Đôi Nét Về Kiên Giang<br />o Có diện tích 6243km2,<br />o Với dân số: 1.494.433 người.<br />o Tỉnh lỵ là Thành Phố Rạch Gi...
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Kien giang
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Kien giang

1,035

Published on

Published in: Education, Sports
0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
1,035
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
24
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Kien giang

  1. 1. Đôi Nét Về Kiên Giang<br />o Có diện tích 6243km2,<br />o Với dân số: 1.494.433 người.<br />o Tỉnh lỵ là Thành Phố Rạch Giá.<br />o Gồm có các huyện: thị xã Hà Tiên, Hà Tiên , Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giòng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận<br />o Có Hai Huyện Đảo: Phú Quốc và Kiên Hải.<br />o Kiên Giang có dân tộc Kinh, Khmer và Hoa.<br />Kiên Giang là một dải đất nằm ở phía Tây Nam của tổ quốc, cách Thành Phố Hồ Chí Minh 250km,<br />Phía Đông và Đông Nam của tỉnh Kiên Giang giáp với các tỉnh An Giang và Cần Thơ.<br />Phía Nam Giáp Cà Mau<br />Phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 54 km.<br />Ngoài ra còn cĩ hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ ngoài Vịnh. Là một tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long, Kiên Giang có những cánh đồng lúa phì nhiêu, có rừng vàng biển bạc có hải đảo và đồi núi với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng về nông sản hải sản, khoáng sản và du lịch. Nằm ven vịnh Thái Lan, Kiên Giang lưu thông với quốc tế bằng đường biển rất thuận lợi.<br />Tỉnh hiện có 3 sân bay: Rạch Giá, Hà Tiên và Phú Quốc.<br />Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa nhiệt độ trung bình là 270C quanh năm không quá nóng và quá lạnh, khí hậu có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.<br />Lượng mưa trung bình là 2016mm hàng năm. Ở đây không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bo, ánh nắng và nhiệt lượng dồi dào thuận lợi cho trồng cây và vật nuôi phát triển.<br />Nghề chính của tỉnh là nghề nông, nhưng nghề cá cũng rất phát triển.<br />Biển Kiên Giang cũng có những bãi tôm và luồng cá rất lớn. Nhiều loại cá ngon như cá thu, chim, nhám, bạc má, chép, he, thiều. Kiên Giang còn nổi tiếng về làm nước mắm.<br />Kiên Giang là tỉnh có đông người Việt sau đó đến người Khmer, Hoa sinh sống. Ở đây có một nền văn hoá cổ thuộc văn hoá Óc – Eo, với nhiều khu mộ tán cổ đặc biệt là một Yoni và Linga cùng với nhiều tượng phật quí. Kiên Giang có nhiều địa danh nổi tiếng đi vào lịch sử là rừng U Minh, Hòn Đất, Hà Tiên, Phú Quốc…<br />Thiên nhiên đã ưu đãi dành cho Kiên Giang nhiều thắng cảnh như: thắng cảnh tập trung ở Hà Tiên và Phú Quốc.<br />Cụm thắng cảnh Hòn Phụ tử như một Hạ Long thu nhỏ. Đảo Phú Quốc có diện tích 585 km2 (gần bằng Singapore); du khách có thể tắm biển, tắm suối, tắm sông, leo núi, vào hang, lên rừng. Ở đây có nhiều bãi tắm đẹp như Bãi Dùng, Bãi Nhem, Ghềnh Dầu, rạch Tràm, Rạch Vủm. Ngoài khơi Kiên Giang có 105 hòn đảo lớn nhỏ có thể phát triển du lịch biển, hải đảo.<br />Kiên Giang có các di tích lịch sử, kiến trú: thờ mộ anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực ở thị xã Rạch giá, chùa Tam bảo, rừng U minh thượng (căn cứ cách mạng, sân Chim, chùa Tân Hội lăng Mạc Cửu).<br />Non nước Hà Tiên, Biển Trời Phú Quốc. Địa danh Hà Tiên cách Rạch Giá 90km về phía Tây Bắc được đánh giá là nơi có nhiều cảnh đẹp đứng sau Hạ Long với nhiều núi non hang động, chùa chiềng, lăng mộ với nhiều hòn đảo gần xa. Ở Kiên Giang có nhiều lễ hội văn hoá đac biệt của người Khmer hàng năm họ tổ chức các lễ hội theo phong tục tập quán của người Khmer cung giống như đồng bào Khmer ở các tỉnh Nam Bộ.<br />Theo chiều dọc của đất nước thì vị trí địa lý của Hà Tiên là:<br />Phía Bắc: giáp An Giang, Cần Thơ.<br />Phía Đông Nam: giáp Sóc Trăng, Bạc Liêu.<br />Phía Nam: giáp Cà Mau, biển Đông.<br />Phía Tây Bắc: giáp Campuchia.<br />Phía Tây Nam: giáp biển Đông và Vịnh Thái Lan.<br />Là một tỉnh ĐBSCL nằm ven Vịnh Thái Lan nên lưu thông quốc tế bằng đường biển rất thuận lợi.<br />Đường biên giới dài 54km cùng với hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ ngoài vịnh cũng giúp tỉnh Kiên Giang phát triển thuận lợi về mọi mặt, nhưng cũng gặp không ít khó khăn.<br />Sơ Lược về Lịch Sử Thị xã Hà Tiên<br />Hà Tiên, vùng đất được hàng bao thế hệ lưu dân tôn tạo ở Cực Nam của tổ quốc. Được mệnh danh là “Nam thiên đệ nhất động” của Miền Nam.<br />Hà Tiên xưa kia có tên là Mang Khảm, tục danh Trúc Phiên Thành còn gọi là Đồng Trụ Trấn vốn là nơi hoang vu.<br />Thị xã Hà Tiên được hình thành cách đây 300 năm, nơi đây ngày xưa vốn là thủ phủ của Mạc Cửu (1655-1935) nằm ở vị trí khá đẹp, hai bên bờ sông hướng ra biển, trên bến dưới thuyền nhà doanh điền Mạc Cửu, Mạc Cửu sinh 1655 tại quảng Đông Trung Quốc, bất phục chính sách cai trị của nhà Mảng Thanh, nên cùng gia quyến vượt biển đến nước Chân Lạp, Mạc Cửu là người tài trí, khéo sử thế nên kết thân được với các qun Chân Lạp và nhờ tiến cử lên vua. Vua Chân Lạp là Nặc Ong Non tin dùng, Mạc Cửu giúp vua được nhiều việc nhưng Mạc Cửu muốn hùng cứ một phương nên tâu xin cho khai khẩn đất Mang Khảm là vùng hoang địa ở phía tây duyên hải thủy chân lạp vua thuận và phong cho Mạc Cửu chức Óc Nha (tương đương với quan huyện). Mạc Cửu chiêu tập dân phu lặp đồn điền, mở chợ xây cảng giao thương với các nước. Mang Khảm bây giờ trở thành một cửa khẩu phồn thịnh và thành mục tiêu xâm lược của các nước ngoài.<br />Năm 1674 có bề tôi Năc Ong Non làm phản, cầu viện Quân Xiêm đánh lại vua. Quân Xiêm tiến đánh Mang Khảm, Mạc Cửu chống cự không lại cầu viện quân Chân Lạp, viện binh chưa đến buộc Nặc Ong Non cầu viện chúa Nguyễn quân chúa Nguyễn đánh tan quân Xiêm. Quân Xiêm rút về đem theo gia quyến của Mạc Cửu cùng của cải chiếm được. Sau đó năm 1706 thừa cơ hội nước Xiêm có nội loạn, Mạc Cửu cùng gia quyến và gia nhân chạy về Trủng kè thuộc đất Mang Khảm. Ở đây phu nhân hạ sinh Mạc Thiên Tích rồi lần về đất Mang Khảm để khôi phụ nơi đây.<br />Năm 1714 Mạc Cửu đến dâng biểu xin đem bảy xã mình đã lập quy phục nam triều. Chúa Nguyễn phúc Chu ưng thuận, phong cho Mạc Cửu chức tổng binh và đổi Mang Khảm thành Hà Tiên trấn. Vì thế Mạc Cửu là người đầu tiên có công khai hoang hình thành vùng đất Hà Tiên. Con trai ông là Mạc Thiên Tích (1706-1780) cũng là một danh tướng, một quan tổng binh đại đô đốc, một nhà doanh điền và cũng là một nhà doanh sỹ có tiếng đã làm rạng rỡ đất phương thành (Hà Tiên ngày nay) và cả khu vực Tây Nam Bộ nửa sau thế kỷ 18.<br />Ngày từ thời Mạc Cửu Hà Tiên là điểm giao lưu buôn bán với nhiều nước ngoài. Trong gia phả cửa dòng họ Mạc có ghi chép rằng « Ông Mạc Cửu đã chiêu mộ các nước hải ngoại đến buôn bán. Tàu thuyền đi lại nhộn nhịp, người Việt, người Đường, người Liêu, người Man kéo đến trú ngụ làm ăn ». như vậy có thể nói từ thuở sơ khai ở Hà Tiên đã hình thành nên một trung tâm thương mại – du lịch. Dấu tích một thời khai hoang vẫn còn in rõ nét trên mảnh đất này qua hình ảnh lăng Mạc Cửu được người dân nhớ ơn công lao mở mang bờ cõi của dòng học Mạc.<br />Sự Tích Hà Tiên<br />Vào cuối thế kỷ thứ XVIII, một bộ phận dân cư Trung Quốc, đa số là quan quân nhà Minh và gia quyến của họ, vì không phục tùng sự thống trị của nhà Thanh, đã rời bỏ đất nước di dân đến các quốc gia Đông Nam Á. Ở Nam Bộ lúc bấy giờ đã tiếp nhận một số nhóm di dân người Hoa: nhóm do Dương Ngạn Địch vào lập nghiệp ở Mỹ Tho, nhóm Trần Thượng Xuyên vào Cù lao Phố (Biên Hòa) và nhóm thứ ba do Mạc Cửu cầm đầu đến cư trú ở Hà Tiên.<br />Mạc Cửu (1652-1735) vốn là người xã Lê Quách, huyện Hải Khanh, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông. Năm 1680, ông dẫn nhóm di dân vượt biển sang Chân Lạp. Ông được nhà vua xứ này trọng dụng và ban cho chức gọi là Ốc Nha. Về sau, vì có kẻ dèm xiểm, Mạc Cửu lo ngại ở đây lâu có ngày bị hại, nên đem vàng bạc đút lót cho Hoàng Hậu Chân Lập để nhờ bà xin vua xứ này cho phép ra khẩn hoang vùng đất Mang Khảm (tức là Hà Tiên sau này).<br />Được phép của vua Chân Lạp, Mạc Cửu dẫn đầu đoàn người vượt biển ra đi. Thuyền từ biển tiến dần vào của sông và cập bến. Ở đây vùng đất rộng người thưa mở rộng đôi tay đón đoàn người tha hương đến cư ngụ. Người cũ và kẻ mới đến thân thiện trong cảnh chim trời cá nước.<br />Một hôm Mạc Cửu dong thuyền đi đây đó tìm một cuộc đất tốt để lập nghiệp an cư lâu dài. Chiều xuống, thuyền Mạc Cửu đến một cửa sông. Núi non cây cảnh thật hữu tình, chim rừng từng đàn bay về gây tổ, đậu kín cả những tán cây cao nơi bờ sông, triền núi…. Đang mải ngắm nhìn cảnh sơn thủy đẹp như bức tranh thuỷ mạc, bỗng Mạc Cửu giật mình khi thấy trên lớp sóng ở cửa sông hiện ra một nàng tiên kiều diễm lả lướt như bay lượn chập chờn khi mờ khi tỏ…. Mạc Cửu thúc giục bọn chèo thuyền đuổi theo bóng nàng tiên lúc hiện ra trước mắt lúc biến mất sau làn khói nước nhạt nhòa…. Thuyền chèo đi, đi mãi theo bóng nàng tiên, nhưng trên một khúc sông, nàng tiên đột nhiên bay bổng lên cao và nhạt dần như tan trong ánh tà dương. Mạc Cửu cho đây là điềm lành nên chọn vùng đất bên bờ khúc sông này làm nơi định cư cho mình và do đó, ông đặt tên vùng đất này là Hà Tiên – Nàng tiên của sông nước.<br />Tục truyền, khi đào móng xây dựng nhà, Mạc Cửu đào được một số hũ vàng lớn. Ông xuất số vàng này để dùng vào việc phát triển và xây dựng phố xá, chợ búa, biến nơi đây thành một trung tâm buôn bán sầm uất. Về sau Mạc Cửu nghe theo lời của mưu sĩ họ Tô, sai các bộ hạ của mình là Lý Xá, Trương Cầu ra Phú Xuân dâng biểu xưng thần và xin làm chức Hà Tiên trưởng. Tháng tám năm mậu tý (1708) chúa Nguyễn Phúc Chu chấp nhận lời cầu xin của Mạc Cửu và phong ông làm tổng binh trấn Hà Tiên và chính thức đổi tên vùng đất này (bao gồm cả Long Xuyên – Cà Mau) là Hà Tiên trấn.<br />MỘT THOÁNG HÀ TIÊN<br />Có những miền đất đi qua vẫn còn đọng lại trong ta nhiều ấn tượng khó quên và Hà Tiên là một trong những nơi như thế. Thuộc miền Tây Nam Bộ, Hà Tiên là một vùng đất được thiên nhiên ưu đãi có biển, núi, rừng xen giữa đồng bằng phì nhiêu. Hà Tiên – hòn ngọc quý của tỉnh Kiên Giang với phong cảnh hửu tình. Cảnh Hà Tiên thơ mộng hữu tình còn được tô điểm những di tích lịch sử, dấu vết một thời Phương Thành oanh liệt, và văn hiến với Chiêu Anh Các. Đến Hà Tiên, du khách sẽ nhận ra ở đây một Việt Nam thu nhỏ bởi có núi, rừng, sông, biển của mọi miền đất nước: một ít hang động của Lạng Sơn, vài ngọn đá chơi vơi ngoài biển như Vịnh Hạ Long, một ít Thạch Thất Sơn Môn Hương Tích của Ninh Bình, vài cảnh Tây Hồ Hà Nội hay đôi nét dòng Hương Giang của Huế. Những ai yêu vẻ đẹp hoang sơ của thiên nhiên sẽ bị chinh phục bởi dãy núi Thạch Động, của bãi tắm Mũi Nai, của tiếng chuông vang vọng từ dãy núi Bình San…<br />Click this bar to view the full image.<br />Do có địa thế thuận lợi với hơn 13,5km biên giới đất liền và 26km biên giới với Campuchia, lại có cửa khẩu quốc gia nên Hà Tiên có điều kiện tốt để khai thác tối đa các thế mạnh thương mại, du lịch và nuôi trồng thủy sản. Du lịch biển đảo là lợi thế của Hà Tiên nằm trong chiến lược phát triển kinh tế biển của tỉnh Kiên Giang. Tuyến du lịch biển chùa Hang – Hòn Chông – Mũi Nai bằng tàu thuỷ sẽ hấp dẫn du khách với những dãy núi đá vôi tựa như Vịnh Hạ Long phía Tây Nam.<br />Nằm sát bên vùng đồng bằng sông Cửu Long gần như bằng phẳng nhưng Hà Tiên lại có hệ thống cảnh quan tựa như Vịnh Hạ Long. Thật bất ngờ khi hệ thống đồi núi bao quanh khu vực đồng bằng thông ra biển đã tạo nên vị thế thuận lợi để xây dựng khu bãi tắm ven biển. Núi đá Dựng nằm sát biên giới Campuchia, do đá vôi bị xâm lược qua nhiều thế kỷ nên phía bên trên được tái tạo như một toà lâu đài cổ kính với hàng trăm vọng gác hàng nghìn gác chuông, trong hang phủ nhiều thạch nhũ, có thạch nhủ dài và to như những cột đá. Rồi những cây dừa 7 ngọn, 6 ngọn, hay 3 ngọn xuất hiện ở Hà Tiên. Khai thác tốt những nét độc đáo Hà Tiên sẽ trở thành một trung tâm du lịch lớn trong tương lai.<br />Click this bar to view the full image.<br />Từ năm 1996 trở lại đây, các khu du lịch Hà Tiên và Kiên Lương hàng năm đón khoảng 800000 du khách tham quan. Doanh thu ngành du lịch trong giai đoạn này tăng bình qun hàng năm khoảng 16%. Theo các số liệu thống kêvlượng khách đến Hà Tiên kiên Giang nhiều hơn các tỉnh An Giang và Cần Thơ. Thưởng ngoạn thắng cảnh tham quan di tích, nghỉ dưỡng đang là thế mạnh để Hà Tiên thu hút một lượng đáng kể khách du lịch từ các tỉnh phía Nam và các du khách nước ngoài.<br />Vài năm gần đây các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân đổ dồn về đây xây dựng nhà hàng khách sạn và các khu vui chơi giải trí nhằm phục vụ cho khách du lịch. Bên cạnh đó, Hà Tiên cũng chú trọng tổ chức các ngày hội truyền thống địa phương và các lễ hội của các đồng bào dân tộc Khmer.<br />Nằm sát biên giới với Campuchia, thị xã Hà Tiên trở thành thương trường một thương trường của một cửa khẩu cả trên biển và trên đất liền. Ngoài mục đích phục vụ khách du lịch, cửa khẩu Hà Tiên còn mở ra cơ hội giao thương hàng hoá. Hàng năm có khoảng từ 70000 đến 80000 lượt khách từ Campuchia qua lại cửa khẩu. Tuyến du lịch Hà Tiên – tỉnh Campốt- thành phố Kép (Campuchia) và ngược lại bằng đường bộ, đường thuỷ đã đưa vào khai thác, tạo điều kiện đi lại cho du khách 2 nước.<br />Sau 4 năm thực hiện thí điểm khu kinh tế cửa khẩu theo quyết định của chính phủ, diện mạo thị xã Hà Tiên đ thay đổi rõ rệt. Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển vượt bậc. Thị x còn xây dựng kết cấu hạ tầng các khu du lịch và các trung tâm thương mại gắn với các chính sách thu hút và đầu tư từ mọi thành phần kinh tế. Đời sống vật chất người dân nhờ đó được cải thiện đáng kể. Đây cũng chính là nền tảng vững chắc để Hà Tiên khai thác lợi thế phát triển kinh tế xã hội nói chung và du lịch nói riêng.<br />Cảnh sắc thiên nhiên của Hà Tiên đã được người đương thời ca tụng và cũng chính nơi đây xuất hiện nhóm Tao Đàn Chiêu Anh Các gồm nhiều nhà thơ Việt Nam, cùng hội lại với nhau để sáng tác, ngâm vịnh, đàm luận do Mạc Thiên Tích lập ra. Tác phẩm được hấp dẫn hơn cả là “Hà Tiên Thập Vịnh” tả 10 cảnh đẹp của Hà Tiên lồng trong sinh hoạt của cư dân để tạo ra bức tranh ngư tiều canh mục:<br />1. Kim Dự Lan Đào (Đảo Vàng Chắn Sóng ): trong mười cảnh đẹp của Hà Tiên mà người xưa ghi nhận, Kim Dự Lan Đào được xếp đầu tiên. Đó là hòn đảo nhỏ ngay cửa biển Hà Tiên được nối với đất liền TK XX, người ta còn gọi Kim Dự là Pháo Đài, bởi từng có một pháo đài canh dự cửa biển, bảo vệ thị trấn Hà Tiên chống giặc ngoại xâm.<br />Click this bar to view the full image.<br />2. Bình San Điệp Thúy (Núi Bình San Xanh Biếc ): có nghĩa là núi Bình San như tấm bình phong điệp trùng xanh biếc. Núi Bình San là núi Lăng, nơi Mạc Thiên Tích thường cùng bạn thơ trong Tao Đàn Chiêu Anh Các lên thưởng ngoạn xướng họa thơ ca<br />Click this bar to view the full image.<br />3. Tiêu Tự Thành Chung (Tiếng Chuông Tiêu Tự ): có nghĩa là tiếng chuông sớm ở chùa Tiêu, là ngôi chùa Tam Bảo bây giờ. Trước cổng chùa có 2 câu đối:<br />“Nhất trần bất nhiễm bồ đề địaVạn thiện đồng qui bát nhã môn”.<br />Click this bar to view the full image.<br />Để tuyên báo nơi đây không bị niễm bụi trần, nhưng tất cả điều thiện đều qui tụ về đây.<br />4. Giang Thành Dạ Cổ (Tiếng Trống Đêm Ở Giang Thành ): tức là nghe tiếng trống canh vang lên đêm đêm ở đồn Giang Thành. Giang Thành ngày nay không còn thành quách, mà chỉ là một địa danh thuộc Xã Tân Khánh Hòa, huyện Kiên Lương, cách thị xã Hà Tiên Khỏang 10km theo đường chim bay, chỗ hợp lưu của knh Vĩnh Tế và sông Giang Thành. Vào thời Minh Mạng, Giang Thành đã từng là tỉnh lụy của Hà Tiên.<br />5. Thạch Động Thôn Vân (Mây Luồn Thạch Động): tức động đá nuốt mây, miêu tả vẻ đẹp của núi Thạch Động ở phía Tây Bắc Hà Tiên, trên có một khối đá to, trong có hang động thiên nhiên lộng gió.<br />Click this bar to view the full image.<br />6. Châu Nham Lạc Lộ (Châu Nham Cò Đậu ): có nghĩa là cò đậu núi Châu Nham. Theo nhà thơ Đông Hồ, Châu Nham là 1 ngọn núi nhỏ ở gần biên giới Campuchia, cách Thạch Động không xa. Núi có nhiều đá dựng, hiểm trở, có thạch nhũ lấp lánh nên còn gọi là núi Đá Dựng. Ngày xưa cò về đậu trên núi đá này rất đông. Nhưng theo nhà sưu khảo Trương Minh Đạt, Châu Nham là cụm núi ở Bãi Ớt. Nơi có đá tinh quang trong và sng. Do bên bờ nham có vực sâu nên tôm cá thường về trú ẩn, chim cò kéo theo tìm mồi trắng cả một vùng.<br />7. Đông Hồ Ấn Nguyệt (Đông Hồ Trăng Soi): tức trăng in bóng Đông Hồ, một hồ nước xanh biếc nối liền dòng sông Giang Thành ra biển. Trong có vàm sông, ngoài có cửa biển Kim Dự, nằm phía đông thị xã Hà Tiên.<br />Click this bar to view the full image.<br />8. Nam Phố Trừng Ba (Sóng Trong Nam Phố): có nghĩa là Phố Nam trị sóng, một vịnh nhỏ thuộc Bãi Ớt, xã Dương Hòa, nơi mặt biển thường xuyên yên tĩnh do các dãy núi chắn quanh. Tàu thuyền qua lại hay vào đây tránh gió.<br />Click this bar to view the full image.<br />9. Lộc Trĩ Thôn Cư (Xóm Dân Ở Lộc Trĩ ): tức khu dân cư Lộc Trĩ, còn gọi là Mũi Nai, thuộc xã Mỹ Đức. Lộc Trĩ có nghĩa là Mũi Nai. Ra biển nhìn vào mới thấy mũi núi chỗ ngọn hải đăng giống hình đầu con nai thò mõm ra biển.<br />Click this bar to view the full image.<br />10. Lư Khê Ngư Bạc (Cảnh Chài Cá Ở Lư Khê): có nghĩa là xóm chài ở khe Lư. Lư Khê là Rạch Vược, một con rạch nhỏ có nhiều cá vược ở xã Thuận Yên. Rạch đổ ra biển qua các khe núi tạo thành một bức tranh sơn thủy rất đẹp. Ngày nay cửa rạch đã bị Quốc lộ 80 chắn ngang.<br />Click this bar to view the full image.<br />Phát triển cùng thời là nền văn hoá Trung Hoa mang nhiều bản sắc đã được phổ biến ở đây cụ thể là qua việc xây dựng nhiều công trình kiến trúc tôn giáo nhiều chùa chiền với kiến trúc nguy nga hùng vĩ nhưng đã bị phá gần như hầu hết khi quân Xiêm La tấn công Hà Tiên năm 1771.<br />Dòng họ Mạc có lịch sử thăng trầm gắn liền với triều Nguyễn. Khi triều đình nhà Nguyễn thua Tây Sơn, giang sơn không còn. Mạc Thiên Tích đã nuốt vàng lá tự tử tại Băngcok. Sau này khi vua Gia Long lên ngôi đã khôi phục lại quan chức cho con cháu dòng họ Mạc.<br />Vào thế kỉ thứ 19 vào ngày 2/6/1867, Tỉnh Hà Tiên lọt vào tay thực dân Pháp. Rạch Giá vốn là huyện lỵ được nâng lên thành tỉnh lỵ, tập trung bộ máy cai trị của giặc.<br />Đầu thế kỷ 20 Kiên Giang là một trong những địa phương cơ sở của phong trào Đông Du và Duy Tân.<br />Truyền thống này là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của đội ngũ phong trào cách mạng bắt đầu từ tháng 6 năm 1930….<br />Hà Tiên ngày nay đã được quy hoạch thành một bãi biển sạch đẹp và “ngăn nắp“ với biển trong xanh và những bãi cát trắng đang thu hút nhiều khách du lịch đặc biệt là trong mùa lễ hội Bà Chúa Xứ (khách hành hương hay kết hợp tham dự lễ ở chùa bà rồi tiện đường đến Hà Tiên).<br />Hà Tiên là 1 thị xã ở phía Tây Bắc của tỉnh Kiên Giang, có 22 km bờ biển và 13,7 km đường biên giới với Campuchia nên từ lâu đã là điểm giao lưu thương mại giữa 2 nước và một số nước trong khu vực ASEAN. Hà Tiên có những di tích văn hóa được Nhà nước công nhận, có những thắng cảnh đẹp thu hút nhiều lượt khách tham quan du lịch quanh năm, là vùng ven biển có ngư trường khai thác rộng và nằm trong khu tam giác Rạch Giá – Hà Tiên – Phú Quốc, nên có vai trò quan trọng đối với thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.<br />Thị xã Hà Tiên đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên Giang lần thứ VII xác định là một trong 4 vùng trọng điểm của Tỉnh, trong đó 2 ngành kinh tế quan trọng được tỉnh tập trung phát triển là du lịch và thương mại – dịch vụ.<br />Thị xã Hà Tiên bao gồm 4 phường và 3 xã. Cụ thể như sau: phường Đông Hồ, phường Bình San, phường Pháo Đài, phường Tô Châu, xã Thuận Yên, xã Mỹ Đức và xã đảo Tiên Hải.<br />Click this bar to view the full image.<br />Cầu Phao<br />Vị trí địa lý<br />Địa giới hành chính của thị xã Hà Tiên được xác định như sau:Phía Bắc giáp vương quốc Campuchia;Phía Đông giáp huyện Kiên Lương;Phía Nam và phía Tây giáp biển Tây.Diện tích tự nhiên toàn thị xã: 8.851,5 ha, trong đó đầm ngập mặn Đông Hồ chiếm 1.047 ha.<br />Địa hình<br />Địa hình đa dạng, gồm: đồng bằng, núi và núi đá, hang động, biển, đầm, quần đảo, tạo nên cảnh quan thơ mộng hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước.<br />Khí hậu<br />Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Khí hậu ở Hà Tiên có những đặc điểm chính như sau:<br />Số giờ nắng trung bình từ 6,5 đến 7,5 giờ/ngày. Năng lượng bức xạ trung bình 150 – 160 kcal/c2 năm. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 -> 28 0C, tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 (25 – 26 0C); tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4 và tháng 5 (28 ->29 0C). Độ ẩm trung bình 81,9%.<br />Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, có nhiều năm mùa mưa đến sớm và kết thúc muộn hơn các khu vực khác của đồng bằng sông Cửu Long. Lượng mưa lớn, trung bình 2.118 mm/năm.<br />Với điều kiện khí hậu như vậy đã tạo nên những thuận lợi cơ bản để phát triển ngành đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản, nông nghiệp và du lịch.<br />Tài nguyên biển<br />Thị xã Hà Tiên hai phía (Tây và Nam) giáp biển, đầm Nước Mặn chia thị xã làm hai khu riêng biệt: phía Đông Nam của đầm là phường Tô Châu và xã Thuận Yên; phía Tây Bắc của đầm gồm: phường Đông Hồ, phường Bình San, phường Pháo Đài và xã Mỹ Đức; đặc biệt xã đảo Tiên Hải (quần đảo Hải Tặc) gồm 15 đảo lớn nhỏ là ngư trường đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản đầy tiềm năng do thiên nhiên ban tặng cho thị xã Hà Tiên nói riêng và tỉnh Kiên Giang nói chung.<br />Tài nguyên đất<br />Diện tích tự nhiên của thị xã 8.851,51 ha, trong đó đất nông nghiệp 4386ha (chiếm 49,55%), nhưng mức độ phèn mặn cao, nếu ứng dụng khoa học kỹ thuật tốt để nuôi trồng thủy sản để đem lại hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra còn quỹ đất chưa sử dụng là 2.561,89ha.<br />Tài nguyên nước<br />Sông Hậu là nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu cho thị xã Hà Tiên thông qua kênh Rạch Giá – Hà Tiên, kênh Vĩnh Tế và sông Giang Thành, hàm lượng phù sa trung bình 250g/m3 .Dân số<br />Dân số năm 2002 là 39.957 người, mật độ trung bình là 451 người/km2. Dân cư ở tập trung nhiều trong khu nội ô thị xã.<br />Kim Dự Lan Đào<br />Kim là vàng, là kim khí .Dự củng là dữ (theo Bắc ) . Chử Hán có bộ sơn kèm theo dữ là cùng với. Đây là hòn đảo nhỏ. (Ngày xưa). Lan có nghĩa là ngăn chặn lại. Đào là sóng to, KIM DỰ LAN ĐÀO là hòn đảo vàng ngăn chặn sóng gió.<br />Xưa kia, trước hải khẩu trấn Hà Tiên có hòn đảo nhỏ ngăn chặn sóng gió gìn giữ cho bên trong đất liền được yên ổn. Bốn chữ này cũng ngụ ý rằng Hà Tiên tuy là một lãnh thổ nhỏ ở vùng biển, Cũng có công che chắn cho giang sơn phía Nam của chúa Nguyễn.<br />Dự là phải rồi, có ý xác định. Kim có một dụng ý, chữ văn hoa có nghĩa là tự hào. Do chữ « Kim Thành Thang Trì » nghĩa là thành vàng ao sôi biểu tỏ thành trì kiên cố, hào lũy vững vàng Mạc Thiên tích mệnh danh hòn đảo trước biển Hà Tiên là Kim Dự, muốn nói đây là một dãy kiên cố, cũng có ý khoe công nghiệp « Kim Thành Thang Trì » của mình.<br />Kim Dự từ thuở đó tới bây giờ còn gọi là pháo đài, vì từ thời Nguyễn đến hồi Pháp thuc và cả hiện nay vẫn là cứ điểm quân sự có nhịêm vụ biên phòng, trấn giữ cửa biển. Trên đó có đặt trọng pháo cho nên gọi là pháo đài. Ngày nay trên đỉnh là toà kiến trúc bề thế được dùng làm khách sạn gọi là nhà khách Pháo Đài.<br />Du khách đamh thấy đây là một ngọn đồi đất cao có dáng vẻ hùng vĩ, cảnh quan chung khá đẹp mắt. Ngọn đồi này dính vào đất liền. Thật ra, ngày xưa ngọn đồi này là một hòn đảo tách biệt để tin việc lưu thông, người thời trước đã bắt một đường cầu đá, từ đất liền sang hòn đảo. Người thời sau theo đó đắp thành con đường đất rộng rãi. Đủ cho xe cộ lưu thông. Bây giờ đã tráng nhựa thành đại lộ. Con đường này, bắt đầu từ chỗ cuối xóm ngã 3, trước Lạc An Hội Quán, tức chùa Quan Đế, chạy thẳng đến chân bậc tam cấp bước lên pháo đài. Xóm này nằm 2 bên đường này, nay còn có tên là xóm cầu đá.<br />Xóm cầu đá trở thành khu dân cư, có vườn tược. Việc lấp đất các chỗ bùn lầy được tiến hành dần và người ta cũng đắp thêm 2 con đường mới nữa cho tiện việc lưu thông.<br />Cảnh vật chỗ này, ngày xưa đã được Mạc Thiên Tích mô tả :<br />Kim Dự này là núi chốt thanXanh xanh dành trấn cửa Hà TiênNgăn ngừa nước dữ khôn vùng vẫyChe chở dân lành khỏi ngửa nghiêngThế cả vững vàng trên Bắc HảiCông cao đồ sộ giữa Nam ThiênNước yên chẳng chút lòng thu độngRồng bủa nhơn xa tiếp Bắc xuyên<br />Một truyền thyuết được kể : Kim Dự ngày xưa là hòn đảo nổi. Dưới hòn đảo có con giao long nằm ẩn mình tu đã lâu đời. Thỉnh thoảng có lúc giao long cựa mình, người ta thấy hòn đảo lay chuyển. Có khi xê dịch ra xa bờ. Chỗ đất nhô hiện nay có miếu thờ thuỷ thần và miếu thờ cá ông Nam Hải.<br />Khu Lăng Mộ Dòng Họ Mạc<br />Núi lăng hay núi Bình San là nơi an táng hơn 40 ngôi mộ dòng họ Mạc ,xây dựng cách đây trên 300 năm. Tất cả đều có kiến trúc theo lối Trung Hoa, nền mộ ăn sâu vào vách núi theo hình bán nguyệt bề mặt chạm khắc hình thù tứ linh.<br />Lăng được xây dựng vào năm 1809 theo lệnh của vua Gia Long. Mạc Cửu rất giỏi về phong thuỷ địa lý nên đã chọn xây ở nơi mà có núi Tô Châu và núi Ngũ Hổ làm nên thế bình Phong, Sông Giang Thành tạo nên thế Minh Đường tức thuỷ triều qui bên dưới lăng có hai hồ sen tích nước vừa tạo thế vừa là hồ nước cung cấp nước cho nhân dân ở đây.<br />Mạc Cửu là người xã Lê Quách, huyện Hải Khang, phủ Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Năm 1644, nhà Thanh thay thế nhà Minh, Mạc Cửu không phục tùng nên cùng gia quyến và đoàn tùy tùng xuống tàu vượt biển vào Nam đến nước Chân Lạp và được cho làm Ốc Nha, một chức quan của Chân Lạp thời đó… Một thời gian sau, thấy đất Mang Khảm thuận lợi nhiều mặt về kinh tế, giao thương, ông bèn xin lui về đó chiêu tập lưu dân, mở mang đồng ruộng và tiếp đón khách thương hồ đến để mua bán, mở sòng bạc… Chẳng bao lâu vùng đất này trở nên phồn thịnh và không tránh khỏi giặc cướp, giặc Xiêm La kéo quân đến xâm lăng. Mạc Cửu thế cô phải qua Xiêm trú ngụ 1 thời gian. Khi trở lại Hà Tiên, thấy chúa Nguyễn ở Đàng Trong đang mở rộng thế lực đến tận vùng đồng bằng sông Cửu Long, Mạc Cửu dâng biểu xưng thần và được chúa Nguyễn Phúc Chu chấp thuận, phong chức Tổng binh trấn Hà Tiên. Mạc Cửu mất năm 1735, được nhà Nguyễn truy tặng Khai trấn thượng trụ quốc, Đại tướng quân Vũ Nghị Công.<br />Lăng Mạc Cửu theo kiểu Tàu, bên trái đắp nổi đầu rồng, bên phải đắp đầu hổ (Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ). Đứng tại lăng Mạc Cửu trông xa thấy Đông Hồ, biển Hà Tiên, núi Đại Tô Châu và Tiểu Tô Châu như hình voi phục. Lên đỉnh núi, du khách có thể nhìn toàn cảnh Hà Tiên bên dưới.<br />Mạc Thiên Tích là con trưởng của Mạc Cửu, tự Sĩ Lân, lúc nhỏ tên là Mạc Tứ. Gia phả nhà họ Mạc ghi lại rằng vào đêm mùng 7 tháng 3 năm 1706, tại Lũng Cà tự nhiên nước sông bắn vọt lên trời, lúc ấy xuất hiện tượng vàng cao 7 thước, tỏa sáng cả 1 khúc sông. Một vị quan trông thấy ngạc nhiên nói với Mạc Cửu : “Đây là điềm có người tài xuất hiện, thật là phúc đức”. Mạc Cửu liền cho người đưa tượng vàng ấy lên bờ, nhưng không có cách nào di chuyển được, bèn xây chùa nhỏ bên bờ sông để thờ. Vào đêm ấy, Mạc Thiên Tích ra đời. Mạc Thiên Tích thông minh, hiểu rộng, văn võ song toàn. Năm 1735 Mạc Cửu mất, Mạc Thiên Tích kế tục sự nghiệp của cha. Đầu xuân 1736, được chúa Nguyễn phong Đô đốc trấn Hà Tiên . Thời kỳ ông cai quản, đất Hà Tiên sung túc, phồn vinh. Phố xá ở trấn lỵ được mở mang, ruộng đất được khai khẩn tăng cường trồng trọt, tàu thuyền buôn bán tấp nập. Ông cũng đã nhiều đánh tan bọn cướp biển và giặc Chân Lạp để bảo vệ bờ cõi. Năm 1780, Mạc Thiên Tích đang ở Xiêm bị Bồ Ông Giao, người Chân Lạp, gièm pha với vua Xiêm Trịnh Quốc Anh rằng nhà Nguyễn lập kế cho Mạc Thiên Tích và Tôn Thất Xuân vào Xiêm làm nội ứng, mưu chiếm thành Vọng Các. Vua Xiêm nghe lời giết Tôn Thất Xuân, bắt trói Mạc Thiên Tích tra khảo. Mạc Thiên Tích tự tử, nhiều người đi theo cũng bị sát hại.<br />Trên đỉnh núi còn lưu lại vết tích của đàn Sơn Xuyên và đàn Xã Tắc. Dưới chân núi có đền thờ dòng họ Mạc. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, ngôi đền thờ này thờ ba người họ Mạc: Vũ Nghị Công Mạc Cửu, Quốc lão Mạc Thiên Tích, Chính Lý Hầu Mạc Tử Sanh. Bên hữu thờ các con cháu dòng họ Mạc, bên tả có bài vị phu nhân Thái Thái mẹ Mạc Cửu, phu nhân Nguyễn Thị Thủ vợ Mạc Thiên Tích, tiểu thư Mạc Mi Cô. Truyền thuyết kể rằng, người con gái thứ năm của Mạc Cửu mới sinh ra đã có mái tóc dài một thước, mới 3 tuổi răng đã mọc đủ, ăn nói rành rẽ nhưng xương sống yếu phải nằm một chỗ. Cận thần cho đó là điềm xấu, Mạc Cửu liền sai người đi cho chôn sống. Không lâu sau tin đồn về người con gái xấu số lan xa cùng những truyền thuyết xoay quanh câu chuện cô hiển linh. Tục truyền Mạc Mi Cô được phối tự ở bàn thờ bên tả của đền thờ Mạc công trông ra cổng Tam Quan, những gian thần, người xiểm nịnh đi qua cổng đều bị cô vật chết. Ai cũng sợ nên vái van xin cô cho xây kín cổng lại. Đến nay dấu tích vẫn còn. Người đến viếng đền chỉ có thể vào bằng cổng giữa hay cổng bên mặt.<br />Đền thờ Mạc Công có biển đề Trung Nghĩa Từ, dân gian gọi là miếu ông Lịnh vì Mạc Cửu đựơc tôn xưng là Mạc Lịnh Công. Khởi thuỷ ngôi đền này do Mạc Công Du lập đến năm Thiệu Trị thứ 6- Năm1846 mới lợp ngói. Từ đó tới nay được tái thiết tu bổ nhiều lần. Di tích hiện tồn là kiến trúc có giá trị nghệ thuật, trạm trổ tinh vi, sắc sảo.Trong miếu còn ghi lại những bài thơ Nôm vịnh thập cảnh Hà Tiên, Bản Nhật Lịnh của tướng Long Hổ Trần Hầu và tranh vẽ đề tài Bát Tiên, ngư tiều canh mục …..Trước sân có ao sen “Bảo Nguyệt Liên Trì ”, mùa hạ hoa nở toả hương thơm ngát. Phía ngoài cổng có hai câu đối :<br />“Nhứt môn trung nghĩa gia thanh tọng ,Thất diệp phiên hàn quốc thân vinh “.<br />Đền thờ các đạo sắc truy phong. Theo Đại Nam liệt truyện tiền biên thì năm 1785 Mạc Cửu bị bệnh qua đời được chúa Túc Tông phong cho là Khai Trấn Thượng Trụ Quốc Đại Tướng Quân Vũ Nghị Công, rồi năm Minh Mạng Thứ 3 (1822) truy phong Mạc Cửu làm Thụ Đức Thuận Nghĩa và chuẩn cho làng Mỹ Đức ở Hà Tiên thờ phụng như cũ. Năm 1829 Mạc Công Du vì già yếu về hưu. Năm 1830 Lấy Mạc Công Tài làm Quản Thủ Hà Tiên. Năm Tự Đức thứ nhất ấn phong cho cháu cố là Mạc Văn Phong làm đội trưởng để thờ cúng Mạc Thiên Tứ. Gọi là đền thờ họ Mạc, nhưng ngoài đối tượng thờ tự chính như đã nêu trên, hai gian bên còn phối tự các quan học sĩ và các thuộc tướng của Trấn Hà Tiên. Nói chung đền thờ này và khu lăng trên núi Bình San là một di tích lịch sử của xứ Hà Tiên xưa. Ngoài ra thời họ Mạc ở Hà Tiên đạo phật được sùng hưng do đó ở đây có nhiều ngôi chùa cổ liên quan đến lịch sử vùng đất này như chùa Tam Bảo, Chùa Phù Dung….<br />Nguyên dòng họ Mạc ở Hà Tiên có một thể thức để đặt danh hiệu là dùng 7 chữ : Thiên-Tử-Công-Hầu-Bá-Tử-Nam để làm chữ đệm tên. Bắt đầu từ Mạc Thiên Tích lót chữ Thiên, rồi kế tiếp con Mạc Thiên Tích lót chữ Tử như Mạc Tử Hoàng, Mạc Tử Dung. Con Tử Hoàng lót chữ Công như Mạc Công Tài, Mạc Công Du. Con Công Du lót chữ Hầu như Mạc Hầu Hy, Mạc Hầu Diệu. Con Hầu Hy lót chữ Ba như Mạc Bá Bình, Mạc Bá Thành. Con Bá Thành lót chữ Tử là Mạc Tử Khâm. Mạc Tử Khâm không có con trai đến đây tuyệt tự. Bảy chữ lót Thiên-Tử-Công-Hầu-Bá-Tử-Nam trong sử gọi là “Thất diệp phiên hàn”. Bảy lá-thất diệp ứng về tông chi (một cội) họ Mạc. Từ Mạc Cửu truyền đến Mạc Tử Khâm vừa đúng 7 đời thì chấm dứt. Trong đền thờ có 12 đạo sắc truy phong của vua minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Trong chánh điện bàn thờ giữa thờ linh vị của Võ Nghị Công Mạc Cửu, quốc lão Mạc Thiên Tích và chính lý Hầu Mạc Tử Sanh. Bàn thờ bên hữu thờ linh vị các quan thượng đẳng thần. Bàn thờ bên tỷa có bài vị Thái Thái phu nhân( mẹ của Mạc Cữu), phu nhân Nguyễn Thị Thu (vợ của Mạc Thiên Tích) và tiểu thư Mạc Mi Cô (tục gọi là cô năm)<br />Hai gian phải trái có bài vị thờ các quan học sĩ và các thuộc tướng trấn Hà Tiên. Trên vách mỗi gian có bia bằng đá đen khắc tên nhửng quân sĩ tử trận.<br />Tình – ThơGiữa Mạc Thiên Tích và cô gái giả trai Xứ Quảng<br />Vào đêm nguyên tiêu năm Bính Thìn (1736) Mạc Thiên Tích mở Tao Đàn Chiêu Anh Các, có 36 thi nhân tham gia, gọi là tam thập lục anh kiệt.<br />Giữa dạ hoa đăng, một chàng thư sinh nho nhả cất tiếng ngâm 8 câu thơ, sau thi sĩ Đông Hồ dịch nôm :<br />Đêm xuân hội mở tuần trăng mớiĐốt hỏa đèn dưa sáng quả trăngÁo gấm thanh vân tô điểm tíchLòng son đơn quế dải cung HằngĐây Chiêu Anh Các lời châu ngọcKìa quảng Hằng Cung rạng tuyết băngNon nước thần tiên mừng có chủCỏ nhàn mừng tỏ mặt hoa dăng.<br />Nghe bài thơ ngâm với giọng trữ tình, Mạc thiên Tích rất ngạc nhiên. Chàng thư sinh có mặt da hoa phấn. Trong lúc cao hứng, Mạc Thiên Tích ứng khẩu với lời lẽ như trêu ghẹo.<br />Bên kia sen nở nhiều hoaNgười khen hoa đẹp nỏn nà hơn em.Trên bờ em đứng em xemMọi người sao bỗng không thèm nhìn hoa.<br />Chàng thư sinh không chút ngại ngùng trả lời Mạc Thiên Tích.<br />Mặt ao sen nở khắpTrông hoa lẫn bóng ngườiTrên bờ ai đứng ngắmSao chẳng thấy hoa tươi ?<br />Hai người kết bạn ngâm vịnh tâm đắc.<br />Sau Mạc Thiên Tích mới rõ chàng thư sinh ấy là gái giả trai, tên là Nguyễn Thị Xuân, gốc Quảng Nam, theo cha vượt biển vào Hà Tiên buôn bán.<br />Vì đường biển lúc bấy giờ b an thường có cướp, Nguyễn Thị Xuân sợ bị hại nên giả trai.<br />Mạc Thiên Tích cưới nàng Xuân làm vợ lẽ. Vợ chánh của Mạc Thiên Tích là phu nhân Nguyễn Thị Thủ ghen. Nhân lúc Mạc Thiên Tích bận việc quân, phu nhân bắt nàng Xuân bỏ vào lu nhốt. Vào lúc ngộp thở suýt chết, nàng Xuân may mắn được chồng về kịp, cứu thoát.<br />Nàng xin đi tu, Mạc Thiên Tích cấ am tự cho nàng trên núi để tĩnh tâm sống hết quãng đời còn lại.<br />Về sau, một văn nhân nào đó không rõ tên tuổi đã ghi lại một bài thơ dưới ngôi am tự.<br />Ngó lên am tự Phù CừThương cho ngườ ngọc giã từ lầu sonVề đây nương chốn Thiền mônTay lần chuỗi hạt cho mòn ngày xanhDuyên xưa chẳng bận chi tìnhBụi kia chi để vương cành hoa senNước trong không rửa đánh phènCửa thiền thanh tịnh não phiền sạch không.<br />Trước khi mất, bà Nguyễn Thị Xuân đã làm một bài thơ để lại.<br />Xuất xứ trần nê cảnh giới tiềnƯng đương thanh bạch đi viêm thiênXuân thu nùng đạm quần phương phốCao khiết hà như dạ chiểu liên.<br />Dịch nôm :<br />Vương khỏi bùn nhơ thoát vươn lênPhỉ lòng trong trắng giữa thiên nhiênXuân thu đậm nhạt bao hồng tíaĐừng sách Thanh cao với đoá sen<br />Chùa Phù Dung<br />Là một ngôi chùa nhỏ nằm dưới chân núi Bình San – Diệp Thuý thuộc địa phận xã Mỹ Đức, huyện Hà Châu, thị xã Hà Tiên. Chùa này do Mạc Thiên Tích dựng năm Thiệu Trị Thứ 6.<br />Tục truyền, đây là một ngôi chùa do Mạc Thiên Tích xây cho bà thứ cơ của ông ta. Khi bà mết, mộ bà được chôn bên cạnh chùa. Ngôi mộ cổ này được người đời sau gọi là mộ Bà Dì Tự, Ao sen cũng như ngôi mộ gọi là ao Bà Dì Tự. ” Dì Tự ” là cách gọi tắt cụm “Bà Dì ở am tự “.<br />Ngôi chùa này tương truyền gắn bó cùng với một truyện tình buồn giữa nàng Phù Cừ tên thật là Nguyễn Thị Xuân và Mạc Thiên Tích con trai Mạc Cửu đang làm tổng trấn Hà Tiên lúc bấy giờ. Truyện kể rằng :<br />Dì Tự vốn là cô gái có tên là Phù Cư, con của một túc nho tên là Nguyễn Nghi. Lớn lên trong thời Nam Bắc phân tranh, Nguyễn Nghi muốn lánh xa chỗ phân giới, nơi quân Trịnh – Nguyễn thường giao chiến, nên đi lần vào nam. Nguyễn Nghị cư trú ở Gia Định. Năm 1730, giặc Sa Tốt Ai Lao và giặc Chân Lạp liên minh tấn công Gia Định, vợ ông bị chết trên đường chạy loạn.<br />Vốn trước đó, Nguyễn Nghi có nghe đồn đại nhiều về trấn Hà Tiên, về cảnh trí thiên nhiên cũng như hào kiệt và anh tài của vùng đất này, do đó, nguyễn nghi quyết dẫn con tìm đến trấn lỵ Phương Thành của trấn Hà Tiên.<br />Ở Phương Thành một thời gian, Nguyễn Nghi được Mạc Cửu, Tổng binh rấn Hà Tiên, kết nạp vào hàng nhân sĩ. Và chẳng bao lâu sau, tài văn chương của Nguyễn Nghi được Mạc Thiên Tích, con trai của Mạc Cửu thán phục.<br />Năm 1735 quốc công Mạc Cửu qua đời triều đình sắc phong cho Mạc Tứ chức Tổng Binh Khâm Sai Đại Đô Đốc Hà Tiên Trấn đồng thời còn cho con cháu dòng họ Mạc được thừa hưởng 7 đời tập ấm gọi là Thất Diệp Phiên Hán tức là lấy chữ Thiên Tứ Công Hầu Bá Tử Nam làm chữ lót và lấy năm chữ trong bộ ngũ hành sinh hoá là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả Thổ ghép vào chữ tên cuối cùng được ghép dùng bộ ấn ghép vào chữ họ – tức là đổi tên để phân biệt với những dòng họ Mạc đương thời nhưng không có công đức gì trong việc khai trấn, vì thế Mạc Tứ Mới đổi tên thành Mạc Thiên Tích và tiếp tục sự nghệp của cha phát triển đất Hà Tiên. Mạc Thiên Tích kế nghiệp cha đẩy mạnh việc khẩn hoang, phát triển kinh tế và mậu dịch khiến Hà Tiên trở thành một đô hội sầm uất. Đặc biệt Mạc Thiên Tích lưu tâm đến việc tu bổ văn nghiệp. Ông chiêu tập các văn nho khắp nơi lập một hội tao đàn lấy tên là Chiêu Anh Các để làm nơi tụ hội của các tao nhân mặc khách đàn luận văn võ, trong nội điện là văn miếu thờ thánh khổng Phu Tử và làm nhà nghĩa học thu nạp các đệ tử ưu tú, giúp đỡ các thiếu niên hiếu học không còn điều kiện theo đuổi việc học.<br />Nguyễn Nghi là một trong các vị học sĩ được chọn giảng sách ở nhà nghĩa học. Vì học vấn uyên thâm và phẩm cách cao nhã nên ông được các môn sinh trọng vọng, đồng bối quí mến và được Mạc Thiên Tích mời dự vào việc tham mưu tư lệnh.<br />Nói về Phù Cừ, khi dời Gia Định theo cha chạy loạn, nàng phải cải trang thành một chàng trai đề tránh mọi bất trắc dọc đường và khi về Hà Tiên, để tiện việc giao du với các môn đệ của cha, theo đòi việc nghiên bút, Phù Cừ ăn mặc theo lối thư sinh. Vốn tư chất thông minh, Phù Cừ là một trong những học trò xuất sắc của nhà nghĩa học. Do đó trong đêm hội nguyên tiêu, Phù Cừ đã được Mạc Thiên Tích chú ý và những văn nhân khác đều hết lời khen ngợi. Nguyễn Nghi hầu như gởi gắm tất cả tình thương và kỳ vọng vảo đứa con gái duy nhất này. Ông định đôi năm nữa sẽ từ quan và đưa Phù Cừ về quê ngoại ở Gia Định để ở với bà ngoại và dì của Phù Cừ. Lúc đó Phù Cừ sẽ cởi bỏ lốt nam trang để sống cuộc sống bình thường như bao thiếu nữ khác. Nhưng dự định chưa thực hiện được thì Mạc Thiên Tích lệnh cho ông đem “gã thư sinh ” Phù Cừ vào hầu nghiên bút ở trong dinh của Mạc Thiên Tích. Nguyễn Nghi gặp cảnh tiến thoái lưỡng nan khó xử này lo lắng không yên. Cuối cùng, Nguyễn Nghi đành nhờ hai bạn đồng bối thân thiết của ông vào dinh tâu trình việc Phù Cừ giả trai với Mạc Thiên Tích. Mạc Thiên Tích chẳng những không quở phạt gì mà trái lại còn ngỏ ý nạp Phù Cừ làm thứ cơ trong phủ.<br />Sau tiết đoan dương năm Đinh tỵ (1737) Phù Cừ được tiến vào phủ. Giờ đây, Phù Cừ là thứ cơ của Mạc Thiên Tích. Nàng sống thanh nhàn ở một lầu Điệp Thúy, dựng trong khu đất biệt lập, có hồ nước trong veo, trồng loại sen trắng tuyệt đẹp. Đặc biệt càng ngày Phù Cừ càng được Mạc Thiên Tích sủng ái và điều này khiến Hiếu Túc Nguyễn phu nhân, vợ chính của Mạc Thiên Tích ghen ghét.<br />Hiếu Túc Nguyễn phu nhân là một phụ nữ có chí khí hơn người. Bà đã từng huy động giới phụ nữ viện quân lương hỗ trợ cho binh lính trong trận chiến thắng chống lại quân Chân Lạp tấn công Phương Thành năm 1739. chính công lao này bà được chúa Nguyễn ban trí vật phẩm và phong tước Hiếu Túc nhất phẩm phu nhân. Ở trấn Hà Tiên này, bà là người có uy quyền thứ hai sau Mạc Thiên Tích.<br />Hôm nọ, nhân lúc Mạc Thiên Tích đang chỉ huy cuộc tập trận ở diễn võ trường tại núi Ngũ Hổ, Nguyễn phu nhân lập kế bắt Phù Cừ nhốt dưới chậu lớn, thường đặt giữa sân lộ thiên để hứng nước mưa dùng riêng cho việc pha trà, hải sâm, chưng yến và sắc thuốc.<br />Cuộc tập trận hôm đó ở bãi sớm hơn dự định vì bỗng nhiên trời đổ mưa dữ dội. Mạc Thiên Tích đội mưa phu ngựa về dinh. Giao cương ngựa cho thị vệ, Mạc Thiên Tích rảo bước vào trong. Ông thấy đám gia nhân đang lo hứng nước mưa, song ông chợt nhận ra chiếc chậu lớn nằm úp giữa sân chưa được lật lên để hứng nước. Mạc Thiên Tích ra lệnh cho gia nhân lật chiếc bồn ấy để hứng nước.<br />Đám gia nhân có vẻ chần chờ, rồi hè nhau lật chậu lên. Phù Cừ nằm trong chiếc chậu úp đã ngạt thở, tay chân co quắp, đầu tóc rũ rượi. Mạc Thiên Tích hiểu ngay mọi chuyện, liền ra lệnh cho đám thị nữ vực Phù Cừ vào nhà và truyền gọi thầy thuốc đến cứu chữa ngay.<br />Sau lần gặp nạn đó Phù Cừ xin Mạc Thiên Tích xây dựng cho mình một ngôi am tự để nương thâm sớm hôm kinh mõ và nàng cũng xin Mạc Thiên Tích tha tội cho vợ cả – Hiếu Túc phu nhân. Thấy ái cơ của mình ý đã định, lòng đã quyết như vậy, Mạc Thiên Tích cho lập một ngôi am tự cho Phù Cừ, cho khắc biển ngoài cổng là Phù Cừ am tự. Mạc Thiên Tích cho đào một ao nhỏ để trồng loại sen trắng, bứng từ ao trong dinh đem sang. Chùa Phù Cừ có từ đó. Về sau người đời không hiểu nghĩa của Phù Cừ xa lạ nèn đổi Phù Cừ thành Phù Dung cho hợp với thế thường.<br />Xưa kia Ngôi Am Tự này hết sức trang nghiêm và vô cùng kiên cố, cổng thành, đá cáng xây nền, đá dựng làm cột… rất công phu. Ngôi Am Tự này được đề hiệu là: “Phù Cừ Am Tự” phía sau Am Điện có xây thêm một toà điện đề Ngọc Hoàng Bửu Điện. Và đây cũng chính là nơi bà Nguyễn Thị Xuân thường ra đây thắp nhang và tịnh tâm, thỉnh thoảng người ta thấy Mạc Thiên Tích thường một người một ngựa đứng lặng im ngang sườn đồi bát giác dõi mắt trông sang toà Ngọc Hoàng mong bắt gặp lại bóng hình người yêu cho đỡ thương đỡ nhớ.<br />Chùa Phù Dung ngày nay được xây lại hoàn toàn. Chánh điện có nhiều tượng phật được bày trí trang nghiêm. Đặc biệt có tướng phật thích Ca bằng đồng đưa từ Trung Quốc về thờ. Ở giữa chánh điện là tượng phật Thích Ca, 2 bên là hai đệ tử là A Nan Ca Diếp. Ở đây có 4 bức phù điêu lớn (mỗi tấm cao 1.3m ngang 2.3m) minh hoạ 4 cảnh Thích Ca đản sanh, Thích Ca xuất gia, Thích Ca thuyết pháp, và Thích Ca nhập niết bàn, trong cuc đời đức phật Thích Ca. Sau chùa cất thêm điện Ngọc Hoàng.<br />Trong điện Ngọc Hoàng đặc biệt có 3 pho tượng: Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu được nghệ nhân xưa tạo hình rất sắc sảo và sau khi dùng thuốc để sử lý các thanh tre hầu chống lại các loại côn trùng gặm nhấm đem kết lại thành sườn rồi dùng hồ bột và giấy thơm tô đắp phần hình tượng, sau đó se những sợi chỉ bằng bột thật tinh xảo để tạo nét hoa văn rồng bướm trên long bào mao diện cuối cùng mới sơn son thiếp vàng lên để tăng thêm phần rực rỡ.<br />Ngày nay mặc dù Phù Cừ Am tự tức chùa Phù Dung ngày nay không còn vẻ nguy nga như tòa điện cách đây hơn 250 năm nữa nhưng vẫn còn chút gì đó phảng phất vấn vương của người xưa ……<br />Thắng Cảnh Chùa Hang<br />Từ thị xã rãch Giá theo quốc lộ 80 qua thị trấn Kiên Lương rẽ đến ngã 3 hòn. Nơi đây rẽ phải đi về Hà Tiên còn rẽ trái thì đi về chùa Hang.<br />Chùa Hang có từ thế kỷ 18 nằm trong dãy núi hòn chông. Từ ngoài bước vào chánh điện là tượng phật Thích Ca, tượng Bồ Đề Đạt Ma tượng phật nghìn mắt nghìn tay, tượng Đường Tam Tạng … Rẽ qua phải chính điện là đường dẫn vào hang. Lần theo con đường mòn tối ôm hai bên là vách đá ta sẽ bắt gặp trong hang có hai tượng phật tạc theo kểu Thái Lan do hai vị hoàng tử Chiêu Tuý và Chiêu Xí Xang con của vua Xiêm đắp trong lúc Mạc Thiên Tích cho lánh nạn tại đây .<br />Lần theo vách chùa Hang ta thấy vỏ hến bám đầy trên vách. Hang này cả ngàn năm trước là một cái hòn chơ vơ giữa biển lâu dần bị sóng xâm thực bào mòn trên núi đục đẽo thành hang sau đó được nâng lên rồi phù sa bồi đắp đến nay đã nằm yên trong đất liền<br />Trước của hang phía Nam có miếu bà chúa xứ chùa Hang. Đến cuối hang ra ngoài là bãi cát mịn màu mỡ gà, nước trong xanh nhìn ra xa xa là hòn phụ tử sừng sững mọc lên giữa biển<br />Rời khỏi hang có một vách núi nhô ra biển gọi là mũi công chúa Ngọc Du chuyện kể rằng khi đoàn thuyền của Nguyễn Anh bị quân Tây sơn truy đuổi chạy đến đây, tướng Tây Sơn đuổi kịp nhảy lên thuyền của công chúa Ngọc Du thì đồng thời công chúa cũng gieo mình xuống biển. Sau đó Nguyễn Anh trở lại và lập đàn tế đặt tên là mũi công chúa Ngọc Du.<br />Phía Bắc chùa là bọng nước tròn cở giếng nhỏ sát vách đá lúc nào cũng đầy nước chảy xuống từ khe đá trên núi được người dân sử dụng tưới cây, tắm giặt.<br />Phía Đông chùa Hang là hang Gia Long. Đây là hang động ăn ra biển bị mưa và sóng biển xâm thực tạo thành, từ cửa hang tiếp giáp ra biển khá xa. Hang tối đen như mực vì thế mà Nguyễn Anh đã lẫn trốn quân Tây Sơn tại đây trong một thời gian dài. Trên vách đá có những hình thù kỳ lạ do đá vôi kết hợp với nước mưa tạo thành, đặc biệt là luôn rĩ nước có nơi nước chảy thành vòi. Tương truyền lúc Nguyễn Anh trốn trong hang đã lấy nước này cho quân sĩ uống và đặt tên là giếng tiên .<br />Phật Di Lạc có pháp thuật rất là cao siêu; ở dâu nghe tiếng kêu của chúng sinh sự đau khổ thì ông ta sẽ đến giúp; nên ông ta có thể biến ra muôn hình vạn dạng để cứu giúp.<br />Click this bar to view the full image.<br />Theo truyền thuyết về phật Di Lạc. Bắt nguồn từ Tây Tạng nơi có ngọn Êvares; nơi đây xuất hiện một vị hòa thượng nhìn rất vô hình tướng lúc thì to con, lúc thì nhỏ con nhưng về sau không ai nhớ hình dạng của Ông như thế nào; nhưng chỉ nhớ là Ông luôn nở nụ cười và bụng ông rất to.<br />Nhiệm vu, của Ông khi trời nắng Ông ta cột khúc gỗ và kéo để báo cho mọi người trời sẽ nắng và có hạn hán.<br />Trời lụt hay trời mưa thì Ông sẽ nhúng giày của ông ta xuống nước để báo cho mọi người là trời sẽ mưa.<br />Những đứa trẻ gặp bất hạnh thì Ông sẽ đổ túi vải Như Ý ra trong đó có đồ chơi để để giúp đỡ cho những đứa bé.<br />Sau này, hòa thượng Thế Thử viên tịch; trước khi viên tịch ông luôn nói “di lạc, di lạc, tâm di lạc”. Lúc đó mọi người mới phát hiện ra đây là vị phật trong tương lai thì sau đó hội phối thờ theo phật Thế Thử .<br />Ông này có miệng rất lớn: miệng lớn để cười mọi việc mà người đời không ai cười được; ví như trên đời có những việc đau khổ và Ông sẽ nhận những việc đau khổ đó để lại niềm vui cho chúng ta.<br />Và lỗ tai ông rất lớn, lỗ tay của ông là hiện thân của Quan Thế Âm hiện thành, Quan Thế Âm là vị Phật nghe được mọi tiếng kêu của chúng sinh mà để phổ độ và lúc này tai của ông là của phật Quan Thế Âm; mọi tiếng kêu trên thế gian này ông sẽ sẵn sàng nghe và phổ độ.<br />Bụng của Ông lớn, bụng lớn thể hiện sự giàu sang và phú quý; muốn con người sống ấm no, hạnh phúc; bụng Ông rất lớn còn thể hiện sự khoan dung mà người đời ai không thể làm được; tức là giữ lại cho chúng ta những gì tốt đẹp nhất.<br />Và trong tương lai kinh phật dự định khoảng 6000 năm nữa chúng ta chỉ thờ một mình vị phật này thôi vì nhiệm vụ của những vị phật khác nhau đều quy tựu về vị phật Di Lạc hay còn gọi là phật Vị La.<br />Hòn Phụ Tử<br />Đẹp nhất và nổi tiếng nhất phải kể đến hòn phụ tử, xưa nay là hình ảnh biểu trưng cho non nước Hà Tiên thơ mộng quyến rũ. Hòn phụ tử gồm 2 trụ đá, một cao to, một thấp bé nhô lên từ biển trông như hình tượng cha con quấn quýt nhau dấm mưa dãi nắng từ bao vạn thế kỷ giữa mặt nước trong xanh<br />Hòn phụ tử được xem như là biểu tượng của du lịch Kiên Giang. Theo truyền thuyết Khmer kể lại rằng: Tại vùng đất này trước kia có rất nhiều cá sấu rất hung dữ mà người xưa thường gọi là con thuồng luồng. Những con cá sấu này thường quấy phá và làm hại dân làng nơi đây. Có hai cha con nhà kia muốn cho dân làng có cuộc sống yên vui cho nên họ đã quyết định giết chết những con cá sấu này. Một hôm hai cha con này cùng với một người dân làng đã đến núi Tà lơn, Tà Keo để tìm sư học đạo, vị đạo sĩ đã cho hai cho con này 2 lọ thuốc thần để họ thoa lên người, thuồng luồng sẽ sợ và không dám cắn họ và họ có thể giết chúng. Hai người đã giết chết 39 con cá sấu và chỉ còn lại con cá sấu chúa. Họ quyết định tha mạng cho con cá sấu này và lên thuyền vào bờ nhưng không ngờ con cá sấu này bổng nổi lên phá thuyền, người con quên rằng thuốc trên người anh đã hết công hiệu liền xông vào chiến đấu với nó và bị cá sấu cắn đứt đầu . Không kịp thoa thuốc lên người người cha liền dùng thuốc và nhảy vào miệng con cá sấu, người cha chết và con cá sấu cũng chết theo. Người dân ở đây đã lấy sự tích này đặt tên cho hòn đào có hình giống hai cha con tựa vào nhau trong tư thế đứng vững chắc trước sóng gió cuộc đời.<br />Bên cạnh truyền thuyết thuồng luồng còn có một truyền thuyết nghe cũng rất hợp logic. Theo người Kiên Giang thì họ quen gọi là hòn phụ tử nhưng nói đúng là hòn Phu Phụ Tử.<br />Trên mặt biển nhô lên hai tảng đá cao, nghiêng nghiêng một chiều, khoảng giữa là tảng đá thấp hơn. Các tảng đá này được dính liền với nhau. Có người cho rằng tảng đá tảng đá phía trước là cha tảng đá ở giữa là con và tảng đá sau cùng là mẹ. Vì sao lại gọi vậy? Điều này rất gắn liền với triết lý Phương Đông và rất là gắn liền với lịch sử, văn hóa Việt Nam chúng ta. Đất nước ta là ngàn năm Bắc Thuộc; sau là Ngô Quyền đánh quân Nam Hán; Lê Hoàng đánh quân Tống; sau này là Trần Hưng Đạo 3 lần đánh tan quân Nguyên Mông; rồi Lê Lợi đánh nhà Minh; Quang Trung đánh quân Thanh và sau này là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Nếu có dịp đi Xuyên Việt ở tận cùng tổ quốc khu vực Hạ Long – Quảnh Ninh (điểm đầu tiên của tổ quốc) và Hàm Tiên (điểm cuối cùng của tổ quốc); chúng ta có thể được hình tượng mà tạo hóa đã tạo giống như là Romio và Juliet nhưng ở đó là hình tượng người chồng chia tay người vợ vì chúng ta bị giặc giã; để rồi chúng ta có một nàng Tô Thị ở Lạng Sơn; một Hòn Vọng Phu ở Thanh Hóa; chúng ta có một Hòn Vọng Phu ở Nghệ An; một Hòn Vọng Phu ở Nha Trang. Ở đâu chúng ta cũng có Hòn Vọng Phu cả; vì người chồng ra chiến trận thì người vợ ở nhà chờ chồng nuôi con cứ như vậy, như vậy con lớn đến ngày hôm nay khi đất nước hòa bình thì tận cùng tổ quốc họ được sum vầy ông bà, vợ chồng, con cái. Điều đó thể hiện, đáp lại lòng chung thủy của người phụ nử; yếu tố này nghe hay hơn hòn phụ tử.<br />Đồng thời, họ cũng cho rằng những tảng đá nơi đây có liên quan đến truyền thuyết của núi vọng phu và nơi kết cục của sự chờ đợi, vợ chồng con cái được gặp nhau nơi tận cùng tổ quốc. Đây chính là những suy tưởng cao đẹp về sự sum họp gia đình của con người. Bởi vì theo truyền thuyết về Hòn Vọng Phu : ở ngoài Bắc có núi vọng phu là ngọn núi cao nhất của Trường Sơn – có nàng Tô Thị chông chồng. Người chồng đi tiếp xuống phương nam, sống với một bộ lạc ở ngoài thành Óc eo, tức là Vọng Thê thuộc địa phận núi Sập tỉnh An Giang. Lâu ngày nhớ vợ, anh bèn ra một hòn đảo ở ngoài biển. Cứ chiều chiều anh dắt con ra mé đảo trông về chốn cũ làng xưa. Người dân tại nơi đây đã lấy hình ảnh này mà đặt tên cho ngọn núi là núi Vọng Thê. Và có lẽ trong khi vợ chàng hoá thành tượng vọng phu thì cha con chàng cũng biến thành hòn phụ tử .<br />Chùa Sắc Tứ Tam Bảo<br />Chùa Tam Bảo tọa lạc tại số 328, tổ 2, ấp Ao Sen, đường Phương Thành, thị xã Hà Tiên. Chùa có tên gọi là chùa Tam Bảo được xây dựng từ năm 1730.<br />Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang có 2 ngôi chùa Sắc Tứ Tam Bảo một tại Hà Tiên, một tại Rạch giá đều rất nổi tiếng.<br />Theo Đại Nam Nhất Thống Chí: chùa Tam Bảo trước đây thuộc huyện Hà Châu do Mạc Cửu xây dựng cho mẹ là phu nhân Thái Thái tu hành vào những năm cuối đời. Khi Mạc Cửu lập nên thị trấn Hà Tiên, mẹ ông là Thái Thái tuổi đã ngoài 80 do nhớ con da diết, bà đã từ Lôi Châu vượt biển tới (cũng có tài liệu khác cho rằng khi Mạc Cửu đã thành danh mới đón mẹ từ Trung Quốc sang ở chùa này) Mạc Cửu phụng dưỡng mẹ rất chu đáo, làm trọn bổn phận của một người con hiếu thảo. Phu nhân vốn tánh mộ phật cho nên Mạc Cửu đã cho dựng chùa này để cho mẹ thể hiện lòng thành kính và ngày ngày chiêm bái, một hôm bà đang làm lễ trước phật điện, thì phu nhân đột nhiên qua đời nay trước bàn thờ Phật. Mạc Cửu theo nghi lễ chôn cất cho mẹ rất trang trọng, chu đáo và cho xây dựng mộ ở phía hậu viên của chùa. Mạc Cửu khi đó đúc tượng Di Đà họa theo mẫu thân của mình để thờ. Hiện nay tượng vẫn còn .<br />Hình tượng ngôi chùa ngày xưa do Mạc Cửu xây dựng cho mẹ hiện nay không còn mà chỉ còn lại một chút dấu vết là những bước tường thành xung quanh chùa. Ngoài ra ông còn cho đúc một đại hồng chuông để khi nghe tiếng chuông mà tưởng nhớ đến thân mẫu của mình.<br />Tại đây còn có một truyền thuyết kể lại rằng: Khi xây chùa xong, ngài Mạc Cửu nằm mộng thấy Rồng Vàng Ngậm Hoa Sen, ứng với việc hoà thượng Huỳnh Long tức Ấn Trừng Thiền Sư, thuộc dòng Lâm Tế thứ 35, từ Trung Quốc sang Hà Tiên. Khi Mạc Cửu gặp Hoà Thượng, thì ông không mở cổng chùa mà còn bảo :“làm sao vô được thì vô”, tức thì hoà thượng liền phi thân bay vào. Từ đó hòa thượng được gọi là Quốc Sư và là người đầu tiên trụ trì chùa Tam Bảo. Hiện Nay vẫn còn Bảo tháp của Quốc Sư. Trước đây chùa nằm trên vùng đất ngoài dinh trấn cách dinh trấn khoảng vài cây số. Năm 1771 chùa bị thiêu hủy và mãi đến năm 1799 thì con cháu Họ Mạc mới xây dựng lại chùa nằm phía trong dinh trấn, cho nên vòng thành tuy bị phá bỏ nhưng nhưng vẫn còn lưu lại dấu vết. Chùa Tam Bảo hiện nay là hoàn toàn mới xây lại do hoà thượng Phước Ân thuộc dòng lâm tế đời thứ 40 vào năm 1930.<br />Thi sĩ đông Hồ Lâm Tấn Phác trong bài viết về Hà tiên, Mạc Thị Sử đăng ở tạp chí Nam Phong số 143 tháng 10 năm 1929 có ghi : « Tên chùa gọi là Tiêu Tự, tục gọi là chùa Tam Bảo »<br />Chùa có khuôn viên khá rộng. Ở cổng vào có đôi câu đối<br />Nhất trần bất nhiễm Bồ đề địaVạn thiện đồng qui bát nhã môn(Đất Bồ đề không vương bụi tụcCửa Bát nhã có sẳn duyên lành)<br />Ở sân trước có đặt tượng Quan Âm lộ thiên dưới bóng cây Bồ đề. Chánh điện đã được trùng tu lại. Mặt tiền có hai tập câu đối nhưng bên trong lại không có câu nào. Trên bàn thờ ở tầng trong cùng có tượng đức phật Di Đà bằng đồng đã được thếp vàng cùng với hai pho tượng quan Am và Thế Chí. Ở tầng dưới có tượng đức phật Thích Ca sơ sinh và hai pho tượng Thích ca thành đạo. Ngoài ra cũng còn có các pho tượng Hộ Pháp, địa Tạng, và ông Tiêu. Con có 4 bệ thờ do Thái Lan tặng<br />Phía sau lưng bàn thờ phật là gian thờ Tổ. Ở đây có mấy câu liễn được treo trên cột. Chùa Tam Bảo đã trãi qua mười mấy đời truyền thừa . Vị trụ trì đầu tiên là hòa thượng An` trừng dòng Lâm Tế thứ 35. Tiếp theo là các Hoà thượng Minh Tâm, Minh Liêm, Minh Thông, Minh Chơn, Như Đức,Như Khả, Nhứt Huy, Thuần Hạnh,Phước Thành, Phước An, Phước Quang,Quãng Đức, Vĩnh Đạt, Thiện Giác và thích nử Như Hải. Từ năm 1974 chùa Tam Bảo trở thành ni tự.<br />Phía sau chùa có ngôi nhà lầu dùng làm ni thất, kiến trúc hiện đại và khu mộ tháp. Nhà giám trai ở phía tay phải ngôi chùa gồm 3 gian. Nơi đây cũng có một số câu đối. Câu ở ngoài cùng ghi<br />Thiên địa chí công vi thiện tự nhiên nhân hoạch phúcThánh hiền thuỳ huấn tu thân phương khả dĩ tề gia(Trời đất rất công, tích thiện tự nhiên được phứcthánh hiền vẫn dạy, tu thân rồi mới tề gia)<br />Chùa sắc tứ Tam Bảo là một ngôi chùa cổ, có lịch sử lâu đời trên 200 năm đã được các sách sử nói đến nên được nhiều người biết tiếng và đến tham quan khi có dịp ghé Hà Tiên<br />Ý NGHĨA CỦA NHỮNG PHO TƯỢNG PHẬT:<br />Phật Đản Sanh<br />Trước khi phật sinh ra và viên tịch chỉ nhắc tới một điều! Khi phật sinh ra bước đi 7 bước thì có bảy hoa sen; tuyên truyền phật sinh ra từ nách chứ không phải như các cậu bé bình thường khác; nhưng điều đó chỉ do người ta thần thánh hóa lên; phật cũng như bao người khác. Khi phật vừa sinh ra thì phật bước 7 bước và hiện thân cho 7 hoa sen; 7 hoa sen thể hiện cho “thất tình”của con người: Tham, Sanh, Si, Hỷ, Nộ, Ai, Ố.<br />Một tay Ông chỉ lên trời 1 chỉ dưới đất ông muốn nói “thiên thượng địa hạ di ngã độc tôn” đây là tiếng của mình dịch theo sách kinh của Trung Quốc; nhưng nghĩa của tiếng Phạn dịch ra không phải như chúng ta thường hiểu câu nói trên là: “trên trời cao dưới đất rộng có Ông ta sẽ phổ độ chúng sinh” nếu dịch kinh như vậy là không đúng; nếu dịch đúng thì phải là: “trên trời cao dưới đất rộng sợ nhất là bản ngã con người, tự cao tự đại sẽ giết chết chúng ta” điều sợ nhất là bản ngã con người không tự chủ bản thân.<br />Phật Thích Ca Nhập Niết Bàn<br />Trước khi phật viên tịch. Đa phần nơi nào có tượng phật Đản Sanh thì sẽ có hình thể ông sang thế giới vĩnh hằng; đầu thì luôn luôn tựa gối đá để suy nghĩ; vì người ta nói “con thiếu mẩu, gối trầm đoàn, lả lơi loan phượng” khi phật viên tịch mọi người chất củi để hỏa thiêu nhưng đốt hoài không cháy; bổng nhiên lửa Tam Mũi đốt cháy ông. Sau này xác ông biến thành 83.000 hạt xá lợi chia cho các chùa trên thế giới thờ phụng.<br />Phật Bà Quan Thế Am Bồ Tát<br />Phật Quan Thế Âm Bồ Tát: phía trên có 3 lá bồ đề tượng trưng cho “Giác Ngộ”; điều này thể hiện cho thuyết Việt Nam “Thiên Địa Nhân”: Phật Bà Quan Âm sẽ phù hộ cho dân Hà Tiên nói riêng, Việt Nam nói chung “Thiên Thời Địa Lợi Nhân Hòa”. Đa phần các chùa đều thờ phật Quan Thế Âm Bồ Tát.<br />Phật Thích Ca Mô Ni<br />Phía sau cây bồ đề là tượng Thích Ca Mô Ni, lúc này ông đã giác ngộ. Trước đây, Phật Thích Ca vào rừng tu ép sát; sau này được một người chăn dê cho uống sữa dê và cho một hạt kê lúc này ông đã tỉnh ra, phật do tại tâm chứ không phải nhịn ăn uống là trở thành phật được.<br />Ngoài ra phía ngoài của chùa còn có khu mộ của 16 vị trụ trì. Đây là ngôi chùa cổ của Hà Tiên với lịch sử hơn 200 năm, gắn liền hình thành với quá trình hình thành thị trấn Hà Tiên và được nhắc đến nhiều trong các sách sử .<br />Mạc thiên Tích là con của Mạc Cửu đã cảm tác 11 bài thơ về cảnh đẹp Hà Tiên, gồm một bài tổng vịnh và 10 bài vịnh thắng cảnh. Trong đó có bài vịnh Cảnh đẹp “Tiêu Tự Thần Chung” trong đó có câu thơ :<br />“Chuông gióng chùa Tiêu tiếng tiếng cao”<br />Tiêu ở đây có nghĩa là vắng vẻ. Tự là cảnh chùa. Thần là buổi sáng sớm và chung là tiếng chuông. Tiêu tự thần chung có nghĩa là tiếng chuông buổi sớm ngân vang cảnh chùa tĩnh mịch. Và theo một số người giải thích tên chùa gọi là tiêu tự tục gọi là Tam Bảo.<br />Thạch Động Thôn Vân<br />“Qui trổ thần soi thấy một tàChòm mây phiến đá dâu tiên giaHang sâu thăm thẳm mây ùn lạiCửa rộng thênh thang gió thổi qua ……”<br />Một trong mười cảnh đẹp của Hà Tiên là Thạch Động mà các nhà thơ thường gọi bằng cái tên giàu hình tượng là “Thạch Động Thôn Vân “ có nghĩa là mây luồn Thạch Động. Sở dĩ động mang tên như vậy vì một hiện tượng thiên nhiên hết sức thú vị, lúc bình mình nếu ta nhìn lên đỉnh núi thì sẽ thấy những đám mây trắng như bông bay tỏa quanh núi, một số chùn xuống vấn vương quanh cửa hang và từ từ chui vào hang 50 m so với mực nước biển.<br />Thạch Động là một tảng đá xanh khổng lồ mọc trơ trọi giữa một vùng đất nằm kề quốc lộ 17 cách thị xã Hà Tiên khoảng 3 km và cách chợ Hà Tiên 4km về hướng Bắc, đây là khối khổng lồ. Trước khi vào Thạch Động ta sẽ bắt gặp bia căm thù, ghi lại cuộc thảm sát 130 người dân Việt Nam vô tội của Pôn Pốt năm 1978 và được bộ Văn Hóa công nhận di tích lịch sử ngày 1/12/1989.<br />Diện tích của Hang khá rộng và cùng với thời gian, nước mưa theo tháng năm xâm thực đá len lách chảy xuống hang hòa tan với chất vôi tạo nên những thạch nhũ độc đáo, khi bước vào Thạch Động mọi người sẽ thấy một vòm đá lớn rất nhiều thạch nhũ với nhiều hình dáng màu sắc khác nhau tạo nên rất nhiều sự liên tưởng kỳ thú. Có rất nhiều truyền thuyết đặt ra nhằm giải thích cho các hình thù thạch nhũ nhưng phổ biến và giống, ăn khớp với hình dạng hang động hay hơn cả là truyền thuyết về Chàng Thạch Sanh.<br />Trước khi bước vào hang ta sẽ bắt gặp một mỏm đá nhô ra bên trái của hang, trông giống như đầu con chim đại bàng. Bước vào bên trong là một vòm hang khá rộng với nhiều thạch nhũ mang những màu sắc khá kỳ bí.<br />Ngoài ra, trong hang có đường lên trời, đường xuống địa ngục (thực chất hang này có một lổ thông gió và một cái giếng thông với biển; nếu như ta bỏ một trái dừa vào giềng thì ta sẽ tìm thấy chúng ở Hòn Phụ Tử). Bên trong động có thờ Phật, hình Phật Bà…<br />Truyền thuyết Thạch Sanh ở Hà Tiên<br />Ngày xưa, đã lâu lắm rồi, lúc đất Hà Tiên còn là xứ Mang Khảm với núi rừng hoang vu kéo dài từ đất liền ra biển. Kẻ có quyền uy cao nhất của xứ sở này không phải là nhà vua mà là một con chằn tinh ở Thạch Động, một hang núi giữa rừng già thâm u quanh năm không một tia nắng nào dọi đến. Thường ngày chằn tinh ra khỏi hang đi săn bắt người ăn thịt. Nhà vua đã huy động quân mã biết bao lần tấn công vào hang ổ để diệt mối hại cho dân, nhưng không lần nào không chuốc lấy sự thất bại. Trong một trận chiến nọ, khi nhà vua kéo đám binh tướng thất trận chưa kịp trốn vào thành, nhà vua bị chằn tinh bắt được. Chằn toan xé xác nhà vua để ăn thịt, thì vua hốt hoảng đề nghị :<br />- Chằn ăn thịt ta thì chỉ no bụng một lần, chi bằng ngươi tha chết cho ta, ta sẽ buộ dân chúng đến nộp mạng cho ngươi. Hằng năm ngươi có cái ăn mà chẳn phải cất công đi săn đuổi.<br />Chằn nghe vậy thì bằng lòng.Từ đó, theo lệnh vua, trăm họ trong xứ luân phiên nhau nộp mạng cho chằn ăn thịt. Đã biết bao đời bao kiếp qua và không ai nhớ nổi là đã có bao nhiêu trai tráng bị chằn ăn tươi nuốt sống. Trước kia chằn còn sợ quan quân nhà vua, giờ vua đã khiếp nhược, chằn lại càng hoành hành hơn. Nhiều khi chằn xông vào tận nhà dân, tận cung điện để bắt người ăn thịt. Dân cứ ru rú trong nhà, cửa đóng then cài, vua quan năm thì mười họa mới dám ra khỏi thành.<br />Năm nọ, chiếu theo lệ thường, đến phiên nhà họ Lý phải nộp mình cho chằn ăn thịt. Người phải chịu chết là Lý Thông, một gã chuyên nghề buôn rượu. Nhận được lệnh, Lý Thông liền nghĩ kế gạt Thạch Sanh chàng trai nhà ở Đá Dựng.<br />Thạch Sanh là một chàng thanh niên khỏa mạnh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Hàng ngày kiếm sống bằng nghề đốn củi đem ra chợ bán. Lý Thông là một trong những khách hàng thường xuyên của Thạch Sanh. Hắn cần củi để nấu rượu. Hôm ấy Thạch Sanh gánh củi ra bán cho Lý Thông như thường lệ. Lý Thông đã định sẵn nên mời Thạch Sanh ở lại ăn cơm. Trong bữa cơm, Lý Thông và Lý Bà, mẹ hắn dùng lời ngon ngọt khuyên Thạch Sanh về ở với mình, kết nghĩa anh em với Lý Thông. Thạch Sanh nhận lời. Từ đó Thạch Sanh lo việc bửa củi, gánh nước giúp mẹ và người anh kết nghĩa.<br />Chờ đến đêm, đúng hẹn phải nộp mình cho chằn, Lý Thông vờ sai Thạch Sanh gánh hộ hai vò rượu vào Thạch Động. Chàng đặt gánh rượu trước cửa hang đá ngồi nghỉ và có ý chờ Lý Thông. Nhưng chỉ một lát, chằn từ trong Thạch Động thò tay ra nắm lấy vai Thạch Sanh.<br />- Chà, thằng này chắc thịt, đỏ da…khà… khàThạch Sanh gạt tay chằn ra quát :- Mi là ai, muốn gì ?Con chằn giơ đôi tay móng dài bén lẻm ra :- À, à mày đến nộp mạng mà còn hỏi cái gì à<br />Nói dứt lời, hắn vồ lấy Thạch Sanh. Nhanh như chớp, Thạch Sanh rút chiếc búa giắt ở bên hông chém phập vào bả vai chằn. Nó rú lên, rung chuyển cả núi rừng, rồi phóng ào ra bổ xuống người Thạch Sanh như một tản đá rơi từ trên cao xuống. Thạch Sanh vội nhảy phóc tới trước, chằn vồ hụt bị té sấp. Không bỏ lỡ dịp may này, Thạch Sanh đã sấn tới chém đứt cổ con chằn dữ…Thạch Sanh chờ đến tối vẫn không thấy Lý Thông đến đành quay trở về.<br />Đêm cuối tháng trời tối đen như mực. Thạch Sanh dò đường về nhà thì trời đã khuya. Thạch Sanh hắng giọng gọi cửa :<br />- Anh Hai ơi, mở cửa cho em !<br />Lý Thông bật dậy, hốt hoảng , Lý Bà mặt không còn chút máu. Bà đến bên bàn thờ lấy nén nhang đốt lên rồi quay mặt ra cửa vái :<br />- Thạch Sanh, con sống khôn thác thiêng, đừng về quấy mẹ và anh…Thạch Sanh chẳng hiểu gì, xô cửa bước vào :- Con đây này !<br />Lý Thông giật mình bước lui vào tron. Lý Bà ngã ra bất tỉnh, Thạch Sanh lay chuyển hồi lâu bà mới tỉnh lại. Thạch Sanh thật thà kể lại đầu đuôi mọi việc đã xảy ra. Nghe Thạch Sanh giết được chằn tinh, Lý Thông nảy ý gian. Hắn làm ra vẻ lo lắng :<br />- Sanh à, con chằn tinh ấy là con vật quí của vua nuôi từ lâu, nay em lại giết nó thì chắc không sao tránh khỏi tội xử chém…. Thôi còn ít cơm nguội, em ăn đi rồi vào rừng trốn ngay, kẻo có người biết chuyện thì khốn…. Em mà bị tội thì không khéo anh và mẹ cũng bị họa lây.<br />Vốn là một người chất phát, côi cút ở trong rừng từ thuở nhỏ nên khi nghe Lý Thông nói vậy Thạch Sanh tin ngay. Chàng trở về núi Đá Dựng náu thân. Sợ ra chỗ đông đúc, có người phát giác, Thạch Sanh bỏ nghề đốn củi và sắm sửa cung tên để săn bắt tìm lấy cái ăn.<br />Lý Thông, ngay sáng hôm đó, vào triều tâu với vua là mình đã giết được chằn tinh. Vua nghe tin cả mừng, liền sắp đặt yên cương kéo đoàn quân vào Thạch Động xem xét thực hư. Thấy chằn tinh đầu đã lìa khỏi cổ, vua khen Lý Thông không tiếc lời. Khi về đến hoàng cung, vua phong cho Lý Thông làm Tể tướng. Vương quốc Mang Khảm từ đó được hưởng thái bình.<br />Vua Mang Khảm có một người con gái duy nhất là công chúa Quỳnh Nga xinh đẹp tuyệt vời. Chiều theo ý con, nhà vua tổ chức lễ gieo cầu để Quỳnh Nga tự kén chọn ý trung nhân. Buổi lễ tổ chức ở giữa vườn thượng uyển. Nhưng khi Quỳnh Nga tay cầm quả tú cầu vừa bước lên đài cao giữa hàng ngàn cặp mắt dân chúng, từ trên không một con đại bàng sà xuống, buông đôi chân dài gắp công chúa bay vút đi, thoáng một cái đã mất dạng. Vua, hoàng hậu và triều thần điều hốt hoảng. Vua truyền cho Ly Thông đuổi bắt đại bàng. Lý Thông bắt đắc dĩ phải đem quân ra đi, song trong bụng nơm nớp lo sợ vì hơn ai hết hắn biết rõ hắn không đủ tài sức đánh bại con đại bàng dữ hung dữ này.<br />Nói về Thạch Sanh sáng hôm ấy, đang dõi mắt để săn thú thì chàng chợt thấy đại bàng bay qua, chân quắp một người. Thạch Sanh giương cung bắn một phát tên trúng ngay vào cánh đại bàng. Con ác điểu bị trúng tên, máu tuôn ra xối xả, nhưng vẫn cố sức quặp công chúa bay đi…. Tục truyền, máu của đại bàng rơi xuống trên mặt đất thành những gò, đồi trải dài từ Đá Dựng đến Thạch Động.<br />Quân lính dò tìm khắp nơi đã ba ngày rồi mà vẫn không đem về một tin tức nào. Nhà vua truyền lệnh bố cáo trong khắp thôn làng cầu kẻ tài giỏi đi tìm công chúa. Bố cáo nói rõ rằng ai cứu được công chúa sẽ được gã công chúa. Vương quốc ai cũng xôn xao vì biến cố trọng đại này.<br />Lý Thông đang nôn nóng vì sợ có kẻ giành mất dịp may có một không hai này thì hắn chợt nhớ đến Thạch Sanh, người đã tạo nên công tích cho hắn được vinh hoa phú quí mấy năm qua. Hắn phi ngựa đến núi Đá Dựng để tìm Thạch Sanh. Gặp nhau sau bao năm xa cách, Thạch Sanh vô cùng xúc động. Sau khi thăm hỏi, chuyện về gia đình, về Lý Bà… Lý Thông đem chuyện công chúa bị đại bàng bắt cóc kể cho Thạch Sanh nghe và nhờ Thạch Sanh giúp mình đi tìm công chúa. Thạch Sanh nghe Lý Thông nói bèn thuật lại chuyện chàng bắn đại bàng cách đây mấy hôm. Thế là Lý Thông cùng Thạch Sanh lần theo dấu vết máu tìm đến hang của đại bàng. Đó là một tảng đá xanh khổng lồ, đột ngột nổi lên giữa rừng cây dày đặc, cao đến tận mây. Tảng đá to lớn, mở toang hoác ra một cửa động lởm chởm và ẩm ước âm u đến rợn người. Người đời sau gọi hang này là Thạch Động.<br />Lý Thông nhìn vào trong hang tối om thăm thẳm không dám bước vào. Thạch Sanh với sự thành thạo của một người tiều phu dày dạn chỉ một lát đã chặt mấy thắt xong chiếc dóng. Chàng ngồi vào dóng và bảo Lý Thông dóng mình xuống hang. Từ bên dưới hang sâu đen tối vọng ra tiếng than khóc đã định hướng cho Thạch Sanh tiến vào. Đại bàng thấy có bóng người liền đập cánh toan xông ra, nhưng vết thương ở cánh đã làm nó kiệt sức nên con chim dữ chỉ dấn lên từng bước yếu ớt. Nghe tiếng động, Thạch Sanh vung búa chém bừa và một trong những nhát búa ấy đã đập vỡ đầu đại bàng.<br />Công chúa thấy chàng trai lạ, trên người chỉ mặc độc chiếc khố bằng bẹ chuối khô, liều thân cứu mình thì rất cảm kích. Sẵn trái tú cầu còn nắm trong tay, công chúa liền đưa nó cho Thạch Sanh. Thạch Sanh dắt trái tú cầu vào lưng khố, rồi chàng bồng công chúa đặt vào dóng giật dây ra hiệu cho Lý Thông kéo dóng lên. Nhận ra công chúa, Lý Thông liền vất dóng đi và vần những khối đá lấp kín miệng hang. Mọi việc đâu vào đấy, hắn vội cõng công chúa ra về.<br />Thạch Sanh ở dưới hang đợi mãi không thấy Lý Thông thả dóng xuống đưa mình lên, lại thấy ánh sáng ở cửa hang bị bưng lại thì biết Lý Thông đã hại mình. Chẳng còn lối nào khác, Thạch Sanh đành lần mò sâu trong hang với hy vọng ở phía đó có ngõ ngách nào khác để lên khỏi hang. Tay vịnh chân trèo dò đường một hồi lâu, bỗng Thạch Sanh nghe có tiếng khóc se sẽ sau một phiến đá. Chàng vun búa đập vỡ phiến đá làm lộ ra một ngách nhỏ, trong đó có một chàng trai nhốt trong cái cũi sắt. Thạch Sanh hỏi ra thì mới biết chàng trai ấy là Thái tử con vua Cần Một chẳng may bị đại bàng bắt giam ở đây đã non ba năm. Chẳng một phút suy nghĩ, Thạch Sanh đập nát cái cũi sắt cứu Thái Tử ra. Thái tử tưởng phải giam thân nơi hang tối suốt đời nay được tháo cũi sổ lồng nên mừng vui khôn xiết. Thái Tử sụp lạy Thạch Sanh xin kết nghĩa anh em và mời Thạch Sanh về sứ sở của mình chơi để được dịp đền ơn cứu tử. Thái tử đưa Thạch Sanh theo một ngách nhỏ thông từ Thạch Động về phía Lộc Trĩ.<br />Vua Cần Một, sau khi nghe con thuật lại mọi chuyện thì hàm ơn Thạch Sanh lắm. Nhà vua truyền mở đại tiêc suốt bảy hôm liền để tỏ lòng trọng đãi ân nhân của con mình. Thái Tử cứ quấn quýt bên Thạch Sanh không lúc nào rời. Họ đi dạo chơi khắp xứ, đã xem chán mắt năm cung thất phủ trong hoàng thành. Cái vui ở xú lạ quê người cũng chóng qua, cái cảnh kẻ hầu người hạ trở nên nhàm chán, đơn điệu… và dần dà. Thạch Sanh nhớ quê hương da diết. Vua Cần Một và Thái Tử không biết sao cầm được khách nên làm tiêc tiễn Thạch Sanh. Trong bữa tiệc, nhà vua đem ba mâm vàng ngọc tặng. Thạch Sanh từ chối không nhận một vật gì và ngỏ lời xin cây đàn treo trên vách làm kỷ niệm. Vua Cần Một ngạc nhiên :<br />- Vàng ngọc ta tặng ngươi đều là thứ quí giá sao ngươi không nhận, lại lấy cây đàn kia ? Được, ta ban cho người đó, nhưng hãy nhớ rằng chỉ có người lòng dạ thẳng ngay gảy đàn thì đàn mới phát ra tiếng nhạc kỳ diệu.Thạch Sanh lại về núi Đá Dựng sinh sống như cũ. Những lúc rảnh rỗi lấy cây đàn ra ngồi tựa lưng vào vách đá dạo lên khúc nhạc tiêu dao. Ngày lại tháng qua, Lý Thông tình cờ biết Thạch Sanh vẫn còn sống. Vốn là kẻ xấu bụng, hắn lấy trộm vàng trong kho nhà cua đem bỏ ở Đá Dựng để vu cáo cho chàng. Vua Mang Khảm mất một số vàng lớn liền truyền lệnh truy tìm thủ phạm. Lý Thông sai lính đến Đá Dựng lục soát tìm được tang vật. Thế là Thạch Sanh bị bắt giải về cung. Vua Mang Khảm ra lệnh tống giam Thạch Sanh vào ngục tối chờ ngày xét xử. Thạch Sanh không nghĩ là mình bị ai ám hại mà lại cho rằng số vàng ấy là do Thái Tử con vua Cần Một kín đáo đem đến giúp mình. Do đó, chàng chẳng lo âu, chàng lấy đàn dựa lưng vào vách ngục gảy đàn lên khúc nhạc nhặt khoan và cất tiếng hát. Tiếng hát quyện với tiếng đàn vang lên, len qua các cung điện, réo rắt như tiếng than sầu ai oán…<br />Nói về công chúa Quỳnh Nga, khi thấy Lý Thông lấp miệng hang nhốt ân nhân đã cứu mình khỏi móng vuốt của đại bàng thì bỗng hóa câm. Việc này đã khiến vua Mang Khảm phãi hoãn việc gã con gái mình cho Lý Thông để lo việc chạy chữa. Vua cho mời hàng trăm danh y, nhưng công chúa vẫn không nói được một lời nào. Đêm ấy, công chúa đang nằm trằn trọc trên lầu thì nàng nghe tiếng đàn từ nhà ngục vọng về.<br />“…Tích tịch tình tangAi đem công chúa dưới hang trở về…”Tiếng đàn như có ma lực làm sống lại ký ức tưởng như không bao giờ có thể phục hồi được của công chúa. Nàng ra lệnh cho tỳ nữ đưa mình đến bệ kiến phụ vương và một mực xin vua cha cho gọi người gảy đàn vào cung cho mình gặp mặt.<br />Thấy đúng là chàng trai mặc khố đã cứu mình dạo nọ, công chúa liền quì tâu đầy đủ ngọn ngành sự việc đã xảy ra. Thạch Sanh nghe công chúa nhắc lại chiếc tú cầu liền moi trong lưng khố lấy quả tú cầu trả lại. Nhìn quả tú cầu, vau Mang Khảm không còn nghi ngờ gì nữa, bèn truyền lệnh gọi Lý Thông vào để hỏi tội.<br />Lý Thông mặt không còn giọt máu cúi xin vua tha tội luôn miện. Nhưng đang cơn giận dữ, vua hạ lệnh đem Lý Thông xử chém. Thạch Sanh xin vua tha chết cho Lý Thông để hắn về quê làm ăn phụng dưỡng mẹ già. Vua nể lời bằng lòng tha chết cho Lý Thông. Hắn chưa về đến nhà thì bị sét đánh chết.Vua Mang Khảm gã Quỳnh Nga cho Thạch Sanh và sau đó truyền ngôi cho chàng.<br />Mộ Và Đền Thờ Nguyễn Trung Trực<br />Khu di tích mộ và đền thờ Nguyễn Trung Trực toạ lạc tại số 14 đường Nguyễn Công Trứ Phường Vĩnh Thanh Vân Thị xã rạch Giá .là di tích lịch sử được nhân dân Kiên Giang gìn giữ hơn một thế kỷ nay để tưởng nhớ người anh hùng Nguyễn Trung Trực đã lãnh đạo nghĩa quân kháng chiến chống thực dân Pháp vào cuối thế kỷ 19 .<br />Nguyễn Trung Trực là vị anh hùng của dân tộc là tấm gương của nhiều thế hệ yêu nước về lòng quả cảm liều mình lẽ phải .Hiểu rõ được cuộc đời của vị anh hùng này ta càng thêm kính trọng và nể phục ông hơn :<br />Nguyễn Trung Trực còn có tên là Chơn còn gọi là Năm Lịch ,sinh năm 1839 trong một gia đình làm nghề đánh cá phủ Tân An tỉnh Gia Định nay thuộc ấp 1 xã Bình Đức huyện Bến Lức Tỉnh Long An .Cùng với Trương Công Định ,Nguyễn Trung trực tham gia trận đánh bảo vệ đồn Chí Hoà .Ong Được phân công chỉ huy một nhóm nghĩa quân hoạt động ở Tây An .Ngày 10/12/1861 nghĩa quân dưới quyền chỉ huy của Nguyễn Trung Trực đã đốt cháy chiến hạm Esperance của thực dân Pháp trên sông Vàm Cỏ Đông .Sau đó ông kéo quân về hoạt động ở vùng Rạch Gía–Phú Quốc .Tại đây ông lãnh đạo nghĩa quân tấn công Rạch Giá .Giặc Pháp truy kích ,ông rút quân về Phú Quốc .Ong bị giặc bắt tại đây đưa về giam ở Sài Gòn rồi bị xử tử tại Rạch Giá .Dân chúng thờ ông ở nhiều nơi .Đình làng Vĩnh Thanh Vân ở thị xã Rạch Giá là một trong những di tích tiêu biểu .<br />Đình thờ Nguyễn Trung Trực vốn là Đình Thờ Cá Ong Voi .Ngày 27/9/1868 khi Nguyễn Trung Trực bị giặc xử chém ,dân làng Vĩnh Thanh Vân thờ Nguyễn Trung Trực Trong đình và để che mắt địch ,biển đình vẫn ghi là “Đình Nam Hải Đại Tướng Quân “.Tục truyền ,năm 1909,trong dịp lễ Kỳ Yên ,Quan chức Tây ta đến dự .Tên tham biện người Pháp vốn biết chữ Hán đã phát hiện ra câu đối trích từ thơ của Huỳnh Mẫn Đạt :<br />“Hoả hồng nhựt tảo oanh thiên địaKiến bạt kiên Giang khấp quỷ thần .”<br />Liền dùng dùng nổi giận ,cho rằng hương chức vẫn còn nuôi ý chống Pháp. Hương chức làng Vĩnh Thanh Vân viện lẽ :Ong Nguyễn trung với vua với nước ,dân thờ ông là thờ chữ Trung .Sau đó hương chức nhờ Đốc Phủ Tươi và phủ quân tâu bày với Tham Biện để bỏ qua chuyện này .<br />Ngoài địa điểm trên Nguyễn Trung Trực được thờ ở nhiều nơi khác :Tân Điền , Vĩnh Hoà Hiệp ,Vĩnh Hoà ,Phú Quốc …….Việc tổ chức lễ hội Nguyễn Trung Trực đến cách mạng Tháng Tám mới công khai và duy trì mãi đến nay .Mặt khác Nguyễn Trung Trực từ lâu là đối tượng thờ tự quan trọng của các tín đồ Bửu sơ Kỳ Hương.<br />Ở Phú Quốc có nhiều địa điểm liên quan đến Nguyễn Trung Trực vẫn còn bảo lưu trong ký ức dân chúng :Hàm Ninh địa điểm đổ bộ ,Cửa Cạn ,Ba Trại ,Bãi Ong Lang nơi cụ Nguyễn đánh trận cuối cùng ,đặc biệt tại Rạch Tràm là nghĩa trang các nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực và ngôi mộ của bà Quan Lớn Tướng đuợc coi là vợ của Nguyễn Trung Trưc .<br />Hàng năm dân chúng tổ chức lễ cúng trọng thể vào ngày 9 /3 âm lịch .Nói chung các nơi thờ tự Nguyễn Trung Trực –vùng căn cứ ,chiến trường xưa của cụ ở Phú Quốc là một vùng đất thiêng ,một địa danh một ngôi mộ và một loạt những tên người đều gắn bó hữu cơ với cuộc đời và sự nghiệp của người anh hùng dân chài …<br />Đền thờ Nguyễn trung Trực ở Rạch Giá có thể coi là ngôi đền lớn nhất trong các ngôi đền thờ Nguyễn Trung Trực .Trong đền được bày trí tôn nghiêm và đây là điểm hành hương của rất đông người họ cho rằng ông Nguyễn rất linh thiêng .<br />Trước đền thờ ông có một tương đài được coi là một trong những tượng đẹp nhất Việt Nam có dáng vẻ oai phong và dũng mãnh .<br />Lịch Sử Hình Thành Vùng Đất Phú Quốc-Kiên Giang<br />Phú Quốc có lịch sử khai hoang lập ấp khá lâu đời, so với các vùng khác trong lưu vực đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh chống cướp và giặc xâm lược để bảo vệ thành quả khẩn hoang trên vùng đất này cũng diễn ra thường xuyên. Lịch sử Phú Quốc thể hiện đầy đủ nội dung dựng xây, gìn giữ và truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam.<br />I. THUỞ HOANG SƠ:<br />Ngày trước Phú Quốc là hai đảo hoang vắng. Vào những thập niên của thế kỷ XVII, nơi này đã có một số người Việt Bình Thuận và người Hoa ở Hải Nam thường lui tới để đánh bắt hải sâm (đồn dột) và bọn cướp biển võ trang lảng vảng nơi này để thừa lúc trấn lột, cướp bóc. Có thể trong quá trình đó đã có một số rất ít người định cư sinh sống nơi đây và Phú Quốc được định danh từ đó.<br />II. THỜI CHÚA NGUYỄN:<br />Đến cuối thế kỷ XVII, Mạc Cửu từ Trung Quốc đến Hà Tiên chiêu mộ dân phiêu lưu ở Phú Quốc và các nơi thành lập xã thôn. Vùng đất Phú Quốc từ đây bắt đầu có người cai quản.<br />Năm 1708 Mạc Cửu xáp nhập Hà Tiên vào Đảng trong Phú Quốc trở thành đơn vị hành chính thuộc lãnh thổ Việt Nam được cai quản trực tiếp bởi vị Tống trấn họ Mạc. Với chính sách phóng khoáng nhằm kích thích cư dân từ nơi khác đến, người dân tự do khai khẩn mà không phải nộp thuế… tiếng tăm Phú Quốc ngày một vang xa, lưu dân đến ở ngày càng đông. Từ đó, việc khai thác Phú Quốc diễn ra khá khẩn trương. Lưu dân gồm nhiều thành phần khác nhau đã đến sống và hòa thân với nhau: có người đến do phiêu bạc giang hồ, có người đến để tránh bão tố và sự truy nã của triều định phong kiến lân cận. Trong số này đáng kể nhất là những người Việt đến định cư, khai thác hải sản sinh sống lâu dài.<br />Cuối thế kỷ XVIII, nhờ vị trí hẻo lảnh, lại có dân sinh sống với cơ sở kinh tế sinh túc, nên Nguyễn Anh đã nhiều lần đặt chân đến nơi này trên đường bôn tẩu trốn tránh Tây Sơn (1782 – 1786).<br />Năm 1783, Phú Quốc trở thành bãi chiến trường khi lực lượng Tây sơn kéo ra truy diệt Nguyễn Anh nhưng ông đã thoát được nhờ Lê Phước Điền hy sinh giả dạng để lừa Tây Sơn.<br />Trong những lần lui tới đảo, Nguyễn Anh đã quan tâm bảo vệ củng cố, phát triển Phú Quốc cho đông người và sung túc. Năm 1785 Nguyễn Anh cầm đầu hạm đội của mình cùng nhân dân trên đảo đánh tan đoàn thuyền cướp biển Mã Lai, bắt giữ 15 ghe và 80 tên hải khấu. Để tránh nạn cướp bóc tái diễn, Nguyễn Anh ra đi để lại một số chiếc thuyền và đội quân hùng mạnh với nhiệm vụ canh giữ và mở mang đảo.<br />Khi lực lượng Tây Sơn không còn đủ mạnh trên vùng đất Nam Bộ, Nguyễn Anh đã phần nào nhờ vào mãnh đất sung thịnh này để tiến hành cuộc phản công chiếm thành Gia Định xây dựng Nguyễn Triều.<br />III. TRIỀU GIA LONG:<br />Năm 1802 Nguyễn Anh lên ngôi, lấy hiệu Gia Long. Ông đã không quên ơn đảo, nên dành nhiều ưu ái cho việc mở mang Phú Quốc, ông cho phép mọi người được tự do khai thác, buôn bán sinh sống nơi này mà không phải lo sưu thuế, họ chỉ phải tham gia việc canh giữ an ninh phòng chống bọn cướp, giặc xâm lược mà thôi.<br />Nhờ vậy, dưới thời Gia Long, Phú Quốc hết sức phồn thịnh, dân số tăng đông, gồm 13 thôn. Nhiều khoảng ruộng lúa và vườn cây ăn trái bao phủ rộng khắp. Thuyền buôn các nơi (Chân Lạp, Hải Nam, Hội An, Biên Hòa …) đến mua bán rất đông. Riêng Phú Quốc có một đội ngũ thương thuyền mang thổ sản đến tận miền Trung, miền Bắc và liên lạc với cả bờ biển Trung Hoa. Triều đình lúc

×