánh sang tuyệt đẹpcủa con ngƣời Việt Nam nhƣ ánh sáng của chùm sao Khuê.- Khu du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ƣu thế về tài nguyêndu lịch tự nhiên, đƣợc quy hoạch, đầu tƣ, phát triển nhằm đáp ứng nhu cầuđa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế, xã hội và môiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 13. trƣờng (Luật Du Lịch). Vậy khu du lịch phải là nơi có tài nguyên du lịch hấpdẫn và đồng thời phải có ƣu thế nổi bật về tài nguyên du lịch tự nhiên.Không những thế, nó phải đƣợc quy hoạch, đầu tƣ phát triển, nhằm thoả mãnnhu cầu đa dạng của khách du lịch nhƣng phải mang lại hiệu quả kinh tế, xãhội và môi trƣờng. Qua đây chúng ta thấy nếu một khu nào đó có đầy đủđiều kiện, đƣợc quy hoạch, đầu tƣ phát triển nhƣng không mang lại hiệu quảxã hội và môi trƣờng thì nó vẫn chƣa đƣợc coi là khu du lịch.- Điểm du lịch: là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu thamquan của khách du lịch, (Luật Du Lịch). Khái niệm này giúp ta phân biệtđiểm du lịch với các điểm khác nhƣ: điểm vui chơi, giải trí, điểm thi đấu thểthao… Đồng thời nó cũng giúp ta nhận biết đâu là tài nguyên du lịch đâu làđiểm du lịch, tài nguyên du lịch là khái niệm chung trong đó bao gồm cảđiểm du lịch, nhƣng điểm du lịch là những tài nguyên du lịch đã đƣợc đƣavào khai thác và phát huy ý nghĩa của nó.- Tuyến du lịch: là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cungcấp các dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đƣờng bộ, đƣờng sắt,đƣờng thuỷ, đƣờng hàng không. (Luật Du Lịch). Khái niệm này cho ta thấyhai yếu tố cấu thành nên tuyến du lịch là các điểm, khu du lịch và tuyến giaothông. Nếu có điểm du lịch nhƣng hạ tầng giao thông chƣa phát triển thìcũng không xây dựng đƣợc tuyến du lịch. Tất nhiên ta phải hiểu tuyến giaothông ở đây một cách đa dạng và uyển chuyển: gồm giao thông đƣờng xe cơgiới, giao thông đƣờng thuỷ, và nhiều khi có cả đƣờng giao thông cho xe thôsơ và đi bộ trong một khoảng cách chấp nhận đƣợc.- Chƣơng trình du lịch: “là lịch trình, các dịch vụ và giá bán, chƣơng trìnhđƣợc định trƣớc cho chuyến đi của khách du lịch, từ nơi xuất phát đến điểmkết thúc chuyến đi ” (Luật Du Lịch). Vậy chƣơng trình du lịch chứa đựng bayếu tố cơ bản đó là lịch trình tham quan đƣợc định trƣớc và có xác định thờiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 14. gian thực hiện; hai là các dịch vụ kèm theo bao gồm lƣu trú, vận chuyển,hƣớng dẫn, ăn uống và các dịch vụ khác tuỳ thuộc vào từng loại hình dulịch; ba là chƣơng trình đó phải có giá bán rõ ràng. Qua đây ta thấy chƣơngtrình nhằm đáp ứng hai khía cạnh của khách du lịch là sở thích nhu cầu củakhách và khả năng tài chính của khách. Nếu không đáp ứng đƣợc hai khíacạnh đó chƣơng trình du lịch sẽ trở thành không hấp dẫn và khó mà bánđƣợc.- Lữ hành: “ là việc xây dựng, bán, và tổ chức thực hiện một phần hoặc toànbộ chƣơng trình du lịch cho khách du lịch”. Nhƣ vậy, lữ hành là việc tổ chứccác chƣơng trình du lịch đã đƣợc bán cho khách du lịch. Lữ hành thực chấtlà hoạt động của các công ty du lịch chuyển sản phẩm đến ngƣời tiêu dùng làkhách du lịch.- Hƣớng dẫn du lịch: là hoạt động của các tổ chức kinh doanh du lịch thôngqua hƣớng dẫn viên và những ngƣời có liên quan đến đón tiếp, phục vụ,hƣớng dẫn khách du lịch thực hiện các dịch vụ theo các chƣơng trình đƣợcthoả thuận và giúp đỡ khách giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trìnthực hiện chuyến du lịch. Khái niệm trên đã chỉ rõ những hoạt động chủ yếucủa hƣớng dẫn du lịch mà vai trò quan trọng nhất là của hƣớng dẫn viên,những ngƣời thay mặt cho tổ chức kinh doanh du lịch thực hiện các hợpđồng giữa đơn vị mình với khách du lịch. Các hoạt động du lịch bao gồmnhiều mặt công tác và đòi hỏi về nghiệp độ tuy mức độ không giống nhau.1.3. Sơ lƣợc về sự phát triển của du lịch Du lịch là một nhu cầu không thể thiếu đƣợc trong đời sống kinh tếxã hội và đã trở lên phổ biến ở nhiều quốc gia và là một thói quen trong nếpsống sinh hoạt trong xã hội ngày nay. Có nƣớc coi du lịch là nguồn thu chủyếu, điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế, có nƣớc coi du lịch nhƣ mộtngành kinh doanh mũi nhọn có sức hút đối với những ngành khác. NgànhChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 15. du lịch ở Việt Nam ra đời năm 1960 với việc thành lập Công Ty Du LịchViệt Nam theo nghị định số 26 CP ngày 9/7/1960 đã đánh dấu nhận thứccủa Đảng và Nhà Nƣớc về triển vọng nền kinh tế này. Trong suốt gần 50 năm hình thành và phát triển ngành du lịch luônđƣợc Đảng và nhà nƣớc quan tâm. Ở mỗi thời kỳ đều xác định vị trí của dulịch trong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc phù hợp với yêucầu của xã hội. Đặc biệt thời kỳ đổi mới và hội nhập, du lịch Việt Nam đãcó những phát triển vƣợt bậc, nhanh chóng thu hẹp khoảng cách về pháttriển du lịch với các nƣớc trong khu vực. Trở thành ngành kinh tế quan trọngtrong chiến lƣợc phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Sự quan tâm đặc biệtcủa Đảng và Nhà Nƣớc với du lịch là một tiền để rất quan trọng cho nhữngđổi mới của ngành. Sự quan tâm này đƣợc thể hiện trong hiến pháp của nƣớccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, trong nghị quyết đại hộiĐảng toàn quốc, trong chỉ thị 46 CT/TW ngày 14/10/1994 của Ban BíThƣTrung Ƣơng, thông báo số 179 TB/TW ngày 11/11/1998 và dự thảovăn kiện Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ X (dự thảo kế hoạch phát triểnkinh tế 5 năm 2006-2010) và hàng loạt các văn bản khác. Nhƣ vậy có thể tintƣởng rằng trong tƣơng lai du lịch Việt Nam chắc chắn sẽ có một vị trí xứngđáng trong xã hội và nền kinh tế nƣớc nhà.Lƣợng khách quốc tế vào nƣớc ta từ năm 1990-2007:Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 16. 1. Khách quốc tế Khá quố4,500,000 4,230,0004,000,000 3,583,4583,500,0003,000,000 2,927,876 2,627,9882,500,000 2,140,1002,000,000 1,607,155 1,520,2181,500,0001,000,000 1,018,244 500,000 440,000 250,000 0 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2007 Lƣợng khách nội địa giai đoạn 1990 – 2007: 2. Khách nội địa Khá 25,000,000 § ¬n vÞ L- î t kh¸ ch : 20,000,000 19,500,000 17,500,000 15,000,000 14,500,000 13,000,000 11,200,000 10,000,000 9,600,000 7,300,000 6,200,000 5,000,000 2,000,000 1,000,000 0 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2007 * Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 17. Nguồn: Tổng Cục thống kêQua hai bản biểu đồ trên có thể thấy hoạt động du lịch của nƣớc ta giai đoạn 1990-2007 đã đạt đƣợc những thành tựu nhất định, cả lƣợng khách nội địa và quốc tế đã liêntục tăng qua các năm. Điều đó khẳng định vị thế và tƣơng lai của du lịch nƣớc ta.1.4. Các loại hình du lịch ở Việt NamHoạt động du lịch có thể chia thành các nhóm khác nhau tuỳ thuộc vào tiêuchí đƣa ra. Về phần mình các tiêu chí đƣợc đƣa ra phụ thuộc vào mục đíchviệc phân loại và quan điểm chủ quan của tác giả. Do đó, cho đến nay chƣacó bảng phân loại nào đƣợc coi là hoàn hảo. Phân loại theo mục đích chuyếnđi thì ở Việt Nam đang hình thành, tồn tại và phát triển các loại hình du lịchsau: - Du lịch văn hoá lịch sử: là chƣơng trình tổ chức cho khách du lịch tham quan các điểm, khu du lịch mang ý nghĩa lịch sử, văn hoá và thắng cảnh. Du lịch văn hoá, lịch sử giúp cho khách tìm hiểu đƣợc những nét văn hoá , lịch sử truyền thống bản sắc của dân tộc, đất nƣớc hoặc một vùng. Đây là loại hình du lịch cổ điển và truyền thống nhất trong các loại hình du lịch và loại hình này hiện nay cung đang phát triển nhất tại Việt Nam. Tham gia loại hình này khách chủ yếu tham quan những di tích lịch sử văn hoá, những viện bảo tang những làng nghề, lễ hội, những thắng cảnh thiên nhiên … Đây là loại hình du lịch khá phổ thông và thu hút quảng đại khách du lịch và nó chiếm tỷ trọng lớn trong ngành du lịch. Đồng thời loại hình du lịch này đã thể hiện rõ nét và đƣợc đánh giá cao với vai trò bảo tồn và phát huy nền văn hoá truyền thống dân tộc - Du lịch sinh thái: Là du lịch phát huy, khai thác những giá trị sinh thái môi trƣờng. DU lịch sinh thái giúp ta tìm hiểu đƣợc các hệ sinh thái tựChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 18. nhiên hoặc do con ngƣời tái tạo, giúp khách du lịch hiểu đƣợc giá trị của sinh thái và môi trƣờng, ảnh hƣởng của sinh thái đối với cuộc sống và một số ngành sản xuất; mối liên hệ tự nhiên giữa phát triển, bảo vệ môi trƣờng và giữ cân bằng sinh thái môi trƣờng. Tham gia loại hình du lịch này khách thƣờng đƣợc tham quan các khu bảo tồn thiên nhiên lƣu trú trong những nhà nghỉ khách sạn đơn giản trong các khu bảo tồn hoặc các khu phụ cận, nhƣng lại đƣợc đắm mình trong khung cảnh thiên nhiên và không khí trong lành, qua đó đem lại cho ngƣời ta một ý thức bảo vệ môi trƣờng, giữ gìn môi trƣờng, cải tạo và trả lại cho môi trƣờng vẻ đẹp vốn có của nó. - Du lịch mạo hiểm: Là loại hình du lịch mà hoạt động của du khách mang ít nhiều tính mạo hiểm, khám phá. Từ mạo hiểm cho ta thấy là trong quá trình du lịch khách dễ gặp phải những rủi ro, nguy hiểm khó lƣờng trƣớc đƣợc và đôi khi nguy hiểm đến cả tính mạng. Loại hình du lịch này chỉ phù hợp với những ngƣời có sức khỏe tốt và có cá tình mạnh, thích phiêu lƣu mạo hiểm. Các dạng phổ biến của loại hình này là leo núi, chinh phục các ngọn núi cao, vƣợt sông, thác ghềnh ở những nơi nguy hiểm tạo cho họ cảm giác mạnh và mang ý nghĩa chinh phục, lặn biển để khám phá vẻ đẹp dƣới đáy biển, khám phá các hang động để tìm ra những điều bí ẩn. Du lịch mạo hiểm giúp cho con ngƣời rèn luyện ý chí, khả năng xử lý tình huống khi gặp những khó khăn bất ngờ. - Du lịch nghỉ dƣỡng: một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch là phục hồi sức khoẻ cộng đồng. Theo một số học giả trên thế giới với chế độ du lịch hợp lý cộng đồng có thể giảm đƣợc trung bình 30% ngày điều trị bệnh trong năm. Thông thƣờng loại hình du lịch này diễn ra ở những nơi có điều kiện thiên nhiên thuận lợi choChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 19. việc nghỉ dƣỡng nhƣ khí hậu, môi trƣờng, bãi biển và có cơ sở vật chất đủ đáp ứng cho nhu cầu nghỉ ngơi tĩnh dƣỡng. Tham quan khu vực lân cận với chƣơng trình nhẹ nhàng, mang tính thƣ giãn và nghỉ dƣỡng là một phần của loại hình này. Thời gian chủ yếu của khách là nghỉ ngơi kết hợp các vận động nhằm giúp ích cho sức khoẻ hoặc thƣ giãn đầu óc, hƣởng thụ các dịch vụ tại nơi nghỉ dƣỡng. Ở Việt Nam, các khu nghỉ dƣỡng này mới chủ yếu hình thành dọc bờ biển miền Trung nhƣ: Đà Nẵng, Hội An, Nha Trang, Vũng Tàu… - Du lịch tàu biển: là loại hình du lịch trên các con tàu biển với thiết bị sang trọng, hiện đại vừa làm chức năng vận chuyển khách giữa các điểm tham quan trên đất liền hoặc các đảo suốt hành trình trên biển, đồng thời là nơi lƣu trú và giải trí của khách. Khi đến các điểm tham quan, tàu neo đậu để khách lên bờ tham quan nhƣng tối lại quay về nghỉ ngơi trên tàu. Ngày nay, những con tàu đã đƣợc đóng và trang bị ngang bằng bởi các khách sạn năm sao với đầy đủ các dịch vụ nhƣ phòng nghỉ, bể bơi, sân tennis, câu lạc bộ khiêu vũ… Loại hình du lịch này hiện đang thu hút đƣợc nhiều ngƣời lớn tuổi, bởi trong suốt thời gian di chuyển từ nƣớc này sang nƣớc khác họ không phải nó mình trên các phƣơng tiện vận chuyển mà vẫn sinh hoạt thoải mái nhƣ ở nhà. - Du lịch MICE: đây là loại hình du lịch tƣơng đối mới mẻ ở Việt Nam, nhằm cung cấp dịch vụ cho hội nghị, hội thảo, triển lãm và du lịch phần thƣởng. Ngoài việc cung cấp dịch vụ cho các mục đích nêu trên thì các dịch vụ phụ trợ hoặc xen kẽ giữa các khoảng thời gian của hội nghị, hội thảo là rất quan trọng, nhƣ chƣơng trình tham quan cho các thành viên đi theo hoặc chƣa tham gia hội nghị. Tổ chức các hoạt động phụ trợ để hội nghị, hội thảo trở thành sự kiện khó quên đối vớiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 20. các thành viên nhƣ các hoạt động nhóm, các bữa tiệc sang trọng mang nét đặc sắc. Đây là loại hình du lịch hình thành để đáp ứng nhu cầu hoạt động của các công ty đa quốc gia, các công ty siêu quốc gia, các tổ chức quốc tế. - Ngoài ra còn kết hợp du lịch trong chuyến đi vì mục đích tôn giáo, học tập, nghiên cứu hoặc mục đích thể thao, thăm ngƣời thân,…Qua các hoại hình du lịch nói trên có thể thấy du lịch văn hoá có ảnh hƣởngtác động nhiều đến bản sắc văn hoá dân tộc của ngƣời Việt. Đây là loại hìnhdu lịch khá phổ biến và ngày càng phát triển. Dễ nhận thấy vai trò của nóđối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc cũng đƣợc thể hiệnmột cách rõ nét nhất.2. Nhận thức cơ bản về văn hoá2.1.Khái niệm văn hoá Văn hóa là một phạm trù rộng lớn và không thống nhất theo cách nghĩcủa mỗi ngƣời. Dƣới góc độ khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau mỗihọc giả đều tự đƣa ra cho mình những quan niệm khác nhau về văn hoá. Văn hoá là sản phẩm do con ngƣời sáng tạo, có từ thuở bình minh củaxã hội loài ngƣời. Ở phƣơng Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngônngữ từ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn hoá. Xem dáng vẻ conngƣời, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ (quan hồ nhân văn dĩ hoá thành hiện đại).Ngƣời sử dụng từ văn hoá sớm nhất có lẽ là Lƣu Hƣớng (năm 776 trƣớcCông Nguyên). Tuy vậy việc xây dựng và sử dụng khái niệm văn hoá khôngđơn giản và thay đổi theo thời gian, thuật ngữ văn hoá với nghĩa “canh táctinh thần” đƣợc sử dụng vào thế kỷ XVII – XVIII bên cạnh nghĩa gốc làquản lý, canh tác nông nghiệp. Vào thế kỷ XIX thuật ngữ “văn hoá” đƣợc những nhà nhân loại họcphát triển sử dụng nhƣ một danh từ chính. Những học giả này cho rằng vănChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 21. hoá thế giới có thể phân loại ra từ trình độ thấp đến cao nhất và văn hoá củahọ chiếm vị trí cao nhất. Bởi họ cho rằng văn hoá hƣớng về trí lực và sựvƣơn lên, sự phát triển tạo thành văn minh, E.B.Taylo là đại diện của họ.Theo ông văn hoá là toàn bộ thực tế gồm: hiểu biết, tín ngƣỡng, nghệ thuật,đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà conngƣời có đƣợc với tƣ cách là một thành viên của xã hội. Thế kỷ XX, khái niệm văn hoá thay đổi F.Boa ý nghĩa văn hoá đƣợcquy định do khung giải thích riêng chứ không phải bắt nguồn từ cứ liệu caosiêu nhƣ “trí lực” vì thế sự khác nhau về mặt văn hoá từng dân tộc cũngkhông phải theo tiêu chuẩn trí lực. Đó cũng là “tƣơng đối luận” của văn hoá.Văn hoá không xét ở mức độ tăng giảm mà ở góc độ khác biệt. Trong ýnghĩa rộng nhất: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêngbiệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xãhội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật vàvăn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệthống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng: văn hoá đem lại chocon ngƣời khả năng suy xét về bản thân, chính văn hoá làm cho chúng ta trởthành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và sốngcó đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bảnthân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xétnhững thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻvà sáng tạo nên những công trình vƣợt trội nên bản thân. Nhƣ vậy, văn hoá không phải là một lĩnh vực riêng biệt, văn hoá là tổngthể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời tạo ra: vănhoá là chìa khoá của sự phát triển.2.2.Di sản văn hoá vật thể và phi vật thể Theo quan niệm của UNESCO có hai loại di dản văn hoá:Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 22. - Một là, những di tích văn hoá hữu thể nhƣ: đình, đền, miếu, lăng mộ, nhà sàn, bảo tàng… hay những di tích kiến trúc nghệ thuật. - Hai là, những di sản văn hoá vô hình (phi vật thể) bao gồm các biểu hiện tƣợng trƣng và “không sờ thấy đƣợc” của văn hoá đƣợc lƣu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo “trung tu” của cộng đồng. Những di sản văn hoá tạm gọi là vô hình này theo UNESCO gồm cả: âm nhạc, múa, truyền thống, văn chƣơng truyền miệng ngôn ngữ, huyền thoại, nghi thức, phong tục tập quán, việc nấu ăn, các món ăn, lễ hội, bí quyết và quy trình công nghệ của các nghề truyền thống. Các hữu thể và các vô hình gắn bó hữu cơ với nhau, lồng vào nhau nhƣ thân xác và tâm trí con ngƣời.2.3. Khái niệm truyền thống và hiện đại Có nhiều cách hiểu khác nhau trong phân loại xã hội, nhƣng ngày nayngƣời ta thƣờng lấy tiêu chí hoạt động của con ngƣời để chia lịch sử thành: - Xã hội thu lƣợm (hái lƣợm và đi săn) - Xã hội nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi) - Xã hội công nghiệp (cơ giới) - Xã hội hậu công nghiệp (thời đại tin học) Ở Việt Nam xã hội cổ truyền là xã hội nông nghiệp, văn minh cổ truyềnlà văn minh thôn dã (xóm làng), văn hoá Việt Nam truyền thống thƣờngđƣợc xem là nền văn hoá xuất hiện từ lúc hình thành quốc gia dân tộc, quanhiều bƣớc phát triển nội sinh và ảnh hƣởng ngoại sinh cho đến khi văn hoáphát triển (chủ yếu là văn hoá Pháp) tác động đến một số lĩnh vực. Nhƣ vậykhoảng thời gian kéo dài từ xa xôi cho đến những năm đầu thế kỷ XX tạmđƣợc coi là giới hạn của văn hoá truyền thống. Từ thời điểm đó đến nay,đƣợc coi là văn hoá hiện đại. Đôi khi ngƣời ta cũng có sự lẫn lộn giữa kháiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 23. niệm cổ truyền và truyền thống. Có thể coi khái niệm cổ truyền bao gồm cảcái không tích cực. Khái niệm truyền thống là tập quán đã đƣợc sàng lọc.Truyền thống đƣợc dùng ở đây là tính cho đến thời điểm trƣớc công cuộcgiao thoa truyền thống văn hoá Đông – Tây, Việt – Pháp. Định nghĩa văn hoá truyền thống: trong bài viết văn hoá cổ truyền, vănhoá truyền thống và truyền thống văn hoá của một tác giả tên đăng trên tạpchí văn hoá dân gian có nêu: “văn hoá truyền thống là khái niệm dùng để chỉmột cấu trúc văn hoá, chỉ văn hoá của các xã hội nông nghiệp truyền thống”.Tuy đây là định nghĩa ngắn gọn nhƣng còn gây cho ngƣời đọc sự khó hiểu,diễn đạt còn chƣa thoát ý. GS.TSKH Trần Ngọc Thêm có đƣa ra định nghĩa: “Văn hoá là hệ thốnghữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích luỹ quaquá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môitrƣờng tự nhiên và xã hội”. Từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ học doHoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Truyền thống là thói quen hình thành đãlâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, đƣợc truyền lại từ thế hệ này sang thế hệkhác”.2.3.Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoáĐể có thể đánh giá đƣợc đầy đủ và chính xác vai trò của ngành du lịchtrong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, ta cần phảinghiên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa du lịch và văn hoá thể hiện nhƣsau: Về mặt lý luận, văn hoá là toàn bộ những hoạt động, những giao lƣu,những sản phẩm vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo trong sự ứng xửtoàn diện với thiên nhiên, với xã hội, với -chính bản thân mình, để tồn tại vàphát triển; là quá trình con ngƣời không ngừng hoàn thiện và phong phú hoácác quan hệ nhân tính của xã hội, của cộng đồng và các cá nhân khẳng địnhChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 24. hệ giá trị văn hoá. Về du lịch, hầu nhƣ trƣớc đây có bao nhiêu tác giả nghiêncứu tìm hiểu du lịch thì có bấy nhiêu định nghĩa. Nhƣ đã đƣợc nêu trongphần khái niệm du lịch. Vậy mối quan hệ biện chứng giữa du lịch và văn hoáthể hiện ở chỗ nào? Nếu ta nghiên cứu sự hình thành và phát triển của ngànhdu lịch, điều đó có thể khẳng định là từ cổ đại mầm mống của du lịch bắtnguồn từ nhu cầu hoạt động văn hoá (hành hƣơng, hành trình lễ hội). Ngƣợclại văn hoá cũng tác động đến việc hình thành các dịch vụ sơ khai của ngànhdu lịch hiện đại (sự xuất hiện của các cơ sở lƣu trú phục vụ cho khách hànhhƣơng). Văn hoá là sự giao lƣu; thực vậy, nhờ có sự giao lƣu, trao đổi màcác hoạt động văn hoá, tín ngƣỡng đƣợc lan truyền từ vùng này sang vùngkhác, từ quốc gia này sang quốc gia khác. Con ngƣời với đặc trƣng cơ bản làbiết lao động, tƣ duy và sáng tạo, hƣớng tới hoàn thiện và cái đẹp ở thời cổđại chính khát vọng vƣơn tới tự do, khát vọng đƣợc nâng đỡ cứu giúp khỏicác thảm hoạ thiên nhiên và bất công xã hội, con ngƣời đã sáng tạo ra thầnthánh và tôn giáo nhƣ một giá đỡ tinh thần. Từ đó Kitô tôn giáo, Phật giáovà hồi giáo xuất hiện và đƣợc truyền bá từ vùng này sang vùng khác. Mỗidân tộc đều có truyền thống bản sắc văn hoá riêng. Những tinh hoa văn hoácủa từng dân tộc có đƣợc là do quá trình lao động sáng tạo của cộng đồng,đƣợc cộng đồng thừa nhận và lƣu truyền từ đời này qua đời khác. Truyềnthống, bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc không phải là cái bất biến, nó khôngngừng đƣợc hoàn thiện phát triển qua các thởi đại nhờ sự hoàn thiện vànhững yếu tố du nhập từ các nền văn hoá của mình. Thông qua giao tiếp, tìmhiểu các dân tộc trao đổi cho nhau những kiến thức về văn hoá, những cáihay, cái đẹp trong cuộc sống qua đó mỗi dân tộc có sự chắt lọc, bổ sung,nâng cao nền văn hoá của mình. Đây là đặc trƣng trong tính kế thừa theotrục không gian của các nền văn hoá. Nếu không có giao lƣu, nền văn hoáChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 25. vủa mỗi cộng đồng, dân tộc khi bị cô lập sẽ ở trạng thái ngƣng trệ. Sự kếthừa theo trục không gian đã thúc đẩy văn hoá nhân loại phát triển. Khi nghiên cứu du lịch ta không chỉ xem xét trên góc cạnh của ngƣờihƣớng dẫn mà trên thực tế những ngƣời cung cấp dịch vụ là yếu tố thứ haitrong du lịch tạo nên một hiện tƣợng Kinh Tế - Văn Hoá. Họ là những ngƣờicung cấp thông tin, tổ chức các chuyến du lịch, ngƣời cung cấp phƣơng tiệngiao thông, cung cấp cơ sở lƣu trú, ăn uống để thoả mãn nhƣ cấu cơ bản củacon ngƣời. Ngoài ra những ngƣời làm công tác nghệ thuật, tổ chức vui chơigiải trí, cung cấp thiết bị kỹ thuật … Với tƣ cách là “nhà sản xuất hàng hoádịch vụ, hoạt động của ngƣời làm du lịch không thể tách rời các yếu tố vănhoá” . Trong doanh nghiệp hoạt động du lịch, yếu tố văn hoá là toàn bộ giá trịvật chất và tinh thần mà doanh nghiệp tạo ra. Sử dụng trong quá trình phụcvụ khách, vì vậy có thể nói rằng văn hoá chính là toàn bộ quá trình xây dựngbố trí cơ sở vật chất: thiết bị vận chuyển, khách sạn, nhà hàng, các dịch vụphụ trợ khác … Một điểm cần lƣu ý là sản phẩm của nghành du lịch mang tính chất đặcthù. Nghĩa là nó không thể đóng gói, tồn kho, bày bán nhƣ các sản phẩmthông thƣờng. Yếu tố dịch vụ mang tỷ trọng lớn trong sản phẩm. Nhƣ vậymột sản phẩm du lịch không chỉ có mặt vật chất mà nó chứa đựng yếu tố vănhoá, tinh thần. Kết tinh vào sản phẩm có sức lao động của con ngƣời thôngqua giao tiếp, phục vụ, chăm sóc khách hàng. Nhân viên phục vụ với tínhchất là sản phẩm của một nền văn hoá vì họ mang trong mình khả năngchuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, và các yếu tố truyềnthống trong nhân cách. Họ đại diện cho doanh nghiệp và cả một nền văn hoáđể cảm hoá khách hàng.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 26. Tóm lại giữa du lịch và văn hoá có mối quan hệ biện chứng. Hoạt độngcủa ngành du lịch nhƣ một ngành kinh tế dịch vụ góp phần cho sự tăngtrƣởng và sự phát triển của nền kinh tế xã hội, tạo điều kiện nâng cao mứcsống vật chất và tinh thần cho cộng đồng, thúc đẩy phát triển văn hoá vàngƣợc lại, sự phát triển của một xã hội văn minh trong đó trình độ văn hoá,chính trị, tƣ tƣởng của các thành viên trong cộng đồng lại tác động lại đếnphát triển kinh tế trong đó có du lịch.Chương 2: Thực trạng du lịch Việt Nam với vai trò bảo tồn và phát huy giátrị văn hoá truyền thống của ngƣời Việt.2.1. Vai trò của du lịch trong nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội .2.1.1. Vai trò của nghành du lịch đối với nền kinh tế quốc dân: Nhà Nƣớc Việt Nam xác định: du lịch là một ngành kinh tế tổng hợpquan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng vàxã hội hoá cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí,nghỉ dƣỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dântrí, tạo việc làm và phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Qua đó, ta thấy:- Đối với nền kinh tế quốc dân thì du lịch có vai trò là một ngành kinh tếtổng hợp quan trọng có tính liên ngành liên vùng. Du lịch là ngành dịch vụ.Nên nó sử dụng một tỷ trọng nhân công tƣơng đối lớn, từ đó đã tạo ra mộtkhối lƣợng lớn việc làm cho ngƣời lao động. Du lịch là ngành kinh tế tổnghợp nên khi nó phát triển sẽ kích thích và tạo điều kiện cho các ngành khácphát triển và ngƣợc lại, các ngành khác phát triển cũng kích thích và tạo điềukiện cho ngành du lịch phát triển. Trong nền kinh tế quốc dân nƣớc ta, dulịch vẫn còn là ngành non trẻ, tuy vậy ngành này đang ngày càng phát triểnvới một tốc độ mạnh và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong thu nhập quốcdân. Một số nƣớc trong khu vực có điều kiện tƣơng tự nƣớc ta nhƣng doChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 27. nhận thấy vai trò của du lịch đối với nền kinh tế nên họ đã có chính sáchthúc đẩy ngành phát triển và trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đấtnƣớc. Nhƣ Thái Lan, trong suốt hàng chục năm qua, tỷ trọng ngành du lịchluôn đứng đầu trong nền kinh tế quốc dân, không những thế, nó còn đóngvai trò quan trọng trong việc giúp kinh tế nƣớc này phục hồi nhanh chóngsau cuộc khủng hoảng tài chính của khu vực. Nƣớc ta trong năm năm gầnđây du lịch đã đóng góp một phần không nhỏ vào phát triển kinh tế đấtnƣớc.Doanh thu từ du lịch trong những năm 1990- 2006: 3. Thu nhập du lịch nhậ 60,000 50,000 51,000 40,000 30,000 26,000 23,000 20,000 17,400 14,000 10,000 8,000 9,500 0 1,350 2,830 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006Nguồn: Tổng Cục Du Lịch Nhờ những phát triển trong ngành du lịch mà đã tạo ra đƣợc đội ngũphục vụ có chuyên môn, một cơ sở vật chất về lƣu trú đủ khả năng phục vụvà đã phục vụ thành công các sự kiện lớn của Nhà Nƣớc, nhƣ phục vụSeaGame 22, phục vụ hội nghị Thƣợng Đỉnh Á - Âu và đã để lại ấn tƣợngChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 28. tốt với các nguyên thủ cũng nhƣ các đoàn đại biểu của các nƣớc. Du lịchphát triển còn nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng các hàng hoá vật chất vàcác hàng hoá phi vật chất. Do đó nhu cầu về dịch vụ rất đƣợc khách quantâm. Một đặc điểm quan trọng và khác biệt giữa việc tiêu dùng du lịch vàtiêu dùng các hàng hoá khác là việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xảy ra cùngmột lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng. Do đó để thực hiện đƣợc quátrình tiêu thụ sản phẩm, ngƣời mua hàng đƣợc đƣa đến nơi sản xuất và tiêudùng tại chỗ. Vì vậy sản phẩm du lịch mang tính độc quyền. Vậy, ảnh hƣởngkinh tế của du lịch đƣợc thể hiện thông qua tác động qua lại của quá trìnhtiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch. Quá trình này tác động lên lĩnh vựcphân phối, lƣu thông và do vậy ảnh hƣởng đến những lĩnh vực khác nhaucủa quá trình tái sản xuất xã hội. Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác động biến đổi cán cânthu chi của khu vực và của đất nƣớc. Du khách mang ngoại tệ vào đất nƣớcmà họ đi du lịch, làm tăng ngoại tệ cho đất nƣớc họ đến, ngƣợc lại phần thungoại tệ sẽ tăng lên đối với quốc gia có nhiều ngƣời đi du lịch nƣớc ngoài.Trong phạm vi một quốc gia hoạt động du lịch làm xáo động hoạt động luânchuyển tiền tệ, hàng hoá. Cán cân thu chi đƣợc thực hiện giữa các vùng cótrình độ kinh tế - văn hoá khác nhau tuy không làm biến đổi cán cân kinh tếcủa đất nƣớc, song có tác dụng điều hoà nguồn vốn từ vùng kinh tế pháttriển sang vùng kém phát triển hơn, kích thích sự tăng trƣởng kinh tế cácvùng sâu vùng xa. Khi khu vực nào đó trở thành điểm du lịch, du khách từ mọi nơi đi vềsẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá tăng lên đáng kể. Việc đòi hỏi một sốlƣợng lớn vật tƣ, hàng hoá các loại đã kích thích mạnh mẽ các ngành liênquan nhƣ nông nghiệp, công nghiệp chế biến…Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 29. So với ngoại thƣơng ngành du lịch cũng có nhiều ƣu thế nổi trội. Dulịch quốc tế xuất khẩu tại chỗ đƣợc nhiều mặt hàng không phải qua nhiềukhâu nên tiết kiệm đƣợc lao động, chênh lệch giá giữa ngƣời bán và ngƣờimua không cao. Qua đây ta thấy du lịch có tác dụng tích cực làm thay đổi bộ mặt kinhtế của đất nƣớc. Việt Nam với chủ trƣơng mở cửa làm bạn với tất cả cácnƣớc. Nhằm thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp nƣớc ngoài vào hợp táccùng phát triển, tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động với thu nhậpcao, thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng với nhịp độ cao, cải thiện đời sốngsinh hoạt, giá cả trong nƣớc ổn định.2.1.2. Vai trò của du lịch đối với văn hoá – xã hội Ngày nay, du lịch không chỉ trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn,ngành công nghiệp không khói của rất nhiều quốc gia trên toàn thế giới mànó còn trở thành một nhu cầu không thể thiếu đƣợc của con ngƣời. Kinh tếcàng phát triển, đời sống của ngƣời dân càng tăng bởi một đặc tính cố hữucủa con ngƣời là ham hiểu biết và giao lƣu. Càng tham quan nhiều, cànggiao lƣu nhiều thì con ngƣời càng cảm nhận kiến thức của mình còn nhiềukhập khiễng giao lƣu còn quá bó hẹp. Chƣa nói đến phạm vi rộng, chỉ cầnbiết đƣợc các miền của đất nƣớc, cuộc sống của con ngƣời Việt Nam ở mỗivùng, mỗi dân tộc là ƣớc mơ của biết bao triệu ngƣời dân chúng ta. Với bềdày lịch sử, hàng ngàn năm văn hiến, với biết bao danh lam thắng cảnh, ditích trải dài trên suốt chiều dài của đất nƣớc, tất cả đã trở thành nguồn tàinguyên vô tận để ngành du lịch khai thác phục vụ cho kinh tế, nâng cao đờisống tinh thần cho ngƣời dân và làm bạn bè quốc tế hiểu hơn về đất nƣớccũng nhƣ con ngƣời Việt Nam. Thông qua du lịch các tầng lớp dân cƣ trongxã hội có điều kiện để tiếp xúc với nhau và hiểu nhau hơn, từ đó hình thànhnên những nhận thức chung và quan tâm chung. Không có du lịch làm saoChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 30. các cộng đồng miền xuôi có điều kiện để tiếp xúc và hiểu đƣợc hoàn cảnh,thực tế cuộc sống , kinh tế của các cộng đồng dân tộc miền ngƣợc, vùngkinh tế kém phát triển, từ đó xây dựng cho họ nhận thức, tinh thần tƣơngthân giúp đỡ nhân đạo tốt hơn. Du lịch cũng giúp cộng đồng dân tộc miềnngƣợc có điều kiện tiếp xúc, tiếp thu những kiến thức tiên tiến về văn hoá,kinh tế, nếp sống văn minh của các cộng đồng khác từ những vùng kinh tếvăn hoá phát triển. Không những chỉ có tác dụng giao lƣu xã hội mà du lịchcòn tạo điều kiện cho các nhà đầu tƣ, khảo sát thực tế tiềm năng pháttriển,cơ hội đầu tƣ ở những vùng kinh tế còn khó khăn, từ đó họ có những kếhoạch chiến lƣợc đầu tƣ vào những khu đó giúp phảt triển kinh tế xã hội vàgóp phần xoá đói giảm nghèo của các khu vực khó khăn này. Dân gian cócâu “ trăm nghe không bằng một thấy” thì du lịch cũng là một trong nhữngcơ hội để các nhà đầu tƣ thấy trực tiếp, quan sát trực tiếp, tìm hiểu trực tiếptiềm ăng, cơ hội đầu tƣ cho các dự án phát triển du lịch, phát huy giá trị dulịch. Bên cạnh đó du lịch còn là ngành kinh tế tổng hợp có nội dung văn hoásâu sắc có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao nên du lịch còn có vaitrò giúp cho ngƣời đi du lịch muốn đƣợc trải nghiệm và thẩm nhận nhữnggiá trị văn hoá của cộng đồng khác. Cũng nhƣ du lịch đáp ứng đƣợc nhu cầumong muốn đƣợc hoàn thiện mình, ai ai cũng muốn nâng cao trình độ hiểubiết của mình dể trở thành những bậc vĩ nhân nhƣ trong huyền thoại …Chính những mong muốn đƣợc mở mang trình độ hiểu biết, sự tò mò tìmhiểu và khám phá chân trời mới trong tiềm thức mỗi con ngƣời đều trỗi dậynhững ý tƣởng về nền văn minh cổ đại và họ muốn khám phá ra những điềubí mật ấy. Chính những nhu cầu này mà ngày nay xu hƣớng du lịch văn hoángày càng phát triển, du khách muốn đi tìm hiểu, nghiên cứu, khám phánhững nét văn hoá truyền thống của các dân tộc ngày càng nhiều. Nhƣ vậyChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 31. du lịch đóng vai trò thiết yếu và không thể thiếu đƣợc đối với nền văn hoá xãhội Việt nam2.2 Thực trạng du lịch Việt nam với vai trò bảo tồn và phát huy giá trị vănhoá truyền thống của ngƣời Việt Là một ngành kinh tế mũi nhọn song mục đích của phát triển du lịchkhông chỉ vì lợi nhuận kinh tế. Điều quan trọng và căn bản hơn là du lịchtrực tiếp góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt nam đối với thế giớicũng nhƣ các nƣớc trong khu vực. Có thể nói khách nƣớc ngoài đến vớiViệt nam bởi nhiều lý do trong đó có sự thân thiện của con ngƣời Việt nam.Đây là một thế mạnh mag tính truyền thống cần đƣợc gìn giữ phát huy. Mặtkhác qua du lịch, khách muôn phƣơng có dịp hiểu hơn về con ngƣời, đấtnƣớc, kinh tế, văn hoá Việt nam. Du lịch Việt nam giống nhƣ một sứ giả hoàbình và hữu nghị thắt chặt tình thân ái với bạn bè năm châ.Vì thế Việt namngày càng trở thành điểm đến hẫp dẫn của khách du lịch quốc tế. Bảng thốngkê dƣới đây cho ta thấy số lƣợng khách du lịch trong 9 tháng của năm 2007. kh¸ch quèc tÕ ®Õn viÖt nam 9 th¸ng n¨m 2007 Th¸ng Th¸ng Th¸ng 9 Céng dån 9 th¸ng 9/2007 9/2007 9 th¸ng so víi n¨m so víi ®Çu n¨m 2007 ®Çu cïng kú n¨m 2007 n¨m 2007 th¸ng 8 so víi cïng tríc (Lît n¨m 2007 (Lît kh¸ch) (%) kú n¨m tríc (%) kh¸ch) (%) Tæng 100.6 132.0 118 sè 358,000 3,171,763I. Chia theo ph¬ng tiÖn®Õn: 1. §êng kh«ng 2,475,540 101.3 131.5 126Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 32. 279,733 2. §êng biÓn 98.6 118.3 95 21,565 168,923 3. §êng bé 97.9 141.1 96 56,702 527,300II. Chia theo môc ®ÝchchuyÕn ®i: 1. Du lÞch,nghØ ng¬i 100.9 140.4 128 221,096 1,969,208 2. §i c«ngviÖc 99.4 102.5 114 57,893 481,388 3. Th¨m th©nnh©n 103.9 156.6 104 48,961 455,697 4. C¸c môc®Ých kh¸c 95.4 115.8 91 30,050 265,470III. Chia theo mét sèthÞ trêng chñ yÕu1. Trung quèc 98.0 123.8 100 49,080 422,9572. Hång K«ng 99.7 201.3 138 628 4,3073. §µi Loan 100.6 137.6 118 30,153 243,7414. NhËt 107.1 82.8 110 34,802 304,5995. Hµn Quèc 94.4 116.6 121 37,257 372,6816. Campuchia 93.7 170.9 91 10,900 116,6287. Indonesia 100.4 102.3 111 1,881 17,2928. Lµo 103.9 90.0 84 2,767 23,8659. Malaysia 99.0 133.4 157 12,374 109,24810. Philippin 95.4 125.8 114 2,728 23,92611. Singapore 97.4 124.3 130 11,001 95,326Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 33. 12. Th¸i Lan 99.9 161.7 137 13,602 120,86713. Mü 105.1 141.4 111 32,889 323,75814. Canada 105.2 218.3 131 7,595 72,08315. Ph¸p 102.4 233.1 147 17,681 141,21916. Anh 102.5 172.7 130 9,748 79,80917. §øc 104.8 182.5 130 7,649 71,77518. Thuþ sÜ 101.3 170.7 129 1,671 15,47719. Italy 82.0 203.6 151 2,133 16,67420. Hµ Lan 102.2 188.9 147 3,934 27,54321. Thuþ ®iÓn 130.5 145.6 126 1,155 16,84222. §an M¹ch 95.4 133.0 114 1,470 15,73823. PhÇn Lan 92.2 86.1 106 220 4,44924. BØ 114.5 211.5 140 1,790 14,18525. Na uy 112.7 193.9 89 888 8,77726. Nga 103.5 131.0 157 2,879 33,05127. T©y Ban Nha 71.6 159.9 132 3,852 20,22028. óc 101.4 125.6 133 17,618 166,60129. Niudil©n 97.4 120.6 142 1,661 14,792Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 34. 30. C¸c thÞ tr-êng kh¸c 105.9 152.2 124 34,888 262,914 Nguån: Tæng côc Thèng kªTrong đó 15 nƣớc có lƣợng khách vào Việt Nam lớn nhất gồm: 15 THÞ TR¦êNG DÉN §ÇU VÒ kh¸ch quèc tÕ ®Õn viÖt nam (XÕp theo n¨m 2007) §¬ N¨m 2000 N¨m 2001 N¨m 2002 N¨m 2003 N¨m 2004 N¨ Tæng sè 1,734,025 1,881,797 2,147,832 2,006,641 2,485,519 2,91. Trung 626,476 672,846 724,385 693,423 778,431Quèc 7172. Hµn 53,452 75,167 105,060 130,076 232,995Quèc 3253. NhËt 152,755 204,860 279,769 209,730 267,210 3384. Mü 208,642 230,470 259,967 218,928 272,473 3305. §µi 212,370 200,061 211,072 207,866 256,906Loan 2746. óc 68,162 84,085 96,624 93,292 128,661 1487. Ph¸p 86,492 99,700 111,546 86,791 104,025 1338. Th¸i 26,366 31,789 40,999 40,123 53,682Lan 86,9. 20,378 26,265 46,086 48,662 55,717Malaysia 80,10. 124,557 76,620 69,538 84,256 90,838Campuchia 19811. 29,100 32,110 35,261 36,870 50,942Singgapore 82,Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 35. 12. Anh 56,355 64,673 69,682 63,348 71,016 82,13. §øc 32,058 39,096 46,327 44,609 56,561 69,14. Canada 30,845 35,963 43,552 40,063 53,813 63,15. Nga 6,017 8,092 7,964 8,604 12,249 24,Nguån: Tæng côc Thèng kªĐến tháng 4/ 2008 chúng ta đã đón 1,96 triệu lƣợt khách nƣớc ngoài tăng116,1% so với cùng kỳ của năm 2007.Dự kiến con số này còn cao hơn nữatrong những tháng tiếp theo của năm 2008. Điều đó chứng tỏ du lịch ViệtNam đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Cùng với sức hấp dẫn của ngôi sao đang lên, du khách nƣớc ngoài lựachọn Việt nam vì đây còn là điểm đến thân thiện có bề dày lịch sử mấynghìn năm cùng với truyền thống văn hoá, đa dạng và phong phú. Nhƣ vậydu lịch giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đã đƣợc khẳng định mộtcách sâu sắc hơn bao giờ hết Khôi phục, lƣu truyền và giữ gìn các giá trị văn hoá truyền thống củadân tộc. Đặc tính của khách du lịch là sau mỗi chuyến du lịch, khi trở về nơicƣ trú họ thƣờng kể lại cho bạn bè, ngƣời thân nghe những gì họ đã thulƣợm đƣợc trong chuyến du lịch. Một phần không nhỏ trong câu chuyện làvề bản sắc văn hoá, truyền thống và tính cách của con ngƣời nơi mà họ đãtham quan du lịch. Cứ tính theo một cách suy diễn thông thƣờng nếu du lịchđảm nhận tốt vai trò của mình trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoátruyền thống thì ảnh hƣởng đó sẽ đƣợc nhân lên 5,6 lần và có thể là nhiềuhơn thế trong cộng đồng, trong xã hội. Nhờ có du lịch mà giá trị văn hoá,Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 36. truyền thống không bị mai một hoặc mất dần đi mà ngƣợc lại các truyềnthống đó luôn đƣợc ghi nhớ trong lòng du khách từ các thế hệ này đến thế hệkhác. Cũng có khi những giá trị văn hoá truyền thống đã bị lãng quên theothời gian nhƣng du lịch lại góp phần khôi phục lại những truyền thống đóbằng cách dựng lại những hình ảnh, những biểu tƣợng hoặc sự kiện có liênquan để phục vụ cho sự khám phá, thích tìm hiểu của du khách. Du lịch tạo ra nguồn kinh phí để tu bổ các giá trị văn hoá vật thể. Dulịch đƣợc xác định là một ngành công nghiệp không khói, một ngành kinh tếmũi nhọn của đất nƣớc. Trong tƣơng lai đây là ngành có nhiều tiềm năng vàtriển vọng. Nguồn thu từ du lịch tƣơng đối lớn nó góp phần cân đối ngânsách và đóng góp hang tỷ đồng cho đất nƣớc. Một phần ngân sách thu đƣợctừ du lịch đƣợc trích ra để tạo nguồn kinh phí tu bổ các giá trị văn hoá vậtthể nhƣ: công trình kiến trúc, đình chùa miếu, lăng tẩm,… Sự tôn tạo nàynhằm khôi phục lại những gì đã xuống cấp của các di sản văn hoá. Điều nàythể hiện tƣơng đối rõ vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giátrị văn hoá truyền thống của dân tộc.Phát triển du lịch đồng nghĩa với việc khẳng định, tôn vinh giá trị văn hoátruyền thống. Mỗi điểm du lịch đều ẩn chứa trong mình những giá trị vănhoá sâu sắc, những truyền thống độc đáo của dân tộc . Ngay cả phong cáchlối sống của cƣ dân tại điểm cũng thể hiện điều đó. Khi du khách đi du lịchsẽ đƣợc thẩm thấu các giá trị văn hoá đó qua nhiều cách khác nhau nhƣ tựkhám phá cảm nhận, hay qua sự truyền đạt giàu cảm xúc rung động lòngngƣời từ hƣớng dẫn viên du lịch. Hoặc cũng có thể từ những thông tin đãđƣợc cung cấp tại điểm du lịch. Vậy có thể thấy du lịch có vai trò quan trọngtrong việc truyền đạt và lƣu giữ giá trị văn hoá truyền thống trong lòng dukhách từ thế hệ này đến thế hệ khác. Nó tạo nên một sức sống trƣờng tồncủa văn hoá truyền thống .Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 37. Du lịch bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống nhƣ một tàinguyên quý giá. Vì văn hoá truyền thống còn đƣợc coi là nguồn tài nguyênđể phát triển du lịch. Muốn phát triển du lịch một cách bền vững thì nhấtđịnh phải dựa trên cơ sở bảo tồn và phát huy chính nguồn tài nguyên quýgiá này. Du lịch coi văn hoá truyền thống của dân tộc nhƣ một điểm mạnh,một sự độc đáo và làm nên sự khác biệt của du lịch nƣớc ta với các nƣớckhác. Cho nên ngành du lịch đã nghiên cứu về giá trị văn hoá của nứơc ta.Sự nghiên cứu này tạo nên sự hiểu biết về văn hoá dân tộc hay có những tácphẩm về văn hoá du lịch hay du lịch văn hoá từ đó mà ra đời. Các tác phẩmnày giống nhƣ một kho tang quý giá giúp cho các thế hệ đời sau hiểu hơn vềvăn hoá của 54 dân tộc anh em.Du khách đi du lịch đồng nghĩa với việc kích thích tiêu thụ các sản phẩm,dịch vụ trong đó có các sản phẩm văn hoá gồm cả sản phẩm văn hoá vật thểvà phi vật thể. Ví dụ : khi du khách đến thăm làng nghề họ sẽ muốn muanhững sản phẩm do các nghệ nhân tạo ra, hay đơn giản hơn họ đi du lịch chỉđể thƣởng thức một món ăn truyền thống nổi tiếng. Đây cũng là hình thức kếthừa và phát huy giá trị văn hoá dân tộc .Du lịch còn giống nhƣ một sợi dây liên kết vô hình gắn chặt các quốc giakhu vực với nhau. Khi du khách đi du lịch tạo ra sự giao lƣu giữa các vùngmiền với nhau. Đây cũng là cơ hội cho những nhà nghiên cứu, những ngƣờilàm du lịch hay bất cứ ai ai đổi các kinh nghiệm bảo tồn và phát triển vănhoá. Từ đó có những phƣơng pháp tối ƣu nhất để bảo tồn và phát triển giátrị văn hoá truyền thống của dân tộc ta. Để có nhận thức tổng quát về vai trò của du lịch trong việc bảo tồn vàphát huy giá trị văn hoá truyền thống chúng ta sẽ đi sâu xem xét vai trò củadu lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể và phi vật thểqua ví dụ điển hình sau:Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 38. 2.1. Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá vật thể Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, Việt Nam đƣợc biết đến là một vùngđất còn lƣu giữ nhiều di tích lịch sử, văn hoá và cách mạng có giá trị. Giá trịđặc biệt quan trọng bởi giúp tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử dân tộc, tập quáncác làng xã, để các thế hệ hôm nay và mai sau có thêm hiểu biết về cộinguồn dân tộc, truyền thống quê hƣơng.Trong đó làng quê Kinh Bắc- một vùng truyền thống, nơi quần tụ bao đời,cái nôi văn hoá của cả nƣớc, nơi có truyền thống khoa bảng, lƣu giữ nhữnghuyền thoại đẹp với bao di tích và lễ hội dân gian - một điểm du lịch hấpdẫn, đựơc coi là một ví dụ điển hình của việc phát triển du lịch gắn liền vớibảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống. Chính vì thế trong phầnnày sinh viên đã chọn Bắc Ninh để phân tích, tìm hiểu vai trò của du lịchtrong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống trên địa bàn tỉnhvà mang những nét chung của ca đất nƣớc. Theo ông Nguyễn Duy Nhất, PGĐ ban quản lý di tích Bắc Ninh thì toàntỉnh hiện có 1259 di tích thuộc các loại hình: di tích lịch sử - văn hoá, di tíchkiến trúc nghệ thuật, và di tích cách mạng. Trong đó nhiều nhất vẫn là đình,đền và chùa. Có thể kể đến những chùa nhƣ Chùa Dâu, Phật tích…là nhữngdi sản văn hoá tiêu biểu của quê hƣơng Kinh Bắc và dân tộc. Đây là cácchứng tích vật chất xác thực, phản ánh sinh động về lịch sử lâu đời và truyềnthống văn hiến – cách mạng của nhân dân Bắc Ninh nói riêng cũng nhƣ cảnƣớc nói chung.- Chùa Dâu: Chùa Dâu đƣợc bộ văn hoá thông tin đƣa vào danh mục 38 ditích quốc gia đặc biệt. Cùng với việc xác định giá trị lịch sử văn hoá của ditích, lập bản đồ đất đai va khoanh vùng bảo vệ di tích, ngăn chặn xâm hại ditích, trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn di tích cũng đƣợc quy định một cách rõràng.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 39. Chắc hẳn câu ca dao cổ:Dù ai đi đâu về đâuHễ trông thấy tháp Chùa Dâu thì vềDù ai buôn bán trăm nghềNhớ ngày mồng tám thì về hội DâuĐã đi sâu vào tâm trí mỗi du khách nhƣ một lời nhắc nhở, một lời mời gọi vềthăm lại chùa Dâu. Miền Dâu, liên lâu hoặc luy lâu - huyện Thuận Thànhngày nay nằm gần trung tâm châu thổ Bắc Bộ. Khi đến thăm chùa Dâu dukhách sẽ đƣợc hiểu thêm về Luy Lâu đó là một trong 3 trung tâm Phật giáolớn trong đế chế Trung Hoa là luy lâu, Lạc Dƣơng và Bành Thành. Hơn nƣamiền Dâu sớm trở thành một trung tâm thƣơng mại sầm uất mang tầm cỡquốc tế. Nơi đây là chốn đô hội, thủ phủ của quận Giao Chỉ và Châu Giao,trung tâm giao lƣu kinh tế, văn hoá, tín ngƣỡng, tôn giáo của nƣớc ta nhữngthế kỷ sau công nguyên với các nƣớc trong vùng. Trung tâm Phật giáo Dâuđƣợc hình thành trong bối cảnh đó.Đồng thời khách du lịch cũng đƣợc cung cấp những thông tin về chùa Dâunhƣ chùa xƣa có tên chữ là “Cổ Châu Tự”, “Thiền Địch Tự”, và ngày nay là“Diên ứng tự”. Tên Phổ biến vẫn đƣợc gọi là chùa Pháp Vân theo tên VịPhật đƣợc thờ ở chùa, còn Chùa Dâu là theo tên địa phƣơng. Đây là ngôichùa có lịch sử hình thành và phát triển cổ nhất trong số các chùa còn lại ởnƣớc ta hiện nay. Đƣợc xây dựng vào thế kỷ VI sau công nguyên gắn liềnvới lịch sử du nhập đạo phật vào vùng Dâu. Chùa đƣợc coi là trung tâm phậtgiáo của vùng Dâu. Tại chùa Dâu có một cây tháp lớn có chân hình vuông. Dân gian truyềnrằng tháp này do Mạc Đĩnh Chi xây dựng lại, cao chín tầng. Mặc dù mặttháp không có trang trí hoa văn nhƣng giá trị kiến trúc mỹ thuật đƣợc thểChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 40. hiện ở hình khối, màu gạch và mạch vữa, có mối quan hệ với kiến trúc. Chùatháp của Ấn Độ trong buổi đầu dựng chùa tháp Hoà Phong là một biểutƣợng thể hiện sự giao thoa văn hoá và tín ngƣỡng bản địa giữa ngƣời ViệtNam và Ấn Độ. Du khách còn đƣợc thƣởng thức những tác phẩm có giá trị nghệ thuậtthẩm mỹ cao nhƣ: nan can bậc cửa trƣớc của tháp chạm thành khối lƣợngtròn, mỗi bên có một con sóc nằm phủ phục theo dáng bò từ trên xuống. Đâylà sản phẩm của thời Trần. Hay tấm bia ghi lại việc xây dựng tháp, con cừuđá dài 1,33m cao 0,88m. Tƣợng cừu đƣợc tạo bằng đá sa thạch biến chấtnằm gọn trong khối chữ nhật, rừng cong, tai dài, có râu chải thẳng xuống,miệng ngậm, mũi bẹt, mũi ti hí. Hình tƣợng nghệ thuật này rất hiếm trongnghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Từ nghệ thuật điêu khắc cho đến chất liệucủa tƣợng đã thể hiện sự giao thoa văn hoá giữa Việt Nam, Ấn Độ và TrungHoa mang dấu ấn của lịch sử phát triển vùng Dâu và thành cổ luy lâu. Ngoài ra còn nhiều tác phẩm đẹp của các nghệ sỹ trong thời Trần cònlƣu lại đến ngày nay. Cánh gà ngoài cửa giữa cột cái và cột hiên có mảngván thời nhà Trần chạm dây hoa, còn lại đều là của thời Lê thuộc nửa cuốithế kỷ XVII với hình rồng ổ mẹ con đùa giỡn nhau, đây là hình tƣợng nghệthuật mang đầy chất dân gian. Bên trong thƣợng điện là những tƣợng phật đadạng, phong phú và đặc sắc chỉ có ở chùa Dâu, thể hiện sự giao thoa, hộinhập văn hoá giữa tôn giáo ngoại lai là phật giáo với tín ngƣỡng thờ các vịthần thiên nhiên là thần Mây, Mƣa, Sấm, Chớp. Tuy nhiên truyền thuyếtmang đầy màu sắc huyền thoại những vị thần này trong tín ngƣỡng của cƣdân trồng lúa nƣớc vùng nhiệt đới Bắc Bộ Việt Nam đã chuyển thành PhậtTử Pháp. Đó cũng là khát vọng bao đời của ngƣời nông dân mong sao chomƣa thuận gió hoà để nền nông nghiệp vốn phụ thuộc rất lớn vào thiên nhiêncó thế sinh sôi nảy nở.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 41. Chùa Dâu là ngôi chùa có lịch sử cổ nhất nƣớc ta hiện nay, một viênngọc quý vô giá minh chứng phật giáo du nhập lớn từ những đầu thế kỷcông nguyên vào nƣớc ta. Chùa Dâu còn là nơi giao thoa, hội nhập giữa vănhoá tín ngƣỡng Việt Nam với văn hoá tín ngƣỡng, kiến trúc phật giáo từ ẤnĐộ. Nơi đây còn lƣu giữ nhiều giá trị kiến trúc nghệ thuật cổ kính vô giá,nhiều cổ vật có giá trị là những tƣ liệu quý hấp dẫn du khách tham quannghiên cứu. Đến với chùa Dâu dù chỉ một lần du khách sẽ cảm nhận đƣợc bề dàyvăn hoá của vùng Dâu đƣợc ghi dấu ấn rõ nét trong từng thớ gỗ, từng chi tiếtkiến trúc ở đây. Vì vậy chùa Dâu đƣợc coi là một tài nguyên du lịch vô giá.Cũng chính nhờ du lịch mà kiến trúc độc đáo này đƣợc thẩm thấu và truyềnđạt ở mức độ cao nhất. hàng năm, chùa Dâu đón hàng ngàn lƣợt du kháchđến thăm. để khi trở về họ ghi đậm dấu ấn của chùa Dâu trong lòng cứ nhƣvậy những giá trị này đƣợc khẳng định và không bị mai một theo thời gian.mặt khác chùa còn đƣợc trùng tu nhiều lần nhằm bảo vệ, phát huy giá trị lịchsử văn hoá theo hƣớng phát triển du lịch văn hoá nhằm phục vụ khách thămquan du lịch. Trong đó việc phát triển du lịch tạo ra một nguồn kinh phíđáng kể trong việc trùng tu tôn tạo di tích lịch sử văn hoá này. Nguồn thu đócó thể từ tấm long hảo tâm của du khách thập phƣơng qua việc góp côngđức, nguồn thu đó cũng có thể thu đƣợc từ các dịch vụ tại điểm du lịch. Mặtkhác để phục vụ cho việc phát triển du lịch, ban quản lý di tích đã có nhiềuphƣơng pháp quản lý nhằm bảo tồn khôi phục và phát triển di sản văn hoávật thể quý giá này. Điều này có ý nghĩa trong việc chống xuống cấp làmmai một di sản. Vậy với việc bảo tồn, khôi phục và phát triển di tích chùaDâu du lịch đóng vai trò quan trọng. Chùa bút tháp: chùa có tên là “Linh khúc thiên tự cách chùa Dâu 3 km.Tên chùa mới có từ nửa sau thế kỷ XIX do vua Tự Đức khi thấy cây thápChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 42. của chùa giống nhƣ bút đang đề thơ nên trời. Chùa có kiến trúc hoà nhập vớimôi trƣờng tự nhiên bao quanh. Đây cũng là nơi có những trung tâm Phậtgiáo suốt từ đầu công nguyên đến đầu thời tự chủ. Chùa Búp Tháp là một ngôi chùa độc đáo, có bộ cục gọn gàng, chặt chẽvà rất sinh động. Việc xây dựng dựa vào các vật liệu bền chắc và đã kế thừanhững nét truyền thống dân tộc từ thời đại Lý, Trần trƣớc đó. Các đơnnguyên kiến trúc đƣợc bố trí cân xứng, chặt chẽ ở khu trung tâm nhƣng lại tựnhiên ở khu vực xung quanh. Cụm kiến trúc trung tâm ở chùa Bút Tháp baogồm 9 đơn nguyên chạy song hàng, bố trí đăng đối trên một đƣờng “linhđạo” lối bố trí đăng đối theo trục chính và phƣơng pháp về xử lý các khốikiến trúc của công trình đã tạo nên vẻ thâm nghiêm, u tịch và thanh thoátcho cảnh chùa Mở đầu là tam quan ba gian, hai mái, tƣờng hồi, bít dốc. Gác chuônghai tầng tám mái, nền vuông, một gian hai dĩ, tám hoa. Toàn khối kiến trúcnhƣ một bông sen khổng lồ, độc đáo và hấp dẫn. Trong chùa còn có nhiềukiểu kiến trúc lạ và đẹp mắt tạo sự thanh thoát, bay bổng. Các tháp chính ởvòng ngoài tuân thủ triệt để nguyên tắc đăng đối: phía sau chùa là tháp TônĐức nằm trên đƣờng trục, bằng đá ghép, bình diện vuông, năm tầng là điểmcuối đƣa nhịp điệu kiến trúc hoà vào sự bay bổng lên không khung, hai bêncó hai tháp đá khác cùng hàng ngang nhƣng nhỏ hơn. Hai bên sƣờn chùa, từgiữa hồi nhà Trung kéo ra, bên trái có tháp đá Bảo Nghiêm, bình diện bátgiác đây là điểm cao nhất để tôn xƣng hòa thƣợng mở đầu cho hệ thống tổchùa ở đây. Trong kiến trúc cũng nhƣ trang trí ở chùa Bút Tháp, ta không thể khôngnói đến các yếu tố của hai nền văn hoá Việt – Hàn. Tuy nhiên các yếu tố nàyđã đƣợc việt hoá một cách tài tình. Khiến chúng hoà nhập nhuần nhuyễn vớivăn hoá Việt, tạo một phong cách độc đáo của chùa Bút tháp.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 43. Chùa Bút Tháp còn có một hệ thống tƣợng tròn rất đặc sắc so với ngôichùa khác. Có ba loại chính: Tƣợng Phật giáo, tƣợng chân dung và tƣợngthờ màu. Trong đó tƣợng Phật giáo có nhiều loại: tƣợng Phật, tƣợng các vịBồ Tát, tƣợng Hộ Pháp, tƣợng các vị La Hán… Có những pho rất quý, nổitiếng, độc nhất vô nhị và đƣợc coi là khuôn mẫu của tƣợng Phật giáo ViệtNam. Nổi trội hơn cả là tác phẩm Phật Bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay.Tƣợng chân dung ở chùa Bút Tháp rất đáng đƣợc quan tâm gồm tƣợng tổchức và tƣợng hậu Phật. Tƣợng hậu Phật thực sự nở rộ vào thế kỷ XVII vàđiển hình là chua Bút Tháp. Trang trí ở chùa Bút Tháp hết sức nổi bật trên hai loại chất liệu là gỗ vàđá đƣợc thể hiện nhiều trên các chi tiết kiến trúc cũng nhƣ trên đồ thờ. Trêncác chi tiết kiến trúc gỗ, các mảng chạm mang thuần phong cách truyềnthống việt, những con rồng của thời Lê Trung Hƣng có hiện đại vào khoảnggiữa và cuối thế kỷ XVII đƣợc chạm rất tinh xảo. Có thể nói ông cha ta đã thổi hồn vào ngôi chùa Búp Tháp qua các thờikỳ từ lúc dựng chùa tới các lần trùng tu sau này. Đến thăm chùa Bút Tháp tađƣợc cảm nhận tinh thần từ bi hỉ xả của đạo Phật, để thƣởng thức những tácphẩm điêu khắc kiến trúc, để hiểu thêm về phong cách nghệ thuật một thờivà để cảm nhận niềm tự hào về tài nghệ của cha ông. Khi du khách đến thamquan đồng nghĩa với việc khẳng định giá trị lớn lao của kiến trúc, nghệ thuật,văn hóa, tôn giáo tại đây. Hàng năm, chùa Bút Tháp đón hàng ngàn lƣợt dukhách trong và ngoài nƣớc đến thăm. Đây còn là một con số đáng tự hào vìkhẳng định giá trị văn hóa truyền thống của nƣớc ta luôn là tài nguyên dulịch hấp dẫn. Đồng thời mỗi du khách đến thăm chùa đƣợc cảm nhận về giátrị, và vẻ đẹp độc đáo của chùa thì càng thêm tự hào về đất nƣớc và conngƣời Việt Nam. Điều này có ý nghĩa giáo dục lớn lao đối với ý thức bảo vệvà phát huy giá trị văn hóa truyền thống của mỗi ngƣời. Du lịch cũng tạo raChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 44. nguồn kinh phí đóng góp cho chùa Bút Tháp trùng tu và khôi phục nhữnggiá trị kiến trúc đã bị mai một. Việc phát triển du lịch cùng giúp cho banquản lý và phát huy cụm di tích để phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Nhắc đến Bắc Ninh ta không thể không nhắc đến Từ Sơn, nơi khởinguồn của nhà Lý, một triều đại phong kiến thịnh vƣợng vào bậc nhất củanƣớc ta. Nơi đây đƣợc coi là một vùng văn hóa cổ của ngƣời Kinh Bắc, nơicó nhiều di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng đƣợc công nhận. Hiện nay Từ Sơnquản lý 66 di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, để phục vụ nhu cầuvăn hóa của ngƣời dân cũng nhƣ khách du lịch. Trải qua những thăng trầm,biến cố lịch sử, sự thay đổi của nền kinh tế, nhƣng nhiều làng cổ của huyệnTừ Sơn vẫn giữ đƣợc nét văn hóa riêng, đặc trƣng của vùng Kinh Bắc cổxƣa. Trong đó đình Đình Bảng và Đền Đô nhƣ những chứng tích lịch sử vàtrở thành điểm du lịch hấp dẫn của Bắc Ninh nói riêng và của cả nƣớc nóichung. Tại đây vai trò bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống củadu lịch đƣợc thể hiện rõ nét.- Đình Đình Bảng: Đình Đình Bảng của Bắc Ninh đã trở lên quen thuộc với mỗi ngƣờitrong câu ca dao:Hỡi cô thắt lƣng bao xanhCó về Đình Bảng với anh thì vềĐình Bảng là tên làng và tên xã nay thuộc huyện Tiên Sơn, huyện lƣu giữngôi đình nổi tiếng là Đình Bảng công trình kiến trúc này đƣợc xây dựngnăm Bính Thìn triều Lê, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ II (1736). Đƣợc dựng trênmột khu đất không cao lắm, truyền rằng có một con nhện khổng lồ ở trungtâm làng. Đây là một công trình kiến trúc tuyệt xảo, giàu tính dân tộc, nghệthuật chạm khắc trang trí điêu luyện.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 45. đình Đình Bảng trông về hƣớng Nam, nguyên trƣớc đây có cả tam quan, tảvu và hữu vu. Nhƣng những kiến trúc đó đã bị phá hoại hoàn toàn trong thờigian kháng chiến chống thực dân pháp. Nay đình chỉ còn lại tòa bái đƣờng,ống muống và hậu cung nối liền với nhau tạo thành một khối chữ “công”.Trong quá trình lịch sử từ ngày dựng đình tại khu vực Đình Bảng chƣa cóbiến cố nào gây tác hại thay đổi ngôi Đình, những thành phần kiến trúc vàlối cấu trúc vẫn đƣợc giữ nguyên, nên đình Đình Bảng có thể đƣợc xem nhƣmột tài liệu gốc để tìm hiểu nghệ thuật kiến trúc thế kỷ XVIII.Khi đến thăm đình Đình Bảng du khách còn đƣợc thƣởng thức công trìnhquan trọng nhất về nghệ thuật cũng nhƣ về kiến trúc chính là toà Bái Đƣờng.Toà này dƣợc xây dựng trên một nền cao hai bậc, cạp đá xanh xung quanhrất bề thế và vững chắc.Bốn mái Đình xoè rộng ra bốn phía tránh nắng hắt, mƣa xiên. Các toà máiuốn cong nhẹ nhàng, duỗi ra cho đến đoạn chót thì cong vút lên, bắt gặp độcong của tòa mái lên, tạo thành đầu đao nhƣ cánh của một bông sen.Hai đầu dốc mái có nắp riềm và vỉ ruồi trang trí mây, hoa, lá bằng kỹ thuậtchạm thủng tỉ mỉ và công phu. Hình ảnh độc đáo của kiến trúc dân tộc đƣợcthể hiện rõ nét. Không thể đem ngôi đình đồ sộ này so sánh với hình ảnh nhàsàn trống đồng Đông Sơn, nhƣng ta vẫn thấy sự đồng nhất rất rõ giữa haimẫu hình ấy. Nhƣ vậy đình Đình Bảng là sự nối tiếp, kế thừa của một truyềnthống kiến trúc đƣợc xác lập từ buổi đầu dựng nƣớc.Không chỉ là công trình mang tính khoa học cao đình Đình Bảng còn là mộttác phẩm nghệ thuật trang trí kiến trúc nổi tiếng. Ván nong gạch vòng xungquanh toà Bái Đƣờng nhƣ một vòng hoa nghệ thuật, làm cho kiến trúc bềthế mà duyên dáng, chúng nối tiếp nhau chạy vòng quanh đình đƣợc chạmnổi hồi văn nền gấm chữ “ vạn”. Chốt bẩy là những con rồng mình nhỏnhắn, hai chân nắm hai sợi râu mép, dáng hình ngộ nghĩnh nét mặt nhƣChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 46. cƣời, 28 con rồng là 28 hình ảnh sinh động, đa dạng. Trên tám đầu bẩytrƣớc còn đặt thêm tám đầu rồng, nghê để đỡ mái cũng là tác phẩm điêukhắc không đồng bản, mang một ấn tƣợng đẹp từ bên ngoài. Trong lòng đìnhlà tất cả những tinh hoa của nghệ thuật chạm khắc nửa đầu thế kỷ XVIII.Khi bƣớc vào bái đình ta sẽ chiêm ngƣỡng ngay bức cửa võng lớn ở cungngoài thuộc gian giữa, phủ kín một diện rộng. Màu váng son choáng lộngcủa cửa vọng làm rực lên cả gian đình. Đề tài trang trí là các đồ án chữtriện, chữ công, hoa, lá, và các con vật trong bộ tứ quý. Nhìn toàn thể thấycó phần rƣờm rà,nhƣng vẫn chặt chẽ, tƣơi mát, các chi tiết có rậm, nhƣngkhông rối , càng nhìn càng cảm thấy say mê tài của các nghệ nhân trang trí.Không thể không nhắc đến hai tác phẩm tƣợng tròn, tạc hai con nghê gỗ ởđầu dƣ của xà hạ. Đôi ghê không nằm mà ngồi xổm, chống thẳng hai chântrƣớc nhƣ hai trục đỡ vững chắc.Trông tƣ thế trang nghiêm mà không cứngnhắc, lại rất sôi động. Đây là những tác phẩm quý có giá trị văn hoá cao.Suốt hai trăm năm từ khi xây dựng cho đến nay, đình Đình Bảng đã đi vàođời sống tình cảm của nhân dân địa phƣơng và một vùng xứ Bắc, làng cũquê xƣa:“ Thứ nhất là đình Đông KhangThứ nhì Đình Bảng, vẻ vang đinh Diềm.”Trong hệ thống tài nguyên hữu thể của Bắc Ninh, nổi trội lên là đình ĐìnhBảng vì những giá trị đặc sắc bậc nhất về kiến trúc, cũng nhƣ nghệ thuậttrang trí của nó. Đây vừa là một tài sản kiến trúc vô giá cần đƣợc quan tâm,bảo tồn và giữ gìn. Đây vừa là một điểm du lịch nổi tiếng của Bắc Ninhcũng nhƣ của cả nƣớc. Hàng năm điểm du lịch đình Đình Bảng đón hàngtrăm, hàng nghìn ngƣời tham quan và con số đó ngày càng tăng . Việc dulịch phát triển đã tác động lớn đến môi trƣờng, không gian văn hoá, kinh tế,Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 47. đời sống của nhân dân trong vùng. Đồng thời trong đó du lịch cũng thểhiện đƣợc vai trò bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống. Chính vìđình Đình Bảng là tài nguyên văn hoá và cũng là tài nguyên du lịch nênnhững giá trị kiến trúc độc đáo này đƣợc giữ gìn một cách cận thận nhằmlƣu lại một nền văn hoá một thời cũng nhƣ phục vụ điều kiện tham quan.Điều này có tác động đến các ban quản lý di tích nhằm bảo tồn và phát huygiá trị văn hoá truyền thống có hiệu quả để phục vụ du lịch . Hơn nữa khi dulịch phát triển những giá trị kiến trúc nghệ thuật, hay những tác phẩm quýgiá của đình Đình Bảng đã đƣợc khai thác sử dụng, điều này khẳng định giátrị của văn hoá truyền thống nƣớc ta. Nó không bị quên lãng mà luôn luôntrở thành một kho tàng kiến thức cho du khách tìm hiểu, khai thác. Sự pháttriển du lịch tạo ra sự giao lƣu văn hoá tuy nhiên những giá trị văn hoátruyền thống không bị mai một làm mất bản sắc riêng của vùng mà nó luônđƣợc bảo tồn và phát huy hơn nữa trong tƣơng lai.Vậy du lịch có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị vănhoá truyền thống.Ngoài chùa Dâu, chùa Phật Tích, đình Đình Bảng, Bắc Ninh còn đƣợc biếtđến với đền Đình Diềm, đền Bà Chúa Kho, Văn Miếu Bắc Ninh,…Với hệthống các di tích lịch sử văn hoá này, du lịch đều thể hiện đƣợc một cách rõnét vai trò bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc.Ngày nay, khách quốc tế tới Việt Nam ngày càng đông (đến 4/2008 chúngta đã đón 1,69 triệu lƣợt khách ƣớc tính con số này còn tiếp tục tăng trongcác tháng tiếp theo ) và mức chi trả cho hoạt động du lịch của họ tại ViệtNam ngày tăng, đã phản ánh đƣợc rằng Việt Nam có du lịch hấp dẫn, đápứng đƣợc nhu cầu của du khách. Phần lớn khách quốc tế tới nƣớc ta đều chorằng họ đi du lịch là để khám phá, khám phá những nét độc đáo của bản sắcdân tộc Việt Nam, khám phá những điều kỳ diệu của các danh thắng mà chỉChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 48. ở Việt Nam mới có để từ đó họ hiểu hơn về đất nƣớc và con ngƣời ViệtNam. Tất cả điều đó có lẽ du khách sẽ tìm thấy đƣợc khi họ có nhữngchuyến tham quan thực tế tại các di sản, cả ở di sản thế giới cũng nhƣ di sảnở Bắc Ninh. Điều đó khẳng định vai trò của các di sản đối với sự phát triểncủa du lịch nƣớc ta. Cũng nhƣ vai trò của du lịch đối với việc bảo tồn vàphát huy các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc qua hệ thống văn hoávật thể, mà tiêu biểu là các di tích lịch sử, di sản văn hoá nơi kết tinh mồ hôivà xƣơng máu, trí tuệ và tình cảm, bàn tay tài khéo léo và óc sáng tạo…củacác thế hệ dân làng trong thời kỳ lịch sử lao động sản xuất, chiến đấu nhằmxây dựng và bảo vệ quê hƣơng đất nƣớc.Du lịch làng nghề: trong xu thế hội nhập và mở cửa nhƣ hiện nay, làng nghềtruyền thống đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinhtê, văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc. Những làng nghề này nhƣ mộthình ảnh đầy bản sắc, khẳng định nét riêng độc đáo không thể thay thế,mộtcách giới thiệu sinh động về đất nƣớc và con ngƣời của mỗi vùng, miền, địaphƣơng. Phát triển du lịch chính là một hƣớng đi đúng đắn và phù hợp, đƣợcnhiều quốc gia ƣu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch.Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thể hiệnở những con số tăng trƣởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn laođộng địa phƣơng mà hơn thế còn là một cách thức giữ gìn và bảo tồn nhữnggiá trị văn hoá truyền của dân tộc. Đó là những lợi ích lâu dài để phát triểndu lịch bền vững.Việt Nam là một quốc gia có bề dầy truyền thống lịch , là đất nƣớc có rấtnhiều làng nghề truyền thống độc đáo.Điểm đặc trƣng của làng nghề ViệtNam chính là sự gắn bó, tồn tại song song với lịch sử dân tộc. Các làng nghềra đời dựa trên các nền văn hoá, văn minh của dân tộc. Các làng nghề tậptrung chủ yếu ở khu vực đồng bằng phía Bắc, đƣợc phân chia thành cácChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 49. nhóm khác nhau. Theo phó giáo sƣ, tiến sĩ Phạm Trung Lƣơng – viện phóviện nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam, làng nghề là một nét đặc thùcủa Việt Nam với sự kết hợp độc đáo cùng các lễ hội, phong tục, tập quáncác vùng, miền. Hiện cả nƣớc có 1500 làng nghề thủ công, trong đó có 300làng nghề truyền thống với hơn 150 năm tồn tại và phát triển. Chính vì vậyViệt Nam là nƣớc có tiềm năng rất lớn về việc khai thác và phát triển hìnhthức du lịch làng nghề. Hiện nay du lịch làng nghề đang là hình thức ngàycàng hấp dẫn du khách, là một ƣu tiên trong phát triển du lịch Việt Nambởi những giá trị to lớn mà nó mang lại. Tại Việt Nam có rất nhiều làngnghề truyền thống trong đó Bắc Ninh đƣợc biết đến là một vùng quê nổitiếng cò nhiều làng nghề truyền thống nhƣ: làng Mái ( làng Tranh Đông Hồ),làng Đồng Kỵ,… là những nơi tiêu biểu cho việc phát triển làng nghề ViệtNam.Du khách trong nƣớc và quốc tế ngày càng ƣa chuộng những tour du lịchlàng nghề truyền thống nói trên với mong muốn đƣợc chiêm ngƣỡng nhữngtác phẩm thủ công độc đáo đƣợc làm ra dƣới bàn tay tài hoa của những nhànghệ nhân, và đƣợc thấy trong đó cả một chiều dài lịch sử – văn hoá lâu bền.Việc phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống giúp khách có đƣợcnhững điều kiện để học hỏi về sản phẩm, hiểu rõ về quy trình sản xuất. Điềunày giáo dục ý thức của cộng đồng và du khách trong việc bảo tồn các giá trịvăn hoá truyền thống. Điều đó tạo ra sự tham gia tự nguyện của cả cộngđồng,đó chính là chìa khoá làm nên sự thành công trong bảo tồn làng nghềtruyền thống cũng nhƣ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thốngcủa cả dân tộc ta.Bảo tồn làng nghề truyền thống giờ đây đã là mối quan tâm chung của cảquốc gia. Theo phó giáo sƣ, tiến sĩ Phạm Trung Lƣơng với kinh nghiệm hiệnnay của Việt Nam, du lịc tại các làng nghề đã có sự sóng đôi trong cácChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 50. phƣơng án và sáng kiến bảo tồn các giá trị văn hoá. Sự phát triển du lịch ởcác làng nghề đã hƣớng tới phát triển bền vững theo xu hƣớng bảo tồn vàphát huy văn hoá truyền thống, chính vì vậy năm 2004 dự án nghiên cứukhả thi về phát triển du lịch liên quan đến làng nghề thủ công dọc hành langĐông – Tây đã đƣợc đề xuất và đƣợc thông qua. Viện nghiên cứu Châu Ácũng đã tiến hành nghiên cứu, có sự hợp tác tổ chức chƣơng trình hội thảodu lịch làng nghề tại Việt Nam. Những nghiên cứu này có giá trị lớn vớiViệt Nam để có các phƣơng pháp phát triển du lịch mà có thể bảo tồn giátrị văn hoá Việt Nam.Các giải pháp phát triển du lịch làng nghề nhằm đạt đƣợc mục đích bảo tồnvà phát huy giá trị văn hoá cần phải có sự đồng thuận thực hiện đƣợc nhiềuphía, từ trung ƣơng đến địa phƣơng, phát huy cả nguồn lực trong nƣớc vàquốc tế. Việc phát triển du lịch đã lôi kéo đƣợc nhiều bên và nhiều tổ chứctham gia cùng bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống Việt Nam.Bàn về bảo tồn và giữ gìn các làng nghề truyền thống có một số ý kiến chorằng: nghề thủ công đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế đất nƣớc,kết hợp đƣợc các yếu tố truyền thống và hiện đại, phát triển kinh tế,pháttriển du lịch với bảo tồn phát huy văn hoá truyền thống dân tộc. Sự đa dạngvề văn hoá đƣợc phản ánh qua các sản phẩm thủ công truyền thống. Việcphát triển du lịch tại các làng nghề đã thực hiện hàngloạt biện pháp, áp dụngcác sáng kiến, để phát triển làng nghề thủ công tạo ra sản phẩm cung cấp chokhách du lịch. Đây cũng là cách thức hữu hiệu để bảo tồn và giữ gìn làngnghề truyền thống.Việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá thông qua phát triển du lịch cáclàng nghề truyền thống đã trở thành mối quan tâm của cả quốc gia dân tộc.Đặc biệt với Bắn Ninh nơi có các sản phẩm thủ công của làng nghề đa dạng,độc đáo đã trở thành một đối tƣợng tài nguyên du lịch có giá trị, đƣợc khaiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 51. thác để phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu tìm hiểu văn hoá, tham quan du lịchcủa du khách, mang lại lợi ích kinh tế cho địa phƣơng và đất nƣớc, gópphần tôn vinh , bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Hiện tại ở BắcNinh du lịch làng nghề đã có những bƣớc phát triển nhất định. Nhiều làngnghề đã đƣợc khôi phục và phát triển, gắn kết làng nghề truyền thống vớiphát triển du lịch.Du lịch tại các làng nghề giúp cho các làng nghề tiêu thụ đƣợc nhiều sảnphẩm, kích thích sản xuất sản phẩm và làm đa dạng hoá các sản phẩm dulịch, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống, tăng cƣờng khả năng lựachọn của du khách với sản phẩm du lịch của Việt Nam, tăng cƣờng khảnăng xây dựng các sản phẩm du lịch có tính khác biệt lớn giữa các điểm đếntrong tour, tăng cƣờng mức độ hấp dẫn và ấn tƣợng với du khách, thoả mãnnhu cầu của du khách, đặc biệt là khách du lịch quốc tế, muốn tìm hiểu vềvăn hoá làng, xã, gắn liền với nó là những sản phẩm thủ công truyền thốngcủa làng nghề mang tính độc đáo, nghệ thuật cao.+ Làng tranh Đông Hồ:“ Hỡi cô thắt lƣng bao xanhCó về làng Mái với anh thì vềLàng Mái có lịch có lềCó ao tắm mát, có nghề làm tranh”( ca dao)Làng Mái là làng Đông Hồ – quê hƣơng của dòng tranh Đông Hồ nổi tiếng,nằm cạnh sông Đuống. Vì đƣợc khai sinh từ một mảnh đất có nền tảng vănhoá và truyền thống thủ công nên Đông Hồ đã sớm nổi lên nhƣ một điểmsáng văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần đáng tự hào của miền quê KinhBắc. Trong khi các dòng tranh nhƣ tranh Hàng Trống, tranh làng Sình, tranhKim Hoàng, bị hiện đại hoá, thất truyền đến nay hầu nhƣ không còn nữa thìChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 52. tranh Đông Hồ đến nay vẫn đƣợc duy trì và đứng vững, thu hút sự quan tâmcủa du khách, đặc biệt là khách quốc tê. Ngày nay có thể xem Đông Hồ nhƣmột trung tâm sản xuất tranh dân gian nổi tiếng nhất Việt Nam. Tuy nhiêntranh Đông Hồ không còn hƣng thịnh nhƣ xƣa. Trƣớc đây hầu hết các giađình trong làng đều làm tranh nhƣng bây giờ chỉ còn lại ba hộ: ông NguyễnĐăng Chế, ông Nguyễn Hữu Sam và ông Trần Nhật Tấn. Nhƣng dẫu sao tavẫn tự hào rằng nghề làm tranh Đông Hồ vẫn tồn tại, và không những thếsản phẩm của nó còn có mặt ở nhiều nơi trên thế giới nhƣ: Nhật Bản,Singapo, Đức, Hoa Kỳ,…Khi đến thăm làng tranh Đông Hồ du khách du khách đƣợc cung cấp thôngtin về kỹ thuật làm tranh khắc gỗ dân gian của làng Đông Hồ phải trải quacác quy trình nhƣ: Sáng tác mẫu tranh: đây là khâu quan trọng nhất, từ chọn nội dung đến hình thức. Vì vậy nghệ nhân phải có một trình độ hiểu biết nhất định, có óc sáng tạo và tình cảm sâu đậm. Để vẽ mẫu hoàn hảo thì phải tốn hàng tháng và qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung. Các mẫu tranh sau khi đã đƣợc bổ sung thƣờng đƣợc vẽ bằng mực nho lên giâý mỏng để khi dán sấp lên mặt gỗ, nét vẽ thấm vào mặt sau tờ giấy, nhờ đó ngƣời thợ mới khắc đƣợc lên bề măt gỗ. Khắc ván: trƣớc tiên phải chọn ván in, chất liệu đƣợc làm từ thiên nhiên, từ các loại cỏ cây gần gũi với đời thƣờng vì thế nó tạo nên một nét độc đáo cho riêng dòng tranh này. In tranh: là giai đoạn phức tạp nhất, gồm nhiều khâu khác nhau nhƣ: bối điệp, nhuộm giấy, in và tô màu và thƣờng đƣợc làm khi thời tiết khô ráo.Ngoài ra những nội dung và giá trị nghệ thuật của tranh Đông Hồ cũng đƣợcdu khách cảm nhận một cách sâu sắc. Khi nhìn ngắm những bức tranhChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 53. ĐôngHồ du khách có cảm giác đƣợc trở về với cuộc sống thôn dã củanhững ngƣời nông dân Việt Nam. Nội dung tranh rất phong phú và đa dạng,tất cả đều đƣợc bắt nguồn từ phong tục tập quán, từ những sự kiện lịch sử,từ nếp sống sinh hoạt thƣờng ngày của ngƣời mà nên, ví dụ có những bứctranh có đề tài lấy từ truyện cổ tích, ca ngợi tình nghĩa thuỷ chung, thảohiền, trừng trị gian ác, nhƣ tranh Sơn Tinh – Thuỷ Tinh,Thạch Sanh ,Kiều,…Tranh về đề tài lịch sử, ca ngợi những vị anh hùng dân tộc nhƣ tranh: BàTrƣng, Bà Triệu,…Tranh phản ánh nguyện vọng, ƣớc mơ của nhân dân lao động về cuộc sốngấm no, hạnh phúc nhƣ tranh: Hứng Dừa, Đánh Ghen, Đánh Vật,…Loại tranh khắc gỗ Đông Hồ không chỉ hấp dẫn ở nội dung tƣ tƣởng mà cònthoả mãn yêu cầu thẩm mỹ của ngƣời xem. Chính vì cái đẹp ấy đã làm nósống mãi. Dù nhu cầu thẩm mỹ xã hội đã thay đổi nội dung tranh luôn luônkế thừa và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tạo nên nét đẹp củadân tộc Việt Nam.Đặc biệt khi cuộc sống đƣợc nâng cao, nhu cầu du kháchtăng thì làng tranh Đông Hồ còn trở thành một điểm du lịch hấp dẫn. Đếnthăm làng tranh Đông Hồ du khách không chỉ cảm nhận trực tiếp vẻ đẹp củanhững tác phẩm làng nghề thủ công mà còn hiểu đƣợc vẻ đẹp của con ngƣờilàng Mái.Mặt khác khi đến nơi đây họ còn muốn mua những bức tranh đólàm quà kỷ niệm. Điều nàyđã kích thích tiêu thụ sản phẩm nơi đây. Giúp choviệc sản xuất đƣợc đảm bảo diễn ra thƣờng xuyên và phát triển rộng khắp.Điều này có vai trò quan trọng trong viêc duy trì và phát huy sự tồn tại củalàng tranh Đông Hồ.Với làng nghề Đồng Kỵ ( Từ Sơn) – một làng nghề truyền thống, chuyênlàm các đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu và tiêu thụ trong nƣớc. Những nét chạmtrổ nổi tiếng bao đời nay, vẫn đƣợc thể hiện trên các sản phẩm tinh xảo, theoChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 54. phong cách cổ. Phát huy thế mạnh của làng nghề truyền thống, Đồng Kỵ đãtrở thành vùng quê trù phú. Du khách đến đây có thể lựa chọn nhiều mặthàng nhƣ: vải may quần, áo, đồ dùng học tập…Tóm lại du lịch có vai trò to lớn và đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn,phát huy các giá trị văn hoá truyền thống nhƣ đã đƣợc phân tích đối với vănhoá vật thể của nƣớc ta trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Còn đối với văn hoá phivật thể vai trò của du lịch đƣợc thể hiện trong việc bảo tồn và phát huy giátrị văn hoá truyền thống nhƣ sau:2.2.2 Vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoátruyền thống phi vật thể:Là một đất nƣớc đƣợc biết đến có nền văn hoá đa dạng và phong phú,không chỉ ở hệ thống giá trị văn hoá vật thể mà còn ở những nét đẹp tronggiá trị văn hoá phi vật thể, tiêu biểu là các lễ hội, âm nhạc, ẩm thực, phongtục, tập quán… - Lễ hội ở Việt Nam là một loại hình sinh hoạt văn hoá tổng hợp hết sức đa dạng, phong phú và độc đáo. Sự kết hợp giữa lễ hội và di tích lích sử – văn hoá đã tạo nên sự hấp dẫn kỳ diệu đối với du khách, giúp khai thác tốt hơn các loại hình du lịch này.Có thể nói, di tích lích sử văn hoá chính là những công trình, hiện vật, dấutích,… tồn tài dƣới dạng vật chất trong khi đó lễ hội là những giá trị tinhthần , là cái hồn nhằm chuyển tải những nét đẹp truyền thống đến muôn đờisau. Việc lƣu giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộcqua các hìnhthức du lịch và phát triển cho phù hợp với thời đại mới là vô cùng quantrọng và cần thiết. Đây đƣợc xem là thế mạnh của du lịch Việt Nam so vớicác nƣớc trong khu vực Đông Nam Á .Không chỉ có nƣớc ta mà hầu nhƣ cácnƣớc trên thế giới đều có lễ hội. ở mỗi nơi, lễ hội có hình thức và nội dungkhác nhau, về ý nghĩa màu sắc và tình cảm… Nhƣng tất cả đều có một cáiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 55. chung: đó là hoạt động văn hoá mang tính nhân loại. Lễ hội có hai mảng yếutố cấu thành : lễ gồm những nghi thức nghi lễ, cách ứng xử của con ngƣời vàcộng đồng ngƣời đối với tiền thân, thần linh ; hội là những hoạt động vuichơi, thể thao,văn hoá, về tính chất nội dung: lễ hội thƣờng mang màu sắctôn giáo và lễ hội gắn liền với các tập tục sinh hoạt sản xuất, những sự kiệnlịch sử. Đối với Việt Nam lễ hội dành vị trí trung tâm của sự ngƣỡng vọngcho con ngƣời . Một đặc điểm của lễ hội Việt Nam là thời gian tổ chức hầunhƣ quanh năm và những giá trị truyền thống văn hoá Vịêt Nam ít tính chấtthần bí, giầu tính nhân bản. Hầu hết các lễ hội đều gắn liền với một thầnlinh, có thể là ngƣời thƣờng đƣợc thiêng liêng hoá. Đó chính là những nhânvật lịch sử có công với đất nƣớc. Ngoài lễ hội gắn với các danh nhân lịchsử, sự độc đáo lễ hội Việt Nam còn thể hiện ở các lễ hội gắn liền với nềnvăn minh lúa nƣớc. Đó là lễ hội liên quan đến nghề nông, biểu hiện tâm tƣtình cảm đối với các vị thần, đối với trời đất đã ban cho con ngƣời nguồnsống vô tận, thể hiện niềm khát khao có những vụ bội thu, ca ngợi cái đẹpcủa cuộc sống và lao động. Hiện tại chúng ta có những lễ hội lớn tầm cỡquốc gia nhƣ: hội Đền Hùng, hội Chùa Hƣơng, hội Lim, … và hàng nghìnlễ hội khu vực khác.Ngày nay khi du lịch phát triển, đặc biệt du lịch văn hoá ngày càng thu hútđông đảo sự quan tâm của du khách thì việc khai thác và tổ chức tốt các lễhội truyền thống của dân tộc là điều kiện giúp cho ngành du lịch tăng sựphong phú của các chƣơng trình du lịch. Đồng thời du lịch cũng tạo sự giaolƣu văn hoá, tìm hiểu văn hoá của các dân tộc và việc giới thiệu cho dukhách các lễ hội truyền thống của Việt Nam sẽ làm tăng thêm cho nhân dânthế giới sự hiểu biết về dân tộc Việt Nam, qua đó tăng cƣờng tình đoàn kếthữu nghị, tăng cƣờng các mối quan hệ. Vì vậy, vai trò bảo tồn và phát huygiá trị văn hoá truyền thống của dân tộc đƣợc thể hiện một cách rõ nét.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 56. Ngoài ra khi du khách tham gia vào các lễ hội cùng ngƣời dân địa phƣơngđã làm cho quy mô của lễ hội đƣợc mở rộng lớn hơn,sự sôi động và nộidung của lễ hội cũng phong phú hơn. Điều này giúp cho các lễ hội ngàycàng phát triển rộng hơn và đƣợc duy trì thƣờng xuyên tuy nhiên nó vẫn kếthừa và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.Bắc Ninh nơi vốn đƣợc coi là làng quê cổ kính của Việt Nam thì các hoạtđộng văn hoá, nghệ thuật với các nội dung hấp dẫn đƣợc tổ chức thƣờngxuyên. Nơi đây đã sản sinh cho Việt Nam rất nhiều thuần phong mỹ tục. Hệthống lễ hội và ca hát là nét đẹp tiêu biểu của vùng đất này. Trong đó hộiLim đƣợc coi là một lễ hội lớn và gây đƣợc ấn tƣợng sâu đậm trong lòng dukhách. Đây là một sinh hoạt văn hoá nghệ thuật đặc sắc của nền văn hoátruyền thống lâu đời ở miền Bắc. Hội Lim diễn ra trên mảnh đất Nội Duệ.Vào ngày 11 tháng giêng ( âm lịch) tại thị trấn Lim đã xuất hiện nhiều dukhách nam thanh, nữ tú từ phƣơng xa tới, các nhà trọ , khách sạn đã trật kínchỗ. Họ tới đây sớm để tham dự hôị Lim với đầy đủ các nghi lễ linh thiêng.Không gian lễ hội lấy đồi Lim làm trung tâm và diễn ra tại ba địa phƣơngbao quanh đó là xã Nội Duệ, Liên Bão, và thị trấn Lim với nhiều hoạt độngcủa cả phần lễ và phần hội. Tại khu vực trung tâm lễ hội, dựng chín bứctrƣớng ở phần lăng tƣớng quân Nguyễn Đình Diễn phục vụ việc tế lễ. Từngày 10 tháng giêng (âm lịch), tất cả các đình, đền, chùa trên địa bàn ba địaphƣơng nêu trên đều mở cửa phục vụ việc tế lễ dâng hƣơng. Ngày 13 thánggiêng – chính hội sẽ đƣợc tổ chức rƣớc từ Nội Duệ về đồi Lim và lễ dânghƣơng, tế lễ ở lăng Hồng Vân và chùa Hồng Ân. Phía trƣớc trƣớc chùa HồngÂn dựng sân khấu trung tâm và bốn lán Quan họ. Các trò vui dân gian sẽđƣợc mở rộng thật hấp dẫn và đặc sắc trên đồi Lim nhƣ: vật, cờ ngƣời, dệtcửi, chọi gà, tổ tôm điếm, đu tiên, đập niêu, bịt mắt bắt dê …Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 57. Đặc biệt khi du khách đến với hội Lim còn đƣợc quấn hút và say mê hơn cảvẫn là các loại hình sinh hoạt văn hoá Quan họ – loại hình dân ca đã trởthành tài sản văn hoá chung của cả dân tộc. Các liền anh, khăn xếp, áo the,liền chị áo mớ ba, mớ bẩy, nón thúng quai thao đã sẵn sàng đến hẹn lại lên,gặp gỡ, đón tiếp nhau thân tình, nồng hậu,tinh tế và lịch lãm theo lề lối củangƣời Quan họ. Bằng những lời ca đối đáp diễn ra trong nhà, trên sân đình,trƣớc cửa chùa hay bồng bềnh trên những chiếc thuyền thúng giữa ao, hồ-dấu tích xƣa của dòng Tiêu Tƣơng đã một thời vang vọng tiếng hát TrƣơgChi làm say đắm nàng Mỵ Nƣơng xinh đẹp. Hát Quan họ thƣờng đƣợc tổchức từ ngày 12 tháng giêng tại Lim, cửa đình , cửa chùa Lũng Giang, LũngSơn, Duệ Đông (thị trấn Lim), Đình Cả, Lô Bao, Duệ Khánh ( Nội Duệ) ,Hoài Thƣợng, Hoài Trung, Hoài Thị ( Liên Bão). Để thoả mãn những dukhách sành sỏi quan họ, thích một không khí đầm ấm gia đình, hát đối đápQuan họ cũng sẽ đƣợc tổ chức tại các gia đình nghệ nhân ở Lũng Giang,Lũng Sơn, Duệ Đông ( thị trấn Lim). Tại những địa điểm trên đồi Lim, haytrên thuyền , trong nhà du khách sẽ đƣợc thƣởng thức hàng trăm làn điệu dânca,quan họ thể hiện trong lối chơi đối đáp đạt tới trình độ nghệ thuật cao vàlà sự hội tụ tuyệt vời của thơ ca, nhạc hoạ nhằm bày tỏ tình yêu trai gáimiền Quan họ với đầy đủ trạng thái, cung bậc trong mối giao cảm giữa namvà nữ giữa con ngƣời với vạn vật, thể hiện khát vọng vƣơn tới cuộc sống vớisự thuỷ chung làm giá trị cao cả và lâu bền nhất. Điều này đƣợc phản ánhtrong câu ca:“ Hôm nay sum họp trúc maiTình chung một khắc nghĩa dài trăm năm”Hội Lim chính là nơi trúc mai sum họp tƣơng phùng, tƣơng ngộ. Bên cạnhnhững khuôn mặt chị Hai, anh Ba,thợ cấy,thợ cày đi trẩy hội còn có cả sựgóp mặt của du khách thập phƣơng.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 58. Vậy có thể nói hội Lim mang đậm bản sắc văn hoá Việt trên vùng đất KinhBắc – là một trong những vùng đất tiêu biểu của cội nguồn văn hoá dân tộc,đáp ứng đƣợc tình cảm, sự mến mộ của du khách thập phƣơng. Khi đó nó cótác dụng kích thích du lịch phát triển. Và du lịch lại có sự tác động trở lại vớihội Lim. Nhờ có du lịch mà những câu ca, điệu hát, những phong tục,tậpquán của ngƣời dân Kinh Bắc đƣợc mọi ngƣời biết đến cùng nâng niu và gìngiữ. Du lịch khai thác và sử dụng yếu tố truyền thống trong hội Lim nhƣ mộttài nguyên, vậy nên du lịch có những phƣơng pháp bảo tồn phát triển chínhnguồn tài nguyên đó để hƣớng tới phát triển du lịch bền vững. Các nhà quảnlý và những nhà nghiên cứu đã tìm ra biện pháp để bảo tồn giá trị văn hoáquý giá này làm cho hội Lim sẽ sống mãi với thời gian và mang đậm nétriêng của dân tộc Việt Nam. - Âm nhạc: nƣớc ta có truyền thống lâu đời về âm nhạc. Ngay từ thời cổ xƣa cƣ dân Việt Nam đã rất say mê với âm nhạc. Đối với họ âm nhạc là một nhu cầu không thể thiếu. Bởi vậy trong quá trình phát triển lịch sử, ngƣời Việt Nam đã sáng tạo ra rất nhiều nhạc cụ và các thể loại ca nhạc để bộc lộ tâm tƣ tình cảm, để có thêm sự phấn chấn và sức mạnh trong lao động, trong chiến đấu, để giáo dục con cháu truyền thống của cha ông,đạo lý làm ngƣời, để giao tiếp với thế giới thần linh, để bay lên những ƣớc mơ về cuộc sống tƣơng lai tƣơi đẹp, hạnh phúc trong hiện tại và tƣơng lai. Trải qua bao thiên biến ngày nay Việt Nam còn lƣu giữ một kho nhạc khí đủ loại từ những dạng đơn sơ nhất cho đến những dạng có sự phát triển cao với kỹ thuật diễn tấu tinh tế. Chúng ta đang sống và làm việc trong thời kỳ đổi mới, giao lƣu văn hoá đã tạo điều kiện cho văn hoá phƣơng Tây, trong đó có âm nhạc, nghệ thuật, xâm nhập vào Việt Nam. Trong khi mở cửa, hoà nhập với thế nhập với thế giới bên ngoài chúng ta hết sức coi trọng vốn vănChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 59. hoá dân tộc. Chất liệu quan trọng để tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc. Bên cạnh những loại hình tạm coi là hiện đại nhƣ phim, sân khấu opera, nhạc giao hƣởng,… luôn song hành tồn tại các loại sân khấu chèo, tuồng, cải lƣơng, dân ca,… Đối với khách nƣớc ngoài sức hấp dẫn của chƣơng trình tham quan không phải vị họ đƣợc thƣởng thức các loại hình nghệ thuật phƣơng tây ở Việt Nam. Các loại hình nghệ thuật truyền thống là đối tƣợng mà họ hƣớng tới để khám phá thƣởng thức. Đặc biệt quan họ – một loại dân ca đăc sắc của vung đất Kinh Bắc. Dân ca Quan họ nổi tiếng không chỉ là ở những lời ca trữ tình, nồng nàn yêu cuộc sống và tình yêu lứa đôi trai gái hoặc với 200 làn điệu âm nhạc đặc sắc mà còn do những đặc điểm khác hiếm thấy ở dân ca nơi khác.Đến với Quan họ Bắc Ninh là đến với lời ca, tiếng hát trữ tình dịu dàng,đằm thăm, làm say lòng ngƣời. Hình thức đối đáp giao duyên giữa nam vànữ trong quan họ gắn bó chặt chẽ với đời sống kinh tế – xã hội của cộngđồng ngƣời Việt và trở thành đặc trƣng văn hoá của cƣ dân vùng châu thổBắc Bộ. Điều này lý giải tại sao Quan họ lại nằm trong danh sách đề nghịUNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại.Bắc Ninh có 44 làng Quan họ gốc, đến nay còn gần 30 làng duy trì đƣợc lốichơi văn hoá Quan họ. Trƣớc đây mỗi làng Quan họ có thể có nhiều bọnquan họ nam hoặc nữ, môĩ bọn có chừng năm đến sáu ngƣời. Ngƣời đứngđầu đƣợc gọi là anh Cả hay chị Cả, thƣờng là những ngƣời có tuổi, giữ vaitrò tổ chức chỉ đạo,liên hệ với những Quan họ bạn, giữ gìn tiếp xúc chođúng thủ tục. Sau anh Cả có các anh Hai, Ba,… sau chị cả là các chị Hai,Ba,…Những tên này đƣợc đặt theo thứ tự thời gian nhập bọn trƣơc hoặc sau.Văn hoá Quan họ là kết quả của sự suy ngẫm, sáng tạo không biết mệt mỏicủa ngƣời dân. Bằng những lời ca mộc mạc, chân thành nhƣng thấm đẫmChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 60. tình ngƣời, họ có thể nói với chính mình, với bạn bè về những ƣớc mơ, khátvọng, những tâm trạng buồn, vui, yêu ghét, nhở thƣơng:“ Ngƣời ơi, ngƣời ở đừng vêNgƣời về em những khóc thâmĐôi bên vạt áo ƣớt đầm nhƣ mƣa”Ngày nay khi du lịch phát triển, khách du lịch muốn nghe và thƣởng thứcnhững lời ca, làn điệu Quan họ của ngƣời dân Kinh Bắc. Điều này đã kéotheo sự phát triển của Quan họ, Quan họ sẽ ngày càng hoàn chỉnh cả vềphƣơng diện âm nhạc, lời ca và hình thức trình diễn. Âm thanh Quan họ giàulàn điệu, mỗi làn điệu đã đạt tới trình độ ca khúc hoàn chỉnh, có phong cáchriêng. Mỗi bài hát theo từng làn điệu đều có lời thơ chữ tình , âm hƣởngngọt ngào, giai điệu nhẹ nhàng, ấm áp tình ngƣời. Có thể nói về mặt sángtạo, nghệ thuật dân ca Quan họ đƣợc coi là đỉnh cao nghệ thuật thí ca, xứngđáng tôn vinh và giữ gìn. Việc phát triển du lịch tại Bắc Ninh có vai trò tolớn trong việc khôi phục các giá trị văn hoá truyền thống. Đồng thời du lịchcũng giống nhƣ một kênh, một biện pháp để quảng bá giá trị văn hoá Quanhọ tới nhân dân cả nƣớc và thế giới. Giúp cho văn hoá Quan họ có đƣợc vịtrí xứng đáng trong đời sống của ngƣời dân Việt Nam cũng nhƣ toàn cầu. - Ẩm thực : với sự phát triển của du lịch trên thế giới và nhu cầu giao lƣu hội nhập, ẩm thực đã trở thành một ngành đƣợc các nhà chuyên môn nghiên cứu. Đó là “ văn hoá ẩm thực”, “ nghệ thuật ẩm thực”,… Sự giao lƣu đã làm cho một số nền văn hoá ẩm thực nổi tiếng có một số loại thức ăn , đồ uống là đặc sản của một vùng, một quốc gia, có loại thuộc về những món ăn truyền thống. Mặc dù có sự giao lƣu nhƣng những thói quen, tập quán trong ẩm thực của mỗi dân tộc rất khó thay đổi. Có thể nói nguyên nhân chính là ẩm thực đã gắn liền với điều kiện tự nhiên về sản xuất lƣơng thực,thực phẩm và thói quen đóChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 61. đã “thấm sâu vào máu” của dân tộc. Ăn uống là nhu cầu lịch sử tự nhiên của con ngƣời trong ba nhu cầu cơ bản: ăn, mặc , ở. Từ ngàn xƣa con ngƣời đã chú ý tới cách chế biến món ăn và cách ăn. Cách ăn ở đây không phải đơn giản là ăn nhƣ thế nào, ăn bằng gì, mà trong đó chứa đựng nhiều yếu tố kể cả văn hoá. Chẳng hạn nhƣ nghệ thuật nấu nƣớng,chọn lựa những ẩm thực bổ dƣỡng có tác dụng chữa bệnh. Nghệ thuật trang trí món ăn, quan hệ ứng xử của thành viên trong gia đình trong bữa ăn, lễ nghi đón tiếp khách trong bữa ăn … chẳng thế mà ông cha đã dạy “học ăn, học nói” hoặc “ ăn trông nồi ngồi trông hƣớng”. Tất cả những yếu tố đó đƣợc lƣu truyền, bổ sung, nâng cao qua các thời đại và trở thành văn hoá ẩm thực của dân tộc.Việt Nam với các món ăn truyền thống nhƣ bánh Chƣng, bánh Dày, có mónnổi tiếng đặc trƣng của một vùng nhƣ: Chả Cá Lã Vọng, Nem Sài Gòn, bánhcuốn Thanh Trì,bánh phu thê Bắc Ninh,… Đó là một kho tàng quý giá đểthoả mãn nhu cầu thƣởng thức nghệ thuật ẩm thực dân tộc của du khách trênthế giới.Khám phá cái lạ trong món ăn truyền thống của dân tộc không chỉ để thƣởngthức vị ngon của nó mà còn giúp du khách hiểu biết thêm lịch sử dân tộc,hay hiểu biết thêm về triết lý của dân tộc Việt, hiểu về tình yêu thiên nhiênđất nƣớc và lòng tôn kính công lao của cha ông.Để bảo tồn và phát huy các món ăn dân tộc truyền thống, nhiều hoạt độngquảng bá các món ăn Việt Nam đã đƣợc thực hiện. Năm 1996 tổng cục dulịch đã tổ chức hội thi nấu ăn toàn quốc với mục đích khuyến khích cácdoanh nghiệp phát huy khả năng chuyên môn về chế biến các món ăn dântộc. Sài Gòn Tourist tổ chức “tuần lễ món ăn Việt Nam”.Năm 2000, hƣởngứng chƣơng trình du lịch “ Việt Nam điểm hẹn của thiên niên kỷ mới”,cáccông ty du lịch khắp ba miền Bắc – Trung – Nam đã tổ chức tuần lễ , thángChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 62. món ăn Việt Nam để giới thiệu cho du khách trong và ngoài nƣớc. Kháchsạn Continental tổ chức “ tháng món ăn Việt Nam” công ty du lịch Huế tổchức Festival Huế, công ty du lịch Quảng Ninh tổ chức “ Hạ LongFestival”… Những hoạt động vừa kết hợp các lễ hội truyền thống vừa trìnhdiễn cho du khách nghệ thuật ẩm thực truyền thống dân tộc.Với bánh Phu Thê- một đặc sản của vùng quê Đình Bảng, một nét đặc trƣngcủa nền văn hoá Kinh Bắc. Ai chƣa đƣợc ăn thì bị hấp dẫn bởi cai tên, còn aiđã từng đƣợc thƣởng thức thì không thể quên đƣợc hƣơng vị độc đáo của nó.Bánh Phu Thê đã có mặt ở làng quê Bắc Ninh từ rất lâu rồi. Đây là một loạibánh sang trọng dùng trong những dịp lễ tết, cƣới hỏi hay dùng làm quàbiếu. Theo chân khách hành hƣơng bánh Phu Thê đã đi khắp trong namngoài bắc, và từng xuất ngoại qua nhiều nƣớc. Một số ngƣời Hàn Quốc saukhi đƣợc mời ăn loại bánh này đã mua hẳn một vali bánh về làm quà. Bánhđƣợc gói bằng lá dong giản dị, rồi luộc lên, bánh Phu Thê không khoe mui ,toả hƣơng nhƣ bánh rán, bánh Khúc, chỉ tới khi bóc bánh đặt lên đĩa nó mớigây nên sự ngỡ ngàng. Dƣới lớp vỏ bánh sắc vàng trong suốt rắc lấm tấmnhững hạt vừng đen , nhân bánh hiện ra. Ngoài đỗ xanh đãi sạch vỏ đã đƣợchấp chín đánh tơi. ngƣời ta còn cho thêm đƣờng trắng cùi dừa, hạt sen, vàcác hƣơng ngũ vị. Tất cả nhƣ biểu tƣợng cho sự hoà hợp của đất trời và conngƣời . Lá gói bánh cũng là lá dong gói bánh Chƣng nhƣng phải lựa chọncẩn thận hơn, sau khi rửa sạch lá để ráo nƣớc ngƣời ta phải tƣớc bớt cộngđể khi gói bánh đƣợc mềm mại. Lá lót trong phải là lá chuối tây dẻo luộcchín hong khô chứ không đƣợc dùng lá chuối tiêu. Ngƣời ta còn quét lên lámột lớp mỡ để khi bóc bánh không bị dính, lại làm cho bánh có độ ngậy đặctrƣng.Bánh Phu Thê ngày càng đƣợc nhiều ngƣời ƣa thích. Du lịch đã góp phầnđáng kể trong việc tuyên truyền giới thiệu bánh Phu Thê đến mọi ngƣờiChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 63. dân Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới. Điều này giúp cho bánh Phu Thê cũngnhƣ nhiều món ăn Việt Nam hay văn hoá ẩm thực Việt Nam có chỗ đứngtrên nền văn hoá ẩm thực thế giới. Nhiều nhà hàng, khách sạn đã đƣa bánhphu thê vào thực đơn để nhằm thoả mãn nhu cầu của du khách cũng nhƣ sựkhơi dậy niềm ham thích tìm hiểu văn hoá ẩm thực Việt Nam. Đó là nhữnghoạt động thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy văn hoá ẩm thực truyềnthống Việt Nam.Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị để phát huy vai trò của du lịchtrong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống.3.1 Một số giải pháp để phát huy vai trò của du lịch trong việc bảo tồn vàphát huy giá trị văn hoá truyền thống:Sự phát triển của du lịch có những tác động nhất định tới nền văn hoátruyền thống của dân tộc. Bên cạnh những tác động tích cực nó còn làm chonền văn hoá truyền thống có những biến đổi nhƣ: bào mòn và ảnh hƣởngbởi lối sống hiện đại của du khách …Cho nên để phát huy tối đa vai trò củadu lịch trong việc bảo tồn văn hoá truyền thống cần có những giải pháp sau: - Phát triển du lịch cần đi đôi với nhận thức đúng đắn và có sự phối hợp chặt chẽ giữa những ngƣời làm kinh doanh du lịch và các cấp đảng uỷ, chính quyền các ngành và các tổ chức xã hội và cộng đồng dân cƣ làng xã với mỗi ngƣời dân trong mọi hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Đồng thời để bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống tại mỗi vùng địa phƣơng cần phải xác định phát triển du lịch một cách có nguyên tắc và có những giải pháp cụ thể để bảo tồn những giá trị này . - Phát triển du lịch dựa trên sự gắn bó mật thiết giữa du lịch và giá trị văn hoá truyền thống dân tộc. Từ đó có những biện pháp khai thác hợp lý, khi khai thác phải phát huy đƣợc giá trị văn hoá truyền thốngChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 64. dân tộc, nghĩa là phải xác định vai trò quan trọng của du lịch trong việc bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống. Đôi khi phát triển du lịch nhƣng mục tiêu kinh tế không đƣợc đặt lên hàng đầu. - Tổ choc tất cả các hoạt động du lịch văn hoá theo mô hình hợp lý, kích thích tiêu thụ sản phẩm văn hoá qua đó vừa trực tiếp phục vụ nâng cao đời mọi mặt của dân làng, vừa đƣa tới sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động du lịch dịch vụ. Trong đó xu hƣớng gắn văn hoá với phát triển du lịch cần xử lý hài hoà lợi ích của các thành phần cộng đồng dân cƣ làng , xã nơi khai thác các giá trị văn hoá truyền thống. Và cũng nhờ phƣơng thức đó mà các nguồn lực xã hội đƣợc huy động tối đa cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống, đƣa văn hoá trở thành một nhịp cầu giao lƣu và hội nhập quốc tế - Tổ chức các cuộc hội thảo, nghiên cứu các bài tham luận của các chuyên gia Việt Nam và nứơc ngoài về quản lý bảo tồn di sản và các giá trị văn hoá trong xu hƣớng phát triển mạnh mẽ các loại hình du lịch ở Việt Nam, các vấn đề nhƣ quy hoạch, định hƣớng phát triển du lịch tại các khu vực có giá trị văn hoá phong phú và đa dạng. Xác định mức độ cần thiết của việc bảo tồn tôn tạo và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống. Bên cạnh công tác bảo tồn , gìn giữ giá trị của nền văn hoá truyền thống thì hoạt động xúc tiến quảng bá đƣợc đánh giá là hết sức quan trọng, đặc biệt các chƣơng trình quảng bá, xúc tiến tại nƣớc ngoài. Qua đó tôn vinh những giá trị ƣu tú trong văn hoá các dân tộc Việt Nam - Mặc dù còn là một ngành kinh tế mới nhƣng với những đặc trƣng của mình , du lịch có thể tạo ra sức bật lớn, lan toả nhanh. Để phát huy hết vai trò của ngành du lịch thì du lịch Việt Nam cần có chiến lƣợc cụChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 65. thể hơn, căn bản hơn, trƣớc hết từ công tác đào tạo con ngƣời, và quy hoạch cơ sở hạ tầng theo hƣớng coi du lịch là một kênh quan trọng trong việc bảo tồn giá trị văn hoá dân tộc và nâng cao vị thế đất nƣớc. Với việc lƣu giữ những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc qua hình thức du lịch và phát triển phù hợp với thời đại mới là vô cùng quan trọng. - Xây dựng một hành lang pháp lý thuận lợi cho phát triển du lịch nhƣng vẫn đảm bảo việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy và làm giàu bản sắc văn hoá dân tộc. Tránh tình trạng khai thác bừa bãi, thiếu tôn trọng truyền thống văn hoá dẫn đến sự biến dạng lai tạp, mất bản sắc dân tộc. - Ngành du lịch nên có những hình thức tái đầu tƣ trở lại hoặc hỗ trợ các địa chỉ và hoạt động văn hoá truyền thống hàng năm từ doanh thu ngành du lịch và bằng tài trợ trực tiếp để bảo vệ tôn tạo, chống xuống cấp một số di tích văn hoá. - Tổ chức các lễ hội dân gian, các lớp tập huấn truyền nghề từ các nghệ nhân cao tuổi cho đến các lớp trẻ tạo nên sự hiểu biết sâu sắc về giá trị văn hoá truyền thống trong tất cả các tầng lớp xã hội. - Tăng cƣờng công tác giáo dục về truyền thống văn hoá, lịch sử cho cộng đồng, nhằm nâng cao hiểu biết và ý thức trân trọng các giá trị văn hoá dân tộc cho mỗi ngƣời dân. Có chiến lƣợc đào tạo để bồi dƣỡng nguồn nhân lực, đảm bảo chất lƣợng và văn minh trong phục vụ. - Phân loại các điểm, các khu du lịch theo ý nghĩa và vai trò, các chuyên đề du lịch cần phát huy, khai thác. Từ những phân tích ý nghĩa, vai trò của một số điểm du lịch, khu du lịch ta they mỗi nhóm tài nguyên du lịch đều chứa đựng những ý nghĩa nhấtChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 66. định đối với nhu cầu của khách du lịch. Có nhóm chứa đựng ý nghĩa truyền thống dân tộc, có nhóm chứa đựng ý nghĩa về kinh tế nhóm thì chứa đựng ý nghĩa về văn hoá, nhân văn, nhóm chứa đựng giá trị tâm linh,…Nói chung, ý nghĩa của các tài nguyên du lịch là đa dạng và phong phú và mỗi tài nguyên đều có thế mạnh và những hạn chế trong việc khai thác, phát huy ý nghĩa của nó đối với từng loại hình du lịch. Nhìn lại thực tế chúng ta thấy ngành du lịch và xã hội còn thiếu về hệ thống tƣ liệu nghiên cứu, phản ánh hệ thống các giá trị của các tài nguyên du lịch. Khách nƣớc ngoài vào du lịch Việt Nam, nhất là khách du lịch balô thƣờng họ phải tham khảo sách giới thiệu chỉ dẫn về du lịch Việt Nam do các tác giả nƣớc ngoài xuất bản. Không những khách nƣớc ngoài mà ngay cả những công ty du lịch khi cần đến tƣ liệu cũng phải cần đến sách nƣớc ngoài để tham khảo. Tuy chƣa phong phú nhƣng đã có một số tài liệu nghiên cứu giới thiệu, cung cấp nhận thức ý nghĩa về các điểm du lịch, các khu du lịch.Mặc dù còn nặng về giới thiệu về lịch sử hình thành và tồn tại của các điểm, các khu mà bỏ qua những giá trị về bản sắc văn hoá, nhân văn chứa đựng trong bản thân nó hoặc chứa đựng trong những truyền thuyết gắn liền với sự tồn tại của di tích đó. Nhƣng nó có tác dụng lớn trong việc quảng bá những nơi mà khách chƣa đến tham quan và đƣa lại một nguồn khách du lịch không nhỏ cho các điểm du lịch đó. - Duy tu tôn tạo các di tích, các điểm, khu du lịch khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống và lễ hội Các điểm du lịch, các di tích, làng nghề truyền thống là những thứ có ý nghĩa vật thể trong hoạt động du lịch, nếu không có những giá trị vật thể này thì du lịch sẽ mất hết ý nghĩa của nó. Quan sát trực tiếp là hoạt động mang ý nghĩa sinh động nhất trong du lịch bởi vậy việc bảo tồn duy tu có tầm quan trọng trong du lịch. Duy tu và tôn tạo các di tích, các điểm, cácChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 67. khu du lịch là một việc làm rất khó, tốn kém thời gian, tiền của. Nếu tôn tạo không đúng quy trình kỹ thuật và nguyên tắc thì việc tôn tạo duy tu sẽ không đem lại hiệu quả nhƣ mong muốn mà nhiều khi còn phản tác dụng. Bởi vậy công việc duy tu, tôn tạo đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa bên tham gia nhƣ: nhà khoa học , sử học, các nhà nghệ nhân, nhà kiến trúc xây dung, nhà quy hoạch,… Một đòi hỏi khắt khe của các di tích, các tài nguyên du lịch là phải giữ đƣợc tính nguyên thể của nó. Có nhƣ vậy mới hấp dẫn du khách và phát huy đƣợc ý nghĩa của chính nó. Do đặc tính này nên khi có kế hoạch duy tu tôn tạo một di tích, một quần thể du lịch cần phải lập kế hoạch một cách chi tiết: phần nào có khả năng duy tu, tôn tạo , phần nào để nguyên trạng và phần nào cần cải tạo. Tất cả việc đó cần phải đƣợc tiến hành một cách hài hoà, để khi hoàn thành công trình có vẻ đẹp tôn nghiêm của nó. Ngoài việc quan tâm duy tu, tôn tạo các tài nguyên vật chất, cần có một đƣờng lối chủ trƣơng nhằm khôi phục các tài nguyên phi vật thể mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc nhƣ các sinh hoạt dân gian, các lễ hội,cần tăng cƣờng công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của các cấp uỷ, các ngành đoàn thể trong việc tổ chức lễ hội. Các di tích trong lễ hội cần đƣợc tôn tạo trùng tu để không bị xuống cấp và mất đi vẻ uy nghi vốn có của nó. Đầu tƣ nâng cấp cơ sở hạ tầng nhƣ: điện nứơc, đƣờng giao thông, và các công tác vệ sinh môi trƣờng an ninh trật tự đƣợc đảm bảo,… để tạo tâm lý an toàn cho khách - Đầu tƣ sản xuất đi đôi với việc xây dung và khôi phục một số sản phẩm vật chất và văn hoá mang tính đặc trƣng để thu hút khách tới lễ hội nói riêng và phục vụ cho việc phát triển đất nƣớc nói chung.Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 68. - Khôi phục các làng nghề truyền thống, công nghiệp càng phát triển thì các làng nghề truyền thống càng thu hút khách du lịch. Các làng nghề này không chỉ thu hút khách du lịch bởi các sản phẩm vật chất nguyên gốc đƣợc sản xuất bằng các phƣơng pháp thủ công mà nó còn thu hút khách du lịch bởi những giá trị phi vật chất đó là quy trình sản xuất, cách sản xuất thủ công nhƣng lại tạo ra những sản phẩm tinh xảo. Cách sản xuất, quy trình sản xuất mới là yếu tố kích thích trí tò mò của du khách vừa đáp ứng vừa thoả mãn nhu cầu tìm hiểu của du khách. Khách đến thăm làng tranh Đông Hồ chƣa hẳn là để mua một bức tranh mà để tìm hiểu về cách thức làm tranh Đông Hồ. Sauk hi thoả mãn nhu cầu tìm hiểu ngƣời ta lại muốn mua một vài sản phẩm để làm kỷ niệm. Có nhận biết đƣợc điều này thì các làng nghề cũng nhƣ ngành du lịch mới phát huy đƣợc giá trị của các làng nghề. Phát triển du lịch làng nghề cần chú ý: Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch làng nghề đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển du lịch chung. Cần nghiên cứu tiềm năng du lịch, thị trƣờng khách, đánh giá năng lực của cộng đồng trong phát triển du lịch, quan tâm đến vấn đề phát triển bền vững du lịch làng nghề Đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển làng nghề và du lịch làng nghề. Chú trọng nâng cao năng lực quản lý doanh nghiệp đào tạo nghệ nhân, hƣớng dẫn viên, thuyết minh viên, trang bị những kiến thức văn hoá , chuyên môn kỹ thuật và cách thức quản lý kinh doanh trong cơ chế thị truờng, nâng cao kỹ năng nghiệp vụ đón tiếp khách du lịch. Tuyên truyền giáo dục rộng rãI trong việc xây dựng nâng cao nhận thức vai trò vị trí của du lịch làng nghề. Tổ chức hội nghị, hội thảo, tuyên truyền cổ động nâng cao nhận thức của ngƣời dân về vai trò của việc bảoChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 69. tồn giá trị văn hoá truyền thống. Phát triển thị trƣờng, xây dựng thƣơng hiệu làng nghề, đa dạng hoá sản phẩm làng nghề tạo sự hấp dẫn với khách du lịch. Trong những năm gần đây, ngành du lịch đã có những bƣớc tiến bộ trong nhận thức, phát triển trong hoạt động kinh doanh và đã có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân. Nhà nƣớc đã quan tâm lập ra ban chỉ đạo nhà nƣớc về du lịch, đã ban hành pháp lệnh du lịch và đang soạn thảo luật du lịch. Đội ngũ cán bộ kinh doanh đã phát triển cả về số lƣợng và chất lƣợng. Với tiềm năng của mình du lịch sẽ ngày càng phát triển và phát huy đƣợc vai trò của nó trong việc bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống. 3.2. Một số kiến nghị - Có đƣờng lối kế hoạch nhằm tuyên truyền rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân trong xã hôị thấy đƣợc du lịch không chỉ là một ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân mà nó còn có vai trò to lớn trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, góp phần bảo vệ duy tu các di tích, tôn tạo và bảo vệ môi trƣờng, góp phần tạo ra quy mô to lớn của các lễ hội. Du lịch giúp các cộng đồng cƣ dân các vùng miền có cơ hội đƣợc giao lƣu với nhau, từ đó mà hiểu nhau hơn và có tinh thần tƣơng thân tƣơng ái tốt hơn…- Phải có cơ quan chuyên trách đủ khả năng tập hợp thông tin tƣ liệu về cáctài nguyên du lịch của đất nƣớc, nghiên cứu các giá trị nhân văn truyềnthống và các giá trị khác của nó để biên tập, giới thiệu tuyên truyền trên cácphƣơng tiện thông tin đại chúng, nhu cầu du lịch và nhận thức đúng đắn vềvai trò của du lịch trong các tầng lớp dân cƣ xã hội. - Phải quan tâm hơn nữa đến việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch nhằm tạo đựơc đội ngũ nhân lực đủ năng lực trí tuệ nhằm cung cấpChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 70. cho ngành du lịch. Phát triển du lịch phải gắn liền với văn hoá dân tộc nhằm hƣớng tới du lịch bền vững tạo ra phong cách riêng độc đáo đậm đà nét Việt Nam. - Kiên quyết loại bỏ những ảnh hƣởng sai lệch về văn hoá, những hiện tƣợng lai căng văn hoá, làm bào mòn nền văn hoá dân tộc làm mất đi nét đẹp của nền văn hoá truyền thống Việt Nam. - Nhanh chóng xây dựng các văn bản pháp quy để xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động của ngành du lịch , nhằm hƣớng nó phát triển một cách bền vững có định hƣớng, tránh đƣợc những hoạt động lệch lạc để lại hậu quả và di chứng xấu cho sự phát triển của ngành. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp mang tính liên vùng, liên khu vực, không những thế nó còn mang tính xã hội cao nên hành lang pháp lý không chỉ là có giá trị điều tiết, hƣớng dẫn dƣới góc độ quản lý nhà nƣớc mà còn là cơ sở điều tiết mối quan hệ xã hội trong du lịch và sự hợp tác giữa các vùng, các miền thuộc phạm vi quản lý hành chính khác nhau nhƣng lại nằm trong một tổng thể khu du lịch thống nhất. Phần 3: Kết luận Một lần nữa chúng ta khẳng định rằng: du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn trong các ngành dịch vụ. Phát triển du lịch hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế của nƣớc ta, phù hợp với xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế mà các nƣớc đang theo đuổi: đó là tỷ trọng dịch vụ cao trong thu nhập quốc dân. Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần thứ VIII Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định rằng việc phát triển ngành du lịch và một số ngành dịch vụ khác sẽ từng bƣớc đƣa nƣớc ta trở thành một trung tâm du lịch , thƣơng mại - dịch vụ có tầm cỡ trong khu vực.Tuy nhiên việc phát triển du lịch phải gắn liền với bảo tồn và phát huy giá trị văn hoáChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 71. truyền thống của dân tộc nhằm hƣớng tới phát triển du lịch bền vững. Đồng thời những giá trị văn hoá truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam , qua đó đƣợc khẳng định tôn vinh và nâng cao lên một tầm mới. Ngoài ra du lịch còn có một vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí, các bậc tiền bối đã dạy: “đi một ngày đàng học một sàng khôn”. Ngày nay, du lịch đóng vai trò đƣa ngƣời dân đi không phải một “ngày đàng” mà nhiều “ ngày đàng”, và tất nhiên, ngƣời đi du lịch sẽ học đƣợc rất nhiều “ sàng khôn”.Nâng cao dân trí thông qua du lịch sẽ mang lại hiểu quả rất đa dạng, nhiều mặt bởi hình thức của nó là thông qua hoạt động thực tiễn, cảm nhận và ghi nhận một cách rất trực tiếp và đƣợc minh hoạ bởi những ví dụ hoàn cảnh cụ thể. Du lịch còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện và cơ hội để các cộng đồng có thể giao lƣu với nhau một cách thuận tiện, dễ dàng không bị dàng buộc bởi các rào cản nhƣ chế độ chính trị, sự khác nhau về tôn giáo hay đẳng cấp xã hội. Nhờ thông qua du lịch mà hàng triệu khách du lịch quốc tế đã đến tham quan và giao lƣu với nƣớc ta. Du lịch là một ngành kinh tế non trẻ ở Việt Nam thậm chí trƣớc đây còn có nhận thức sai lầm rằng: du lịch là ngành ăn chơi nên không đƣợc quan tâm đầu tƣ, phát triển đúng mức và đúng tiềm năng của đất nƣớc. Trải qua thời gian và những hiệu quả kinh tế xã hội do du lịch mang lại, nhận thức về vai trò của du lịch đã ngày càng đƣợc cải thiện và phát triển theo chiều hƣớng tích cực. Những nhận thức đúng đắn và tích cực đang đƣợc củng cố và phát triển. Tuy vậy trong xã hội vẫn đang tồn tại một xu hƣớng khá phổ biến là chỉ quan tâm khai thác nguồn lợi kinh tế của hoạt động du lịch. Những khai thác chủ quan tức thời, thiếu hiểu biết sẽ gây nên hậu quả nghiêm trọng đối với tƣơng lai phát triển du lịch của nƣớc nhà. Nó sẽ nhanh chóng phá vỡ hoặc làm lu mờ những giá trị thực nhữngChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 72. giá trị thực của các tài nguyên du lịch, làm ô nhiễm môi trƣờng, từ đó làm mất đi lợi thế so sánh về du lịch của nƣớc ta. Để cho ngành du lịch phát triển một cách bền vững, phát huy đƣợc những giá trị của nó, Nhà nƣớc cần có những biện pháp kịp thời nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng cũng nhƣ các tổ chức tham gia vào quá trình hoạt động du lịc. Giúp cho mọi ngƣời hiểu đƣợc sản phẩm du lịch bao giờ cũng có hai giá trị kết tinh trong đó là giá trị vật thể và giá trị phi vật thể, có nhƣ vậy ta mới giữ gìn đƣợc bản sắc của dân tộc và vai trò của du lịch trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống mới đƣợc thể hiện rõ nét. Tài liệu tham khảo:[1] .Luật Du Lịch 2006[2]. Trần Đức Thanh -Nhập Môn Khoa Học Du Lịch –NXB Đại Học QuốcGia Hà Nội.[3 ]. Trần Quốc Vƣợng- Cơ Sở văn hoá – NXB Giáo Dục[4 ]. Đinh Trung Kiên -Nghiệp Vụ Hƣớng Dẫn Du Lịch- NXB Quốc Gia.[5] .Ứng X ử V ăn Ho á Du L ịch.[6 ]. Tr ần Ng ọc Th êm -C ơ S ở V ăn Ho á- NXB Gi áo D ục.[7 ]. Đ ào Duy Anh - V ăn Ho á S ử C ƣ ơng- NXB Th ông Tin.[8 ]. Nh ững Th ách Th ức C ủa V ăn Ho á Vi ệt Nam Trong Q úa Tr ình H ội Nh ậpKinh T ế Qu ốc T ế.- NXB V ăn Ho á Th ông Tin Th ƣ Vi ện V ăn Ho á.[9 ]. H ội Th ảo Ph át Tri ển S ản Ph ẩm Du L ịch tr ên c ơ s ở khai th ác c ác gi á tr ị v ănho á Vi ệt c ổ- B ộ V ăn Ho á Th ể Thao v à D u L ịch.[10 ]. B ùi Th ị H ải Y ến- Tu y ến Đi ểm Du L ịch Vi ệt Nam- NXB Gi áo D ục.[11].Trang web của Tổng Cục Du Lịch Việt NamChia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn
  • 73. Chia sẻ miễn phí bởi www.tuoitrebentre.vn