TỰ DO THƯƠNG MẠI                                             Milton Friedman và Rose FriedmanVề vấn đề thương mại quốc tế,...
hưởng thụ hàng hoá ta xuất ra nước ngoài. Chúng ta ăn chuối nhập từ Trung Mỹ, đi giầycủa người Ý , đi xe hơi của Mỹ và thư...
đô-la, các nhà xuất khẩu sẽ cố gắng bán đô la với tỷ giá 360 yên/1đô là đề mua nhữnghàng hóa Nhật Bản có giá rẻ hơn. Nhưng...
cường an ninh quốc gia. Tuy nhiên, điều cần thiết là so sánh chi phí nhằm đạt được mụctiêu an ninh theo nhiều cách khác nh...
trường hợp này). Tuy nhiên, thay vì tăng giá sản phẩm một cách trực tiếp, các nước nàycó thể thực hiện một cách gián tiếp ...
Một số biện pháp mà chúng ta sử dụng có thể sẽ thúc đẩy hơn nữa lý do thực hiện tự dohóa tại chính nước Mỹ cũng như tại nư...
Upcoming SlideShare
Loading in...5
×

Tu do thuong_mai_milton friedman

50

Published on

TDTM

0 Comments
0 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

  • Be the first to like this

No Downloads
Views
Total Views
50
On Slideshare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
0
Actions
Shares
0
Downloads
1
Comments
0
Likes
0
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Transcript of "Tu do thuong_mai_milton friedman"

  1. 1. TỰ DO THƯƠNG MẠI Milton Friedman và Rose FriedmanVề vấn đề thương mại quốc tế, trong một bài viết trước đây, Charles Wolf cho rằngsự thâm hụt không gây ra những vấn đề lớn. Ở đây, Friedmans bàn thảo về vấn đềtự do thương mại, một bài viết mang tính lô-gic và bao hàm nhiều nguyên lý.Milton Friedman (1912-2006), nhà kinh tế học người Mỹ đã từng đoạt giải Nobel kinhtế năm 1976, được coi là người đứng đầu trường phái Chicago và chủ nghĩa tự do hóa.Tên của ông cũng được gắn liền với cách tiếp cận « tiền tệ » trong kinh tế học với quanđiểm cho rằng lạm phát có thể được điều tiết bởi việc cung ứng tiền tệ. Những tư tưởngsiêu tự do (ultra-liberalism) của Friedman thực sự thống trị trong những năm 1980 và làảnh hưởng chủ yếu trong hành động của các chính phủ Anh và Mỹ (thời Thatcher vàReagan).Bài viết về “Tự do hóa thương mại” được Friedman viết cùng vợ, Rose Friedman, màchúng tôi giới thiếu dưới đây được coi như là bản Tuyên ngôn của Friedman về nhữnglôgích và nguyên tắc cơ bản của tự do hóa thương mại. Cho dù chủ nghĩa tự do hóathương mại vẫn đang gây ra nhiều tranh cãi, cả ở những nước phát triển và đang pháttriển cũng như ở Việt Nam, thì chúng tôi vẫn muốn giới thiệu bài viết này của Friedmanvới mong muốn cung cấp thêm cho độc giả một nguồn tư liệu để hiểu thêm về nguồn gốccủa chủ nghĩa kinh tế này.Thông thường, một chính sách kinh tế được gọi là tốt nếu các chuyên gia kinh tế đồngquan điểm với nhau. Các nhà kinh tế thường bất đồng nhưng điều này đã không xảy rađối với những vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế. Kể từ thời Adam Smith tới nay,đã có một sự thống nhất thực sự giữa các nhà kinh tế, rằng tự do thương mại quốc tế làlợi ích quan trọng nhất đối với các quốc gia và thế giới. Tuy nhiên, thuế quan vẫn luônhiện hữu. Hoa Kỳ áp dụng chế độ thuế quan trong suốt thế kỷ thứ 19 và được nâng caohơn trong thế kỷ 20 bởi luật thuế quan Smoot-Hawley năm 1930, vấn đề mà một số họcgiả cho là có tác động một phần tới sự đình đốn kinh tế trầm trọng vào giai đoạn sau đó.Thuế quan từ đó được cắt giảm thông qua nhiều hiệp định quốc tế tuy vẫn còn cao và cóthể còn cao hơn mức áp dụng từ thế kỷ 19 mặc dù đã có những thay đổi, điều chỉnh lớnvề một số hạng mục trong nền thương mại quốc tế.Hiện nay, vẫn còn nhiều sự ủng hộ thuế quan - dưới cái tên “bảo hộ”, một cái tên tốt chomột nguyên cơ tồi. Các hãng sản xuất tìm cách hạn chế nhập khẩu. Họ luôn lên tiếng vì“lợi ích chung” về nhu cầu bảo tồn nghề nghiệp hay tăng cường an ninh quốc gia. Trongkhi đó, tiếng nói của người tiêu dùng lại bị chìm lặng trong sự hỗn tạp về “sự nguỵ biệnquyền lợi của giới kinh doanh và nhà sản xuất” và các nhân viên của họ. Kết quả là sựbóp méo nghiêm trọng vấn đề. Ví dụ, người ủng hộ thuế quan coi tạo thêm việc làm làmột kết cục mong muốn bất kể đó là nghề gì. Đây là điều hoàn toàn sai trái. Nếu tất cảnhững điều mà chúng ta cần là việc làm, chúng ta có thể tạo ra bất kỳ số lượng việc làmnào, chẳng hạn như người ta đào hố rồi lấp đi hay thực hiện những công việc không hữuích khác. Tuy nhiên, đó là giá mà chúng ta phải trả để có điều mà chúng ta muốn. Mụctiêu của ta không chỉ là công việc mà còn là công việc hữu dụng – công việc qua đó cungcấp nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn cho tiêu dùng.Một số ý kiến Một ảo tưởng khác ít khi phát hiện ra sự mâu thuẫn khi cho rằng xuất khẩulà tốt, nhập khẩu là không tốt. Sự thật lại rất khác biệt. Chúng ta không thể ăn, mặc hoặc
  2. 2. hưởng thụ hàng hoá ta xuất ra nước ngoài. Chúng ta ăn chuối nhập từ Trung Mỹ, đi giầycủa người Ý , đi xe hơi của Mỹ và thưởng thức các chương trình trên TV được sản xuấtbởi người Nhật Bản. Thành quả của chúng ta từ ngành ngoại thương là những gì nhậpkhẩu được. Xuất khẩu là giá chúng ta phải trả để tiếp nhận các mặt hàng nhập khẩu. NhưAdam Smith đã từng nhìn nhận vấn đề một cách hết sức rõ ràng, công dân của một quốcgia hưởng lợi từ được hưởng lợi ích từ việc càng nhập khẩu khối lượng lớn bao nhiêu lạicàng có khả năng xuất khẩu bấy nhiêu, hay nói cách khác xuất khẩu càng ít thì khả năngchi tra cho nhập khẩu cũng ítNhững thuật ngữ được dùng không đúng phản ánh các ý kiến sai lệch này. “Bảo hộ”trong thực tế có nghĩa sự bóc lột người tiêu dùng. “Cán cân thương mại thặng dư” cónghĩa xuất khẩu vượt quá nhập khẩu, có nghĩa xuất hàng hoá ra nước ngoài với tổng giátrị lớn hơn số hàng hoá được nhập từ bên ngoài vào. Trong gia đình, chắn chắn bạn ưathanh toán ít mà tiếp nhận được nhiều hơn. Điều này được gọi là “cán cân thanh toánthâm hụt” trong thương mại quốc tế.Lập luận ủng hộ thuế quan, là những lời thuyết phục nhất đối với công chúng vì đó lànhững lời lẽ bảo vệ người lao động Mỹ có mức sống cao từ sự cạnh tranh “không lànhmạnh” của người lao động Nhật Bản, Hàn Quốc hay Hồng Kông vốn sẵn lòng làm việcvới mức lương thấp hơn. Vậy điều sai trái trong lập luận này là gì? Chúng ta có cần bảovệ những người có mức sống cao không?Sự sai lầm của lập luận này là việc sử dụng không chặt chẽ các thuật ngữ lương “cao” vàlương “thấp”. Vậy lương cao và thấp có nghĩa là gì? Người công nhân Mỹ được trả lươngbằng đồng đô-la; người công nhân Nhật Bản được trả lương bằng đồng Yên. Vậy làm saochúng ta có thể so sánh các khoản lương bằng đô-la và khoản lương bằng Yên. Bao nhiêuYên tương đương với một đô-la? Yếu tố gì quyết định tỷ giá hối đoái?Hãy xem xét một trường hợp cực đoan. Giả sử rằng, hãy bắt đầu với, 360 yên Nhật tươngứng với 1 đô-la. Theo tỷ giá này, mức trao đổi thực tế trong nhiều năm, giả thiết rằngngười Nhật có thể sản xuất và bán mọi hàng hoá để đổi lấy một lượng đô-la ít hơn lượngmà chúng ta có thể thu được ở Mỹ, các mặt hàng như TV, xe hơi, sắt thép, và thậm chíđậu tương, lúa mỳ, sữa và kem. Nếu chúng ta có được một nền tự do thương mại quốc tế,chúng ta sẽ mua tất cả hàng hoá từ Nhật Bản. Đây dường như sẽ là câu chuyện cực kỳrùng rợn về điều được mô tả bởi những người bảo vệ thuế quan – chúng ta sẽ bị tràn ngậpbởi hàng hoá Nhật mà không thể bán được gì cho họ.Trước khi can thiệp vào câu chuyện này , hãy thử phân tích một bước sâu hơn. Bằng cáchnào chúng ta thanh toán cho người Nhật? Chúng ta sẽ trao cho họ những bản hóa đơnbằng đô-la. Họ sẽ làm gì với những hoá đơn đô-la? Chúng ta giả thiết rằng 360 yên đổiđược một đô-la, mọi thứ đều rẻ hơn ở Nhật Bản, do vậy chẳng có gì ở Mỹ chúng ta cầnmua. Nếu những nhà xuất khẩu Nhật sẵn lòng huỷ những hoá đơn đô-la, thì điều đó thậttuyệt vời đối với chúng ta. Chúng ta sẽ tiếp nhận tất cả các loại hàng hoá mà chỉ mấtnhững mẩu giấy mà chúng ta có thể sản xuất với số lượng lớn và với giá rẻ. Chúng ta sẽcó một ngành công nghiệp xuất khẩu tuyệt hảo.Đương nhiên, trong thực tế người Nhật sẽ không bán cho chúng ta hàng hoá thiết yếu(hữu ích) để nhận những hoá đơn vô dụng chỉ để đem chôn hoặc tiêu huỷ. Giống nhưchúng ta, họ cần nhận được những thứ thật sự hữu ích cho công việc của họ. Nếu tất cảcác loại hàng hoá đều rẻ hơn ở Nhật Bản so với ở Hoa Kỳ theo tỷ giá 360 yên cho một
  3. 3. đô-la, các nhà xuất khẩu sẽ cố gắng bán đô la với tỷ giá 360 yên/1đô là đề mua nhữnghàng hóa Nhật Bản có giá rẻ hơn. Nhưng ai sẽ sẵn lòng mua đô-la? Những gì đúng vớicác nhà xuất khẩu Nhật đều đúng với mọi công dân nước này. Không ai sẵn sàng bỏ ra360 yên để đổi lấy 1 đô-la nếu 360 yên có thể mua được nhiều thứ hơn ở Nhật Bản so với1 đô-la ở Mỹ. Các nhà xuất khẩu, khi phát hiện ra rằng không ai mua đô-la theo giá 360yên, sẽ giảm số đồng yên cho 1 đô-la. Trị giá đồng đô-la tương ứng với đồng yên sẽ giảm- xuống 300 yên một đô-la hoặc 250 yên hoặc 200 yên một đô-la. Trong một trường hợpkhác, sẽ cần nhiều đô-la hơn để mua một lượng đồng yên nhất định. Hàng hoá Nhật đượcđịnh giá bằng đồng yên, do vậy giá của hàng hóa bằng đồng đô-la sẽ tăng lên. Ngược lại,các hàng hoá Mỹ được định giá bằng đồng đô-la, do đó với một lượng đồng yên nhấtđinh, người Nhật sẽ được nhận nhiều đô la hơn, và hàng hóa Mỹ sẽ rẻ hơn đối với ngườiNhật liên quan đến trị giá đồng yên.Giá đồng đô-la so với đồng yên sẽ giảm, cho đến khi, ở mức trung bình, giá trị đồng đô-lavề hàng hoá mà người Nhật mua từ Mỹ gần như tương ứng với giá trị đồng đô-la về hànghoá mà người Mỹ mua từ Nhật. Ở mức giá đó, mọi người muốn mua đồng yên để lấy đô-la sẽ tìm được người sẵn sàng bán cho mình đồng yên để lấy đô-la.Đương nhiên, tình hình thực tế phức tạp hơn nhiều so với ví dụ mang tính giả thuyết này.Nhiều quốc gia, và không chỉ Mỹ và Nhật Bản, đã tham gia vào các hoạt động thươngmại và thương mại thường diễn biến theo nhiều phương hướng khác nhau. Người Nhật cóthể chi tiêu một lượng đô-la thu nhập ở Braxin, người Braxin ngược lại có thể chi tiêu sốđô-la này ở Đức và người Đức tiêu số đô-la này ở Mỹ và cứ như vậy theo vòng quay củasự phức tạp không giới hạn. Tuy nhiên, nguyên lý thì giống nhau. Người dân, ở bất cứquốc gia nào, trước hết muốn có đồng đô-la để mua sắm những hàng hoá hữu dụng,không để dự trữ, và sẽ không có vấn đề gì trong cân đối thanh toán cho đến khi giá đồngđô-la khi trao đổi sang yên hay mark hay franc được quyết định tại thị trường tự do thôngqua các giao dịch tự nguyện.Vậy tại sao lại có sự tranh cãi về sự “yếu kém” của đồng đô-la? Tại sao xảy ra sự khủnghoảng liên tục của tỷ giá hối đoái? Lý do chính là các tỷ giá hối đoái ngoại tệ không đượcquyết định trong một thị trường tự do. Các ngân hàng trung ương của chính phủ đã canthiệp vào các tỷ giá hối đoái nhằm tạo ảnh hưởng lên giá trị các đồng tiền của mình.Trong quá trình này, họ đã đánh mất khối lượng lớn tiền mặt của người dân (đối với Mỹ,đã mất khoảng gần hai tỷ đô-la trong giai đoạn từ năm 1973 đến đầu năm 1979). Quantrọng hơn, họ cản trở các mức giá thực hiện đúng chức năng của nó. Họ không có khảnăng ngăn chặn các sức mạnh kinh tế lớn gây tác động lên các tỷ giá hối đoái song chỉ cóthể duy trì các tỷ giá hối đoái ảo trong một số giai đoạn thời gian nhất định. Tác động ởđây là cản trở sự điều chỉnh từng bước. Các tác động tiêu cực nhỏ tích luỹ thành các tácđộng lớn và rốt cuộc dẫn tới sự “khủng hoảng” lớn về tỷ giá hối đoái ..Trong tất cả số tài liệu đồ sộ trong một vài thế kỷ qua về tự do mậu dịch và chủ nghĩa bảohộ, chỉ có ba luận cứ bảo vệ thuế quan là có giá trị về mặt nguyên lý.Thứ nhất là luận cứ về an ninh quốc gia - một luận cứ cho rằng công nghiệp thép trongnước là cần thiết vì mục tiêu quốc phòng. Mặc dù luận cứ này thường là cơ sở lý giải vềtính hợp lý cho một loại thuế quan nào đó, điều không thể phủ nhận là điều đó có thể biệnhộ cho sự duy trì các phương tiện sản xuất phi kinh tế. Đằng sau sự khẳng định này vàtrong một trường hợp cụ thể, thuế quan và sự hạn chế mậu dịch được lý giải là nhằm tăng
  4. 4. cường an ninh quốc gia. Tuy nhiên, điều cần thiết là so sánh chi phí nhằm đạt được mụctiêu an ninh theo nhiều cách khác nhau. Trong thực tế, sự so sánh chi phí như vậy rất ítkhi được thực hiện.Chúng tôi có thể nói với mọi người trên thế giới rằng: Chúng tôi không thể ép buộccác bạn phải tự do. Nhưng chúng tôi tin vào sự tự do và chúng tôi đang có ý địnhthực hiện nó.Lập luận thứ hai cho rằng mỗi nước cần phải bảo hộ ngành công nghiệp luyện thép cònnon trẻ của mình. Tiêu biểu cho lập luận này là Alexander Hamilton trong bản Báo cáovề các ngành công nghiệp chế tạo. Lý do được đưa ra là, nếu một ngành công nghiệp tiềmnăng được xây dựng và giúp đỡ trong các giai đoạn phát triển khó khăn , nó sẽ mang lạilợi ích cho thị trường thế giới theo nghĩa tạo ra sự bình đẳng. Một mức thuế quan tạmthời là xác đáng để giúp cho ngành công nghiệp tiềm năng đó có thể trưởng thành, cho tớikhi nó có thể tự đứng vững được trên chính đôi chân của mình. Nhưng ngay cả khi nếunhư ngành công nghiệp tiềm năng này có thể trưởng thành, thì khi nào nó có thể tự đứngvững được trên chính đôi chân của nó? Ngay cả khi nếu như ngành công nghiệp tiềmnăng này có thể được xây dựng một cách thành công, thì điều đó bản thân nó cũng khôngbiện hộ được cho việc định ra một mức thuế quan nhất định từ ban đầu. Sẽ là xác đángkhi người tiêu dùng phải mất thêm tiền để trợ cấp cho ngành công nghiệp non trẻ đó chỉkhi nào số tiền trợ cấp đó được hoàn lại bằng những cách thức khác nhau, chẳng hạn quagiá (giá sản phẩm thép trong nước thấp hơn giá của thị trường thế giới) hoặc những lợiích khác mà việc có được ngành công nghiệp này mang lại. Nhưng ngay cả trong trườnghợp đó việc trợ cấp có phải là một nhu cầu thực sự không? Mặt khác, điều gì sẽ xảy rakhi mà sự trợ cấp đó không được bồi hoàn? Cuối cùng, kinh nghiệm là phần lớn các côngty đều phải chịu lỗ trong những năm đầu tiên, khi chúng bắt đầu được xây dựng, khi dựđịnh phát triển một ngành công nghiệp mới hoặc khi bắt đầu tham gia vào một ngànhcông nghiệp đã có.Luận cứ về ngành công nghiệp non trẻ tạo nên một màn sương mù về mặt nhận thức. Cáiđược gọi là “non trẻ” lại không bao giờ trưởng thành. Một khi được thiết lập, hiếm khinào các mức thuế quan lại bị xóa bỏ. Hơn nữa, lập luận này cũng hiếm khi được sử dụngvới hi vọng cái chưa thực sự hiện hữu (ngành công nghiệp non trẻ) có thể được quanniệm như là hiện hữu và có thể tồn tài nếu tạm thời bảo hộ nó. Nó (lập luận này) đôi khicũng được sử dụng nhằm bào chữa cho các mức thuế quan được đưa ra dưới các sức épchính trị về sự tụt hậu của ngành công nghiệp nội địa.Luận cứ thứ ba cho việc duy trì hàng thuế quan không vượt khỏi phạm vi của lập luận vềsự “ăn mày hàng xóm”1. Một nước nếu như là nhà sản xuất chính của một mặt hàng nàođó, hoặc nếu như có thể liên kết với một số lượng nhỏ các nhà sản xuất khác để cùngkiểm soát phần lớn thị phần của sản phẩm, thì có thể tận dụng vị thế độc quyền bằng việctăng giá sản phẩm (Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ - OPEC - là ví dụ điển hình của1 “beggar-thy-neighbor” - An international trade policy of competitive devaluations and increasedprotective barriers where one country seeks to gain at the expense of its trading partners. (Financialdictionary). (Tạm dịch: Chính sách thương mại quốc tế dựa trên việc phá giá và tăng cường các hàng ràobảo hộ khi một nước cố gắng tìm kiếm lợi ích từ các đối tác thương mại của nó).
  5. 5. trường hợp này). Tuy nhiên, thay vì tăng giá sản phẩm một cách trực tiếp, các nước nàycó thể thực hiện một cách gián tiếp bằng việc áp đặt một mức thuế trên sản phẩm – thuếxuất khẩu. Lợi nhuận thu được cho nước xuất khẩu khi đó sẽ thấp hơn chi phí của nhữngnước khác, nhưng trên phương diện quốc gia, đó lại có thể là lãi ròng. Tương tự như vậy,một nước nếu là người mua chủ yếu của một mặt hàng – nhìn trên phương diện kinh tếhọc thì họ có độc quyền mua (monopsony)2. Nhóm người có độc quyền mua có khả năngđược lợi bằng việc tăng cường mặc cả với người bán và áp đặt một mức giá thấp cho mặthàng này. Đó là cách thức áp đặt thuế quan với hàng hóa nhập khẩu. Lãi thực thu đượcđối với người bán khi đó sẽ là phần giá đã trừ đi thuế (nhập khẩu), điều này giải thích tạisao thuế lại vẫn có thể giữ nguyên ngay cả khi hàng hóa được mua ở một mức giá thấphơn. Trên thực tế, thuế quan đã được trả bởi người bên ngoài nước nhập khẩu (chúng tôicho rằng hiện chưa có một ví dụ điển hình cho điều này). Trong thực tiễn, phương phápmang tính chất dân tộc chủ nghĩa này rất được các nước ưa dùng nhằm trả đũa lẫn nhau.Thêm vào đó, cũng giống như lập luận về nền công nghiệp non trẻ, những áp lực chính trịhiện nay đang có khuynh hướng tạo ra các cấu trúc thuế quan mà trên thực tế không hềmang lại lợi ích cho bất cứ một nhà độc quyền bán (monopoly) hay độc quyền bán nào(monopsony).Luận cứ thứ tư, vốn đã từng được đưa ra bởi Alexander Hamilton và hiện vẫn tiếp tụcđược nhắc lại, đó là tự do thương mại sẽ tốt nếu tất cả các nước khác đều thực hiện nhưngkhông nước nào có thể thực hiện được điều này lâu, và nước Mỹ cũng vậy. Lập luận nàykhông hề có một chút giá trị nào, cả trên phương diện nguyên tắc và thực tiễn. Nhữngnước áp đặt các giới hạn về thương mại quốc tế đương nhiên sẽ gây thiệt hại đến lợi íchcủa nước Mỹ. Nhưng họ cũng tự gây thiệt hại đến chính lợi ích của mình. Ngoài batrường hợp vừa được trình bày ở trên, nếu chúng ta (người Mỹ) áp đặt những hạn chế đốivới các nước khác thì chúng ta cũng sẽ tự gây thiệt hại cho chính mình và cho họ. Sựcạnh tranh này là phương thuốc khó đối với một chính sách kinh tế nhạy cảm. Nếu cácnước không giảm dần việc áp đặt hạn chế thì một hành động trả đũa sẽ tạo ra những hạnchế mạnh hơn.Chúng ta là một quốc gia mạnh, nhà lãnh đạo của thế giới. Thật là xấu hổ khi mà chúngta đòi hỏi Hồng Kông và Đài Loan phải áp đặt cô-ta xuất khẩu đối với hàng dệt may củahọ nhằm “bảo vệ” nền công nghiệp may mặc của chúng ta vốn gây ra nhiều thiệt hại chongười tiêu dùng Mỹ và cho những người công nhân Trung Quốc tại Hồng Kông và ĐàiLoan. Chúng ta hô hào về những giá trị của tự do thương mại, trong khi chúng ta lại sửdụng sức mạnh kinh tế và chính trị của mình để xui khiến Nhật Bản hạn chế xuất khẩuthép và máy truyền hình. Chúng ta cần phải hoàn toàn đứng về phía tự do thương mại,không nhất thiết là ngay lập tức nhưng với một thời hạn ít nhất là 5 năm, phải có đượcmột bước tiến vượt bậc.2 Definition of Monopsony: Monopsony is a state in which demand comes from one source. If there isonly one customer for a certain good, that customer has a monopsony in the market for that good.Analogous to monopoly, but on the demand side not the supply side. Definition of Monopoly: If a certainfirm is the only one that can produce a certain good, it has a monopoly in the market for that good.
  6. 6. Một số biện pháp mà chúng ta sử dụng có thể sẽ thúc đẩy hơn nữa lý do thực hiện tự dohóa tại chính nước Mỹ cũng như tại nước ngoài hơn là hoàn thành việc tự do hóa thươngmại. Thay cho việc tài trợ cho chính phủ các nước được gọi là khoản trợ cấp kinh tế,nhưng đông thời lại thực hiện các biện pháp hạn chế các sản phẩm do các nước này sảnxuất, do đó cản trở doanh nghiệp phát triển tự, do thì chúng ta có thể đạt được một chỗđứng vững chắc. Chúng ta có thể nói với thế giới rằng: Chúng tôi tin tưởng vào tự do vàmong muốn thực hiện nó. Chúng tôi không thể ép buộc các bạn phải tự do. Nhưng chúngtôi có thể mang lại sự hợp tác đầy đủ một cách bình đẳng cho tất cả. Thị trường củachúng tôi luôn mở rộng cho các bạn mà không hề có thuế quan hay các hạn chế khác.Hãy bán ở đây cái mà các bạn có thể bán và muốn bán. Hãy mua bất cứ thứ gì mà các bạncó thể mua và muốn mua. Bằng cách náy, sự hợp tác giữa mọi người trên thế giới sẽ đượcngày càng được mở rộng. Tiểu sử Milton FriedmanMilton Friedman sinh tại Brooklyn năm 1912 trong một gia đình di cư Do Thái. Sau thờikì học toán và sau đó là học kinh tế, bắt đầu sự nghiệp giáo sư đại học tại Đại họcChicago chính vào năm Keynes qua đời.Năm 1953, ông xuất bản cuốn « Luận về kinh tế học thực chứng ». Cuốn sách này đã gâynhiều tranh cãi vào thời điểm nó được xuất bản, nhưng sau này lại trở thành một trongnhững cuốn sách kinh điển của kinh tế học hiện đại. Năm 1962, Friedman xuất bản mộttrong những tác phẩm gây nhiều sự chú ý nhất của kinh tế học : Chủ nghĩa tư bản và Tựdo. Người cùng tham gia viết với ông chính là người vợ, người cộng sự trung thành, RoseFriedman.Friedman đã cùng với Friedrick Hayek, một nhà kinh tế học có tư tưởng tự do khác, sánglập ra Hội Pelerin (lấy tên một khu đồi) và làm chủ tịch từ năm 1970 đến 1972. Hội nàytập hợp tất cả những nhà kinh tế học vốn tin tưởng tuyệt đối vào vai trò điều tiết của thịtrường.Friedman nhận giải Nobel kinh tế năm 1976. Ông đồng thời cũng là nhà báo và chuyêngia tư vấn kinh tế cho các cư quan nhà nước như Cục Dự trữ Quốc gia Mỹ (FED) hoặcĐảng cộng hòa. Ông đã từng làm việc dưới các thời tổng thống Nixon và Reagan.Tài liệu tham khảoMilton Friedman and Rose Friedman, The case for free trade(Nguồn: Nguyễn Văn Y biên dịch, Bản tin Phát triển và hội nhập, tháng 1/2007)

×