Vùng đồng bằng sông cửu long

37,768 views
37,431 views

Published on

0 Comments
2 Likes
Statistics
Notes
  • Be the first to comment

No Downloads
Views
Total views
37,768
On SlideShare
0
From Embeds
0
Number of Embeds
32
Actions
Shares
0
Downloads
404
Comments
0
Likes
2
Embeds 0
No embeds

No notes for slide

Vùng đồng bằng sông cửu long

  1. 1. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long(Báo cáo đã được chỉnh sửa theo kết luận của Chủ tịch Hội đồng thẩm định Nhà nước họp ngày 15/7/1997 tạiHà Nội) A. Tiềm năng và thế mạnh vùng ĐBSCL B. Khó khăn và hạn chế C. Thách thức đối với ĐBSCL D. Quan điẻm và mục tiêu phát triển trong QHTT KT-XH E. Các khả năng phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tế G. Phát triển các ngành và các lĩnh vực H. Phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổ Một số giải pháp và kiến nghị chủ yếu Tổng hợp và nhận định chungA. Tiềm năng và thế mạnh vùng ĐBSCLĐồng bằng sông Cửu Long là phần cuối cùng của lưu vực sông Mêkông với tổng diện tích tự nhiên là 3,96triệu ha bằng 5% diện tích toàn lưu vực, bao gồm 12 tỉnh Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, TràVinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bến Tre, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau, chiếm khoảng 12% diệntích tự nhiên và dân số năm 1995 là 16,18 triệu người chiếm 22% dân số cả nước.I. Vị trí địa lý1. Đồng bằng sông Cửu Long, một trong những đồng bằng châu thổ rộng và phì nhiêu ở Đông Nam Á và thếgiới, là một vùng đất quan trọng, sản xuất lương thực lớn nhất nước, là vùng thuỷ sản và vùng cây ăn trái nhiệtđới lớn của cả nước.2. Đồng bằng sông Cửu Long có bờ biển dài trên 700 km khoảng 360.000 km2 vùng kinh tế đặc quyền, giápbiển Đông và Vịnh Thái Lan, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển.3. Đồng bằng sông Cửu Long nằm giữa một khu vực kinh tế năng động và phát triển, liền kề với vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam vùng phát triển năng động nhất Việt Nam bên cạnh các nước Đông Nam Á (Thái Lan,Singapore, Malaixia, Philippin, Indonesia...) một khu vực kinh tế năng động và phát triển là những thị trườngvà đối tác đầu tư quan trọng.Đồng bằng sông Cửu Long nằm trong khu vực có đường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế quantrọng, giữa Nam Á và Đông Á cũng như Châu úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương. Vị trí này hếtsức quan trọng quan trọng cho giao lưu quốc tế.4. Đồng bằng sông Cửu Long nằm giáp Campuchia, gần Lào, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ là những vùng cónguồn tài nguyên khoáng sản, rừng phong phú, có nguồn dầu khí, điện lớn.5. Đồng bằng sông Cửu Long nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng, mạng lưới sông ngòi, kênh rạch phânbố rất dày thuận lợi cho giao thông thuỷ vào bậc nhất so với các vùng ở nước ta.
  2. 2. II. Tài nguyên tự nhiên1. Khí hậuĐồng bằng sông Cửu Long có một nền nhiệt độ cao và ổn định trong toàn vùng. Nhiệt độ trung bình 280C. Chếđộ nắng cao, số giờ nắng trung bình cả năm 2.226 - 2.709 giờ. Tổng hoà những đặc điểm khí hậu đã tạo ra ởĐồng bằng sông Cửu Long những lợi thế mang tính so sánh riêng biệt mà các nơi khác khó có thẻ có được, đólà một nền nhiệt độ, một chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định trong vùng.Đồng bằng sông Cửu Long cũng là nơi ít xảy ra thiên tai do khí hậu đặc biệt là bão. Những đặc điểm khí hậunày đã tạo ra một nguồn lực rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát của sinh vật đạt được năng suất sinh học cao,tạo ra một thảm thực vật và một quần thể động vật phong phú đa dạng, nhưng có tính đồng nhất tương đốitrong toàn vùng. Chính vì vậy đó là những điều kiện thuận lợi để tổ chức sản xuất và phát triển sản xuất lươngthực - thực phẩm, phát triển sản xuất chế biến sản phẩm nông - thuỷ - hải sản lớn nhất cả nước. Và cũng tạo racác lợi thế so sánh khác của Vùng Đồng bằng sông Cửu Long.2. Nguồn nướcĐồng bằng sông Cửu Long lấy nước ngọt từ sông Mêkông và nước mưa. Cả hai nguồn này đều đặc trưng theomùa một cách rõ rệt. Lượng nước bình quân của sông Mêkông chảy qua Đồng bằng sông Cửu Long hơn 460 tỷm3 và vận chuyển khoảng 150 - 200 triệu tấn phù sa. Chính lượng nước và khối lượng phù sa đó trong quátrình bồi bổ lâu dài đã tạo nên Đồng bằng Châu thổ phì nhiêu ngày nay.Đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống sông kênh rạch lớn nhỏ chi chít rất thuận lợi cung cấp nước ngọt quanhnăm. Về mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, sông Mêkông là nguồn nước mặt duy nhất. Về mùa mưa, lượngmưa trung bình hàng năm dao động từ 2.400 mm ở vùng phía Tây Đồng bằng sông Cửu Long đến 1.300 mm ởvùng trung tâm và 1.600 mm ở vùng phía Đông. Về mùa lũ, thường xảy ra vào tháng 9, nước sông lớn gâyngập lụt.Chế độ thuỷ văn của Đồng bằng sông Cửu Long có 3 đặc điểm nổi bật :+ Nước ngọt và lũ lụt vào mùa mưa chuyển tải phù sa, phù du, ấu trùng.+ Nước mặn vào mùa khô ở vùng ven biển.+ Nước chua phèn vào mùa mưa ở vùng đất phèn.Đồng bằng sông Cửu Long có trữ lượng nước ngầm không lớn. Sản phẩm khai thác được đánh giá ở mức 1triệu m3/ngày đêm, chủ yếu phục vụ cấp nước sinh hoạt.3. Tài nguyên đấtTổng diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, không kể hải đảo, khoảng 3,96 triệu ha, trong đó khoảng 2,60 triệuha được sử dụng để phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản chiếm 65%. Trong quỹ đất nông nghiệp, đấttrồng cây hàng năm chiếm trên 50%, trong đó chủ yếu đất lúa trên 90%. Đất chuyên canh các loại cây màu vàcây công nghiệp ngắn ngày khoảng 150.000 ha, đất cây lâu năm chiếm trên 320.000 ha, khoảng 8,2% diện tíchtự nhiên.Vùng bãi triều có diện tích khoảng 480.000 ha, trong đó gần 300.000 ha có khẳ năng nuôi trồng thuỷ sản nướcmặn, nước lợ. Theo điều tra năm 1995 có 0,508 triệu ha đất lâm nghiệp, trong đó đất có rừng 211.800 ha và đấtkhông rừng 296.400 ha. Tỷ lệ che phủ rừng chỉ còn 5%.Các nhóm đất chính ở Đồng bằng sông Cửu Long gồm:Đất phù sa sông (1,2 triệu ha): Các loại này tập trung ở vùng trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long. Chúng cóđộ phì nhiêu tự nhiên cao và không có các yếu tố hạn chế nghiêm trọng nào. Nhiều loại cây trồng có thể canhtác được trên nền đất này.
  3. 3. Đất phèn (1,6 triệu ha): Các loại đất này được đặc trưng bởi độ axit cao, nồng độ độc tố nhôm tiềm tàng cao vàthiếu lân. Nhóm đất này cũng bao gồm cả các loại đất này cũng bao gồm cả các loại đất phèn nhiễm mặn nặngvà trung bình. Các loại đất phèn tập trung tại Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên còn các loại đất phènmặn tập trung tại vùng trung tâm bán đảo Cà Mau.Đất nhiễm mặn ( 0,75 triệu ha): Các loại đất này chịu ảnh hưởng của nước mặn trong mùa khô. Các vùng đấtnày khó có thể được cung cấp nước ngọt. Hiện nay lúa được trồng vào mùa mưa và ở một số khu vực người tanuôi tôm trong mùa khô.Các loại đất khác (0,35 triệu ha): Gồm đất than bùn (vùng rừng U Minh), đất xám trên phù sa cổ (cực Bắc củaĐồng bằng sông Cửu Long) và đất đồi núi (phía Tây - Bắc Đồng bằng sông Cửu Long).Nhìn chung ở Đồng bằng sông Cửu Long rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp không có hạn chế lớn. Donền đất yếu cho nên để xây dựng công nghiệp, giao thông, bố trí dân cư, cần phải gia cố, bồi đắp nâng nền, dođó cần đòi hỏi chi phí nhiều.4. Hệ sinh thái và động vậtHệ sinh thái:Sông Mêkông đã tạo ra nhiều dạng sinh cảnh tự nhiên, thay đổi từ các bãi thuỷ triều, giồng cát và đầm lầyngập triều ở vùng đồng bằng ven biển, các vùng cửa sông, cho đến vùng ngập lũ, các khu trũng rộng, đầm lầythan bùn, các dải đất cao phù sa ven sông và bậc thềm phù sa cổ nằm sâu trong nội địa.Các vùng đất ngập nước bị ngập theo mùa hoặc thường xuyên chiếm một diện tích lớn ở Đồng bằng sông CửuLong. Những vùng này có chức năng kinh tế và sinh thái quan trọng. Các vùng đất ngập nước là một một trongnhững hệ sinh thái tự nhiên phong phú nhất. Mặt khác, chúng cũng là những hệ sinh thái vô cùng nhạy cảm dễbị tác động và không thể được do quản lý.áp lực dân số và hậu quả của chiến tranh đã thúc đẩy nhanh sự suy thoái, sự xáo trộn và phá hoại các hệ sinhthái tự nhiên của Đồng bằng sông Cửu Long. Việc quy hoạch và quản lý đúng đắn là hết sức cần thiết để chặnđứng xu thế này và để thực hiện một tiến trình khôi phục và duy trì sự cân bằng sinh thái.Trong các vùng đất ngập nước ở Đồng bằng sông Cửu Long, có thể xác định được 3 hệ sinh thái tự nhiên. Tấtcả các hệ sinh thái này đều rất “nhạy cảm” về môi trường. Những nét đặc trưng chủ yếu của 3 hệ sinh thái nhưsau:a. Hệ sinh thái rừng ngập mặn: Rừng ngập mặn nằm ở vùng rìa ven biển trên các bãi lầy mặn. Các rừng này đãtừng bao phủ hầu hết vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long nhưng nay đang biến mất dần trên quy mô lớn.Trong số các rừng ngập mặn còn lại, trên 80% (khoảng 77.000 ha) tập trung ở tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau.b. Hệ sinh thái đầm nội địa (rừng Tràm): Trước đây rừng Tràm đã từng bao phủ một nửa diện tích đất phèn.Hiện nay chỉ còn lại trong khu vực đất than bùn U Minh và một số nơi trong vùng đất phèn ở Đồng Tháp Mườivà đồng bằng Hà Tiên là những nơi bị ngập theo mùa.Rừng Tràm rất quan trọng đối với việc ổn định đất, thuỷ văn và bảo tồn các loại vật. Rừng Tràm thích hợp nhấtcho việc cải tạo các vùng đất hoang và những vùng đất không phù hợp đối với sản xuất nông nghiệp như vùngđầm lầy than bùn và đất phèn nặng. Cây tràm thích nghi được với các điều kiện đất phèn và cũng có khả năngchịu được mặn.c. Hệ sinh thái cửa sông: Cửa sông là nơi nước ngọt từ sông chảy ra gặp biển. Chúng chịu ảnh hưởng mạnh mẽbởi các thuỷ triều và sự pha trộn giữa nước mặn và nước ngọt. Cửa sông duy trì những quá trình quan trọngnhư vận chuyển chất dinh dưỡng và phù du sinh vật, du đẩy các ấu trùng tôm cá, xác bồi động thực vật và nóquyết định các dạng trầm tích ven biển. Hệ sinh thái cửa sông nằm trong số các hệ sinh thái phong phú và năngđộng nhất trên thế giới. Tuy nhiên chúng rất dễ bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường và do các thay đổi củachế độ nước (nhiệt độ, độ mặn, lượng phù sa), những yếu tố có thể phá vỡ hệ sinh thái này.
  4. 4. Nhiều loài tôm cá ở Đồng bằng sông Cửu Long là những loài phụ thuộc vào cửa sông. Mô hình di cư và sinhsản của các loài này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ sông và thuỷ triều, phụ thuộc rất nhiều vào môitrường cửa sông.Hệ động vật.Hệ động vật ở Đồng bằng sông Cửu Long gồm 23 loài có vú, 386 loài và bộ chim, 6 loài lưỡng cư và 260 loàicá. Số lượng và tính đa dạng của hệ động vật thường lớn nhất trong các khu rừng tràm và rừng ngập mặn cònlại.Sự sống còn của các quần hệ động vật có vú đang bị đe doạ bởi săn bắn, đánh bẫy và sự phá huỷ liên tục nơicư trú. Chúng tập trung chủ yếu trong những khu rừng tự nhiên (rừng U Minh và Bảy Núi).Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng trú đông quan trọng đặc biệt đối với các loài chim di trú. trong nhữngnăm gần đây, bảy khu vực sinh sản lớn của các loài diệc, vò vằn, cò trắng và vạc đã được phát hiện trong cáckhu rừng tràm, loài sếu mỏ đỏ phương đông, gần đây đã dược phát hiện ở huyện Tam Nông trong Đồng ThápMười. Trong khu bảo tồn Tràm Chim có 92 loài chim đã được xác định. Trong vùng rừng U Minh, có 81 loàichim đã được ghi nhận.Những vùng ngập nước ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng là nơi cư trú của các loài bò sát và động vật lưỡngcư. Nhiều loài động vật có vú, chim, bò sát và động vật lưỡng cư bị đánh bắt phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng.5. Khoáng sảnCó triển vọng dầu khí trong thềm lục địa tiếp giáp thuộc biển Đông và Vịnh Thái Lan gồm các bể trầm tíchsau:- Bể trầm tích Cửu Long: thềm lục địa tiếp giáp Đông Nam Bộ ở phía Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long ở phíaNam. Dự báo khoảng 2 tỷ tấn dầu quy đổi.- Bể trầm tích Nam Côn Sơn: Tiềm năng dự báo địa chất khoảng 3 tỷ tấn dầu quy đổi.- Bể trầm tích Thổ Chu - Mã Lai thuộc Vịnh Thái Lan có trữ lượng dự báo không lớn, khoảng vài trăm triệutấn dầu.Đá vôi có trữ lượng khoảng 130 đến 440 triệu tấn.Đá Granit, Andesit có khoảng 450 triệu m3.Sét gạch ngói có trữ lượng đến 40 triệu m3.Cát sỏi có trữ lượng đến 10 triệu m3/nămThan bùn có lượng 370 triệu tấn, trong đó U Minh khoảng 300 triệu tấnNước khoáng có ở Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Minh Hải.III. Nhân lựcĐồng bằng sông Cửu Long là vùng có dân số đông nhất trong các vùng của cả nước, chiếm 22% dân số cảnước. Năm 1995 dân số vùng là 16,18 triệu người và năm 1996 là 16,50 triệu người, tốc độ phát triển bìnhquân dân số vùng thời kỳ 1990 - 1995 là 2,1%. Dân số thành thị năm 1996 là 2,7 triệu người, chiếm 16,5% dânsố vùng, thấp hơn mức trung bình Nam Bộ 48% và mức trung bình cả nước 21%. Dân số nông thôn năm 1996là 13,79 triệu người. mật độ dân số năm 1994 là 401 người/km2 và năm 1996 là 412 người/km2 (cả nước 219người/km2) đứng sau đồng bằng Sông Hồng.Người Khơmer, người Hoa khá đông, sống tập trung và chiếm tỷ lệ khoảng 8% dân số vùng.Dân số trong độ tuổi lao động của vùng năm 1994 là 7,4 triệu và năm 1996 là 7,80 triệu người, chiếm tỷ trọngđông nhất 22,3% so với toàn quốc, trong khi đồng bằng Sông Hồng chiếm 20% so với toàn quốc.
  5. 5. ở Đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ người mù chữ trong độ tuổi lao động còn cao chiếm 19,2% trong khi cảnước là 16,5%. tỷ lệ huy động đi học của trẻ em ở độ tuổi 6-18 tuổi là 61% và ở độ tuổi 6-23 là 44%. Như vậylà quá thấp (chỉ cao hơn vùng Tây Bắc).Tỷ lệ lao động kỹ thuật so với dân số trong độ tuổi lao động đạt thấp 3,4% trong khi cả nước là 190% (năm1993). tỷ lệ người có trình độ đại học, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng chỉ có 0,15% trong khi cả nước là0,36%.Nhân dân Đồng bằng sông Cửu Long giàu truyền thống cách mạng, thông minh sáng tạo, có kinh nghiệm trongsản xuất hàng hoá có thể thích ứng nhanh nhạy với điều kiện và đòi hỏi mới của thời đại khoa học công nghệtiên tiến.Dân số Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tăng lên 17,85 triệu người vào năm 2000 và 21,1 triệu người vào năm2010. Kết quả này dựa trên mục tiêu giảm sinh là tốc độ phát triển bình quân dân số giảm từ 2,1% thời kỳ1995-2000 xuống còn 1,7% thời kỳ 2001-2010.Dân số nông thôn tăng lên 14,5 triệu người năm 2000 và 13,7 triệu người năm 2010, nông thôn vẫn là nơi cưtrú của 2/3 dân số vùng.Dự báo dân số đô thị năm 2010 khoảng 7,4 triệu người, chiếm 35% dân số vùng.Dân số trong độ tuổi lao động khoảng 9,7 triệu người năm 2000, và khoảng trên 12 triệu người năm 2010, tăngvới tốc độ 3% năm thời kỳ 1995-2000 và 2,3% thời kỳ 2001-2010.IV. Kinh tếCơ cấu kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long mang tính thuần nông. Tuy nhiên xét trong giai đoạn từ năm1990 đến năm 1996 đã có sự chuyển dịch theo hướng tiến bộ, đó là cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngày một giảm,cơ cấu ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ ngày càng tăng.Cơ cấu GDPĐơn vị: % 1990 1994 1995 1996Tổng số 100 100 100 100Nông lâm thuỷ 54,9 47,6 46,1 44,5Công nghiệp và xây dựng 15,3 19,9 20,8 21,6Dịch vụ 29,8 32,5 33,1 33,9So với 8 vùng của cả nước, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long đứng thứ 7 chỉ cao hơnvùng Tây Nguyên, công nghiệp và xây dựng cũng đứng thứ 7 cũng cao hơn vùng Tây Nguyên. Vùng có cơ cấukinh tế tiến bộ là Đông Nam Bộ nông nghiệp chỉ có trên 10%, công nghiệp và dịch vụ đều chiếm trên 40%.Thời gian qua tốc độ tăng trưởng của vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt trên 8%/năm.Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất của cả nước, nông nghiệp Đồng bằng sôngCửu Long đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của nền kinh tế trong vùng, đồng thời góp phần ổnđịnh nền kinh tế chung của đất nước.Đất nước ta vào công nghệ hóa, hiện đại hoá trên cơ sở đã đảm bảo an toàn lương thực.Cây lương thực giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Sản lượng lương thực tà 4,6 triệu tấn năm 1976 lên 15,1 triệutấn năm 1996 (số liệu từ các Sở NN&PTNT), từ chỗ sản xuất không đủ ăn trong vùng, tiến đến đủ ăn và cònchi viện cho các vùng khác xuất khẩu, đồng thời đảm bảo an toàn lương thực quốc gia.
  6. 6. Trong 20 năm sản lượng lương thực tăng trên 10 triệu tấn, bình quân tăng trên 500.000 tấn/năm. Đây là điềuđặc biệt hiếm thấy ở các vùng sản xuất lúa trên thế giới.Đồng bằng sông Cửu Long chiếm một nửa sản lượng lương thực của cả nước trong khi dân số chiếm 22%.Trong mấy năm gần đây cả nước bình quân tăng 1 triệu tấn lúa một năm thì riêng Đồng bằng sông Cửu Longđóng góp 800.000 tấn.Phần lớn gạo xuất khẩu của cả nước là của vùng Đồng bằng sông Cửu Long chiếm trên 80%, nước ta là nướcxuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới. Thuỷ sản là thế mạnh của vùng, tổng sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thuỷsản đạt khoảng 600.000 tấn, trong đó đánh bắt hải sản chiếm khoảng 40% sản lượng cả nước. giá trị xuất khẩuthuỷ sản chiếm 50 - 60% so cả nước.Xuất khẩu đã trở thành nhân tố tăng trưởng của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Tổng kim ngạch xuấtkhẩu của vùng hàng năm đạt khoảng 17% xuất khẩu cả nước. Năm 1994 đạt khoảng 58 triệu USD. Giá trị xuấtkhẩu thuỷ sản chiếm 50 - 60% so với cả nước.[ Trở về | Đầu trang | In trang]B. Khó khăn và hạn chế1. Trừ diện tích khoảng 30% rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, diện tích còn lại như diện tích đất phèn1,6 triệu ha, đất xám 134.000 ha, nhìn chung là khó khăn cho phát triển nông nghiệp. Ngoài ra so nền đất yếucho nên rất khó khăn cho công tác xây dựng cơ bản.2. Đồng bằng sông Cửu Long chia 2 mùa rõ rệt, gắn chặt với chế độ thuỷ văn, mùa khô gắn với xâm nhập mặnở vùng ven biển với diện tích mặn 0,75 triệu ha.Mùa mưa gắn với lũ lụt. Diện tích bị lũ lụt đã lên tới gần 2 triệu ha khoảng 50% diện tích thuộc 8 tỉnh, tìnhtrạng ngập lụt bắt đầu tháng 7 và kết thúc vào tháng 12. Độ sâu thường 0,5 m đến 4m, trong đó diện tích ngậptrên 1m vào năm lũ lớn tới 1 triệu ha.3. Tỷ lệ người mù chữ trong độ tuổi cao gần 20% trong khi cả nước 16,5%. Tỷ lệ lao động kỹ thuật so với laođộng trong độ tuổi của vùng đạt thấp nhất khoảng 4% thấp nhất so với các vùng, thấp hơn trung bình cả nướckhoảng 10%.4. Kết cấu hạ tầng rất yếu kém đặc biệt giao thông, điện, cung cấp nước. Nhà nước ở tranh, tre, nứa (nhà tạm)73% trong khi cả nước 42,3%. Số hộ dùng điện 24,4% cả nước 54,8%.Hệ thống đường bộ có 6.600 km (không kể đường nông thôn) trong đó có 12 quốc lộ với chiều dài 1.600 kmcác tỉnh lộ 2.499 km. Ngoài đường quốc lộ 1A là trục chính tương đối tốt còn lại đường xuống cấp nghiêmtrọng gây cản trở lưu thông. Đường làng xã quá ít khoảng 400 xã vùng sâu ô tô loại nhỏ không đi được. Cầukhỉ còn nhiều. Hàng năm lũ lụt đã gây hư hỏng nghiêm trọng.Vùng Đồng bằng sông Cửu Long không có đường sắt, có 2 sân bay Trà Nóc (Cần Thơ) và Phú Quốc (KiênGiang) là đáng kể, còn lại sân bay nhỏ chưa được khai thác.5. Tuy nền kinh tế trong những năm qua có chuyển biến, theo hướng công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tănglên và nông nghiệp có xu hướng giảm, nhưng nhìn vào cơ cấu kinh tế ta thấy rõ kinh tế nông nghiệp vẫn là cơbản. Năm 1995 cơ cấu kinh tế là nông nghiệp 46,10; công nghiệp và xây dựng 20,76 và dịch vụ 33,14 và năm1996 tương ứng là 44,50; 21,59; 33,91.Lao động làm việc trong ngành công nghiệp còn quá lớn chiếm 73% mức thu nhập của vùng nông thôn thấphơn mức trung bình cả nước.Đời sống nông dân rất khó, hộ nghèo đói 17,2% so với cả nước đứng thứ ba sau vùng miền núi phía Bắc vàkhu bốn cũ.
  7. 7. 6. Công nghiệp phát triển chậm, yếu kém và thiết bị, kỹ thuật và công nghệ nhất là công nghiệp ngoài quốcdoanh, lao động công nghiệp nhìn chung không được đào tạo chính quy, lao động chủ yếu thợ thủ công, mứcđộ cơ giới hoá thấp, chỉ có 4 - 5% lao động có trình độ đại học chủ yếu làm nhiệm vụ quản lý. Công nghiệpnông thôn chưa có định hướng, hình thành tự phát, sản xuất thô sơ đơn giản.7. Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP khoảng 10% của vùng, chiếm khoảng 9,2 - 12,2% nguồn thu của cả nước.Khoảng 20% chi ngân sách sách địa phương của vùng được dùng cho đầu tư.Đô thị kém phát triển, tỷ lệ đô thị hoá thấp 15 - 16% nhưng cũng không đồng đều có tỉnh 7 - 8%.8. Chênh lệch về kinh tế - xã hội của Vùng Đồng bằng sông Cửu Long với Vùng kinh tế trọng điểm phía Namrất lớn GDP/người hiện nay chiếm khoảng 1/3. Nếu Đồng bằng sông Cửu Long kinh tế kém phát triển hoặc cóphát triển nhưng vấn đề xã hội còn yếu kém thì không tránh khỏi dòng người sẽ đổ về phía Tp. Hồ Chí Minhvà các tỉnh khác trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.[ Trở về | Đầu trang | In trang]C. Thách thức đối với ĐBSCL- Tiềm năng phát triển nông nghiệp nói chung còn rất lớn, nhưng hiện nay kinh tế chuyển biến chưa theo kịptiềm năng. Đời sống nhân dân nông thôn đặc biệt vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn rất khó khăn.Yêu cầu phải nâng cao dần đời sống kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội (trường học, bệnh viện,...)- Đồng bằng sông Cửu Long phải phát triển nhanh theo con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giải quyếtkhó khăn nhất là cơ sở hạ tầng, nâng cao đời sống nhân dân kể cả về văn hoá - xã hội. Có như vậy mới hạn chếdòng người nhất là lao động có kỹ thuật về vùng KTTĐPN đặc biệt là Tp. Hồ Chí Minh.- Theo Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của Vùng KTTĐPN và Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010GDP/người có tỷ kệ 6/1.[ Trở về | Đầu trang | In trang]D. Quan điẻm và mục tiêu phát triển trong quy hoạch tổng thể kinh tế kinh tế - xã hộiI. Quan điểm phát triển- Hình thành nền kinh tế mở theo định hướng Xã hội chủ nghĩa trên cơ sở phát huy mạnh hơn nữa các nguồnlực, tiềm năng tại chỗ của vùng đồng thời mở rộng các quan hệ kinh tế với bên ngoài, trước hết và đặc biệt làvới miền Đông Nam Bộ, Vùng KTTĐPN, cũng như với các nước trong khu vực trong quan hệ hợp tác và cạnhtranh.- Trên cơ sở khai thác có hiệu quả tiềm năng của các tỉnh, của vùng, đất liền, biển, thềm lục địa và môi trườngsinh thái, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa tăng tỷ trọng côngnghiệp và dịch vụ, hạ thấp dần tỷ trọng nông nghiệp.- Sử dụng hiệu quả mỗi ha đất nông nghiệp trên cơ sở đổi mới cơ cấu sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấukinh tế nông thôn. Phát triển nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, tiếp tục đảm nhận vai trò số một đốivới cả nước về sản xuất lương thực - thực phẩm, đảm bảo an toàn lương thực quốc gia.- Kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh, quốc phòng.II. Mục tiêu- GDP/người năm 2000 tăng bằng 1,5 lần so với mức của năm 1994; tăng 1,31 lần của năm 1996 và năm 2010tăng 2,36 lần so với mức trung bình của năm 2000. Tức là vào năm 2010, GDP/ người bằng 3,54 lần mức củanăm 1994.
  8. 8. - Sản lượng lương thực đến năm 2010 đạt 18 triệu tấn, đảm bảo an toàn lương thực quốc gia. Xuất khẩu 3,5 - 4triệu tấn gạo (tăng gạo xuất khẩu có chất lượng cao).-Phát triển mạnh kinh tế đối ngoại. Kim ngạch xuất đạt 1490 triệu USD năm 2000 và 8600 triệu USD năm2010, đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 18% thời kỳ 1995 - 2010.- Thực hiện tỷ lệ tích luỹ đầu tư từ nội bộ nền kinh tế so với GDP đạt 11,6% thời kỳ 1995 - 2000 và 15,5%2001 - 2010.- Đổi mới công nghệ và thiết bị, tạo ra các sản phẩm nông, công nghiệp và dịch vụ mũi nhọn của vùng. Phấnđấu đổi mới 15% năm các thiết bị và công nghệ hiện có, nhập thiết bị và công nghệ tiên tiến cho các cơ sởmới.- Tạo việc làm, thu hẹp diện thất nghiệp, tăng tỷ lệ lao động công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, chiếm gần 50%lao động vùng.- Trong khoảng thời gian ngắn nhanh chóng xoá cơ bản tình trạng hộ đói.- Phổ cập cấp I vào năm 2000 và cấp II ở các thành phố, đô thị vào năm 2010. Năm 2010 đưa tỷ lệ lao động kỹthuật đạt trên 20% so tổng số lao động trong các ngành kinh tế quốc dân.- Đến năm 2010 điện khí hoá nông thôn 100%, hộ nông dân sử dụng điện đạt trên 90% và 100% dân số nôngthôn được cấp nước sạch, 90 - 95% dân số ở nhà kiên cố.- Nâng cao một bước sức khoẻ cho nhân dân, tăng tuổi thọ, chiều cao và cân nặng, giảm các bệnh nhiễmkhuẩn, ngăn chặn dịch bệnh, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng từ 34% hiện nay xuống dưới 5% năm 2010.[ Trở về | Đầu trang | In trang]E. Các khả năng phát triển và chuyển đổi cơ cấu kinh tếĐối với Đồng bằng sông Cửu Long, từ nay đến năm 2010 chỉ bằng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế trên cơ sở sảnnông nghiệp - thuỷ sản để đi nhanh là khó, muốn đi lên nhanh, bên cạnh việc tăng sản xuất nông nghiệp để cónhiều tích luỹ, phải có đầu tư từ bên ngoài vùng (bao gồm cả đầu tư nước ngoài và từ các tỉnh khác, nhất làmiền Đông Nam Bộ).Trên cơ sở phân tích, tính toán các phương án phát triển của các ngành, Đồng bằng sông Cửu Long có mấy khảnăng phát triển sau:1. Thời kỳ 1995 - 2000+ Trường hợp I: Trên cơ sở phát huy tối đa các nguồn lực tự có, thay đổi một bước cơ cấu kinh tế theo hướngtăng tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ, nhịp độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm đạt khoảng7,7%. Khi đó GDP bình quân đầu người của vùng mới đạt khoảng 80 - 81% so với mức trung bình của cảnước.+ Trường hợp II: Cùng với sự đi lên của cả nước, vùng Đồng bằng sông Cửu Long phát triển với tốc độ caohơn, đạt mức tăng trưởng trung bình hàng năm về GDP khoảng 9%. Ngoài việc phát huy tố đa các nguồn lựcsẵn có, tranh thủ đầu tư hợp tác với nước ngoài, phát huy mạnh mẽ các yếu tố tác động từ bên ngoài (đặc biệtlà từ các tỉnh trong vùng Đông Nam Bộ), đẩy nhanh hơn nữa sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăngnhanh hơn tỉ trọng của các ngành dịch vụ và công nghiệp. Khi đó vào năm 2000, GDP bình quân đầu ngườicủa vùng đạt khoảng 291,4 USD (quy theo mặt bằng giá 1994: 1 USD = 11.000 VND); tuy so với mức trungbình của cả nước còn chưa được thu hẹp (từ 91% xuống 88,7%) song đây đã là phương án tích cực, tạo tiền đềcho Đồng bằng sông Cửu Long đi lên vào sau năm 2000.2. Thời kỳ 2001 - 2010
  9. 9. + Trường hợp I: Trên nền của phương án I, tận dụng mọi khả năng các nguồn lực sẵn có của mình, thay đổimạnh mẽ cơ cấu nông nghiệp, phát huy thế mạnh của các ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu tại chỗ, đẩynhanh hơn nữa các ngành dịch vụ then chốt,... nhịp độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm của Đồng bằngsông Cửu Long đạt khoảng 9%. Vào năm 2010, so với mức trung bình của cả nước, khoảng cách về GDP bìnhquân đầu người không những không được thu hẹp mà ngày càng doãng ra.+ Trường hợp II: Đồng thời với việc phát huy các thế mạnh nội tại của mình, Đồng bằng sông Cửu Long tíchcực hơn nữa trong việc phát huy các yếu tố tác động từ bên ngoài. Sự hình thành một vài khu chế xuất, khucông nghiệp tập trung là động lực thúc đẩy nền kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long đi lên, tạo đà cho các ngànhcông nghiệp sử dụng nguyên liệu nhập ngoài phát triển mạnh như: cơ khí, lắp ráp điện tử... Đi đôi với nó sẽ làquá trình phát triển mạnh hơn của các ngành dịch vụ. Khi đó, nhịp độ tăng trưởng GDP đạt trung bình hàngnăm khoảng 11%. Vào năm 2010, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 687 USD (giá 1994); tuy chưa đạtđược mức trung bình về GDP bình quân đầu người so với cả nước song khoảng cách này đã thu hẹp. Đây lànền tảng tốt cho Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục bứt lên vào những thập nên sau.Trên cơ sở các trường hợp phát triển, cơ cấu kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long được thể hiện ngàycàng tích cực.Biểu: Dự báo cơ cấu kinh tế theo 2 trường hợp 1994 1995 1996 2000 2010 Trường Trường Trường Trường hợp I hợp II hợp I hợp IITổng số 100 100 100 100 100 100 100Công nghiệp 16,1 16,8 17,4 18,8 20 22,7 26,3Xây dựng 3,8 3,96 4,19 5,4 5,1 8 7,8Nông nghiệp 47,6 46,1 44,5 41,9 38,8 27 21,2Dịch vụ 32,5 33,14 33,91 33,9 36,1 42,3 44,7[ Trở về | Đầu trang | In trang]G. Phát triển các ngành và các lĩnh vực1. Nông nghiệpVới phương châm đa dạng hoácơ cấu cây trồng, vật nuôi và trên quan điểm hiệu quả, có trách nhiệm đối với cảnước, sản lượng và cơ cấu nông nghiệp có sự thay đổi. Tốc độ tăng trưởng ngành đạt 4,8% cả thời kì 1995 -2000, tỉ trọng trồng trọt giảm từ 79% hiện nay xuống còn khoảng 62% vào năm 2010, ngược lại tỉ trọng ngànhchăn nuôi tăng từ 21% hiện nay lên 37,2%. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp theo hướng mở rộng diện tích đấtnông nghiệp, đạt 2,9 triệu ha vào năm 2010, trong đó đất trồng cây hàng năm chiếm 78% và đất trồng cây lâunăm 22%.Cây lương thực giữ vai trò đặc biệt lớn: Diện tích canh tác khoảng 1,9 triệu ha. Năm 2010 đảm bảo sản lượnglúa đạt 18.000.000 tấn, đóng góp 52 - 55% sản lượng thóc của cả nước, xuất khẩu từ 3,5 - 4 triệu tấn/năm, tăng
  10. 10. sản xuất lúa gạo chất lượng cao, đặc sản. Tập trung khai thác các vùng Đồng Tháp Mười, Tây Sông Hậu vàbán đảo Cà Mau.Đưa tỉ trọng diện tích cây ăn quả lên 7 - 8%, cây công nghiệp lên 9 - 10% diện tích trồng trọt vào năm 2010.Tăng tỉ trọng các cây trồng khác trong trồng trọt lên 20% năm 2010.Phát triển mạnh chăn nuôi hơn nữa. Phấn đấu tăng đàn heo khoảng 6 - 8% mỗi năm để đảm bảo đủ nhu cầu ăncho nhân dân (khoảng 25 kg thịt hơi các loại/người/năm) và có sản lượng thịt các loại cung cấp cho các thànhphố, khu công nghiệp và xuất khẩu khoảng 5 - 10 vạn tấn. Tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi chiếm 35 - 40% giátrị gia tăng nông nghiệp.2. Thuỷ sảnĐồng bằng sông Cửu Long có trên 700 km bờ biển, chiếm 23% chiều dài bờ biển cả nước, vùng thềm lục địacó thế mạnh về hải sản, trữ lượng hải sản có khả năng cho phép khai thức hàng năm khoảng 630.000 tấn/nămhải sản các loại, có 25 cửa luồng lạch thuận tiện cho tàu thuyền đánh cá, cùng với vùng bãi triều diện tíchkhoảng 480.000 ha, trong đó gần 300.000 ha có khả năng nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ và 1500 km2sông ngòi kênh rạch nuôi trồng nước ngọt. Xây dựng ngành thủy sản là ngành kinh tế quan trọng, đảm bảothuỷ sản vẫn là ngành kinh tế quan trọng của vùng, xuất khẩu chiếm trên 50% cả nước.Gia tăng năng lực khai thác biển. Giảm dần đánh bắt gần bờ, tăng đánh bắt biển khơi, vùng biển xa. Phát triểndiện tích nuôi trồng thuỷ sản, đưa tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thuỷ sản đạt trên 1 triệu tấn năm2010.3. Công nghiệpCon đường đi lên của công nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều khó khăn. Để đạt mục tiêu tăngtrưởng chung của vùng đi lên cùng các vùng khác của cả nước, công nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long phảiđược phát triển.Có 2 trường hợp phát triển công nghiệp trong thời kì tới 2010.Trường hợp I: đưa khoảng 30% nông, thuỷ sản vào chế biến và công nghiệp sử dụng nguyên liệu nhậpngoại và công nghiệp gia công sẽ được phát triển mạnh hơn thời kì vừa qua. Ngành công nghiệp sẽ có nhịp độtăng trưởng 10,53% ở thời kì 1995 - 2000 và 11% ở thời kì 2001 - 2010.Trường hợp II: công nghiệp sử dụng nguyên liệu nhập ngoại và gia công được phát triển mạnh hơn nữa, đạt tỉlệ khoảng trên 40% so toàn bộ ngành công nghiệp (tính theo GDP). Khi đó công nghiệp sẽ có nhịp độ tăngtrưởng khoảng 13,1% thời kì 1995 - 2000 và khoảng 13,9% thời kì 2001 - 2010.Cân đối chung, trường hợp II được lựa chọn:- Tốc độ tăng GDP công nghiệp thời kì 1995 - 2000 đạt khoảng 13,1%, thời kì 2001 - 2010 đạt khoảng 13,9%.- Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp chú trọng phát triển công nghiệp chế biến lương thực - thựcphẩm, tỉ trọng ngành công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm đạt 60 - 65% năm 2010, tăng tỉ trọng cácngành may mặc, dệt, da giày, cơ khí,... trong giá trị gia tăng công nghiệp.- Tạo ra một số sản phẩm then chốt mũi nhọn của vùng và đủ sức cạnh tranh thị trường (thủy sản...). Hìnhthành một số khu, cụm tập trung sản xuất công nghiệp, đảm bảo ngay từ đầu các điều kiện hạ tầng cơ sở tronghàng rào và ngoài hàng rào để phát huy nhanh hiệu quả.Phát triển các ngành công nghiệp then chốt sau:Công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm
  11. 11. Công nghiệp chế biến lương thực - thực phẩm trước mắt cũng như lâu dài luôn luôn có vị trí quan trọng bậcnhất trong các ngành công nghiệp của vùng.Từ nay đến năm 2000 và sau năm 2000 các lĩnh vực sau đây cần phát triển mạnh: công nghiệp chế biến thuỷ,hải sản, công nghiệp súc sản và chế biến các sản phẩm thịt, công nghiệp chế biến rau, trái cây, nước giả khát.Công nghiệp dệt, may, daDự kiến nhịp độ tăng của ngành dệt may da khoảng 18%. Cơ cấu của ngành dệt may da sẽ từ 4,9% hiện naylên khoảng 12,2% giá trị giá tăng công nghiệp sử dụng nguyên liệu nhập ngoại.Công nghiệp cơ khí chế tạo, chế biến sản phẩm kim loại, điện tử, kỹ thuật điện.Trong những thập kỷ tới, công nghiệp cơ khí chế tạo máy móc thiết bị, điện tử, chế biến các sản phẩm kim loạilà một ngành trung tâm trong quá trình công nghiệp hoá vùng.Dự kiến đến năm 2000, các ngành cơ khí tăng với tốc độ 18-20%, tỷ trọng các ngành cơ khí tăng từ 5% hiệnnay lên 8,2%, đến năm 2010 tỷ trọng các ngành cơ khí có thẻ chiếm khoảng 16,4% giá trị gia tăng công nghiệpsử dụng nguyên liệu nhập ngoại.Công nghiệp vật liệu xây dựngPhát triển công nghiệp xi măng, đưa xi măng Kiên Giang đạt công suất khoảng 2,5 triệu tấn. Phát triển các cơsở sản xuất bê tông đúc sẵn, sản xuất gạch ngói lát nền gạch men, đa dạng hoá các sản phẩm vật liệu xây dựng.Khai thác đá Granit.Công nghiệp hoá chất.Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, trước hết ở Cần Thơ nên tập trung nghiên cứu phát triển sản xuất phân visinh và thuốc trừ sâu vi sinh thay thế khoảng 30% nhu cầu phân đạm.Phát triển công nghiệp chế biến đồ nhựa, sản xuất bao bì, ống dẫn nước, vật liệu xây dựng bằng nhựa, đồ dùnggia đình bằng nhựa, thay thế một phần đồ gỗ khan hiếm.Dự kiến đến năm 2000, nhịp độ tăng trưởng bình quân công nghiệp hoá chất khoảng 15-16%. tỷ trọng ngànhhoá chất tăng từ 2,5% hiện nay lên 3% vào năm 2000 và đạt tỷ trọng 3,5% vào năm 2010.Công nghiệp chế biến gỗ.Phát triển công nghiệp chế biến gỗ. sản phẩm chủ yếu là gỗ xẻ, sản xuất đồ dùng gia đình, đóng thuyền và đồgỗ dùng trong xây dựng.Phát triển các khu, cụm công nghiệp.Nhanh chóng chuẩn bị điều kiện để thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài, xúc tiến xây dựng các khu côngnghiệp tập trung trên cơ sở những điều kiện sau:Có điều kiện kết cấu hạ tầng thuận lợi, đảm bảo hiệu quả, thuận lợi về tiêu thụ sản phẩm, có khả năng liên kếtvà phối hợp sản xuất; Gắn với các vùng nguyên liệu nông lâm thuỷ sản hoặc nhập khẩu nguyên liệu thuận lợi.Các khu công nghiệp phải ở những nơi thuận lợi về giao thông trong vùng và ngoài vùng; có điều kiện đáp ứngtốt về lao động; tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp, đặc biệt là đất lúa không bị úng lụt, chất lượng chịu tải tốt,không bị xói mòn, quá trình bố trí công nghiệp cần gắn chặt với quy hoạch đô thị.Các tỉnh đã dự kiến hình thành các khu công nghiệp với tổng diện tích khoảng 7.000 ha. Tuy nhiên đối chiếuvới đặc điểm điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của vùng cho thấy đến năm 2010 chưa có khảnăng hình thành nhiều khu công nghiệp như trên.Khả năng diện tích các khu vực chỉ đạt khoảng trên 3.000 ha cho đến năm 2010.
  12. 12. 4. Thương mạiThương mại sẽ là ngành lớn, phát triển với tốc độ cao, làm một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởngkinh tế của vùng.Mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ sẽ tăng 18 - 20% thời kì 1995 - 2010. Mức lưu chuyển hàng hoá bán buôn sẽtăng 22 -24% thời kì 1995 - 2010. Xuất khẩu đạt kim ngạch 8.600 triệu USD năm 2010, tốc độ tăng trưởngbình quân cả thời kì 1995 - 2010 là 18 - 20%.Các tỉnh, cần sớm hình thành các trung tâm thương mại, siêu thị, mạng lưới chợ, cửa hàng, đường phố kinhdoanh... tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, hiện đại và văn minh thương nghiệp.Từ nay đến năm 2010 trên địa bàn vùng sẽ hình thành mộ trung tâm thương mại cấp vùng tại thành phố CầnThơ và một số trung tâm thương mại cấp liên khu vực có quy mô, cơ cấu khác nhau. Ngoài ra tại một số khuvực có mật độ dân số tập trung cao hoặc các cụm công nghiệp sẽ hình thành các trung tâm thương mại khu vựcchủ yếu phục vụ, cung cấp và tiêu thụ hàng hoá cho khu vực đó.5. Vận tảiĐưa giao thông vận tải trở thành một trong những động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng. Giao thông đitrước một bước tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư vào những nơi cần phát triển. Thu hút mọi thành phần kinh tếkể cả nước ngoài đầu tư để phát triển giao thông vận tải vùng. Phát triển mạnh mẽ vận tải đường thuỷ, nhất làvận chuyển đường biển, đồng thời đẩy mạnh phát triển đường bộ.Năm 2010 khối lượng chuyên chở hàng hoá đạt 118,7 triệu tấn, chuyên chở hành khách đạt 1.104 triệu hànhkhách.Xây dựng các đội tàu, phương tiện vận tải. Trang bị các xe tải lớn chạy đường dài, xe buýt hành khách. Pháttriển đội tàu vận chuyển hàng rời, hình thành đội tàu Viễn Dương...6. Du lịch- Phát triển ngành du lịch đảm bảo là một vùng du lịch lớn của cả nước.Dự báo đến năm 2010 Đồng bằng sông Cửu Long có khả năng nhận 810 - 820 ngàn khách du lịch quốc tế; 5,2- 5,4 triệu khách du lịch nội địa, tương ứng doanh thu quốc tế đạt 400 triệu USD, du lịch nội địa 378,5 triệuUSD.7. Tài chính - ngân hàngPhấn đấu tỉ lệ huy động ngân sách từ GDP năm 2000 đạt 15% và năm 2010 đạt khoảng 20%. Xây dựng thịtrường tài chính vùng gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Tăng mức chi ngân sách, sẽ dành đến 20%ngân sách chi cho đầu tư và thực phẩm nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng kĩ thuật và xã hội. Tranh thủ các nguồnvốn viện trợ ODA, NGO để thực hiện các chương trình Nhà nước và địa phương, làm giảm nhẹ một phần chingân sách.Phát triển các đại diện ngân hàng và đại diện của các tổ chức tiền tệ ở các tỉnh của TP HCM, của ngân hàngtoàn quốc, của nước ngoài. Tăng cường lập các ngân hàng liên doanh, ngân hàng cổ phần, lập công ty tàichính, các công ty uỷ thác thị trường chứng khoán. Đồng thời triển khai lập quỹ tín dụng trên khắp vùng đểtăng nguồn vốn tiền tệ hoạt động trên địa bàn vùng.Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, khuyến khích gửi tiết kiệm, tăng cường phát hành trái phiếu, tínphiếu, kì phiếu, phát triển dịch vụ kiều hối, khai thác nguồn vốn từ quỹ đất, quỹ nhà.Phát triển hoạt động tín dụng gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của vùng, tăng vốn tín dụng trung hạnvà dài hạn đầu tư cho các dự án phát triển nông lâm thuỷ, công nghiệp xã hội và các ngành dịch vụ.8. Văn hoá
  13. 13. Phát triển văn hoá thông tin vùng: củng cố, phát triển các đoàn nghệ thuật, xây dựng và trang bị cho các đàiphát thanh truyền hình, phát triển mạng lưới phát hành sách báo, văn hoá phẩm, đẩy mạnh các dịch vụ điệnảnh, băng từ, mở rộng các dịch vụ nhiếp ảnh, nâng cấp và xây mới các rạp chiếu phim, rạp hát, xây dựng hệthống thư viện các cấp, củng cố, phát triển các nhà bảo tàng, tượng đài, bia truyền thống, xây dựng các trungtâm văn hoá triển lãm...9. Giáo dục và đào tạoPhát triển giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo đội ngũ lao động kĩ thuật cho phát triểnkinh tế - xã hội, đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đa dạng hoá đào tạo, hoàn thành xoá mù chữ và phổ cập tiểuhọc, tiến tới phổ cập trung học mở rộng đào tạo chuyên môn. Nâng cao lực lượng giáo dục bao gồm xây dựngđội ngũ thầy giáo, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị, cải thiện Đồng bằng sông Cửu Long giáo dục đểmđảm bảo sự phát triển giáo dục của vùng bền vững và nhanh chóng.Năm 2000 xoá mù chữ và phổ cập tiểu học. Năm 2010 cơ bản phổ cập cấp II ở các đô thị. Nâng tỉ lệ học sinhcấp II đạt 30% năm 2010. Tăng cường đào tạo trung cấp và công nhân kĩ thuật tiến tới đào tạo đại học, mởrộng hệ đại học cộng đồng, đào tạo cán bộ kĩ thuật và quản lý đáp ứng nhu cầu kinh tế. Phấn đấu năm 2010 thuhút 20% độ tuổi 18 - 23 học cao đẳng, đại học, nâng tỉ lệ lao động được đào tạo lên trên 20% lực lượng laođộng.Phát triển mạnh hệ thống mạng lưới các trường từ mẫu giáo đến đại học, mạng lưới các trường trung họcchuyên nghiệp và dạy nghề. Xây dựng bồi dưỡng và chăm lo đội ngũ cán bộ giáo viên, tăng cường đầu tư cơsở vật chất trang thiết bị trường học đảm bảo được các yếu tố chuẩn: Trường sở được xây cất chuẩn, đủ thầyđạt tiêu chuẩn dạy các môn, bàn ghế đầy đủ cho thầy trò, trang thiết bị cần thiết thực hành và môi trường giáodục - đào tạo tốt.10. Y tế, bảo vệ sức khỏeCải thiện tình trạng sức khoẻ (tuổi thọ 70 tuổi, chiều cao thành niên 1,7 mét, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới5%...), khống chế các bệnh gây dịch (đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh lây lan do nước và do vectotruyền bệnh), chủ động phòng chống AIDS, cải thiện môi trường sống, lao động, học tập. Cung cấp nước sạchđạt 100%, cầu tiêu hợp vệ sinh 100%, xử lý nước thải, rác, xây dựng gia đình quy mô nhỏ 1 - 2 con. Cải thiệnchất lượng dinh dưỡng, đáp ứng yêu cầu chất lượng chữa bệnh của nhân dân, thực hiện phục hồi chức năng.Hạn chế các bệnh do phát triển công nghiệp, các bệnh không lây lan và các nguy cơ mới.Xây dựng mạng lưới khám chữa bệnh từ tuyến tỉnh, huyện, khu vực đến xã, đảm bảo nhà kiên cố, đạt tiêuchuẩn vệ sinh. Phấn đấu đạt được đầy đủ các danh mục trang bị y tế từng cấp, có đủ thuốc thiết yếu và vắc xin,chất lượng quản lý tốt, có đủ cán bộ chuyên khoa, thầy thuốc có tay nghề cao.Xây dựng hệ y học dự phòng.Hình thành hệ thống chống các bệnh xã hội, có cán bộ chuyên trách phòng chống các bệnh xã hội, xã, phường,thị trấn.Tổ chức hệ bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em - kế hoạch hoá gia đình bao gồm: Trung tâm bảo vệ sức khoẻ bà mẹtrẻ em - kế hoạch hoá gia đình tỉnh; Đội bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em - dịch vụ kế hoạch hoá gia đình; các nhàhộ sinh khu vực và khoa sản ở các trạm y tế xã.11. Phát triển hạ tầng cơ sởa. Giao thông- Ngăn chặn sự xuống cấp của các luồng tuyến vận tải thuỷ trên Đồng bằng sông Cửu Long, tiến hành khôiphục và nâng cấp từng bước, ưu tiên trước các tuyến trọng yếu của toàn ĐBSCL như tuyến TP HCM - KiênLương và tuyến TP HCM - Cà Mau, đồng thời thường xuyên củng cố các tuyến khác.- Xây dựng cảng Cần Thơ trên sông Hậu, làm cảng trung tâm cho cả Đồng bằng sông Cửu Long, bước đầu chotàu 5.000 tấn ra vào thuận tiên, sau đó tàu 10.000 tấn, năng lực thông qua khoảng 1,5 triệu tấn/năm và nâng
  14. 14. dần lên 2,5 - 3 triệu tấn/năm vào khoảng năm 2010, đảm nhận các hàng hoá thông dụng và hàng Container chocả Đồng bằng sông Cửu Long. Triển vọng này tuỳ thuộc vào kết quả nghiên cứu khai thông cửa Định An.Ngoài ra, có thể xây dựng 1 - 2 cảng lớn khác.Nâng cấp các tỉnh nằm dọc các sông Tiền và sông Hậu như cảng Mỹ Thới, Mỹ Tho, Vĩnh Thái, Năm Căn,Kiên Lương, Hòn Chông, phát triển để tiếp nhận được các tàu biển.- Phải chú ý thường xuyên việc nạo vét luồng lạch đặc biệt luồng cửa Định An, Cửa Tiểu (Sông Tiền) và CửaTrần Đề liên quan cảng Năm Căn.- Tiếp tục ngăn chặn sự xuống cấp của các đường bộ đã có, xây dựng các tuyến mới, tăng mật độ đường bộtrong ĐBSCL lên 0,5 km/km2, chú trọng đúng mức đường giao thông nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu pháttriển của kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và đặc biệt góp phần bảo vệ an toàn cho nhân dân cũng như bảovệ tài sản và các kết cấu hạ tầng trong Đồng bằng sông Cửu Long khi mùa lũ hàng năm đến ở đỉnh mức lũ1961.Nâng cấp các quốc lộ của vùng, hoàn chỉnh mạng lưới giao thông đường bộ từng tỉnh.- Quốc lộ 1 đoạn từ Bến Lức (Long An) đến Năm Căn dài 375,5 km, đoạn nằm trong vùng lũ dài 168,3 km.- Tuyến N1: Dự kiến bắt đầu nối từ quốc lộ 14 từ Chơn Thành qua Trảng Bàng (Tây Ninh) về Củ Chi (Tp.HCM) qua Đức Huệ, Mộc Hoá (Long An) Tân Thành - Lò Gạch, Hồng Ngự, Tân Hồng (Đồng Tháp) rồi đếnAn Giang, Kiên Giang.- Tuyến N2: Một nhánh từ quốc lộ 22 (Củ Chi) qua Đức Hoà, Đức Huệ đến Thạnh Hoá, Tân Thạnh. Sau đó đidọc kênh Đồng Tiến Dương Văn Dương qua Tràm Chim về Thanh Bình nối vào quốc lộ 30. Vì nằm trong khuvực lũ cho nên đoạn Tràm Chim, An Long phải làm đường tràn. Đoạn cuối của tuyến N2 từ Cao Lãnh qua AnGiang dọc kênh cái Tàu Thượng nối vào quốc lộ 80.- Quốc lộ 50: Cần Giuộc - Mỹ Tho dài 78,3 km, nằm trong vùng lũ 12 km.- Quốc lộ 60: Tiền Giang - Sóc Trăng dìa 127 km, nằm trong vùng lũ 41 km.- Quốc lộ 80: Mỹ Thuận - Hà Tiên dài 210,7 km. Đoạn Lộ Tẻ - Rạch Sỏi và Rạch Sỏi - Hà Tiên cắt nganghướng thoát lũ nên cần bố trí cầu cống đường tràn.- Quốc lộ 61: Nằm toàn bộ trong vùng chịu ảnh hưởng của lũ dài 96,1 km, từ ngã 3 Cái Tắc (Quốc lộ 1 - CầnThơ) đến quốc lộ 80.- Quốc lộ 62: Từ Tân An - Vĩnh Hưng (giáp Campuchia) dài 92,5 km.- Tuyến TL 29: Từ Cai Lậy qua QL 1 đi dọc kênh 12 qua Tân Thạnh, Mộc Hoá đến Bình Châu nối với QL 62dài 38 km.- Tuyến dọc kênh Phước Xuyên: Bắt đầu tư Cái Bè dọc kênh 28 qua Mỹ An đi dọc kênh Phước Xuyên và RạchCái đến Thông Bình và nối vào tuyến N1 dài 80 km.- Quốc lộ 30: Từ ngã ba An Hữu đi Campuchia dài 119,6 km, tuyến này cắt ngang hướng lũ tràn vào ĐồngTháp Mười. Vì vậy bố trí cầu, cống thoả mãn yêu cầu của bài toán thủy lực.- TL 888: Đề nghị nâng thành quốc lộ tờ Vĩnh Long qua sông Cổ Chiên sang Bến Tre cắt QL 60 ở Mỏ Cày dài125 km. Trước mắt đề nghị chuyển bến phà Rạch Miễu lên phía trên tại Phú Túc. Khi có điều kiện sản xuấtxây cầu qua Sông Tiền tại Phú Túc nối Bến Tre với Tiền Giang.- QL 91: Từ Cần Thơ - Tịnh Biên dài 142,1 km, trong đó dọc Châu Đốc - Tịnh Biên dài 17 km.- QL 63: Từ Gò Quao qua Vĩnh Thuận đến Cà Mau dài 79 km.
  15. 15. - QL 53: Từ Vĩnh Long - Long Toàn (Duyên Hải - Trà Vinh) dài 114 km.- QL 54: Từ phà Vàm Cống đến Trà Vinh dài 153 km.- Tuyến Cần Thơ - Tân Hiệp - Tri Tôn - Tịnh Biên nối vào N1 dài 142 km.Tất cả các tuyến đường nằm trong vùng đều được tính theo đỉnh lũ năm 1961 và làm đường tiêu chuẩn cấp IIIđồng bằng, còn ngoài vùng lũ thì theo mức triều năm 1994.Phát triển và mở rộng các đường chuyên dụng vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, đường vào các cảng,đường vào các khu kinh tế mới. Phát triển giao thông nông thôn: Nâng cấp huyện lộ, từng địa phương có kếhoạch thay thế dần hệ thống cầu khỉ bằng hệ thống cầu thép bán vĩnh cửu hoặc cầu bê tông, phấn đấu đến năm2005, không còn cầu khỉ trên các đường liên xã (loại A) vầ đường liên ấp và nội ấp (loại B), 100% số xã cóđường ô tô về tới tận xã (trừ các xã cù lao được qua sông bằng phà, còn phải xây dựng 2.300 km đường cho314 xã), định hình hoá các loại cầu nhỏ qua sông lạch.Xây dựng sân bay Trà Nóc, làm sân bay trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long. Trước mắt tiếp nhận hànhkhách nội địa, sẽ phát triển để tiếp nhận máy bay nước ngoài.Những sân bay như Phú Quốc, Rạch Giá, Cà Mau: cần cải toạ và nâng cấp phục vụ sự đi lại cho hành khách vàxuất khẩu hàng tươi sống. Mặt khác còn làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc phòng ở cửa ngõ phía Tây của khuvực và cả nước.Các sân bay khác trên Đồng bằng sông Cửu Long (Mỹ Tho, Long An, Vĩnh Long, Sóc Trăng, An Giangv...v...) cần quản lý, bảo quản, khi cần thiết sẽ đưa vào sử dụng.b. Bưu điệnHiện đại hoá bưu chính viễn thông vùng: tự động hoá, số hoá, di động hoá, công cộng hoá, đông bộ hoá mạnglưới thông tin và đa dạng hoá các dịch vụ. Hình thành trung tâm điện thoại hữu tuyến liên lạc qua hệ thống mặtđất - vệ tinh, hệ vi ba, hệ cáp quang.c. Cấp nướcCần phát triển hệ thống cấp nước trước ở các thành phố, thị xã phát triển công nghiệp và sau đó ở các thị xã,thị trấn huyện và các khu dân cư tập trung.ở nông thôn, phát triển các giếng bơm ngầm phân tán và các thiết bị lọc nước ở gia đình, đảm bảo nguồn nướcsạch cho ăn uống.d. Cấp điệnNăm 2010 phấn đấu điện thương phẩm 5.670 GWH, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 8% từ nay năm2010.12. Các vấn đề xã hộiNhu cầu việc làm cũng sẽ tăng nhanh từ nay tới năm 2000, khoảng 2,84% mỗi năm và giảm xuống 2,74%trong thời kỳ đầu. Tạo công ăn việc làm là một trong những thách thức lớn cần giải quyết.Theo kết quả tính toán, lao động nông nghiệp sẽ tăng chậm lại và giảm tuyệt đối vào sau năm 2000, có 5176,5ngàn người, chiếm 51% lao động có việc làm năm 2010. Các ngành phi nông nghiệp sẽ cung cấp gần một nửasố công ăn việc làm trong nền kinh tế, tức là khoảng gần 5,0 triệu chỗ làm việc trong đó có trên 2 triệu chỗ làmtrong công nghiệp và xây dựng.Dự tính nhu cầu lao động có đào tạo sẽ tăng vọt trong những năm tới, tương đương tối thiểu với 15% lực lượnglao động vầo năm 2000 và 30% lực lượng lao động vào năm 2010.
  16. 16. Dự kiến mức sống dân cư tăng rõ rệt, năm 2010 GDP/người đạt 7557 ngàn đồng, tương đương 678,2 USD. Ănmặc, ở, học tập, đi lại, chữa bệnh có những cải thiện đáng kể. Cấp điện đạt 100% hộ, cấp nước sinh hoạt đạt100% hộ, cơ bản phổ cập cấp II, 4 bác sĩ /10.000 dân, trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5%, không còn hộ đóinghèo.13. Khoa học và công nghệLấy nghiên cứu ứng dụng và tiếp thu công nghệ nhập là chính trong thời kỳ 1996 - 2000, đồng thời chuẩn bịcác điều kiện để có thể đủ năng lực cho những nghiên cứu cơ bản trong thời kỳ sau 2001 - 2010,nhất là tronglĩnh vực công nghệ sinh học. Đẩy mạnh quá trình chuyển giao công nghệ từ phòng thí nghiệm, cơ sở nghiêncứu khoa học tới sản xuất đại trà của các ngành kinh tế. Tăng cường công tác đào tạo cán bộ và phổ biến nângcao trình độ nhân dân về khoa học và công nghệ.14. Bảo vệ môi trườngCần ngăn chặn và kiểm soát vấn đề ô nhiễm, cần duy trì các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, các sự án pháttriển phải bao gồm các biện pháp bảo vệ môi trường như một thành phần không thể thiếu được của dự án.Những lĩnh vực sau đây bắt buộc phải có đánh giá tác động môi trường: phát triển thuỷ lợi (tưới, tiêu, chốnglũ, ngăn mặn và rửa phèn), phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản (thâm canh tăng vụ), đô thị hoá,phát triển công nghiệp, giao thông đường thuỷ, bộ và phát triển du lịch.15. Kết hợp kinh tế với quốc phòngPhát triển kinh tế vùng phải đi đôi với nâng cao tiềm lực quốc phòng. Nhà nước Trung ương và các tỉnh cầnhướng hoạt động của các thành phần kinh tế, của lực lượng vũ trang vào mục tiêu vừa phát triển kinh tế vừachăm lo củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng. Xây dựng cơ cấu ngành vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tếcao, vừa tạo điều kiện đẩy mạnh an ninh quốc phòng. Xây dựng cơ cấu vùng vừa đảm bảo mỗi địa phươngphát huy thế mạnh của mình vừa không bỏ trống địa bàn các khu vực yếu về kinh tế, sơ hở về an ninh quốcphòng, phải tính đến các vị trí xung yếu, các tuyến giao thông, bố trí dân cư...[ Trở về | Đầu trang | In trang]H. Phát triển kinh tế - xã hội theo lãnh thổNăm 2010 dân số vùng tăng đến 21,1 triệu người. Đến cuối thời kỳ quy hoạch,nông thôn vẫn là nơi cư trú củagần 2/3 dân số Đồng bằng sông Cửu Long, 13,7 triệu dân sống trên diện tích khoảng 142 ngàn ha đất thổ cưnông thôn, có 2,9 triệu ha đất nông nghiệp; 7,4 triệu dân sống tại các đô thị trên diện tích khoảng 60.000 ha đấtđô thị.1. Phát triển đô thịPhấn đấu đưa tỉ lệ đô thị hoá ở Đồng bằng sông Cửu Long đạt 19% năm 2000 có dân số khoảng 3,4 triệu ngườivà đạt 35% năm 2010 có dân số khoảng 7,4 triệu người.Có 4 phương án phân bố hệ thống các đô thị trong thời kì đến năm 2010, phương án phát triển đồng đều,phương án phát triển tập trung cao, phương án phát triển theo khung hành lang và phương án ưu tiên phát triển3 khu vực đô thị. Chọn phương án ưu tiên phát triển 3 khu vực đô thị có những lợi điểm so với 3 phương ántrên: đảm bảo tương đối đồng đều giữa các tỉnh, giữa thành thị và nông thôn, kết hợp sự phát triển tương đốitập trung, đồng thời tránh được sự đầu tư phân tán theo hành lang quá dài.Phương án thứ 4 chủ trương trong thời kì đầu công nghiệp hoá của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nên lựachọn các khu vực có điều kiện thuận lợi về các mặt để tập trung đầu tư nhanh chóng mang lại hiệu quả kinh tếcao nhất. Với mục tiêu này, phương án đề nghị chọn 3 trung tâm đô thị hoá phát triển tại vùng đồng bằng:Khu tứ giác trung tâm:
  17. 17. Thành phố Cần Thơ (tỉnh Cần Thơ), thị xã Long Xuyên (tỉnh An Giang), thị xã Vĩnh Long (tỉnh Vĩnh Long)và thị xã Cao Lãnh (tỉnh Đồng Tháp). Tứ giác này có diện tích khoảng 2.200 km2 chiếm 5,5% diện tíchĐBSCL.Theo thống kê, tại tứ giác trung tâm hiện có 14 điểm đô thị (gồm 1 thành phố, 4 thị xã và 9 thị trấn) với tổngdân số đô thị 1.017.856 người chiếm 38% dân số đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long.Tứ giác này có điều kiện giao thông thuỷ và bộ rất thuận lợi, có nguồn nước ngọt để cung cấp cho các đô thị vàkhu công nghiệp dồi dào.Phần lớn các trường đào tạo của Đồng bằng sông Cửu Long đều tập trung vào tứ giác này đặc biệt là ở CầnThơ, Vĩnh Long và Long Xuyên.Hành lang Đông Nam:Hành lang này có thành phố Mỹ Tho, thị xã Tân An, thị trấn Thủ Thức và Tân Hiệp, thị trấn Bến Lức có vị trínằm ngay cạnh địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, giáp với Bình Chánh - TP. HCM. Dân số đô thị của hànhlang này sẽ chiếm khoảng 13% dân số đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long.Hành lang đô thị Tây Bắc - ven vịnh phía Tây.Thuộc tỉnh Kiên Giang nằm giữa kênh Rạch Giá - Hà Tiên và vịnh Thái Lan kéo dài từ thị xã Rạch Giá tới HàTiên. Mục tiêu phát triển của hành lang này là nhằm tạo một cực trên bờ biển phía Tây trong tương quan pháttriển với các đô thị vùng vịnh Thái Lan.Hiện tại có một thị xã (Rạch Giá) và 2 thị trấn Hòn Đất và Hà Tiên.Dân số đô thị của hành lang Tây Bắc có thể chiếm 11% dân số đô thị vùng Đồng bằng sông Cửu Long.Mô hình đô thị hoá của phương án ưu tiên phát triển 3 khu vực được thực hiện bằng việc quy hoạch sử dụngđất và bố trí địa điểm đầu tư kết cấu hạ tầng.2. Phát triển vùng ven biểnVùng ven biển ĐBCSL gồm 8 tỉnh là: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêuvà Kiên Giang, có chiều dài trên 700 km, chiếm 23% chiều dài bờ biển của cả nước, với 25 cửa lạch lớn nhỏ,nhiều cửa khá sâu, kín gió cùng với hệ thống sông lớn ăn sâu vào nội đồng, thuận lợi cho tàu thuyền ra vào, trúđậu và lưu thông sâu vào đất liền.Ngoài biển có 50 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có những đảo lớn như Phú Quốc, Thổ Chu, Hòn Khoai, Hòn Tre,...có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển quản lý vùng biển, giữ gìn an ninh quốc phòng.Dân số vùng ven biển năm 1995 là 8,46 triệu người chiếm 52,2% dân số Đồng bằng sông Cửu Long, dân sốthành thị 1,1 triệu người chiếm 13% dân số vùng ven biển.Dự báo đến năm 2010 dân số có 10,88 triệu người, tỉ lệ tăng tự nhiên 1,7%; dân số thành thị khoảng 3,3 triệungười đạt 30%. Lao động năm 1995 có khoảng 4,27 triệu người chiếm 50% dân số. Dự báo năm 2010 cókhoảng 5,97 triệu người chiếm 55% dân số vùng, tỉ lệ tăng lao động trong độ tuổi thời kì 1996 - 2010 đạt2,45%.Cơ cấu kinh tế vùng ven biển lạc hậu hơn so với vùng Đồng bằng sông Cửu Long.Cơ cấu kinh tế năm 1995 Đơn vị: % Vùng ven biển ĐBSCL ĐBSCL Cả nước
  18. 18. Tổng số 100 100 100Nông lâm thuỷ 63 46,1 26Công nghiệp và xây dựng 14 20,8 32,9Dịch vụ 23 33,1 41,4GDP ngành nông lâm thuỷ vùng ven biển chiếm trên 53% GDP ngành nông lâm thuỷ toàn Đồng bằng sôngCửu Long. Sự tăng trưởng kinh tế của vùng ven biển chủ yếu dựa vào sự gia tăng của sản xuất lúa gạo và thuỷsản.GDP ngành công nghiệp và xây dựng cũng chiếm 51% giá trị gia tăng của ngành ở Đồng bằng sông Cửu Long.Nhìn chung tốc độ tăng trưởng của các tỉnh vùng ven biển cao hơn mức trung bình của vùng ĐBSCL.GDP ngành dịch vụ chiếm khoảng 35% GDP dịch vụ toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.Cùng với sự đi lên của toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng ven biển phải phấn đấu đạt được mục tiêunhư sau:a. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm 10,3% thời kì 1996 - 2000 và 11,7% thời kì 2001 - 2010.Đưa mức GDP bình quân đầu người đạt 735 USD vào năm 2010. Mức này cao hơn toàn vùng Đồng bằng sôngCửu Long.Tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm của ngành nông lâm thủy sản hàng năm 6% thời kì 1996 - 2000 và 2001 -2010 là 5%. Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp và xây dựng tăng bình quân hàng năm thời kì 1996 -2000 là 17% và 2001 - 2010 là 18%. Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của lĩnh vực dịch vụ tăng 16% thời kì1996 - 2000 và 2001 - 2010 là 15%.b. Tạo nên bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáng kể: tỉ trọng GDP của ngành công nghiệp và xây dựng từ 14%năm 1995 lên 18% năm 2000 và 32% năm 2010, ngành dịch vụ từ 23% năm 1995 lên 30% năm 2000 và 40%năm 2010, ngành nông lâm thủy giảm từ 63% năm 1995 xuống 52% năm 2000 và 28% năm 2010.Mục tiêu lương thực rất quan trọng. Vùng này đạt 9 triệu tấn năm 2010 chiếm 50% sản lượng của vùng Đồngbằng sông Cửu Long. Thuỷ sản là thế mạnh của vùng hầu hết sản lượng thủy sản tập trung ở vùng này kể cảkhai thác và nuôi trồng.c. Tăng kim ngạch xuất khẩu năm 2000 lên 1033,5 triệu USD, tốc độ tăng 23%. Năm 2010 đạt trên 5642,8triệu USD, tốc độ tăng 18,5%.d. Đáp ứng các nhu cầu cơ bản, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nâng cao trình độ dân trí,tạo nguồn nhân lực có chất lượng để đảm bảo phát triển cho thời kì sau.e. Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và an ninh biên giới, hải đảo, biển, giữ vững ổn định chính trị xã hội.Để đạt được các mục tiêu trên, ngoài các chính sách cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long như chính sách vốn,nguồn nhân lực, khoa học công nghệ... cần đặc biệt nghiên cứu thêm chính sách kinh tế vùng ven biển nhằmđẩy mạnh sản xuất, xuất nhập khẩu và đầu tư nước ngoài.3. Phát triển vùng nông thônXây dựng nông thôn trở thành vùng có nông nghiệp phát triển, đảm bảo tốt việc sản xuất lương thực - thựcphẩm cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, cung cấp nguyên liệu chế biến cho công nghiệp vùngvà xuất khẩu. Từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệpvà dịch vụ.
  19. 19. Dự tính vùng nông thôn Đồng bằng sông Cửu Long năm 2010 sản xuất 18 triệu tấn lúa, xuất khẩu từ 3,5 - 4triệu tấn/năm, 4 - 5 triệu tấn mía, 5 - 10 vạn tấn thịt các loại.Xây dựng các khu dân cư nông thôn đảm bảo đưa nông thôn hoà nhập vào tiến trình hiện đại hoá, từng bướchiện đại hoá nông thôn. Dân cư nông thôn cần có mô hình ổn định phù hợp với hệ thống sản xuất, phong tụctập quán. Đảm bảo tốt hơn các điều kiện về sinh hoạt đồng thời cải thiện hệ thống phúc lợi ở nông thôn. Nângcấp, xây mới đường giao thông nông thôn, xoá bỏ cầu khỉ tạo các điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuấtở nông thôn.4. Phát triển vùng ngập lũa. Vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long rộng khoảng 1.828.000 ha bằng 47% diện tích tự nhiên và trên50% dân số trong vùng gồm 8 tỉnh Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, KiênGiang và Bến Tre.Vùng ngập lũ là vùng đất trũng có tới 61% diện tích cao trình dưới 1m. Tình trạng ngập lũ bắt đầu từ tháng 7và kết thúc vào tháng 12. Độ ngập thường từ 0,5 - 4m, trong đó diện tích ngập trên 1m vào năm lũ lớn trên 1triệu ha.Vùng ngập lũ đóng góp khoảng 76% GDP vùng Đồng bằng sông Cửu Long; 75% GDP ngành nông lâm thủysản; 79% GDP ngành công nghiệp và xây dựng; 80% GDP ngành dịch vụ, 80% sản lượng gạo xuất khẩu vàtrên 50% giá trị xuất khẩu thuỷ sản của cả nước.Mùa lũ về gây thiệt hại rất to lớn về người và của, phá hoại các công trình xây dựng nhà ở, giao thông, trườnghọc, bệnh viện.Nhưng mặt khác lũ về cũng đem phù sa, phù du, ấu trùng, tôm cá cho Đồng bằng sông Cửu Long, cải tạo môitrường nước, nhất là nước chua phèn, cải tạo đất, vệ sinh đồng ruộng.Về mặt lâu dài muốn giải quyết vấn đề này phải nghiên cứu tổng hợp các yếu tố như lũ ở thượng nguồn, sựđiều tiết của biền hồ, các vùng ngập lụt ở Campuchia, các chế độ thuỷ triều, mưa, đặc điểm địa hình, địa mạovùng ngập lụt và tác động của con người trên toàn lưu vực.b. Phương hướng- Đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo đảm định cư lâu dài cho cộng đồng dân cư, tiến lênxây dựng xã hội văn minh hiện đại, giữ vững an ninh xã hội và bảo vệ vững chắc biên giới Tây Nam của Tổquốc. Bảo vệ các công trình kết cấu hạ tầng. Bảo vệ ổn định cho sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trườngsinh thái bền vững trong vùng.- Xây dựng vùng này trở thành khu vực sản xuất lương thực - thực phẩm hàng hoá lớn trên cơ sở chuyển đổicơ cấu cây trồng, cơ cấu mùa vụ thích hợp với sinh thái vùng. Né tránh lũ lụt, chung sống với lũ đồng thời dầndần kiểm soát lũ đặc biệt đối với Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười.- Phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Không khuyến khích đầu tư xây dựng các nhà máy côngnghiệp lớn vào khu vực ngập sâu trên 1m. Đối với các đô thị tỉnh lỵ lớn như thị xã Long Xuyên, thị xã CaoLãnh và thị xã Sa Đéc năm trong vùng ngập sâu từ 1 - 2 m cần thiết chọn lựa các xí nghiệp có tính chất và quymô thích hợp. Công nghiệp nên tập trung vào các khu vực ngập nông, thuận lợi về giao thông và hạ tầng kĩthuật khác như thành phố Cần Thơ, thành phố Mỹ Tho, thị xã Vĩnh Long, Bến Tre, Tân An, Rạch Giá,...- Phát triển đô thị trên cơ sở cải tạo nâng cấp các đô thị hiện có, hình thành mới các đô thị ở các nơi còn trốngvắng đô thị. Đối với vùng ngập lũ dưới 2m, tôn nền cao hơn mức ngập lũ năm 1961 khoảng 0,5m là chính.Một số đô thị tại các vùng ngập sâu trên 2, xây dựng theo hình thức bao đê.Đối với khu dân cư nông thôn, hình thành các vùng có đê bao chống lũ. Khuyến khích dân tôn nền cao hoặclàm nhà trên cọc.
  20. 20. - Tập trung đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở, trước hết là mạng lưới giao thông, đảm bảo giao thông thông suốtđể thực hiện nhiệm vụ giao lưu, cứu nạn, cứu hộ và an ninh, quốc phòng, đồng thời đảm bảo thoát lũ.c. Giải phápVùng ngập lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long chia làm 2 vùng: vùng ngập nông và vùng ngập sâu ranh giới bởikênh Nguyễn Văn Tiếp - Cái Tàu Thượng - Cái Sắn. Do vậy giải pháp cũng được tính theo nguyên tắc cho 2vùng và 2 giai đoạn ngắn hạn và dài hạn.c.1. Giải pháp chính dài hạn là:- Kiểm soát lũ cả năm cho vùng nước ngập nông để đảm bảo sản xuất chủ động, cả năm phát triển sản xuất ởmức cao, phát triển kinh tế - xã hội toàn diện.- Đối với vùng nước ngập sâu cần có các biện pháp theo các hướng cụ thể:+ Hạn chế lượng nước lũ mang ít phù sa tràn từ Campuchia vào Đồng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên vàtìm cách cho thoát một phần nước này ra sông Vàm Cỏ, ra biển Tây, làm hạ thấp mức nước ngập và có điềukiện lấy thêm phù sa từ dòng sông Tiền, sông Hậu.+ Kiểm soát lũ theo thời gian để ngăn lũ đầu vụ, nhằm thu hoạch an toàn và tạo điều kiện để cơ giới hoá việcthu hoạch lúa hè thu, tăng cường khả năng thoát lũ, giảm độ sâu ngập lụt, ngăn lũ cuối vụ để tiêu thoát nhanhnhằm xuống giống đông xuân kịp thời vụ. Điều đó đảm bảo ăn chắc 2 vụ đông xuân và hè thu. Về lâu dàikhông đặt vấn đề sản xuất 3 vụ ở vùng ngập sâu.+ Tiêu thoát lũ cuối vụ từ đồng bằng ra sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ và phía biển Tây để chủ độngxuống giống Đông Xuân đúng thời vụ. Các công trình này bảo đảm tưới tiêu cho 2 triệu ha, trong đó mở rộngdiện tích gieo trồng lúa do tăng vụ và khai hoang thêm khoảng 600.000 - 700.000 ha.c.2. Các giải pháp ngắn hạn làĐối với vùng ngập nông: Đắp đê bao, xây dựng các cống bọng để kiểm soát lũ cả năm. Quy mô đê bao phủchủ yếu là kênh cấp 2 và các vùng thích hợp để chống ngập bảo vệ các khu dân cư và sản xuất, các vùng câyăn trái và cây công nghiệp ngắn ngày, chủ động kiểm soát mức nước để sản xuất nông nghiệp, chủ động lấynước giàu phù sa để cải tạo và vệ sinh đồng ruộng, nạo vét các kênh trục để tiêu thoát nước. Như vậy có thểgiải quyết các mục tiêu dài hạn trong giai đoạn ngắn hạn.Đối với vùng ngập sâu:- Với dân cư: chọn các khu đất cao để làm khu an toàn, đào ao, hồ lấy đất tôn cao nền theo cụm, đào kênh lấyđất tôn nền dọc bờ kênh, đắp bờ bao khu dân cư, hoặc làm nhà trên cọc, kết hợp với bố trí hợp lý các côngtrình phúc lợi công cộng.Ngay trong giai đoạn 1996 - 2000 xây dựng các trung tâm cụm xã có địa thế cao để phát triển và là trung tâmcứu hộ. Những biện pháp này bảo đảm an toàn cho 6 triệu dân trong vùng ngập lụt. Xây dựng các đô thị, thịxã, thị trấn, hệ thống cơ sở hạ tầng thích hợp, tránh bị lũ tàn phá. Trước mắt xây dựng 26 trung tâm với diệntích bình quân 300 ha.- Với sản xuất: tiến hành các biện pháp bảo đảm sản xuất 2 vụ đông xuân và hè thu theo những hình thức thíchhợp:+ Ở Đồng Tháp Mười: phát triển hệ thống bờ bao, đào kênh để thoát lũ,...+ Ở Tứ giác Long Xuyên: đào các kênh thoát lũ thông ra biển Tây, kết hợp ngăn mặn.Với các biện pháp này có thể bảo đảm sản lượng lương thực ít nhất 10 triệu tấn vào năm 2000, bảo vệ trên 100nghìn ha cây trái và cây công nghiệp ở vùng ngập nông.
  21. 21. - Về giao thông: hình thành một hệ thống giao thông hợp lý, tạo điều kiện bảo đảm giao thông thông suốt, vừađảm bảo thông thoát lũ nhanh bằng các hệ thống cầu cống, vừa tham gia điều tiết bằng cửa van đóng mở đểgiữ phù sa và tránh tình trạng thoát lũ gây ra thiếu nước ngọt tưới cho cây trồng.Dự án đã đề xuất các công trình cho giai đoạn 1996 - 2000 và 1996 - 2010. Đặc biệt đối với giai đoạn 1996 -2000 đã được thể hiện ở Quyết định 99 TTg ngày 17/01/1996.Dưới đây là các công trình cấp bách về thuỷ lợi, giao thông và xây dựng khu dân cư của vùng ngập lũ Đồngbằng sông Cửu Long năm 1997 thực hiện theo Quyết định 159 TTg ngày 14/03/1997 của Thủ tướng Chínhphủ:A. Các công trình thuỷ lợi1. Kênh Tân Thành - Lò Gạch (Đồng Tháp - Long An): Nhiệm vụ chủ yếu là cấp nước ngọt và tiêu nước vềsông Vàm Cỏ Tây và tạo nền đường giao thông và nền khu dân cư.2. Kênh Hưng Điền (Vĩnh Hưng - Long An): Nhiệm vụ tạo nguồn, tiêu úng, xổ phèn, tham gia thoát lũ.3. Đê bao thị trấn Sa Rài (Tân Hồng - Đồng Tháp)4. Công trình KH 6 (Cần Thơ - Kiên Giang) thuộc vùng ngập nông5. Kênh Xả Tầu - Sóc Tro (Vĩnh Long) vùng ngập nông6. Công trình bảo vệ bờ sông Sa Đéc (Đồng Tháp): Ngăn chặn xói lở bờ hữu sông Sa Đéc.7. Công trình T 6 (An Giang - Kiên Giang): Tạo nguồn, rửa phèn và tham gia thoát lũ ra biển Tây.8. Công trình Tuần Thống - T 5 (An Giang - Kiên Giang): Tạo nguồn, rửa phèn và tham gia thoát lũ ra biểnTây.9. Công trình Luỳnh Khuỳnh (Kiên Giang): Tạo nguồn và thoát lũ ra biển Tây.10. Kênh Mỹ Long - Ba Kỳ (Cai Lậy - Tiền Giang): Thoát lũ ra sông Tiền.11. Kênh Cái Cỏ - Long Khốt (Đồng Tháp - Long An): Thoát lũ ra sông Vàm Cỏ.B. Các công trình giao thông1. Các công trình thoát lũ qua quốc lộ 80 kết hợp với công trình thoát lũ T 5 và T 6 cắt qua quốc lộ 80 đổ rabiển Tây. Vì vậy kết hợp làm cầu, làm đoạn đường tràn 200m thay 3 cống bằng 3 cầu dài 18 - 24 m.2. Các công trình thoát lũ qua quốc lộ 1 thuộc tỉnh Tiền Giang gồm 5 cầu nhỏ: Mỹ Quý (km 1956), Cầu Rựu(km 1973), Cầu Sao (km 1982), Cầu Trại Giống (km 1984), Cầu Phú Nhuận (km 1998). Tất cả các cầu xongtrước mùa lũ 1997.3. Nâng cao quốc lộ 62 và xây dựng các công trình thoát lũ qua quốc lộ 62 (từ Tân An - Tân Thạnh - Long An)dài 62 km nằm trong vùng ngập lũ, do vậy phải nâng cấp tôn cao nền, xây dựng các cầu, cống đảm bảo yêu cầuphòng chống lũ.4. Cầu Bình Châu (Long An). Để thoát lũ cần phá bỏ đập Bình Châu và thay bằng cầu. Cầu dài 60 - 80 m làmdầm thép tạm kịp đảm bảo giao thông trước mùa lũ.C. Các công trình xây dựng cụm dân cưBộ Xây dựng đã thống nhất với các tỉnh lựa chọn 5 thị xã thí điểm như sau:- Xã Nhơn Hưng Tịnh Biên - An Giang
  22. 22. - Xã Nam Thái Sơn Hòn Đất - Kiên Giang- Xã Khánh Hưng Long An- Xã Giồng Găng Đồng Tháp- Xã Hưng Thạnh Tiền GiangDự kiến mỗi cụm dân cư khoảng 400 hộ gia đình, diện tích khoảng 20 - 30 ha.[ Trở về | Đầu trang | In trang]Một số giải pháp và kiến nghị chủ yếuI. Chính sách vốnĐể thực hiện các mục tiêu như Quy hoạch tổng thể đã đặt ra dự tính yêu cầu gắn 6 tỉ đô la cho giai đoạn 1995 -2000 và 28,1 tỉ đô la cho giai đoạn 2001 - 2010.Nhu cầu đầu tư (giá 1994) Đơn vị 1995 - 2000 2001 - 2010 1995 - 2010Tổng nhu cầu đầu tư tỷ đồng 64545 309251 373796- Công nghiệp “ 17934 94627 112561- Xây dựng “ 3790 23682 27472- Nông lâm nghiệp “ 12136 23394 35530- Dịch vụ “ 30684 167547 198232Đầu tư sẽ được ưu tiên cho các dự án có ý nghĩa then chốt... Riêng giai đoạn 1995 - 2000 vốn dành cho các dựán cần ưu tiên chiếm khoảng 35% tổng nhu cầu đầu tư của giai đoạn.Đầu tư từ ngân sách sẽ tài trợ cho khoảng 13% nhu cầu đầu tư từ nay đến năm 2010.Để đạt được mục tiêu nêu trên, cần gia tăng nhanh chóng nguồn thu của Nhà nước trên cơ sở luật ngân sáchNhà nước. Cụ thể là: Tăng huy động ngân sách từ 9% GDP hiện nay lên 15% GDP vào năm 2000 và khoảng20% GDP vào năm 2010. Tỉ lệ chi ngân sách cho tích luỹ đầu tư sẽ phải đạt khoảng 17% từ nay đến năm 2010.Đầu tư từ nhân dân và doanh nghiệp sẽ khoảng 41% nhu cầu đầu tư trong thời kì 1995 - 2010.Đầu tư nước ngoài. Nhu cầu đầu tư nước ngoài bao gồm nguồn ODA và FDI được ước lượng khoảng 40% nhucầu đầu tư trong thời kì 1995 - 2010.Cần có chính sách, cơ chế để có thể khai thác nguồn vốn trong và ngoài vùng cũng như thu hút vốn đầu tưnước ngoài:- Tiếp tục đổi mới công tác thuế, mở rộng diện đánh thuế, không chỉ dựa vào sự đóng góp của xí nghiệp quốcdoanh và thuế thương mại. Đẩy mạnh thu lệ phí, phụ phí.- Huy động vốn từ quỹ đất đai, tiến hành giao đất, cho thuê đất, thu tiền sử dụng đất. Xây dựng khung giá chothuê đất theo từng khu vực nhỏ và theo mục đích sử dụng thực hiện chế độ “đấu thầu quyền sử dụng đất”.- Tạo vốn thông qua thuê mua tài chính
  23. 23. - Tạo vốn thông qua liên doanh hợp tác- Huy động vốn từ phát hành xổ số, trái phiếu, tín phiếu, cổ phiếu.Tranh thủ nguồn vốn ODA, tài trợ quốc tế hỗ trợ vốn cho các công ty vừa và nhỏ, tài trợ quốc tế cho các đô thịkém phát triển bằng cách xây dựng các dự án có sức thuyết phục hiệu quả sử dụng và khả năng hoàn vốn caocủa dự án.Xây dựng thị trường tài chính và thiết lập định chế “Quỹ phát triển vùng”II. Chính sách phát triển nguồn nhân lực- Cần có những chính sách và quy định cụ thể về đãi ngộ đối với lực lượng lao động có tay nghề cao, chuyênviên khoa học kĩ thuật, các nhà quản lý giỏi. Mở nhiều trường hệ đại học cộng đồng, đào tạo cán bộ quản lý,cán bộ kĩ thuật cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long.- Cần xây dựng đề án việc làm, chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh, quan tâmđến kinh tế hộ gia đình có thuê 2 - 3 lao động...- Xây dựng chương trình giáo dục - đào tạo cho tỉnh, để thực hiện mục tiêu cơ bản phổ cập cấp II sau năm2005, nâng tỷ lệ lao động được đào tạo lên 30% lực lượng lao động vào năm 2010.Lập quỹ đào tạo nhân tài và hỗ trợ học sinh giỏi, tín dụng trong đào tạo.- Đối với đội ngũ công chức bất kể cấp nào, cần sàng lọc, sử dụng theo các tiêu chuẩn quốc gia.III. Chính sách khoa học và công nghệ- Xây dựng chương trình chuyển giao công nghệ mới, tăng đầu tư cho các chương trình dự án sản phẩm mới,công nghệ mới.- Miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ và thiết bị, cho phần vốn nghiên cứu và đổimới công nghệ, cho thời hạn sản xuất thử, cho các sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng thay thế hàng nhập khẩuhoặc xuất khẩu.- Mua và liên doanh để nhập công nghệ mới.IV. Chính sách thị trường- Lấy thị trường trong nước là chủ yếu, đồng thời chú trọng thị trường nước ngoài, tăng thị phần Mỹ, Châu Âu,quan tâm thị trường truyền thống Đông Âu và SNG.- Tăng cường nghiên cứu thị trường, xây dựng chính sách xâm nhập thị trường đối với từng thị trường (loại sảnphẩm, giá cả, kênh phân phối, cách phân phối, thông tin quảng cáo). Đổi mới, hoàn thiện chính sách và cơ chếquản lý hoạt động xuất nhập khẩu theo hướng tự do hoá trong hoạt động ngoại thương. Miễn giảm thuế xuấtkhẩu. Mở rộng chế độ trợ cấp xuất khẩu, đặc biệt đối với nông sản xuất khẩu (huỷ bỏ chế độ hạn ngạch...). Kếthợp hợp lý trong từng thời kì tự do hoá thương mại và bảo hộ.V. Thiết lập định chế ưu đãi hướng về xuất khẩu, ưu đãi vùng ven biển phát triển kinh tế biểnXây dựng khu chế xuất và kho hàng ngoại quan, khu thương mại tự do.VI. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng ngập lũĐể tiếp tục nâng cao đời sống vùng đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng xa hơn nữa trong những thời kì tới, cầncó những biện pháp tích cực như sau: Nâng tỉ lệ vốn tín dụng, đầu tư hạ tầng cơ sở, nâng cao trình độ dân trí...VII. Chính sách nông nghiệp và nông thôn
  24. 24. Cần có chính sách đối với vùng sản xuất nông nghiệp về các mặt kinh tế - xã hội để nông dân yên tâm sản xuấtđảm bảo an toàn lương thực cho cả nước, đảm bảo vùng sản xuất lương thực không bị thua thiệt so với vùngsản xuất công nghiệp.Cần quan tâm một số chính sách sau đây:1. Chính sách hỗ trợ nông dân sản xuất như giống tốt. máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp phù hợp Đồngbằng sông Cửu Long, xây dựng các hệ thống công trình thuỷ lợi, cung ứng vật tư nông nghiệp với giá cả ổnđịnh, hợp lý, phù hợp cơ chế thị trường cho nông dân vay vốn.Nghiên cứu chuyển thuế sử dụng đất nông nghiệp thành thuế xuất nhập khẩu và giảm dần khi điều kiện chophép.2. Chính sách tiêu thụ lúa gạo hàng hoá của nông dân làm sao để nông dân yên tâm đầu tư cho sản xuất, có sảnphẩm không bị tư thương ép giá.3. Tăng cường công tác thông tin về thị trường trong và ngoài nước để nông dân và các nhà kinh doanh có cơsở định hướng trong sản xuất và kinh doanh.4. Khuyến khích phát triển nông nghiệp theo hình thức trang trại gắn với xây dựng hợp tác xã.ở Đồng bằng sông Cửu Long sản xuất lúa phải được hiện đại hoá nhanh hơn các vùng sản xuất lúa khác củanước ta trên cơ sở chuyên môn hoá và hiện đại hoá nhằm nâng cao nhanh năng suất lao động, tăng nhanh khảnăng cạnh tranh lúa gạo của ta trên thị trường, nâng cao đời sống nông dân.Những vùng đất rộng, mật độ dân số thấp như vùng Đồng Tháp Mười, Nhà nước cần khuyến khích nông dânvà các thành phần kinh tế đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng trang trại có quy mô hợp lý.VIII. Chính sách môi trườngCần có biện pháp và quy định bảo vệ môi trườngĐể thực hiện quy hoạch môi trường chi tiết việc triển khai một dự án do Nhà nước hoặc quốc tế đầu tư là cầnthiết.IX. Xây dựng các kế hoạch phát triển liên tỉnhPhối hợp phát triển các tuyến trục giao thông huyết mạch và các tuyến hành lang kinh tế. Phối hợp khai thácvùng trũng, phối hợp phát triển du lịch, phối hợp xuất nhập khẩu, phối hợp phát triển giáo dục đào tạo giữa cáctỉnh trong vùng cần thông tin trao đổi phối hợp với nhau trong quá trình phát triển kinh tế.X. Tổ chức thực hiện quy hoạch- Cần thiết nên thành lập Hội đồng tư vấn giúp Chính phủ điều hành thực hiện quy hoạch. Hội đồng này có đạidiện của các Bộ và địa phương. Công bố rộng rãi quy hoạch tổng thể, từ quy hoạch này sẽ tiến hành quy hoạchngành và tỉnh làm sao phù hợp với quy hoạch tổng thể. Trước mắt đề nghị Nhà nước cho lập Quy hoạch tổngthể kinh tế - xã hội vùng Đồng Tháp Mười giai đoạn 1997 - 2010.- Cần xác định vùng Đồng bằng sông Cửu Long được coi như một vùng kinh tế trọng điểm như các vùng trọngđiểm khác mà khởi đầu tư thế mạnh toàn diện nông lâm ngư nghiệp.[ Trở về | Đầu trang | In trang]Tổng hợp và nhận định chungTheo phương hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long ở trên sẽ có những chuyểnbiến quan trọng:
  25. 25. 1. Nền kinh tế có sự chuyển biến đáng kể theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch: công nghiệp, dịch vụ tăng dần. Nông nghiệp giảm dần. Đảm bảo mục tiêu18 triệu tấn lương thực năm 2010, đảm bảo an toàn lương thực quốc gia.Dự báo GDP 1996 - 2010 Thực hiện 2000 2010 1995 1996Tổng GDP (tỷ đồng) 36976 40341 57206 159673 % trong GDP 100.00 100.00 100.00 100.00- Công nghiệp 6212 7019 11453 41978 % trong GDP 16.80 17.40 20.02 26.29- Xây dựng 1464 1690 2918 12391 % trong GDP 3.96 4019 5.10 7.76Nông nghiệp 17046 17952 22219 33916 % trong GDP 46.10 44.50 38.84 21.24Dịch vụ 12154 13680 20616 71388 % trong GDP 33.14 33.91 36.04 44.71Dân số (người) 16184 16507 17850 21128*GDP bình quân (1000 đ) 2285 2444 3205 7557-Quy USD 207 221 291 687Dự báo nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân 1996 - 2000 2001 - 2010 1996 - 2010GDP % 9.12 10.81 10.88Công nghiệp 13.02 13.87 14.54Xây dựng 14.79 15.56 16.40Nông nghiệp 5.44 4.32 5.07Dịch vụ 10.97 13.22 13.262. Nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế tương đối nhanh vượt xa so với mức tăng của các năm trước.3. GDP/người năm 2000 đạt khoảng 3.205 ngàn đồng tương đương 291 USD, năm 2010 đạt khoảng 7557 ngànđồng tương đương 687 USD. Xuất khẩu bình quân đầu người năm 2000 đạt 83 USD, năm 2010 tăng lên đạt407 USD.4. Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP năm 2000 đạt 15% và năm 2010 là 20%.5. Tỷ lệ tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế giai đoạn 1995 - 2000 là 16,2% và giai đoạn 2001 - 2010 là 15,2%.

×